LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoàn rằng, luận văn thạc sĩ Triết học với đề tài “ Giáo dục văn hóa giao tiếp cho học sinh trường dân tộc nội trú ở Sơn La hiện nay ” là công trình nghiên cứu c
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ MAI
GIÁO DỤC VĂN HÓA GIAO TIẾP CHO HỌC SINH TRƯỜNG
DÂN TỘC NỘI TRÚ Ở SƠN LA HIỆN NAY
Chuyên nga ̀nh : Triết ho ̣c
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS LÊ THỊ HƯƠNG
HÀ NỘI - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoàn rằng, luận văn thạc sĩ Triết học với đề tài “ Giáo dục văn hóa giao tiếp cho học sinh trường dân tộc nội trú ở Sơn La hiện nay ” là công
trình nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của TS Lê Thị Hương
Các số liệu, trích dẫn và tài liệu tham khảo trong luận văn là hoàn toàn trung thực, có nguồn gốc rõ ràng
Hà nội, tháng 6 năm 2017
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến TS Lê Thị Hương - Người thầy đã tận tâm, nhiệt tình chỉ bảo, hướng dẫn em trong suốt trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Đồng thời, em gửi lời cảm ơn đến Ban chủ nhiệm khoa Triết học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban giám hiệu, phòng sau Đại Học Trường Đại học Tây Bắc, nơi đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong thời gian học tập và nghiên cứu tại trường
Cảm ơn gia đình, cảm ơn bạn bè và đồng nghiệp đã luôn động viên, khích lệ, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua để tôi có thể hoàn thành tốt luận văn
Trang 51 Lý do chọn đề tài
Giáo dục văn hóa giao tiếp cho học sinh các trường dân tộc nội trú tỉnh Sơn La hiện nay là vấn đề mang tính giáo dục và thực tiễn cấp bách Vì :
1 Giáo dục văn hóa giao tiếp là việc cần thiết và cấp bách, nhất là trong
xã hội và môi trường giáo dục của chúng ta hiện nay Nhìn xa hơn và xét trong một bối cảnh rộng hơn, văn hóa giao tiếp là một phương diện trong toàn bộ hoạt động giao tiếp của con người Nhiệm vụ cơ bản của giáo dục là hình thành con người có năng lực giao tiếp bao gồm giao tiếp với người khác và giao tiếp với chính mình Cái gốc trong văn hóa giao tiếp của con người chính là sự phong phú của đời sống tinh thần và những giá trị đạo đức mà mỗi cá nhân có được
2 Giao tiếp không chỉ là hình thức, phương tiện mà còn là nội dung quan trọng của giáo dục Giáo dục văn hóa giao tiếp hiện nay có hai điểm cần lưu ý:
là vấn đề dân tộc và quốc tế Công cuộc hội nhập và phát triển ồ ạt của công nghệ thông tin đã tạo ra một “thế giới phẳng” Khoảng cách giữa các dân tộc, quốc gia và con người ngày càng thu hẹp Cử chỉ, cách xưng hô cũng ảnh hưởng, pha trộn, vay mượn của nhau, nhất là trong giới trẻ Tâm lí dân tộc, tâm
lí thế hệ đang đứng trước những thử thách lớn Sử dụng tiếng Việt, tiếng Anh, xưng hô chào hỏi thế nào cho đúng bản sắc dân tộc hay cho có văn hóa - là vấn
đề nhà trường bắt buộc phải quan tâm Tuy nhiên, gánh nặng này không nên chỉ đặt trên vai thầy cô giáo Gia đình và xã hội phải chia sẻ và đồng chịu trách nhiệm nhưng nhà trường vẫn là nơi chủ động vạch ra chiến lược, mục tiêu, đưa
ra những chuẩn mực
3 Giáo dục văn hóa giao tiếp trong nhà trường cần giúp học sinh làm chủ các phương tiện giao tiếp, có được những kĩ năng giao tiếp Giáo dục văn hóa giao tiếp nghĩa là giúp học sinh làm chủ các công cụ và hình thức giao tiếp cũng như biết ứng
xử một cách có văn hóa trong những tình huống khác nhau là nhiệm vụ quan trọng của nhà trường Tuy nhiên, đó chưa phải là tất cả Cái chính là giúp các học sinh có khả năng giao tiếp với nhau, mà để có điều đó, ngoài văn hóa
Trang 6giao tiếp, học sinh phải được giáo dục về tâm lí giao tiếp, lối sống, quan niệm
và những phẩm chất như sự chân thành, cởi mở, không ích kỉ, không khép kín, biết chấp nhận cái khác mình, chấp nhận đối thoại
4 Giáo dục văn hóa giao tiếp là việc cần thiết và cấp bách, nhất là trong
xã hội và môi trường giáo dục của chúng ta hiện nay Nhìn xa hơn và xét trong một bối cảnh rộng hơn, văn hóa giao tiếp chỉ là một phương diện trong toàn bộ hoạt động giao tiếp của con người Nhiệm vụ cơ bản của giáo dục là hình thành con người - giao tiếp, tức con người có năng lực giao tiếp bao gồm giao tiếp với người khác và giao tiếp với chính mình Cái gốc trong văn hóa giao tiếp của con người chính là sự phong phú của đời sống tinh thần và những giá trị đạo đức mà mỗi cá nhân có được Lời hay, cử chỉ đẹp là quan trọng, nhưng quan trọng hơn vẫn là cái tâm, tình yêu, sự chân thành Không phải hễ có cái tâm là có ngay cử chỉ lịch sự – chính vì thế mới cần giáo dục văn hóa giao tiếp! Nhưng nếu không có tâm thì lịch sự nhiều khi cũng chỉ là giả dối,
vô nghĩa
Mọi kinh nghiệm xã hội đều được chứa đựng trong thế giới con người Muốn chiếm lĩnh được nó con người phải được tiếp xúc, giao tiếp với đối tượng, đặc biệt là giao tiếp với những người xung quanh – những người lớn hơn, những người có kinh nghiệm hơn Nhờ có sự hướng dẫn chỉ bảo của người khác thông qua giao tiếp mà các cá nhân lĩnh hội được những kinh nghiệm lịch
sử - xã hội loài người chứa đựng trong đối tượng đó một cách nhanh nhất, nhân cách được phát triển phù hợp với yêu cầu của xã hội Thực tế đã chứng minh: văn hóa giao tiếp trong môi trường nhà trường, môi trường giáo dục giúp cho cá nhân lĩnh hội được những tri thức cần thiết bằng những con đường nhanh nhất
và đỡ tốn kém nhất, tạo điều kiện tối ưu cho sự hình thành và phát triển nhân cách
5 Mặt khác, văn hóa giao tiếp có vai trò quan trọng trong sự hình thành
và phát triển nhân cách nghề Sự thành công của mỗi người trong công việc mà mình đang thực hiện không chỉ phụ thuộc vào kiến thức chuyên môn mà còn
Trang 7phụ thuộc vào khả năng giao tiếp, ứng xử khéo léo với mọi người trong mọi hoàn cảnh Vì lẽ đó, văn hóa giao tiếp cần được xem xét, nghiên cứu với tư cách
là phẩm chất đặc biệt của nhân cách.Đặc biệt trong hoạt động sư phạm thì văn hóa giao tiếp không thể thiếu Bởi vì quá trình giáo dục là quá trình giao tiếp giữa giáo viên và học sinh Hiệu quả của quá trình này phụ thuộc vào nhiều yếu
tố Một trong những yếu tố góp phần quan trọng vào sự thành công của hoạt động sư phạm, đó chính là năng lực giao tiếp của giáo viên
Sơn La là tỉnh miền núi cao nằm ở phía Tây bắc Việt Nam với địa hình hiểm trở, đa số là núi cao, phức tạp, giáp với nhiều tỉnh phía Bắc và đặc biệt còn
có đường biên giới giáp với nước bạn Lào Trên địa bàn trải rộng dân cư sống không tập trung với mật độ rất thấp Sơn La là một tỉnh có nhiều dân tộc thiểu
số khác nhau đang sinh sống Trong những năm qua, mặc dù nhận được sự quan tâm của nhà nước trong phát triển kinh tế - văn hóa xã hội nhằm nâng cao đời sống nhân dân nhưng tỉnh Sơn La vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn đặc biệt là những khó khăn về thông tin, văn hóa, giáo dục Ở Sơn La cũng do đặc trưng có nhiều dân tộc anh em cùng sinh sống cho nên vấn đề giáo dục nói chung và giáo dục văn hóa giao tiếp cho học sinh còn nhiều hạn chế Việc vận động các em đến lớp đã là một kỳ công của thầy cô, duy trì các lớp học lại càng khó khăn hơn Hệ thống các trường dân tộc nội trú được trú trọng đầu tư nhằm tạo điều hiện tốt nhất cho con em trong tỉnh được hưởng các chính sách giáo dục cũng như nâng cao năng lực giao tiếp văn hóa
Với đặc trưng là một tỉnh có nhiều thành phần dân tộc khác nhau, sinh sống ở các địa bàn và địa hình khác nhau nên việc tiếp cận và hình thành những nét văn hóa trong giao tiếp cũng khác nhau
Trang 8Nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của tỉnh, góp phần đưa giáo dục miền núi ngày càng phát triển theo đúng chủ trương đặt ra của Đảng và Nhà nước
Với những nghĩa trên, viêc nghiên cứu: “Giáo dục văn hóa giao tiếp cho học sinh trường dân tộc nội trú ở Sơn La hiện nay” là hết sức cần thiết về cả mặt
lý luận và thực tiễn
1 Tình hình nghiên cứu đề tài
Từ xưa giao tiếp đã là một vấn đề được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Tất các các nhà khoa học nghiên cứu về văn hóa giao tiếp đều gặp nhau tại một điểm – đó là khẳng định vai trò của văn hóa giao tiếp đối với cuộc sống xã hội và sự hình thành nhân cách của con người
A.A Bodaliop đã nói: Trong hoạt động giao tiếp có thể tìm thấy sự tổng
hợp tất cả các đặc trưng cơ bản của con người như là một thành viên của xã hội,
như là một chủ thể của hoạt động nhận thức và sáng tạo Trong lịch sử, việc
nghiên cứu về văn hóa giao tiếp được tiến hành trên cả hai bình diện lý luận và thực tiễn, thu hút rất nhiều các nhà khoa học trên thế giới Thời cổ đại như
Xôcrat, Platon, hai ông đã đề cập tới vấn đề giao tiếp và cho rằng : Đối thoại
như là giao tiếp trí tuệ, như là sự phản ánh trí tuệ, phản ánh mối quan hệ giữa con người với con người
