1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nâng cao vai trò của phụ nữ dân tộc hmông trong đời sống xã hội ở tỉnh sơn la hiện nay

100 427 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 1,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu về vấn đề nâng cao vai trò của người phụ nữ dân tộc H’Mông trong đời sống xã hội ở tỉnh Sơn La hiện nay xuất phát từ những luận điểm sau.. Thứ ba, với mục tiêu nâng cao vai tr

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI



NGUYỄN THỊ THẮM

NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ DÂN TỘC HMÔNG TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI

Ở TỈNH SƠN LA HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI



NGUYỄN THỊ THẮM

NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ

DÂN TỘC HMÔNG TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI

Ở TỈNH SƠN LA HIỆN NAY

Chuyên nga ̀nh : Triết ho ̣c

Ma ̃ số : 60.22.03.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ VÂN

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Thị Vân

Các tài liệu tham khảo được sử dụng trong Luận văn là trung thực, các thông tin trích dẫn trong Luận văn đều có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng

Hà Nội, tháng 5 năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thắm

Trang 4

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến TS Nguyễn Thị Vân,

cô đã tận tâm, nhiệt tình chỉ bảo, hướng dẫn em trong suốt trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Đồng thời, em gửi lời cảm ơn đến Ban chủ nhiệm khoa Triết học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Cảm ơn gia đình, cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp đã luôn giúp đỡ, động viên, khích lệ tôi trong suốt thời gian qua để tôi có thể hoàn thành tốt luận văn

Hà Nội, tháng 5 năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thắm

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 3

3 Mục đích nghiên cứu 11

4 Giả thuyết khoa học 11

5 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 11

6 Nhiệm vụ nghiên cứu 11

7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 12

8 Phương pháp nghiên cứu 12

9 Cấu trúc luận văn 12

10 Tóm tắt những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn 12

Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC NÂNG CAO VAI TRÒ PHỤ NỮ DÂN TỘC H’MÔNG TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI Ở TỈNH SƠN LA HIỆN NAY 14

1.1 Cơ sở lí luận 14

1.1.1 Những khái niệm cơ bản 14

1.1.2 Sự cần thiết của việc nâng cao vai trò phụ nữ dân tộc H’Mông trong đời sống xã hội ở tỉnh Sơn La hiện nay 26

1.2 Cơ sở thực tiễn 29

1.2.1 Khái quát về tỉnh Sơn La 29

1.2.2 Điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội 32

1.2.3 Điều kiện dân số 37

1.2.4 Đặc điểm cơ bản của phụ nữ dân tộc H’Mông ở tỉnh Sơn La hiện nay 39

Trang 6

SƠN LA HIỆN NAY 51

2.1 Thực trạng nâng cao vai trò của phụ nữ dân tộc HMông ở tỉnh Sơn La hiện nay 51

2.1.1 Những thành tựu nâng cao vai trò của phụ nữ dân tộc H

Mông trong đời sống xã hội ở tỉnh Sơn La hiện nay 512.1.2 Những hạn chế nâng cao vai trò của phụ nữ dân tộc Hmông

trong đời sống xã hội ở tỉnh Sơn La hiện nay 67

2.2 Một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ dân tộc H Mông ở tỉnh Sơn La hiện nay 73

2.2.1 Phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, đẩy mạnh đào tạo nghề và

giải quyết việc làm cho phụ nữ dân tộc H’Mông ở tỉnh Sơn

La hiện nay 732.2.2 Đẩy mạnh công tác giáo dục và nâng cao nhận thức về vị trí,

vai trò của người phụ nữ trong gia đình và xã hội đối với người phụ nữ dân tộc H’Mông ở tỉnh Sơn La hiện nay 772.2.3 Thay đổi phong tục, tập quán lạc hậu, xây dựng những phong

tục tập quán mới đối với người phụ nữ dân tộc H’Mông ở tỉnh Sơn La hiện nay 792.2.4 Nâng cao vai trò của Hội liên hiệp phụ nữ và các tổ chức xã

hội nhằm phát huy vai trò của người phụ dân tộc H’Mông ở tỉnh Sơn La hiện nay 822.2.5 Hoàn thiện cơ chế, chính sách và hệ thống pháp luật, thực

hiện bình đẳng giới nhằm phát huy vai trò của người phụ nữ dân tộc H’Mông ở tỉnh Sơn La hiện nay 84

KẾT LUẬN 88

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Phụ nữ là một lực lượng đông đảo, không thể thay thế trong gia đình và

xã hội Nghiên cứu về vấn đề nâng cao vai trò của người phụ nữ dân tộc H’Mông trong đời sống xã hội ở tỉnh Sơn La hiện nay xuất phát từ những luận điểm sau

Thứ nhất, Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc Do đặc điểm về điều

kiện địa lý, kinh tế - xã hội và nhiều nhân tố ảnh hưởng khác nhau, đã hình thành nên các vùng văn hóa và mang tính đặc thù Trong đó vùng Tây Bắc nước ta gồm 6 tỉnh: Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu, Điện Biên, Lào Cai, Yên Bái, là một vùng rộng lớn, có nền kinh tế - văn hóa độc đáo, có vị trí rất quan trọng đối với sự phát triển của đất nước cả về an ninh, quốc phòng, kinh tế, văn hóa, xã hội Mỗi dân tộc với những đặc điểm riêng, đều sớm hình thành nét văn hóa độc đáo của mình Cho dù là dân tộc nào người phụ nữ vẫn luôn đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống cũng như bảo tồn và phát triển văn hóa của dân tộc đó Với xu thế toàn cầu hóa hiện nay, việc phát huy vai trò của người phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ dân tộc H’Mông trong đời sống xã hội càng có ý nghĩa quan trọng

Thứ hai, những năm gần đây, tình hình thế giới có nhiều biến đổi Xu

thế toàn cầu hóa đang diễn ra như một cơn lốc cuốn hút tất cả các nước trên thế giới Việt Nam cũng như tất cả các quốc gia khác không thể đứng ngoài dòng chảy này Kinh tế thị trường là điều kiện kích thích tăng năng suất lao động không ngừng Sự tìm tòi, sáng tạo của cá nhân luôn được khuyến khích

Về phương diện đạo đức, lối sống, sự ảnh hưởng tích cực của kinh tế thị trường từng bước hình thành nhân cách tự chủ, tự lập trong con người, rèn luyện con người ý thức lao động, bản lĩnh, năng động, thích nghi, sáng tạo

Và những phẩm chất đạo đức về ý chí, lòng dũng cảm, nghĩa vụ, tính nguyên

Trang 9

tắc và tự trọng ở mỗi con người cũng như cả cộng đồng Kinh tế thị trường cũng đã kéo theo lối sống “tiền trao cháo múc”, lạnh lùng, tàn nhẫn làm băng hoại đạo đức truyền thống, thuần phong mỹ tục, tấn công vào từng gia đình, từng người Do đó, kinh tế thị trường với những ưu điểm và mặt trái của nó,

có ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống vật chất và tinh thần của người phụ nữ dân tộc thiểu số tỉnh Sơn La Chính điều này đòi hỏi mỗi người phụ nữ dân tộc H’Mông phải nỗ lực vươn lên học tập, rèn luyện tay nghề, rèn luyện bản thân, nâng cao vị thế của mình trong gia đình và xã hội Mỗi gia đình là một

tế bào của xã hội Người phụ nữ trong gia đình được ví như là những hạt nhân của tế bào đó Trong thời đại mới, người phụ nữ dân tộc H’Mông tỉnh Sơn La, ngoài việc thực hiện thiên chức của mình, phải không ngừng học hỏi rèn luyện trở thành người có văn hóa, hoàn thiện về “Đức - Trí - Thể - Mĩ” Và như thế phụ nữ dân tộc H’Mông đã và đang trở thành một nguồn nhân lực trong xã hội không thua kém nam giới Ngày nay, kế thừa những phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ truyền thống, phụ nữ đồng bào dân tộc H’Mông ngày càng đóng một vai trò quan trọng trong đời sống xã hội Họ đã và đang phấn đấu cho một gia đình ấm no, hạnh phúc và góp phần vào sự phát triển của đời sống xã hội tỉnh Sơn La

Thứ ba, với mục tiêu nâng cao vai trò của người phụ nữ trong đời sống

xã hội, thực hiện bình đẳng giới, vì sự nghiệp giải phóng phụ nữ; xây dựng người phụ nữ mới… Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra nhiều chủ trương, chính sách nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, tạo điều kiện để vùng Tây Bắc phát triển đồng đều và vững chắc, góp phần vào việc thực hiện mục tiêu chung của đất nước trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tỉnh Sơn La lâu nay được biết đến

là một tỉnh vùng cao còn nhiều khó khăn Người phụ nữ dân tộc H’Mông thường chịu nhiều thiệt thòi, không được đối xử công bằng trong công việc

Trang 10

gia đình cũng như hoạt động cộng đồng, xã hội Tuy nhiên, nhờ chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng, Nhà nước và sự quan tâm, nỗ lực của cấp ủy, chính quyền địa phương cuộc sống của phụ nữ đã có những đổi thay đáng mừng, vai trò người phụ nữ H’Mông ngày càng được phát huy Nhiều chị em không những thể hiện vai trò quan trọng trong việc xây dựng một gia đình hạnh phúc mà còn tích cực tham gia các hoạt động xã hội Xu thế mới hiện nay ngày càng có nhiều phụ nữ H’Mông giữ chức vụ quan trọng trong xã hội

Có thể khẳng định rằng: Ở bất cứ lĩnh vực nào, người phụ nữ cũng đều phát huy trí tuệ, sức sáng tạo của mình, được xã hội ghi nhận, tôn vinh, góp phần vào sự phát triển chung của quê hương Trong gia đình, chị em phụ nữ H’Mông đã có tiếng nói, đã được đối xử bình đẳng hơn và thể hiện rõ vai trò quan trọng trong xây dựng gia đình no ấm, hạnh phúc Ngoài xã hội, nhiều chị em H’Mông đã tham gia công tác xã hội nhiệt tình và được cấp ủy, chính quyền địa phương đánh giá cao Tin tưởng rằng cùng với sự phát triển chung của xã hội và các chính sách quan tâm của Đảng, Nhà nước, trong thời gian tới, chị em phụ nữ nói chung và chị em phụ nữ dân tộc H’Mông nói riêng sẽ tiếp tục khẳng định được vai trò và vị thế của mình trong xã hội

