1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Mối quan hệ tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở an giang hiện nay

101 334 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

4 LỜI CAM ĐOAN *** Tôi xin cam đoan luận văn Thạc sĩ “Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở An Giang hiện nay” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi trên cơ s

Trang 1

MỐI QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

VÀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI Ở AN GIANG HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

MỐI QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

VÀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI Ở AN GIANG HIỆN NAY

Chuyên ngành : Triết học

Mã số : 60.22.03.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS VÕ VĂN THẮNG

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các thầy cô của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tận tâm truyền đạt kiến thức và tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình Cao học ngành Triết học

Xin chân thành cảm ơn sâu sắc và kính trọng đến thầy PGS.TS Võ Văn Thắng, người thầy đã nhiệt tình chỉ dẫn tôi trong suốt quá trình xây dựng đề cương và giúp tôi thực hiện hoàn thành luận văn này

Chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian làm luận văn

Học viên

Nguyễn Thị Kim Phụng

Trang 4

4

LỜI CAM ĐOAN

***

Tôi xin cam đoan luận văn Thạc sĩ “Mối quan hệ giữa tăng trưởng

kinh tế và công bằng xã hội ở An Giang hiện nay” là công trình nghiên cứu

của cá nhân tôi trên cơ sở các lý thuyết đã học, nghiên cứu, khảo sát thực tiễn

và được hướng dẫn bởi PGS TS Võ Văn Thắng

Các kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào Các tư liệu, tài liệu tham khảo từ các nghiên cứu trước đều được ghi chú dẫn nguồn đầy đủ theo quy định

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính trung thực của luận văn

Học viên

Nguyễn Thị Kim Phụng

Trang 5

5

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa………1

Lời cảm ơn……… 3

Lời cam đoan………4

Mục lục……….5

Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt……… 9

Danh mục các hình vẽ, đồ thị……… 10

MỞ ĐẦU……….11

NỘI DUNG……….18

Chương 1 Cơ sở khoa học của mối quan hệ tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở tỉnh An Giang hiện nay……….18

1.1 Cơ sở lý luận của mối quan hệ tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở tỉnh An Giang hiện nay……… 18

1.1.1 Một số nội dung cơ bản về tăng trưởng kinh tế………18

1.1.1.1 Khái niệm, bản chất của tăng trưởng kinh tế……… 18

1.1.1.2 Các nhân tố tác động đến tăng trưởng kinh tế………18

1.1.1.3 Vai trò của tăng trưởng kinh tế………23

1.1.1.4 Các tiêu chí đo lường tăng trưởng kinh tế……… 25

1.1.2 Một số nội dung cơ bản về công bằng xã hội………26

1.1.2.1 Khái niệm, bản chất của công bằng xã hội……….26

1.1.2.2 Các nhân tố tác động đến công bằng xã hội………29

1.1.2.3 Vai trò của công bằng xã hội……… 33

1.1.2.4 Các tiêu chí đo lường công bằng xã hội……… 35

1.1.3 Mối quan hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội………37

1.1.3.1 Tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo……… .37

Trang 6

6

1.1.3.2 Bất bình đẳng và nghèo đói trong tăng trưởng kinh tế…… 38

1.1.3.3 Tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu nhập……… 39

1.2 Cơ sở thực tiễn của mối quan hệ tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở tỉnh An Giang hiện nay………43

1.2.1 Khái quát về tỉnh An Giang……… 43

1.2.1.1 Đặc điểm tự nhiên………43

1.2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội ………45

1.2.2 Sự cần thiết gắn tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội ở tỉnh An Giang hiện nay………56

1.2.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở tỉnh An Giang hiện nay……… 58

1.2.3.1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế……… 58

1.2.3.2 Chất lượng nguồn nhân lực……….58

1.2.3.3 Sự phát triển không đồng đều giữa các vùng kinh tế và tỷ lệ hộ nghèo……… 59

1.2.3.4 Hạ tầng kinh tế - xã hội………60

1.2.3.5 Trình độ học vấn……… 60

Tiểu kết Chương 1……… 61

Chương 2 Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở tỉnh An Giang – thực trạng và giải pháp………62

2.1 Thực trạng của mối quan hệ tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở tỉnh An Giang hiện nay……… 62

2.1.1 Thành tựu của mối quan hệ tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở tỉnh An Giang hiện nay……… 62

2.1.1.1 Kinh tế tăng trưởng liên tục với tốc độ khá cao, quy mô nền kinh tế được mở rộng đáng kể, tạo tiền đề thực hiện công bằng xã hội 62

Trang 7

7

2.1.1.2 Những thành tựu kinh tế góp phần bảo đảm an sinh xã hội, thực hiện công bằng xã hội ………67

2.1.2 Hạn chế của việc tăng trưởng kinh tế gắn với công bằng xã hội ở tỉnh

An Giang hiện nay……… 73

2.1.2.1 Tăng trưởng kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng 73 2.1.2.2 Thực hiện công bằng xã hội còn bất cập, độ bao phủ chưa rộng

………75

2.1.3 Nguyên nhân của những hạn chế trong mối quan hệ tăng trưởng kinh tế

và công bằng xã hội ở tỉnh An Giang hiện nay……… 76 2.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả của mối quan hệ tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở tỉnh An Giang hiện nay……….77 2.2.1 Nhóm giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững……….77

2.2.1.1 Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quy hoạch, kế hoạch đảm bảo kinh tế - xã hội phát triển toàn diện, hài hoà, đúng định hướng… 77

2.2.1.2 Giải pháp phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn 77 2.2.1.3 Giải pháp phát triển thương mại - dịch vụ……… 80 2.2.1.4 Giải pháp phát triển các thành phần kinh tế……… 82

2.2.2 Nhóm giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đẩy mạnh ứng dụng khoa học và công nghệ đáp ứng mục tiêu gắn kết hợp lý giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội………84

2.2.2.1 Giải pháp phát triển giáo dục và đào tạo………84 2.2.2.2 Nâng cao năng lực ứng dụng khoa học và công nghệ, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa……… 85

2.2.3 Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên, khoáng sản và công tác bảo vệ môi trường……….86

Trang 8

8

2.2.4 Nhóm giải pháp về nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý Nhà nước của chính quyền các cấp, đây là nhân tố quan trọng đảm bảo mục tiêu gắn kết hợp

lý giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội……….88

2.2.4.1 Giải pháp nâng cao vai trò của chính quyền các cấp……… 88

2.2.4.2 Nâng cao chất lượng công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân; thực hiện chế độ bảo hiểm y tế toàn dân………90

2.2.4.3 Giải pháp về dân số và kế hoạch hóa gia đình………91

2.2.4.4 Giải pháp phát triển văn hoá, thể dục - thể thao ……… 91

2.2.4.5 Giải pháp thực hiện các chính sách xã hội……… 93

Tiểu kết Chương 2……… 95

KẾT LUẬN……….97

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO………98

Trang 9

9

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

GDP (Gross Domestic Product) Tổng sản phẩm quốc nội

GNP (Gross National Product) Tổng sản phẩm quốc dân

GRDP (Gross Regional Domestic Product) Tổng sản phẩm trên địa bàn

HDI (Human Development Index) Chỉ số phát triển con người NNP (Net National Product) Tổng sản phẩm quốc dân thuần NNI (Net National Income) Thu nhập quốc dân ròng

NDI (Net Disposable Income) Thu nhập quốc dân sử dụng

Trang 11

cơ hội cho người nghèo vươn lên thoát khỏi nghèo đói và ngược lại, công bằng xã hội là yếu tố cơ bản để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững

Trong thực tiễn đã có nhiều bằng chứng cho thấy, sự đối lập giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội Theo đó, tăng trưởng kinh tế thường làm gia tăng tình trạng bất bình đẳng và không công bằng trong xã hội vì những người giàu sẽ được hưởng nhiều lợi ích hơn do tăng trưởng đem lại Nếu lấy kết quả tăng trưởng để giải quyết vấn đề công bằng xã hội do chính tăng trưởng gây ra có thể sẽ làm giảm hoặc triệt tiêu các yếu tố kích thích tăng trưởng Ngược lại, nếu không giải quyết vấn đề công bằng xã hội thì xã hội sẽ không ổn định và như vậy sẽ không thể có tăng trưởng bền vững

Từ những ngày đầu thành lập tỉnh An Giang đến nay, lãnh đạo Tỉnh

đã sớm nhận thức và tổ chức triển khai nghiên cứu xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội Việc thực hiện quy hoạch này đã đem lại những hiệu quả nhất định, tăng trưởng kinh tế tỉnh An Giang ngày càng cao, đời sống nhân dân ngày càng cải thiện, tỷ lệ nghèo đói giảm nhanh Tuy nhiên, do đặc điểm tự nhiên ảnh hưởng đến tình hình kinh tế - xã hội của Tỉnh, An Giang vẫn là một tỉnh có tốc độ tăng trưởng thấp và tỷ lệ nghèo đói cao trong cả nước Trong giai đoạn nền kinh tế Việt Nam đang

Trang 12

12

trên đà phát triển, hội nhập kinh tế thế giới hiện nay, một câu hỏi lớn đặt ra đối với lãnh đạo các cấp, các ngành và nhân dân tỉnh An Giang là làm thế nào để An Giang trở thành một tỉnh giàu, đẹp, phát triển vững mạnh?