Mac – Ănghen xem giao tiếp với người khác như là một trong các yếu tố
cơ bản quyết định sự hình thành phát triển tâm lý, ý thức của con người
Năm 1965 ba tác giả người Mỹ: Jonnson, Lgrrison, M.Schlekamp đã viết cuốn sách về văn hóa giao tiếp, đề cập mối quan hệ giữa kỹ năng giao tiếp với
sự tiến bộ trong trường đại học của học sinh, cách biểu lộ tình cảm, phát triển
kỹ năng bình luận
Năm 1960 Bavelas tiến hành nghiên cứu thực nghiệm về cấu trúc trong
văn hóa giao tiếp, đưa ra khái niệm “ khoảng cách” được xác định như một mắt
xích giao tiếp cần thiết để một thông điệp tới người khác bằng con đường ngắn nhất
Văn hóa giao tiếp là một vấn đề được nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực khác
Trang 9nhau như: giáo dục học, văn hóa học, dân tộc học, triết học
Khái quát lại có thể chia thành các hướng nghiên cứu sau:
- Thứ nhất, các công trình nghiên cứu về văn hóa:
Công trình nghiên cứu về “Văn hóa giao tiếp của học sinh” của Nguyễn Văn Đồng, Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin, năm 2012, đã nghiên cứu về phong cách của học sinh và những tác động của văn hóa Trong đó ông chỉ rõ mỗi người chọn cho mình một phong cách mang đặc trưng của giới trong giao tiếp, học sinh nữ thường thể hiện sự dịu dàng, ý tứ mềm mỏng, hài hước, vui vẻ, sôi nổi, hoạt bát, vô tư, năng động… Học sinh nam thường thể hiện sự mạnh
mẽ, hoạt bát , năng động , điềm đạm, chín chắn
Công trình nghiên cứu về “Bình đẳng dân tộc trên lĩnh vực văn hoá ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam hiện nay”, Luận án tiến sĩ triết học của Phạm Hoàng Hà, bảo vệ năm 2012, đã đề cập tới vấn đề văn hóa của các dân tộc ở các khía cạnh nguồn gốc hình thành, nết đặc trưng và sự ảnh hưởng văn hóa các dân tộc tới đời sống xã hội của con người
- Thứ hai, các công trình nghiên cứu về giao tiếp có thể kể đến:
“Bàn về phạm trù giao tiếp” của Bùi Văn Huệ (1981); Trần Trọng Thủy:
“ Giao tiếp và sự phát triển nhân cách trẻ” (1998); Ngô Công Hoàn: “Một số vấn đề giao tiếp văn hóa” (1987); Nguyễn Văn Lê: “ Vấn đề giao tiếp” (1992)
và rất nhiều các công trình nghiên cứu khác
Công trình “Giá trị - Định hướng giá trị nhân cách và giáo dục giá trị” thuộc đề tài khoa học cấp Nhà nước mã số KX - 07 - 04, 1995 do GS Nguyễn Quang Uẩn làm chủ nhiệm đã trình bày tương đối đầy đủ, toàn diện về hệ thống thang bậc giá trị, sự hình thành định hướng giá trị nhân cách cũng như quá trình giáo dục giá trị
Hội nghị khoa học “Nghiên cứu con người, giáo dục phát triển và thế kỷ XXI” tổ chức tháng 07 năm 1994 tại Hà Nội và chương trình khoa học cấp nhà nước do GS.TSKH Phạm Minh Hạc chủ nhiệm đề tài KX - 07: “Con người Việt Nam - Mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế xã hội” đã đề cập đến vấn
Trang 10đề giá trị và định hướng giá trị của con người Việt Nam hiện nay
Năm 1994 có đề tài KX - 07 - 10 của Viện khoa học giáo dục do Thái Duy Tuyên làm chủ nhiệm nghiên cứu “Ảnh hưởng của kinh tế thị trường đối với việc hình thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam” Đề tài đã đề cập đến thực trạng định hướng giá trị của thanh niên Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường và một số dự báo về sự biến đổi định hướng giá trị của thanh niên trong tương lai
- Thứ ba, các công trình nghiên cứu về tình hình giáo dục văn hóa và văn hóa giao tiếp cho học sinh tại tỉnh Sơn La nói riêng và cả nước nói chung Gồm
có các công trình như:
Tác giả luận văn thạc sĩ Lò Thị Mai Loan nghiên cứu về Thực trạng khả năng giao tiếp của học sinh sư phạm Sơn La năm 2010 đã khẳng định khả năng giao tiếp là một khả năng rất quan trọng đối với người làm nghề dạy học và có ảnh hưởng đến tất cả các hoạt động mà người giáo viên tiến hành như: dạy học
và giáo dục Vì vậy, phải chú trọng rèn luyện, nâng cao khả năng giao tiếp văn hóa của học sinh
Hay luận án tiến sĩ Tâm lý học: Phẩm chất nhân cách của giáo viên trường phổ thông dân tộc nội trú khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam, 2012, của tác giả Đinh Đức Hợi bảo vệ tại Viện Khoa học giáo dục Việt Nam tập trung nghiên cứu về nhân cách của giáo viên đang giảng dạy tại các trường dân tộc nội trú đơn thuần mà chưa khảo sát kỹ và sâu đối với học sinh
Luận án tiến sĩ Giáo dục học: Giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh Tiểu học nông thôn miền núi phía Bắc, của Ngô Giang Nam, bảo vệ tại trường
Đại học Thái Nguyên năm 2013, đây là luận án nghiên cứu sâu về vấn đề giáo
dục kĩ năng giao tiếp cho học sinh Tiểu học, còn bậc trung học và phổ thông trung học vẫn bỏ ngỏ chứ chưa được đề cập tới
Những người nghiên cứu về giao tiếp cũng như văn hóa giao tiếp rất quan tâm đến đối tượng là học sinh sư phạm Bởi lẽ học sinh sư phạm là những người thầy trong tương lai sẽ đào tạo và giáo dục nên những thế hệ tiếp theo cho đất
Trang 11nước Trong hoạt động nghề nghiệp của những người làm nghề dạy học thì ở đâu cũng có hoạt động giao tiếp tham gia vào Chính vì đó mà văn hóa giao tiếp trong học sinh sư phạm luôn được nghiên cứu
Nhìn chung những công trình này đi sâu phân tích đặc điểm chung về giao tiếp của học sinh nói chung và học sinh sư phạm nói chung, chưa đi sâu nghiên cứu việc giáo dục văn hóa giao tiếp cho học sinh, đặc biệt là học sinh sư phạm - những người thầy, cô giáo tương lai Và các tác giả cũng chưa đề ra được các giải pháp để giáo dục văn hóa giao tiếp cho học sinh sư phạm để nâng cao chất lượng dạy và học
Kế thừa kết quả nghiên cứu của những người đi trước là việc làm cần thiết đối với những người mới bước vào nghiên cứu trong một giới hạn nhất định, với đề tài này tôi mong muốn đi sâu phân tích có hệ thống văn hóa giao tiếp và việc giáo dục văn hóa giao tiếp cho học sinh trường dân tộc nội trú tại Sơn La
Ngoài ra còn một số công trình nghiên cứu đề cập đến một số vấn đề Và nhiều bài viết trên các tạp chí: Dân tộc học, Nghiên cứu lịch sử
Nhìn chung, các công trình kể trên chủ yếu khai thác khía cạnh môi trường sống, lịch sử văn hóa truyền thống của người dân tộc thiểu số nói chung Đây là một nguồn tài liệu quý giá để tác giả tìm hiểu, kế thừa trong quá trình nghiên cứu Vấn đề “Giáo dục văn hóa giao tiếp cho học sinh trường dân tộc nội trú ở Sơn La hiện nay’’
3 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở tìm hiểu thực trạng của việc giáo dục văn hóa giao tiếp cho học sinh các trường dân tộc nội trú ở Sơn La hiện nay, luận văn đưa ra một số giải pháp nhằm tiếp tục nâng cao hơn nữa khả năng giao tiếp văn hóa của học
sinh ở các trường dân tộc nội trú ở Sơn La hiện nay
4 Giả thuyết khoa học
Vấn đề lý luận về văn hóa giao tiếp và tầm quan trọng của việc giáo dục văn hóa giao tiếp cho học sinh các trường dân tộc nội trú ở Sơn La hiện nay
Trang 12Thực trạng về văn hóa giao tiếp của học sinh các trường dân tộc nội trú ở Sơn La hiện nay
5 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu của luận văn là: Các khái niệm về văn hóa, văn hóa giao tiếp và giáo dục văn hóa giao tiếp cho học sinh các trường dân tộc nội trú tại Sơn La hiện nay
- Đối tượng nghiên cứu: học sinh tại các trường dân tộc nội trú ở tỉnh Sơn
La
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Thứ nhất, phân tích và hệ thống cơ sở khoa học của việc giáo dục văn hóa giao tiếp cho học sinh trường dân tộc nội trú ở tỉnh Sơn La hiện nay
- Thứ hai, để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên luận văn có nhiệm vụ
làm rõ thực trạng văn hóa giao tiếp của học sinh các trường dân tộc nội trú tại Sơn
La hiện nay
- Thứ ba, đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao văn hóa giao
tiếp cho học sinh các trường dân tộc nội trú tại tỉnh Sơn La hiện nay
7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề giáo dục văn hóa giao tiếp cho học sinh tại các trường dân tộc nội trú Sơn La hiện nay
8 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận của phép biện chứng duy vật, các phương pháp cụ thể: phân tích và tổng hợp, lôgic và lịch sử, diễn dịch, quy nạp Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp: điều tra xã hội học, thống kê, đối chiếu,
so sánh…
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,
luận văn gồm 2 chương, 5 tiết
10.Tóm tắt những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn
Trang 1310.1 Những luận điểm cơ bản
Trong đề tài, tác giả đề cập tới những luận điểm sau:
+ Thứ nhất, văn hóa và văn hóa giao tiếp
+ Thứ hai, tác động của văn hóa giao tiếp trong việc tiếp nhận văn hóa, nâng cao trình độ nhận thức của hoc sinh các dân tộc thiểu số tại Sơn
Trang 14Chương 1:
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC GIÁO DỤC VĂN HÓA GIAO TIẾP
CHO HỌC SINH TRƯỜNG DÂN TỘC NỘI TRÚ Ở SƠN LA HIỆN NAY