Với ba lý do cơ bản trên, tác giả mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Nâng cao vai trò của phụ nữ dân tộc H’Mông ở tỉnh Sơn La hiện nay” làm đề tài luận

văn thạc sỹ triết học của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Thứ nhất, các công trình nghiên cứu về nâng cao vai trò của phụ nữ

Việt Nam nói chung trong xã hội hiện đại

Nhiệm vụ phụ nữ trong cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, Ban tuyên

huấn Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, xác định: Trong công tác

vận động quần chúng nói chung của Đảng, công tác phụ nữ là một bộ phận quần chúng của Đảng không thể thiếu được trong công cuộc cách mạng nhất

Trang 11

là cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa Công tác phụ nữ có khó khăn, gian khổ, nhưng cán bộ ta vì quyền lợi lâu dài của phụ nữ tức là sự nghiệp giải phóng triệt để cho phụ nữ thì không gì vinh dự hơn là chúng ta đã thực hiện nguyện vọng sâu xa nhất của mỗi người phụ nữ Việt Nam từ bao nhiêu đời nay mong ước Đó là tiền đồ vinh quang nhất của mỗi cán bộ phụ nữ (1) An tâm công tác, trung thành với sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa và sự nghiệp giải phóng phụ nữ (2) Tích cực làm tốt công tác phụ nữ, dù ở trong lĩnh vực công tác nào cũng không nên tách rời công tác phụ nữ (3) Ra sức học tập, nâng cao tinh thần phê bình, tự phê bình, đảm bảo đoàn kết nội bộ

Xây dựng đạo đức gia đình ở nước ta hiện nay của tác giả Nguyễn Thị

Thọ đã chỉ ra những nhân tố quy định và những chuẩn mực căn bản của đạo đức gia đình Việt Nam Tất cả các yếu tố và đặc điểm này đều có sự tác động bởi quan điểm đạo đức của Nho giáo Tác giả cũng trình bày những tác động tiêu cực của kinh tế thị trường, của tư tưởng đạo đức Nho giáo đối với đạo đức gia đình Từ đó, tác giả đưa ra các giải pháp để khắc phục tình trạng trên

và xây dựng đạo đức gia đình ở nước ta hiện nay

Gia đình Việt Nam và vai trò của người phụ nữ trong giai đoạn hiện nay của Dương Thị Minh, trong đó, tác giả chỉ ra cụ thể các chức năng của

người phụ nữ trong gia đình và xã hội là tái sản xuất ra con người của gia đình; giáo dục gia đình, thực hiện chức năng kinh tế; chức năng thỏa mãn nhu cầu tâm lý, tình cảm trong gia đình; chức năng xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc Bên cạnh đó, tác giả cũng chỉ ra những mặt hạn chế của người phụ nữ Việt Nam hiện nay: lực lượng tham gia chính trị xã hội còn thấp, số ít phụ nữ là chủ hộ gia đình, vẫn còn nhiều tình trạng bạo lực gia đình Tất cả ảnh hưởng đến vị trí, vai trò của người phụ nữ ngày nay

Gia đình Việt Nam và người phụ nữ trong gia đình thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước của Đỗ Thị Bình, Lê Ngọc Văn và Nguyễn Linh

Trang 12

Khiếu Ở công trình này, các tác giả đã thực hiện rất nhiều các cuộc khảo sát

và điều tra xã hội học về vai trò của người phụ nữ với những số liệu cụ thể Thông qua các kết quả khảo sát, các tác giả cho chúng ta thấy vai trò rất lớn của người phụ nữ Họ là những người có công lớn trong việc phát triển kinh

tế cho gia đình, là người làm chính các việc chăm sóc con, chăm sóc người già, người ốm và dạy bảo con Tuy nhiên, tỉ lệ phụ nữ đứng tên sổ đỏ, sở hữu nhà và chủ hộ kinh doanh gia đình so với nam giới là thấp nhất Nguyên nhân của vấn đề này là do tính gia trưởng, đề cao vai trò của nam giới đã tồn tại lâu

đời trong đời sống xã hội nước ta

Tuyên truyền giáo dục phẩm chất, đạo đức phụ nữ Việt Nam trong thời

kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đề án 343, Bộ giáo dục và đào tạo

xác định: Những phẩm chất, đạo đức tốt đẹp của phụ nữ Việt Nam cần giữ gìn,

phát triển trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đó là phẩm chất yêu nước; Ý thức trách nhiệm đối với gia đình và xã hội; Ý thức tiếp thu tri thức, làm chủ khoa học, công nghệ và kỹ năng nghề nghiệp; Tinh thần năng động, sáng tạo và ý chí vươn lên trong cuộc sống; Xây dựng lối sống văn hóa của phụ nữ Việt Nam; Ý thức pháp luật; Phẩm chất nhân hậu, vị tha

Công, dung, ngôn, hạnh thời nay của Lê Thị Bừng, Nguyễn Thị Vân

Hương khẳng định: các nhà khoa học đã dự báo thế kỷ 21 là thế kỷ của phụ nữ Phụ nữ chiếm hơn một nửa nhân loại trên thế giới Trong lịch sử phát triển của mọi quốc gia, mọi dân tộc, thái độ đối với phụ nữ luôn luôn là một vấn đề thời

sự, một vấn đề đạo đức, chính trị, cũng là thước đo của một xã hội văn minh

Tác phẩm bàn đến Công, dung, ngôn, hạnh với mục đích giúp người phụ nữ tự

đánh giá mình một cách nghiêm túc, bởi cái khó nhất của một con người là tự biết mình là ai? Cuốn sách với mong muốn góp phần nhỏ trong việc định hướng, gợi ý cho các bạn gái hiện nay: Cảm nhận, suy nghĩ, hành động theo những chuẩn mực “công, dung, ngôn, hạnh” mang giá trị đạo đức, truyền thống

Trang 13

- nét đẹp văn hóa của người phụ nữ Việt Nam nói chung và cho các bạn gái nói riêng, nhất là trong xu hướng mở cửa và hội nhập hiện nay

Gia đình, phụ nữ với dân số, văn hóa và sự phát triển bền vững của Lê

Thi, tác giả chỉ ra vai trò của người phụ nữ, của gia đình đối với việc giữ gìn, bảo vệ môi trường nhân văn và đề cao việc thực hiện sự bình đẳng về giới, cải thiện đời sống phụ nữ là yêu cầu quan trọng để nâng cao chỉ số phát triển con người Việt Nam Bên cạnh đó, tác giả đã đưa ra những suy nghĩ của mình về

ý nghĩa của công, dung, ngôn, hạnh xưa và nay Theo ý tác giả, tứ đức của

Nho giáo có rất nhiều ưu điểm để chúng ta tiếp thu vận dụng trong xã hội hiện đại Từ đó đưa ra những giải pháp xây dựng chuẩn mực đạo đức của người phụ nữ Việt Nam thời hiện đại để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Thứ hai, những công trình nghiên cứu về vai trò của người phụ nữ các dân tộc thiểu số nói chung và dân tộc H’Mông ở Việt Nam và Sơn La hiện nay

"Thực trạng và vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số các tỉnh miền núi phía Bắc trong chăm sóc sức khỏe sinh sản", Tạp chí Nghiên cứu Gia đình và

Giớ i, t.19 (2009): Bài viết phân tích và tổng hợp các kết quả nghiên cứu đã

công bố nhằm tìm hiểu và đưa ra bức tranh chung về thực trạng và vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số các tỉnh miền núi phía Bắc Tình trạng kinh tế nghèo khó, trình độ học vấn thấp và sự hạn chế trong nhận thức của phụ nữ dân tộc H’Mông chính là những trở ngại trong việc tiếp cận với các biện pháp và các phương tiện chăm sóc sức khỏe sinh sản (chăm sóc sức khỏeSS) hiện đại Bên cạnh đó, một số phong tục tập quán lạc hậu của cộng đồng cũng cản trở người phụ nữ dân tộc H’Mông nắm bắt và thực hành việc chăm sóc sức khỏeSS một

cách an toàn và khoa học

“Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Bắc)”, Viện Dân tộc

học, 2014, Nxb Khoa học xã hội Trong công trình này, nhóm tác giả đã giới

Trang 14

thiệu những nét khái quát nhất về nguồn gốc lịch sử tộc người các dân tộc thiểu số vùng núi phía Bắc, trong đó có dân tộc Thái Tìm hiểu toàn diện về văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần, kinh tế - xã hội, tôn giáo, tín ngưỡng, hôn nhân gia đình của các dân tộc miền núi phía Bắc Việt Nam

Thực trạng và vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số các tỉnh miền núi phía Bắc trong chăm sóc sức khỏe sinh sản, Phan Thị Thanh Mai, Bài viết

phân tích và tổng hợp các kết quả nghiên cứu đã công bố nhằm tìm hiểu và đưa ra bức tranh chung về thực trạng và vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số các tỉnh miền núi phía Bắc Tình trạng kinh tế nghèo khó, trình độ học vấn thấp và sự hạn chế trong nhận thức của phụ nữ dân tộc H’Mông chính là những trở ngại trong việc tiếp cận với các biện pháp và các phương tiện chăm sóc sức khỏe sinh sản hiện đại Bên cạnh đó, một số phong tục tập quán lạc hậu của cộng đồng cũng cản trở người phụ nữ dân tộc H’Mông nắm bắt và thực hành việc chăm sóc sức khỏeSS một cách an toàn và khoa học

“Nghề dệt của người Thái ở Tây Bắc trong cuộc sống hiện đại”,

Nguyễn Thị Thanh Nga, 2003, Nxb Khoa học xã hội Trong công trình, tác giả đã nghiên cứu nguồn gốc và quá trình phát triển của nghề dệt cùng những mối liên hệ của nó đối với đời sống kinh tế - xã hội của người Thái Ngoài ra, tác giả đã chỉ ra được mối quan hệ của văn hóa Thái với dân tộc H’Mông và các tộc người khác trong khu vực Tây Bắc cũng như giữa văn hóa Thái ở Việt Nam và văn hóa của người Thái trong khu vực Đông Nam Á

