1 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI NGUYỄN HẢI ĐĂNG HUY ĐỘNG CÁC NGUỒN LỰC CỘNG ĐỒNG TRONG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH LUẬN VĂN
Trang 11
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN HẢI ĐĂNG
HUY ĐỘNG CÁC NGUỒN LỰC CỘNG ĐỒNG TRONG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH THÀNH PHỐ BẮC NINH,
TỈNH BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ: GIÁO DỤC VÀ PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG
HÀ NỘI, NĂM 2017
Trang 22
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN HẢI ĐĂNG
HUY ĐỘNG CÁC NGUỒN LỰC CỘNG ĐỒNG TRONG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH THÀNH PHỐ BẮC
NINH, TỈNH BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Giáo dục và phát triển cộng đồng
Mã số: Thí điểm
Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Hữu Hoan
HÀ NỘI, NĂM 2017
Trang 33
LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn và sự kính trọng tới Lãnh đạo trường Đại học Sư phạm Hà Nội, các thầy giáo, cô giáo đã tham gia giảng dạy và tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu tại nhà trường
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến TS Trần Hữu Hoan người đã trực tiếp hướng dẫn khoa học và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn các đồng chí lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo Bắc Ninh, Ban giám hiệu, các bậc phụ huynh, các em học sinh của các trường THPT đã cung cấp tư liệu cũng như tư vấn khoa học cho luận văn Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn tới các đồng chí lãnh đạo cấp ủy, chính quyền các cấp trong thành phố Bắc Ninh và đại diện các đồng chí ở các ban ngành, đoàn thể liên quan cũng như người dân ở thành phố Bắc Ninh đã tạo điều kiện để tôi thực hiện được cuộc khảo sát thực trạng cho luận văn
Mặc dù đã có rất nhiều nỗ lực, cố gắng, nhưng chắc chắn luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Tôi kính mong nhận được sự thông cảm và góp ý, chỉ dẫn của quý các thầy, Cô giáo, các chuyên gia giáo dục và các bạn đồng nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 05 năm 2017
Tác giả
Nguyễn Hải Đăng
Trang 44
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
THPT Trung học phổ thông
UBND Ủy ban nhân dân
BGD&ĐT Bộ giáo dục và đào tạo
ĐTN Đoàn thanh niên
Trang 55
MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Hệ thống giáo dục Việt Nam đã có những bước phát triển, quy mô giáo
dục tăng nhanh, trình độ dân trí và chất lượng nguồn nhân lực được nâng lên, chủ trương xã hội hoá giáo dục được đẩy mạnh, gia đình và cộng đồng chăm
lo nhiều hơn cho sự nghiệp giáo dục, đồng thời xã hội cũng đòi hỏi cao hơn
về cơ hội học tập và chất lượng giáo dục Hợp tác quốc tế về giáo dục được
mở rộng thúc đẩy quá trình hội nhập của giáo dục với khu vực và trên thế giới
Giáo dục trở thành nhân tố quyết định đối với sự phát triển nhanh và bền vững của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc và mỗi người Do đó, giáo dục phải
là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân Chỉ có sự tham gia của toàn xã hội làm công tác giáo dục thì mới đảm bảo cho giáo dục phát triển có chất lượng và hiệu quả
Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa XI phê duyệt Đề án đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa-hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời Hoàn thành việc xây dựng chương trình giáo dục phổ thông giai đoạn sau năm 2015 Nhà trường phải gắn bó với cha mẹ học sinh, phải gắn bó với cộng đồng, với xã hội, phải thể hiện được tư tưởng của nhân dân, do dân, vì dân Chỉ có như
Trang 66
vậy, nhân dân mới chăm lo cho nhà trường và mới huy động được nhân dân đóng góp trí tuệ, công sức, tiền của để phát triển giáo dục
Học sinh trung học phổ thông ở độ tuổi 15-18, đây là giai đoạn chuẩn
bị để đi vào cuộc sống Các em không chỉ hoạt động ở trường mà còn ở gia đình và ngoài xã hội Hoạt động của các em phong phú và phức tạp hơn học sinh trung học cơ sở Các em là những nhân cách đang vươn lên để trở thành người công dân tốt cho xã hội Các em là đối tượng mang đặc thù của lứa tuổi, vừa là chủ thể của giáo dục đạo đức Học sinh THPT đã có đầy đủ các điều kiện cơ bản về nhận thức, ý chí, hoạt động để biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo, quyết định kết quả phát triển Tài, Đức của cá nhân Tuy nhiên với kinh nghiệm và vốn sống chưa nhiều, học sinh THPT dễ chao đảo trong hành vi hoạt động của mình ở lứa tuổi này có nhiều sự phức tạp về tính cách và hành vi do tác động đa dạng, phức tạp của đời sống xã hội đến nhân cách đang trưởng thành Không ít các em thờ ơ với quá khứ, có hướng thực dụng, đua đòi cái mới, chạy theo thị hiếu tầm thường, dễ bị sa đà, cám dỗ cuốn hút vào các tệ nạn xã hội phản giá trị đạo đức của xã hội Vì vậy chúng
ta phải nắm vững đặc điểm nhân cách, tâm sinh lý lứa tuổi để đưa ra những biện pháp hữu hiệu nhất đảm bảo sự thành công của công tác giáo dục nói chung và giáo dục đạo đức, pháp luật và kỹ năng sống nói riêng Các em cần được sự quan tâm, dìu dắt của thầy cô, gia đình và cả cộng đồng
Giáo dục đạo đức cho học sinh trong trường THPT nhằm mục đích hình thành nhân cách cho học sinh, cung cấp cho học sinh những tri thức cơ bản về các phẩm chất đạo đức và chuẩn mực đạo đức, hoàn thiện nhân cách con người Đức và tài là hai mặt cơ bản hợp thành trong một cá nhân, giáo dục đạo đức là một phần quan trọng không thể thiếu trong hoạt động giáo dục Chủ tich Hồ Chí Minh đã dạy: “ Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”, Người đặc biệt nhấn mạnh vai
Trang 7Sự phồn vinh của đất nước và sự phát triển của xã hội đang trông cậy vào thế
hệ học sinh hôm nay Bên cạnh những thuận lợi ấy thì những thói hư tật xấu, cung cách ứng xử, lối sống thực dụng, chỉ thích hưởng thụ đang tác động làm ảnh hưởng đến đạo đức, nhân cách học sinh, làm cho một bộ phận học sinh xuất hiện lối sống ích kỷ, ý thức kỷ luật kém, không chú ý học tập, hư hỏng, phạm pháp Chính vì vậy, giáo dục phải xây dựng những con người có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, có năng lực tiếp thu văn hóa nhân loại
Trên địa bàn thành phố Bắc Ninh trong các THPT thông những hành vi đáng báo động là trốn học, gian lận thi cử, đánh nhau, trộm cắp vặt, thiếu tôn trọng thầy cô giáo…đặc biệt là tình trạng đánh nhau trong học sinh ngày càng nhiều, không chỉ ở học sinh nam mà còn có ở học sinh nữ, có chiều hướng gia tăng đáng lo ngại, nhất là trong các trường THPT, trở thành mối quan tâm lo lắng của gia đình, nhà trường và là nỗi trăn trở của cộng đồng, ảnh hưởng đến đời sống văn hóa xã hội
Hiện nay, trên địa bàn thành phố Bắc Ninh đạo đức của học sinh THPT
là vấn đề nóng bỏng, là mối quan tâm, lo lắng của nhiều gia đình như: nghiện game, internet, ma túy, việc mang thai ở tuổi vị thành niên, ý thức rèn luyện chưa tốt, đua đòi, bạo lực học đường đặc biệttháng 4/2013 thành phố xảy ra
Trang 88
sự việc nữ sinh THPT đâm trọng thương bạn học, tháng 5/2016 xuất hiện đoạn vi deo ghi lại cảnh hai nữ sinh THPT đánh nhau, tại xã Văn Môn, huyện Yên Phong Sở giáo dục và đào tạo và chính quyền các cấp trong thành phố Bắc Ninh đã có nhiều chương trình, kế hoạch và đề ra nhiều biện pháp để giáo dục đạo đức cho học sinh THPT cho các trường trên địa bàn thành phố, đạt được những kết quả nhất định Tuy nhiên, công tác giáo dục đạo đức cho học sinh THPT vẫn còn những hạn chế, chưa đi vào chiều sâu, nếu như đề ra được những biện pháp giáo dục thiết thực hơn, phù hợp hơn cho học sinh THPT thì công tác giáo dục đạo đức cho học sinh THPT sẽ hiệu quả hơn Với lý do trên
tác giả chọn đề tài: “Huy động các nguồn lực cộng đồng trong giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh” để nghiên cứu trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ chuyên ngành giáo dục
và phát triển cộng đồng
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về giáo dục đạo đức cho học sinh THPT,
về huy động nguồn lực cộng đồng tham gia giáo dục đạo đức cho học sinh THPT; đánh giá thực trạng huy động nguồn lực giáo dục đạo đức cho học sinh THPT thuộc địa bàn thành phố Bắc Ninh, luận văn đề xuất các biện pháp huy động các nguồn lực trong cộng đồng tham gia giáo dục đạo đức cho học sinh THPT trên địa bàn thành phố Bắc Ninh, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh THPT trong giai đoạn hiện nay
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu: Hoạt động huy động các nguồn lực cộng đồng tham gia giáo dục đạo đức cho học sinh THPT
Trang 99
3.2 Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp huy động các nguồn lực cộng
đồng tham gia giáo dục đạo đức học sinh THPT trên địa bàn thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh
4 Giả thuyết khoa học
Nªu các biện pháp huy động các nguồn lực cộng đồng giáo dục đạo đức cho học sinh THPT, tập trung vào giáo dục đạo đức cho học sinh THPT Nâng cao nhận thức về huy động cộng đồng tham gia công tác giáo dục, phối hợp các lực lượng xã hội trong huy động cộng đồng, hoàn thiện cơ chế điều hành phối hợp giữa các lực lượng xã hội tham gia công tác giáo dục đạo đức học sinh THPT, nâng cao vai trò quản lý, tạo ra môi trường giáo dục thực
sự dân chủ và lành mạnh, huy động, quản lý các nguồn lực cho sự phát triển giáo dục đạo đức đạo đức học sinh THPT cả về quy mô và chất lượng, thì
có thể đẩy mạnh được công tác huy động cộng đồng tham gia giáo dục đạo đức học sinh THPT, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức học sinh THPT trên địa bàn thành phố
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Hệ thống hóa vấn đề lý luận về huy động cộng đồng tham gia giáo dục đạo đức học sinh THPT
5.2 Khảo sát thực trạng huy động cộng đồng tham gia giáo dục đạo đức cho học sinh THPT trên địa bàn thành phố Bắc Ninh
5.3 Đề xuất các biện pháp huy động cộng đồng tham gia giáo dục đạo đức học sinh THPT
5.4 Khảo nghiệm mức cần thiết và tính khả thi của các biện pháp
6 Giới hạn, phạm vi nghiên cứu
Trang 1010
6.1 Giới hạn về nội dung nghiên cứu: Đề tài chỉ nghiên cứu các biện pháp huy động các nguồn lực cộng đồng tham gia giáo dục đạo đức học sinh trường THPT
6.2 Giới hạn về đối tượng khảo sát: Đề tài đề cập đến các chủ thể như: lãnh đạo nhà trường; cán bộ quản lý, giáo viên; phụ huynh học sinh; các em học sinh trường THPT
6.3 Giới hạn về địa bàn nghiên cứu: Đề tài chỉ nghiên cứu khảo sát ở các trường THPT trên địa bàn thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh
7 Phương pháp nghiên cứu
+ Các phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu giúp hệ thống hóa các vấn đề lý luận đề tài
- Phương pháp khảo sát thực trạng, như: Điều tra bằng bảng hỏi để thu
thập thông tin; phương pháp phỏng vấn; phương pháp xin ý kiến chuyên gia; phương pháp quan sát
- Phương pháp luận khoa học quản lý giáo dục, thống kê, phân tích, so sánh, khảo nghiệm
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận về huy động các nguồn lực trong cộng đồng
tham gia giáo dục đạo đức học sinh trường trung học phổ thông
Chương 2 Thực trạng công tác huy động các nguồn lực cộng đồng
tham gia giáo dục đạo đức học sinh trường trung học phổ thông thành phố Bắc Ninh
Trang 1111
Chương 3 Biện pháp huy động các nguồn lực cộng đồng tham gia giáo
dục đạo đức học sinh của các trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Bắc Ninh, Tỉnh Bắc Ninh
Trang 12Khái niệm huy động các nguồn lực cộng đồng thường được hiểu là một
bộ phận, một hoạt động của xã hội hoá giáo dục Quan điểm của Hồ Chí Minh, của Đảng và Nhà nước ta về sự tham gia của gia đình và xã hội vào sự nghiệp giáo dục là nền tảng cho việc thực hiện XHHGD Huy động các nguồn lực cộng đồng tham gia giáo dục là cốt lõi của quan điểm giáo dục là sự nghiệp của toàn xã hội Huy động cộng đồng đã có sức sống tiềm tang trong truyền thống giáo dục của nhân dân ta suốt chiều dài lịch sử Tư tưởng dân là gốc, “lấy dân làm gốc” đã được kết tinh truyền thống và lưu thành bản sắc độc đáo của dân tộc Việt Nam “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”
Vấn đề huy động các nguồn lực cộng đồng để đầu tư cho giáo dục thực chất là vấn đề tăng cường XHHGD, vấn đề này đã được nhiều sách báo đề cập, ở nước ta đã có một số nhà khoa học, nhà quản lý giáo dục nghiên cứu lĩnh vực này Tuy nhiên, vẫn còn ít nghiên cứu tập trung vào vấn đề huy động các nguồn lực cộng đồng Do đó, cần thiết phải xem xét huy động các nguồn lực cộng đồng từ góc độ khoa học quản lý giáo dục để làm rõ mối quan hệ giữa huy động các nguồn lực cộng đồng và XHHGD, các biện pháp huy động các nguồn lực cộng đồng và cải tiến quản lý giáo dục nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của các biện pháp huy động các nguồn lực cộng đồng tham gia xây dựng và phát triển giáo dục
Trang 1313
Tuy nhiên ở mỗi tỉnh, thành phố, quận, huyện, thị xã có điều kiện địa
lý, đặc điểm kinh tế xã hội khác nhau, nên hoạt động huy động các nguồn lực cộng đồng tham gia xây dựng giáo dục và việc vận dụng những phương pháp huy động nguồn lực cũng mang những sắc thái riêng, đặc trưng cho địa phương đó
1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Giáo dục
Giáo dục (tiếng Anh: education) theo nghĩa chung là hình thức học tập theo đó kiến thức, kỹ năng, và thói quen của một nhóm người được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua giảng dạy, đào tạo, hay nghiên cứu Giáo dục thường diễn ra dưới sự hướng dẫn của người khác, nhưng cũng có thể thông qua tự học [3] Bất cứ trải nghiệm nào có ảnh hưởng đáng kể lên cách mà người ta suy nghĩ, cảm nhận, hay hành động đều có thể được xem là có tính giáo dục Giáo dục thường được chia thành các giai đoạn như giáo dục tuổi ấu thơ, giáo dục tiểu học, giáo dục trung học, và giáo dục đại học
Trong tiếng Việt, "giáo" có nghĩa là dạy, "dục" có nghĩa là nuôi (không dùng một mình); "giáo dục" là "dạy dỗ gây nuôi đủ cả trí-dục, đức-dục, thể-dục."[4]
1.2.2 Cộng đồng
Cộng đồng được hiểu là tập hợp người có sự tương tác với nhau, có sợi dây kết nối, chung lịch sử hình thành, có chung địa bàn sinh sống, có cùng luật lệ và quy định hay tập hợp những người có cùng những đặc điểm tương
tự về kinh tế - xã hội và văn hoá
Trang 1414
Cũng có quan niệm khác, cộng đồng là một nhóm người có chung sở thích và lợi ích, có chung địa bàn sinh sống, có chung ngôn ngữ (hoặc loại ngôn ngữ) và có những đặc điểm tương đồng
Hiện nay ở nước ta, thuật ngữ cộng đồng đã được sử dụng khá phổ biến trong đời sống kinh tế xã hội Cộng đồng có thể là một nhóm nhỏ dân cư (ví
dụ như cộng đồng dân cư ở một thôn, xã, cộng đồng những người tái chế chất thải của một thôn, một xã…) hoặc có thể là cộng đồng dân cư của một dân tộc, nhiều dân tộc cùng chung các điểm tương đồng (cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, cộng đồng các nước ASEAN…)
1.2.3 Huy động cộng đồng
Huy động cộng đồng là quá trình huy động các cá nhân và tập thể (không phân biệt giai tầng, ý thức hệ, khoảng cách địa lí…) bằng nhiều giải pháp và cách thức khác nhau, để thu hút và kéo các nguồn lực xã hội ấy về với giáo dục, đồng thời thúc đẩy phát triển của sự nghiệp giáo dục đào tạo ở từng cơ sở và từng địa phương nhằm thực hiện mục tiêu xã hội hóa giáo dục Huy động cộng đồng tham gia giáo dục đạo đức học sinh của các trường Trung học phổ thông Nhà trường chủ động huy động sự tham gia của cộng đồng gồm các cá nhân, gia đình và cơ quan, tổ chức trong xã hội vào quá trình phát triển giáo dục
Trang 1515
- Nguồn lực trong nhà trường (nguồn nội lực): tiềm tàng ẩn chứa ngay trong nhà trường Bao gồm: con người, trang thiết bị, cơ sở vật chất, vị thế, uy tín, chất lượng, thương hiệu của trường…
- Nguồn lực ngoài nhà trường (nguồn ngoại lực): bao gồm nguồn lực trong và ngoài thành phố (có ở trong và ngoài nước) Các nguồn lực này bao gồm nguồn lực vật chất và nguồn lực phi vật chất
+ Căn cứ vào tính chất, hình thức biểu hiện có thể phân biệt hai loại nguồn lực sau đây:
- Nguồn lực vật chất như: quỹ đất, vị thế địa lý, cơ sở hạ tầng, các nguồn vốn tài chính, các nguyên liệu và các tiềm năng kinh tế…
- Nguồn lực phi vật chất: con người, sự ổn định và vững mạnh của hệ thống chính trị, những thành quả về kinh tế, chính trị văn hóa xã hội và giáo dục, những chủ trương giải pháp, sự đồng tình ủng hộ của người dân, các tổ chức đoàn thể với giáo dục, trình độ nhận thức dân trí, kinh nghiệm làm giáo dục
Nguồn nội lực được khai thác, phát huy sẽ có tác động mạnh để thu hút nguồn ngoại lực, làm cho nguồn nội lực mạnh thêm lên Nguồn nội lực càng mạnh thì càng thu hút được nhiều hơn nguồn ngoại lực và ngược lại nguồn ngoại lực càng dồi dào là cơ sở thuận lợi cho sự tăng trưởng của nguồn nội lực Nguồn nội lực là cơ sở cho sự khai thác và huy động các nguồn lực xã hội Hai nguồn lực này đều là động lực cho sự phát triển giáo dục, phát triển nhà trường Cả hai nguồn lực trên có quan hệ chặt chẽ với nhau, tạo điều kiện cho nhau phát triển Tất cả tạo nên nguồn lực xã hội to lớn mà ta cần huy động và thu hút các nguồn lực này về với nhà trường, về với giáo dục Nguồn ngoại lực có thể có trong và ngoài nước
Trang 1616
Nguồn lực nước ngoài bao gồm: khoa học kỹ thuật và công nghệ, nguồn vốn, kinh nghiệm về tổ chức và quản lý sản xuất Nguồn lực nước ngoài có vai trò quan trọng, thậm chí đặc biệt quan trọng đối với nhiều quốc gia đang phát triển ở những giai đoạn lịch sử cụ thể Mặc dù có vai trò khác nhau, nhưng giữa nguồn lực trong nước và nguồn lực nước ngoài có mối liên
hệ mật thiết với nhau Đây là mối quan hệ hỗ trợ, hợp tác, bổ sung cho nhau trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi và tôn trọng độc lập chủ quyền của nhau Xu thế chung là các quốc gia cố gắng kết hợp nguồn lực trong nước với nguồn lực nước ngoài thành sức mạnh tổng hợp để phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục
Nguồn lực bao gồm các nguồn lực vật chất, phi vật chất, có cả ở trong
và ngoài nhà trường Các nguồn lực này không phải là bất biến mà luôn được điều chỉnh và thay đổi theo không gian và thời gian Vấn đề là khai thác, huy động và sử dụng các nguồn lực như thế nào để thúc đẩy sự phát triển của nhà trường, của giáo dục
Nhà trường đang đứng trước những nhiệm vụ và thách thức mới đòi hỏi chúng ta phải biết huy động và phát huy mọi nguồn lực xã hội, đã hiện hữu cũng như đang tiềm tàng trong và ngoài trường
- Nguồn lực tài chính: các nguồn lực tài chính cho giáo dục đào tạo được tạo ra từ việ phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm quốc dân, chủ yếu được phân phối từ quỹ tích lũy và quỹ tiêu dùng
Tất cả các nguồn vốn cho giáo dục gồm hai nguồn sau:
+ Nguồn vốn trong ngân sách nhà nước (ngân sách trung ương và ngân sách địa phương)
+ Nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước, nguồn vốn này được hình thành từ: Sự đóng góp của các tổ chức kinh tế xã hội; Hoạt động nghiên cứu
Trang 1717
khoa học và lao động sản xuất tạo ra; Nguồn vốn tài trợ, viện trợ của nước ngoài (của nhà nước, của tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ, kiều bào ở nước ngoài…); Sự đóng góp của dân
Trong hai nguồn trên, nguồn ngân sách nhà nước chiếm vị trí quan trọng vì:
- Là nguồn tài chính cơ bản, to lớn và ổn định duy trì và phát triển hệ thống giáo dục đào tạo theo định hướng của Đảng và Nhà nước xác định
- Giải quyết những vấn đề thuộc chính sách của xã hội, của giáo dục đào tạo (vấn đề giai cấp và dân tộc, các đối tượng chính sách, các chính sách
xã hội khác…)
- Giải quyết những vấn đề phát triển giáo dục đào tạo và những nhu cầu
xã hội phát triển mà các thành phần kinh tế xã hội khác không thực hiện được
Nguồn vốn ngoài ngân sách Nhà nước chiếm vị trí hết sức quan trọng, nhằm bổ sung những thiếu hụt của ngân sách giáo dục đào tạo và đáp ứng nhu cầu giáo dục đa dạng của kinh tế xã hội
Nói tới vấn đề nguồn lực, huy động cộng đồng có thể được hiểu là việc thu hút cộng đồng tham gia đóng góp các nguồn lực khác nhau, vật chất và tinh thần cho nhà trường để đảm bảo cho nhà trường thực hiện đầy đủ với chất lượng cao các mục tiêu giáo dục đề ra
1.2.5 Huy động các nguồn lực cộng đồng
Huy động các nguồn lực cộng đồng, có thể hiểu là huy động những nguồn lực về nhân lực, vật lực, tài chính, thông tin của các tổ chức, cá nhân trong xã hội để thực hiện hay phát triển mục tiêu, chương trình, kế hoạch của một ngành, lĩnh vực nào đó
1.2.6 Giáo dục đạo đức
Trang 1818
Giáo dục đạo đức là một quá trình tác động có mục đích có kế hoạch của nhà giáo dục đến học sinh nhằm hình thành và bồi dưỡng cho các em thế giới quan khoa học nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa, hành vi và thói quen đạo đức, những nét tính cách của con người mới phù hợp với mục tiêu giáo dục
1.2.7 Giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông
Đối với trường THPT giáo dục đạo đức tiếp tục hình thành các chuẩn mực hành vi, các nét phẩm chất đạo đức vững chắc, giúp học sinh có ý thức
về chuẩn mực hành vi, về công việc mình làm, có thái độ đứng đắn và có
hành vi thói quen đạo đức tương ứng
1.3 Giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông
1.3.1 Vị trí, vai trò giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông
Đạo đức của thế hệ trẻ không chỉ là vấn đề của một đất nước mà là vấn
đề mang tính toàn cầu của thời đại, là điều kiện quan trọng để bảo vệ sự sống còn và tương lai của loài người
Giáo dục đạo đức có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển nhân cách thế hệ trẻ (cụ thể về mặt đạo đức) tạo cở sở để họ ứng xử đúng đắn trong các mối quan hệ của các nhân với bản thân, với người khác (gia đình, bạn bè, thầy cô, người lớn tuổi và ít tuổi) với xã hội làm cho họ nắm được (thể hiện trong nhận thức và hành động) các mối quan hệ đạo đức mới là các mối quan
hệ thể hiện sự hài hoà giữa lợi ích cá nhân và lợi ích của xã hội
Giáo dục đạo đức giúp học sinh có được phẩm chất đạo đức tốt đẹp và bền vững, có được bản lĩnh đạo đức để ứng xử đúng trong các mối quan hệ đạo đức
Trang 1919
Giáo dục đạo đức là cơ sở hình thành con người luôn luôn tôn trọng người khác, luôn luôn phấn đấu, bảo vệ, xây dựng một nền văn hoá giàu tính con người, một xã hội và một đất nước dân chủ giàu mạnh hạnh phúc và bình đẳng
Đạo đức là cái gốc của con người mới, là mặt giáo dục rất quan trọng trong nội dung giáo dục toàn diện, là cơ sở để nâng cao các mặt giáo dục khác
Giáo dục đạo đức giữ vai trò là yếu tố hàng đầu trong toàn bộ hoạt động giáo dục trong nhà trường Vì vậy giáo dục đạo đức cho học sinh là việc làm không thể thiếu được trong quá trình giáo dục
1.3.2 Nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông
Giáo dục đạo đức cho học sinh THPT đảm bảo các nội dung sau:
+ Giáo dục ý thức đạo đức:
- Giáo dục ý thức đạo đức nhằm cung cấp cho học sinh những tri thức đạo đức cơ bản về các chuấn mực hành vi trên cơ sở đó hình thành niềm tin đạo đức Các chuẩn mực hành vi này được xác định từ các phẩm chất đạo đức, lòng yêu nước, lòng nhân ái, thái độ đối với lao động, tinh thần tập thể, tính kỷ luật Chúng phản ánh các mối quan hệ hàng ngày của các em Đó là:
- Quan hệ cá nhân với xã hội, tôn kính quốc kỳ, quốc ca, kính yêu Bác
Hồ, tự hào về đất nước và con người Việt Nam, biết ơn những thương binh liệt sỹ, các chiến sỹ quân đội, công an, yêu quê hương làng xóm, phố phường của mình, yêu mến và tự hào về trường lớp, giữ gìn môi trường xung quanh, bảo vệ các di tích lịch sử văn hoá do ông cha để lại
- Quan hệ cá nhân với công việc, lao động: Trước hết là chăm chỉ, kiên trì vượt khó trong học tập, học tập có phương pháp tốt, tích cực tham gia các
Trang 20- Quan hệ cá nhân với tài sản xã hội, tài sản của người khác, tôn trọng
và bảo vệ tài sản của nhà trường (trường lớp, bàn ghế, dụng cụ lao động, đồ thí nghiệm ) của nhà nước (nhà cửa, máy móc, hàng hoá ) các di tích lịch
sử, văn hoá, những nơi công cộng, của người khác (thư từ, đồ đạc )
- Quan hệ cá nhân với bản thân: Khiêm tốn, thật thà, bạo dạn
- Đối với từng chuẩn mực hành vi đạo đức cần giúp học sinh hiểu yêu cầu của chuẩn mực (học sinh phải thực hiện điều gì, làm gì?)
- Ý nghĩa tác dụng của việc thực hiện chuẩn mực hành vi đạo đức (việc thực hiện chuẩn mực mang lại lợi ích, tác dụng gì? nêu không thực hiện mà làm trái thì có tác hại gì?)
- Cách thực hiện chuẩn mực đó (Để thực hiện chuẩn mực cần làm những công việc gì, thực hiện như thế nào?)
- Những tri thức đạo đức này giúp các em phân biệt được cái đúng, cái sai, cái tốt, cái xấu, cái thiện, cái ác Từ đó các em sẽ làm theo cái đúng, ủng
hộ cái tốt, tán thành cải thiện và đấu tranh phê phán, tránh cái sai, cái xấu, cái
ác Ý thức đạo đức đúng đắn có tác dụng định hướng cho thái độ, tính cảm hành vi đạo đức
+ Giáo dục thái độ, tình cảm đạo đức
Trang 21- Giáo dục thái độ tình cảm đạo đức cho học sinh là thức tỉnh những rung động, những cảm xúc đối với hiện thực xung quanh (những người xung quanh, công việc, tập thể ) làm cho chúng biết yêu biết ghét rõ ràng, có thái
độ đứng đắn đối với các hiện tượng phức tạp trong đời sống xã hội và tập thể thái độ thờ ơ, lãnh đạm là “sản phẩm” xấu không mong muốn của giáo dục tình cảm
+ Những thái độ tình cảm cần giáo dục cho học sinh trung học là:
- Kính yêu, biết ơn ông bà, cha mẹ, yêu quý anh chị em, kính trọng lễ phép, biết ơn thầy cô giáo, tôn trọng và yêu mến bạn bè Kính yêu Bác Hồ, biết ơn thương binh, liệt sỹ, yêu trường mến lớp, yêu quê hương làng xóm
- Chăm học, chăm làm, yêu lao động
- Yêu thiên nhiên và có thái độ giữ gìn vẻ đẹp môi trường xung quanh
- Có lòng tự trọng, khiêm tốn học hỏi, trung thực.Có thái độ ủng hộ, đồng tình, tán thành với những tấm gương, việc làm tốt, phù hợp với những chuẩn mực đạo đức, ngược lại có thái độ lên án phê phán những ai có hành động sai trái có hại cho người khác, xã hội, cộng đồng Tình cảm tích cực được hình thành dựa vào ý thức đúng đắn và được củng cố khẳng định qua hành vi,
Trang 2222
ngược lại nó có tác dụng thúc đẩy, tạo động cơ cho việc nhận thức chuẩn mực thực hiện hành vi đạo đức
+ Giáo dục hành vi, thói quen đạo đức:
- Giáo dục hành vi, thói quen đạo đức là tổ chức cho học sinh lặp đi lặp lại nhiều lần những thao tác hành động đạo đức trong học tập, sinh hoạt, cuộc sống nhằm có được hành vi đạo đức đúng đắn và từ đó có thói quen đạo đức bền vững
- Các hành vi thói quen đạo đức cần hình thành cho học sinh là:
- Giúp đỡ ông bà, cha mẹ, anh chị em trong gia đình Lễ phép với người lớn (ông bà, cha mẹ, anh chị em, thầy cô giáo )
- Có những việc làm giúp đỡ thầy cô giáo, bạn bè, hàng xóm láng giềng, cụ già, em nhỏ, người tàn tật
- Có những việc làm nhân đạo đối với các gia đình thương binh, liệt sỹ,
bà mẹ Việt Nam anh hùng, giúp đỡ người gặp thiên tai, khó khăn
- Có những hành động, việc làm bảo vệ trường lớp, tài sản công cộng, thiên nhiên, đồ đạc người khác
- Cần giáo dục hành vi văn hoá cho học sinh tức là hành vi không những “đúng” về mặt đạo đức mà còn đẹp về thẩm mỹ
Ba nội dung giáo dục đạo đức trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và cần được thể hiện đồng bộ Cũng được thể hiện thông qua dạy học các môn học, việc tổ chức các hoạt động ngoài giừo lên lớp, việc tổ chức thực hiện các nội quy, quy chế, điều lệ tấm gương của giáo viên, phối hợp các lực lượng giáo dục
1.3.3 Hình thức, phương pháp giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông
Trang 23có được những phương tiện để có thể phát triển toàn diện những năng khiếu
của mình và do đó, chỉ có trong cộng đồng mới có tự do cá nhân”
(C.Mác-Ăngghen toàn tập (1995), tập 12)
Các hình thức kiểm tra, đánh giá chất lượng học tập đối với giáo dục đạo đức cần phải hướng tới phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh Do vậy, việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh cần thực hiện trong quá trình dạy học/giáo dục, không chỉ dừng lại ở điểm số các bài kiểm tra thường xuyên và định kỳ, mà còn chủ yếu dựa vào những nhận định, nhận xét
cụ thể, thường xuyên dựa trên các biểu hiện về năng lực nhận thức, thái độ, các hành vi ứng xử trong toàn bộ quá trình các hoạt động học tập, sinh hoạt của học sinh ở nhà trường, ở nhà và ở cộng đồng Từ các nhận định đó, cần coi trọng việc động viên, khích lệ những cố gắng, tiến bộ, góp ý sửa chữa các thiếu sót, vượt qua các trở ngại về tâm lý của học sinh theo phương châm đánh giá vì sự tiến bộ của các em Việc ra đề kiểm tra cần gắn với việc xây dựng ma trận câu hỏi; nội dung đề kiểm tra từng bước gắn với việc vận dụng kiến thức vào thực tiễn…
Mỗi môn học, mỗi hoạt động giáo dục đều chứa đựng khả năng giáo dục đạo đức riêng vì vậy đỏi hỏi người quản lý phải chỉ đạo chặt chẽ các tổ chuyên môn, quán triệt yêu cầu giảng dạy và tổ chức các hoạt động giáo dục
Trang 2424
Trong các tiết học cần giáo dục cho các em ý thức nghiêm túc nghe giảng, xây dựng bài và ghi chép bài, thực hiện tốt nội quy của giờ học để đạt kết quả tốt Tức là giáo dục cho các em ý thức làm việc của người lao động mới
Cung cấp cho học sinh những tri thức đạo đức (hiểu biết về đạo đức, về thái độ phải có, về nhiệm vụ bổn phận phải làm) là cần thiết là một khâu quan trọng trong giáo dục đạo đức trong nhà trường thông qua các giờ học giáo dục công dân, học sinh sẽ được trang bị những tri thức về đạo đức một cách khái quát và hệ thống Vốn tri thức này giúp học sinh có cơ sở đúng đắn để nhận ra
và phân biệt giữa hiện tượng đạo đức và hiện tượng phi đạo đức biểu hiện muôn hình vạn trạng xung quanh mình hàng ngày, và từ đó giúp các em tăng thêm tính tự giác trong hành vi đạo đức của mình
Thông qua môn Văn, Sử khơi dậy lòng tự hào dân tộc Việt Nam, làm cho học sinh hiểu được truyền thống, ý chí tự lực, tự cường của dân tộc, khắc vào trí nhớ của học sinh những tình cảm cách mạng và những thành tựu của dân tộc ta trong sản xuất, chiến đấu, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước Dạy các môn khoa học tự nhiên là giáo dục cho học sinh tính chính xác
về thời gian và không gian, đi đôi với phương pháp suy nghĩ biện chứng, lô gích, tránh lối suy luận máy móc, thoát ly thực tế Như bác Phạm Văn Đồng
đã nói “ Chúng ta đừng có tách giữa đạo đức và trí dục đến trình độ nào đó,
trí thức với tư tưởng đạo đức với trí dục là một Trí thức phải đi đến đức dục
là kết quả tất yếu của sự hiểu biết” (Phạm Văn Đồng - Nghiên cứu giáo dục
số 4 - 11 - 1969)
Thông qua việc thực hiện tốt yêu cầu về tính giáo dục đạo đức trong các môn học, đặc biệt là các môn khoa học xã hội Chúng sẽ góp phần quan trọng trong hình thành thế giới quan khoa học, nhân sinh quan xã hội chủ
Trang 25- Cộng tác với giáo viên chủ nhiệm
Cộng tác trong việc điều tra, xây dựng kế hoạch, tổ chức hoạt động theo chủ điểm, dạy theo chuyên đề Trao đổi kinh nghiệm giáo dục đạo đức trong nhóm giáo viên chủ nhiệm Cùng giáo viên chủ nhiệm xem xét hạnh kiểm và
ký duyệt học bạ tay đôi Thường xuyên nắm bắt thông tin về học sinh, đặc biệt là học sinh cá biệt từ các giáo viên chủ nhiệm để có biện pháp kịp thời uốn nắn những sai lệch
- Cộng tác với các đoàn thể trong và ngoài nhà trường
Cộng tác với Đoàn thanh niên, Hội liên hiệp thanh niên, Hội chữ thập
đỏ nhà trường, Ban đại diện cha mẹ học sinh cùng giáo dục đạo đức học sinh Nhanh chóng kiện toàn các tổ chức Đoàn, Hội sinh hoạt đều đặn theo chủ đề, đẩy mạnh các hoạt động tập thể giáo dục và rèn luyện học sinh
Xây dựng và phát huy hiệu quả của các trung tâm tư vấn tâm lý học đường trong việc giáo dục đạo đức, lối sống cho các em
Thông qua hệ thống phát thanh truyền hình, bản tin nội bộ, cung cấp cho học sinh các thông tin cần thiết, tổ chức các hoạt động, giáo dục truyền thống vào dịp kỷ niệm những ngày lễ lớn hàng năm
Trang 2626
Tăng cường các biện pháp giáo dục học sinh cá biệt Tổ chức ký cam kết trách nhiệm giữa nhà trường với gia đình Uốn nắn kịp thời những biểu hiện xấu về đạo đức, thường xuyên nêu gương người tốt việc tốt
Coi trọng công tác giáo dục học sinh cá biệt trên tinh thần động viên, thuyết phục
Trong việc đánh giá học sinh phải được kết hợp ba môi trường giáo dục nhà trường, gia đình và địa phương
Tổ chức tham quan di tích lịch sử, nói chuyện truyền thồng đấu tranh cách mạng của địa phương, của đất nước
Thành lập ban chỉ đạo phòng chống ma tuý học đường Phối kết hợp các
cơ quan chức năng làm tốt công tác tuyên truyền phòng chống tệ nạn ma tuý xâm phập vào nhà trường Giảng dạy tốt luật lệ giao thông và giáo dục giới tính
- Theo dõi diễn biến tình hình tư tưởng đạo đức học sinh
Đó là diễn biến tình hình tư tưởng của cá nhân từng học sinh, tập thể
Trong quá trình theo dõi cần có những đánh giá chính xác dựa vào ý kiến đánh giá của giáo viên bộ môn và tập thể học sinh Trong quá trình đánh giá, xếp loại học sinh phải giúp học sinh tiến bộ và tự giác chấp hành những quy định của nhà trường, việc theo dõi việc tiến hành thường xuyên và được ghi
chép cẩn thận
- Xây dựng môi trường giáo dục đạo đức
Môi trường giáo dục bao gồm: Khung cảnh, con người, quan hệ giữa
chúng, cảnh trí trường học (cơ sở vật chất, lớp học, khu vệ sinh, quang cảnh chung ) quan hệ giữa giáo viên với giáo viên, giữa giáo viên với học sinh, giữa học sinh với học sinh
Trang 271.4 Hoạt động huy động các nguồn lực tham gia giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông
1.4.1 Quản lí giáo dục ở cấp trường
Quản lý giáo dục ở cấp trường là quản lý giáo dục ở góc độ hẹp, đó là quá trình người hiệu trưởng dựa vào các quy luật khách quan vốn có của đơn
vị để tác động có tính hướng đích đến cán bộ, giáo viên, học sinh,…nhằm thực hiện mục tiêu đề ra Như vậy, hoạt động quản lý là sự phân công, hợp tác lao động; là sự chăm sóc, giữ gìn, sửa sang và sắp xếp, đổi mới để đưa nhà trường phát triển
1.4.2 Điều kiện kinh tế-xã hội địa phương và của trường
Diện mạo của thành phố đang đổi thay từng ngày với các hoạt động kinh tế sôi động và phát triển, với kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội đang từng bước hoàn chỉnh theo hướng hiện đại, nhất là quy hoạch đô thị, hệ thống giao thông, điện, nước, các công trình phúc lợi xã hội và đời sống vật chất, tinh thần của người dân đang ngày càng được cải thiện và nâng cao… Một đô thị trẻ hiện đại, sầm uất, năng động và phát triển đang hiển hiện từng ngày trên mỗi công trình, nhà máy, mỗi tuyến đường, tuyến phố Mục tiêu và định hướng xây dựng đô thị Bắc Ninh trở thành thành phố văn minh, hiện đại, giàu bản sắc văn hóa, có nền kinh tế tri thức và đô thị thông minh, có kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, là một trong những địa phương đi đầu về sự thịnh
Trang 2828
vượng và chất lượng cuộc sống của người dân, xứng đáng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục đào tạo, khoa học - công nghệ của tỉnh; là một trong những trung tâm kinh tế, thương mại, dịch vụ, du lịch, kinh tế tri thức của vùng Thủ đô
Cơ sở vật chất trường học tiếp tục được tăng cường đầu tư, tỷ lệ phòng học kiên cố, trường đạt chuẩn quốc gia cao nhất cả nước Các trường học tích cực xây dựng hệ thống các phòng học, thư viện, phòng chức năng; cảnh quan
sư phạm trường học trong các nhà trường có nhiều đổi mới, công trình vệ sinh, cây xanh bóng mát, bồn hoa, cây cảnh, sân chơi, bãi tập và các công trình phụ trợ khác đảm bảo đủ số lượng và chất lượng theo yêu cầu
Tháng 8/2016, trường THPT Chuyên Bắc Ninh hoàn thành trên khuôn viên rộng 3,9 ha Được UBND tỉnh Bắc Ninh đầu tư gần 600 tỷ đồng xây dựng
Tích cực đổi mới phương pháp dạy học và triển khai mô hình, phương pháp giáo dục mới; chất lượng giáo dục toàn diện, đại trà, mũi nhọn được ổn định, giữ vững, có chuyển biến tiến bộ; Việc dạy học ngoại ngữ được chỉ đạo tích cực; công tác bồi dưỡng nâng cao năng lực giáo viên, mua sắm trang thiết
bị, cơ sở vật chất, đồ dùng dạy học Công tác phân luồng, hướng nghiệp cho học sinh được quan tâm chỉ đạo tích cực, đạt kết quả tốt; các cuộc vận động lớn, các phong trào thi đua đi vào chiều sâu, hiệu quả
Trang 2929
Huy động các nguồn lực tham gia giáo dục đạo đức cho học sinh THPT cần phải được thực hiện đầy đủ và đồng bộ mới có thể làm cho việc huy động các nguồn lực được tối đa và sử dụng ngày càng hiệu quả hơn các nguồn lực góp phần tích cực vào việc nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức, hình thành phát triển nhân cách cho thế hệ trẻ Nếu nhìn nhận huy động các nguồn lực đơn thuần chỉ là huy động nguồn tài chính của nhân dân là không nhìn đúng bản chất của huy động các nguồn lực và chắc chắn không thể xây dựng lên một sự nghiệp giáo dục phát triển bền vững có chất lượng và hiệu quả cao
Vì vậy, huy động các nguồn lực cần được tiến hành với chiến lược sau đây:
+ Cộng đồng hóa giáo dục: giáo dục và giáo dục đạo đức cho học sinh phải trở thành một phong trào cộng đồng sâu rộng Coi trọng giáo dục đạo đức học sinh, chú trọng việc giáo dục toàn diện đức, trí, thể, mỹ
+ Cộng đồng hóa trách nhiệm: tạo lập môi trường giáo dục lành mạnh, vận động toàn dân chăm lo phát triển giáo dục, phối hợp chặt chẽ giữa giáo dục trong nhà trường với giáo dục ở gia đình và giáo dục ngoài xã hội, tăng cường trách nhiệm của các cấp Đảng, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, các tổ chức đoàn thể đối với sự nghiệp giáo dục
+ Đa dạng hóa loại hình giáo dục với sự tham gia của cộng đồng: bên cạnh việc củng cố loại hình trường công lập, lấy đó làm nòng cốt, giữ vai trò chủ đạo, cần phát triển loại hình ngoài công lập, tạo thêm cơ hội cho mọi người dân nâng cao trình độ, tiếp cận được những vấn đề mới, áp dụng được tiến bộ khoa học công nghệ vào đời sống
+ Đa phương hóa nguồn lực với sự đóng góp của cộng đồng: khai thác triệt
để và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội phát triển cùng giáo dục, cùng việc tăng thêm và sử dụng có hiệu quả ngân sách Nhà nước, cần tranh thủ sự hỗ trợ của các tổ chức kinh tế quốc tế, thực hiện hợp tác với giáo dục nước ngoài, huy
Trang 3030
động thêm sự đóng góp của cha mẹ học sinh, các tổ chức sản xuất kinh doanh, các
cá nhân, các nhà hảo tâm trong và ngoài nước để tăng thêm ngân sách cho giáo dục
+ Thể chế hóa sự tham gia của cộng đồng trong giáo dục: tăng cường quản
lý của Nhà nước về trách nhiệm, quyền lợi của các lực lượng xã hội, của nhân dân trong tham gia xây dựng sự nghiệp
1.5.2 Vai trò các cấp quản lý trong hoạt động huy động các nguồn lực tham gia giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông
- Lãnh đạo Đảng, chính quyền ở Thành phố, phường, khu phố: đây là lực lượng quan trọng quyết định sự đầu tư cơ sở vật chất cho nhà trường và cũng là lực lượng tạo cơ chế cho việc huy động các nguồn lực ở đại phương, tạo điều kiện cho việc huy động các nguồn lực triển khai thuận lợi
- Các cơ quan, ban ngành trước hết là các ngành có chức năng, có trách nhiệm, tổ chức đoàn thể như Mặt trận tổ quốc, Hội cựu chiến binh, Hội liên hiệp phụ nữ, Tỉnh Đoàn thanh niên, tổ chức tôn giáo, tổ chức từ thiện Tất cả các tổ chức này tạo nên một lực lượng đông đảo, đa dạng, tùy từng nội dung huy động các nguồn lực mà nhà trường tận dụng vai trò của tổ chức, đoàn thể
- Đơn vị quân đội, công an: đây là lực lượng hỗ trợ quan trọng, tạo khả năng liên kết trong việc huy động các nguồn lực
1.5.3 Nội dung huy động các nguồn lực tham gia giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông
Nội dung chính huy động các nguồn tham gia giáo dục đạo đức cho học sinh THPT, xây dựng một môi trường giáo dục tốt nhất, chăm lo sự nghiệp giáo dục:
Trang 31- Huy động cộng đồng tham gia phát triển qui mô, số lượng của giáo dục thông qua việc thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch phát triển giáo dục trên địa bàn thành phố
- Huy động cộng đồng đầu tư các nguồn lực cho giáo dục Do nhu cầu học tập ngày càng tăng, đầu tư cho giáo dục của Nhà nước cũng không ngừng tăng lên nhưng vẫn không đủ đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục cả về số lượng và chất lượng Các lực lượng xã hội có thể đóng góp nhân lực, vật lực, tài lực, để xây dựng trường, lớp, tăng cường trang thiết bị giáo dục, giúp đỡ học sinh và giúp đỡ gia đình nghèo, khuyến khích khen thưởng học sinh giỏi,
tổ chức tuyên dương trao giấy khen và thưởng cho học sinh : gương người tốt, việc tốt, những tấm gương sáng trong cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và cuộc vận động “ Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” …
- Huy động cộng đông tham gia vào quá trình đa dạng hóa các hình thức học tập và các loại hình nhà trường bằng cách tổ chức các cơ sở giáo dục thuộc các thành phần kinh tế, tổ chức và cá nhân bên cạnh các cơ sở giáo dục của Nhà nước Các cơ sở giáo dục bán công, dân lập, tư thục sẽ góp phần quan trọng vào việc phát triển giáo dục, giảm bớt gánh nặng đầu tư cho nhà
Trang 3232
nước, tạo điều kiện cho giáo dục có thể phát triển mạnh mẽ hơn Các lực lượng này còn có vai trò quan trọng trong việc mở các lớp xóa mù chữ, lớp học tình thương, lớp học linh hoạt cho trẻ mồ côi, trẻ khuyết tật, trẻ lang thang cơ nhỡ…
- Huy động cộng đồng tham gia vào quá trình giáo dục Các lực lượng
xã hội có thể tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình giáo dục Trước hết, họ có thể tham gia vào việc xây dựng kế hoạch giáo dục của cả nước và của từng địa phương, góp ý vào từng nội dung và phương pháp giáo dục, quản
lý đánh giá kết quả của giáo dục; giúp đỡ nhà trường trong việc tổ chức các hoạt động giáo dục nội khóa và ngoại khóa, sưu tầm tư liệu giảng dậy, làm đồ dùng dạy học và có thể trực tiếp tham gia giảng dạy một số môn, các chuyên gia, các nhà quản lý, đại diện các cơ quan, tổ chức, đoàn thể, các lực lượng, các ngành cùng tìm tòi, trao đổi, bàn thảo, đưa ra các giải pháp hiệu quả hơn, thiết thực hơn trong công tác phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội với việc giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống cho học sinh THPT
1.6 Yếu tố ảnh hưởng đến công tác huy động các nguồn lực tham gia giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông
1.6.1 Nhận thức của cộng đồng
Nhận thức của cộng đồng, đa phần đều nhận thức được tầm quan trọng của công tác giáo dục đạo đức cho học sinh khi cho ở mức độ rất quan trọng với các nội dung: Giáo dục đạo đức để phát triển giáo dục toàn diện cho học sinh, giáo dục đạo đức nhằm phát triển và hoàn thiện nhân cách cho học sinh
Tuy nhiên, vẫn còn có những hiểu biết một cách chưa đầy đủ về ý nghĩa của công tác này khi cho một số nội dung là không quan trọng như: Giáo dục đạo đức để học sinh có ý thức bảo vệ môi trường , giáo dục đạo đức
Trang 331.6.2 Năng lực quản lý của cán bộ quản lý các cấp
Cán bộ quản lý các cấp có trình độ, bản lĩnh, nhiệt tâm, thân thiện, có kinh nghiệm điều hành và có ý chí vươn lên, sáng tạo trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ Có tinh thần mạnh dạn đổi mới, xây dựng được các kế hoạch dài hạn, trung hạn và ngắn hạn Ứng dụng được công nghệ thông tin trong công tác quản lý, phân công sắp xếp đội ngũ hợp lý để phát huy khả năng của từng
cá nhân Rà soát, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng và bố trí sắp xếp đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục theo quy định và phù hợp với tình hình thực tế của địa phương Triển khai công tác đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục đủ về số lượng, đồng bộ về
cơ cấu và đảm bảo về chất lượng theo hướng chuẩn hóa, theo qui hoạch, kế hoạch Thực hiện đầy đủ, kịp thời việc đánh giá theo chuẩn, các chế độ, chính sách đối với nhà giáo và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục, đặc biệt là các nhà giáo và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục tại trường giáo dục chuyên biệt cũng như các nhà giáo và cán bộ quản lý có hoàn cảnh khó khăn Tiếp tục quan tâm, chăm lo phát triển đội ngũ giáo viên nói chung, giáo viên dạy học sinh khuyết tật, hòa nhập, giáo viên chuyên biệt nói riêng Chỉ đạo tổ chức thực
Trang 341.7 Tiểu kết chương 1
Giáo dục nói chung, giáo dục đạo đức học sinh THPT nói riêng là nhân
tố đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của xã hội, đồng thời sự tồn tại và phát triển của giáo dục luôn luôn chịu sự chi phối của trình độ phát triển của xã hội Điều đó có nghĩa là không thể tách rời giáo dục khỏi đời sống xã hội, giáo dục có bản chất xã hội Do bản chất xã hội vốn có của giáo dục mà giáo dục là sự nghiệp của toàn xã hội Chỉ có sự tham gia của toàn xã hội vào giáo dục thì mới đảm bảo cho giáo dục phát triển có chất lượng và có hiệu quả
Huy động các nguồn lực cộng đồng trong trong giáo dục đạo đức nước
ta là con đường để thực hiện dân chủ hóa giáo dục, nhằm thực hiện quan điểm xây dựng nền giáo dục của dân, do dân, vì dân, làm cho nhân dân có thể thực hiện được quyền làm chủ của mình đối với giáo dục, không những đóng góp xây dựng nhà trường mà còn giám sát, kiểm tra nhà trường trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục; tạo điều kiện xây dựng mối quan hệ gắn bó giữa nhà trường, gia đình và nhân dân Để thực hiện được điều này cần làm cho mọi người dân trong cộng đồng nắm được những thông tin về giáo dục để họ
Trang 3636
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HUY ĐỘNG CÁC NGUỒN LỰC TRONG CỘNG ĐỒNG THAM GIAO GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 2.1 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội và giáo dục - đào tạo tỉnh Bắc Ninh
2.1.1 Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Ninh, thành phố Bắc Ninh
Bắc Ninh là tỉnh có diện tích nhỏ nhất Việt Nam thuộc đồng bằng sông Hồng và nằm trên Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ Bắc Ninh tiếp giáp với vùng trung du Bắc bộ tại tỉnh Bắc Giang Thành phố Bắc Ninh nằm cách trung tâm Hà Nội 30 km về phía đông bắc phía tây và tây nam giáp thủ đô Hà Nội, phía bắc giáp tỉnh Bắc Giang, phía đông và đông nam giáp tỉnh Hải Dương, phía nam giáp tỉnh Hưng Yên Ngoài ra, Bắc Ninh còn nằm trên 2 hành lang kinh tế Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh và Nam Ninh - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh
Con người Bắc Ninh với truyền thống văn hoá, hiếu khách, cần cù và sáng tạo, với những bàn tay khéo léo mang đậm nét dân gian của vùng trăm nghề như tơ tằm, gốm sứ, đúc đồng, trạm bạc, khắc gỗ, làm giấy, tranh vẽ dân gian nổi bật là những làn điệu dân ca quan họ
Với nền tảng kinh tế - xã hội cơ bản vững chắc, cùng với nhận thức, đổi mới tư duy, quyết tâm chính trị mạnh mẽ, nỗ lực quyết liệt của các cấp, các ngành, các tầng lớp nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp thành phố, tình hình kinh tế - xã hội của thành phố năm 2016 đã đạt được những kết quả tích cực Kinh tế tiếp tục giữ đà tăng trưởng khá cao 14,9% so với cùng kỳ năm trước
Trang 3737
Trong đó, khu vực nông nghiệp tăng 1,0%, khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 15,09%, khu vực thương mại - dịch vụ tăng 16,04% Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực khu vực thương mại dịch vụ chiếm 50,5%; khu vực công nghiệp xây dựng chiếm 47,2% còn lại là khu vực nông-lâm- thủy sản chỉ còn 2,3%; GRDP bình quân đầu người ước đạt 5.100 USD theo giá thực tế, tăng 7,5% so với năm 2015
Điểm nổi bật đầu tiên phải kể đến là hoạt động thương mại - dịch vụ, trong thời gian qua mặc dù lượng hàng hóa cung ứng ra thị trường khá đa dạng và phong , hàng loạt các siêu thị hiện đại đã được mở ra như: Siêu thị Trần Anh, siêu thị Đabaco, siêu thị Mediamar, Siêu thị FPT tổng mức bán
lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2016 ước đạt 11.734 tỷ đồng, đạt 63,08% kế hoạch năm và tăng 16,1% so với cùng kỳ năm 2015
Về lĩnh vực sản xuất công nghiệp mặc dù còn gặp nhiều khó khăn nhưng cũng có một số thuận lợi nhất định, lãi suất ngân hàng giảm, giá nguyên liệu đầu vào tương đối ổn định, đã tạo thành điều kiện cho các doanh nghiệp tiết giảm chi phí sản xuất Do đó, Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2016 của thành phố ước đạt 29.478 tỷ đồng (giá năm so sánh 2010), tăng 9,15% so với cùng năm trước, trong đó: Kinh tế nhà nước ước đạt 915,773 tỷ đồng, tăng 13,25% so với cùng kỳ năm trước; Kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 4.965,757 tỷ đồng, giảm 1,8% so với cùng kỳ năm trước; Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 23.222,392 tỷ đồng, tăng 16,26% so với cùng kỳ năm trước Điều này thể hiện niềm tin của các nhà đầu tư vào khả năng phục hồi và tiềm năng phát triển của kinh tế thành phố Sản xuất phát triển nên tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn thành phố ước đạt 868,6 tỷ đồng, tăng 10,0% dự toán tỉnh giao, nhìn chung các nguồn thu chủ yếu của ngân sách thành phố đều có mức tăng khá so với cùng kỳ năm trước như: Thu thu thuế VAT và tiêu thụ đặc biệt tăng 90,1%; thu thu thuế thu nhập cá nhân tăng 9,7%; thu
Trang 3838
tiền sử dụng đất tăng 83% Tổng chi ngân sách địa phương ước đạt 716,635 tỷ đồng, tăng 43% so với dự toán tỉnh giao, các nhiệm vụ chi đều đáp ứng tốt nhu cầu chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển và các nhiệm vụ đột xuất khác của thành phố
Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản mặc dù chuyển biến tích cực, đi dần vào chiều sâu, nâng cao hiệu quả, chất lượng sản phẩm hàng hóa song do quá trình đô thị hóa nên đang ngày một thu hẹp lại Vụ đông xuân toàn thành phố gieo trồng được 3.313 ha, giảm 4,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cây lúa gieo cấy được 2.511,7, giảm 5,9% so với vụ xuân năm trước, năng suất ước đạt 64,8 tạ/ha, cho sản lượng 16.275,8 tấn, giảm 7,6% so với cùng kỳ năm trước Theo đó, tổng giá trị sản xuất năm 2016 ước đạt 400,6 tỷ đồng (giá
so sánh năm 2010) giảm 3,9% so với cùng kỳ năm trước Chương trình xây dựng và phát triển nông thôn mới được thực hiện tích cực, các cấp, các ngành, đoàn thể đã chủ động hơn trong xây dựng, triển khai kế hoạch thực hiện chương trình Đến nay, có 2/3 xã Hòa Long và Kim Chân cơ bản đạt chuẩn nông thôn mới với 19/19 tiêu chí và còn duy nhất xã Nam Sơn hiện cũng đã đạt 14/19 tiêu chí
Về văn hóa xã hội tiếp tục được đẩy mạnh thực hiện, nhất là các chính sách đảm bảo an sinh xã hội, tập trung chăm lo kịp thời các đối tượng người
có công với cách mạng, hộ nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, đối tượng xuất khẩu lao động Năm 2016, đã tạo việc làm cho gần 2.500 lao động, trong đó xuất khẩu lao động trên 125 người, trích quỹ
“Đền ơn đáp nghĩa” quỹ “ Ngày vì người nghèo” khởỉ công xây dựng mới 78 căn nhà với số tiền hơn 4,68 tỷ đồng, đến nay đã hoàn thành đưa vào bàn giao
là 37 căn nhà Tổ chức thăm hỏi tặng quà cho 11.689 lượt gia đình chính sách, người có công, Mẹ Việt nam anh hùng, Cựu chiến binh, Lão thành Cách mạng, với số tiền 3,322 tỷ đồng Trích ngân sách 8,438 tỷ đồng mua 7.879 thẻ
Trang 3939
BHYT cấp cho người nghèo, cận nghèo và người có công và đối tượng theo Pháp lệnh ưu đãi người có công Chi trả kịp thời cho các đối tượng được trợ cấp hàng tháng
2.1.2 Tình hình giáo dục - đào tạo ở tỉnh Bắc Ninh
Năm học 2015 - 2016, toàn ngành GD&ĐT của Tỉnh tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở các cấp học, qua đó, hoàn thành và hoàn thành vượt mức hầu hết các chỉ tiêu thi đua Trong đó, giữ vững vị trí dẫn đầu toàn quốc về tỷ lệ kiên cố hóa trường học (98%), tỷ lệ trường chuẩn quốc gia (90%), tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn (100%), trong đó trên chuẩn chiếm 79% Cùng với đó, tiếp tục giữ vững và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ 2 Đặc biệt, 3 năm liền triển khai hiệu quả Chương trình “Sữa học đường” với 84.326 trẻ (đạt 100%) trong các trường mầm non được thụ hưởng, qua đó, tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng giảm xuống còn 2,6%
Tại kỳ thi học sinh giỏi Quốc gia, Bắc Ninh có 41 thí sinh dự thi đạt giải, gồm 2 giải Nhất, 7 giải Nhì, 10 giải Ba và 22 giải Khuyến khích Tỷ lệ thi tốt nghiệp THPT Quốc gia năm 2016 cao nhất toàn quốc, đạt 99,1%; với điểm thi trung bình đứng thứ 3 toàn quốc (sau Nam Định, Hải Dương) Tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 29 Hội nghị lần thứ Tám BCH Trung ương Đảng (khóa XI) và Nghị quyết số 12 –NQ/TU ngày 26/6/2014 của Tỉnh ủy về
“Đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2014 – 2020, định hướng đến năm 2030”, năm học 2016 - 2017, ngành GD&ĐT tiếp tục đổi mới công tác quản lý, nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục, đẩy mạnh thực hiện các phong trào thi đua, giữ vững vị trí dẫn đầu toàn quốc về phát triển giáo dục Trong đó, đổi mới hiệu quả phương pháp dạy học, phát huy tính tích cực của học sinh, nâng cao năng lực và phẩm chất người học Tiếp tục đổi mới công tác thi, tuyển sinh, kiểm tra thường xuyên và định kỳ
Trang 4040
nhằm nâng cao chất lượng giáo dục thực chất Nâng cao chất lượng dạy học ngoại ngữ ở các cấp học và đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong quản lý và dạy học, từng bước đáp ứng tốt yêu cầu về “Đổi mới căn bản toàn diện GD&ĐT Bắc Ninh trong thời kỳ CNH, HĐH ”, tiếp tục tạo bước đột phá trong việc đổi mới phương pháp dạy học, tổ chức quản lý chặt chẽ hệ thống trường học các cấp, nhất là đẩy mạnh phong trào thi đua dạy tốt, học tốt nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ năm học 2016 - 2017 ngay trong những ngày đầu tiên của năm học
2.1.3 Giáo dục THPT trên địa bàn thành phố Bắc Ninh
2.1.3.1 Mạng lưới trường lớp
Mạng lưới trường lớp được quy hoạch theo hướng: đảm bảo đủ các loại hình trường học để học sinh từ mầm non đến phổ thông có nhu cầu đều được đến trường Mỗi địa phương đều có từ 1 đến 2 trường mầm non, 1 đến 2 trường tiểu học và 1 trường THCS Tỉnh có hệ thống trường sư phạm, trường THCN và trường dạy nghề Hệ thống trường THCN và trường dạy nghề Trung ương đóng trên địa bàn tỉnh góp phần không nhỏ vào việc đào tạo nguồn nhân lực cho tỉnh
Mạng lưới trường lớp của Thành phố Bắc Ninh hiện tại đã được bố trí theo đúng tinh thần của Luật giáo dục, phù hợp với địa bàn dân cư, riêng đối với mầm non và tiểu học được chỉ đạo theo hướng gần dân, quy mô nhỏ, tạo điều kiện thuận lợi cho các em đến lớp Với 22 trường mầm non, 9 trường tiểu học, 11 trường THCS, , 1 trung tâm GDTX, 1 trường CĐSP, 2 trường THCN địa phương, 1 trường dạy nghề và 4 trường chuyên nghiệp Trung ương đóng trên địa bàn, 6 trường THPT(Trường Trung học Phổ Thông Chuyên Bắc Ninh, Trường Trung học phổ thông Hoàng Quốc Việt, Trường Trung học phổ thông Hàn Thuyên, Trường THPT Lý Nhân Tông, Trường THPT Dân lập