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC GIÁO DỤC VĂN HÓA GIAO TIẾP CHO HỌC SINH TRƯỜNG DÂN TỘC NỘI TRÚ Ở SƠN LA HIỆN NAY
1.1.1 Khái niệm văn hóa và văn hóa giao tiếp
1.1.1.1 Khái niệm văn hóa
* Khái niệm văn hóa
Đã có rất nhiều các tổ chức, các quốc gia và các chuyên gia nghiên cứu
về văn hoá đưa ra các khái niệm về văn hoá và các vấn đề liên quan, và hiện tại chưa có một khái niệm nào về văn hoá được thống nhất tuyệt đối Có thể đưa ra một số quan niệm, khái niệm và định nghĩa về văn hoá như sau:
Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần mà con người đã sáng tạo ra trong hoạt động thực tiễn lịch sử gọi chung là hệ giá trị xã hội Hệ giá trị này biểu hiện thông qua vốn di sản văn hóa và phương thức ứng xử văn hóa của cộng đồng người, là thành tố cốt lõi làm nên bản sắc riêng của một cộng đồng xã hội, có khả năng chi phối, điều tiết hoạt động của mọi thành viên sống trong cộng đồng xã hội ấy
Hội nghị quốc tế về văn hóa ở Mêhicô (1982) để bắt đầu thập kỷ văn hoá UNESCO, đã thống nhất đưa ra một khái niệm về văn hoá như sau: Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập
tục và tín ngưỡng
Năm 2002, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật
Trang 15chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin
Cựu Tổng Giám đốc UNESCO giáo sư Federico Mayor khi ông đưa ra một định nghĩa: "Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát và sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và cả cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành một hệ thông các giá trị, truyền thống thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình" [23;99]
Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày một quan niệm về văn hoá: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá”[26;431]
Nhìn chung, mọi định nghĩa đều thống nhất văn hoá có các đặc điểm sau:
Thứ nhất, văn hoá là sáng tạo của con người, thuộc về con người, những
gì không do con người làm nên không thuộc về khái niệm văn hoá Từ đó, văn hoá là đặc trưng căn bản phân biệt con người với động vật, đồng thời cũng là tiêu chí căn bản phân biệt sản phẩm nhân tạo với sản phẩm tự nhiên Văn hoá xuất hiện do sự thích nghi một cách chủ động và có ý thức của con người với tự nhiên, nên văn hoá cũng là kết quả của sự thích nghi ấy
Thứ hai, văn hoá bao gồm cả những sản phẩm vật chất và tinh thần, chứ
không chỉ riêng tinh thần mà thôi
Thứ ba, văn hoá không chỉ có nghĩa chỉ là văn học nghệ thuật như thông
thường người ta hay nói Văn học nghệ thuật chỉ là bộ phận cao nhất trong lĩnh vực văn hoá mà thôi
Trên cơ sở phân tích các quan niệm trên có thể kết luận:Văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con
Trang 16người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người Văn hóa
là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu
và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra
* Các đặc trưng và chức năng của văn hóa
Một là, văn hóa phải có tính hệ thống Đặc trưng này cần để phân biệt hệ
thống với tập hợp, nó giúp phát hiện những mối liên hệ mật thiết giữa các hiện tượng, sự kiện thuộc một nền văn hóa Phát hiện các đặc trưng, những quy luật hình thành và phát triển của nó
Nhờ có tính hệ thống mà văn hóa, với tư cách là một thực thể bao trùm mọi hoạt động của xã hội, thực hiện được chức năng tổ chức xã hội, chính văn hóa thường xuyên làm phát triển độ ổn định của xã hội, cung cấp cho xã hội mọi phương tiện cần thiết để ứng phó với môi trường tự nhiên và xã hội
Hai là, văn hóa có tính giá trị Văn hóa theo nghĩa đen là “ trở thành đẹp,
thành giá trị” Tính giá trị cần để phân biệt với tính phi giá trị Nó là thước đo mức độ nhân bản của xã hội và con người Các giá trị văn hóa theo mục đích có thể chia thành giá trị vật chất ( phục vụ cho nhu cầu vật chất) và giá trị tinh thần (phục vụ cho nhu cầu tinh thần); theo ý nghĩa có thể chia thành giá trị sử dụng, giá trị đạo đức, giá trị thẩm mỹ ; theo thời gian có thể phân biệt các giá trị vĩnh cửu và giá trị nhất thời Sự phân biệt các giá trị theo thời gian cho phép ta có được cái nhìn biện chứng và khách quan trong việc đánh giá sự vật, hiện tượng, tránh được những xu hướng cực đoan phủ nhận sạch trơn hoặc tán dương hết lời
Nhờ thường xuyên xem xét các giá trị mà văn hóa thực hiện được chức năng quan trọng thứ hai là chức năng điều chỉnh xã hội, giúp cho xã hội duy trì được trạng thái cân bằng động, không ngừng hoàn thiện và thích ứng với những biến đổi của môi trường, giúp định hướng các chuẩn mực, làm động lực cho sự
Trang 17phát triển xã hội
Ba là, văn hóa có tính nhân sinh Tính nhân sinh cho phép phân biệt văn
hóa như một hiện tượng xã hội ( do con người sáng tạo, nhân tạo) với các giá trị
tự nhiên ( thiên tạo) Văn hóa là cái tự nhiên được biến đổi bởi con người Sự tác động của con người vào tự nhiên có thể mang tính vật chất ( như việc luyện quặng, đẽo gỗ…) hoặc tinh thần ( như việc đặt tên, truyền thuyết cho các cảnh quan thiên nhiên…)
Do mang tính nhân sinh văn hóa trở thành sợi dây nối liền con người với con người, nó thực hiện chức năng giao tiếp và có tác dụng liên kết họ lại với nhau Nếu ngôn ngữ là hình thức của giao tiếp thì văn hóa là nội dung của nó
Bốn là, văn hóa có tính lịch sử, nó cho phép phân biệt văn hóa như sản
phẩm của một quá trình và được tích lũy qua nhiều thế hệ với văn minh sản phẩm cuối cùng, chỉ ra trình độ phát triển của từng giai đoạn Tính lịch sử tạo cho văn hóa một bề dày, một chiều sâu, nó buộc văn hóa thường xuyên tự điều chỉnh, tiến hành phân loại và phân bố lại các giá trị Tính lịch sử được duy trì bằng truyền thống văn hóa Truyền thống văn hóa là những giá trị tương đối ổn định ( những kinh nghiệm tập thể) được tích lũy và tái tạo trong cộng đồng người qua không gian, thời gian, được đúc kết thành những khuôn mẫu xã hội
và cố định hóa dưới dạng ngôn ngữ, phong tục, tập quan, nghi lễ, luật pháp, dư luận…
1.1.1.2 Khái niệm văn hóa giao tiếp
* Khái niệm giao tiếp
Hiện nay, có rất nhiều quan niệm khác nhau về giao tiếp Mỗi quan niệm
có những cơ sở khoa học riêng của nó
Quan niệm thứ nhất xem giao tiếp như một yếu tố chung có cả người và động vật Cho rằng giao tiếp là sự tác động lẫn nhau giữa con người với nhau và những động vật có tâm lý với nhau, nếu thu hẹp hơn có thể coi giao tiếp là mối quan hệ giữa con người và những động vật nuôi trong nhà
Quan niệm thứ hai định nghĩa: Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý giữa con
Trang 18người với con người, trong đó con người trao đổi thông tin, trao đổi cảm xúc, tri giác lẫn nhau, đưa đến ảnh hưởng, tác động qua lại lẫn nhau Quan niệm này đã
mở rộng khái niệm chủ thể giao tiếp đến toàn xã hôi Tuy nhiên chưa phân biệt
rõ trong quan hệ giao tiếp ai là chủ thể, khách thể Cho rằng giao tiếp là dạng hoạt động hoặc là phương thức, điều kiện của hoạt động
Cả hai quan niệm trên xem giao tiếp là một dạng đặc biệt của hoạt động
có đối tượng đã lý giải chưa thỏa đáng về đối tượng, động cơ, chủ thể của hoạt động này
Quan niệm thứ ba cho rằng: Giao tiếp là sự tiếp xúc với nhau giữa cá thể này với cá thể khác trong cộng đồng xã hội Loài động vật cũng có thể làm những hành vi xã hội vì chúng sống có giao tiếp với nhau như loài ong, xã hội loài kiến
Tác giả Trần Trọng Thủy và Nguyễn Sinh Huy về “Nhập môn khoa học giao tiếp” (1996) lại cho rằng: “Giao tiếp của con người là một quá trình chủ đích hay không có chủ đích, có ý thức hay không có ý thức mà trong đó các cảm xúc và tư tưởng được diễn đạt trong thông điệp bằng ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ”[44, tr.47]
Hai tác giả Nguyễn Thạc và Hoàng Anh về “Luyện giao tiếp văn hóa” (1997) quan niệm: “Giao tiếp là hình thức đặc biệt cho mối quan hệ giữa con người với con người mà quan đó nảy sinh sự tiếp xúc tâm lý và được biểu hiện
ở các quá trình thông tin, hiểu biết, rung cảm, ảnh hưởng và tác động qua lại lẫn nhau”[27, tr.34]
Nhìn chung, trong những khái niệm giao tiếp trên đều công nhận giao tiếp
là sự tiếp xúc giữa hai người hay nhiều người Trong giao tiếp diễn ra sự tác dộng lẫn nhau, ảnh hưởng lẫn nhau, có sự trao đổi thông tin, tình cảm, thế giới quan… của những người tham gia và quá trình giao tiếp Văn hóa giao tiếp là một bộ phận trong tổng thể văn hóa nhằm chỉ quan hệ giao tiếp có văn hóa của mỗi người trong xã hội, là tổ hợp các thành tố lời nói, hành vi, cử chỉ, thái độ, cách ứng xử,… của mỗi cá nhân
Trang 19Trong giao tiếp xã hội diễn ra sự tác động lẫn nhau, ảnh hưởng lẫn nhau,
có sự trao đổi thông tin, tình cảm, thế giới quan… của những người tham gia và quá trình giao tiếp Nhìn chung, trong những khái niệm giao tiếp trên đều công nhận giao tiếp là sự tiếp xúc giữa hai người hay nhiều người