“Vai trò của người phụ nữ Thái trong việc giữ gìn văn hóa truyền thống” - Khóa luận tốt nghiệp của Lường Thị Hường, trường Đại học Văn

hóa Hà Nội Trong công trình, tác giả đã khái quát về người Thái đen ở phường Noong Bua, tỉnh Điện Biên Tác giả cũng đã giới thiệu về nghề dệt may của người Thái đen nơi đây, từ đó đưa ra được thực trạng của ngành nghề truyền thống này Đối với người phụ nữ Thái cũng như người phụ nữ

Trang 15

dân tộc H’Mông họ đóng vai trò quan trọng trong việc giữ gìn và phát huy ngành nghề truyền thống của địa phương Tuy nhiên, tác giả cũng mới chỉ dừng lại ở khía cạnh khai thác vai trò của người phụ nữ trong việc giữ gìn văn hóa truyền thống, cụ thể là qua nghề dệt, may truyền thống

“Vai trò của người phụ nữ Thái trong việc xóa đói giảm nghèo tại huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu”, Khóa luận tốt nghiệp của Hoàng Thị

Thuận, trường Đại học Văn hóa Hà Nội Trong công trình này, tác đã khái quát được về người Thái trong mối quan hệ tương quan với người H’Mông, Dao… ở huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu và thực trạng đói nghèo của họ Cùng với công tác xóa đói, giảm nghèo ở vùng người Thái nơi đây, tác giả đã cho thấy được vai trò của người phụ nữ Thái trong gia đình và xã hội Tuy nhiên, tác giả mới chỉ dừng ở việc nghiên cứu vai trò của người phụ nữ trong xóa đói, giảm nghèo, mà chưa đề cập tới nhiều lĩnh vực khác để làm bật lên vai trò của người phụ nữ dân tộc Thái

Bên cạnh đó, từ trung ương đến địa phương tỉnh, huyện thị… đã quan tâm sát sao tới việc nâng cao vai trò phụ nữ H’Mông nói riêng, phụ nữ dân tộc thiểu số nói chung ở sơn La Điều này được thể hiện rõ nét ở nhiều chủ trương chính sách, nghị quyết, kế hoạch, quy định, hội thảo… ở Sơn La

Nghị quyết của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân tộc giai đoạn 2016 - 2020 Số 05-NQ/TU, ngày 01/10/2016) Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Sơn La đã triển khai kịp thời, hiệu quả về công tác dân tộc giai đoạn 2016-2020 Trong kế hoạch đề ra, Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh đã nhận định rõ vài trò, vị trí của người phụ nữ dân tộc H’Mông trong gia đình và xã hội hiện nay, từ đó đưa ra những chính sách phát triển phù hợp với tình hình địa phương

Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/TU ngày 01/10/2016 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về tăng cường sự lãnh đạo của

Trang 16

Đảng đối với công tác dân tộc giai đoạn 2016 - 2020 (Số 151/KH - UBND, ngày 28/11/2016) Trong bản kế hoạch này, Hội phụ nữ tỉnh Sơn La đã chỉ ra

và phân tích rõ những đặc điểm, ưu điểm hạn chế của người phụ nữ dân tộc H’Mông Đồng thời, trong quá trình thực hiện công tác phụ nữ dân tộc, Hội

đã đề ra phương hướng và cách thức để nâng cao vai trò của người phụ nữ dân tộc H’Mông trên nhiều lĩnh vực của cuộc sống

Kế hoạch thực hiện công tác phụ nữ dân tộc H’Mông (Số 54/KH - PN, ngày 12/3/2013) của Hội phụ nữ tỉnh Sơn La Nghị quyết đã nêu rõ những điều kiện, đối tượng, nội dung, mức độ của chính sách hỗ trợ cho phụ nữ dân tộc H’Mông trong tỉnh

Nghị quyết về việc quy định chính sách hỗ trợ cho phụ nữ, trẻ em dân tộc H’Mông (Số 113/NQ - HĐND, ngày 10/9/2015) của hội đồng nhân dân tỉnh Sơn La Nghị quyết đặc biệt lưu ý phân loại đối tượng hỗ trợ cho phụ nữ dân tộc thiểu số nói chung và phụ nữ dân tộc thiểu số có đạo, phụ nữ dân tộc thiểu số H’Mông theo đạo truyền thống và đạo lạ

Nghị quyết về tăng cường công tác vận động phụ nữ dân tộc thiểu số, phụ nữ có đạo trong tình hình hiện nay (Số 06/NQ - BCH, ngày 19/02/2014)

của ban chấp hành Trung ương

Hội phụ nữ tỉnh Sơn La thường xuyên tổ chức các cuộc thi nhằm nâng cao hiểu biết và kĩ năng tham gia lĩnh vực xã hội cho phụ nữ dân tộc thiểu số nói chung và dân tộc H’Mông nói riêng Ví dụ: việc tuyên truyền, vận động cán bộ, hội viên phụ nữ dân tộc H’Mông tham gia cuộc thi “ Tìm hiểu chính sách, pháp luật về bình đẳng giới “ (Số 129/CV - PN, ngày 22/8/2012)

Quyết định về việc phê duyệt Đề án Giáo dục 5 triệu bà mẹ nuôi, dạy con tốt (giai đoạn 2010 - 2015), (Số 704/QĐ - TTg, ngày 19/5/2010)

Đại hội đại biểu phụ nữ về thực hiện bình đẳng giới huyện Sốp Cộp - Sơn La (ngày 15/9/2016) đã bàn luận sâu sắc, thiết thực về nội dung và cách

Trang 17

thức thực hiện bình đẳng giới trong gia đình và xã hội cho người phụ nữ H’Mông

Sở Kế hoạch và đầu tư tỉnh Sơn La luôn cập nhật tình hình thực hiện chủ trương, chính sách ổn định kinh tế - xã hội đối với đồng bào dân tộc H’Mông tỉnh Sơn la Điều này thể hiện rõ ở các báo cáo thường kì Số 359,

Số 358/BC - SKHĐT, ngày 10/8/2013) Thực hiện Công văn số 279/BKHĐT - KTĐPLT ngày 17/7/2012 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về việc báo cáo tình hình di cư và thực hiện các chủ trương, chính sách ổn định kinh tế - xã hội đối với đồng bào H’Mông Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Sơn La xin báo cáo tình hình thực hiện một số chủ trương, chính sách ổn định kinh tế - xã hội đối với đồng bào dân tộc H’Mông tỉnh Sơn La với nhiều nội dung cơ bản

Ban Dân tộc tỉnh Sơn La đã tổ chức nhiều hội thảo có hiệu quả cao nhằm nâng cao vai trò phụ nữ H’Mông trong lĩnh vực xã hội Tại Hội thảo nghiên cứu thực trạng nhu cầu của phụ nữ dân tộc H’Mông di cư lao động qua biên giới đã bàn sâu về vấn đề sử dụng nguồn lao động nữ dân tộc H’Mông như thế nào để góp phần thúc đẩy kinh tế địa phương Về tình hình dân tộc H’Mông, thực hiện chính sách dân tộc và đề xuất chính sách liên quan đến dân tộc H’Mông góp phần đảm bảo an ninh quốc phòng đặc biệt là khu vực biên giới trên địa bàn tỉnh Sơn La

Nhìn chung, các công trình trên đã làm sáng tỏ các khái niệm cơ bản của đề tài, đã phân tích được các điều kiện, yêu cầu của việc nâng cao vai trò của người phụ nữ trong xã hội nói chung Hướng nghiên cứu của các công trình trên chủ yếu khai thác vai trò của người phụ nữ ở khía cạnh môi trường sống, lịch sử nhân văn và văn hóa truyền thống của người phụ nữ Việt nam nói chung và dân tộc thiểu số Sơn La nói riêng trong gia đình và ngoài xã hội Đây là một nguồn tài liệu quý giá để tác giả tìm hiểu, kế thừa trong quá trình nghiên cứu của mình Tuy nhiên, chưa có công trình khoa học nào đi sâu

Trang 18

nghiên cứu vấn đề nâng cao vai trò của người phụ nữ dân tộc thiểu số trong

đời sống xã hội ở tỉnh Sơn La hiện nay dưới góc độ triết học một cách độc

ra giải pháp nhằm phát huy vai trò của dân tộc H’Mông ở tỉnh Sơn La trong

bối cảnh hội nhập hiện nay

4 Giả thuyết khoa học

Nếu phân tích thực trạng việc nâng cao vai trò của người phụ nữ dân tộc H’Mông khách quan, sâu sắc và vận dụng các giải pháp cơ bản của luận văn vào thực tiễn tỉnh Sơn La một cách hiệu quả sẽ góp phần khẳng định, phát huy vai trò của người phụ nữ dân tộc H’Mông trong đời sống xã hội tỉnh Sơn La với bối cảnh hội nhập và quốc tế hóa hiện nay

5 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

- Khách thể nghiên cứu

Khách thể nghiên cứu của luận văn là phụ nữ dân tộc H’Mông ở tỉnh Sơn La hiện nay

- Đối tượng nghiên cứu

Vai trò của phụ nữ dân tộc H’Mông trong đời sống xã hội ở tỉnh Sơn

La hiện nay

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Phân tích cơ sở lí luận và thực tiễn của việc nâng cao vai trò của

người phụ nữ dân tộc H’Mông ở tỉnh Sơn La hiện nay

Trang 19

- Phân tích thực trạng việc nâng cao vai trò của người phụ nữ dân tộc H’Mông ở tỉnh Sơn La hiện nay

- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò của người phụ nữ người phụ nữ dân tộc H’Mông trong đời sống xã hội ở tỉnh Sơn La hiện nay

7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu vai trò của người phụ nữ dân tộc H’Mông ở tỉnh Sơn La từ năm 1986 (Đại hội Đảng lần thứ VI) tới nay

8 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kết hợp chặt chẽ lý luận và thực tiễn; sử dụng đúng đắn, phù hợp với các phương pháp phân tích và tổng hợp, lôgic và lịch sử, thống kê, đối chiếu, so sánh, tổng kết thực tiễn nhằm thực hiện mục đích đề tài đặt ra

