Thành phố Cần Thơ, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, người phụ nữ vẫn chưa được thực sự bình đẳng cùng nam giới, mà còn bị bạo hành, ngược đãi, cuộc sống khổ cực, vai trò c
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN KIM PHƯỢNG
NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI Ở THÀNH PHỐ CẦN THƠ HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC TRIẾT HỌC
HÀ NỘI, NĂM 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN KIM PHƯỢNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS TRẦN ĐĂNG SINH
HÀ NỘI, NĂM 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi! Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng; những kết luận mới về khoa học trong luận văn chưa được công bố trong bất cứ công trình nào, nếu sai, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 4 tháng 5 năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Kim Phượng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình đến PGS, TS Trần Đăng Sinh, người đã hết lòng giúp đỡ, hướng dẫn em trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp của mình
Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy cô Phòng Sau đại học, Khoa Triết học - Trường Đại Sư phạm Hà Nội và các thầy cô thỉnh giảng đã nhiệt tình giảng dạy, giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập, thực hiện đề tài
Cũng xin gửi lời cảm ơn đến những người thân trong gia đình, tất cả bạn bè, đồng nghiệp, nhất là đồng nghiệp tại Hội Liên hiệp phụ nữ thành phố Cần Thơ và Hội phụ nữ các quận, huyện trên địa bàn thành phố đã luôn quan tâm, khích lệ và chia sẻ kinh nghiệm để em hoàn thành tốt luận văn này, cũng như trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu
Hà Nội, ngày 4 tháng 5 năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Kim Phượng
Trang 5MỤC LỤC
Trang LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, HÌNH
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu của luận văn 10
10 Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn 11
Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC NÂNG CAO VAI
TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI Ở THÀNH
PHỐ CẦN THƠ HIỆN NAY
12
1.1.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
và đường lối, chủ chương của Đảng về phụ nữ
16
Trang 6ở thành phố Cần Thơ hiện nay
1.2.2 Sự cần thiết phải nâng cao vai trò của phụ nữ ở thành phố Cần
Thơ hiện nay
37
Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI
TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI Ở CẦN THƠ
2.1.1 Những kết quả đạt được trong việc nâng cao vai trò của phụ
nữ trong lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội và tư tưởng ở
thành phố Cần Thơ hiện nay
49
2.1.2 Những hạn chế trong việc nâng cao vai trò của phụ nữ
trong lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, tư tưởng ở thành
phố Cần Thơ hiện nay
68
2.2 Giải pháp nâng cao vai trò của phụ nữ trong đời sống xã hội
ở thành phố Cần Thơ hiện nay
75
2.2.2 Tăng cường hơn nữa vai trò của phụ nữ trong các lĩnh vực của
đời sống xã hội
76
2.2.3 Thường xuyên tổ chức học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ
văn hóa, lý luận chính trị, nghiệp vụ chuyên môn cho đối tượng nữ
79
2.2.4 Có chính sách cụ thể, thiết thực đảm bảo quyền lợi chính đáng
của phụ nữ thành Phố cần thơ trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
81
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
Trang 7DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, HÌNH
Số
TT Tên bảng, biểu đồ, hình Trang
1 Bảng 1: Tổng hợp điều tra về “việc đảm nhận công việc nội
trợ của phụ nữ trong gia đình công nhân, viên chức, lao
động nước ta”
4 Biểu đồ 1: Biểu đồ so sánh tỷ lệ % phụ nữ tham gia Quốc
hội và Hội đồng nhân dân các cấp giữa nhiệm kỳ 2011 - 2016
và nhiệm kỳ 2016 - 2021
55
5 Biểu đồ 2: Biểu đồ so sánh tỷ lệ % phụ nữ tham gia Ban
Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI và khóa XII
Trang 9y tế; trong chuyên môn, phụ nữ chiếm số đông trong các lĩnh vực: văn học, ngôn ngữ, y dược, khoa học xã hội, khoa học tự nhiên và kinh tế”, nếu xét theo thành phần kinh tế có “43,3% nữ trí thức làm việc trong thành phần kinh tế nhà nước, 32% làm việc trong thành phần kinh tế tập thể, riêng trong thành phần kinh tế ngoài nhà nước nữ trí thức chiếm tỷ lệ 53%” [69, tr.1]
Trong những năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng, được sự quan tâm chăm sóc của Nhà nước, sự dìu dắt của Hội Liên Hiệp Phụ Nữ các cấp và các đoàn thể quần chúng khác, các tầng lớp phụ nữ đã trưởng thành nhanh chóng và góp phần to lớn vào thắng lợi của dân tộc Trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế, việc nâng cao vai trò, năng lực của con người nói chung và phụ nữ nói riêng ngày càng trở nên quan trọng và cấp thiết Có thể thấy, sự đổi mới về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội gắn liền với sự thay đổi cơ bản vai trò của người phụ nữ trên nhiều lĩnh vực của cuộc sống, trong gia đình, ngoài xã hội Vượt qua biết bao khó khăn trong sản xuất và đời sống, các tầng lớp phụ nữ đã nêu cao tinh thần làm chủ tập thể và ý chí phấn đấu kiên cường, bền bỉ, tích cực tham gia vào việc thực hiện hai nhiệm vụ
chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Trong sự nghiệp cách mạng hiện nay, thời kỳ mà Đảng và Nhà nước ta đang ra sức đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, không chỉ hoàn
Trang 102
thành nghĩa vụ công dân, người phụ nữ còn phải làm tốt vai trò người vợ, người
mẹ, người con trong gia đình, có trách nhiệm cao trong việc gìn giữ những giá trị truyền thống văn hoá dân tộc Tuy nhiên, 50 % lực lượng lao động này ở một số nơi vẫn chưa phát huy hết tiềm năng Thành phố Cần Thơ, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, người phụ nữ vẫn chưa được thực sự bình đẳng cùng nam giới, mà còn bị bạo hành, ngược đãi, cuộc sống khổ cực, vai trò của họ trong xã hội còn thấp, thể hiện còn mờ nhạt Ngoài ra, nhiều gia đình sống trong cảnh kinh tế khó khăn, vợ chồng bất đồng quan điểm, con cái không được học hành tới nơi tới chốn và kết quả thường xảy ra là dẫn đến ly hôn (thực tế thời gian qua ở thành phố Cần Thơ, tỷ lệ ly hôn tăng cao và ngày càng trẻ hóa về đội tuổi) mà người phụ nữ
là người bị chịu nhiều thiệt thòi nhất Nguyên nhân là do định kiến của xã hội, tư tưởng trọng nam, khinh nữ mà nhiều nơi vai trò và năng lực của phụ nữ chưa được quan tâm đúng mức, nhiều vấn đề quan trọng và cấp bách, trực tiếp liên quan đến việc tạo điều kiện cho phụ nữ cống hiến khả năng to lớn cho sự phát triển trước mắt
và tương lai của xã hội chưa được quan tâm đầy đủ, vì thế chưa tạo được mọi điều kiện cho người phụ nữ trong việc xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc, cũng như khẳng định vị thế, vai trò của mình trên các lĩnh vực kinh tế -
xã hội, tư tưởng, văn hóa
Với lý do trên, tôi chọn vấn đề “Nâng cao vai trò của phụ nữ trong đời
sống xã hội ở thành phố Cần Thơ hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đối với phụ nữ, cũng như vai trò của người phụ nữ hiện nay có rất nhiều công trình nghiên cứu với những nội dung phong phú, đa dạng, có thể phân thành các nhóm:
- Nhóm các công trình viết về phụ nữ nói chung
Đầu tiên có thể nhắc đến là tác phẩm: Công dung ngôn hạnh xưa và nay,
của Nguyễn Tất Sang , viết về việc bạn gái với nữ công gia chánh (chính), theo đó
Trang 113
có các vấn đề được trình bày như: Dung - vẻ đẹp của người con gái; ngôn - vẻ đẹp của tâm hồn thể hiện qua ngôn ngữ của người phụ nữ; hạnh - mặt đạo đức của người phụ nữ, bàn về những câu chuyện về công, dung, ngôn, hạnh của phụ nữ thời nay được hiểu qua các bài viết như: Bạn gái với văn hóa ẩm thực mọi miền, bí quyết thành công của bạn gái, nữ sinh viên trước vận hội mới; công dung ngôn hạnh nữ công… đây là cẩm nang cho chị em phụ nữ nhằm đạt được những chuẩn mực nhất định của xã hội, hay đó là những bí quyết để những người mẹ đạt được điều mình mong muốn