Xuất phát từ những bất cập trong sự nghiệp xây dựng, phát triển kinh

tế - xã hội và xây dựng công bằng xã hội tỉnh An Giang, tôi chọn đề tài:

“Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở An Giang hiện nay” làm đề tài nghiên cứu cho Luận văn Thạc sĩ Triết học

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Việc thực hiện mối quan hệ tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội hiện nay là mục tiêu, động lực của sự phát triển xã hội trên phạm vi cả nước trong mọi lĩnh vực, ngay từng bước và từng chính sách phát triển Chính vì thế đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều lý thuyết và mô hình về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội, nhiều bài báo, hội thảo khoa học v.v đề cập vấn đề này ở các khía cạnh cũng như cách tiếp cận khác nhau Ở Việt Nam, hiện có một số công trình nghiên cứu tiêu biểu theo các nhóm chính như sau:

Một là, nhóm các công trình nghiên cứu về vấn đề “tăng trưởng kinh tế”:

Trong sách chuyên khảo Các mô hình tăng trưởng kinh tế của PGS TS

Trần Thọ Đạt (2005, NXB Thống kê, Hà Nội) đã trình bày các lý thuyết và mô hình tăng trưởng kinh tế, cung cấp cơ sở lý thuyết cho các nhà hoạch định chính sách của mỗi quốc gia dù là nước công nghiệp phát triển hay nước đang phát triển Đặc biệt là, tác giả đã cung cấp các công cụ toán học và kinh tế học

có khả năng lượng hoá sự tăng trưởng kinh tế dưới tác động của những biến đổi trong yếu tố đầu vào như lao động, vốn, khoa học - công nghệ,

Bài viết của tác giả Nguyễn Hải An (2016) trong Tạp chí kinh tế (số 14)

cho rằng, sau khi tăng trưởng mạnh trong năm 2015, tốc độ tăng trưởng kinh tế

Trang 13

13

Việt Nam đã tăng chậm hơn trong nửa đầu năm 2016, với GDP ước tính chỉ tăng 5,5% so với mức 6,3% cùng kỳ năm ngoái Để duy trì tốc độ tăng trưởng cao thì Việt Nam cần phải tiếp tục tái cơ cấu theo chiều sâu để tăng năng suất lao động

Hai là, nhóm các công trình nghiên cứu về vấn đề “công bằng xã hội”:

Nghiên cứu Vai trò của Nhà nước đối với thực hiện công bằng xã hội

trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay của tác giả Võ Thị Hoa

(2012, NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội) đã phân tích thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với Nhà nước Tác giả đề xuất những giải pháp có tính định hướng nhằm nâng cao vai trò của Nhà nước trong việc thực hiện công bằng xã hội ở nước ta hiện nay Để nâng cao hơn nữa vai trò của Nhà nước đối với việc thực hiện công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở nước ta hiện nay, tác giả cho rằng, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp về phát triển kinh tế; xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện công bằng

xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN; xây dựng bộ máy Nhà nước trong sạch, vững mạnh và hiệu quả đảm bảo thực hiện công bằng xã hội; kết hợp chặt chẽ việc xây dựng, hoàn thiện và thực hiện hệ thống chính sách kinh tế và chính sách xã hội đảm bảo thực hiện công bằng xã hội; nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước trong việc thực hiện công bằng xã hội, tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức kinh tế, xã hội tham gia giám sát và cùng Nhà nước thực hiện công bằng xã hội

Trong bài viết Vai trò của công bằng xã hội trong tiến bộ xã hội của tác giả Nguyễn Minh Hoàn (2015, Tạp chí triết học, số 43) cho rằng, công bằng

xã hội là một nguyên tắc phân phối lợi ích, thước đo của nó là sự bình đẳng trong quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ, được thực hiện dựa trên sự tự nguyện của các cá nhân Công bằng xã hội không chỉ có tác động mạnh mẽ,

Trang 14

14

tích cực trong lĩnh vực kinh tế, mà còn đóng vai trò điều chỉnh quan hệ giữa con người với con người trong các lĩnh vực chính trị, xã hội, đạo đức… Do vậy, nó vừa tạo nên trạng thái ổn định của xã hội, vừa tạo nên những điều kiện cần thiết thúc đẩy xã hội phát triển theo hướng tiến bộ Đồng thời, công bằng xã hội còn là điều kiện để mỗi cá nhân có thể phát huy cao nhất năng lực vốn có cũng như được phát triển ngày càng toàn diện hơn

Ba là, nhóm các công trình nghiên cứu về vấn đề “Tăng trưởng kinh tế

và công bằng xã hội”:

Luận văn Thạc sĩ Kinh tế của tác giả Phạm Mỹ Duyên (2006) với

nghiên cứu Tăng trưởng kinh tế với vấn đề công bằng xã hội tại thành phố Hồ

Chí Minh đã khảo sát một số yếu tố quan trọng hỗ trợ tăng trưởng kinh tế là

công bằng xã hội, yếu tố tác động thuận lợi để giúp tăng trưởng có chất lượng ngày càng cao trong phạm vi thành phố Hồ Chí Minh nhằm xem xét các yếu

tố đặc trưng trong tăng trưởng kết hợp công bằng xã hội Việc khảo sát được thực hiện thông qua phỏng vấn ý kiến thực tế của dân cư thành phố, từ đó đề xuất các biện pháp kỳ vọng giúp giải quyết tốt hơn quan hệ giữa tăng trưởng

và công bằng xã hội

Trong bài viết Kết hợp tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã

hội của tác giả Nguyễn Quốc Phẩm (2016, Tạp chí Cộng sản, số 12) cho rằng,

việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện công bằng

xã hội trong quá trình phát triển kinh tế thị trường ở nước ta vẫn còn nhiều bất cập, thể hiện rõ nhất là: khoảng cách giàu - nghèo ngày càng giãn ra, hệ thống

an sinh xã hội còn sơ khai và chưa đồng bộ, v.v Những vấn đề đó đã góp phần làm cho kinh tế phát triển chưa bền vững Vì vậy, toàn Đảng, toàn dân ta vẫn phải thường xuyên quan tâm giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với đảm bảo tiến bộ và công bằng xã hội như Nghị quyết Đại hội XI của Đảng đã khẳng định Việc giải quyết mối quan hệ đó theo tinh thần Đại

Trang 15

15

hội XI là phải “trong từng chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và từng giai đoạn phát triển” [29] Bởi lẽ, tiến bộ và công bằng xã hội vừa là điều kiện bảo đảm cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế, vừa là một mục tiêu thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ XHCN mà chúng ta phải hiện thực hóa trong suốt thời kỳ quá độ Nhà nước ta đang tiếp tục thực hiện nhiều chủ trương, chính sách nhằm tạo môi trường và điều kiện để mọi người lao động

có việc làm và thu nhập tốt hơn; khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với giảm nghèo bền vững; có chính sách điều tiết hợp lý thu nhập trong xã hội; đặc biệt coi trọng phát triển mạng lưới an sinh xã hội, v.v Đó là những việc làm thực sự coi “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời

là chủ thể phát triển” [29]

3 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở lý luận và thực tiễn nghiên cứu đề tài, phân tích và đánh giá một cách khách quan về thực trạng kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội tại tỉnh An Giang, những thành tựu đạt được, những mặt hạn chế

và những vấn đề đặt ra nhằm đề ra giải pháp phù hợp trong việc kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội tại tỉnh An Giang hiện nay

Kh ch thể và đối t ng nghiên cứu

Khách thể nghiên cứu: Vấn đề tăng trưởng kinh tế và vấn đề công

bằng xã hội ở tỉnh An Giang

Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu được xác định là mối

quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với vấn đề công bằng xã hội ở tỉnh An Giang

Gi thuyết ho học

Hiện nay, An Giang đang là một tỉnh có tốc độ tăng trưởng thấp và tỷ

lệ nghèo đói cao trong cả nước Nếu việc giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội là mục tiêu để phát triển kinh tế

Trang 16

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

Làm rõ các khái niệm cơ bản như tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội, đồng thời khái quát những đặc điểm nổi bật về kinh tế, chính trị, văn hóa,

xã hội của tỉnh An Giang

Phân tích thực trạng việc tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội tỉnh

Trang 17

17

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn được bố cục làm 2 chương, 4 tiết

10 Những lu n điểm c b n và đóng góp m i của lu n văn

10.1 Những luận điểm cơ bản

Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội vừa là mục tiêu, vừa

là động lực của sự phát triển xã hội Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, việc thực hiện công bằng xã hội phải tạo ra động lực để tăng trưởng kinh tế chứ không phải là nguyên nhân kìm hãm tăng trưởng kinh tế

Thứ hai, để công bằng xã hội trở thành động lực phát triển kinh tế trong

nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, cần phải gắn quyền lợi với nghĩa

vụ, cống hiến với hưởng thụ

Thứ ba, thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội

trên phạm vi cả nước, ở mọi lĩnh vực, địa phương ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển

Thứ tư, bảo đảm sự thống nhất giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện

công bằng xã hội nhằm phát triển xã hội mà trung tâm là phát triển con người, phát huy nhân tố con người

10.2 Đóng góp mới của luận văn

Luận văn góp phần phân tích, đánh giá thực trạng giải quyết mối quan

hệ này trên địa bàn tỉnh An Giang qua các số liệu, dữ liệu thu thập để từ đó đánh giá những kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế của quá trình hoạch định và thực thi các chính sách về kinh tế xã hội của Tỉnh

Luận văn có thể là tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu, giảng dạy và

học tập cho sinh viên chuyên ngành Triết học

Trang 18

18

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA MỐI QUAN HỆ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

VÀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI Ở AN GIANG HIỆN NAY

1.1 C sở lý lu n của mối quan hệ tăng t ởng kinh tế và công bằng xã hội ở tỉnh An Giang hiện nay

1.1.1 Một số nội dung cơ bản về tăng trưởng kinh tế

1.1.1.1 Khái niệm, bản chất của tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng tổng sản phẩm quốc dân trong một thời kỳ nhất định Đó là sự tăng lên các yếu tố của quá trình sản xuất, do đó tăng lên về số lượng và chất lượng sản phẩm xã hội Tăng trưởng kinh tế có thể diễn ra theo hai hướng: thứ nhất là tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng và thứ hai là tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu

Tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng là tăng về số lượng các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất (như lao động, đất đai, tiền vốn) trên cơ sở kỹ thuật sản xuất cũ

Tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu là sự phát triển sản xuất trên cơ sở hoàn thiện các yếu tố sản xuất như sử dụng các tư liệu sản xuất tiến bộ, các đối tượng lao động ít tốn kém, nâng cao trình độ người lao động, sử dụng có hiệu quả các tiềm năng sản xuất,…

Trên thực tế, việc tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng và tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu kết hợp với nhau và được sử dụng theo hướng phù hợp với điều kiện cụ thể của từng nước ở các giai đoạn khác nhau

1.1.1.2 Các nhân tố tác động đến tăng trưởng kinh tế

Theo C Mác các yếu tố của quá trình tái sản xuất là: đất đai, lao động, tiền vốn và tiến bộ kỹ thuật Trong đó, ông đặc biệt quan tâm đến vai trò của lao động trong việc tạo ra giá trị thặng dư C Mác cho rằng, sức lao động đối

Trang 19

Trong giai đoạn hiện nay, tăng trưởng kinh tế chịu tác động của nhiều nhân tố khác nhau, nhưng có thể phân nhóm các nhân tố đó thành hai nhóm với các nhân tố kinh tế và nhân tố phi kinh tế

Nhóm các nhân tố kinh tế tác động tăng trưởng kinh tế là những nhân tố

có tác động trực tiếp đến các yếu tố đầu vào và đầu ra của nền kinh tế, bao

gồm vốn, lao động, tiến bộ công nghệ và tài nguyên

+ Vốn là yếu tố vật chất đầu vào quan trọng, có tác động trực tiếp đến

tăng trưởng kinh tế Vốn sản xuất có liên quan trực tiếp đến tăng trưởng kinh

tế được hiểu là vốn vật chất chứ không phải dưới dạng tiền (giá trị) Nó là toàn bộ tư liệu vật chất được tích lũy lại của nền kinh tế, bao gồm: nhà máy, thiết bị, máy móc, nhà xưởng và các trang thiết bị được sử dụng như những yếu tố đầu vào trong sản xuất

+ Lao động là yếu tố đầu vào không thể thiếu của sản xuất Trước đây,

người ta chỉ quan niệm lao động là yếu tố vật chất giống như vốn và được xác định bằng số lượng lao động của mỗi quốc gia (có thể tính bằng đầu người hay thời gian lao động) Những mô hình tăng trưởng kinh tế hiện đại gần đây

đã nhấn mạnh đến khía cạnh phi vật chất của lao động là vốn nhân lực, đó là lao động có kỹ năng sản xuất, lao động có thể vận hành máy móc thiết bị

Trang 20

20

phức tạp, lao động có sáng kiến và phương pháp mới trong hoạt động kinh tế… Hiện nay, tăng trưởng kinh tế của các nước đang phát triển được đóng góp bởi quy mô (số lượng) lao động, còn vốn nhân lực có vị trí chưa cao do trình độ và chất lượng nguồn nhân lực của các nước này còn thấp

+ Tiến bộ công nghệ là nhân tố tác động ngày càng mạnh đến tăng

trưởng ở các nền kinh tế ngày nay Yếu tố công nghệ cần được hiểu đầy đủ

theo hai dạng: thứ nhất, đó là những thành tựu kiến thức, tức là nắm bắt kiến

thức khoa học, nghiên cứu đưa ra những nguyên lý, thử nghiệm và cải tiến

sản phẩm, quy trình công nghệ hay thiết bị kỹ thuật; thứ hai, là sự áp dụng

phổ biến các kết quả nghiên cứu, thử nghiệm vào thực tế nhằm nâng cao trình

độ phát triển chung của sản xuất Vai trò của công nghệ đã được nhiều nhà kinh tế nổi tiếng đánh giá cao đối với tăng trưởng như Solow (1956) Solow cho rằng, toàn bộ tăng trưởng bình quân đầu người trong dài hạn đều thu được nhờ tiến bộ kỹ thuật

+ Tài nguyên bao gồm đất đai và các nguồn lực sẵn có trong tự nhiên

Các nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào, phong phú được khai thác tạo điều kiện tăng sản lượng đầu ra một cách nhanh chóng, nhất là đối với các nước đang phát triển Song, nguồn tài nguyên thì có hạn, không thể tái tạo được hoặc nếu tái tạo được phải mất nhiều thời gian, sức lực và chi phí Do đó, tài nguyên được đưa vào sử dụng để tạo ra sản phẩm cho xã hội càng nhiều càng tốt nhưng phải đảm bảo chúng được sử dụng có hiệu quả, không lãng phí Việc sử dụng tài nguyên là vấn đề có tính chiến lược, lựa chọn công nghệ để

có thể sử dụng hiệu quả và tiết kiệm tài nguyên của quốc gia là vấn đề sống còn của phát triển

Nhóm các nhân tố phi kinh tế: khác với các nhân tố kinh tế, các nhân tố

chính trị, xã hội, thể chế hay còn gọi là các nhân tố phi kinh tế, có tác động gián tiếp và rất khó lượng hóa mức độ tác động của chúng đến tăng trưởng

Trang 21

21

kinh tế Có thể kể ra một số nhân tố phi kinh tế tác động đến tăng trưởng như: vai trò của Nhà nước, các yếu tố văn hóa – xã hội, thể chế, cơ cấu dân tộc tôn giáo và sự tham gia của cộng đồng

+ Nhà nước ngày nay là yếu tố vật chất thực sự cho quá trình tăng

trưởng và mọi quốc gia không thể coi nhẹ vấn đề này Nhà nước và khuôn khổ pháp lý không chỉ là yếu tố đầu vào mà còn là yếu tố của cả đầu ra trong quá trình sản xuất Trong nhiều trường hợp, một sự phân bổ hiệu quả các nguồn lực và kết quả đầu ra sẽ khó đạt được nếu không có sự can thiệp của chính phủ Thomas, Dailami và Dhareshwar (2004) cũng đã chỉ ra tác động tích cực của quản lý Nhà nước đối với tăng trưởng kinh tế về số lượng và chất lượng Sự quản lý hiệu quả của Nhà nước vào quá trình tăng trưởng có thể xem xét thông qua các tiêu chí là ổn định vĩ mô, ổn định chính trị, xây dựng thể chế và hiệu lực của hệ thống pháp luật Triển vọng tăng trưởng được duy trì trong tương lai ở mức cao sẽ dễ đạt được hơn ở những nước có thể chế và quy định minh bạch, rõ ràng, tính thực thi của pháp luật cao, có bộ máy Nhà nước ít quan liêu, tham nhũng, đồng thời tạo điều kiện cho mọi công dân thực hiện tốt các quyền của họ

+ Văn hóa – xã hội là nhân tố quan trọng, tác động nhiều tới quá trình

phát triển của mỗi quốc gia Nhân tố văn hóa – xã hội bao trùm nhiều mặt, từ tri thức phổ thông đến những tích lũy tinh hoa của văn minh nhân loại về khoa học, công nghệ, văn học, lối sống, phong tục tập quán,… Trình độ văn hóa cao đồng nghĩa với trình độ văn minh và sự phát triển cao của mỗi quốc gia Nhìn chung, trình độ văn hóa của mỗi dân tộc là nhân tố cơ bản để tạo ra các yếu tố về chất lượng lao động, kỹ thuật, trình độ quản lý Xét trên khía cạnh kinh tế hiện đại, nó là nhân tố cơ bản của mọi nhân tố dẫn đến quá trình phát triển

+ Thể chế được hiểu là các ràng buộc do con người tạo ra nhằm quy

Trang 22

22

định cấu trúc tương tác giữa người với người Các thể chế chính trị – xã hội được thừa nhận có tác động đến quá trình phát triển đất nước, đặc biệt thông qua việc tạo dựng hành lang pháp lý và môi trường đầu tư Vì nền tảng của kinh tế thị trường là dựa trên sự trao đổi giữa các cá nhân và các nhóm người với nhau Nếu không có thể chế thì các hoạt động này không thể diễn ra, bởi

vì người này không thể tương tác với người kia mà không có chế tài nào đó ngăn cản người kia hành động tùy tiện và ngược lại với thoả thuận Các cá nhân và doanh nghiệp chỉ có thể mua, bán, thuê mướn hợp đồng, đầu tư, nếu

họ có một mức độ tin tưởng nhất định rằng, các thoả thuận hợp đồng của họ

sẽ được thực hiện (Kasper và Streit, 1998) Theo họ, các cá nhân tham gia giao dịch thường không có đủ thông tin Do đó, sẽ có các chi phí phát sinh, gọi là chi phí giao dịch Tất cả các chi phí này liên quan đến thể chế Một thể chế không tốt sẽ làm cho chi phí thực thi các hợp đồng cao và như vậy sẽ không khuyến khích các giao dịch kinh tế Hơn nữa, một cấu trúc thể chế tốt

sẽ tạo ra sự khuyến khích nhất định, ảnh hưởng quyết định đến việc phân bổ nguồn lực con người theo hướng tốt hay xấu cho tăng trưởng kinh tế Baumol (1990, 1993) cho rằng, nếu một thể chế không khuyến khích một tài năng kinh doanh sáng tạo mà chỉ khuyến khích tái phân phối, tìm kiếm đặc lợi thì tăng trưởng sẽ thấp xuống Theo các tác giả Knack và Keefer (1995), để đánh giá chất lượng của thể chế có thể sử dụng bốn tiêu chí để đo lường: (1) Tham nhũng, (2) Chất lượng bộ máy hành chính, (3) Tuân thủ pháp luật và (4) Bảo

vệ quyền tài sản

+ Về nhân tố dân tộc và tôn giáo: Nhìn chung, một nước càng đa dạng

về các thành phần tôn giáo và sắc tộc thì đất nước đó càng tiềm ẩn bất ổn về chính trị và xung đột trong nước Những xung đột và bất ổn chính trị trong nước này có thể dẫn đến các xung đột bạo lực và thậm chí là các cuộc nội chiến, dẫn tới tình trạng lãng phí các nguồn lực quý giá đáng ra phải sử dụng

Trang 23

23

để thúc đẩy các mục tiêu phát triển khác Chẳng hạn như, cuộc chiến ở Afganistan, Sri Lanca, các xung đột ở Indonesia, Thái Lan,…; ngược lại, một đất nước càng đồng nhất thì càng có điều kiện đạt được các mục tiêu phát triển của mình, chẳng hạn như Hàn Quốc, Hồng Kông hay Đài Loan

1.1.1.3 Vai trò của tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế là tiền đề của phát triển kinh tế:

Khi so sánh giữa tăng trưởng và phát triển kinh tế, chúng ta thấy, tăng trưởng kinh tế chỉ là một nội dung của phát triển kinh tế Phát triển kinh tế không chỉ đòi hỏi tăng trưởng kinh tế một cách đơn thuần mà đòi hỏi tăng trưởng kinh tế phải ổn định và dài hạn

Phát triển kinh tế là sự thay đổi theo hướng tiến bộ về mọi mặt của nền kinh tế, là quá trình hoàn thiện cả về kinh tế và xã hội của mỗi quốc gia, trước hết phải có tăng trưởng kinh tế Quốc gia có tăng trưởng kinh tế thì GDP, GNP, tài sản quốc gia, ngân sách quốc gia, thu nhập của người dân tăng, Nhà nước gia tăng nguồn thu, tiềm lực tài chính mạnh hơn Lúc đó, Nhà nước ngoài tăng đầu tư vào lĩnh vực kinh tế, có thể đầu tư vào các lĩnh vực khác như giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao, Cho nên, thông qua tăng trưởng kinh

tế, quốc gia không chỉ đạt được tiến bộ về mặt kinh tế mà còn đạt được sự tiến

bộ về mặt xã hội Do vậy, tăng trưởng kinh tế là điều kiện cần để có thể phát triển kinh tế, nếu không có tăng trưởng kinh tế thì không bao giờ có phát triển kinh tế, cũng như nếu không có vốn thì không thể mở rộng sản xuất, không thể đầu tư cho phát triển giáo dục, y tế, Tăng trưởng kinh tế ổn định và dài hạn sẽ có tích lũy ổn định để đầu tư nhưng đầu tư có độ trễ, tức là đầu tư hôm nay sẽ không thể cho kết quả, sản phẩm ngay Giả sử chúng ta đầu tư sản xuất, năm nay đầu tư giải phóng mặt bằng và xây dựng nhà xưởng, sang năm mới nhập máy móc thiết bị về đào tạo lao động, tổ chức sản xuất, đến sang năm tiếp theo mới có kết quả sản xuất

Trang 24

24

Như vậy, tăng trưởng kinh tế có tính không ổn định và không phải trong thời gian dài tức là, năm nay có tăng trưởng, năm sau không có tăng trưởng thì thu nhập của người dân giảm, ngân sách quốc gia giảm, tiềm lực tài chính kém đi; lúc đó sự đầu tư có thể dở dang, kết quả sản lượng kinh tế không tăng lên và nền kinh tế tăng trưởng không bền vững Do vậy, để đạt được sự thay đổi theo hướng tiến bộ về mọi mặt cho nền kinh tế thì tăng trưởng kinh tế phải liên tục, ổn định trong dài hạn Có như vậy mới tạo sự tích luỹ ổn định đủ về lượng để tạo ra sự biến đổi tích cực về chất

Tăng trưởng kinh tế giúp chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội:

Cơ cấu kinh tế bao gồm: cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu vùng kinh tế và

cơ cấu thành phần kinh tế Nhưng ở đây, chúng ta chủ yếu nói đến ngành kinh

tế, tức là đề cập các ngành trong nền kinh tế và tỷ trọng các ngành trong nền kinh tế Cơ cấu ngành kinh tế chuyển dịch kéo theo cơ cấu lao động theo ngành chuyển dịch, tức là thay đổi theo hướng tỷ trọng lao động trong ngành nông nghiệp giảm dần, tỷ trọng lao động trong ngành công nghiệp và dịch vụ tăng lên Cơ cấu xã hội chuyển dịch: cơ cấu dân cư theo vùng chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng khu vực thành thị, giảm dần dân cư khu vực nông thôn

Tăng trưởng kinh tế giúp cho chất lượng cuộc sống của người dân được cải thiện và nâng cao:

Mục tiêu của tăng trưởng kinh tế là cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống của đại bộ phận dân cư, cụ thể là giảm tỷ lệ thất nghiệp, tỷ lệ nghèo đói, thu nhập người dân được đảm bảo, môi trường sống trong sạch và lành mạnh, dân cư được tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục, nước sạch, thông tin, Mọi nỗ lực của Nhà nước nhằm làm tăng trưởng kinh tế để nâng cao thu nhập bình quân đầu người, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ nhằm gia tăng năng lực nội sinh và cũng nhằm đạt được mục đích là chất lượng cuộc

Trang 25

25

sống của đại bộ phận dân cư được cải thiện sâu rộng mọi khía cạnh Những quốc gia tạo ra tăng trưởng kinh tế mà chỉ làm giàu cho một nhóm người, còn đại bộ phận dân cư không được hưởng lợi hoặc hưởng rất ít, dẫn đến chất lượng cuộc sống không được cải thiện, tỷ lệ nghèo đói và tỷ lệ thất nghiệp vẫn còn cao, tệ nạn xã hội, bất bình đẳng và sự phân hoá giàu nghèo gia tăng thì nền kinh tế đó không được gọi là tăng trưởng và phát triển

1.1.1.4 Các tiêu chí đo lường tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế được đo lường thông qua các tiêu chí như sau:

Tổng sản phẩm trong nước (GDP - Gross Domestic Product) là tổng

giá trị hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được tạo ra trong phạm vi lãnh thỗ quốc gia trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm) Đây là tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ được tạo ra bên trong lãnh thổ một quốc gia, bất kể người sản

xuất thuộc quốc tịch nào

Tổng sản phẩm quốc dân (GNP-Gross National Product) là tổng giá trị

hàng hóa và dịch vụ cuối cùng mà một quốc gia tạo ra trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm) bằng các yếu tố sản xuất của mình Đây là tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ do những người cùng quốc tịch tạo ra, bất kể hoạt động sản xuất kinh doanh được tiến hành ở trong hay ngoài biên giới quốc

gia

Giữa GNP và GDP của một nước có phần chênh lệch giữa thu nhập của công dân nước đó ở nước ngoài và công dân nước ngoài ở nước đó Người ta dùng khái niệm thu nhập ròng từ tài sản nước ngoài để chỉ phần chênh lệch này

GNP = GDP + Thu nhập ròng từ tài sản nước ngoài

Trong đó, thu nhập ròng từ tài sản nước ngoài = giá trị sản phẩm do người dân nước đó chuyển từ nước ngoài về + giá trị sản phẩm của các khoản thu nhập do đầu tư ra nước ngoài – giá trị tài sản trả cho người nước ngoài

Trang 26

26

đầu tư vào trong nước đó

Tổng sản phẩm quốc dân thuần (NNP - Net National Product) là phần

còn lại của GNP tính theo phương pháp thu nhập sau khi loại đi khấu hao

Thu nhập quốc dân ròng (NNI - Net National Income) và thu nhập quốc dân sử dụng (NDI - Net Disposable Income):

Thu nhập quốc dân ròng là phần còn lại của NNP sau khi loại thuế gián thu Thu nhập quốc dân sử dụng là thu nhập thuộc quyền chi dùng của cá nhân sau khi loại trừ thuế (trực thu và gián thu) và nhận vào khoản thu nhập chuyển giao từ NNP Chỉ tiêu này cho biết khoản tiền có sẵn để hộ gia đình chi tiêu và tích lũy

1.1.2 Một số nội dung cơ bản về công bằng xã hội

1.1.2.1 Khái niệm, bản chất của công bằng xã hội

Công bằng xã hội là phạm trù mang tính lịch sử, có nội hàm khác nhau

trong những hoàn cảnh và điều kiện khác nhau Hiểu một cách khái quát,

“Công bằng xã hội nói tới một xã hội đạt được sự công bằng ở mọi khía cạnh của đời sống xã hội Đó là một xã hội có thể cho phép mọi cá nhân và nhóm

xã hội được đối xử công bằng và hưởng thụ công bằng những lợi ích của xã hội” [35, tr 1] Các thuật ngữ “đối xử công bằng” và “hưởng thụ công bằng” cũng có thể được diễn giải theo các nghĩa khác nhau ở những hoàn cảnh và

điều kiện khác nhau

Công bằng xã hội cũng có thể được hiểu là một giá trị cơ bản định hướng việc giải quyết mối quan hệ giữa người với người trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội theo nguyên tắc: cống hiến về vật chất và tinh thần ngang nhau cho sự phát triển xã hội thì được hưởng thụ ngang nhau những giá trị vật chất và tinh thần do xã hội tạo ra, phù hợp với khả năng hiện thực của

xã hội Đó là một giá trị cơ bản trong các quan hệ xã hội như: quan hệ giữa mức độ lao động và mức độ thu nhập; quan hệ giữa quyền sở hữu tư liệu sản

Trang 27

27

xuất và quyền định đoạt sự sản xuất và phân phối; quan hệ giữa mức độ phạm tội và mức độ bị trừng phạt; quan hệ giữa các thành viên của xã hội với hoàn cảnh kinh tế, mức độ phát triển trí lực và cơ hội tham gia vào quá trình giáo dục, khám chữa bệnh, hưởng thụ các sản phẩm văn hóa, nghệ thuật, thể dục - thể thao,

Thừa nhận nội dung cơ bản nhất của công bằng xã hội là xử lý một cách hợp lý nhất quan hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ trong điều kiện, hoàn cảnh nhất định, các nhà kinh tế học thường sử dụng hai khái niệm về công bằng, gồm: (1) Công bằng theo chiều ngang, tức là đối xử như nhau với người

có đóng góp như nhau; (2) Công bằng theo chiều dọc, tức là đối xử khác nhau với người có khác biệt bẩm sinh hoặc có điều kiện xã hội khác nhau (do khả năng và kỹ năng lao động khác nhau, cường độ làm việc khác nhau, sự khác nhau về nghề nghiệp, sự khác nhau về giáo dục và đào tạo, thừa kế và chiếm hữu tài sản khác nhau, gánh chịu rủi ro khác nhau,…) Như vậy, có thể hiểu bản chất của công bằng xã hội là sự tương xứng (sự phù hợp) giữa một loạt các khía cạnh khác nhau trong quan hệ giữa cái mà cá nhân, nhóm xã hội làm cho tập thể, cho xã hội hoặc cho cá nhân, nhóm xã hội khác với cái mà họ được hưởng từ tập thể, xã hội hay từ cá nhân, nhóm xã hội khác Cái mà cá nhân làm có thể là điều tốt lành cho xã hội (lao động, cống hiến, nghĩa vụ, công lao ) hoặc cũng có thể là điều xấu, có hại cho xã hội (tội phạm, ) Còn cái mà cá nhân được hưởng có thể là tiền công, phần thưởng, quyền lợi, địa vị

xã hội, sự đánh giá, ghi công của xã hội và cũng có thể là sự trừng phạt bằng những hình thức từ thấp đến cao

Ngày nay, công bằng xã hội được xem xét ở nhiều phương diện như: kinh tế, chính trị, pháp quyền, đạo đức, văn hóa, xã hội, Trong đó, yếu tố có tính nền tảng là công bằng về phương diện kinh tế, tức là sự phù hợp tương xứng giữa lao động, đóng góp của cá nhân, nhóm xã hội vào quá trình sản

Trang 28

28

xuất với sự hưởng thụ những kết quả của quá trình sản xuất ấy Một biểu hiện

cụ thể của công bằng xã hội về khía cạnh kinh tế là công bằng phân phối (chủ yếu về thu nhập và phúc lợi xã hội) Về khía cạnh chính trị, pháp quyền của công bằng xã hội là sự tương xứng; chẳng hạn, giữa công lao của những người tham gia chiến đấu, hy sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng

và bảo vệ tổ quốc với sự đánh giá, ghi công, đền đáp của xã hội hoặc giữa sự thiệt hại mà cá nhân gây ra cho xã hội với những hình phạt của xã hội đối với

- Công bằng về học vấn và kỹ năng nghề nghiệp nhờ hệ thống giáo dục

và đào tạo có khả năng bảo đảm cho mọi người dân ai cũng được học hành; người nghèo được Nhà nước và cộng đồng giúp đỡ để có cơ hội được học tập

- Công bằng về quyền lao động, bao gồm công bằng về quyền có việc làm và quyền tự do lựa chọn việc làm, đảm bảo rằng, mọi người lao động đều được tuyển dụng, đều được làm việc để sinh sống và cống hiến

- Công bằng về các quyền con người và quyền công dân, có nghĩa là đảm bảo sự công bằng trong việc thực hiện các quyền cơ bản của con người như: quyền tự do tư tưởng; các quyền tự do chính trị (bao gồm quyền đại diện tại các thể chế dân chủ, quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí, quyền tự do hội họp); quyền tự do lập hội và các quyền tự do khác theo quy định của pháp luật

- Công bằng trong tiếp xúc và giao lưu với thế giới Trong bối cảnh

Trang 29

29

toàn cầu hóa, người dân của mỗi quốc gia ngày càng có nhiều cơ hội quan hệ, giao lưu với thế giới về công việc hoặc đời sống Có thể nói rằng, đây là những cơ hội quan trọng để phát triển bản thân Vì vậy, mỗi người dân hoặc nhóm xã hội cũng cần được đảm bảo sự tiếp cận công bằng với những cơ hội này

Như đã nêu trên đây, công bằng xã hội là một phạm trù tính lịch sử, cho nên, nó có sự biến đổi cùng với sự biến đổi phát triển của xã hội Lịch sử loài người là lịch sử đấu tranh không mệt mỏi cho sự công bằng và đi đến công bằng xã hội từ thấp đến cao, từ số ít đến số nhiều và cho mọi người Một xã hội nhân đạo và công bằng phải là một xã hội tạo ra cho mọi người những cơ may để họ tự phát triển, đem lại hạnh phúc cho bản thân và có những đóng góp cho xã hội

1.1.2.2 Các nhân tố tác động đến công bằng xã hội

Nhân tố cố kết và đồng thuận xã hội

Hiểu một cách khái quát, đồng thuận xã hội là sự đồng tình, nhất trí của

đa số thành viên trong xã hội về một hoặc một số vấn đề nào đó trên cơ sở những điểm tương đồng nhưng vẫn thừa nhận những điểm khác biệt với điều kiện không làm ảnh hưởng đến mục tiêu chung

Đồng thuận xã hội là điều kiện khách quan cho sự tồn tại của mỗi một

hệ thống chính trị - xã hội Đó là phương thức tập hợp lực lượng có tính khả thi nhất trong đời sống chính trị - xã hội của xã hội hiện đại Sự tập hợp lực lượng đó dựa trên những tiêu chí mà các giai cấp, tầng lớp, các lực lượng xã hội dù có lợi ích khác nhau nhưng vẫn có thể gắn kết ở mức độ nhất định và vẫn bảo tồn được những đặc thù riêng của mình, không biến thành kẻ khác

Cho nên, tạo ra sự đồng thuận xã hội không phải là làm nghèo đi sự đa dạng, phong phú và khác biệt của từng thành viên làm nên cộng đồng xã hội,

mà ngược lại, nếu mỗi thành viên, mỗi cá nhân, mỗi nhóm xã hội đều góp

Trang 30

30

được vào cộng đồng những nét bản sắc riêng của mình thì đồng thuận xã hội được tạo ra nhờ sự liên kết những lợi ích khác nhau mới thực sự bền vững Đây là yếu tố không thể thiếu để đạt được công bằng xã hội

Muốn tạo ra cố kết và đồng thuận xã hội, việc quan trọng hàng đầu là thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc nhằm xây dựng khối đại đoàn kết trên cơ sở đảm bảo những lợi ích tối cao của dân tộc Trong xã hội, dân tộc và quốc tế có rất nhiều mối quan hệ lợi ích chồng chéo: cá nhân và tập thể, gia đình và xã hội, bộ phận và toàn thể, giai cấp và dân tộc, quốc gia và quốc tế…; vì vậy, chính sách đại đoàn kết dân tộc cần phải tập trung giải quyết đúng đắn những mối quan hệ lợi ích này

Nhân tố phát triển kinh tế

Phát triển kinh tế là một trong những mục tiêu quan trọng hàng đầu mà các quốc gia, ở mọi thời kỳ luôn luôn theo đuổi Phát triển kinh tế bao gồm sự tổng hợp của nhiều nhân tố như: tăng trưởng kinh tế cao, thu nhập quốc dân tính trên đầu người tăng liên tục, mức sống của đại đa số dân cư được cải thiện, thành quả của tăng trưởng được phân phối một cách công bằng,… Với

ý nghĩa như trên, phát triển kinh tế, trong đó tăng trưởng kinh tế là cốt lõi, kết hợp với công bằng xã hội sẽ tạo ra sự phát triển tổng thể của quốc gia, của xã hội

Giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội có mối quan hệ tương tác đặc biệt, nó được ví như “đôi cánh” của sự phát triển Nếu thiếu một trong hai yếu tố thì không thể có sự phát triển bền vững Báo cáo Phát triển Thế giới năm 1992 đã khẳng định: "Phát triển là nâng cao phúc lợi của nhân dân Nâng cao tiêu chuẩn sống và cải tiến giáo dục, sức khỏe và bình đẳng về cơ hội là tất cả những thành phần cơ bản của phát triển kinh tế Bảo đảm các quyền chính trị và công dân là một mục tiêu phát triển rộng hơn Tăng trưởng kinh tế

là một cách cơ bản để có thể có được sự phát triển, nhưng trong bản thân nó là

Trang 31

31

một đại diện rất không toàn vẹn của tiến bộ" [28, tr 14] Do tầm quan trọng của mối quan hệ nêu trên, chính sách kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội luôn luôn dành được sự ưu tiên của các chính phủ cũng như cộng đồng quốc tế Nhưng nhìn chung chính sách này thường tập trung vào một số nội dung chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, tạo điều kiện thuận lợi cho mọi chủ thể kinh tế, mọi tầng lớp

dân cư có cơ hội tiếp cận một cách công bằng với các yếu tố “đầu vào” của quá trình sản xuất, kinh doanh; đồng thời được phân phối công bằng những kết quả “đầu ra” của quá trình ấy dựa trên nguyên tắc phân phối thích hợp

Thứ hai, thực hiện điều tiết thu nhập giữa những chủ thể tham gia vào

quá trình sản xuất, kinh doanh sao cho đảm bảo sự hài hòa về thu nhập giữa các chủ thể này (thông qua chính sách tiền lương, tiền công ); đồng thời, cần thực hiện chính sách phân phối lại thông qua các sắc thuế để tạo ra nguồn thu cho ngân sách Nhà nước và phân bổ hợp lý các khoản chi từ ngân sách này cho đầu tư phát triển và cho tiêu dùng

Thứ ba, có quy hoạch và kế hoạch cụ thể để cân đối hợp lý mức đầu tư

cho các vùng lãnh thổ khác nhau Việc dành mức đầu tư cao hơn cho các vùng kinh tế động lực là rất cần thiết nhằm tạo ra những "đầu tàu" kinh tế; song cũng cần chú ý đầu tư thích đáng cho các vùng khác, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, nhằm giảm dần khoảng cách về trình độ phát triển giữa các vùng này, từng bước khắc phục tình trạng "bất công tự nhiên" và bất công do lịch sử để lại, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, bảo đảm sự phát triển bền vững

Thứ tư, quan tâm thực hiện một số nội dung quan trọng khác như: xóa

đói giảm nghèo, tạo việc làm cho người lao động; hạn chế tình trạng thu nhập bất hợp lý, xử lý nghiêm minh các trường hợp thu nhập bất hợp pháp do tham nhũng, ăn cắp của công, buôn lậu, lừa đảo, đầu cơ trên thương trường,…

Trang 32

32

Nhân tố văn hóa, nhân văn, nhân ái

Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội trong xã hội hiện đại không thể tách rời phát triển văn hóa Bởi lẽ, ở bất kỳ xã hội nào, yếu tố văn hóa có liên quan đến mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội, nó như chất keo kết dính các mối quan hệ kinh tế, chính trị - xã hội và ngược lại kinh tế, chính trị - xã hội có tác động trở lại đối với văn hóa Trong mối quan hệ ấy, kinh tế là nền tảng vật chất của xã hội; chính trị là khoa học, nghệ thuật xây dựng, phát triển

và quản lý đất nước; còn văn hóa - vốn mang bản chất nhân đạo, nhân văn và trí tuệ, cho nên, nó là nền tảng tinh thần, nguồn năng lượng và động lực mạnh

mẽ của phát triển kinh tế - xã hội

Hội nghị liên chính phủ về chính sách văn hóa vì sự phát triển do UNESCO tổ chức tại Xtốckhôm (Thụy Điển) từ ngày 30/3 đến ngày 02/4/1998,

đã khẳng định: “Sự sáng tạo văn hóa là động lực tiến bộ của loài người, sự đa dạng của văn hóa là kho tàng quý báu nhất của nhân loại và là một yếu tố cần thiết của sự phát triển Sự phát triển của xã hội chính là sự phát triển của văn hóa, và sự thăng hoa của văn hóa là đỉnh cao nhất của sự phát triển” [23, tr 51]

Vì lẽ đó, văn hóa, nhân văn, nhân ái là nhân tố không thể thiếu của một xã hội phát triển, công bằng, văn minh

Nhân tố xã hội

Nhân tố xã hội là nhân tố không thể thiếu khi đề cập đến các vấn đề phát triển Bản thân công bằng xã hội cũng thuộc nhân tố xã hội Để đạt được công bằng xã hội, mỗi quốc gia phải giải quyết hàng loạt vấn đề xã hội như: giáo dục, y tế, dân số, việc làm, xóa đói giảm nghèo, an sinh xã hội, tệ nạn xã hội, tình trạng bị gạt ra bên lề xã hội,… Trong đó, an sinh xã hội được coi là vấn đề có ý nghĩa quan trọng hàng đầu, bao gồm những chính sách chủ yếu như: chính sách ưu đãi xã hội, chính sách bảo hiểm xã hội, chính sách trợ cấp

và cứu tế xã hội, chính sách tương trợ xã hội

Trang 33

1.1.2.3 Vai trò của công bằng xã hội

Công bằng xã hội không chỉ có tác động mạnh mẽ, tích cực trong lĩnh vực kinh tế mà còn có vai trò điều chỉnh quan hệ giữa con người với con người trong các lĩnh vực chính trị, xã hội, đạo đức,… Do vậy, nó vừa tạo nên trạng thái ổn định của xã hội, vừa là những điều kiện cần thiết thúc đẩy xã hội phát triển theo hướng tiến bộ Đồng thời, công bằng xã hội còn là điều kiện để mỗi cá nhân có thể phát huy cao nhất năng lực vốn có cũng như được phát triển ngày càng toàn diện hơn

Thứ nhất, công bằng xã hội là động lực cho sự vận động và phát triển của xã hội

C Mác và Ph Ăngghen từng khẳng định: “Con người làm ra lịch sử của mình - vô luận là lịch sử này diễn ra thế nào - bằng cách là mỗi người theo đuổi những mục đích riêng, mong muốn một cách có ý thức, và chính kết quả chung của vô số những ý muốn tác động theo nhiều hướng khác nhau đó

và của những ảnh hưởng muôn vẻ của những ý muốn đó vào thế giới bên ngoài đã tạo nên lịch sử” [5, tr 604] Nếu xã hội dưới bất cứ hình thức nào cũng đều là sản phẩm của sự tác động qua lại giữa những con người thì sự vận động và phát triển của xã hội chính là kết quả của sự giải quyết mâu thuẫn giữa người và người trong hoạt động tìm kiếm, bảo vệ lợi ích để thoả mãn nhu cầu của mỗi chủ thể Nguyên tắc phân phối lợi ích được hình thành trong mối quan hệ lợi ích giữa người và người là thước đo để phân chia lợi ích

chung của xã hội

Trang 34

34

Trong khi đó, công bằng xã hội cũng là một nguyên tắc phân phối lợi ích Khác với nguyên tắc phân phối nói chung, thước đo của nguyên tắc phân phối lợi ích công bằng chính là sự bình đẳng giữa người và người trong mối quan hệ tương ứng giữa cống hiến và hưởng thụ với tiêu chí cống hiến ngang nhau thì hưởng thụ ngang nhau Nguyên tắc phân phối công bằng tạo cơ hội bình đẳng cho mỗi cá nhân đều có quyền tự do lựa chọn việc tham gia cống hiến vào sự phát triển của xã hội cũng như quyền được hưởng thụ tương xứng với những cống hiến đó Nói cách khác, nguyên tắc phân phối công bằng mà nội dung của nó là sự bình đẳng giữa người với người trong mối quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ đã khiến cho không có cá nhân nào cảm thấy mình bị thiệt thòi; hơn nữa nó còn thúc đẩy mỗi người tự nguyện “hoạt động hơn nữa” Chính sự tự nguyện “hoạt động hơn nữa” ấy của mọi thành viên đã thúc đẩy xã hội tiếp tục vận động và phát triển Theo nghĩa đó, công bằng xã hội là một động lực tích cực tạo nên sự vận động và phát triển mạnh mẽ của xã hội

Thứ hai, công bằng xã hội đóng vai trò điều chỉnh quan hệ giữa người

và người trong các lĩnh vực chính trị, xã hội, đạo đức, pháp quyền

Nếu sự tương xứng giữa cống hiến và hưởng thụ, giữa quyền lợi và nghĩa vụ của con người được thực hiện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đảm bảo cho mọi người đều được đối xử ngang bằng nhau, phù hợp với những cống hiến, tài năng, phẩm giá, trách nhiệm… của họ, không ai bị thiệt thòi, không ai rơi vào cảnh bị đối xử bất công , thì sự công bằng xã hội này

sẽ không chỉ tạo ra trạng thái ổn định – điều kiện tối thiểu cần thiết cho sự phát triển theo hướng tiến bộ của xã hội, mà còn tạo ra bầu không khí tâm lý

xã hội lành mạnh, phấn khởi, có tác dụng kích thích tính tích cực, sự năng động của con người trong hoạt động thúc đẩy sự phát triển xã hội theo hướng nói trên Việc con người được tôn trọng, được đối xử công bằng sẽ hình thành

Trang 35

sẽ kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế - xã hội

Thứ ba, công bằng xã hội còn là điều kiện cho mỗi cá nhân phát huy cao nhất năng lực của mình, phát triển ngày càng toàn diện và thúc đẩy xã hội phát triển theo hướng tiến bộ

Phân phối lợi ích một cách công bằng là yếu tố kích thích trực tiếp các chủ thể tích cực tham gia vào những hoạt động cống hiến, đóng góp để thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế - xã hội Nói cách khác, nếu thước đo công bằng xã hội phù hợp với lợi ích chung của xã hội - lợi ích được cấu thành từ những nhân tố chủ đạo của sự phát triển kinh tế – xã hội sẽ góp phần rất quan trọng trong việc huy động mọi nguồn lực cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội

1.1.2.4 Các tiêu chí đo lường công bằng xã hội

Mức độ công bằng xã hội được đo lường bằng các tiêu chí sau đây:

Phân phối thu nhập theo đầu người hoặc các nhóm dân cư: đây là phân

phối thu nhập cho từng cá nhân hoặc hộ gia đình nhận được trong một thời gian nhất định, không quan tâm đến nguồn thu nhập và môi trường sống của

Trang 36

36

dân cư, mà chia đều thu nhập cho mọi thành phần dân cư Phương pháp tính

là chia dân số thành 5 nhóm người, mỗi nhóm có 20% dân số, sau đó xếp theo thứ tự từ thấp đến cao về thu nhập, qua đó có thể thấy mức độ công bằng xã hội thông qua việc so sánh nhóm giàu nhất và nhóm nghèo nhất

Đường cong Lorenz mô tả chênh lệch trong phân phối thu nhập, được

biểu thị bằng một hình vuông mà cạnh đáy biểu thị phần trăm cộng dồn số người được nhận thu nhập và cạnh bên biểu thị phần trăm cộng dồn tổng thu nhập được phân phối Đường chéo của hình này biểu thị mức độ bình đẳng tuyệt đối trong phân phối thu nhập, vì mọi điểm nằm trên đường chéo phản ánh các mức phân bổ đồng đều giữa phần trăm dân số cộng dồn và phần trăm tổng thu nhập cộng dồn Đường cong Lorenz càng gần đường bình đẳng tuyệt đối, phân phối càng công bằng

Hệ số Gini cũng là thước đo phổ biến để xác định mức bình đẳng trong

phân phối thu nhập Hệ số Gini đưa ra nhằm lượng hóa đường cong Lorenz

Nó được tính bằng cách chia diện tích nằm giữa đường chéo và đường cong Lorenz với toàn bộ diện tích nằm dưới đường chéo, có nghĩa là G = A/ (A+ B) Hệ số G càng cao nghĩa là mức bất bình đẳng trong phân phối thu nhập càng lớn Dựa vào những số liệu thu thập được, Ngân hàng Thế giới (WB) nhận thấy rằng, mức biến động của hệ số G đối với những nước có thu nhập thấp từ 0.3 đến 0.5; thu nhập trung bình từ 0.4 đến 0.6; thu nhập cao từ 0.2 đến 0.4 Từ đó, WB đưa ra nhận xét, hệ số G tốt nhất thường xoay quanh 0.3 [25]

Chỉ số nghèo khổ: hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về nghèo

khổ Về cơ bản, các quan niệm đều bao gồm 2 nội dung quan trọng: thứ nhất,

định nghĩa nghèo đói khác nhau tại những thời điểm khác nhau và ở những xã

hội khác nhau; thứ hai, trọng tâm được đặt vào khả năng mua hàng hóa và

dịch vụ hay quyền sở hữu của một con người Chỉ số nghèo khổ là tỷ lệ phần

Trang 37

37

trăm giữa số dân sống dưới mức tối thiểu với tổng số dân Để xác định mức nghèo khổ, người ta đã đưa ra chuẩn nghèo

Chỉ số phát triển con người HDI (HDI - Human Development Index):

Liên hợp quốc đã đưa ra chỉ số phát triển con người nhằm đánh giá đầy đủ và toàn diện mức độ phát triển kinh tế - xã hội (sự thịnh vượng), là chỉ tiêu tổng hợp từ ba khía cạnh cơ bản của sự phát triển con người như: cuộc sống mạnh khỏe và trường thọ, đo bằng tuổi thọ bình quân; tri thức, đo bằng tỷ lệ người lớn biết chữ và tỷ lệ học sinh đến trường các cấp tổng hợp; một mức sống được bảo đảm, đo bằng GDP đầu người (tính theo phương pháp đồng sức mua – PPP, Purchasing Power Parity)

1.1.3 Mối quan hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội

1.1.3.1 Tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo

Nhìn chung, việc tăng trưởng kinh tế cao và bền vững sẽ dẫn đến giảm nghèo Trên thực tế, người ta chứng kiến sự tác động khác nhau lên quá trình giảm nghèo của những chính sách thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Kinh nghiệm của Việt Nam cũng cho thấy, suốt thập kỷ 90 của thế kỷ XX và đầu những năm 2000, tăng trưởng kinh tế cao đi đôi với giảm nghèo nhanh chóng Tuy nhiên, tác động giảm nghèo của tăng trưởng kinh tế đã suy giảm trong những năm gần đây: 1% tăng trưởng GDP dẫn đến giảm 0,77% số người nghèo trong những năm 1993 - 1998, nhưng chỉ còn 0,66% trong giai đoạn 1998 –

2002 [44]

Nghèo đói có thể ngăn cản tăng trưởng kinh tế, vì người nghèo có năng suất lao động thấp do sức khỏe kém và kỹ năng lao động bất cập sẽ làm xói mòn năng lực sản xuất của nền kinh tế Nghèo đói cũng làm suy giảm năng lực tiết kiệm và đầu tư, làm cho tăng trưởng kinh tế bị triệt tiêu dần Thêm đó, những đòi hỏi khắt khe về tài sản thế chấp cũng ngăn cản người nghèo tiếp

Trang 38

38

cận với các khoản vay trên thị trường tín dụng Hệ quả tất yếu là người nghèo

ít có khả năng khai thác những cơ hội tích lũy vốn vật chất và con người Điều này làm giảm tốc độ tăng trưởng thu nhập và hệ quả có thể là nghèo đói gia tăng

Ngược lại, việc giảm nghèo rất có lợi cho tăng trưởng kinh tế Bởi vì khi mức nghèo tuyệt đối giảm đáng kể thì song song với nó là mức tăng trưởng kinh tế cao do phần lớn những chính sách tăng thu nhập của người nghèo một cách hiệu quả như đầu tư vào giáo dục tiểu học, hạ tầng nông thôn, chăm sóc sức khỏe và nâng cao dinh dưỡng cũng là những chính sách gia tăng năng lực sản xuất của nền kinh tế

Có thể kết luận rằng, tăng trưởng kinh tế là điều kiện cần cho giảm nghèo, chứ chưa là điều kiện đủ Vấn đề còn lại nằm ở mô hình, nguồn gốc của tăng trưởng và phân phối thu nhập (bất bình đẳng) mà một đất nước dựa vào, xây dựng và huy động Bên cạnh đó, giảm nghèo vừa là mục tiêu của tăng trưởng kinh tế, vừa là một phương diện nhằm thực hiện tăng trưởng kinh

tế cao và bền vững

1.1.3.2 Bất bình đẳng và nghèo đói trong tăng trưởng kinh tế

Việc giảm nghèo tuyệt đối về cơ chế do hai bộ phận cấu hành: thứ nhất,

do tăng trưởng thu nhập trung bình (trong điều kiện phân phối thu nhập không

đổi); thứ hai, do sự giảm xuống của bất bình đẳng (trong điều kiện thu nhập

chung không đổi)

Các nhà kinh tế phân tách hai tác động trên thành tác động do tăng trưởng và tác động do phân phối lại Bên cạnh đó, ngay cả khi bất bình đẳng không tăng nhưng mức độ bất bình đẳng ban đầu cao cũng hạn chế khả năng tăng trưởng kinh tế giảm nghèo Thêm nữa, bất bình đẳng thấp còn có tác dụng thúc đẩy gia tăng tỷ lệ giảm nghèo trong tương lai vì hệ số co dãn của tỷ

lệ nghèo đối với thu nhập bình quân tỷ lệ nghịch với bất bình đẳng Như vậy

Trang 39

39

có thể thấy, song song với mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và nghèo đói, giảm nghèo cần được xem xét trong mối quan hệ giữa nghèo và bất bình đẳng trong quá trình tăng trưởng

Sự trỗi dậy của bất bình đẳng trong phát triển kinh tế nhiều năm trở lại đây có nhiều lý do: (1) bất bình đẳng gia tăng đến một mức độ nào đó sẽ trở thành điều khác thường và thậm chí là vô đạo đức, hệ quả là tội phạm, bất ổn chính trị - xã hội Những điều này ảnh hưởng tiêu cực lên tốc độ và chất lượng tăng trưởng; (2) với việc gia tăng bất bình đẳng, tăng trưởng kinh tế không thể đạt được những mục tiêu phát triển rộng khắp của nó, trong đó bao gồm cả việc giảm nghèo; (3) về mặt ý thức hệ, mức độ bất bình đẳng cao là không thể chấp nhận đối với nhiều nước và nhiều nền văn hóa với các giá trị

xã hội nhất định Tăng trưởng kinh tế dẫn đến bất bình đẳng quá cao không phải là mục tiêu của các nước này

Gia tăng bất bình đẳng làm cho việc giảm nghèo trở nên khó khăn hơn

Ví dụ ở Việt Nam, dù kết quả tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo ấn tượng trong giai đoạn 1993 - 1998, hơn một phần ba của tỷ lệ giảm nghèo đã không được thực hiện do gia tăng bất bình đẳng Nói một cách khác, nếu tăng trưởng được phân phối một cách trung hòa (hay mô hình phân phối thu nhập không thay đổi), nghèo có thể được giảm đến 2/3 hơn là 2/5 trong thời kỳ này Bất bình đẳng gia tăng đến một mức độ nào đó có thể khiến cho quá trình giảm nghèo bị đảo ngược trong khi nền kinh tế vẫn tiếp tục tăng trưởng

Tăng trưởng kinh tế dựa trên phân phối không công bằng về tài sản và

cơ hội có thể gây ra sự đảo ngược của xu hướng giảm nghèo Như vậy, ngoài mối quan hệ giữa bất bình đẳng và nghèo đói, tăng trưởng kinh tế sẽ giải quyết vấn đề nghèo đói đến đâu phụ thuộc rất lớn vào mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng

1.1.3.3 Tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu nhập

Trang 40

40

Nội dung của mối quan hệ này được phản ánh rõ trong giả thuyết “hình chữ U đảo ngược” hay “đường cong Kuznets” của Simon Kuznets Tác giả lưu ý đến mối quan hệ giữa tăng trưởng và bất bình đẳng thu nhập, coi đó là

“trọng tâm của phân tích và tư duy kinh tế” Nội dung bao gồm: nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu xuất phát với sự phân phối thu nhập ban đầu bình đẳng

và mức thu nhập trung bình thấp; khi nền kinh tế phát triển cao hơn, một bộ phận dân cư di chuyển sang những khu vực khác có mức thu nhập cao hơn Điều này làm cho bất bình đẳng thu nhập gia tăng và đạt đến đỉnh; quá trình tiếp tục với việc hầu hết dân cư chuyển ra khỏi nông nghiệp và bất bình đẳng

thu nhập giảm dần

Nếu dùng hệ số Gini chỉ tình trạng bất bình đẳng về thu nhập, giả

thuyết chữ U ngược của S Kuznets được biểu diễn qua Hình 1.1

Dựa vào thực tế phát triển kinh tế của các nước trên thế giới mấy mươi năm qua, cũng như trên cơ sở khai thác và phân tích các nguồn số liệu phong phú liên quan đến tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng về thu nhập gần đây, nhiều nhà kinh tế thống nhất rằng, bất bình đẳng và thu nhập (trình độ phát triển) không có quan hệ mang tính hệ thống theo một quy luật bất biến nào

Ngày đăng: 06/06/2017, 12:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Hải An (2016), “Dự báo tăng trưởng của Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế , số 14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự báo tăng trưởng của Việt Nam”", Tạp chí Kinh tế
Tác giả: Nguyễn Hải An
Năm: 2016
3. Trần Minh Đạo, Vũ Đình Bách (đồng chủ biên) (2006), Đặc trưng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Tác giả: Trần Minh Đạo, Vũ Đình Bách (đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
5. C. Mác và Ph. Ăngghen. Toàn tập (1995), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, t. 37, tr. 604 Sách, tạp chí
Tiêu đề: C. Mác và Ph. Ăngghen. Toàn tập
Tác giả: C. Mác và Ph. Ăngghen. Toàn tập
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1995
6. Chính phủ (2012), Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh An Giang đến năm 2020, Cổng thông tin điện tử Chính phủ Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh An Giang đến năm 2020
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2012
8. Cục Thống kê An Giang (2015), Niên giám thống kê tỉnh An Giang năm 2015, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê tỉnh An Giang năm 2015
Tác giả: Cục Thống kê An Giang
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2015
9. Phạm Mỹ Duyên (2006), Tăng trưởng kinh tế với vấn đề công bằng xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, chuyên ngành Kinh tế - Chính trị, Khoa Kinh tế - Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng trưởng kinh tế với vấn đề công bằng xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Phạm Mỹ Duyên
Năm: 2006
10. Dự thảo Báo cáo tóm tắt Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (2016 - 2020) của tỉnh An Giang - Cổng Thông tin định tử tỉnh An Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự thảo Báo cáo tóm tắt Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (2016 - 2020) của tỉnh An Giang
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1991
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2008), Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương khóa X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương khóa X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2008
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2009), Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban chấp hành Trung ương khóa X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban chấp hành Trung ương khóa X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2009
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2013), Với công cuộc đổi mới đất nước, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Với công cuộc đổi mới đất nước
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Quân đội Nhân dân
Năm: 2013
18. Trần Thọ Đạt (2005), Các mô hình tăng trưởng kinh tế, Nxb Thống kê Hà Nội, tr. 7 - 21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các mô hình tăng trưởng kinh tế
Tác giả: Trần Thọ Đạt
Nhà XB: Nxb Thống kê Hà Nội
Năm: 2005
19. Võ Thị Hoa (2012), Vai trò của Nhà nước đối với thực hiện công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia – Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của Nhà nước đối với thực hiện công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay
Tác giả: Võ Thị Hoa
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia – Sự Thật
Năm: 2012
20. Nguyễn Minh Hoàn (2012), Công bằng xã hội trong tiến bộ xã hội, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công bằng xã hội trong tiến bộ xã hội
Tác giả: Nguyễn Minh Hoàn
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2012
21. Nguyễn Minh Hoàn (tháng 11 – 2005), “Vai trò của công bằng xã hội trong tiến bộ xã hội”, Tạp chí Triết học, số 11 (174) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của công bằng xã hội trong tiến bộ xã hội”," Tạp chí Triết học
22. Thu Hương (2017), “Năm 2017, tỉnh An Giang phấn đấu giảm từ 1% - 1,5% tỷ lệ hộ nghèo”, Tạp chí Lao động và Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năm 2017, tỉnh An Giang phấn đấu giảm từ 1% - 1,5% tỷ lệ hộ nghèo”
Tác giả: Thu Hương
Năm: 2017
36. Từ điển Wikipedia. http://en.wikipedia.org/wiki/Social_justice Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w