9 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,

luận văn gồm 2 chương, 4 tiết

10 Tóm tắt những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn

- Những luận điểm cơ bản

Nghiên cứu đề tài này, tác giả xuất phát từ những luận điểm cơ bản sau

+ Người phụ nữ dân tộc H’Mông ở tỉnh Sơn La là một lực lượng đông

đảo, có vai trò quan trọng không thể thay thế trong gia đình và xã hội Họ có những đóng góp to lớn cho sự phát triển của đời sống xã hội tỉnh Sơn La nói riêng và Việt Nam nói chung

+ Nâng cao vai trò, vị thế của người phụ nữ dân tộc H’Mông ở tỉnh

Sơn La là một trong những mục tiêu của Đảng và nhà nước trong sự nghiệp xây dựng con người mới đáp ứng những nhu cầu của xã hội hiện đại, sự nghiệp vì sự tiến bộ của phụ nữ

Trang 20

- Những đóng góp mới của luận văn

Trang 21

Chương 1

CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC NÂNG CAO VAI TRÒ

PHỤ NỮ DÂN TỘC H’MÔNG TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI

Ở TỈNH SƠN LA HIỆN NAY

1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Những khái niệm cơ bản

1.1.1.1 Phụ nữ, vai trò của phụ nữ

Theo wikipedia.org định nghĩa: “Phụ nữ là một khái niệm chung để chỉ

một người, một nhóm người hay toàn bộ những người trong xã hội mà một cách tự nhiên, mang những đặc điểm giới tính được xã hội thừa nhận về khả năng mang thai và sinh nở khi cơ thể họ hoàn thiện và chức năng giới tính hoạt động bình thường Nữ giới, phân biệt với nam giới, là một trong hai giới tính truyền thống, cơ bản và đặc trưng của loài người Nhìn theo khía cạnh sinh học, nữ giới chỉ những người thuộc giống cái”

Theo Từ điển Tiếng Việt: Phụ nữ hay đàn bà là từ chỉ giống cái của loài

người.Phụ nữ thường được dùng để chỉ một người trưởng thành, còn con gái thường được dùng chỉ đến trẻ gái nhỏ hay mới lớn Bên cạnh đó từ phụ nữ, đôi khi dùng để chỉ đến một con người giống cái, bất kể tuổi tác, như là trong nhóm từ "quyền phụ nữ"

Trong ngôn ngữ của người Việt Nam, có nhiều từ gần nghĩa nhằm chỉ phụ nữ hoặc chỉ một nhóm đối tượng thuộc nữ giới nhưng mang tính phân loại cao hơn như là đàn bà, phụ nữ, con gái Theo quan niệm của người Việt, phụ nữ chỉ một, một nhóm hay tất cả nữ giới đã trưởng thành, hoặc được cho

là đã trưởng thành về mặt xã hội

Trong lịch sử của nhiều nền văn hóa khác, phụ nữ có một vai trò văn hóa riêng biệt Ở thời kỳ mông muội, phụ nữ được phân biệt khi đảm nhận vai

Trang 22

trò hái lượm các loại cây lương thực, bắt các loại thú nhỏ, câu cá làm thức ăn

và học sử dụng các sản phẩm sữa, trong khi đàn ông là lao động chủ lực đảm nhiệm việc săn bắn,… Tuy nhiên trong xã hội hiện đại, những thay đổi trong lực lượng lao động đã dẫn tới những thay đổi trong thái độ của phụ nữ tại nơi làm việc, cho phép những sự phát triển khiến phụ nữ trở nên có định hướng

về nghề nghiệp và giáo dục lớn hơn.Ngày nay, người phụ nữ không chỉ đảm nhiệm việc chăm sóc gia đình, mang trong mình bổn phận của người mẹ mà

họ đã biết đấu tranh giành quyền bình đẳng cho bản thân và những người xung quanh, từ đó nhận thức xã hội về phụ nữ có nhiều thay đổi tích cực Nhiều phụ nữ hiện nay nắm giữ những vị trí quan trọng trong bộ máy chính quyền, tham gia vào tất cả các hoạt động mà nam giới có thể làm được, khẳng định vai trò và vị trí của họ trong xã hội hiện đại

Vai trò của người phụ nữ trong xã hội hiện đại

Thứ nhất, trong lĩnh vực chính trị, phụ nữ thông qua việc tham gia ban

hành các quyết định, xây dựng và thực thi pháp luật, chính sách, đáp ứng nhu cầu và lợi ích giới; họ được phép cử đại diện xứng đáng trong các cơ quan dân cử, cơ quan quản lý nhà nước và các đoàn thể chính trị - xã hội Tại Việt Nam trong những năm qua, Chính phủ luôn có 01 Phó Chủ tịch nước là phụ

nữ Theo số liệu thống kê của cơ quan chức năng, trong Quốc hội, tỷ lệ nữ đại biểu trong 3 nhiệm kỳ gần đây đều đạt trên 25% Các cơ quan dân cử ở địa phương có tỷ lệ đại biểu nữ tăng từ nhiệm kỳ 1999 - 2004 đến nhiệm kỳ 2005

- 2011: tỷ lệ nữ tham gia hội đồng nhân dân cấp tỉnh tăng từ 22,3% lên 23,8%; cấp huyện tăng từ 20,1% lên 23,2%; cấp xã tăng từ 16,6% lên 20,1% Mặc dù so với yêu cầu thực tiễn, nhằm đẩy nhanh và mạnh quá trình bình đẳng về giới, phát huy vài trò của người phụ nữ trong điều kiện mới, tỷ lệ này chưa cao nhưng phần nào đã chứng tỏ vai trò quan trọng của phụ nữ trong xã hội [53]

Trang 23

Thứ hai, trong lĩnh vực kinh tế - lao động, ở nước ta với hơn 50% dân

số, phụ nữ tham gia vào hầu hết các ngành nghề, công việc, kể cả những lĩnh vực trước đây dường như chỉ dành cho nam giới Ngày nay, với 50,2% tỷ trọng lao động trong sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp, đội ngũ cán bộ nữ khoa học, phụ nữ nông dân đã có đóng góp lớn vào thành tựu sản xuất, phát triển kinh tế của đất nước Sự đóng góp của đội ngũ lao động nữ trên hầu hết các lĩnh vực là động lực để phát triển kinh tế; nhiều chị em đã phấn đấu vươn lên học hỏi, lao động và đã giữ nhiều cương vị chủ chốt trong hoạt động đời sống xã hội Ngoài ra, quyền tự chủ của phụ nữ về kinh tế đã được nâng lên thông qua việc pháp luật quy định phụ nữ cùng đứng tên với nam giới trong giấy chứng nhận quyền sở hữu đất đai, nhà ở và tài sản… Tạo điều kiện và cơ hội cho họ tham gia hầu hết các lĩnh vực kinh tế - xã hội Tận dụng những ưu điểm của phụ nữ như cần cù, trung thực, kiên trì để tham gia vào công cuộc xây dựng đất nước, từ đó toàn xã hội có cái nhìn đúng đắn hơn về vai trò của người phụ nữ

Thứ ba, trong những năm gần đây, ở lĩnh vực khoa học - công nghệ, đội

ngũ nữ trí thức Việt Nam đã có bước trưởng thành cả về số lượng và chất lượng: trong đó theo số liệu do bộ khoa học và công nghệ Việt Nam khảo sát phụ nữ chiếm tới 36,64% trong khoa học tự nhiên; 43,42% trong lĩnh vực khoa học nông - lâm - thủy sản; 33% trong khoa học công nghệ; 38,27% trong khoa học xã hội và nhân văn Cán bộ phụ trách là nữ trong các cơ sở nghiên cứu đã có 6,3%; 10% đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước do phụ nữ làm chủ nhiệm Ngày càng nhiều tập thể và cá nhân các nhà khoa học nữ có công trình nghiên cứu được nhận các giải thưởng cao quý như: VIFOTEC của Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam, Bằng lao động sáng tạo của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Giải thưởng Phụ nữ Việt Nam, Giải thưởng Kô-va-lép-xkai-a Ngày càng nhiều

Trang 24

nhà khoa học nữ đã lập ra các hội nghề nghiệp, các câu lạc bộ, trung tâm nghiên cứu, tư vấn để tiếp tục phát huy trí tuệ, tài năng của mình đóng góp vào sự nghiệp phát triển đất nước, qua đó phát huy vai trò của người phụ nữ trong xã hội hiện đại [53]

Thứ tư, trong lĩnh vực giáo dục, trình độ học vấn của nữ giới ngày càng

cao Chị em phụ nữ có học hàm học vị ngày càng nhiều, học sinh, sinh viên

nữ đỗ thủ khoa, đạt giải cao trong các kỳ thi quốc gia, quốc tế không còn là chuyện hiếm Phụ nữ các vùng miền trong cả nước, đặc biệt là chị em phụ nữ vùng sâu, dân tộc ít người đã tích cực tham gia học tập bằng nhiều hình thức

để nâng cao trình độ và luôn chăm lo đến việc học tập của con cái, góp phần tạo nên chuyển biến tích cực trong nền giáo dục nước nhà Từ đó khẳng định vai trò của người phụ nữ Việt Nam và chứng minh họ là một thành phần quan trọng góp phần hình thành nên diện mạo nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm

đà bản sắc dân tộc

Thứ năm, trong xây dựng gia đình mới, phụ nữ Việt Nam tiếp tục có

những đóng góp lớn: góp phần giải quyết hài hòa các mối quan hệ xã hội và gia đình, họ luôn đảm đang gánh vác việc nước, việc nhà, là lực lượng nòng cốt để bảo vệ tổ ấm gia đình trong thời kỳ kinh tế thị trường Phụ nữ ở nước ta

từ nông thôn cho đến thành thị, từ người Kinh cho đến phụ nữ các dân tộc ít người đã thể hiện vai trò rõ nét trong xây dựng gia đình theo chuẩn mực no

ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, phòng chống tệ nạn xã hội từ gia đình