Ngoài ra, còn có một số bài viết về phụ nữ Việt Nam như: “Phụ nữ Việt Nam thời hội nhập” đăng trên 24H.com.vn Diễn đàn quốc gia với chủ đề “Phụ nữ Việt Nam thời hội nhập” do Thời báo Kinh tế Việt Nam phối hợp với Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam thành phố Hồ Chí Minh, Ban Vì sự tiến bộ Phụ nữ thành phố Hồ Chí Minh tổ chức, đã diễn ra tại Dinh Thống Nhất (thành phố Hồ Chí Minh) vào sáng 24/5/2008 Diễn đàn này là một hoạt động nhằm chào mừng “Hội nghị thượng đỉnh phụ nữ toàn cầu lần thứ 18 chính thức diễn ra tại Hà Nội vào ngày 5/6/2008 Đây là một hội nghị quốc tế quan trọng, nhằm mục đích kết nối các doanh nhân, các chuyên gia, lãnh đạo Chính phủ là phụ nữ từ các quốc gia trên thế giới, thành lập đồng minh phụ nữ toàn cầu nhằm chia sẻ những kinh nghiệm thực tiễn tốt nhất, những chiến lược kinh doanh thành công, khắc phục những vấn đề phụ nữ phải đối mặt hiện nay trong kinh doanh, tạo điều kiện nêu cao vai trò vị trí của phụ nữ trong kinh doanh và hoạt động chính trị - xã hội Hội nghị được tổ chức hàng năm và luân chuyển theo từng lục địa, năm nay Châu Á được chọn là châu lục
tổ chức hội nghị với lý do đây là khu vực kinh tế năng động nhất của thế kỷ 21, Việt Nam vinh dự là quốc gia được đăng cai tổ chức Hội nghị này Tuy diễn đàn được tổ chức cách nay khá lâu (08 năm) nhưng giá trị và ý nghĩa của nó vẫn còn mang tính thời sự nóng hổi
Trang 124
Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và Mỹ - Ngụy, người phụ nữ Việt Nam cũng đã thể hiện được vị trí vai trò của mình, đúng như truyền thống “Giặc
đến nhà đàn bà cũng đánh” Về mảng vấn đề này, có các bài viết như: “Phụ nữ Việt
Nam trong phong trào đấu tranh cách mạng” của Hoàng Thị Thảo đăng trên
http://www.haugiang.gov.vn; bài “Phụ nữ Miền Nam Việt Nam” (tr.144-155) của
Dương Thanh Hồ và Hồng Điều in trong Chung một bóng cờ; Truyền thống cách
mạng của phụ nữ Nam Bộ thành đồng của Tổ sử Phụ nữ Nam Bộ xuất bản năm
1989… đã thể hiện đầy đủ khí phách của người phụ nữ trong kháng chiến gian khổ
dù phải chịu nhiều hy sinh mất mát Chính điều này đã tạo lên hình ảnh Bà mẹ Việt Nam Anh hùng mà không ở đất nước nào có, hay những cô du kích, những chị,
những bà đã âm thầm hy sinh cho đất nước mà không đòi hỏi sự đáp lại “Đặc
điểm và truyền thống người phụ nữ Việt Nam” xem trên
http://www.haugiang.gov.vn Đã thể hiện được hình ảnh nổi bật về người phụ nữ Việt Nam sẵn sàng đứng lên đấu tranh chống giặc ngoại xâm dù có phải hy sinh thân mình như Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Nguyên phi Ỷ Lan, Đô đốc Bùi Thị Xuân, Thiếu tướng Nguyễn Thị Định đã được ghi vào lịch sử của dân tộc Nếu thống kê một cách cơ học, trong cuốn sách “Các Triều đại Việt Nam” của nhóm tác giả Quỳnh Cư - Đỗ Đức Hùng, tác giả luận văn thống kê có 11 mục đề cập đến những nhân vật nữ có nhiều đóng góp trong lịch sử phong kiến Việt Nam từ cuộc “Đấu tranh giành độc lập Hai bà Trưng khởi nghiệp (40-43)” đến mục “Tuyên phi Đặng Thị Huệ và Điện đô vương Trịnh Cán” [19, tr.354-359]
- Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh về phụ nữ và công tác phụ nữ
Có thể nói, quan điểm của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh về phụ nữ được phản ánh xuyên suốt quá trình hình thành và phát triển của cách mạng Việt Nam,
có thể điểm qua một số mốc quan trọng như:
Trang 135
Trước hết, trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Đảng ta có ban hành hai văn bản về phụ nữ là Nghị quyết số 152-NQ/TW ngày 10/01/1967, Ban Bí thư Trung ương Đảng “Về một số vấn đề tổ chức lãnh đạo công tác phụ vận”; và Nghị quyết số 153-NQ/TW ngày 10 tháng 01 năm 1967 của Ban Bí thư “Về công tác cán bộ phụ nữ”
Ngoài ra, các bài viết: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ và thực hiện bình đẳng giới ở nước ta hiện nay” của Nguyễn Thị Chiên - Giảng viên Khoa Lý luận Mác - Lênin, Tư tưởng HCM , xem trên http://truongchinhtrina.gov.vn; Nguyễn Thị Bích Thúy - Khoa Xây dựng Đảng, Học viện Chính trị khu vực IV (2011), “Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác phụ nữ trong xây dựng chủ nghĩa xã hội”, Tạp chí Xây dựng Đảng ngày 07/03/2011 Là những nghiên cứu có tính khái quát về tư tưởng của Hồ Chí Minh trong giải phóng phụ nữ, về công tác phụ nữ trong xây dựng xã hội chủ nghĩa
Đối với các văn bản pháp lý của Nhà nước, ngay Hiến pháp năm 1946, Nhà nước ta đã khẳng định: “Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện chính trị, kinh tế và văn hóa” (Điều 6) và “đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện” (Điều 9) đã khẳng định sự bình quyền của phụ nữ trong xã hội Cụ thể hơn, trong Hiến pháp năm 2013, Nhà nước ta đã quy định
“Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam… được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện
và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của thành viên, hội viên tổ chức mình” (Điều 9, khoản 2) [67, tr.12], cũng quy định “Công dân nam, nữ bình đẳng
về mọi mặt” (Điều 26) [67, tr.18], “Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em” (Điều 36, khoản 2) [67, tr.21], “Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc sức khỏe người mẹ, trẻ em, thực hiện kế hoạch hóa gia đình” (Điều 58, khoản 2) [67, tr.28]
Hay trong Bộ Luật Lao động của nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam dành hẳn một chương về “Những quy định riêng đối với lao động nữ” để thể
Trang 146
hiện sự quan tâm của Nhà nước trong bình đẳng, cũng như đưa ra những cơ sở pháp lý cụ thể để bảo vệ quyền lợi của lao động phụ nữ Đó là Luật Bình đẳng giới, được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 10 ban hành tại Luật số 73/2006/QH11 ngày
29 tháng 11 năm 2006, đã đưa ra các quy định rất chi tiết về bình đẳng giới trong
“các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình”, “các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới”, “trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, gia đình và cá nhân trong việc thực hiện và bảo đảm bình đẳng giới”…
- Nhóm công trình liên quan trực tiếp đến vai trò và nâng cao vai trò của người phụ nữ
Về vấn đề vai trò của người phụ nữ có các bài viết “Vai trò của phụ nữ
trong xây dựng gia đình hạnh phúc” của Bùi Thị Mai Đông, Trưởng khoa Công tác
xã hội, Học viện Phụ nữ Việt Nam, đã trình bày mạch lạc các vai trò cơ bản của người phụ nữ Việt Nam như: Vai trò làm vợ, làm mẹ; vai trò người thầy đầu tiên của con người; vai trò người lao động chính, tạo thu nhập cho gia đình; vai trò người sắp xếp, tổ chức cuộc sống vật chất trong gia đình; vai trò người chăm lo đời sống tinh thần của gia đình; vai trò người giữ gìn, tái tạo và sáng tạo các giá trị văn hóa gia đình mà tác giả có thể kế thừa
Cùng với vác bài viết: “Vai trò của phụ nữ trong cơ quan dân cử: Còn nhiều thách thức” (2016), của Anh Chi xem trên http://www.nhandan.com.vn; bài “Vị trí vai trò của người phụ nữ trong xu thế hội nhập và phát triển của đất nước” của Lê Thị Linh Trang, xem trên http://www.haugiang.gov.vn; “Vai trò người phụ nữ trong quan hệ xã hội” của Cấn Thủy (Ban Dân tộc - Tôn giáo), xem trên http://www.haugiang.gov.vn; “Vai trò phụ nữ tham gia quản lý Nhà nước” của Nguyễn Quốc Tuấn, Nguyễn Hải Hà (Học viện Hành chính quốc gia), xem trên Nhandan.org.vn; “Vai trò của người phụ nữ trong cuộc sống hiện đại” do H.V (ghi) xem trên http://www.haugiang.gov.vn và ngay cả Kinh cựu ước (Đạo Công giáo) cũng có hẳn một phần dài 25 trang (do tác giả chép về, đếm với dung lượng này)
Trang 157
nói về “Vai trò của phụ nữ trong Cựu ước” xem trên http://www.nhulieuthanhkinh.com; “Nâng cao năng lực lãnh đạo của cán bộ nữ trong hệ thống chính trị” (2015), của Nguyễn Thị Thanh Hòa - Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, đăng trên http://dangcongsan.vn; “Nâng cao vai trò của phụ nữ trong giảm thiểu rủi ro thiên tai” (2016), của Bích Nguyên đăng trên http://www.bienphong.com.vn; “Nâng cao vai trò, vị thế của phụ nữ trong tình hình mới” của tác giả Biện Nhung đăng trên http://baohatinh.vn Các tác giả trình bày một cách khái quát về vai trò của phụ nữ Việt Nam, có cả ưu điểm, có cả nhược điểm, tồn tại kéo dài