Giao tiếp là điều kiện tồn tại của con người, thông qua giao tiếp mỗi cá nhân gia nhập vào các mối quan hệ xã hội, tiếp thu nền văn hóa xã hội, biến thành cái riêng của mình đồng thời cũng góp phần hiểu biết và tính cách cá nhân của mình vào sự phát triển của văn hóa nói chung, tạo nên nét đặc trưng riêng của cộng đồng mà mình tham gia Xã hội phát triển, quá trình toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ, khoa học kỹ thuật càng hiện đại tạo nên một thế giới phẳng, càng ngày càng có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hành vi, sự suy nghĩ và cuộc sống của con người Từ đó, mối quan hệ giữa con người với con người càng được quan tâm, vì thế giao tiếp được xem là vấn đề thời sự trong nhiều lĩnh vực, nhất là những lĩnh vực làm việc trực tiếp với con người như giáo dục, văn hóa, ngoại giao… Ngày nay giao tiếp là phương tiện để con người hợp tác cùng nhau, hướng tới mục đích bình đẳng, hạnh phúc Nhu cầu giao tiếp là nhu cầu quan trọng của con người Xã hội càng phát triển thì càng có nhiều cách thức để con người có thể giao tiếp với nhau ngoài việc giao tiếp trực tiếp bằng ngôn ngữ Để thỏa mãn nhu cầu giao tiếp và tiến hành giao tiếp có kết quả con người cần có kỹ năng giao tiếp và biết cách sử dụng thành thạo các kỹ năng giao tiếp
Giao tiếp có ý nghĩa cực kỳ quan trọng với mỗi người, nếu không có nó con người không thể tồn tại, đó là yếu tố phân biệt loài người, cộng đồng người với thế giới tự nhiên, cũng là một công cụ để phân biệt tự nhiên và xã hội Cùng với hoạt động, giao tiếp đang là yếu tố quyết định sự hình thành, phát triển của loài người cùng như của từng cá nhân Nhờ tham giao vào hoạt động giao tiếp
mà các đặc trưng xã hội của con người được hình thành, cấu trúc xã hội được thành lập, đặc trưng tự nhiên của từng dân tộc, từng cộng đồng dân cư xây dựng nên những đặc thù riêng và đặc biệt cá nhân mỗi người cũng có thể lĩnh hội được các kinh nghiệm lịch sử xã hội Bản thân họ một mặt học hỏi qua giao tiếp
Trang 20xã hội để chuyển hóa thành kinh nghiệm riêng của cá nhân, đồng thời họ lại dùng chính phẩm chất năng lực của mình để tham gia vào đời sống xã hội, góp phần cá nhân mình vào cộng đồng xã hội Tất cả những yếu tố trên đều là thành
tố của giao tiếp, cá nhân giao tiếp với nhau, cá nhân giao tiếp với cộng đồng và ngược lại Có như vậy cá nhân mới tồn tại, thích nghi và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội
* Khái niệm về văn hóa giao tiếp
Văn hóa giao tiếp là một bộ phận trong tổng thể văn hóa nhằm chỉ quan
hệ giao tiếp có văn hóa của mỗi người trong xã hội (giao tiếp một cách lịch sự, thái độ thân thiện, cởi mở, chân thành, thể hiện sự tôn trọng nhau), là tổ hợp của các thành tố: lời nói, cử chỉ, hành vi, thái độ, cách ứng xử…
Văn hóa giao tiếp là một phạm trù mang tính xã hội mà trong đó yếu tố văn hóa chỉ được đề cập đến trong phạm vi giao tiếp Văn hóa giao tiếp là những hiểu biết về phong tục tập quán của đời sống xã hội Một người có hành
vi ứng xử đúng đắn khi tham gia giao tiếp phải tuân theo những chuẩn mực xã hội nhất định, hành động theo một số quy ươc chung của xã hội và được mọi người trong tập thể xã hội đó chấp nhận và cho là phù hợp nhất với môi trường sống của họ
Văn hóa giao tiếp của một dân tộc, một xã hội được cho là một hệ thống những chuẩn mực, nguyên tắc… được biểu hiện tập trung ở lối sống, phong tục tập quán, truyền thống văn hóa chung của xã hôi, dân tộc đó Trong đó văn hóa giao tiếp như một hạt nhân để xây dựng nề nếp, chuẩn mực cho mỗi cá nhân, mỗi nhóm người Văn hóa giao tiếp mang trong mình những giá trị văn hóa, đạo đức và thẩm mĩ phù hợp với bản sắc của mỗi dân tộc, là sự kết tinh giữa cái truyền thống, cái hiện đại và cái toàn cầu
Kinh nghiệm xã hội được chứa đựng trong thế giới con người, do đó chúng tôi đề cập như vậy để phân biệt với giới tự nhiên vì như trên đã nói bản chất giới tự nhiên cũng có những quy luật riêng để phù hợp với bản thân nó Tự nhiên vốn có một vòng tuần hoàn khép kín của nó và con người chỉ là một mắt
Trang 21xích của tự nhiên và không thể tách khỏi tự nhiên Trong xã hội hiện nay, con người muốn chiếm lĩnh được thế giới xung quanh mình cả tự nhiên và xã hội thì con người phải được tiếp xúc, giao tiếp với đối tượng, đặc biệt là giao tiếp với những người xung quanh – những người lớn hơn, những người có kinh nghiệm hơn, giao tiếp một cách nhân văn nhất với tự nhiên (vấn đề này liên quan đến sinh thái học nhân văn, một trong những vấn đề mang tính thời sự hiện nay) Qua hàng ngàn năm tích lũy kinh nghiệm, tổ tiên chúng ta đã tích lũy được vô khối những quy luật của tự nhiên, quy luật của xã hội và truyền lại cho đời sau, thậm chí ngày nay các nhà khoa học còn khẳng định nó còn có trong các mã di truyền của loài người Nhờ có kinh nghiệm của người đi trước, sự chỉ bảo lẫn nhau của mọi người thông qua giao tiếp mà các cá nhân lĩnh hội được những kinh nghiệm lịch sử - xã hội loài người chứa đựng trong đối tượng đó một cách nhanh nhất Cũng từ đó, nhân cách được phát triển phù hợp với yêu cầu của xã hội Nhiều công trình nghiên cứu được công bố đã chứng minh: văn hóa giao tiếp trong môi trường nhà trường, môi trường giáo dục giúp cho cá nhân lĩnh hội được những tri thức cần thiết bằng những con đường nhanh nhất và đỡ tốn kém nhất, tạo điều kiện tối ưu cho sự hình thành và phát triển nhân cách con người.
Mặt khác, theo chúng tôi văn hóa giao tiếp đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sự hình thành và phát triển nhân cách nghề Sự thành công hay thất bại của mỗi người trong công việc mà mình đang thực hiện không chỉ phụ thuộc vào kiến thức chuyên môn mà còn phụ thuộc vào khả năng giao tiếp, ứng xử khéo léo với mọi người trong mọi hoàn cảnh mà học trải qua Với tư cách là phẩm chất đặc biệt của nhân cách văn hóa giao tiếp cần được xem xét, nghiên cứu cẩn trọng, khoa học nhằm chỉ ra những phương cách phù hợp với từng người, từng khu vực dân cư thậm chí từng dân tộc, từng khu vực trên thế giới Điều này sẽ góp phần cho quá trình hội nhập phát triển của các quốc gia nói chung và từng cá nhân nói riêng
Đặc biệt trong hoạt động sư phạm thì văn hóa giao tiếp không thể thiếu
Trang 22Bởi vì quá trình giáo dục là quá trình giao tiếp giữa giáo viên và học sinh Hiệu quả của quá trình này phụ thuộc vào nhiều yếu tố Một trong những yếu tố góp phần quan trọng vào sự thành công của hoạt động sư phạm, đó chính là năng lực giao tiếp của giáo viên Vì vậy, để thực hiện tốt nhiệm vụ của mình, người giáo viên không chỉ tích cực rèn luyện để có chuyên môn sâu, mà còn phải tích cực rèn luyện nghiệp vụ sư phạm để có khả năng giao tiếp tốt với học sinh nhằm mục đích đạt hiệu quả cao nhất trong công tác của mình
Thực tế cho thấy rằng, tại các trường dân tộc nội trú, việc học sinh đến lớp đã rất khó khăn, hơn thế có khi một lớp lại có nhiều độ tuổi khác nhau, người giáo viên về cắm trường cắm bản đôi khi cần có những kỹ năng về giao tiếp để có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình Việc trang bị cho học sinh nơi đây kỹ năng giao tiếp là một trong những nhiệm vụ quan trọng của người giáo viên Trong những kỹ năng sư phạm thì kỹ năng giao tiếp văn hóa là kỹ năng rất cần thiết để người học sinh có các mối quan hệ thiết yếu khi ra ngoài xã hội
* Chức năng của văn hóa giao tiếp
Xét dưới nhiều góc độ khác nhau, nên nhiều cách phân loại chức năng trong văn hóa giao tiếp:
Thứ nhất, chức năng thông tin con người trao đổi với nhau qua hoạt động
giao tiếp Nội dung thông tin có thể là hiện tượng, vấn đề trong đời sống sinh hoạt hang ngày, những suy nghĩ, tâm tư, tri thức…
Thứ hai, chức năng điều chỉnh qua hoạt động giao tiếp con người điều
chỉnh thái độ, hành vi, nhận thức của bản thân, của đối tượng giao tiếp, sự điều chỉnh hành vi lẫn nhau là yếu tố quan trọng trong các chủ thể tham gia vào giao tiếp thành chủ thể hoạt động chung
Thứ ba, chức năng cảm xúc: con người biểu lộ tình cảm, thái độ, tác động
đến trạng thái cảm xúc của nhau, nhờ đó con người ta có thể thay đổi trạng thái tình cảm của mình, hiểu thái độ của người khác làm cho hiệu quả của giao tiếp tốt hơn
Thứ tư, chức năng nhận thức qua sự trao đổi qua lại lẫn nhau, con người
Trang 23nhận thức lẫn nhau, so sánh, đối chiếu mình với người khác, do đó biết được mình là người như thế nào
Thứ năm, chức năng tổ chức hoạt động chung hoạt động giao tiếp ảnh
hưởng đến việc lựa chọn mục đích hình thành kế hoạch chung, phân công, phân nhiệm vụ cụ thể của từng người Trong quá trình hoạt động chung có sự trao đổi thông tin, khích lệ, kiểm tra, uốn nắn hành động của nhau
Thứ sáu, chức năng thiết lập quan hệ với sự giao lưu giữa người với
người giúp hình thành quan hệ đồng chí, bạn bè hay quan hệ thù địch… các mối quan hệ này có ảnh hưởng tới sự phát triển của cá nhân
* Phương tiện trong văn hóa giao tiếp
Thứ nhất, phương tiện ngôn ngữ
Ngôn ngữ là một hệ thống ký hiệu từ ngữ do các cộng đồng xã hội đặt ra nhằm ghi lại lời nói của cộng đồng đó Ký hiệu từ ngữ tác động vào hoạt động, làm thay đổi hoạt động nhưng là hoạt động tinh thần, hoạt động trí tuệ, hoạt động bên trong con người và làm trung gian hóa các hoạt động tâm lý cấp cao của con người như tri giác, trí nhớ, tưởng tượng, tư duy… Ký hiệu từ ngữ làm được điều đó là nhờ vào đặc tính bên trong nội dung từ ngữ của từ - một đặc tính ngay từ đầu chỉ là do quy ước, võ đoán với hình thức âm thanh bên ngoài
mà từ nói thôi
Ngôn ngữ gồm ba bộ phận là ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp Các đơn vị của ngôn ngữ là âm vị, hình vị, từ, câu, văn bản… bất cứ thứ ngôn ngữ nào cũng chứa đựng hai phạm trù là phạm trù ngữ pháp và phạm trù logic Phạm trù ngữ pháp là một hệ thống quy định về việc thành lập từ, câu, cách phát âm, phạm trù này ở các ngôn ngữ khác nhau là khác nhau Phạm trù logic là quy luật, phương pháp tư duy đúng đắn của con người, nó chung cho cả loài người vì vậy tuy dùng các thứ ngôn ngữ khác nhau nhưng các dân tộc khác nhau vẫn hiểu được nhau
Ngôn ngữ của mỗi người được hình thành trong quá trình sống và hoạt động trong môi trường lịch sử văn hóa nhất định, trong cộng đồng mà họ tham
Trang 24gia sống, sinh hoạt, lao động, phụ thuộc vào môi trường sống, do đó có sự khác biệt của từng cá nhân về ngôn ngữ trong chính nội tại cộng đồng giao tiếp đó, tùy thuộc vào khả năng thích ứng của cá nhân đó trong cộng đồng của mình
Phương tiện chính trong văn hóa giao tiếp chính là ngôn ngữ Hiệu quả giao tiếp ở chừng mực nào đó là do trình độ của người sử dụng ngôn ngữ của người tham gia vào quá trình giao tiếp, vì vậy mới có trường hợp có những việc đối với một vài người họ có thể xử lý rất dễ ràng nhưng với một vài người khác lại vô cùng khó khăn Nếu diễn đạt ngôn ngữ rõ ràng, dễ hiểu, thích hợp với trình độ của người nghe, diễn tả đúng được tình cảm, thái độ mà mình muốn thể hiện thì đạt mục đích giao tiếp Ngôn ngữ cá nhân chính là yếu tố thể hiện thành phong cách ngôn ngữ từng người, mỗi người dùng phương tiện giao tiếp là ngôn ngữ để thể hiện khả năng của bản thân trong cuộc sống cũng như trong công việc Phong cách ngôn ngữ mang dấu ấn của đặc điểm nghề nghiệp, tuổi tác, giới tính, vị thế xã hội của từng cá nhân Việc sử dụng ngôn ngữ trong văn hóa giao tiếp của cá nhân nói lên những thông tin chính về tính cách, trạng thái, đặc điểm tâm lý của cá nhân đó
Có hai loại ngôn ngữ phổ biến nhất được dùng làm phương tiện trong văn hóa giao tiếp là ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết Với ngôn ngữ viết là ngôn ngữ nhìn thấy, ngôn ngữ sơ đồ thể hiện ngữ pháp của câu, mệnh đề, một từ và được
sử dụng trong các ngữ cảnh, văn cảnh khác nhau, thậm chí đối lập nhau về nghĩa Do đó ngôn ngữ viết sẽ trở thành một phương tiện trong văn hóa giao tiếp hiệu quả nếu người giao tiếp chuẩn về ngữ pháp, dùng từ thể hiện được sự trong sáng, tinh tế, thanh tao, dễ đọc Còn ngôn ngữ nói là ngôn ngữ âm thanh cũng chứa đựng nghĩa xã hội, chính là nội hàm của khái niệm từ, thực hiện chức năng nhận thức Giọng điệu chính là phương tiện văn hóa giao tiếp có hiệu quả khi các ý trong từ thể hiện thái độ thiện cảm, phù hợp với không gian giao tiếp Giọng điệu tự nó phản ánh chân thật tình cảm, giọng điệu có thể khuyến khích, động viên, răn đe, ngăn cấm, kích thích tính tích cực hoạt động nhận thức hoặc ngược lại làm đối tượng giao tiếp buồn tẻ, thụ động
Trang 25Thứ hai, phương tiện phi ngôn ngữ
Phương tiện phi ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp không sử dụng ngôn ngữ làm phương tiện để giao tiếp nhưng đối tượng tham gia hoạt động đó vẫn hiểu nội dung thông tin của đối tượng truyền đạt Trong văn hóa giao tiếp đôi khi những tín hiệu phi ngôn ngữ giúp cho đối tượng giao tiếp cho đi rất nhiều thông điệp có ý nghĩa mà chưa chắc khi thể hiện bằng lời nói đã đạt hiệu quả tối
đa nhất Tín hiệu phi ngôn ngữ đó là những cử chỉ, điệu bộ như cái bắt tay, thái
độ (ân cần, thân thiện, cởi mở, lạnh lùng, thờ ơ, lãnh đạm, nhạt nhẽo); nụ cười, ánh mắt (nhún vai, vẫy tay, chỉ tay); Những cử chỉ, điệu bộ của con người có thể luyện tập và được hình thành trong cuộc sống, nhìn từ một góc độ nào đó khi đã tham gia vào cuộc giao tiếp thì cử chỉ, điệu bộ của con người được điều khiển bởi thói quen và vô thức
Cử chỉ, điệu bộ mang lại ý nghĩa rất lớn Khi lắng nghe đối tượng giao tiếp ta phải kết hợp lắng nghe cả ngôn ngử có lời và ngôn ngữ không lời (tín hiệu phi ngôn ngữ); còn khi nói chúng ta nên tranh thủ sử dụng cử chỉ, điệu bộ
bổ trợ cho lời nói, tạo hiệu quả nhất định cho cuộc giao tiếp của mình Cử chỉ, điệu bộ giúp ta diễn đạt vấn đề sinh động hơn, thuyết phục hơn đối với đối tượng tham gia giao tiếp
Ví dụ như, không gian giao tiếp là phương tiện để bộc lộ mối quan hệ, tình cảm giữa các cá nhân với nhau, về cơ bản chúng ta thường xích lại gần những người chúng ta thích và tin tưởng, nhưng lại tránh xa những người chúng
ta sợ hoặc không có cảm tình, tất cả những điều đó đều phải thông qua quan hệ
xã hội hay nói cách khác chính là thông qua giao tiếp cá nhân và kinh nghiệm
xã hội mà chúng ta tích lũy được, tùy vào khả năng và mong muốn của từng người
Nét mặt: trong văn hóa giao tiếp, nét mặt biểu lộ thái độ, cảm xúc của con
người Không cần có các công trình nghiên cứu chúng ta cũng có thể hiểu được rằng nét mặt của con người biểu lộ cảm xúc: vui, mừng, buồn, ngạc nhiên, sợ hãi, tức giận, ghê tởm Ngoài tính biểu cảm, nét mặt còn cho ta biết ít nhiều về
Trang 26cá tính của từng người Điều này đã được dân gian tích lũy rất nhiều nhất là trong các câu ca dao, tục ngữ… Trong ca dao thì thái đội của mỗi người được thể hiện trên rất nhiều phương diện chẳng hạn như: tiếng chào không chỉ nói lên phép lịch sự của con người Việt Nam mà tiếng chào còn là cái cớ để những đôi trai gái làm quen với nhau, đó là những lời chào bắt duyên trong văn học dân gian
Ví dụ: "Đôi ta như đá với dao,
Năng liếc thì sắc, năng chào thì quen"
Hay: "Gặp nhau đường vắng thì chào
Gặp nhau giữa chợ lao xao xin đừng"
Câu thơ, giọng hát với cái đích là phục vụ nhân sinh Con người luôn có hoài bão vươn tới cái hay, cái đẹp, cái thanh tao của cuộc sống là chân, thiện,
mỹ, cho nên ca dao dân ca không chỉ là những bài hát ngắn dài, vần, vè về câu chữ, nhịp điệu trầm bổng du dương để quên nguôi cảnh buồn tẻ, trống trải mà thực tế nội dung ý nghĩa còn mang tính nhân văn sâu sắc Đặc biệt nó thể hiện văn hóa giao tiếp giữa con người với con người Hay như câu:
“Người xấu duyên lặn vào trong Bao nhiêu người đẹp duyên bong ra ngoài”
Hai câu này thể hiện nội dung bên ngoài của con người, nói đến chuyện xấu, đẹp trong tính cách của mỗi người nhưng mang ý mỉa mai, cạnh khóe những người tự cho rằng mình là tốt, là đẹp… Và câu: Chớ thấy áo rách mà cười, những giống gà nòi lông nó lơ thơ”… đọc câu tục ngữ trên ta cũng có thể hiểu người ta khẳng đinh con người nghèo đói chưa chắc họ đã xấu về nhân cách Trong cuộc sống họ vẫn bản lĩnh, vẫn sống tốt đẹp với mọi người xung quanh
Hoặc trong lĩnh vực văn hóa nông nghiệp, với đặc điểm trọng tình đã dẫn người Việt Nam tới chỗ lấy tình cảm làm nguyên tắc ứng xử:
Yêu nhau yêu cả đường đi/ ghét nhau ghét cả tông ti họ hàng;
Yêu nhau cau sáu bổ ba/ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười;
Trang 27Yêu nhau chín bỏ làm mười; Yêu nhau củ ấu cũng tròn/ghét nhau quả bồ hòn cũng méo;
Yêu nhau mọi việc chẳng nề/một trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng…
Nụ cười: trong văn hóa giao tiếp chúng ta có thể dùng nụ cười để biểu lộ
tình cảm, thái độ của mình, mỗi một con người có bao nhiêu kiểu cười có bấy nhiêu cá tính Khi giao tiếp với đối tượng, mỗi điệu cười biểu hiện một thái độ nào đó, cho nên trong văn hóa giao tiếp chúng ta phải tinh nhạy, quan sát nụ cười, giọng nói, biểu cảm của đối tượng giao tiếp để biết được cảm xúc thật sự của họ
Người Việt Nam rất hay cười, nụ cười là một bộ phận quan trọng trong
thói quen giao tiếp của người Việt;người ta có thể gặp nụ cười Việt Nam vào cả
lúc ít chờ đợi nhất Tâm lý ưa hòa thuận khiến người Việt Nam luôn chủ trương nhường nhịn: Một sự nhịn là chín sự lành; Chồng giận thì vợ bớt lời, cơm sôi nhỏ lửa có đời nào khê…
Tính tế nhị khiến cho người Việt Nam có thói quen giao tiếp “vòng vo tam quốc”, không bao giờ mở đầu trực tiếp, đi thẳng vào đề như người phương
Tây Truyền thống Việt Nam khi bắt đầu giao tiếp là phải xấn xá cầu điền, hỏi thăm nhà cửa ruộng vườn Cũng để đưa đẩy tạo không khí là truyền thống miếng trầu là đầu câu chuyện Với thời gian, chức năng “mở đầu câu chuyện” này của “miếng trầu” được thay thế bởi chén trà, điều thuốc lá Lối giao tiếp ưa
tế nhị, ý tứ là sản phẩm của lối sống trọng tình và lối tư duy trong các mối quan
hệ Nó tạo nên thói quen đắn đo cân nhắc kỹ càng khi nói năng: Ăn có nhai, nói
có nghĩ; Chó ba quanh mới nằm, người ba năm mới nói; Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe; Người khôn ăn nói nửa chừng, để cho người dại nửa mừng nửa lo… Chính sự đắn đo cân nhắc này khiến cho người Việt Nam có nhược điểm là thiếu tính quyết đoán, nhưng đồng thời giữ được sự hòa thuận, không làm mất lòng ai
Ánh mắt: đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn nên ánh mắt phản ánh trạng thái
cảm xúc, bộc lộ tình cảm, tâm trạng và ước nguyện của con người ra bên ngoài
Trang 28Trong văn hóa giao tiếp, ánh mắt đóng vai trò đồng bộ hóa câu chuyện, biểu hiện sự chú ý, tôn trọng, sự đồng tình hay phản đối Ánh mắt của con người thể hiện cá tính của người đó
Lối giao tiếp ưa tế nhị, ý tứ là sản phẩm của lối sống trọng tình và lối tư duy coi trọng các mối quan hệ Nó tạo nên một thói quen đắn đo, cân nhắc kỹ càng khi nói năng: Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe rồi:
Người khôn ăn nói nửa lời,
Để cho người dại nửa mừng, nửa lo
Để tránh phải quyết đoán, và đồng thời để không làm mất lòng ai, để giữ được sự hòa thuận cần thiết, người Việt Nam rất hay cười Nụ cười là một cử chỉ quan trọng trong thói quen giao tiếp của người Việt Nhiều khi chỉ ánh mằt,
nụ cười ban đầu nhưng đã bộc lộ được điều muốn nói và bao giờ cũng để lại ấn tượng khó phai Không chỉ có vậy, với tâm lý trọng hòa thuận khiến người Việt Nam luôn chủ trương nhường nhịn, một sự nhịn là chín sự lành
Qua những phân tích trên chúng ta có thể thấy giao tiếp và văn hóa giao tiếp có vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc sống xã hội cũng như đối với từng
cá nhân trong việc hình thành nhân cách
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC GIÁO DỤC VĂN HÓA GIAO TIẾP CHO HỌC SINH TRƯỜNG DÂN TỘC NỘI TRÚ Ở SƠN LA HIỆN NAY
1.2.1 Điều kiện kinh tế - văn hóa xã hội ảnh hưởng tới văn hóa giao tiếp cho học sinh các trường dân tộc nội trú ở Sơn La hiện nay
Sơn La là tỉnh miền núi cao nằm ở phía Tây Bắc, có diện tích tự nhiên 14.055 km2, chiếm 4,27% diện tích cả nước Giáp với các tỉnh Yên Bái, Lai Châu, Hòa Bình, Phú Thọ, Điện Biên, Thanh Hóa và có 250km đường biên giới với nước CHDCND Lào
Tỉnh Sơn La có 11 huyện và 1 Thành phố với 12 dân tộc anh em chung sống, trong đó dân tộc Thái chiếm 54%, dân tộc Kinh 18%, dân tộc Mông 12%, dân tộc Mường 8,4%, dân tộc Dao 2,5%, còn lại là các dân tộc: Khơ Mú, Xinh Mun; Kháng, La Ha, Lào, Tày và Hoa
Trang 29Sơn La là địa phương giàu tiềm năng, có sông suối, núi rừng và tài nguyên khoáng sản, đặc biệt nơi đây có công trình thủy điện lớn nhất Đông Nam Á sừng sững đứng giữa trời Tây Bắc Vượt qua gian khó của mảnh đất vùng cao, qua hơn 120 năm xây dựng và trưởng thành, Sơn La đã và đang vươn mình phát triển theo hướng bền vững, trở thành trung tâm kinh tế vùng Tây Bắc
Sơn La những năm trước đây là mảnh đất xa xôi và vô cùng gian khó, còn nhiều lắm những trẻ em tím sẫm vì lạnh; nhiều gia đình cơm không đủ ăn, áo không đủ ấm Những ngôi nhà tranh xiêu vẹo giữa trời là hình ảnh quen thuộc của những vùng quê nghèo Sơn La Thời chiến tranh, những ngọn núi hiểm trở này khiến quân Pháp mấy phen mò lên đều thất bại Trên núi, du kích cùng đồng bào người Thái, người Mông… dùng bẫy đá bất thần đổ xuống làm giặc Pháp khiếp sợ, thế nên nơi đây trở thành vỏ bọc cho khu căn cứ cách mạng Thời bình, những ngọn núi ấy lại trở thành nỗi lo canh cánh, lo làm sao cho người dân thoát nghèo, lo làm sao cho hạt lúa, hạt ngô, cái ăn, cái mặc sinh ra từ những ngọn núi ấy…
Mơ ước ấy nay đã dần trở thành hiện thực dưới bàn tay, khối óc con người Có thể nói, Công trình Thủy điện Sơn La chính là yếu tố quan trọng giúp thay đổi toàn diện cơ sở hạ tầng, tạo động lực cho Sơn La phát triển Có công trình thủy điện, hạ tầng giao thông ngày một phat triển; mặt hồ rộng lớn, yên ả, tạo điều kiện cho bà con nuôi cá, phát triển kinh doanh Và khi công trình hình thành, mặt hồ Sơn La hung dữ được biến thành khung cảnh hiền hòa, thần tiên, thuận lợi cho phát triển du lịch Từ “dòng sáng” ấy, hàng nghìn tỷ đồng được góp vào ngân sách địa phương, tạo điều kiện cho kinh tế phát triển
Ngoài thủy điện, để tận dụng lợi thế từ nguồn tài nguyên khoáng sản, từ
hệ thống sông ngòi dày đặc, Sơn La đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách thu hút đầu tư, hỗ trợ, khuyến khích ưu đãi, tập trung đầu tư một số cơ sở công nghiệp với quy mô lớn Qua đó, dần hình thành các cụm công nghiệp gắn với phát triển hạ tầng kỹ thuật, đô thị, dịch vụ quanh các khu công nghiệp, góp phần quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế Sơn La đã thực hiện một số dự án
Trang 30như nâng công suất chế biến sữa tươi tiệt trùng của Nhà máy sữa Mộc Châu lên
100 tấn/ngày; đầu tư xưởng sản xuất sữa chua công suất 30 tấn/ngày; xưởng chế biến thức ăn tinh cho bò sữa công suất 5 tấn/giờ… Giá trị sản xuất công nghiệp nhờ đó tăng mạnh từng năm, mang lại nguồn kinh tế lớn cho tỉnh
Với các huyện vùng cao, nông nghiệp vẫn là thế mạnh Như ở Mường La, trước đây, giống ngô trồng ở địa phương năng suất chỉ 2-3 tấn/ha, nay tất cả các
xã, bản, bà con người Thái ở vùng thấp hay bà con người Mông, La Ha, Khơ
Mú ở vùng cao đều lựa chọn ngô giống mới để trồng, năng suất tăng gấp 4 - 5 lần Hàng năm, riêng cây ngô ở vùng cao cho thu hoạch hàng chục nghìn tấn, mang lại hàng trăm tỷ đồng Hiện nay, mô hình sản xuất chủ yếu ở vùng cao Sơn La là các cây trồng cạn, như ngô, lúa, đậu đỗ, cây ăn quả và chăn nuôi gia súc, gia cầm Nhiều nơi đã biết phát huy thế mạnh, điều kiện tự nhiên để phát triển sản xuất hàng hóa, nhằm xóa đói, giảm nghèo nhanh và bền vững
Ðiểm chung các mô hình phát triển kinh tế của bà con vùng cao Sơn La là
sự thay đổi trong nhận thức, ý chí vượt khó làm giàu Cùng với sự hỗ trợ của nhà nước, của tỉnh về cơ chế, chính sách, giống cây trồng, vật nuôi, hỗ trợ sản xuất và đời sống, các hộ từ nghèo khó đã vươn lên làm ăn tích lũy Nhiều hộ ngoài làm giàu cho gia đình mình, còn tương trợ giúp giống, vốn, kinh nghiệm sản xuất cho anh em họ hàng trong bản, nên các mô hình sản xuất mới ở Sơn La giờ không chỉ bó hẹp trong vài hộ đơn lẻ mà đã tạo nên vùng sản xuất chuyên canh, mang lại giá trị hàng hóa kinh tế cao
Bây giờ, nói đến ngô người ta nhắc đến các xã biên giới Phiêng Khoài, Lóng Luông (Yên Châu) Thương lái trâu bò dưới xuôi thì tìm đến các xã Co
Mạ, Long Hẹ, É Tòng (Thuận Châu) Người muốn mua táo sơn tra thì tìm về các xã vùng cao Xím Vàng, Hang Chú, Làng Chếu (Bắc Yên) và Ngọc Chiến, Chiềng Muôn (Mường La)…
Tiếp tục thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, Chính phủ nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, tái cơ cấu lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững, Sơn La đã và đang tiếp tục tập trung đẩy mạnh phát triển
Trang 31sản xuất, kinh doanh, nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững Chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế gắn với thực hiện tái cơ cấu một số ngành, lĩnh vực, nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh của các ngành, lĩnh vực, thành phần kinh tế; đẩy mạnh thu hút nguồn lực bên ngoài về vốn, khoa học công nghệ phát triển các ngành, lĩnh vực có lợi thế phục vụ nâng cao chất lượng tăng trưởng; tiếp tục nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăng cường bảo vệ tài nguyên, môi trường và phát triển bền vững, bảo đảm an sinh
xã hội và an ninh quốc phòng Phấn đấu đến năm 2020: Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm đạt từ 8,5 - 9%; GDP bình quân đầu người đạt 2.030 USD (tương đương 45 triệu đồng); Kim ngạch xuất khẩu đạt 33 triệu USD; thu ngân sách trên địa bàn đạt 4.000 tỷ đồng; tỷ lệ hộ nghèo bình quân giảm từ 1,5-2%/năm
Ðường giao thông được ví là huyết mạch của nền kinh tế, ở đâu có đường thì ở đó kinh tế - xã hội phát triển, điều này với vùng cao càng đúng Vì vậy, Sơn La đã và đang đặt ra mục tiêu huy động mọi nguồn lực để phát triển hệ thống hạ tầng giao thông, đảm bảo với địa hình tự nhiên của từng khu vực, đảm bảo đồng bộ, hợp lý, từng bước hiện đại, tạo nên mạng lưới hoàn chỉnh, liên hoàn, liên kết tốt giữa các khu vực, giảm chi phí vận tải Bên cạnh đó, coi trọng công tác bảo trì, bảo đảm khai thác có hiệu quả, bền vững hạ tầng giao thông hiện có và mới được đầu tư bổ sung thêm Công tác vận tải được yêu cầu đảm bảo vận tải hành khách và hàng hóa của địa phương và khu vực Đặc biệt, mở rộng thêm phương thức vận tải ra hàng không, đường thủy để đảm bảo nhu cầu
đi lại ngày càng lớn của địa phương Toàn tỉnh phấn đấu tỷ lệ xã có đường ôtô đến trung tâm xã đi được 4 mùa đạt 100%
Trước Cách mạng tháng Tám, quan hệ xã hội ở Sơn La một mặt bị chi phối bởi quan hệ thực dân nửa phong kiến, mặt khác, tùy từng vùng dân tộc mà bị chi phối bởi quan hệ khác nhau Vùng tồn tại chế độ phìa, tạo (vùng người Thái), lang, đạo (vùng người Mường), thống quán, thống lý, quan sự (vùng người Mông), sen, quản, khun (vùng người Khơ Mú) Xã hội Sơn La cổ
Trang 32truyền có các dòng họ quý tộc nắm mọi quyền hành: họ Cầm, họ Lò ở Mai Sơn, Mường La, Phù Yên; họ Hoàng ở Yên Châu; họ Sa ở Mộc Châu; họ Bạc
ở Thuận Châu Bản làng được coi là đơn vị của xã hội gồm những gia đình thuộc nhưng dòng học của một hay vài dân tộc cùng cư trú Mỗi thành viên trong một bản, làng đều có trách nhiệm gánh vác chung các việc công ích, chia sẻ với nhau những cống nạp, lao dịch, thuế má, cùng đoàn kết, tương trợ nhau Các trách nhiệm và quyền lợi được quy định định thành lệ Vai trò của dòng họ còn rất lớn, gia đình, hôn nhân theo chế độ phụ quyền Xã hội Sơn La cổ truyền ở mỗi dân tộc còn có tầng lớp mo chang chuyên chủ xướng các lễ hội và cúng lễ, tầng lớp này có ảnh hưởng đáng kể đến cư dân Nhìn chung xã hội Sơn La cổ truyền là một xã hội chậm phát triển và phát triển không đồng đều giữa các dân tộc Giai cấp có nơi đã phân hóa rõ rệt, nhưng có nơi phân hóa chưa rõ rệt Các dân tộc Sơn La mới bước vào giai đoạn đầu của xã hội phong kiến Trước Cách mạng tháng Tám, xã hội Sơn La chưa có giai cấp công nhân, tầng lớp tiểu tư sản mới xuất hiện Mâu thuẫn xã hội chủ yếu là mâu thuẫn giữa quần chúng nông dân các dân tộc bị
áp bức bóc lột với thực dân phong kiến
Về giáo dục, ngành Giáo dục và Đào tạo Sơn La tiếp tục quán triệt, triển khai các nhiệm vụ đổi mới giáo dục theo chỉ đạo và kế hoạch của Bộ Giáo dục
và Đào tạo, cụ thể như sau:
Đổi mới nội dung, tăng cường thực hiện các chuyên đề đổi mới hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ như: Lấy trẻ làm trung tâm, giáo dục trẻ thông qua các hoạt động vui chơi, giáo dục thẩm mỹ, kỹ năng sống và giáo dục phát triển vận động cho trẻ, quan tâm xây dựng môi trường giáo dục
Tiếp tục triển khai mô hình trường học mới ở tiểu học (VNEN); triển khai
bước đầu mô hình trường học mới ở một số trường trung học cơ sở; triển khai dạy học chương trình tiếng Anh từ tiểu học cho các trường có đủ điều kiện Thực hiện đa dạng hóa các hình thực học tập; chú ý các hình thức hoạt động trải
nghiệm sáng tạo; áp dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” và các phương pháp
Trang 33dạy học tích cực; tổ chức vận dụng kiến thức liên môn vào giải quyết tình huống
cho học sinh trung học
1.2.2 Khái quát về các trường nội trú và đặc điểm của học sinh các trường dân tộc nội trú ở Sơn La hiện nay
1.2.2.1 Khái quát về các trường nội trú
Trường phổ thông dân tộc nội trú là loại trường chuyên biệt mang tính phổ thông, dân tộc và nội trú; được ưu tiên cơ sở vật chất, thiết bị và ngân sách; lựa chọn bố trí cán bộ, giáo viên, nhân viên để đảm bảo nuôi dạy học sinh
Trường phổ thông dân tộc nội trú cấp trung học cơ sở và cấp trung học phổ thông hoặc là các trường phổ thông dân tộc nội trú liên cấp trung học cơ sở
và trung học phổ thông là các trường nội trú đặc biệt Các trường này dành cho con em dân tộc thiểu số ( từ 95% trở lên số học sinh là người dân tộc thiểu số, còn lại gần 5% số học sinh là người kinh) sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn về kinh tế - xã hội
Năm học 2016- 2017 toàn tỉnh có 11 trường phổ thông dân tộc nội trú (1 trường đào tạo bậc học trung học phổ thông, 10 trường đào tạo bậc học trung học cơ sở) với 3.338 học sinh, phân bố ở khắp các xã, bản trong toàn tỉnh Là cơ
sở giáo dục dành cho con em đồng bào dân tộc thiểu số, nên chất lượng đầu vào
Trang 34của học sinh còn thấp, khả năng giao tiếp thường thụ động; số đông học sinh chưa say mê học tập Mặt khác, học sinh thuộc nhiều dân tộc, phong tục tập quán khác nhau nên trong công tác giảng dạy và quản lý học sinh đối với tập thể
sư phạm nhà trường gặp không ít khó khăn Để nâng cao chất lượng giảng dạy, ngay từ đầu năm, nhà trường tổ chức phân luồng học sinh để có phương pháp giảng dạy phù hợp với năng lực của các em Khác với các trường trung học phổ thông khác, học sinh Trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh lên lớp 3 buổi/ngày Trong đó, buổi tối là giờ các em tự học bài trên lớp dưới sự giám sát, quản lý của giáo viên và quản lí nội trú Ngoài giờ học chính khóa trên lớp, các giáo viên được phân công tăng cường kiểm tra hoạt động tự học của học sinh; tận tình giải đáp, hướng dẫn các em học tập theo mô hình học nhóm Nhờ vậy, chất lượng giảng dạy ngày càng nâng cao Trong năm 2015-2016, toàn trường có 42,7% học sinh xếp loại học lực khá, giỏi; 85,8% học sinh được xếp loại hạnh kiểm tốt; có 8 học sinh giỏi cấp tỉnh; 1 giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh…
Không chỉ tập trung nâng cao chất lượng giảng dạy, nhà trường còn nỗ lực chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho HS, từng bước xây dựng mái nhà chung ngày càng lành mạnh Trong năm học mới, nhà trường được UBND tỉnh đầu tư xây dựng khu nội trú cho học sinh nam Nhằm đảm bảo chế độ dinh dưỡng, an toàn cho học sinh, Ban Giám hiê ̣u nhà trường thường xuyên kiểm tra tình hình an toàn vệ sinh thực phẩm ở bếp ăn Tất cả các loại thực phẩm đều được kiểm tra chặt chẽ nguồn gốc, xuất xứ, thực đơn được thay đổi thường xuyên Bên cạnh đó, các hoạt động ngoại khóa về văn hóa, văn nghệ, hoạt động thể thao được nhà trường quan tâm Trường có sân chơi bóng chuyền, bóng rổ, tạo điều kiện cho học sinh vui chơi, rèn luyện thể chất; thường xuyên tổ chức các hoạt động thi đấu thể thao, sinh hoạt đố vui học tập, lao động tập thể trồng cây, trang trí trường lớp… giúp học sinh phát huy tinh thần đoàn kết, năng động, tự tin để học tập tốt hơn
Trao đổi về phương hướng của trường trong năm học mới, thầy giáo Nguyễn Xuân Tuy, Hiệu trưởng trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh, cho biết:
Trang 35Trong năm học mới, nhà trường tập trung đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng giảng dạy Cụ thể, nhà trường bám sát đề thi trung học phổ thông quốc gia mẫu của Bộ Giáo dục và Đào tạo xây dựng kế hoạch giảng dạy phù hợp với cấu trúc thi mới Khuyến khích mỗi khối lớp, các tổ chuyên môn triển khai phương pháp dạy học tích hợp liên môn để học sinh quen dần với cấu trúc đề thi mới Theo dự kiến, trong năm học mới, nhà trường tổ chức 2 hội thảo về nâng cao chất lượng dạy học cho các môn thi trung học phổ thông Quốc gia Phấn đấu nâng cao tỷ lệ học sinh đỗ vào đại học, cao đẳng; trình độ Tin học và ngoại ngữ cho học sinh Tích cực tổ chức các hoạt động định hướng nghề nghiệp cho học sinh, góp phần giúp các em xác định đúng năng lực và có sự lựa chọn đúng đắn
Thực hiện Quyết định số 1640/QĐ-TTg ngày 21/9/2011 của Chính phủ
về việc Phê duyệt Đề án củng cố và phát triển hệ thống trường phổ thông Dân tộc nội trú giai đoạn 2011-2015; Quyết định số 1379/QĐ-TTg, ngày 12/8/2013 của Thủ tướng Chính phủ về phát triển giáo dục, đào tạo và dạy nghề các tỉnh vùng trung du, miền núi phía Bắc và các huyện phía Tây tỉnh Thanh Hóa, tỉnh Nghệ An giai đoạn 2013 – 2020, tỉ lệ học sinh dân tộc thiểu số học trung học được học tại trường phổ thông dân tộc nội trú đạt trên 10% Hiện nay, tỉnh Sơn
La có tỉ lệ học sinh dân tộc thiểu số được học ở trường phổ thông dân tộc nội trú
là 3,6%, trong đó cấp trung học cơ sở là 3,8%; cấp trung học phổ thông là 3,4%
Việc thành lập Trường phổ thông dân tộc nội trú trung học cơ sở và trung học phổ thông ở các huyện sẽ góp phần làm tăng tỷ lệ học sinh có nhu cầu tiếp tục học tập ở các bậc cao hơn và giảm thiểu hiện tượng học sinh bỏ học hằng năm; có cơ sở để đạt tỉ lệ trên 10% học sinh dân tộc thiểu số học trung học được học ở trường nội trú vào năm 2020, trong đó 85% học sinh đã học nội trú cấp trung học cơ sở tiếp tục được học nội trú cấp trung học phổ thông; tạo điều kiện phát huy vai trò, hiệu quả công tác củng cố mạng lưới, phát triển quy mô thực hiện các mục tiêu nâng cao dân trí, tạo nguồn cán bộ và nguồn nhân lực phát triển kinh tế – xã hội vùng dân tộc, miền núi tỉnh Sơn La
Trang 36Trên cơ sở Đề án do Sở Giáo dục và đào tạo trình, ngày 01/11/2016, Sở Nội vụ đã tham mưu trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định
số 2617/QĐ-UBND về Đề án tổ chức lại các trường phổ thông dân tộc nội trú trung học cơ sở và trung học phổ thông cấp huyện của tỉnh Sơn La giai đoạn 2016-2020 và các năm tiếp theo Ngày 06/3/2017, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định về việc tổ chức lại cho 10 trường Phổ thông dân tộc nội trú đủ điều kiện thành trường Phổ thông dân tộc nội trú trung học cơ sở và trung học phổ thông cấp huyện
Từ ngày 20/3/2017 đến ngày 30/3/2017, Sở Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Sở Nội vụ đã tổ chức công bố các Quyết định của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh về thành lập 10 trường Phổ thông dân tộc nội trú trung học cơ sở và Trung học phổ thông của 10 huyện, quyết định bổ nhiệm Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng các trường Phổ thông dân tộc nội trú Trung học cơ sở và Trung học phổ thông cấp huyện
Hiện nay, các công việc chuẩn bị về cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên, công tác tuyển sinh…đang được Sở Giáo dục và đào tạo chỉ đạo các trường Phổ thông dân tộc nội trú Trung học cơ sở và Trung học phổ thông cấp huyện tích cực triển khai thực hiện bảo đảm các điều kiện cho khai giảng năm học mới 2017-2018
Hầu hết các trường đều tổ chức nấu ăn tập trung cho học sinh ngày 3 bữa Nhiều địa phương đã thực hiện hiệu quả việc huy động cá nhân, tổ chức hỗ trợ quần áo, chăn màn, sách vở, đồ dùng học tập cho học sinh nội trú; thực hiện
“ba đủ” cho học sinh nội trú gồm “đủ ăn, đủ mặc, đủ sách vở”
Được chăm sóc chu đáo, học sinh miền núi, vùng cao có nhiều thời gian dành cho việc học tập Chất lượng giáo dục được nâng lên so với trước đây Tỷ
lệ học sinh có học lực yếu kém ở các trường phổ thông dân tộc nội trú giảm, tỷ
lệ khá giỏi tăng theo từng năm
Tuy nhiên, theo thống kê của Phòng Giáo dục Tỉnh, hiện Sơn La còn nhiều phòng nội trú tạm bợ chiếm tới 40%, nhà vệ sinh và công trình nước sạch
Trang 37chưa đạt chuẩn Hơn 60% nhà bếp không đảm bảo yêu cầu Nguyên nhân chủ yếu do các địa phương thiếu nguồn lực đầu tư nên hệ thống cơ sở vật chất chưa đáp ứng được
Xác định giáo viên là yếu tố căn bản để nâng cao chất lượng cho các trường Phổ thông dân tộc nội trú, cho nên bên cạnh việc triển khai tập huấn các nội dung giáo dục đặc thù, các địa phương còn chú trọng các nội dung về đổi mới sinh hoạt chuyên môn, phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển năng lực, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và dạy học sao cho phù hợp nhu cầu và điều kiện thực tế ở địa phương Học tập trong môi trường nội trú xa gia đình, nhiều học sinh dân tộc thiểu số khi mới bước chân vào trường nội trú còn bỡ ngỡ và lạ lẫm, thấu hiểu được điều đó, giáo viên Trường Phổ thông dân tộc nội trú Sơn La, cô giáo Hà Thị Vân cho biết: Chúng tôi luôn coi các em học sinh như con em trong gia đình Không chỉ giảng dạy trên lớp, từ bữa ăn, giấc ngủ, nếp sinh hoạt của các em cũng được các thầy giáo, cô giáo chăm lo chu đáo Việc quan tâm, chăm sóc vừa để nắm bắt được tâm tư, tình cảm, tư vấn, giúp các em lựa chọn những môn học, ngành học phù
Trang 38hợp với mình, vừa chia sẻ với các em những niềm vui, nỗi buồn trong sinh hoạt
và học tập Học sinh Trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh, em Nguyễn Thị Hương Dịu, lớp 10D chia sẻ: Những ngày đầu nhập trường, em rất bỡ ngỡ, nhớ gia đình và chỉ muốn về nhà Nhưng sau một thời gian sống và học tập tại trường, em được các thầy giáo, cô giáo quan tâm từ nếp ăn đến giấc ngủ Các thầy cô hướng dẫn chúng em tự học, giúp chúng em lựa chọn những môn học phù hợp; được tham gia hoạt động văn hóa, thể thao, các buổi sinh hoạt ngoại khóa để có kỹ năng sống, giao tiếp Bây giờ, trường gắn bó với em như ngôi nhà thứ hai của mình
Không thể phủ nhận hệ thống các trường Phổ thông dân tộc nội trú đã phát huy được nhiều ưu điểm và thế mạnh của mình, thế nhưng bên cạnh đó vẫn còn nhiều bất cập và hạn chế Đó là tình trạng cơ sở vật chất, thiết bị đồ dùng học tập, phòng học, phòng chức năng, nhà nội trú xuống cấp nghiêm trọng Trong khi đó, đội ngũ cán bộ quản lý giáo viên của các trường Phổ thông dân tộc nội trú còn hạn chế trong tổ chức các hoạt động giáo dục đặc thù, trong quản
lý và đổi mới phương pháp dạy học phù hợp với học sinh dân tộc thiểu số Nguyên nhân dẫn đến những bất cập nêu trên là do một số địa phương chưa thật
sự quan tâm chỉ đạo quyết liệt; nguồn lực tài chính hàng năm hạn hẹp làm cho việc cải thiện điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và xây mới các hạng mục cho các trường chưa kịp thời
Nhờ có sự quan tâm đầu tư, đến nay, hệ thống các trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Sơn La đã và đang hoàn thiện để bảo đảm nhu cầu dạy và học cho con em đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng đặc biệt khó khăn Để nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh dân tộc thì công tác chú trọng xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên các trường phổ thông dân tộc nội trú luôn được ngành giáo dục đặt lên hàng đầu Sở Giáo dục và Đào tạo cũng thường xuyên tiến hành rà soát, đánh giá, quy hoạch, bồi dưỡng để nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên các trường học bảo đảm đạt chuẩn kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ
Trang 39Tại các trường học đều tổ chức đánh giá thực trạng các điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục học sinh dân tộc thiểu số và tăng cường các giải pháp đồng
bộ để nâng cao chất lượng giáo dục; phối hợp với các ban, ngành địa phương vận động học sinh ra lớp và duy trì sĩ số; nâng cao chất lượng dạy học Tổ chức dạy tiếng Mông trong các trường Phổ thông dân tộc nội trú huyện theo nội dung chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định
1.2.2.2 Đặc điểm của học sinh các trường dân tộc nội trú ở Sơn La hiện nay
Cũng như các trường Trung học phổ thông khác trên địa bàn tỉnh Sơn La Học sinh trường Phổ thông dân tộc nội trú là con em của đồng bào các dân tộc ít người tỉnh Sơn La Đặc điểm riêng của trường là “ nội trú” và “ chuyên biệt”, nghĩa là vừa thực hiện yêu cầu chung về chương trình giáo dục phổ thông như bất kì trường phổ thông nào trên toàn quốc, mặt khác các em được nhà nước bao cấp hoàn toàn và ăn ở nội trú trong trường Đây cũng là một yếu tố thuận lợi để nhà trường hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của mình
Tuy nhiên, học sinh của trường là con em của đồng bào dân tộc ít người đến từ 13 huyện thị trong tỉnh, các em sử dụng tiếng việt chỉ như ngôn ngữ thứ
2, chứ không phải tiếng mẹ đẻ của các em Điều này cũng là một yếu tố gây trở ngại đối với việc giáo dục văn hóa giao tiếp Học sinh của trường Dân tộc nội trú Tỉnh Sơn La hầu hết là con của các gia đình làm nông ngiệp, bố mẹ các em quanh năm vất vả với nương rẫy, ruộng đồng, điều kiện giao tiếp xã hội hạn chế…vì thế mà ít có thời gian quan tâm đến việc học hành của con cái, chưa có điều kiện thời gian nhiều để rèn khả năng giao tiếp cho con mình Hơn nữa do cũng mang đặc điểm chung về tâm lí lứa tuổi của học sinh phổ thông, học sinh các trường Phổ thông dân tộc nội trú có 02 đối tượng, đối tượng thứ nhất là học sinh Trung học cơ sở, tuổi từ 11–14 (học lớp 6 đến lớp 9); đối tượng thứ hai
là học sinh Trung học phổ thông, tuổi từ 15–17(học lớp 10 đến lớp 12) ở
độ tuổi này, các em rất nhạy bén với cái mới và rất thích bắt chước, học và làm theo những điều mới lạ Đặc điểm này vừa là yếu tố thuận lợi vừa cũng là hạn
Trang 40chế Với ngôn ngữ các em dễ học theo và bắt chước rất nhanh những cách nói, các em cho là độc đáo, gây sự chú ý của người khác Đây chính là cơ hội để các yếu tố phi chuẩn xâm nhập, nhiều biến thể đã ảnh hưởng rất lớn đến năng lực giao tiếp của lứa tuổi này
Tỉnh Sơn la có 12 dân tộc anh em cùng cộng cư sinh sống,các dân tộc thiểu số chiếm tỉ lệ gần 90% dân số của toàn tỉnh, với số dân của tỉnh là trên 1 triệu người Với truyền thống đoàn kết, tinh thần tự lực, tự cường quyết tâm vượt khó đi lên của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Sơn La, trong những năm qua trong chỉ đạo phát triển kinh tế - xã hội Tỉnh Sơn La đã rất quan tâm, chăm
lo tạo mọi điều kiện cho giáo dục phát triển, nhất là công tác giáo dục dân tộc.không ngừng mở rộng phát triển mạng lưới quy mô trường, lớp tăng cường đầu tư cơ sở vật chất trường học tạo mọi điều kiện và cơ hội cho con, em nhân dân các dân tộc được học tập và học tập tốt hơn
Hệ thống các trường phổ thông dân tộc nội trú không ngừng được củng
cố và phát triển, năm học này toàn tỉnh có 11 trưòng Phổ thông dân tộc nội trú (1 trường đào tạo bậc học Trung học phổ thông, 10 trường đào tạo bậc học Trung học cơ sở) với 3.338 học sinh, có 03/11 trưòng đạt trường chuẩn quốc gia
đó là trường Phổ thông dân tộc nội trú Tỉnh, Phổ thông dân tộc nội trú Mộc