Qua những phân tích trên có thể khẳng định vai trò to lớn của phụ nữ Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày nay Họ là nhân

tố góp phần khẳng định các giá trị của người phụ nữ hiện đại năng động, tự tin, ngày càng chứng tỏ được vị thế, vai trò quan trọng của mình trong gia đình và trong xã hội Đó là minh chứng cho sự nỗ lực không mệt mỏi, không ngừng nghỉ của phụ nữ Việt Nam trong việc hưởng ứng, thực hiện các chính

Trang 25

sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta đối với phụ nữ, đưa vị thế xã hội của người phụ nữ lên một tầm cao mới

Tuy nhiên, trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, phụ nữ cần tiếp tục nỗ lực phấn đấu, vượt qua những khó khăn, cản trở như trình độ học vấn, chuyên môn, nghề nghiệp còn thấp; cơ hội có việc làm khó hơn so với nam giới; ở những vùng khó khăn, điều kiện sống và làm việc của phụ nữ chưa được bảo đảm; tâm lý tự ti vẫn còn ăn sâu trong một bộ phận phụ nữ vốn có thói quen sống an phận; tư tưởng định kiến giới trong xã hội, gia đình vẫn còn tồn tại dai dẳng, trở thành lực cản đối với sự tiến bộ của nữ giới Đây cũng là lý do khiến một số địa phương, đơn vị chưa thực hiện tốt chính sách của Đảng và Nhà nước trong việc tạo điều kiện cho nữ giới phát huy vai trò, năng lực của mình

1.1.1.2 Nâng cao, nâng cao vai trò của phụ nữ trong đời sống xã hội Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ IX đã khẳng định: "Tiếp tục nâng cao

chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục, thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa" Trong giáo dục, vấn đề mấu chốt nhất quan trọng nhất, thường xuyên nhất đó là chú trọng việc nâng cao chất lượng giáo dục và hiệu quả giáo dục Chất lượng giáo dục, chất lượng dạy học là yếu tố xuyên suốt quá trình giáo dục cũng như qua trình dạy học ở các trường học trong hệ thống giáo dục quốc dân Chất lượng giáo dục nói chung và chất lượng dạy học nói riêng là sự tồn tại và phát triển của sự nghiệp giáo dục, của mỗi cơ sở

giáo dục, của mỗi trường học Vấn đề nâng cao chất lượng giáo dục và chất

lượng dạy học là vấn đề cốt tử của ngành giáo dục và của các trường học Nhà

trường đáp ứng yêu cầu của mục tiêu giáo dục là: “Nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực và bồi dưỡng nhân tài”

Trong xu thế phát triển của đất nước, toàn xã hội đã và đang tạo điều kiện cho người phụ nữ ngày càng phát huy thế mạnh, tiềm năng của mình để

Trang 26

cống hiến nhiều hơn và hiệu quả hơn cho sự nghiệp xây dựng "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh"

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh về nâng cao vai trò của phụ nữ như sau: Nói đến phụ nữ là nói đến phần nửa xã hội Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người, nếu không giải phóng phụ nữ thì việc xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa… Nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập dân tộc chẳng có nghĩa lý gì Như vậy trong

tư tưởng của Bác, dân hạnh phúc là có cả đối tượng là những người phụ nữ, mang lại quyền tự do bình đẳng cho mọi người, trong đó có giới nữ và phát huy khả năng sáng tạo của họ là tư tưởng tiến bộ mà Bác là người khởi xướng

Đảng và Nhà nước Việt Nam rất quan tâm đến vấn đề nâng cao vai trò của người phụ nữ, trải qua hơn 4.000 năm lịch sử, chịu ảnh hưởng và tác động nặng nề của tư tưởng Nho giáo và ý thức hệ phong kiến với tư tưởng “trọng nam khinh nữ” đã để lại dấu ấn đậm nét và hậu quả trong ý thức và đời sống

xã hội Vậy cho nên trong cách mạng dân tộc dân chủ cũng như trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, giải phóng và phát triển toàn diện phụ nữ là một trong những mục tiêu của cách mạng Việt Nam, có ảnh hưởng trực tiếp và lâu dài đến sự phát triển của đất nước Ngày nay, nhằm đưa đất nước phát triển theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra những chủ trương, chính sách với những nhiệm vụ và giải pháp cụ thể, tạo điều kiện

để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào mọi mặt của đời sống xã hội Cụ thể

là Bộ luật Lao động của nước ta khẳng định: “Nhà nước bảo đảm quyền làm

việc của phụ nữ bình đẳng về mọi mặt với nam giới; tạo mọi điều kiện để lao động nữ phát huy khả năng của mình, bảo hộ các chế độ làm việc, sử dụng lao động nữ và chế độ liên quan đến thai sản trong quá trình lao động…”

Với những quan điểm và chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước cùng với sự phấn đấu vươn lên của phụ nữ cả nước nói chung, vị trí, vai trò của phụ nữ đã ngày càng được khẳng định trong thực tế xã hội

Trang 27

Trong 15 năm qua, nước ta luôn có nữ Phó Chủ tịch nước, nữ bộ trưởng, thứ trưởng, vụ trưởng, chủ tịch hội, phó chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố, đô thị loại 1 Thêm vào đó, trong các lĩnh vực của đời sống

xã hội chị em phụ nữ đã tích cực tham gia và có đóng góp quan trọng vào các phong trào: “giỏi việc nước, đảm việc nhà”, “đền ơn đáp nghĩa”, “xóa đói, giảm nghèo”, phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế gia đình, cần kiệm xây dựng đất nước; Phong trào nuôi con khỏe, dạy con ngoan, vì an ninh Tổ quốc v.v

Hiện nay, chúng ta đang đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa Trong điều kiện có những thuận lợi, cơ hội lớn nhưng thách thức, khó khăn cũng hết sức gay gắt, do đó đòi hỏi chúng ta cần phát huy sức mạnh toàn dân tộc Thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, chính là khơi dậy và phát huy sức mạnh của cả cộng đồng dân tộc, mọi giới, mọi lứa tuổi, mọi vùng của đất nước, tạo nên sức mạnh tổng hợp để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của cách mạng do Đảng đề ra Nghị quyết Đại hội XI của Đảng ta khẳng định: “Nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ Nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiê ̣n các luâ ̣t pháp, chính sách đối với lao đô ̣ng nữ, tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt vai trò của mình; tăng tỷ lê ̣ phu ̣ nữ tham gia vào cấp ủ y và bô ̣ máy quản lý nhà nước Kiên quyết đấu tranh chống các tệ na ̣n xã

hội và các hành vi ba ̣o lực, buôn bán, xâm ha ̣i và xúc pha ̣m nhân phẩm phu ̣

nữ” [13] Tạo điều kiê ̣n để phụ nữ thực hiê ̣n vai trò của mình là công dân, người lao động, người mẹ, người thầy đầu tiên của con người Bồi dưỡng, đào tạo để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các hoạt động xã hội

Với mỗi người phụ nữ H’Mông việc vượt lên mọi khó khăn, thách thức, phát huy truyền thống anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang, phụ nữ H’Mông đã, đang và sẽ góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc trong thời kỳ phát triển mới

Trang 28

1.1.1.3 Phụ nữ dân tộc H’Mông, nâng cao vai trò của phụ nữ dân tộc H’Mông

Phụ nữ dân tộc H’Mông là một trong số ít dân tộc có tập quán sinh

sống trên vùng núi cao của Việt Nam Theo số liệu điều tra dân số toàn quốc năm 1999, dân số của dân tộc H’Mông có khoảng gần 800 nghìn người, có số dân đông đứng thứ 8 trong 54 dân tộc anh em của Việt Nam Địa bàn cư trú chủ yếu của người H’Mông nằm chủ yếu ở các tỉnh vùng biên giới phía Bắc nước ta hiện nay như: Hà Giang: 183.994 người, Lai Châu: 170.460 người, Cao Bằng: 41.437 người trong đó tại Sơn La có số đồng bào dân tộc H’Mông khoảng 114.578 người, khá đông so với dân số của tỉnh

Gia đình người H’Mông theo chế độ phụ hệ và trong một gia đình thường có 3-4 thế hệ cùng chung sống Theo số liệu thống kê, số lượng người trong mỗi gia đình người H’Mông là đông nhất trong các gia đình dân tộc nội trú tại vùng núi phía Bắc, mỗi gia đình trung bình có từ 5 đến 7 người con, thậm chí có những gia đình có đến 12 người con Hiện nay số con trung bình tính trên đầu người của một phụ nữ dân tộc H’Mông vẫn cao 5,1 con[41]

Cũng như nhiều dân tộc tại Việt Nam, theo phong tục truyền lại từ lâu đời, trong gia đình người con trai có quyền thừa hưởng tài sản Người con trai

có trách nhiệm phụng dưỡng cha mẹ, cũng có trường hợp cha mẹ ở với con út thì phần tài sản được chia nhiều hơn cho người nuôi dưỡng cha mẹ

Bản thân trong mỗi gia đình người H’Mông là một đơn vị kinh tế khép kín, có sự phân công lao động theo công việc và theo lứa tuổi rất rõ ràng Người đàn ông trong gia đình phải gánh vác những công việc nặng nhọc như phát nương làm rẫy, dựng nhà cửa, làm công cụ lao động như rèn cày, cuốc hay săn bắn thú rừng còn người phụ nữ và trẻ nhỏ thì là những việc đơn giản hơn, nhẹ nhàng hơn như gieo hạt, hái lượm, chăm lo con cái, nội trợ chăm sóc gia đình Bởi vậy trong thực tế người phụ nữ H’Mông là những người phải

Trang 29

chịu đựng nhiều nhất, khổ nhất trong số phụ nữ của các dân tộc ít người Trong gia đình người đàn ông có quyền quyết định hầu hết các công việc và người vợ, người phụ nữ bị xem nhẹ chỉ là người giúp việc và chỉ được hỏi ý kiến mang tính tham khảo

Trong gia đình người H’Mông, khi lấy vợ cho con giai cũng là khi con dâu về nhà chồng, sau lễ nhận ma họ nhà chồng, người phụ nữ đó được đổi sang họ nhà chồng và lúc đó mới thực sự trở thành thành viên chính thức trong gia đình nhà chồng Từ lúc này thân phận của người con gái bị ràng buộc bởi nhiều hủ tục của gia đình người H’Mông, mà bản thân chính họ đã được giáo dục trong chính gia đình mình, bà, mẹ của họ cũng chịu sự giáo dục

và trói buộc bởi những hủ tục đó, nên khi về nhà chồng họ mặc định mình phải chịu sự ràng buộc như vậy