Đặc biệt, Vương Thúy Hợp - Giảng viên Khoa Lý luận chính trị, Học viện
Tài chính, có bài viết “Quan điểm của C Mác Ph Ăng-ghen, V I Lê-nin về địa vị
người phụ nữ và giải phóng phụ nữ”, xem trên http://www.tapchicongsan.org.vn đã
nêu lên quan điểm của các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác-Lênin về “Địa vị
người phụ nữ trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa”, “Địa vị người phụ nữ trong hôn nhân và gia đình”, cũng như các quan điểm về “Nguồn gốc của sự bất bình đẳng nam nữ” từ đó phải “Phải xóa bỏ chế độ tư hữu tư nhân về tư liệu sản xuất”,
“đồng thời xây dựng hôn nhân và gia đình tiến bộ” Như vậy, lý luận về giải phóng
con người, giải phóng phụ nữ của chủ nghĩa Mác - Lê-nin không chỉ thấm đượm bản chất nhân văn, nhân đạo sâu sắc mà còn vượt lên tầm cao mà trước đó tư tưởng của nhân loại chưa thể vươn tới, đó là quan điểm duy vật lịch sử coi con người là thực tiễn, là chủ thể duy nhất có khả năng nhận thức và cải tạo thế giới [43, tr.4] Tương tự, có bài viết “Vấn đề phụ nữ và bình đẳng giới trong tư tưởng của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin” của Quách Thị Minh Thúy, đã khái quát được hai vấn
đề lớn là “về địa vị của người phụ nữ trong gia đình và xã hội ở các chế độ cũ nói
chung, chế độ tư bản chủ nghĩa nói riêng và nguồn gốc dẫn tới sự bất bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới” và “về điều kiện giải phóng phụ nữ, thực hiện quyền bình đẳng nam nữ (bình đẳng giới)” Có thể nói “toàn bộ hệ thống những quan
Trang 168
điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin về phụ nữ, giải phóng phụ nữ và thực hiện quyền bình đẳng nam nữ được xây dựng trên cơ sở của triết học mác xít Đây
là phương pháp tiếp cận khoa học và cũng là cơ sở lý luận để phát triển khoa học
về giới, hướng tới mục tiêu bình đẳng giới trong xã hội hiện nay
Hay chuyên đề “Phát huy vai trò của phụ nữ trong công cuộc phát triển
bền vững ở Việt Nam” của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương đã đưa ra
được nhiều vấn đề quan trọng như: sự tham gia và vai trò của phụ nữ trong lĩnh vực kinh tế, chính trị, khoa học và gia đình; nêu lên “Vai trò của phụ nữ trong xã hội hiện đại”; đánh giá được “Một số hạn chế đối với việc phát huy vai trò phụ nữ”
và nguyên nhân; khái quát được việc “Phát huy vai trò của phụ nữ trong công cuộc phát triển bền vững ở Việt Nam” Từ đó, nêu lên “Trách nhiệm và vai trò của các tác nhân trong xã hội đối với sự tiến bộ của phụ nữ”, đây là công trình tác giả có thể kế thừa và phát triển có chọn lọc đối với việc nâng cao vai trò của phụ nữ ở thành phố Cần Thơ
Về các bài viết liên quan đến vai trò của phụ nữ Cần Thơ trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa ở địa phương, ta có thể kể đến một số bài như:
bài viết “Hội Liên hiệp phụ nữ các cấp phát huy vai trò điểm tựa” của Quỳnh Lam
đăng trên Thông tin Tuyên giáo Cần Thơ số 3/2017 (trang 50-53) là kết quả thực hiện phương châm “Nơi nào có phụ nữ, nơi đó có tổ chức Hội”, từ đó có nhiều mô hình hiệu quả, thiết thực của chị em phụ nữ trong chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho hội viên phụ nữ; tương tự, chuyên mục “Mô hình hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế” tập hợp nhiều mô hình hay như: “Mô hình xử lý rác bằng thùng compost”,
“Giữ nghề truyền thống phát triển kinh tế gia đình”, hay “Tổ may gia công ấp Định Yên hỗ trợ hội viên phát triển kinh tế gia đình”… được đăng trên chuyên san “Phụ
nữ Cần Thơ” chào mừng Đại hội đại biểu phụ nữ toàn quốc lần thứ XII, nhiệm kỳ
2017 - 2022; Tài liệu buổi “Hội thảo - Họp mặt Nữ lãnh đạo, quản lý nhân kỷ niệm Ngày quốc tế Phụ nữ 08/3/2017”, có các bài viết thể hiện rõ vai trò của phụ nữ lãnh
Trang 179
đạo, quản lý của thành phố như bài tham luận “Sự tham gia của phụ nữ trong các vị trí lãnh đạo, quản lý của thành phố”, “Thực trạng và giải pháp tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí lãnh đạo, quản lý”, “Một số vấn đề thực trạng cán bộ
nữ tham gia lãnh đạo, quản lý của thành phố Cần Thơ”, “Vai trò Hội Liên hiệp Phụ
nữ tham mưu Thành ủy công tác cán bộ nữ” đã nêu toát lên được vấn đề thực trạng đội ngũ nữ tham gia vào công tác chính trị của thành phố Cần Thơ thời gian qua là những tư liệu mà tác giả có thể kế thừa, phân tích trong phần thực trạng vai trò của phụ nữ Cần Thơ trong xây dựng hê thống chính trị của địa phương
Tóm lại, tất cả những công trình này đã minh chứng rằng, phụ nữ là một nửa của thế giới, vì thế họ có vai trò vô cùng to lớn trong xã hội này, mặc dù hiện nay vẫn còn nhiều bất công đối với phụ nữ, vai trò của họ ở nhiều nơi, nhiều lúc không được xem trọng Đây là vấn đề mở mà tác giả sẽ kế thừa, phát huy cũng như phát triển, phân tích thực tế vai trò và nâng cao vai trò của người phụ nữ ở thành phố Cần Thơ hiện nay
3 Mục đích nghiên cứu của luận văn
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng vai trò của người phụ nữ Cần Thơ, luận văn đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa vai trò của người phụ nữ ở Cần Thơ trong đời sống xã hội hiện nay
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu của luận văn
- Khách thể nghiên cứu: Vai trò của người phụ nữ
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn: Vai trò của người phụ nữ Cần Thơ trong lĩnh vực kinh tế -xã hội, văn hóa, tư tưởng hiện nay
5 Giả thuyết khoa học
Nếu không đánh giá đúng thực trạng vai trò của người phụ nữ thì sẽ không
có những giải pháp thích hợp khắc phục những hạn chế, nâng cao hơn nữa vai trò của người phụ nữ trong đời sống xã hội ở thành phố Cần Thơ hiện nay
Trang 1810
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở khoa học của việc nâng cao vai trò của người phụ nữ thành phố Cần Thơ trong đời sống xã hội hiện nay
- Đánh giá thực trạng việc nâng cao vai trò của người phụ nữ Cần Thơ
- Đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao vai trò của người phụ nữ ở thành phố Cần Thơ trong đời sống xã hội hiện nay
7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn nghiên cứu, khảo sát thực tế phụ nữ Cần Thơ ở 09 quận, huyện của thành phố Cần Thơ trong lĩnh vực kinh tế -xã hội, văn hóa, tư tưởng từ năm
2010 đến nay
8 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp sử dụng một số phương pháp cụ thể khác như: Phương pháp điều tra xã hội học, phân tích, tổng hợp, so sánh, …để thực hiện mục đích và triển khai nhiệm vụ nghiên cứu
9 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm
02 chương, 04 tiết
10 Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn
- Những luận điểm cơ bản
+ Phụ nữ là một lực lượng xã hội to lớn luôn có vai trò hết sức quan trọng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
+ Phụ nữ ở thành phố Cần Thơ đã và đang đóng góp tích cực vào sự phát triển trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế - xã hội, văn hóa,tư tưởng
- Đóng góp mới của luận văn
Trang 1911
- Luận văn hình thành hệ thống cơ sở lý luận về phụ nữ và đánh giá thực trạng nâng cao vai trò của người phụ nữ trong đời sống xã hội ở thành phố Cần Thơ hiện nay
- Góp phần khắc phục những hạn chế trong nâng cao vai trò của người phụ
nữ ở thành phố Cần Thơ trước yêu cầu đổi mới
- Đề ra các giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa vai trò của người phụi nữ thành phố cần Thơ trong đời sống xã hội hiện nay
Trang 201.1.1 Một số khái niệm cơ bản
Cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh từng nhấn mạnh trong lời giới thiệu cuốn
“Truyền thống cách mạng của Phụ nữ Nam Bộ thành đồng”: Chúng ta phải làm
cho “em cháu ta ghi nhớ công ơn những người đi trước thì phải ra sức phát huy truyền thống vinh quang của người xưa mà đưa phong trào Phụ nữ Nam Bộ và Việt Nam vượt qua mọi khó khăn tiến lên những bước ngày càng tốt đẹp hơn” [81, tr.10] Không chỉ có thế, Phụ nữ đã được nhắc đến từ khi có loài người xuất hiện, vai trò của họ trong lao động đã được lịch sử ghi lại, mà rực rỡ nhất là ở chế mộ
“mẫu hệ” ở đó “quyền của người mẹ lớn hơn người cha” [60, tr.150] Ngày nay, vị trí, vai trò của người phụ nữ trong đời sống xã hội lại càng được khẳng định Để hiểu rõ cơ sở khoa học học việc nâng cao vai trò của phụ nữ trong đời sống xã hội
ở thành phố Cần Thơ hiện nay, chúng ta cùng làm rõ một số khái niệm cơ bản sau:
- Phụ nữ
Phụ nữ là một nửa của nhân loại, nếu không có phụ nữ (giống cái), có lẽ trái đất này không tồn tại loài người Kinh thánh cho rằng, khi Thượng đế sinh ra người đàn ông đầu tiên - Adam, Người thấy Adam thật buồn và cô đơn nên lấy một cái xương sườn của Adam mà tạo nên người phụ nữ đầu tiên - Eva Đó chỉ là những huyền thoại về sự xuất hiện của loài người, nhưng nó cũng phản ánh hiện thực xã hội, đó là sự phân biệt nam nữ và giới nữ thường thua thiệt hơn giới nam Chúng tôi không rõ, thuật ngữ “Phụ nữ” được dùng từ khi nào? Có những khái niệm nào
để chỉ phụ nữ? Nhưng có thể hiểu một cách đơn giản như sau: Theo Đại từ điển
Trang 2113
tiếng Việt, phụ nữ (dt) “là người thuộc giới nữ, thường để chỉ người lớn tuổi” [89,
tr.1272]
Trên cơ sở đó, ta có thể hiểu chung nhất về khái niệm phụ nữ như sau: Phụ
nữ là để chỉ giới nữ, thuộc giống cái trong xã hội loài người
- Nâng cao vai trò của phụ nữ
Ngày nay, nhiều quốc gia trên thế giới đã nhận thấy sự đóng góp vô cùng quan trọng của phụ nữ trong đời sống xã hội Dù đó là sự kiện phụ nữ ở Afganistan
đi bỏ phiếu bầu cử tổng thống hay việc phụ nữ bắt đầu mở những cơ sở kinh doanh siêu nhỏ tại Etiopia, thì xu thế hướng tới quyền bình đẳng hơn nữa của phụ nữ trên toàn thế giới đã trở nên rõ ràng Theo thống kê, từ khi có giải Nobel năm 1901 đến nay, đã có 4,4% giải Nobel về hòa bình được trao cho phụ nữ Nếu tính tất cả các lĩnh vực, số phụ nữ đoạt giải Nobel lên đến 28 người Trong 192 đại diện thường trực ở Liên Hiệp Quốc có 14 phụ nữ 11% nhân viên cấp cao tại cơ quan của Liên Hiệp Quốc là phụ nữ Có 50% phụ nữ trong Chính phủ Thụy Điển - Đây là chính phủ đầu tiên trên thế giới đạt được sự cân bằng giữa nam và nữ Kỷ lục thế giới về phụ nữ là dân biểu thuộc về Phần Lan với 39% Tiếp theo là NaUy 35%, Thụy Điển 34% Hiện có 12 quốc gia trong đó phụ nữ là tổng thống hay thủ tướng 10 quốc gia đứng đầu về số phụ nữ tham gia vào các lĩnh vực kinh tế và chính trị được Liên Hiệp Quốc bình chọn là: Thụy Điển, Nauy, Phần Lan, Đan Mạch, NiuDilan,
Hà Lan, Mỹ, Áo và Italia [87, tr.9-10] Từ những minh chứng này, ta có thể hiểu
vai trò của phụ nữ là vị trí, trách nhiệm, sự đóng góp của phụ nữ ở tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Từ đó, có thể phác họa những nét chung để nâng cao vai
trò của phụ nữ như sau:
Thứ nhất, phụ nữ cần có tinh thần học tập, kiên trì khắc phục trở ngại để
nâng cao trình độ học vấn, trình độ kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ đa dạng; ý thức nắm bắt thông tin xã hội qua giao tiếp với bạn bè, sách báo, phương tiện thông tin đại chúng Thực ra, đây là vấn đề rất khó mà phụ nữ cần phải vượt qua, vì chị
Trang 2214
em thường bị các công việc gia đình chi phối Bên cạnh đó, thời gian học tập ít ỏi,
cơ hội học tập ít được tiếp cận, sự giao lưu xã hội hạn chế nhiều so với nam giới
Thứ hai, phụ nữ phải biết tính toán công việc chuyên môn, thu xếp cuộc
sống cá nhân và gia đình một cách khoa học, có nề nếp là điều giúp người phụ nữ khắc phục được nhiều khó khăn Chỉ khi chị em có chương trình làm việc lâu dài và trước mắt hợp lý, biết sắp đặt việc nhà, việc cơ quan, việc sản xuất, kinh doanh, họ
sẽ có thời gian nghỉ ngơi, từng bước nâng cao trình độ kiến thức Ngoài ra, bản thân chị em cũng cần có sự chủ động nâng cao hơn nữ nhận thức về giới, có kế hoạch trau dồi kiến thức, năng lực công tác
Thứ ba, phụ nữ cần có sự suy nghĩ độc lập, sáng tạo, và phải có chính kiến
của mình; đồng thời cần lắng nghe ý kiến của người xung quanh, với các đồng nghiệp; chú ý trao đổi ý kiến và kinh nghiệm thực tiễn phong phú
Thứ tư, yếu tố đặc biệt quan trọng tác động đến hiệu quả công việc của
người phụ nữ chính là lòng tự tin vào năng lực bản thân, đánh giá đúng khả năng của mình để có thể tự quyết định công việc một cách chủ động và dám chịu trách nhiệm về quyết định của mình Cùng với các yêu cầu trên, việc xây dựng một tác phong làm việc nhanh nhẹn, tháo vát là hết sức cần thiết đối với người phụ nữ, phù hợp với xã hội công nghiệp và thời đại đầy những biến động nhanh chóng, liên tục [87, tr.28]
Từ những ý kiến nêu trên, có thể thấy được các nội dung về nâng cao vai trò
của phụ nữ: “Nâng cao vai trò của phụ nữ là phát huy các giá trị sẵn có và tiềm
năng to lớn của phụ nữ trong việc xây dựng, phát triển đất nước; phát huy hơn nữa
sự tham gia của phụ nữ ở tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội”
- Đời sống xã hội
Trước hết, có thể hiểu, xã hội là bộ phận đặc thù của tự nhiên Ở đây, tự nhiên theo nghĩa rộng “là toàn bộ thế giới vật chất tồn tại khách quan” [52, tr.396]
Trang 2315
Trong đó, con người có nguồn gốc từ tự nhiên, là con đẻ của tự nhiên, là sản phẩn cao nhất của tự nhiên Chính việc mang trong mình bản tính tự nhiên và bản chất xã hội cho nên con người là hiện thân của sự thống nhất giữa tự nhiên và xã hội Hơn thế nữa, thông qua lao động, con người trở thành khâu gắn bó giữa tự nhiên và xã hội Vậy xã hội là gì?
Xã hội chính là hình thái vận động cao nhất của vật chất Hình thái vận động này lấy mối quan hệ của con người và sự tác động lẫn nhau giữa người với người làm nền tảng “Xã hội không phải gồm các cá nhân, mà xã hội biểu hiện tổng
số những mối liên hệ và những quan hệ của các cá nhân đối với nhau” [52, tr.398]
Xã hội không phải cái gì khác là chính là bộ phận đặc biệt, được tách ra một các phù hợp với quy luật của tự nhiên, là hình thức tổ chức vật chất cao nhất của vật chất trong quá trình tiến hóa phức tạp, lâu dài, lên tục của tự nhiên
Như vậy, “xã hội là một bộ phận đặc biệt của tự nhiên Song, đồng thời với quá trình tiến hóa tiếp tục của tự nhiên, xã hội cũng có một quá trình phát triển lịch
sử của mình, thể hiện bằng sự vận động, biến đổi và phát triển không ngừng trong
cơ cấu của xã hội” [52, tr.399]
Còn đời sống, theo Đại từ điển tiếng Việt là danh từ, với ý nghĩa là “sự sinh sống, hoạt động diễn ra trong cơ thể của mốt sinh vật; hoạt động của con người về một lĩnh vực nào đó nói chung” [89, tr.560]
Tuy nhiên, ta không thể hiểu một cách máy móc, cơ học là ghép khái niệm
“xã hội” với khái niệm “đời sống” để hiểu khái niệm chung “đời sống xã hội” mà ta cần hiểu một cách bao quát, mang hàm nghĩa rộng hơn là hoạt động trong một lĩnh
vực nào đó Từ đó, có thể hiểu đời sống xã hội là hoạt động của con người trong
một cộng đồng to lớn, phức tạp ở phạm vi một đất nước, một chế độ, tổng thể là xã hội loài người
Trong phạm vi luận văn, đời sống xã xã hội được nghiên cứu chỉ giới hạn trong lĩnh vực kimh tế - xã hội, văn hóa, tư tưởng
Trang 24đề đó, được C Mác, Ph Ăngghen, V I Lênin và Hồ Chí Minh thể hiện trong các công trình của mình
- Thứ nhất, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về phụ nữ
Các nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác - Lênin đã đưa ra vấn đề “địa vị người phụ nữ trong xã hội tư bản” Trước thực tế sự bóc lột tàn tệ người lao động nói chung, đặc biệt là phụ nữ, trẻ em nói riêng, C Mác, Ph Ăngghen đã tố cáo chế độ bóc lột kiểu tư bản chủ nghĩa đối với lao động nữ, đó là bóc lột lao động đến kiệt sức trong điều kiện không bảo đảm vệ sinh, bệnh tật, tử vong… Người phụ nữ phải đến công xưởng làm việc trong điều kiện hết sức tồi tệ do đồng lương ít ỏi, không đủ nuôi sống gia đình C Mác cũng chỉ rõ, tỷ lệ mắc bệnh của người phụ nữ bao giờ cũng cao hơn so với nam giới (643/1000 người mắc bệnh lao phổi là đàn bà) Tình trạng phổ biến trong công xưởng, “đó là chuyện những cô gái thường làm việc trung bình một ngày 16 ½ giờ và trong mùa may mặc thì thường làm việc một mạch 30 giờ không nghỉ” [14, tr.373]
Trong cuốc sống hôn nhân, gia đình C Mác, Ph Ăngghen chỉ rõ “Đối với người tư sản, vợ hắn chẳng qua chỉ là một công cụ sản xuất Cho nên nghe nói công
cụ sản xuất phải được đem dùng chung thì tất nhiên là hắn kết luận rằng chính đàn
bà rồi cũng phải chịu cái số phận chung là bị xã hội hóa” “Các ngài tư bản của chúng ta chưa thỏa mãn là đã sẵn có vợ và con gái của vô sản để dùng, đó là chưa
Trang 2517
kể chế độ mãi dâm công khai, các ngài ấy còn lấy việc cắm sừng lẫn nhau làm một thú vui đặc biệt” [13, tr.623] Cùng phản ánh thực trạng về cuốc sống hôn nhân của người phụ nữ trong xã hội Tư bản, V.I Lênin viết: “Hàng triệu và hàng triệu phụ
nữ trong những gia đình như vậy đang sống (hoặc nói cho đúng hơn đang bị đọa đầy) trong kiếp “gia nô”, ra sức lo ăn lo mặc cho cả gia đình bằng từng xu nhỏ mà
họ phải trả bằng những cố gắng phi thường hàng ngày và bằng “sự tiết kiệm” tất cả mọi thứ, chỉ trừ có “tiết kiệm” lao động bản thân” [85, tr.173]
Như vậy, dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, người phụ nữ phải chịu đựng một nghịch lý, đó là vai trò thì lớn nhưng địa vị thì thấp hèn trong cả gia đình và ngoài
xã hội Phụ nữ phải gánh vác hầu như toàn bộ việc nhà nhưng vẫn phải đi làm như nam giới; người phụ nữ cùng một lúc vừa phải tham gia lao động trong một nền sản xuất xã hội, vừa đảm nhiệm mọi thứ công việc như nô lệ trong gia đình Điều này thực sự mâu thuẫn và xung đột vai trò của người phụ nữ (trong xã hội học gọi là xung đột “vai trò giới” của người phụ nữ)
Về con đường giải phóng phụ nữ, quan điểm của C Mác, Ph Ăngghen và
V.I Lênin được thể hiện qua việc thực hiện cuộc cách mạng về lý luận giải phóng phụ nữ Các ông đã vạch rõ xu hướng biến đổi địa vị người phụ nữ theo hướng tiến tới sự bình đẳng nam nữ trong xã hội và tính tất yếu của cách mạng xã hội chủ nghĩa đối với sự nghiệp giải phóng phụ nữ Quá trình đó diễn ra khách quan, bắt nguồn từ sự biến đổi trong lòng phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa tất yếu sẽ bị diệt vong và phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa sẽ ra đời Quy luật đó tác động trực tiếp tới địa vị và vai trò của phụ nữ trong xã hội Ph Ăngghen chỉ ra xu hướng biến đổi của xã hội tư bản cùng với nó là sự biến đổi trong mối quan hệ xã hội giữa phụ nữ và nam giới
Và để giải phóng xã hội đồng thời giải phóng phụ nữ trong điều kiện chính quyền đã giành về tay giai cấp công nhân liên minh với nông dân và trí thức thì điều kiện cần thiết và quan trọng là phải thực hiện những bước quá độ để xây dựng
Trang 2618
cơ sở kinh tế cho một xã hội xã hội chủ nghĩa Sự nghiệp giải phóng phụ nữ gắn liền với sự nghiệp giải phóng giai cấp và giải phóng xã hội Chính vì vậy, Lênin đòi hỏi giai cấp vô sản phải sẵn sàng làm tất cả để đấu tranh chống quan niệm phân biệt, coi thường người phụ nữ: “Giai cấp vô sản sẽ không đạt được tự do hoàn toàn nếu không giành được tự do hoàn toàn cho phụ nữ” [86, tr.311-312]
Như vậy, lý luận về giải phóng con người, giải phóng phụ nữ của chủ nghĩa Mác - Lênin không chỉ thấm đượm bản chất nhân văn, nhân đạo sâu sắc mà còn đi trước thời đại, thời mà tư tưởng của nhân loại chưa thể vươn tới, đó là quan điểm duy vật lịch sử coi con người là thực tiễn, là chủ thể duy nhất có khả năng nhận thức và cải tạo thế giới, trong đó có vai trò của người phụ nữ
- Thứ hai, tư tưởng Hồ Chí Minh về phụ nữ
Lúc sinh thời, Hồ Chí Minh cũng luôn khẳng định vị trí vai trò của phụ nữ trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta, Người căn dặn các cấp uỷ Đảng, cơ quan, đơn vị phải quan tâm chăm lo công tác vận động phụ nữ, đào tạo bồi dưỡng cán bộ nữ, vì sự nghiệp giải phóng phụ nữ.Trong di sản vô giá tư tưởng
Hồ Chí Minh, có một bộ phận quan trọng là tư tưởng của Người về phụ nữ Điều này ta có thể thấy qua thống kê sau: Người đã 745 lần Người nhắc đến từ “nữ” trong các tác phẩm của mình, trong đó có 440 lần là “phụ nữ”, 20 lần là “thiếu nữ”,
3 lần là “thanh nữ” và để chỉ “cán bộ phụ nữ”, “vấn đề phụ nữ”, “công tác phụ nữ” Có 726 lần Người nhắc đến từ “bà” trong các khái niệm “bà cụ”, “cụ bà”, “bà mẹ”, “bà già, trẻ em”, “Bà Trưng”, “Bà Triệu” và bà với tư cách là một nhân vật cụ thể Có 255 lần Người nhắc đến từ “gái” trong các khái niệm”em gái”, “cháu gái”,
“bé gái”, “dân quân gái”, “thanh niên gái”, “ý tá gái” Người cũng có 226 lần nhắc đến từ “mẹ” với các nghĩa “bà mẹ”, “làm mẹ”, “mẹ chiến sĩ”, “người mẹ”,
và 169 lần nhắc đến từ “vợ” với các nghĩa “người vợ”, “làm vợ”, “cưới vợ”, “vợ chồng”, “vợ chiến sĩ” Chính vì vậy, tháng 4 năm 1946 sau khi đồng chí Phạm Văn Đồng đi công tác nước ngoài về, “Bác hỏi kỹ về cơ cấu tổ chức, mục tiêu và
Trang 2719
hoạt động của hai tổ chức trên Bác cho ý kiến là đoàn thể phụ nữ ta cũng phải thành lập ngay một tổ chức phụ nữ” [81, tr.28], đây là sự quan tâm của Bác đối với phụ nữ từ việc thành lập đoàn thể, tổ chức của riêng mình
Hồ Chí Minh đã quan tâm đến phụ nữ ở trên mọi phương diện biểu hiện của khái niệm này, dù là phương diện nào thì Người đều thông cảm sâu sắc với nỗi thống khổ của họ, Người đề cao đức hy sinh của họ, tìm cách thức tỉnh và tạo điều kiện để họ được giải phóng, tham gia cách mạng với tư cách là nửa quan trọng của thế giới
Xác định phụ nữ là một lực lượng quan trọng trong đời sống xã hội con người, Hồ Chí Minh không chỉ dừng lại ở sự tố cáo tội ác của chế độ thực dân - phong kiến đối với người phụ nữ mà còn động viên, tổ chức cho phụ nữ tham gia
công cuộc giải phóng dân tộc, cứu nước Từ 1923, trong bài “Tình hình ở Trung
Quốc”, Người viết: “Vấn đề phụ nữ Bình đẳng về giáo dục chính trị và kinh tế cho
cả nam và nữ Thi hành hệ thống trường học thống nhất - tức là thành lập các trường học trong đó con trai và con gái cùng học Trả công như nhau cho lao động như nhau Quyền nghỉ ngơi và tiền trợ cấp cho trường hợp đau ốm và sản phụ Hội ủng hộ tất cả các yêu sách của công nhân” [57, tr 222-223]
Người không chỉ quan tâm đến quyền bình đẳng của nữ giới trong mọi quan
hệ xã hội mà còn lo cho hạnh phúc của nữ giới trong quan hệ vợ chồng, khuyên giới nữ ý thức được quyền lợi và trách nhiệm của mình để tự đấu tranh giải phóng mình khỏi những ràng buộc phi lý kiểu “chồng chúa vợ tôi” Người phê phán tình trạng chồng đánh vợ và khẳng định đấy là tệ nạn về mặt đạo đức và vi phạm pháp luật Người đã nghiêm khắc phê phán những thành kiến hẹp hòi ở một số cán bộ còn đánh giá không đúng khả năng của phụ nữ và “Bác mong rằng các đồng chí hãy thật sự sửa chữa bệnh thành kiến, hẹp hòi đối với phụ nữ ” [59, tr.208] Và phụ nữ “không phải chỉ nói chính trị suông, giải phóng phụ nữ chung chung mà còn
Trang 28Từ đó, Người căn dặn phụ nữ “… là người chủ của nước nhà Để xứng đáng là người chủ thì chị em phải ra sức tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm…”,
“phụ nữ cần phải xung phong trong làm việc xây dựng đời sống mới Ở miền núi đang còn những phong tục không tốt do bọn phong kiến để lại như: ma chay, cúng bái rất tốn kém Cưới vợ, gả chồng quá sớm Vệ sinh phòng bệnh, v.v còn kém
Đó là những mê tín và hủ tục nên xóa bỏ, để xây dựng mỹ tục thuần phong” và “chị
em phụ nữ, cần phải đoàn kết chặt chẽ, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau” [56, tr.11]
- Thứ ba, đường lối, chủ chương của Đảng về phụ nữ
Quan điểm “Nam, nữ bình quyền” đã được Đảng xác định ngay trong Cương lĩnh đầu tiên của của mình năm 1930 Trải qua 87 năm phát triển, quan điểm đó luôn được quán triệt trong các văn kiện, Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng qua các thời kỳ
Ngay trong những năm tháng ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ngày 10/01/1967, Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết số 152-NQ/TW về một số vấn đề tổ chức lãnh đạo công tác phụ vận, chỉ rõ: “Tư tưởng phong kiến đối với phụ nữ còn tồn tại khá sâu sẳc trong một số cán bộ, đảng viên,
kể cả cán bộ lãnh đạo Thể hiện rõ nhất tư tưởng hẹp hòi, “trọng nam khinh nữ”, chưa tin vào khả năng lãnh đạo và khả năng quản lý kinh tế của phụ nữ, chưa thấy hết khó khăn trở ngại của phụ nữ…” [26, tr.11] Cùng thời điểm này, Ban Bí thư
Trang 2921
tiếp tục ban hành Nghị quyết số 153-NQ/TW ngày 10 tháng 01 năm 1967 về công tác cán bộ phụ nữ nhận định phụ nữ có vai trò đặc biệt trên các lĩnh vực như: “Trên mặt trận sản xuất nông nghiệp”, “trên lĩnh vực văn hóa, xã hội”, “trong chiếm đấu”,
từ đó “trên qua điểm giai cấp vô sản, Đảng ta đã và sẽ đấu tranh không ngừng trên mỗi lĩnh vực, trước hết là lĩnh vực tư tưởng, chống mọi quan điểm phong kiến, tư sản, tiểu tư sản đang ràng buộc lực lượng phụ nữ, đánh giá thấp vai trò và vị trí của lực lượng phụ nữ đồng thời Đảng và Nhà nước cũng coi trọng tạo điều kiện lao động và sinh hoạt của chị em” [26, tr.23-24]
Sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng, bước vào thời kỳ mới, việc phát huy hơn nữa vị trí, vai trò của các tầng lớp phụ nữ trong sự nghiệp cách mạng của Đảng, của nhân dân là yêu cầu, đòi hỏi lớn Chỉ thị số 44- CT/TW ngày 7/6/1984 của Ban Bí thư về một số vấn đề cấp bách trong công tác cán bộ nữ chỉ rõ: “Nhiều cấp uỷ Đảng và lãnh đạo các ngành buông lỏng việc chỉ đạo thực hiện các nghị quyết của Đảng về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ…còn tư tưởng phong kiến, coi thường phụ nữ, đối xử thiếu công bằng với chị em…” [31, tr.155]; “Các trường lớp đào tạo, bồi dưỡng trong nước và ngoài nước, khi chiêu sinh cần quy định tỷ lệ nữ một cách thoả đáng [31, tr.159]; các trường lớp tập trung cần tổ chức nhà trẻ, lớp mẫu giáo để chị em có con nhỏ gửi cháu” [31, tr.160]
Bước vào thời kỳ đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, ngay trong Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Đảng đề ra việc “để phát huy vai trò to lớn của phụ nữ trong sự nghiệp cách mạng, cần làm cho đường lối vận động phụ nữ của Đảng được thấu suốt trong cả hệ thống chuyên chính vô sản, được cụ thể hóa thành chính sách, pháp luật” [29, tr.123]
Trong giai đoạn 1991 - 1995, Đảng đã ban hành hai văn bản trực tiếp về công tác phụ nữ và chiến lược đào tạo phụ nữ, đó là: Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 12/7/1993 Bộ Chính trị “Về đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới” Nghị quyết nhấn mạnh: “Xây dựng và sửa đổi,
Trang 3022
hoàn chỉnh các pháp luật, chính sách xã hội có liên quan đến phụ nữ và lao động nữ” “Có chủ trương, chính sách phù hợp đối với phụ nữ dân tộc ít người, phụ nữ tôn giáo, phụ nữ nghèo, phụ nữ đơn thân, phụ nữ tàn tật” [32, tr.19-20] Và Chỉ thị
số 37-CT/TW ngày 16/5/1994 của Ban Bí thư Trung ương “Về một số vấn đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới” khẳng định: “Cần xây dựng Chiến lược đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng lao động nữ nói chung và cán bộ nữ nói riêng”, “chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ nữ làm công tác khoa học - kỹ thuật, kinh tế, pháp luật, hành chính, quản lý nhà nước”, “cán bộ nữ dân tộc ít người, tôn giáo, vùng sâu, vùng xa Các trường lớp đào tạo, bồi dưỡng của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể khi chiêu sinh cần có quy định tỷ lệ nữ một cách thoả đáng, đưa vào chương trình đào tạo những kiến thức về giới” [32, tr.364-365]
Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII nhấn mạnh “đặc biệt coi trọng việc đào tạo nghề, giúp đỡ chị em có việc làm, phát triển kinh tế gia đình, cải thiện đời sống, bảo vệ sức khỏe phụ nữ và trẻ em Quan tâm phát triển Đảng và đào tạo bồi dưỡng cán bộ nữ” [24, tr.125]
Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng nêu rõ: “Đối với phụ nữ, thực hiện tốt luật pháp và chính sách bình đẳng giới, bồi dưỡng, đào tạo nghề nghiệp, nâng cao học vấn; có cơ chế, chính sách để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các cơ quan lãnh đạo và quản lý ở các cấp, các ngành, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe bà mẹ và trẻ em; tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt thiên chức người mẹ; xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc” [25, tr.126]
Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng khẳng định:
“Nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần thực hiện bình đẳng giới Tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt vai trò của người công dân, người lao động, người mẹ, người thày đầu tiên của con người Bồi dưỡng, đào tạo để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các hoạt động xã hội, các cơ quan lãnh đạo và quản
lý ở các cấp Chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ bà mẹ, trẻ em Bổ sung và hoàn chỉnh
Trang 3123
các chính sách về bảo hộ lao động, bảo hiểm xã hội, thai sản, chế độ đối với lao động nữ Kiên quyết đấu tranh chống các tệ nạn xã hội và các hành vi bạo lực, xâm hại và xúc phạm nhân phẩm phụ nữ” [30, tr.120]
Đặc biệt ngày 27/4/2007, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết số 11-NQ/TW về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nghị quyết đã nêu lên những quan điểm cơ bản của Đảng ta trong công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đất nước như: “Phát huy vai trò, tiềm năng to lớn của phụ nữ trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nâng cao địa vị phụ nữ”, “công tác phụ nữ phải sát hợp với từng đối tượng, vùng, miền, phát huy được tinh thần làm chủ, tiềm năng, sức sáng tạo và khả năng đóng góp cao nhất của các tần lớp phụ nữ”, “xây dựng, phát triển vững chắc đội ngũ cán bộ nữ tương xứng với vai trò to lớn của phụ nữ là yêu cầu khách quan, là nội dung quan trọng trong chiến lược công tác cán bộ của Đảng” và “Công tác phụ nữ là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội và từng gia đình” [12, tr.3] Đây là căn cứ vững chắc để định hướng việc nâng cao hơn nữa vai trò của phụ nữ trong đời sống xã hội hiện nay
Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng tiếp tục khẳng định, cần “Nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ Nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện các luật pháp, chính sách đối với lao động nữ, tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt vai trò của mình; tăng tỷ lệ phụ nữ tham gia vào cấp ủy và bộ máy quản lý nhà nước Kiên quyết đấu tranh các tệ nạn xã hội và các hành vi bạo lực, buôn bán, xâm hại và xúc phạm nhân phẩm phụ nữ” [33, tr.243]
Đến Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng cơ bản giữ nguyên ý
trong phương hướng phát triển phụ nữ và bổ sung thêm ý nhỏ về “thực hiện tốt
bình đẳng giới, tạo điều kiện cho phụ nữ phát triển tài năng” [35, tr.163]
Trang 3224
Như vậy, Đảng ta đã sớm nhận thấy vai trò, tiềm năng của phụ nữ, xuyên
suốt từ đại hội I đến nay, Đảng ta đã luôn đánh giá cao sự đóng góp của phụ nữ và
đề ra nhiệm vụ lãnh đạo, tạo điều kiện để phụ nữ phát huy khả năng to lớn, thực hiện nam nữ bình đẳng
Cần Thơ là thành phố nằm trên bờ sông Hậu, cách thành phố Hồ Chí Minh
169 km về phía Tây Nam Phía Bắc giáp tỉnh An Giang và Đồng Tháp, phía Nam giáp tỉnh Hậu Giang, phía Tây giáp tỉnh Kiên Giang, phía Đông giáp hai tỉnh Vĩnh Long và Đồng Tháp Cần Thơ là thành phố trực thuộc Trung ương được tách ra từ tỉnh Cần Thơ (cũ) vào ngày 01/01/2004 theo Nghị quyết số 22/2003/QH11 ngày 26 tháng 11 năm 2003 của Quốc hội và nghị định của Thủ tướng Chính phủ số 05/2004/NĐ-CP ngày 02 tháng 01 năm 2004, đến nay đã hơn 10 năm hình thành và phát triển, là một trong những thành phố có tốc độ phát triển nhanh; là một trong 09 đơn vị điều tiết vốn về Trung ương; là nơi đứng chân của nhiều trường, viện cấp khu vực và quốc gia
- Diện tích, dân số
Thành phố Cần Thơ hiện có các đơn vị hành chính sau: quận Bình Thủy, quận Cái Răng, quận Ninh Kiều, quận Thốt Nốt, huyện Cờ Đỏ, huyện Thới Lai, huyện Phong Điền và huyện Vĩnh Thạnh Với tổng diện tích là 1.401 km² (diện tích quận nội thành - quận Ninh Kiều là 29 km²) Theo kết quả thống kê của Cục Thống
kê thành phố Cần Thơ, hiện thành phố có tổng số dân là 1.232.260 người [18,
tr.46]
- Về điều kiện tự nhiên
Trang 3325
Với vị trí trung tâm của vùng đồng bằng sông Cửu Long, thành phố Cần Thơ có những đặc trưng cơ bản về điều kiện tự nhiên của cả vùng, tạo điều kiện cho sự phát triển cả về kinh tế, chính trị lẫn xã hội và văn hóa
Địa hình chung của Cần Thơ tương đối bằng phẳng, ít có sự phân hóa (sự chênh lệch về độ cao giữa các địa phương hầu như không có), nên thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, xây dựng hệ thống giao thông, thủy lợi và xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội
Ngoài ra, Cần Thơ được thiên nhiên ưu đãi, có dòng sông Hậu chảy qua, mang lại nguồn nước ngọt phong phú, được phù sa bồi đắp thường xuyên, thích hợp cho canh tác lúa, cây hoa màu… Bên cạnh đó, hệ thống sông tự nhiên (sông Cần Thơ) và kênh rạch dày đặc là ưu thế của thành phố để phát triển hệ thống giao thông thủy, tạo mối giao thương với các tỉnh trong khu vực và vươn ra các nước bạn
Cũng như khí hậu của vùng đồng bằng sông Cửu Long, Cần Thơ có khí hậu nóng ẩm, với đặc trưng khí hậu hai mùa mưa và mùa nắng rõ rệt tạo điều kiện tốt cho sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, hiện nay trước sự biến đổi khí hậu toàn cầu, Cần Thơ cũng đứng trước các thách thức về thời tiết, thiên tai như tình trạng ngập, hạn hán, xâm nhập mặn thường diễn biến phức tạp
- Về phát triển kinh tế - xã hội
Sau hơn 10 năm, kinh tế thành phố đã từng bước chuyển dịch, phát triển theo hướng tích cực, chất lượng tăng, năng lực cạnh tranh cấp tỉnh từng bước được cải thiện Tăng trưởng kinh tế của thành phố duy trì ở mức khá cao, giai đoạn 2010
- 2015 bình quân 12,19% Tổng sản phẩm trên địa bàn đạt 77.925 tỷ đồng, tăng 1,8 lần
so với năm 2010, hàng năm đóng góp cho vùng khoảng 12 đến 12,5%; Cơ cấu ngành, lĩnh vực kinh tế tăng dần tỷ trọng khu vực công nghiệp - xây dựng và khu vực thương mại - dịch vụ Hiện khu vực I (nông nghiệp - thủy sản) chiếm 6,57%, khu vực II (công
Trang 3426
nghiệp - xây dựng) chiếm 35,02% và khu vực III (thương mại - dịch vụ) chiếm 57,8% [38, tr.8]
Công nghiệp và xây dựng: Tập trung vào sản phẩm có giá trị tăng, từng
bước đáp ứng yêu cầu thị trường và hội nhập kinh tế, quốc tế; một số doanh nghiệp
đã tạo lập được thương hiệu, có vị trí trên thị trường quốc tế Đến năm 2015, giá trị xuất công nghiệp (giá so sánh năm 2010) ước đạt 103.324 tỷ đồng, tăng 1,6 lần so với năm 2010 và tăng bình quân 10,1%/năm [38, tr.9]
Lĩnh vực thương mại, dịch vụ: Lĩnh vực thương mại phát triển nhanh, đa dạng với nhiều loại hình và có tính chất chi phối, tác động lĩnh vực khác phát triển; kết cấu hạ tầng thương mại không ngừng được cải thiện, góp phần tăng thêm năng lực buôn bán, bán lẻ hàng hóa trên địa bàn Đến nay, thành phố có 107 chợ truyền thống, 12 siêu thị và trung tâm thương mại, trung tâm bán buôn đang hoạt động, góp phần làm phong phú, đa dạng thị trường hàng hóa Tổng mức bán lẻ hàng hóa
và doanh thu dịch vụ đạt 320.916 tỷ đồng, vượt 10,1% kế hoạch, gấp 2,3 lần so với giai đoạn 2006 - 2010, tăng bình quân 20%/năm Về lĩnh vực dịch vụ, phát triển năng động, tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng, hướng tới những ngành dịch
vụ có giá trị gia tăng cao Trong đó, hệ thống dịch vụ vận tải phát triển cả đường bộ, đường thủy và đường hàng không, vận chuyển hàng hóa tăng bình quân 3,34%/năm, vận chuyển hành khách tăng bình quân 4,15%/năm, đứng đầu trong vùng và thứ 3 cả nước; các dịch vụ tài chính - ngân hàng phát triển mạnh về chiều rộng và chiều sâu, trên địa bàn thành phố hiện có 52 tổ chức tín dụng, với 230 điểm giao dịch, vốn huy động đạt 41.500 tỷ đồng, tăng 2 lần so với năm 2010; dịch vụ thông tin và truyền thông phát triển rộng khắp, nhiều cơ quan báo đài Trung ương, thành phố Hồ Chí Minh có văn phòng đại diện, kịp thời thông tin, tuyên truyền nhiệm vụ chính trị của đất nước, khu vực và thành phố [38, tr.9-10]
Dịch vụ vận tải, bưu chính - viễn thông: Phát triển theo hướng hiện đại; các loại hình vận tải chất lượng cao ra đời và phát huy hiệu quả; mạng lưới viễn thông,
Trang 3527
điểm giao dịch bưu điện được mở rộng Các dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, kiểm toán, dịch vụ tư vấn, khoa học - công nghệ, y tế, giáo dục - đào tạo, du lịch…, không ngừng phát triển Nhiều loại hình kinh doanh dịch vụ mới như: kinh doanh bất động sản, kho vận, thông tin, truyền thông,…phát triển khá tốt, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội
Sản xuất nông nghiệp: Từng bước phát triển theo hướng công nghiệp hóa, chất lượng cao và cơ ban hoàn thành tỷ lệ cơ giới hóa trong các khâu trong sản xuất, tiến hành lập quy hoạch 03 khu nông nghiệp công nghệ cao, với diện tích khoảng 350 ha và triển khai xây dựng Trung tâm giống thủy sản cấp I, diện tích 20
ha Tích cực triển khai nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao khoa học kỹ thuật trên các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản; hình thành và phát huy mô hình cánh
đồng lớn khá hiệu quả; đồng thời triển khai thực hiện Đề án “Tái cơ cấu ngành
nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững” góp
phần quan trọng trong việc tăng năng suất và chất lượng sản phẩm, nâng cao thu nhập cho nông hộ; giá trị sản xuất toàn ngành đến nay ước đạt 12.267 tỷ đồng (giá
so sánh 2010), bình quân giai đoạn 2011 - 2015 tăng 3,7%/năm, giá trị sản xuất bình quân trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp đạt 109,4 triệu đồng/ha vào năm 2015 [38, tr.10] Hệ thống kết cấu hạ tầng nông thôn được đầu tư, nhất là từ khi thành phố thực hiện Nghị quyết 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương (khóa X), bộ mặt nông thôn có nhiều thay đổi, đời sống nông dân ngày càng cải
thiện và nâng lên
Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được đầu tư tăng lên hàng năm Nhiều công trình, dự án của thành phố và Trung ương đầu tư trên địa bàn đã đưa vào sử dụng như: sân bay Cần Thơ giai đoạn 1, cầu Cần Thơ, quốc lộ 1A, Trung tâm điện lực Ô Môn, dự án nâng cấp đô thị giai đoạn I và nhiều tuyến giao thông quan trọng… tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Công tác quy hoạch, thực hiện
và quản lý quy hoạch được thường xuyên cập nhật, điều chỉnh, bổ sung phù hợp
Trang 3628
với yêu cầu phát triển của thành phố Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt nhiệm vụ điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng thành phố Cần Thơ đến năm 2030 Việc cải
tạo, nâng cấp, chỉnh trang đô thị theo hướng “sáng, xanh, sạch, đẹp” được quan
tâm, nhiều khu đô thị, khu dân cư, khu tái định cư, hạ tầng giao thông được xây dựng mới làm thay đổi đáng kể diện mạo của thành phố
Hoạt động đối ngoại và kinh tế đối ngoại: Hoạt động đối ngoại tiếp tục được đẩy mạnh và đạt kết quả khả quan Thành phố cử nhiều đoàn cán bộ đi công tác nước ngoài, chủ yếu hội thảo, trao đổi hợp tác, xúc tiến đầu tư, thi đấu thể thao…; đồng thời, đón nhiều đoàn công tác của nước ngoài, gồm tập đoàn lớn, cơ quan đại diện ngoại giao, tổ chức phi chính phủ có uy tín, chính quyền các thành phố lớn ở các nước đến làm việc, tìm hiểu cơ hội đầu tư, qua đó ký kết và thực hiện nhiều thỏa thuận quan trọng, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội
Quan hệ kinh tế đối ngoại ngày càng được mở rộng, thành phố có quan hệ xuất khẩu với gần 100 quốc gia và vùng lãnh thổ, tập trung các nước khu vực Châu
Á (chiếm 50,6%), Châu Mỹ (19,2%), Châu Âu (13%) Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) giai đoạn 2011-2015 thu hút 38 dự án, với tổng vốn đăng ký 391 triệu USD, vốn thực hiện chiếm 43,5% tổng vốn đăng ký Việc huy động nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) cho đầu tư hạ tầng giao thông, đô thị, hỗ trợ giảm nghèo, phát triển các lĩnh vực xã hội được tăng cường, góp phần nâng cao đời sống người dân, cải thiện cơ sở hạ tầng đô thị, nông thôn Trong 5 năm, giải ngân các dự án ODA trên 217 triệu USD, tiếp nhận từ nguồn vốn viện trợ phi chính phủ (NGO) gần 7 triệu USD [38, tr.13]
Giáo dục - đào tạo có nhiều tiến bộ Cơ sở vật chất trường học tiếp tục được đầu tư, phát triển theo hướng kiên cố hóa và chuẩn hóa, xây dựng mới 140 trường đạt chuẩn quốc gia, nâng tổng số trường đạt chuẩn lên 192 trường, đạt 43% tổng số trường [38, tr.14] Việc huy động học sinh đến lớp đúng độ tuổi ở các cấp học đạt mục tiêu nghị quyết đề ra, thành phố được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục
Trang 3729
mầm non cho trẻ em 5 tuổi; Đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục được đào tạo đạt chuẩn, chất lượng dạy và học được nâng lên Hệ thống các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề trên địa bàn tiếp tục phát triển, nâng cấp, mở rộng, đáp ứng nhu cầu đào tạo cho cả vùng đồng bằng sông Cửu Long
Hoạt động khoa học và công nghệ tiếp tục có chuyển biến mạnh Nhiều hoạt động liên kết, hợp tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học trên lĩnh vực công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, công nghệ chế biến và bảo quản nông sản, y tế kỹ thuật cao mang lại hiệu quả thiết thực
Quan tâm chăm lo đảm bảo phúc lợi xã hội và an sinh xã hội, vận động các cấp, các ngành, doanh nghiệp và hỗ trợ từ ngân sách nhà nước đóng góp kinh phí
để xây mới, sửa chữa trên 2.000 căn nhà tình nghĩa cho đối tượng người có công với cách mạng; xây dựng 8.000 căn nhà đại đoàn kết cho hộ nghèo; tỷ lệ giảm nghèo hàng năm đều đạt và vượt chỉ tiêu Nghị quyết đề ra, góp phần hạ tỷ lệ hộ
nghèo của thành phố còn 1,84% vào năm 2015 [38, tr.15] Giải quyết việc làm và
đào tạo nghề được thực hiện tốt, cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng giảm dần
tỷ trọng lao động khu vực nông nghiệp, đạt chỉ tiêu nghị quyết đề ra
Tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị tiếp tục được sắp xếp kiện toàn theo hướng tinh gọn, hiệu quả Hệ thống tổ chức bộ máy chính quyền các cấp được củng cố, kiện toàn theo hướng giảm dần đầu mối, phân định rõ chức năng, nhiệm vụ; Phương thức lãnh đạo của các cấp ủy Đảng không ngừng đổi mới, phân định rõ vai trò lãnh đạo của Đảng, điều hành của chính quyền, vai trò kiểm tra, giám sát của Hội đồng nhân dân, Mặt trận và các đoàn thể quần chúng; Công tác kiểm tra,
giám sát được tiến hành thường xuyên, chặt chẽ, bám sát phương châm “giám sát
mở rộng, kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm theo từng lĩnh vực cụ thể”, coi trọng
giám sát chuyên đề Hàng năm, các cấp ủy đều xây dựng chương trình kiểm tra, giám sát và tổ chức thực hiện nghiêm túc, hiệu quả
Yếu tố tâm sinh lý, tính cách của người phụ nữ
Trang 3830
- Đặc điểm tâm lý chung của người phụ nữ
Người nữ có sứ mệnh đặc biệt đó là làm vợ, làm mẹ, duy trì nòi giống
và giáo dục con cái nên người Vì trách nhiệm cao cả đó, nên tạo hoá đã cấu tạo người nữ khác biệt người nam về đặc điểm cơ thể, yếu tố tâm sinh lý Người nữ thường có thân hình mảnh mai, đường nét đều đặn và hấp dẫn Sức nặng của bộ xương và bắp thịt nhẹ hơn đàn ông, nên thân thể họ rất mềm mại, uyển chuyển, dẻo dai và đầy quyến dũ Người nữ chỉ có bộ xương chậu là nở nang, và đã được cấu tạo để mang đứa bé trong tương lai khi họ làm mẹ Họ không được khỏe mạnh như người nam, vì xét một cách tổng thể, ở người nữ, nhất là thần kinh hệ, các cơ quan sinh dục và các bộ phận khác đểu được hoạt động tùy theo ảnh hưởng của từng thời
kỳ (như thời kỳ kinh nguyệt, thời kỳ trứng rụng, mang thai, sinh nở, cho con bú)
Người nữ thường thích những cảm giác nhẹ nhàng về âm thanh, mầu
sắc, mùi vị Chẳng hạn như họ phân biệt được thứ lụa này mịn mặt hơn thứ lụa
kia Khi bị va chạm với những cảm giác mạnh, họ thấy bực tức khó chịu Họ thường thích những cảm giác êm dịu như được vuốt ve, được nghe ngâm thơ, nghe nhạc buồn Cử chỉ của họ thì mềm mại yêu kiều, khéo léo nên người nữ thích ứng vào những việc lặt vặt như đan, thêu, may vá, trang hoàng nhà cửa, chăm sóc con cái Giọng nói của họ đượm nhiều tình cảm, nhiều ý vị, uyển chuyển, ngọt ngào, nhỏ nhẹ (nhất là người phụ nữ Nam Bộ lại có đặc trưng về giọng nói nhẹ nhàng, ngọt ngào), tạo ra bầu không khi vui tươi cho gia đình Tóm lại, tâm lý của phái nữ là thụ động và chấp nhận
- Tính cách người Cần Thơ
Do đặc điểm của Cần Thơ trong quá trình hình thành và phát triển, người Cần Thơ vừa giữ gìn, phát huy truyền thống văn hóa dân tộc và bản sắc văn hóa vùng “sông nước, miệt vườn”, vừa có điều kiện giao thoa, tiếp biến với văn hóa, văn minh phương Tây khá sớm và chính đặc điểm này, đã tạo cơ sở hình thành nên
Trang 3931
tính cách truyền thống của người Cần Thơ nói chung, trong đó có người phụ nữ
Cần Thơ nói riêng [7, tr.6]:
Một là, người Cần Thơ coi trọng nhân nghĩa, hào hiệp, mến khách, thái độ
bộc trực, yêu quê hương, xứ sở, trọng tình nghĩa xóm làng: “bán anh em xa mua
láng giềng gần”, “tối lửa tắt đèn có nhau”
Hai là, người Cần Thơ rất coi trọng những người có đức, có tài, có công
khai phá để lập nên làng ấp; trọng điều nhân nghĩa thể hiện ở lòng thờ kính những người có công với dân, với nước; thờ cúng tổ tiên, hiếu thảo với ông bà, cha mẹ; xây dựng gia đình hạnh phúc; biết kính trên nhường dưới; tôn sư trọng đạo; trọng đạo nghĩa vợ chồng; có tấm lòng vị tha, sống có nghĩa tình với nhau; thân thiện,
hiếu khách trong giao tiếp, ứng xử với mọi người
Ba là, người Cần Thơ phát huy tinh thần yêu quê hương, đất nước, kiên
cường bất khuất trong đấu tranh với với điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt của vùng đất mới; trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm giành độc lập, xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc; nhạy bén, năng động trong sự nghiệp đổi mới; thích nghi nhanh với với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế
- Đặc điểm người Cần Thơ hiện nay
Tổng hợp kết quả điều tra xã hội học do Ban Tuyên giáo Thành ủy Cần Thơ thực hiện cho thấy hiện nay người Cần Thơ có những biểu hiện về ưu điểm, hạn
chế sau [7, tr.7]:
Thứ nhất, người Cần Thơ phát huy tinh thần yêu quê hương, đất nước; có ý
thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bản sắc văn hóa “sông nước, miệt vườn”; có ý thức tôn trọng, tôn tạo, xây dựng nhiều di tích văn hóa - nghệ thuật, truyền thống cách mạng; duy trì các lễ hội truyền thống của địa phương; thờ kính tổ tiên, hiếu thảo với ông bà, cha mẹ, chăm sóc nuôi dạy con cháu trưởng
thành; tích cực tham gia phong trào đền ơn, đáp nghĩa, từ thiện, nhân đạo
Trang 4032
Thứ hai, người Cần Thơ tích cực học tập, quán triệt và vận dụng sáng tạo
đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước vào điều kiện
cụ thể của thành phố; chủ động, tích cực đề xuất với Trung ương những cơ chế, chính sách quan trọng, có tính chất quyết định sự phát triển của thành phố Chủ động, tích cực hợp tác, liên kết với nhiều địa phương trong nước và hợp tác quốc
tế
Thứ ba, người Cần Thơ thích ứng nhanh với cơ chế kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa; có ý thức cao trong việc thực thi Hiến pháp, pháp luật
Tôn trọng đạo nghĩa, sống có nghĩa tình, lấy chữ “tín” để tin nhau trong cuộc sống
Thứ tư, Cần Thơ đã phát huy nguồn lực của đội ngũ nhà giáo, đội ngũ trí
thức, nhà khoa học, văn nghệ sĩ trên địa bàn để đào tạo nguồn nhân lực có trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ, nhạy bén tiếp thu, ứng dụng thành tựu khoa học
và công nghệ, tinh hoa văn hóa nhân loại để tạo ra những giá trị mới phục vụ sự phát triển của sản xuất và đời sống
Thứ năm, môi trường kinh tế, xã hội phát triển năng động, tốc độ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, người Cần Thơ vừa thích nghi nhanh, vừa chăm chỉ chí thú, năng động trong học tập, công tác, sản xuất, kinh doanh, có tinh thần, ý chí vươn lên thoát nghèo, cải thiện đời sống của bản thân và
gia đình
Tuy vậy, một bộ phận người Cần Thơ hiện nay có biểu hiện một số hạn chế như: thỏa mãn với những gì đã đạt được, tính cục bộ địa phương, trình độ học vấn chưa nổi trội, trình độ ngoại ngữ còn hạn chế, thiếu tự tin, còn e ngại, né tránh những vấn đề liên quan đến chính trị, ý thức bảo vệ môi trường, trật tự, kỷ cương
đô thị trong một bộ phận người dân còn hạn chế
Vị trí và môi trường làm việc
- Thứ nhất, đối với những phụ nữ ở vùng nông thôn, hầu hết họ tham gia
công việc làm nông, chiếm đến 50,2% lực lượng lao động trong khu vực nông, lâm,