Theo phong tục của người H’Mông, khi chồng chết người phụ nữ không được phép tái giá mà bắt buộc phải lấy em chồng hoặc anh trai của chồng Mặt khác người phụ nữ đã có chồng không được phép tự do giao tiếp với những người khác giới, đặc biệt là những người ngoài cộng đồng và dân tộc H’Mông Khi đã kết hôn, người phụ nữ H’Mông mà có giao tiếp với người bên ngoài gia đình nhà chồng, dòng họ nhà chồng thì bản thân họ bị coi

là đã ngoại tình và là người vợ không chung thủy

Đối với mỗi người phụ nữ H’Mông nói riêng và đồng bào dân tộc H’Mông nói chung dòng họ có vai trò quan trọng đối với mỗi cá nhân Với người H’Mông trưởng tộc, trưởng họ có vị trí vô cùng quan trọng trong sinh hoạt của dòng học và có ảnh hưởng tới toàn bộ thành viên trong dòng họ nhà mình Những người lớn tuổi, anh trưởng, các bà cô luôn có vai trò quan trọng trong việc hòa giải mâu thuẫn gia đình và cũng là người có trách nhiệm trước dòng họ và cộng đồng để giải quyết các vấn đề nội bộ gia đình mình Các thành viên trong gia đình luôn có ý thức đề cao huyết thống, đặc biệt quan hệ theo nội tộc, dòng họ nhà mình

Trang 30

Nâng cao vai trò của người phụ nữ dân tộc H’Mông

Ngày nay, cùng với sự phát triển của đất nước, hội nhập kinh tế, xã hội

có nhiều thay đổi, sư giao thoa về văn hóa, sự giao lưu về kinh tế và đặc biệt

là sự quan tâm của Đảng và Nhà nước trong vấn đề phụ nữ, vấn đề tạo sự công bằng giữa miền xuôi và miền ngược, các chính sách thiết thực ý nghĩa dành cho đồng bào các dân tộc ít người nói chung và dân tộc H’Mông nói riêng được quan tâm nên người H’Mông có điều kiện để tiếp cận với văn hóa mới, kinh tế mới,… từ đó họ có điều kiện để nâng cao đời sống gia đình, dòng

Trong gia đình, vai trò của người phụ nữ H’Mông dần được khẳng

định Trước hết là trong phát triển kinh tế Bên cạnh sự quan tâm của các cấp

chính quyền là nỗ lực của chính bản thân những người phụ nữ dân tộc H’Mông Cuộc sống và vai trò của họ ngày càng có nhiều thay đổi và được ghi nhận Người phụ nữ bây giờ được đi học chữ, học nghề, các tổ chức phụ

nữ tạo điều kiện cho họ được vay vốn phát triển kinh tế hộ gia đình, nâng cao thu nhập,… họ từ chỗ không chỉ lao động nhằm nâng cao thu nhập cho gia đình mà còn tiến đến mở rộng giúp đỡ các chị em trong thôn bản cùng phát triển Từ đó vai trò của những người phụ nữ trước kia chỉ biết nấp “sau những

ô cửa” dần dần được nâng cao, họ tự khẳng định vai trò và vị trí của mình trong xã hội, trong gia đình, dòng tộc Từ chỗ họ là những người có nhận thức hạn chế, bị áp lực dẫn đến bế tắc và nhiều người thậm chí đã tìm đến cái chết

Trang 31

thì nay họ tìm được giá trị của cuộc sống và tích cực tham gia các hoạt động

xã hội

Người phụ nữ dân tộc H’Mông có vai trò quan trọng trong các lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội, họ là động lực và là những chủ nhân có tiềm năng lớn tác động trực tiếp đến sự phát triển ngay chính trên quê hương của họ Tuy nhiên, thực tế cho thấy vấn đề thu nhập, việc làm và địa vị xã hội của người phụ nữ dân tộc H’Mông còn chứ được nhìn nhận một cách đúng đắn nhất Trong nhiều gia đình người H’Mông, phụ nữ là lao động chính tham gia vào các khâu trồng trọt, chăn nuôi… ngoài thời gian làm việc đó học vẫn phải bận rộn với con cái gia đình, do đó việc tiếp nhận thông tin của họ bị hạn chế, khiến cho bản thân họ bị thiếu hụt thông tin, nhiều chủ trương chính sách của Nhà nước dành cho vùng sâu vùng xa, cho phụ nữ dân tộc ít người họ không tiếp cận được, hơn thế việc này còn làm cho bản thân họ không tiếp thu được với những tiến bộ khoa học, đổi mới cải tiến trong nông nghiệp làm cho hiệu quả sản xuất không cao, năng suất, chất lượng sản phẩm họ làm ra chưa cao

và không tiếp cận được với thị trường tiêu thụ Đó cũng là nguyên nhân làm giảm đi những đóng góp của phụ nữ người H’Mông vào sự phát triển kinh tế gia đình và địa phương nơi họ sinh sống Vì vậy mà vai trò của người phụ nữ chưa được nhìn nhận đúng đắn để phát huy

Khi nói về vai trò của người phụ nữ nói chung và phụ nữ dân tộc H’Mông nói riêng không thể không đề cập đến vấn đề kinh tế, nắm kinh tế, tài chính trong gia đình Trước đây việc quản lý và sử dụng tài chính trong gia đình người H’Mông là do người chồng, người cha đảm nhiệm và là người đưa

ra quyết định quan trọng nhất, những công việc gia đình trói buộc những người phụ nữ quanh xó cửa nhà mình Tuy nhiên, ngày nay vấn đề này đã được cải thiện, người phụ nữ đã tự chủ động hơn về kinh tế, tài chính trong gia đình Tư tưởng và quan niệm cổ hủ, định kiến về giới dần được cải thiện, vai trò của

Trang 32

người phụ nữ được nâng lên rõ rệt Bản thân họ đã biết tự học tập để nâng cao trình độ của bản thân, tiếp thu kiến thức mới để từ đó tự tin và phát huy hết khả năng của mình, đóng góp vào sự phát triển của gia đình, xã hội

Sự thay đổi trong nhận thức của phụ nữ dân tộc H’Mông tại Sơn La nói riêng và vùng núi phía Bắc nói chung còn thể hiện qua việc trong những năm qua, thực hiện các phong trào, nhiệm vụ của Hội phụ nữ, chính quyền địa phương… chị em đã được tiếp cận về quyền bình đẳng giới, phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế, tuyên truyền không sinh con thứ ba, học và nói tiếng phổ thông… chính điều này đã giúp chị em phụ nữ khắc phục khó khăn, vươn lên làm chủ cuộc sống của gia đình Qua đó từng bước xác lập và khẳng định vai trò của người phụ nữ dân tộc H’Mông trong gia đình cũng như xã hội

Vai trò của người phụ nữ H’Mông hiện nay còn thể hiện ở việc một số

hủ tục trong gia đình người H’Mông dần dần được cải thiện, người đàn ông tôn trọng vợ mình hơn, hủ tục cưới hỏi văn minh, tình trạng tảo hôn giảm bớt Theo báo cáo của chính quyền địa phương, nam nữ thanh niên người H’Mông trước đây có tục kéo vợ từ năm 14-17 tuổi, có trường hợp kéo vợ từ 12-13 tuổi nhưng nay đã cải thiện nhiều, độ tuổi kết hôn trong gia đình người H’Mông đã tăng lên, năm từ 16-20 tuổi, nữ từ 16-18 tuổi, tuy mặt bằng này vẫn chưa tiếp cận được với cả nước nhưng nếu xét trong bối cảnh những hủ tục của người đồng bào H’Mông thì đây đã là một bước tiến lớn Người phụ

nữ trong các gia đình đã nhận thức được vai trò của mình để đấu tranh với các

hủ tục đó và thay đổi quan niệm về những vấn đề này

Những yêu cầu đặt ra cho việc nâng cao vai trò của phụ nữ H’Mông trong đời sống xã hội

Thứ nhất, cần tiếp tục nâng cao nhận thức của cả hệ thống chính trị và

toàn xã hội về công tác phụ nữ H’Mông, cần coi trọng các chính sách xã hội, các chính sách về giới để giảm nhẹ lao động nặng nhọc cho phụ nữ Tạo điều kiện

Trang 33

nâng cao trình độ học vấn và kỹ năng nghề nghiệp cho phụ nữ… để chị em phát huy vai trò của mình, tham gia ngày càng nhiều vào các hoạt động xã hội

Thứ hai, bản thân phụ nữ H’Mông cần tự mình nỗ lực phấn đấu, vươn

lên nhằm đáp ứng các yêu cầu của xã hội Bên cạnh những thách thức của thời đại, phụ nữ H’Mông còn cần vượt qua thách thức “trọng nam khinh nữ”

từ ngàn xưa để lại, với tư tưởng tam tòng, tứ đức đã khắc sâu trong tâm thức của dân tộc, khắc phục tư tưởng tự ti, an phận, cam chịu và thụ động trước mọi diễn biến của thời cuộc Bản thân chị em phụ nữ cần tăng cường đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, thông qua các tổ chức Hô ̣i phụ nữ các cấp, khắc phục khó khăn, phát huy nội lực để hoàn thành nhiệm vụ Đồng thời, chị em cũng cần nêu cao tinh thần tự lực, mạnh dạn đấu tranh để bảo vệ quyền lợi của mình và của giới mình

Thứ ba, nhằm phát huy tốt vai trò của người phụ nữ H’Mông thì phát

huy vai trò của Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và tổ chức Hội Phụ nữ các cấp nhất là ở cơ sở thực hiện quyền làm chủ của mình, đấu tranh bảo vệ những quyền lợi hợp pháp và chính đáng của mình Hội Phụ nữ các cấp phải trở thành trường học rộng lớn trong sự nghiệp bồi dưỡng, giáo dục, rèn luyện, tổ chức phụ nữ để giúp họ thực hiện sự nghiệp giải phóng phụ nữ

Những phân tích nêu trên cho thấy vai trò của người phụ nữ nói chung

và phụ nữ dân tộc H’Mông nói riêng là rất quan trọng, họ đóng vai trò lớn trong việc phát triển kinh tế gia đình học tập thay đổi nhận thức xã hội, tự khẳng định bản thân nhằm xây dựng cuộc sống tốt đẹp hơn, qua đó góp phần phát triển kinh tế, xã hội cho chính bản thân họ và góp phần vào việc phát triển đất nước và nâng cao vài trò của người phụ nữ trong gia đình cũng như xã hội

1.1.2 Sự cần thiết của việc nâng cao vai trò phụ nữ dân tộc H’Mông trong đời sống xã hội ở tỉnh Sơn La hiện nay

Thứ nhất, sau hơn 30 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được nhiều thành

tựu lớn trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội và hội nhập quốc tế Trong

Trang 34

sự nghiệp đó Đảng và nhà nước ta luôn chú trọng đến việc phát huy và nâng cao vai trò của người phụ nữ nói chung và phụ nữ dân tộc thiểu số nói riêng Đảng xác định: Bồi dưỡng và đào tạo để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các hoạt động xã hội, các cơ quan lãnh đạo và quản lý ở các cấp, theo đó:

“Mục tiêu giải phóng phụ nữ hiện nay là thiết thực cải thiện đời sống vật chất

và tinh thần của chị em, nâng cao vị trí xã hội của phụ nữ, thực hiện tốt nam

nữ bình đẳng,…” [9] Trong xu thế hội nhập của cả thế giới hiện nay, đây chính là cơ hội, là điều kiện quan trọng và là động lực để người phụ nữ vươn lên khắc phục khó khăn, trở ngại để đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra, khẳng định vị thế và vai trò của mình trong xã hội

Thứ hai, hiện nay ở nước ta, vấn đề nâng cao vai trò và vị thế của người

phụ nữ ngày càng được coi trọng do nhận thức xã hội thay đổi, toàn xã hội nhận ra vai trò quan trọng của người phụ nữ Qua các hoạt động xã hội người phụ nữ đã khẳng định vai trò của mình trong xã hội và trong cuộc sống gia đình Đối với phụ nữ dân tộc H’Mông trong những năm trở lại đây, họ đã khẳng định vai trò của mình trong việc làm kinh tế xây dựng cuộc sống gia đình phát triển, chính họ là những người làm cho tình hình kinh tế của đồng bào H’Mông thay đổi rõ rệt trong các lĩnh vực như ăn, mặc, ở, học tập, chữa bệnh, ứng dụng công nghệ mới, khoa học kỹ thuật vào sản xuất, chuyển đổi tập quán sản xuất tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa, xóa đói giảm nghèo, cải biến tín ngưỡng cổ hủ lạc hậu, giúp dân bản tiếp thu các yếu tố văn hóa tiên tiến… Vì vâ ̣y, cần có các chủ trương, đường lối, chính sách để nâng cao vai trò của người phụ nữ dân tộc H’Mông Đặc biệt, cần chú trọng đến các chủ trương, chính sách về tạo nguồn nữ cán bộ là người dân tộc H’Mông nhằm tạo điều kiện cho chị em phụ nữ có nhiều cơ hội để tiếp cận với những chính sách mới của Đảng và nhà nước về áp dụng và triển khai cho dân bản mình Việc tạo nguồn cán bộ là khâu quan trọng, cần phải có tính chiến lược,

Trang 35

khoa học và có bước đi phù hợp với chiến lược phát triển nguồn nhân lực là người dân tộc của Đảng và nhà nước ta, qua đó cũng khẳng định vấn đề nâng cao vị trí, vai trò của người phụ nữ dân tộc H’Mông nói riêng và phụ nữ dân tộc thiểu số tại nước ta nói chung Việc xác định chủ trương, đường lối đúng đắn trong công tác cán bộ nói chung và công tác cán bộ nữ nói riêng là kim chỉ nam cho mọi hoạt động và là nền tảng khẳng định việc cần nâng cao vai trò của người phụ nữ dân tộc H’Mông tại chính địa phương nơi họ cư trú

Bên cạnh đó, nhằm giúp chị em phụ nữ nâng cao vai trò của mình trong phát triển kinh tế, xã hội tại địa phương nơi có đặc thù là vùng sâu, xa, biện giới, việc phát triển kinh tế hết sức khó khăn thì rất cần chính những chị em dân tộc H’Mông tự học tập vươn lên thay đổi chính mình cũng như thay đổi cho gia đình và dòng họ mình qua đó phát triển kinh tế xã hội địa phương Bản thân những người phụ nữ dân tộc H’Mông vốn có tính cần cù, chịu nhẫn nhịn nên họ có thể phát huy vai trò của mình trong việc xây dựng đời sống mới, cải biến xã hội nơi mình sinh sống Do đó, cần thiết có sự đóng góp sức lực của học và quan tâm đến việc sắp xếp, bố trí công việc phù hợp, tạo môi trường thuận lợi để cán bộ nữ thể hiện hết năng lực, sở trường của mình, tạo mọi điều kiện để họ học tập, tiếp thu cái mới

Chúng ta biết rằng, việc làm chuyển biến nhận thức, hành vi, thái độ ứng xử với phụ nữ trong toàn xã hội còn khó khăn nhất là với người phụ nữ dân tộc thiểu số, người phụ nữ dân tộc H’Mông từ xưa đến nay đã ăn sâu trong tâm thức là phải chịu đựng, nhẫn nhịn, quanh quẩn góc nhà chăm sóc gia đình, mọi việc đều do người đàn ông quyết định Đa số họ hầu như đã chấp nhận một trật tự bất bình đẳng giới từ trong gia đình đến ngoài xã hội và không có sự đấu tranh cho bản thân mình Chính vì vâ ̣y, cần thay đổi nhận thức và thái độ của xã hội về quan hệ giới, phải chỉ ra cho mọi người thấy nguồn gốc của bất bình đẳng giới, của định kiến giới Để xóa bỏ được rào cản

Trang 36

định kiến giới, đòi hỏi phải tăng cường giáo dục, tuyên truyền nhằm nâng cao trình độ nhận thức của người dân trong việc nhìn nhận vai trò, vị thế người phụ nữ, nhất là người phụ nữ dân tộc thiểu số trong đó có phụ nữ dân tộc H’Mông Qua việc nhìn nhận đúng đắn về quyền bình đẳng giới sẽ khẳng định vai trò của người phụ nữ dân tộc H’Mông trong chính gia đình của họ

Sơn La có diện tích tự nhiên 14.055 km² là một trong những tỉnh lớn, bằng 4,2% diện tích cả nước, nằm ở phía tây bắc đồng bằng Bắc Bộ, có vị trí hết sức quan trọng về kinh tế - xã hội và an ninh - quốc phòng Quốc lộ 6 Hà Nội - Sơn La - Lai Châu không chỉ đóng vai trò huyết mạch mà còn là trục giao thông chiến lược cho toàn vùng

Sự phân chia các đơn vị hành chính

Tính đến năm 2015 tỉnh Sơn La có 1 thành phố và 11 huyện với 7 phường, 9 thị trấn và 188 xã:

Thành phố Sơn La: 7 phường (Chiềng An, Chiềng Lề, Chiềng Sinh,

Chiềng Cơi, Quyết Tâm, Quyết Thắng, Tô Hiệu), 5 xã (Chiềng Cọ, Chiềng Đen, Chiềng Ngần, Chiềng Xôm, Hua La)

Trang 37

Huyện Bắc Yên: 1 thị trấn (Bắc Yên), 15 xã (Chiềng Sại, Chim Vàn,

Hang Chú, Háng Đồng, Hồng Ngài, Hua Nhàn, Làng Chếu, Mường Khoa, Pắc Ngà, Phiêng Ban, Phiêng Côn, Song Te, Tạ Khoa, Tà Xùa, Xím Vàng)

Huyện Mai Sơn: 1 thị trấn (Hát Lót), 20 xã (Chiềng Ban, Chiềng Chung,

Chiềng Chăn, Chiềng Dong, Chiềng Kheo, Chiềng Lương, Chiềng Mai, Chiềng Mung, Chiềng Nơi, Chiềng Sung, Chiềng Ve, Cò Nòi, Mường Bằng, Mường Bon, Mường Tranh, Nà Ớt, Nà Bó, Phiêng Cằm, Phiêng Pằn, Tà Hộc)

Huyện Mộc Châu: 2 thị trấn (Mộc Châu, Nông trường Mộc Châu), 13

xã (Chiềng Hắc, Chiềng Khừa, Chiềng Sơn, Đông Sang, Hua Păn, Lóng Sập, Mương Sang, Nà Mường, Phiêng Luông, Quy Hướng, Tân Lập, Tân Hợp,

Tà Lại)

Huyện Mường La: 1 thị trấn (Ít Ong), 15 xã (Chiềng Ân, Chiềng

Công, Chiềng Hoa, Chiềng Lao, Chiềng Muôn, Chiềng San, Hua Trai, Mường Bú, Mường Trùm, Mường Trai, Nậm Giôn, Nậm Păn, Ngọc Chiến,

Pi Toong, Tạ Bú)

Huyện Phù Yên: 1 thị trấn (Phù Yên), 26 xã (Bắc Phong, Đá Đỏ, Gia

Phù, Huy Bắc, Huy Hạ, Huy Tân, Huy Thượng, Huy Tường, Kim Bon, Mường Bang, Mường Cơi, Mường Do, Mường Lang, Mường Thải, Nam Phong, Quang Huy, Sập Xa, Suối Bau, Suối Tọ, Tân Lang, Tân phong, Tường Hạ, Tường Phong, Tường Phù, Tường Thượng, Tường Tiến)

Huyện Quỳnh Nhai: 13 xã (Cà Nàng, Chiềng Khay, Chiềng Ơn,

Mường Chiêng, Mường Giôn, Pắc Ma, Pha Kinh, Chiềng Bằng, Chiềng Khoang, Mường Giàng, Mường Sại, Nặm Ét, Liệp Muội)

Huyện Sông Mã: 1 thị trấn (Sông Mã), 18 xã (Bó Sinh, Chiềng Cang,

Chiềng En, Chiềng Khoong, Chiềng Khương, Chiềng Phung, Chiềng Sơ, Đứa Mòn, Huổi Một, Mường Hung, Mường Lầm, Mường Cai, Mường Sai,

Nà Nghịu, Nậm Mằn, Nậm Ty, Pú Pẩu, Yên hưng)

Trang 38

Huyện Thuận Châu: 1 thị trấn (Thuận Châu), 28 xã (Bản Lầm, Bó

Mười, Bon Phặng, Chiềng Bôm, Chiềng La, Chiềng Ly, Chiềng Ngàm, Chiềng Pấc, Chiềng Pha, Phổng Lăng, Co Mạ, Co Tòng, É Tòng, Liệp Tè, Long Hẹ, Muổi Nọi, Mường Bám, Mướng É, Mường Khiêng, Noong Lay, Nặm Lầu, Pá Lông, Phổng Lái, Phổng Lập, Púng Tra, Thuôm Mòn, Tòng Cọ, Tông Lệnh)

Huyện Yên Châu: 1 thị trấn (Yên Châu), 14 xã (Chiềng Đông, Chiềng

Hặc, Chiềng Khoi, Chiềng On, Chiềng Pằn, Chiềng Sàng, Chiềng Tương, Lóng Phiêng, Mường Lựm, Phiêng Khoài, Sập Vạt, Tú Nang, Viêng Lán, Yên Sơn)

Huyện Sốp Cộp: 8 xã (Sốp Cộp, Mường Và, Mường Lạn, Nặm Pạnh,

Púng Bánh, Mường Lèo, Dồn Cang, Sam Kha)

Huyện Vân Hồ: 14 xã (Chiềng Khoa, Chiềng Xuân, Chiềng Yên, Liên

Hòa, Lóng Luông, Mường Men, Mường Tè, Quang Minh, Song Khủa, Suối Bàng, Tân Xuân, Tô Múa, Vân Hồ, Xuân Nha)

Khí hậu

Sơn La có khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng núi, mùa đông lạnh hanh khô, mùa hè nóng ẩm mưa nhiều Địa hình bị chia cắt sâu và mạnh, hình thành nên nhiều tiểu vùng khí hậu cho phép phát triển một nền sản xuất nông - lâm nghiệp phong phú Khí hậu Sơn La chia làm hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô Nhiệt độ trung bình năm là 21°C, tháng thấp nhất

là 16°C Lượng mưa trung bình hàng năm 1.200 - 1.600 mm, độ ẩm không khí bình quân là 81%

Địa chất và khoáng sản

Nét đặc trưng nhất của nền địa chất Sơn La là kiến trúc khối tảng, gồm các khối nham thạch có hình dạng, kích thước và thành phần vật chất ít nhiều khác nhau, bị chia cắt bởi các hệ đứt gãy chính Các khối lớn nhất bị những đứt gãy nhỏ

Trang 39

chia cắt thành hàng trăm khối nhỏ hơn Theo Lê Bá Thảo trong Thiên nhiên Việt

Nam thì không phải ngẫu nhiên địa phương có nền địa chất và địa hình phức tạp

đến thế Địa máng sông Đà ngày càng thu hẹp dần hai bờ, trở thành dạng hình thoi, đáy vực sụt xuống rất sâu làm cho trầm tích lắng đọng có chiều dày đến hàng ngàn mét Tại Mộc Châu, trên bề mặt cao nguyên là những đồi đá phiến lượn sóng, những núi đá vôi đáng lẽ phải nằm phía dưới thì lại đứng sừng sững dài đến hàng trăm kilômét Sự đa dạng và phức tạp về địa chất đã khiến cho Sơn La có trên 50 mỏ và điểm khoáng sản (than, đồng, sắt, bôxít, vàng )

1.2.2 Điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội

Về kinh tế

Theo truyền thống, sản xuất nông nghiệp là hoạt động kinh tế của yếu của đồng bào Sơn La, trước đây đồng bào dân tộc thiểu số nhất là đồng bào dân tộc H’Mông chủ yếu sản xuất tự cung tự cấp, du canh du cư Trồng trọt

và chăn nuôi là hai ngành sản xuất chính Lúa là cây trồng chủ yếu, ngoài ra còn các loại cây hoa màu như: ngô, khoai, sắn, bầu, bí, đậu, đỗ, bông, gai, mía Đồng bào Sơn La nuôi các đại gia súc để lấy sức kéo, thồ hàng, làm phương tiện chuyên chở và thực phẩm như: trâu, bò, ngựa , còn nuôi lợn, gà,

vịt, ngỗng, ngan, cá

Trang 40

Từ năm 1986, cùng với cả nước bắt tay vào thực hiện công cuộc đổi mới, với phương châm chủ động, dám nghĩ, dám làm, sáng tạo, năng động, vượt qua đói nghèo lạc hậu đi lên Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Sơn La đã hợp sức chung lòng đi vào công cuộc đổi mới dưới ngọn cờ của Đảng Đến nay qua gần 30 năm đổi mới, mặc dù phải vượt qua muôn vàn khó khăn thách thức, tỉnh Sơn La đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật trong tất cả các lĩnh vực đặc biệt là lĩnh vực kinh tế Sau 30 năm kinh tế nông, lâm nghiệp đã có sự phát triển vượt bậc đến nay tỉnh Sơn La đã chuyển từ nền kinh tế tự cung, tự cấp, du canh, du cư sang nền kinh tế thị trường hàng hóa nhiều thành phần Thay đổi các phương thức sản xuất áp dụng khoa học kỹ thuật nâng cao năng suất và thu nhập cho bà con Xây dựng và công nghiệp được xem như một khâu đột phá, trong xây dựng cơ bản đã mang lại cho Sơn La một bộ mặt mới, đường giao thông được xây dựng nâng cấp phủ khắp từ tỉnh đến trung tâm xã Trường học, trạm xá được kiên cố hóa, điện thoại, internet, truyền hình, phát thanh được phủ sóng rộng rãi Hệ thống đô thị được xây dựng theo hướng văn minh, hiện đại mang màu sắc dân tộc Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp đang được phát triển theo thế mạnh của SơnLa đặc biệt là công nghiệp điện, công nghiệp chế biến, công nghiệp sản xuất vật liệu, công nghiệp khai khoáng Kinh tế dịch vụ và du lịch đang trở thành ngành kinh tế chủ lực đứng đầu trong cơ cấu kinh tế của tỉnh Sơn La Chương trình nông thôn mới, xóa nghèo bền vững đã làm thay đổi bộ mặt nông thôn Đời sống vật chất, tinh thần của 12 dân tộc không ngừng được cải thiện và nâng cao Đặc biệt tỉnh Sơn La đã hoàn thành xuất sắc 2 cuộc di dân tái định cư thủy điện Hòa Bình và thủy điện Sơn La Sau khi thực hiện công tác tái định cư, đại đa số các điểm tái định cư đã nhanh chóng ổn định được đời sống, bà con nhân dân yên tâm lao động, sản xuất phát triển kinh tế Tuy nhiên, ngoài những mặt tích cực thì bên cạnh đó vẫn còn những hạn chế trong việc đào tạo nghề cho phụ nữ dân tộc Thái ở tỉnh Sơn La Đó là cơ

Ngày đăng: 06/06/2017, 12:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Bình (2001), Tập quán hoạt động kinh tế của một số dân tộc ở Tây Bắc Việt Nam, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập quán hoạt động kinh tế của một số dân tộc ở Tây Bắc Việt Nam
Tác giả: Trần Bình
Nhà XB: Nxb Văn hóa Dân tộc
Năm: 2001
2. Trần Bình (2007), Văn hóa các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc
Tác giả: Trần Bình
Năm: 2007
3. Trần Văn Bính (chủ biên) (2004), Văn hóa các dân tộc Tây Bắc, thực trạng và những vấn đề đặt ra, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa các dân tộc Tây Bắc, thực trạng và những vấn đề đặt ra
Tác giả: Trần Văn Bính (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
5. Quàng Thị Chính (2005), Lễ cưới dòng họ Mè (huyện Yên Châu - tỉnh Sơn La), Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ cưới dòng họ Mè (huyện Yên Châu - tỉnh Sơn La)
Tác giả: Quàng Thị Chính
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2005
6. Cục thống kê tỉnh Sơn La (2006), Niên giám thống kê năm 2005, Sơn La Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê năm 2005
Tác giả: Cục thống kê tỉnh Sơn La
Năm: 2006
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 1986
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 1991
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (1993), Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 12-7- 1993 về đổi mới và tăng cường công tác vận động của phụ nữ trong tình hình mới, Bộ Chính trị Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 12-7-1993 về đổi mới và tăng cường công tác vận động của phụ nữ trong tình hình mới
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1993
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 1996
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương khóa VIII,Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 1997
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 1998
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
14. Thành Duy (2006), Bản sắc dân tộc và hiện đại hóa văn hóa Việt Nam mấy vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Bản sắc dân tộc và hiện đại hóa văn hóa Việt Nam mấy vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Thành Duy
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
15. Phan Kiến Giang, Lò Văn Pánh (2010), Thành ngữ, tục ngữ Thái, Nxb Văn hóa dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành ngữ, tục ngữ Thái
Tác giả: Phan Kiến Giang, Lò Văn Pánh
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 2010
16. Phạm Minh Hạc (1996), Phát triển văn hóa - giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc kết hợp với tinh hoa nhân loại, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển văn hóa - giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc kết hợp với tinh hoa nhân loại
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1996
62. Website:http://susta.vn/bai-viet-Tri-thuc-Son-La-qua-nhung-con-so-155.html Link
63. Website:http://susta.vn/bai-viet-Bao-cao-phong-tro-tri-thuc-v-lao-ong-sang-to-tinh-Son-La-550.html Link
64. Website:https://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=722 65. Website:http://bvhttdl.gov.vn/vn/vb-qly-nn/1/638/index.html Link
66. Website:https://docs.google.com/file/d/0BwMNdLUe0RCHaDFNNVAxN0MtcFU/edit Link
67. Website:http://moj.gov.vn/vbpq/lists/vn%20bn%20php%20lut/view_detail.aspx?itemid=14854 Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm