TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI -------- NGUYỄN HỒNG CHÂU TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CỐT CÁN CẤP HUYỆN
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN HỒNG CHÂU
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CỐT CÁN CẤP HUYỆN
TẠI TỈNH AN GIANG HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành Triết học
HÀ NỘI - 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN HỒNG CHÂU
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CỐT CÁN CẤP HUYỆN
TẠI TỈNH AN GIANG HIỆN NAY
Trang 3STT Nội dung Trang
Mở đầu
9 Các quan điểm cơ bản và đóng góp của luận văn 10
Chương 1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng và
yêu cầu cấp bách giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ cốt cán cấp huyện tại tỉnh An Giang hiện nay
12
1.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng 12
1.1.1.3 Người cán bộ cách mạng 1.1.2 Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức
cách mạng
33
1.1.2.1 Truyền thống đạo đức dân tộc Việt Nam 33
1.1.2.3 Đạo đức cộng sản được thể hiện trong học thuyết
Mác-Lênin và phong trào cộng sản quốc tế
33
Trang 41.1.2.4 Thực tiễn hoạt động cách mạng của Hồ Chí
1.1.3.2 Yêu thương con người, sống có tình nghĩa 38 1.1.3.3 Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư 41 1.1.3.4 Có tinh thần quốc tế trong sáng, thủy chung 45 1.2 Yêu cầu cấp bách về giáo dục đạo đức cách mạng cho đội
ngũ cán bộ cốt cán cấp huyện ở tỉnh An Giang hiện nay
47
1.2.1 Những nhân tố tác động đến đạo đức cách mạng 47 1.2.2 Những yêu cầu cấp bách về giáo dục đạo đức cách
mạng cho đội ngũ cán bộ cốt cán cấp huyện ở tỉnh An Giang hiện nay
52
Chương 2 Giáo dục đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ
cốt cán cấp huyện ở tỉnh An Giang hiện nay theo
tư tưởng Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp
56
2.1 Thực trạng giáo dục đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán
bộ cốt cán cấp huyện ở tỉnh An Giang hiện nay theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh
56
2.1.1.1 Quá trình triển khai, quán triệt và tổ chức thực
hiện các quy định của Trung ương và địa phương
60
2.1.1.2 Những chuyển biến trong nhận thức về tư tưởng 63 2.1.1.3 Những chuyển biến từ trong hành động 65 2.1.1.4 Đánh giá chung kết quả thực hiện 68
Trang 52.1.2.1 Những hạn chế, khuyết điểm trong chỉ đạo và
triển khai cuộc vận động
Trang 6LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám Hiệu trường, quý thầy, cô giảng viên Khoa Triết học, trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Nhân dịp này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới Thầy PGS.TS
Lê Văn Đoán, người đã dành nhiều thời gian, tạo điều kiện thuận lợi, hướng dẫn về phương pháp khoa học và cách thức thực hiện các nội dung của đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo các phòng, ban ngành, các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh An Giang đã nhiệt tình giúp đỡ, cung cấp các thông tin, số liệu cần thiết phục vụ cho quá trình nghiên cứu và hoàn thiện đề tài này
Xin trân trọng
An Giang, tháng 6 năm 2017
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Hồng Châu
Trang 71 Tính cấp thiết của đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại của giai cấp công nhân Việt Nam, người anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất của thế giới Người soi sáng con đường đấu tranh cách mạng của nhân dân Việt Nam, tư tưởng của Người là di sản tinh thần vô cùng quý báu của Đảng và dân tộc ta Người đã tiếp thu tinh hoa giá trị đạo đức nhân loại của phương Đông, phương Tây và Người đã đến với Chủ nghĩa Mác - Lênin, Người đã thấm nhuần tư tưởng đạo đức Mác-xít; Đó là thứ đạo đức đích thực, cốt lõi và người đã vận dụng vào điều kiện cách mạng Việt Nam để giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người, xã hội, mang lại tự do, ấm no, bình đẳng, hạnh phúc thật sự cho con người, vì sự tiến bộ, phát triển xã hội, đưa nhân loại từ chỗ bị tha hóa đến sự tự do, chủ nghĩa nhân đạo đích thực Xin được trích dẫn lời Đại tướng Võ Nguyên Giáp, ngày 14/01/1991, tại Hội nghị Quốc tế Hồ Chí Minh - Việt Nam - Hòa bình thế giới, tổ chức tại thành phố Can-cút-ta (Ấn Độ) nhân
kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam, danh nhân văn hóa thế giới: “Thế giới sẽ còn đổi thay, nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn sống mãi” khẳng định giá trị lớn lao của tư
tưởng Hồ Chí Minh đối với toàn nhân loại
Một trong những bài học quan trọng nhất mà Đại hội VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam rút ra từ quá trình đổi mới là “kiên trì chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh” [29, tr.70] Thực hiện theo Di chúc của Người, Đảng ta đã tiến hành cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng, tự phê bình
và phê bình, theo Hội nghị Trung ưởng sáu (lần 2), yêu cầu của công vận động này là: “Bồi dưỡng tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về đạo đức, lối sống cho Đảng gắn bó máu thịt với nhân dân Đảng - dân một ý chí, thực hiện lời dạy của Bác: “Đảng
là đạo đức, là văn minh” [109, tr.13] Các bản Văn kiện, Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương tại các Đại hội Đảng luôn luôn kiên định tư tưởng
Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc, do đó “Toàn Đảng nghiêm túc học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh Mỗi cấp ủy, mỗi chi bộ có kế hoạch định kỳ kiểm điểm việc thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nâng cao đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá
Trang 8nhân Chống tư tưởng cơ hội thực dụng” Đó là con đường duy nhất đúng đắn đưa Việt Nam đến mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” [32, tr.139, 163]
Trong điều kiện hiện nay Đảng tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, càng trở nên quan trọng và cần thiết hơn bao giờ hết Học tập, quán triệt những quan điểm cơ bản và vận dụng có hiệu quả tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cuộc sống xã hội toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta là nhân tố quyết định thắng lợi của toàn bộ sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo thành công của sự nghiệp cách mạng trong hơn 30 năm đổi mới và phát triển ở Việt Nam
Tuy nhiên, trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, nước ta đang đứng trước nhiều thách thức, yếu kém cần phải vượt qua Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng tiếp tục khẳng định một trong bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra vẫn tồn tại, đó là “tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí diễn biến phức tạp” Tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, với những diễn biến phức tạp, nghiêm trọng, gây bức xúc và âu lo trong toàn Đảng, toàn dân, những suy thoái này còn kéo theo những suy thoái về đạo đức trong gia đình, nhà trường và trong xã hội Những sự suy thoái đó đang là “nguy cơ lớn liên quan đến sự sống còn của Đảng, của chế độ”
Vấn đề đặt ra là, vì sao Đảng ta vẫn tiếp tục đẩy mạnh xây dựng và chỉnh đốn đảng, đồng thời phát động cuộc vận động “học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, nhiều nghị quyết, chỉ thị, quy định thực hiện nhiều biện pháp giáo dục, chương trình hành động nhưng tình trạng suy thoái đạo đức của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên vẫn chưa được ngăn chặn, đẩy lùi Phải chăng quyết tâm chưa đủ cao, chúng ta đã làm qua loa; nhận diện chưa đầy đủ những nguy cơ; xác định chưa chính xác nguyên nhân suy thoái, hay giải pháp cách thức tổ chức thực hiện chưa đúng tầm, kế hoạch thực hiện chưa sâu sát với thực tiễn
Trang 9Trong bối cảnh đó, trên nền tảng kiến thức đã được học tập, nghiên cứu và những kinh nghiệm thực tiễn nơi mình công tác cùng với sự tâm đắc về
ý nghĩa thiết thực của đề tài, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức và ý nghĩa của nó đối với việc giáo dục đạo đức cách mạng
Hồ Chí Minh cho đội ngũ cán bộ cốt cán cấp huyện ở tỉnh An Giang hiện nay”, làm đề tài luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ Triết học của mình
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Vấn đề đạo đức, đạo đức cách mạng và giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng của chủ tịch Hồ Chí Minh đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên ở nước
ta đã có rất nhiều tác phẩm, tài liệu và công trình nghiên cứu đã được Chủ tịch
Hồ Chí Minh và các lãnh đạo của Đảng đặc biệt quan tâm trong quá trình đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên Nhiều bài viết, bài nói của Người để lại được tập hợp và đó là những công trình nghiên cứu về đạo đức cách mạng như:
2.1 Những công trình nghiên cứu về đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh
- Những tác phẩm mà Người viết: Tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Nhà xuất bản Sự thật, xuất bản năm 1948; tác phẩm Cần kiệm liêm chính, xuất bản năm 1949; Bài viết Thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, chống bệnh quan liêu năm 1952; Bài viết về "Đạo đức cách mạng", đăng trên báo Nhân dân,
số 460, ngày 06/6/1955 và tạp chí Học tập, số 12, năm 1958, bài viết "Nâng cao đạo đức cách mạng quét sạch chủ nghĩa cá nhân", đăng trên báo Nhân dân, số
5409, năm 1969 Các tác phẩm, bài viết của Người đã trực tiếp đề cập đến thuật ngữ, nội dung đạo đức cách mạng đối với người cán bộ, đảng viên cũng như tầm quan trọng của đạo đức cách mạng trong việc hoàn thiện nhân cách của mỗi cán bộ, đảng viên Trong các tác phẩm, bài viết trên, Người nhấn mạnh, mỗi cán bộ, đảng viên muốn giữ gìn được phẩm chất, đạo đức cách mạng của mình thì phải không ngừng học tập, rèn luyện, giáo dục một cách thường xuyên và kiên nhẫn, xem nó như việc rửa mặt hàng ngày vậy
- Tác phẩm “Tư tưởng Hồ Chí Minh - phương pháp luận nghiên cứu con người”, của GS.VS.TSKH Phạm Minh Hạc, PGS.TS Phạm Thành Nghị, TSKH Trịnh Thị Kim Ngọc (đồng chủ biên), Nhà xuất bản Khoa học Xã hội
Trang 10năm 2003, tác phẩm được phát hành nhân dịp kỷ niệm 112 năm ngày sinh của Chủ tịch Hổ Chí Minh Nội dung tác phẩm hướng cho bạn đọc nghiên cứu sâu hơn về tư tưởng vĩ đại đầy tính nhân văn sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cũng như hưởng ứng cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức
Hổ Chi Minh" do Ban Chấp hành Trung ương Đảng phát động, nội dung cuốn sách vẫn được giữ nguyên như lần in đầu, nhưng dược chia làm hai tập, Tập 1 với tiêu đề “Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa con người và văn hóa", và tập 2
"Hồ Chí Minh từ đạo đức truyền thống đến đạo đức cách mạng"
- Tác phẩm “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức” của GS.TS Đinh Xuân Dũng, Nhà xuất bản Giáo dục năm 2008 Tác phẩm này là tập hợp những bài nghiên cứu, những trích dẫn tiêu biểu về tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và một số mẩu chuyện chân thật, sinh động, ngắn gọn về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh để phục vụ việc học tập của cán bộ, đảng viên, quảng đại quần chúng nói chung và đối với cán bộ, giáo viên, học sinh, sinh viên trong các nhà trường nói riêng
- Tác phẩm “Học tập đạo đức Bác Hồ”, Giáo sư, Anh hùng Lao động
Vũ Khiêu, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Sự thật Nội dung cơ bản của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và Những vấn đề học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong sự nghiệp của nhân dân ta ngày nay, góp phần thúc đẩy sự chuyển biến mạnh mẽ trong ý thức tu dưỡng, rèn luyện và hành động theo tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đẩy lùi sự suy thoái về đạo đức, chính trị, lối sống; xây dựng Đảng ta trong sạch, vững mạnh; củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng
- Bài viết của Tiến sĩ Triết học Lê Trọng Ân, Trường Đại học xã hội
và nhân văn, Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh, viết bài “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức”, đăng trên Tạp chí Triết học, số 1 (164), Hà Nội, năm 2005 (trang 16-20) Bài viết tập trung làm rõ những nội dung cơ bản, ý nghĩa lý luận
và thực tiễn trong tư tưởng của Người về đạo đức; đồng thời khẳng định sự cần thiết phải học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, đặc biệt là đối với cán bộ, đảng viên
2.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, đã được một số tác giả nghiên cứu và trên cơ sở học tập đạo đức, phong cách làm việc của Người, đề xuất các giải pháp xây dựng đạo đức mới:
Trang 11- Tác phẩm của Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “Nghiên cứu, học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh”, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội, năm 2006
- Tác phẩm: “Tư tưởng tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh là đạo đức, là văn minh”, của nhiều tác giả, Nhà
xuất bản Lao động - xã hội, năm 2012 Nội dung tác phẩm là sự tập hợp theo chủ đề nội dung các bài nghiên cứu tiêu biểu, đã được xã hội hóa liên quan đến tất cả các mặt công tác xây dựng Đảng theo các quan điểm của Hồ Chí Minh; lựa chọn giới thiệu một số tấm gương điển hình trong quá trình làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh nhằm giữ gìn biểu tượng cao đẹp trong sáng và lan tỏa các giá trị văn hóa, đạo đức của Đảng trong điều kiện hiện nay
- Tác phẩm: “Tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viện hiện nay và đời sau theo tư tưởng Hồ Chí Minh”, của nhiều tác giả,
Nhà xuất bản Thời Đại, năm 2012 Tác phẩm giúp cho cấp ủy các cấp và cán bộ làm công tác Đảng, các Đảng viên tìm hiểu về tư tưởng, chủ trương, đường lối của Đảng hiện nay về một số vấn đề cấp bách trong xây dựng Đảng; tu dưỡng
và rèn luyện đạo đức cách mạng cho Đảng viên hiện nay và đời sau,…
Bên cạnh các công trình trên, vấn đề đạo đức cách mạng và giáo dục đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên cũng được nghiên cứu ở một
số luận văn, luận án và bài viết được đăng trên tạp chí… Trong đó có thể kể đến:
- Bài viết của đồng chí Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung
ương Đảng Lê Khả Phiêu: “Học tập, rèn luyện tư tưởng và đạo đức cách mạng, thực hiện thắng lợi cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng”, và là bài Diễn
văn tại Lễ kỷ niệm 109 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh và 30 năm thực
hiện Di chúc của Người, được tổng hợp trong tác phẩm “Di chúc của Chủ tịch
Hồ Chí Minh và 30 năm thực hiện Di chúc của Người”, Nhà xuất bản Quân đội
nhân dân, năm 2001 Trong dịp lễ kỷ niệm 109 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, 30 năm thực hiện Di chúc của Người và đồng thời trong bối cảnh cả nước quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Hội nghị lần thứ Sáu (lần 2) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng: “Về một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay”, đây là cuộc vận động chính trị lớn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, phát động sâu rộng trong toàn Đảng xây dựng,
Trang 12chỉnh đốn Đảng, thực hiện tự phê bình và phê bình Cuộc vận động này nhằm tạo thêm nguồn lực mới cho Đảng và tăng thêm niềm tin của nhân dân với Đảng
- Bài viết Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “Một số nội dung trong tư tưởng nhân văn, đạo đức, văn hóa Hồ Chí Minh”, được đăng trên Tạp chí Cộng
sản số 6, năm 1997
Trong những công trình của mình, các tác giả đã nêu lên yêu cầu khách quan đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải không ngừng rèn luyện đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh để trở thành những cán bộ, đảng viên chân chính, cách mạng
2.3 Một số tác giả có các bài viết về mối quan hệ giữa kinh tế và đạo đức đồng thời khẳng định các giá trị đạo đức luôn chịu tác động hai mặt từ môi trường kinh tế
Các tác giả cũng chỉ ra sự phức tạp của các vấn đề đạo đức xã hội: Đạo đức mới vừa phải đấu tranh với các hệ thống đạo đức khác, vừa phải đấu tranh tự đổi mới trong điều kiện mới:
- Bài viết "Một số biểu hiện của sự biến đổi giá trị đạo đức trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay và giải pháp khắc phục" của Nguyễn
Đình Tường, Tạp chí Triết học, số 6, 2002
- Bài viết "Giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam và cái phổ biến toàn nhân loại của đạo đức trong nền kinh tế thị trường" của Trần Nguyên
Việt, Tạp chí Triết học, số 5, năm 2002
- Nguyễn Thế Thắng: “Nâng cao đạo đức cách mạng của cán bộ, cán
bộ công đoàn trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay”, Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội, 2004
- Tác phẩm “Những giải pháp và điều kiện thực hiện phòng, chống suy thoái tư tưởng, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên” của PGS.TS Vũ
Văn Phúc, PGS.TS Ngô Văn Thạo (Đồng chủ biên), Nhà xuất bản chính trị quốc gia - Sự thật, 2011, Hà Nội Tác phẩm làm rõ cơ sở lý luận của việc phòng, chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên, nêu kinh nghiệm từ thực tiễn giải quyết vấn đề này của một số nước khác;
Trang 13làm rõ nguyên nhân, thực trạng công tác phòng, chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên; Các giải pháp mang tính toàn diện, đồng bộ, khả thi và điều kiện cần thiết trong cuộc đấu tranh khó khăn, phức tạp, lâu dài này
Những công trình của các tác giả đi trước là tài liệu có ý nghĩa quan trọng trong việc nghiên cứu đề tài về đạo đức cách mạng và việc giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên hiện nay
Nhìn chung, những công trình nghiên cứu khoa học nêu trên đã nghiên cứu và giải quyết ở từng mức độ khác nhau những vấn đề liên quan đến
đề tài luận văn, có giá trị tham khảo tốt, góp phần làm rõ lý luận về đạo đức, vai trò của việc giáo dục đạo đức, tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, sự biến đổi thanh giá trị đạo đức trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước
ta, một số thực trạng về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong điều kiện hiện nay Nhưng thực tế cho thấy tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên trong những năm qua không giảm Vấn đề đặt ra là nguyên nhân sâu xa nào khiến cho những giải pháp của chúng ta đề ra chưa được thực hiện hiệu quả
Vẫn còn thiếu những công trình nghiên cứu tập trung, toàn diện đề cập trực tiếp, cụ thể từ thực tiễn cấp cơ sở, từ đó có thể hệ thống hóa sâu sắc những quan điểm của Đảng về Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở trong giai đoạn đổi mới; quá trình lãnh đạo tổ chức thực hiện các biện pháp tổ chức, những thành tựu, những khó khăn, mặt còn hạn chế, nguyên nhân khách quan, chủ quan và bài học kinh nghiệm trong công tác này
Vì vậy, thực hiện đề tài này, tác giả hy vọng góp phần phản ánh về thực trạng và giải pháp để nâng cao việc giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng đối với đội ngũ cán bộ cốt cán trong cả nước ta nói chung và cấp huyện ở tỉnh
An Giang nói riêng hiện nay
3 Mục đích nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu một cách có hệ thống, góp phần làm sáng
tỏ những vấn đề về lý luận tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, góp
Trang 14phần làm rõ thêm tư tưởng đạo đức cách mạng của Người trên cơ sở đó, khẳng định việc kế thừa, vận dụng và phát triển của Đảng ta trước những yêu cầu của
lý luận và thực tiễn đang đặt ra đối với công tác giáo dục đạo đức cách mạng
Hồ Chí Minh cho đội ngũ cán bộ nói chung và cho cán bộ cốt cán cấp huyện ở tỉnh An Giang hiện nay nói riêng Từ đó đánh giá đúng thực trạng, rút ra những bài học kinh nghiệm, trên cơ sở đó xác định các giải pháp đổi mới, tăng cường
sự lãnh đạo của Đảng nói chung, của Đảng bộ tỉnh An Giang nói riêng
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu:
Lịch sử tư tưởng Hồ Chí Minh
4.2 Đối tượng nghiên cứu:
Tư tưởng về đạo đức cách mạng, giáo dục đạo đức cách mạng cho đội
ngũ cán bộ cốt cán cấp huyện ở tỉnh An Giang hiện nay
5 Giả thuyết khoa học
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng được hình thành gắn liền với cuộc đời hoạt động cách mạng của người Hồ Chí Minh quan niệm đạo đức là nền tảng và là sức mạnh của người cách mạng, coi đó là cái gốc của cây, ngọn nguồn của sông nước Người cán bộ cốt cán phải có phẩm chất đạo đức cách mạng làm nền tảng, thì là nhân tố trung tâm, giữ vai trò then chốt quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá của cách mạng Việt Nam,
là con đường duy nhất đi lên xã hội chủ nghĩa của đất nước
Nhiệm vụ giáo dục đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ cốt cán cấp huyện ở tỉnh An Giang hiện nay nói riêng, của cả nước nói chung, là nhiệm vụ mang tính cấp bách, mang tính sống còn của sự nghiệp cách mạng
Giả định kết quả nghiên cứu đề tài giáo dục đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh cho đội ngũ cán bộ cốt cán cấp huyện ở tỉnh An Giang hiện nay nếu được thực thi sẽ góp phần định hướng đúng đắn việc xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ cốt cán cấp huyện tại tỉnh An Giang thúc đẩy sự nghiệp cách mạng của tỉnh nhà nói riêng và của cả nước nói chung
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 15Để thực hiện mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ sau:
- Chương 1 tập trung nghiên cứu hệ thống những vấn đề lý luận từ góc
độ triết học đạo đức học, về đạo đức cách mạng theo quan điểm chủ nghĩa Mác
- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những khái niệm cơ bản, nguồn gốc hình thành, nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, những vấn đề mang tính cấp bách về giáo dục đạo đức cách mạng và quan điểm của Đảng đối với công tác giáo dục đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh cho đội ngũ cán bộ nói chung và cho cán bộ cốt cán cấp huyện ở tỉnh An Giang hiện nay nói riêng
- Chương 2 tập trung mô tả, phân tích, đánh giá thực trạng vấn đề, những nguyên nhân khách quan, chủ quan tác động đến việc giáo dục đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ cốt cán cấp huyện tại tỉnh An Giang hiện nay
- Đề xuất, khuyến nghị các biện pháp, giải pháp góp phần cung cấp cơ
sở thực tiễn, nhằm mang tính tham khảo, bổ sung, hoàn thiện chủ trương, chính sách, giải pháp nâng cao chất lương, hiệu quả việc giáo dục đạo đức cách mạng cho đội đội ngũ cán bộ cốt cán cấp huyện tại tỉnh An Giang hiện nay
7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Về cơ sở lý luận: Những vấn đề lý luận liên quan tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, những khái niệm cơ bản, nguồn gốc hình thành, nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng và quan điểm của Đảng đối với những vấn đề mang tính cấp bách về công tác giáo dục đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh cho đội ngũ cán bộ nói chung và cho cán bộ cốt cán cấp huyện ở tỉnh An Giang hiện nay nói riêng
- Về cơ sở thực tế của luận văn: Luận văn tập trung nghiên cứu về công tác giáo dục đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh cho đội ngũ cán bộ cốt cán nói chung và cho cán bộ cốt cán cấp huyện ở tỉnh An Giang hiện nay nói riêng Tác giả sẽ chọn ra một số huyện khó khăn, khu vực miền núi, biên giới, dân tộc
để khảo sát, nghiên cứu, phân tích, đánh giá
8 Phương pháp nghiên cứu
- Đề tài sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng
Trang 16cộng sản Việt Nam, đồng thời có tham khảo những công trình nghiên cứu của các tác giả có nội dung liên quan đến đề tài những tư liệu trong và ngoài nước
sẽ được sưu tập và nghiên cứu tổng hợp để hệ thống hóa những nội dung nghiên cứu có liên quan Trong quá trình nghiên cứu và trình bài nội dung của luận văn
có kết hợp chặt chẽ phương pháp logic với phương pháp lịch sử, thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, tuân thủ nguyên tắc thống nhất tính đảng và tính khoa học
9 Các luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn
9.1 Các luận điểm cơ bản
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, có giá trị thực tiễn to lớn đối với cuộc cách mạng nước ta hiện nay Những chuẩn mực đạo đức của người cán bộ cách mạng, trải qua từng giai đoạn thực tiễn của cuộc cách mạng, đã tôi luyện cho ra đời một đội ngũ cán bộ cách mạng đủ sức gách vác trọng trách của đất nước, đi đến từ thành công này đến thành công khác, từ thắng lợi này đến thắng lợi khác Người cán bộ cách mạng phải thấm nhuần chuẩn mực đạo đức cách mạng, bởi đó là nhân tố quyết định sự thành bại của sự nghiệp cách mạng, với vận mệnh của đất nước và của chế độ, là khâu then chốt và có ý nghĩa quyết định trong công tác xây dựng, hoàn thiện và phát triển mọi mặt của hệ thống
chính trị từ trung ương đến cơ sở
- Giáo dục đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh cho đội ngũ cán bộ cốt cán cấp huyện ở tỉnh An Giang hiện nay sẽ tạo sự chuyển biến trong nhận thức của cán bộ về ý nghĩa, giá trị tư tưởng đạo đức cách mạng của
Hồ Chí Minh, từ đó nhận thức sâu sắc và thái độ tích cực trong việc học tập và
làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
9.2 Đóng góp mới của luận văn
- Về mặt lý luận: Luận văn trên cơ sở hệ thống hóa chủ nghĩa Mác -
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về đạo đức cách mạng, sắp xếp thành hệ thống Làm rõ thêm lý luận, tính kế thừa, tính cấp bách phải vận dụng và phát triển của Đảng ta trước những yêu cầu của lý luận và thực tiễn
- Về mặt thực tiễn: Trên cơ sở khái quát thực trạng công tác giáo dục
Trang 17đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh cho đội ngũ cán bộ cốt cán cấp huyện ở tỉnh
An Giang hiện nay, đề xuất khuyến nghị những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả việc giáo dục đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh cho đội ngũ cán bộ cốt cán cấp huyện ở tỉnh An Giang hiện nay trong điều kiện phát triển nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho công tác cán bộ ở địa phương, trong công tác tập huấn chuyên ngành, hoặc làm tài liệu nghiên cứu, tham khảo cho các khóa học sau Đồng thời, luận văn còn góp phần cung cấp những cơ sở khoa học giúp chính quyền địa phương tham khảo trong việc hoạch định những chủ trương chính sách phù hợp góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo của cán bộ chủ chốt cấp cơ sở tỉnh An Giang hiện nay
Bên cạnh đó, luận văn cũng góp phần nhất định vào việc nhận thức rõ vai trò của việc giáo dục đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh cho đội ngũ cán bộ cốt cán cấp huyện ở tỉnh An Giang hiện nay
10 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, Luận văn gồm 2 chương 4 tiết
Trang 181.1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Khái niệm đạo đức
Trong các học thuyết triết học từ thời cổ đại đến nay, vấn đề đạo đức luôn đặt vào trung tâm trong các lĩnh vực nghiên cứu học thuyết.Với tư cách là một bộ phận của tri thức triết học, những tư tưởng đạo đức đã được xuất hiện
cách đây hơn 2.600 năm trong triết học Trung Quốc, Ấn Độ và Hi Lạp cổ đại
Theo tự điển Hán - Nôm đạo đức là "Chỉ chung những điều dựa theo
lẽ phải và nết tốt của con người, mà ai cũng phải theo để sống có ý nghĩa" Đạo đức là một từ Hán Việt, được dùng từ xa xưa để chỉ một thành tố trong tính cách và giá trị của một con người Theo khái niệm trong tự điển Hán - Việt:
“Đạo là đường đi, nguyên lý tự nhiên là đạo, được vào trong lòng người là đức, đạo đức là cái lý pháp người ta nên noi theo” [1, tr.215] Như vậy, Đạo là con đường, đức là tính tốt hoặc những công trạng tạo nên Khi nói một người có đạo đức là ý nói người đó có sự rèn luyện thực hành các lời răn dạy về đạo đức, sống chuẩn mực và có nét đẹp trong đời sống và tâm hồn
Theo tự điển tiếng Việt, Đạo: là phép tắc đối xử trong xã hội, ai cũng phải biết và phải tuân thủ, giữ gìn (đạo làm người); Đức: cái thể hiện tốt đẹp về tính cách, tư tưởng, hành động của con người Đạo đức là phép tắc về quan hệ giữa người với người, giữa cá nhân với tập thể [146, tr.248-249, 283]
Đạo đức có thể được nhìn thấy theo các góc độ sau: Nghĩa hẹp: Đạo
đức thể hiện nét đẹp trong phong cách sống của một người hiểu biết và rèn luyện ý chí theo các bậc tiền nhân về các quy tắc ứng xử, các đường lối tư duy
thanh tao tốt đẹp Nghĩa rộng hơn: Nghĩa rộng hơn, đạo đức trong một cộng
đồng thể hiện qua những quy tắc ứng xử được áp dụng từ việc hợp với đạo lí xưa nay và phong tục của địa phương, cộng đồng đó Tạo thành nét đẹp truyền
thống văn hóa Nghĩa rộng: Đạo đức của cả một xã hội thường được xét đến khi
Trang 19xã hội đó bị hỗn loạn và thiếu chuẩn mực Khi đó những bậc trí giả sẽ định ra những chuẩn mực cơ bản nhất để tạo dựng nên nền tảng đạo đức Khi đã đạt đạo đức cơ bản nhất thì đó là đạo đức xã hội Từ đó học tập đi lên thành các
thành phần cao cấp hơn
Với tư cách là một bộ phận của tri thức triết học, những tư tưởng đạo đức học đã xuất hiện hơn 26 thế kỷ trước đây trong triết học Trung Quốc, Ấn
Độ, Hy Lạp cổ đại từ phương Tây đến phương Đông
Đạo đức theo triết học phương Tây
Tư tưởng đạo đức phương Tây “bắt nguồn từ tiếng La tinh là mos (moris) - lề thói, (moralis nghĩa là có liên quan đến lề thói, đạo nghĩa) Còn
“luân lí” thường xem như đồng nghĩa với “đạo đức” thì gốc ở chữ Hy Lạp là Êthicos nghĩa là lề thói; tập tục Hai danh từ đó chứng tỏ rằng, khi ta nói đến đạo đức, tức là nói đến những lề thói tập tục và biểu hiện mối quan hệ nhất định giữa người và người trong sự giao tiếp với nhau hàng ngày Sau này người ta thường phân biệt hai khái niệm, moral là đạo đức, còn Ethicos là đạo đức học" [121, tr.5]
Tư tưởng đạo đức phương Tây thể hiện trong tư tưởng của các Triết gia, phạm trù đạo đức được xem là hơn thở của cuộc sống, nổi danh là các Triết gia Platin, Aristote và Socrate
Platôn xây dựng đạo đức học “trên cơ sở học thuyết về linh hồn bất tử
là một hình thức của lý luận tôn giáo, là bộ phận quan trong nhất của ý thức tư tưởng của tầng lớp chủ nô quý tộc” [77, tr.52]
Còn Arixtốt là học trò xuất sắc của Platon, Ph.Angghen xem Arixtot
là người có bộ não bách khoa trong số những Triết gia Hy Lạp cổ đại, ông là cha đẻ của lôgíc học, ông xây dựng các phạm trù, phương pháp luận đề, phản bác các nhà biện thuyết, một phần trong siêu hình học, và cuối cùng là đạo đức học Arixtốt không xem chính trị như một khoa học riêng rẽ, tách rời khỏi đạo đức, mà chỉ là một thành tố trong tổng thể các hoạt đông xã hội, mà mục tiêu là hạnh phúc của con người Nhà nước là sự phát triển từ gia đình thông qua cộng đồng Nói khác đi, nhà nước là một tổ chức thuộc về đạo đức thực sự tiến bộ, phát triển con người
Trang 20Theo Socrate, xuất phát từ “đạo đức học duy lý”, quan điểm triết học của ông bàn đến vấn đề con người trong đời sống xã hội mà trước hết là hành vi đạo đức, ông cho rằng: “Hiểu biết là cơ sở của điều thiệt, ngu dốt là cội nguồn của cái ác, và chỉ có cái thiện phổ biến là cơ sở của đạo đức, mới là cơ sở của đức hạnh Ai muốn tuân theo cái thiện phổ biến thì phải nắm bắt được nó…” [47, tr.97-98] Đạo đức học Socrate hiểu như “phương tiện dạy con người sống”, đã góp phần làm cho triết học vượt qua sự bế tắc, đi sâu vào những vấn
đề nhân sinh, xã hội Con người giờ đây không chỉ là chủ thể, mà còn trở thành đối tượng, thành điểm xuất phát và mục đích của các tư tưởng triết học
Đạo đức trong tôn giáo ở phương Tây chủ yếu Cơ đốc giáo và Thiên chúa giáo, trường phái này xem đạo đức là nguyên tắc bình đẳng trước Chúa, bác ái là yêu thương tất cả mọi người không phân biệt ai dù người đó là kẻ bóc lột, người bị bóc lột, kẻ thù, bạn, lòng yêu thương trong sự nhẫn nhịn, khuất phục,… hướng tư tưởng đạo đức theo hướng thần học thiếu tính hiện thực Từ đây đã làm xuất hiện những trường phái đạo đức trần thế chống lại đạo đức thần học tiêu biểu là Heghel, Feuerbach…
Đạo đức theo triết học phương Đông
Ở phương Đông, các học thuyết của Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo đều lấy đạo đức làm trung tâm trong các mối quan hệ, đối nhân xử thế, các nguyên tắc ứng xử, các chuẩn mực trong cuộc sống
Nho giáo là một trong những trường phái triết học chính của Trong Quốc thời cổ đại, “Các học thuyết về đạo đức của người Trung Quốc cổ đại xuất hiện sớm, trong đó quan niệm về đạo và đức của họ được biểu hiện khá rõ nét Đạo đức là một trong những phạm trù quan trọng của triết học Trung Quốc
cổ đại.….lần đầu tiên xuất hiện trong "Kim văn" đời nhà Chu và từ đó trở đi nó được người Trung Quốc cổ đại sử dụng nhiều để chỉ những yêu cầu, những nguyên tắc do cuộc sống đặt ra mà mỗi người phải tuân theo” [121, tr.5-6] Trong Nho giáo tư tưởng đạo đức thể hiện thông qua các quan điểm về “tu thân”, hay các nguyên tắc “tam cương”, “ngũ thường”, “tam tòng”, “tứ đức” Hay những chuẩn mực “trung, hiếu, nghĩa”, “nhân, lễ, nghĩa, tri, tín”, “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” và “công, dung, ngôn, hạnh” Đây
là những quy tắc ứng xử trong mối quan hệ xã hội giữa “vua - tôi”, “cha - con”,
“chồng - vợ”, “anh - em”, “bạn - bè” … và những giá trị đạo đức này đã thâm
Trang 21nhập ăn sâu vào mọi lĩnh vực đời sống xã hội
Các học thuyết về đạo đức của người Trung Quốc cổ đại bắt nguồn từ cách hiểu về đạo và đức của họ Đạo là một trong những phạm trù quan trọng nhất của triết học trung Quốc cổ đại Đạo có nghĩa là con đường, đường đi, hướng đi, lối làm việc, ăn ở Đức: Theo Khổng Tử, sống đúng luân thường là có Đức Như vậy có thể nói đạo đức của người Trung Quốc cổ đại chính là những yêu cầu, những nguyên tắc do cuộc sống đặt ra mà mỗi người phải tuân theo Khổng Tử ngày xưa từng nhấn mạnh "Dục tri kỳ quốc… tiên tu kỳ thân" Người lãnh đạo phải là một tấm gương về đạo đức, lời nói và việc làm phải đi đôi, muốn vậy phải tu dưỡng bản thân theo trình tự tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ Hay một nguyên tắc đạo đức trong triết lý đạo Khổng: "Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân" (Điều mà mình không muốn thì đừng làm cho người khác)
Theo Đạo giáo của Lão Tử, đạo đức được thể hiện thông qua những chuẩn mực cá nhân như “vô kỷ”, “vô công”, “vô danh”, “bất tranh”, “dĩ đức báo oán”… tu thân tới mức hiệp nhất với trời đất, an hoà với mọi người là có Đức Đức dùng để nói đến nhân đức, đức tính và nhìn chung đức là biểu hiện của đạo, là đạo nghĩa, là nguyên tắc luân lý Về sau khái niệm đạo được vận dụng trong triết học để chỉ con đường của tự nhiên Đạo còn có nghĩa là con đường sống của con người trong xã hội
Trong Phật giáo, đạo đức được xem là chuẩn mực trong các mối quan
hệ giữa con cái với cha mẹ, thầy vời trò, chồng với vợ, bạn bè,… quan hệ giữa
bề trên với cấp dưới, giữa nô bộc với chủ,… nhưng nhìn chung khuyên con người thương yêu nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau, hướng con người tính thiện Tuy nhiên trường phái này tư tưởng đạo đức còn mang quan điểm duy tâm tôn giáo coi đạo đức là những nguyên tắc, những chuẩn mực được rút ra từ trong đầu óc thiếu cơ sở thực tiễn lịch sử, xa rời hiện thực, chẳng hạn như thượng đế,
ý niệm tuyệt đối, tự ý thức, hoặc một bản tính người trừu tượng nào đó, rồi đem áp đặt vào đời sống hiện thực của con người Theo Đức Phật: "Các vị Bà la môn sinh ra từ cửa miệng Phạm thiên chăng? Đâu có , làm gì mà các vị ấy cao cấp được? Chỉ những ai có đủ đạo đức lương thiện là cao cấp, còn lại là ti tiện"
Hồ Chí Minh đã chỉ ra những yếu tố tích cực của đạo đức trong Nho giáo như: dân là gốc của nước; dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh Người nhắc đến những mệnh đề “nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm, tứ hải giai huynh đệ” và
Trang 22đề cao thuyết “đại đồng” của Nho giáo Người cho rằng, “đạo đức của Khổng tử
là hoàn hảo”; “người An Nam chúng ta hãy tự hoàn thiện mình, về mặt tinh thần bằng cách đọc các tác phẩm của Khổng Tử, và về mặt cách mạng thì cần đọc các tác phẩm của Lênin” [57, t.2, tr.454] Theo Người, Khổng giáo là một thứ khoa học về kinh nghiệm đạo đức và phép ứng xử Khổng tử có ưu điểm là
tu dưỡng đạo đức cá nhân Hồ Chí Minh cho rằng “tinh thần triết học và giáo lý của Khổng Tử”, và gọi Khổng Tử là “vĩ nhân”, gọi Mạnh Tử là “một lý luận gia cách mạng của thế hệ ông” [57, tr.456-458] Vì vậy, Người viết: “Tuy Khổng
Tử là phong kiến và trong học thuyết của Khổng Tử có nhiều điều không đúng Song những điều hay trong đó thì chúng ta nên học” [48, tr 336]
Như vậy theo tư tưởng phương Đông, đạo đức được xem là khái niệm luân thường đạo lý của con người, nó thuộc về vấn đề tốt - xấu, hơn nữa xem như là đúng - sai, được sử dụng trong 3 phạm vi: lương tâm con người, hệ thống phép tắc đạo đức và trừng phạt đôi lúc còn được gọi giá trị đạo đức; nó gắn với nền văn hoá, tôn giáo, chủ nghĩa nhân văn, triết học và những luật lệ của một xã hội về cách đối xử từ hệ thống này
Quan niệm khoa học về nguồn gốc của đạo đức là quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin
Đạo đức thuộc hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, qui tắc nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau, với xã hội, với tự nhiên trong hiện tại hoặc quá khứ cũng như tương lai chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội
Theo Mác và Ăngghen, trước khi sáng lập các thứ lý luận và nguyên tắc bao gồm cả triết học và luân lí học, con người đã hoạt động, tức là đã sản xuất ra các tư liệu vật chất cần thiết cho đời sống Ý thức xã hội của con người
là phản ánh tồn tại xã hội của con người Các hình thái ý thức xã hội khác nhau tuỳ theo phương thức phản ánh tồn tại xã hội và tác động riêng biệt đối với đời sống xã hội Đạo đức cũng vậy, nó là hình thái ý thức xã hội phản ánh một lĩnh vực riêng biệt trong tồn tại xã hội của con người Và cũng như các quan điểm triết học, chính trị, nghệ thuật, tôn giáo điều mang tính chất của kiến trúc thượng tầng Chế độ kinh tế xã hội là nguồn gốc của quan điểm này thay đổi
theo cơ sở đã đẻ ra nó
Trang 23Với thế giới quan duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, dựa trên sự
kế thừa có chọn lọc những quan niệm về đạo đức trước đó, đồng thời đặt nền tảng khoa học cho một nền đạo đức mới - đạo đức cộng sản chủ nghĩa, quan điểm mác xít cho rằng: đạo đức là sản phẩm của điều kiện kinh tế - xã hội, trong đó nhân tố quy định đạo đức là các quan hệ kinh tế, lợi ích là cái chi phối trực tiếp, là cơ sở khách quan của đạo đức, " lợi ích hiểu một cách đúng đắn là nguyên tắc của toàn bộ đạo đức" Dưới góc độ nhận thức luận, đạo đức là một hiện tượng tinh thần, một hình thái đặc biệt của ý thức xã hội, là tính thứ hai so với tồn tại xã hội Tính chất đặc biệt của đạo đức thể hiện trong quá trình hình thành các quy tắc đạo đức, đó là do sự thừa nhận của số đông trong xã hội hay
sự thừa nhận của một giai cấp nhất định
Dưới góc độ chức năng, đạo đức điều chỉnh hành vi của con người bằng những chuẩn mực và quy tắc đạo đức theo yêu cầu của xã hội Mục đích là nhằm đảm bảo lợi ích chung của xã hội hay lợi ích cơ bản của giai cấp đã đề ra chuẩn mực, quy tắc đạo đức ấy Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, đạo đức có chức năng nhận thức thông qua sự phản ánh tồn tại xã hội Qua đó đem lại tri thức, ý thức đạo đức cho chủ thể, hình thành đạo đức cá nhân và trở thành
cơ sở để cá nhân điều chỉnh hành vi, hiện thực hoá đạo đức Với chức năng giáo dục, đạo đức giúp cho con người hình thành những quan điểm, nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực cơ bản để đánh giá hành động đạo đức xã hội và những hành vi đạo đức của bản thân mỗi con người
Từ những thực tiễn trên C.Mác, Ăngghen đã đi đến khẳng định đạo đức không là sự biểu hiện của một sức mạnh nào đó ở bên ngoài xã hội, bên ngoài các quan hệ con người; cũng không phải là sự biểu hiện của những năng lực “tiên thiên”, nhất thành bất biến của con người Đạo đức là sản phẩm tổng hợp của các yếu tố khách quan và chủ quan, là sản phẩm của hoạt động thực tiễn và nhận thức của con người Những quan hệ người - người, cá nhân - xã hội càng có ý thức, tự giác, ý nghĩa và hiệu quả của chúng càng có tính chất xã hội rộng lớn thì hoạt động của con người càng có đạo đức Đạo đức “đã là một sản phẩm xã hội, và vẫn là như vậy chừng nào con người còn tồn tại” [10, tr.43] Với tư cách là sự phản ánh tồn tại xã hội, đạo đức là sản phẩm của những điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội, của cơ sở kinh tế, Ph.Ăngghen khẳng định: “Con người đã tự giác hay không tự giác, rút cuộc đều rút ra những quan niệm đạo đức của mình từ những quan hệ thực tiễn đang làm cơ sở cho vị trí
Trang 24giai cấp của mình, tức là từ những quan hệ kinh tế trong đó người ta sản xuất và trao đổi Xét cho cùng, mọi học thuyết về đạo đức đã có từ trước đến nay đều
là sản phẩm của tình hình kinh tế của xã hội lúc bấy giờ” [9, tr 136 - 137]
Khi phát triển những tư tưởng của C.Mác - Ăngghen về đạo đức, V.I.Lênin nói: "Chung ta nói rằng đạo dức của chúng ta hoàn toàn phụ thuộc vào lợi ích đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản Đạo đức của chúng ta là từ những lợi ích của cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản mà ra… Cuộc đấu tranh giai cấp còn liên tục và nhiệm vụ của chúng ta là làm cho tất cả mọi lợi ích phải phục tranh cuộc đấu tranh này Và đạo đức cộng sản của chúng ta cũng phải phục tùng nhiệm vụ này" Điều đó có nghĩa là, thực tiễn cách mạng của giai cấp công nhân đã sản sinh ra một nội dung khách quan của đạo đức cộng sản Và, "cơ sở của đạo đức cộng sản là cuộc đấu tranh để củng cố và hoàn thành công cuộc xây dựng chủ nghĩa cộng sản" [144, tr.367, 372] Và V.I.Lênin
đã đi đến định nghĩa đạo đức cộng sản "là những gì góp phần phá huỷ xã hội cũ của bọn bóc lột và góp phần đoàn kết tất cả những người lao động chung quanh giai cấp vô sản đang sáng tạo ra xã hội mới của những người cộng sản" [144, tr.369] Do có nội hàm này mà đạo đức cộng sản, theo ông, phải phục tùng lợi ích của cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản
Từ các ý kiến chung của các nhà sáng lập ra Đạo đức học C.Mác - Lênin, đã đưa ra một cách hiểu khái quát về Đạo đức Đạo đức học Mác - Lenin như: "Đạo đức học Mác - Lenin là một khoa học, dựa trên cơ sở của chủ nghĩa duy vật lịch sử, nghiên cứu sự vận động của các quan hệ đạo đức giữa con và con người, giữa con người và tự nhiên, coi các vấn đề chuẩn mực và thiện ác là trung tâm, lợi ích là khâu cơ bản, nhân cách đạo đức là biểu hiện tập trung nhất" [121, tr.15]
Ở Việt Nam, những quan niệm về Đạo đức được của những tư tưởng triết học thời Lý - Trần đặt hàng đầu trong hành động chính trị, những tư tưởng như: dân là gốc của nước; dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh, “nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm, tứ hải giai huynh đệ”; trong đối nhân xử thế trong các nguyên lý đạo đức xã hội có thuyết “Tam cương”, “Ngũ thường” của Nho giáo tạo cho xã hội một ý thức trật tự, kỷ cương, phù hợp với chế độ phong kiến
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược chữ “Đạo” được xem là quốc hồn, là biểu tượng truyền thống yêu nước, thương nòi Yêu “Đạo”
Trang 25được coi là yêu nước, vì đạo mà chiến đấu hy sinh để bảo vệ độc lập cho đất nước Với ánh sáng của Chủ nghĩa Mác - Lênin và Hồ Chí Minh đã chọn là cơ
sở lý luận khoa học, vận dụng sáng tạo và phát triển toàn diện lý luận vào thực tiễn cách mạng Việt Nam Đó là những vấn đề của các dân tộc phương Đông, của phong trào giải phóng dân tộc Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Chủ nghĩa Mác - Lênin là kim chỉ nam cho hành động, chứ không phải là kinh thánh" [61, tr.247] Hồ Chí Minh là tấm gương sáng về sự trung thành đổi mới và sáng tạo
Ngay từ những buổi đầu của sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc Người đã đánh giá cao vai trò của đạo đức Hồ Chí Minh đã tiếp thu những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc, kế thừa, vận dụng và phát triển một cách sáng tạo giữa tính nhân văn của dân tộc và tư tưởng đạo đức của Chủ nghĩa Mác - Lênin và thực tiễn cách mạng Việt Nam Với Hồ Chí Minh quan niệm, đạo đức là gốc của người cách mạng, là nguồn nuôi dưỡng con người, như gốc của cây, nguồn nước của sông suối Hồ Chí Minh viết: “cũng như sông có nguồn thì mới có nước, không có nguồn thì sông cạn Cây phải có gốc, không
có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì tài giỏi đến mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” [69, tr.252 - 253] Hồ Chí Minh đã xây dựng một kiểu đạo đức mới hơn về chất so với đạo đức cũ, bởi
“Đạo đức cũ như người đầu ngược xuống đất, chân chổng lên trời Đạo đức mới như người hai chân đứng vững được dưới đất, đầu ngẩng lên trời” [61, tr.320-321]
Hồ Chí Minh không đưa ra định nghĩa đạo đức là gì, nhưng trong sử dụng, thuật ngữ đạo đức được dùng với 3 nghĩa: Rộng, hẹp, và rất hẹp Đó là: Đạo đức là hình thái ý thức xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc và làm giàu tính người trong các quan hệ xã hội, kể cả trong các quan hệ chính trị, tư tưởng; Đạo đức là các qui tắc, chuẩn mực dùng điều chỉnh hành vi con người trong quan hệ giữa người với người trong hoạt động sống; Đạo đức là hành vi đạo đức, hành vi đạo đức là hành động cá nhân thể hiện quan niệm của cá nhân về nghĩa vụ đối với xã hội và đối với người khác, thể hiện lương tâm hoặc bổn phận cá nhân trong những hoàn cảnh đặc thù không lặp lại Với 3 khái niệm Hồ Chí Minh đã gắn với 3 mối quan hệ cơ bản của mỗi con người (với mình, với người và với việc)
Trái với Đạo đức là Đạo đức giả Là những biểu hiện ích kỷ, đố kị, xu
Trang 26nịnh, a dua, đạo đức giả là một thói xấu đang hoành hành mối quan hệ giữa con người và con người Nó làm mất dần vẻ chân thực vốn có của đời sống xã hội Đạo đức giả sẽ làm suy yếu nền văn hóa của một đất nước Bác cho rằng: "Nói
đi đôi với làm đối lập với thói đạo đức giả của giai cấp bóc lột: Nói với cấp trên khác, nói với cấp dưới khác Nói như rồng leo, làm như mèo mửa Hãy làm theo tôi nói đừng làm theo tôi làm Nói 1 đằng làm 1 nẻo Nói mà không làm Nói nhiều làm ít Hứa mà không làm" Người đã cảnh báo: “Có những người miệng thì nói: phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, nhưng bị vật chất dỗ dành mà phạm vào tham ô, lãng phí, hại đến Tổ quốc, nhân dân" [72, tr.361] Điều này
sẽ dẫn tới nguy cơ làm mất lòng tin của dân đối với Đảng, đạo đức sẽ trở lên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân, đục khoét dân, ăn của đút lót, “dĩ công vi tư”, Người phê phán: “Cậy thế mình ở trong ban này, ban nọ rồi ngang tàng phóng túng, muốn sao được vậy, coi khinh dư luận, không nghĩ đến dân Quên rằng dân bầu mình ra là để làm việc cho dân, chứ không phải để cậy thế với dân" [59, tr.65] Muốn có đạo đức trước hết nói phải đi đôi với làm, phải nêu gương
về đạo đức; Để rèn luyện đạo đức là xây đi đôi với chống; Phải tu dưỡng đạo đức suốt đời đó là những nguyên tắc cơ bản trong rèn luyện đạo đức [78, tr.354-364] Như vậy, Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, xuất hiện tương đối sớm
và có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của xã hội Đạo đức được hiểu “Là
hệ thống các quy tắc, chuẩn mực xã hội mà nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù họp với lợi ích của cộng đồng, của xã hội”[6, tr.63]
Tóm lại: Ngày nay, đạo đức được định nghĩa như sau: "đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, qui tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh cách đánh giá và cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi sức mạnh của truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội" [121, tr.6]
Đạo đức là nhân tố tạo nên sức hấp dẫn của chủ nghĩa xã hội
Theo Hồ Chí Minh: "Có gì sung sướng vẻ vang hơn là trau dồi đạo đức cách mạng để góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và giải phóng loài người" [64, tr.293] Hồ Chí Minh cho rằng phong trào cộng sản công nhân quốc tế trở thành lực lượng quyết định vận mệnh của loài người không chỉ do chiến lược và sách lược thiên tài của cách mạng vô sản, mà còn do những phẩm chất đạo đức cao quý làm cho chủ nghĩa cộng sản trở thành
Trang 27một sức mạnh vô địch Tấm gương đạo đức trong sáng của một nhân cách vĩ đại, song cũng rất đời thường của Hồ Chí Minh chẳng những có sức hấp dẫn lớn lao, mạnh mẽ với nhân dân Việt Nam, mà còn cả với nhân dân thế giới Tấm gương đó từ lâu, là nguồn cổ vũ động viên tinh thần quan trọng đối với nhân dân ta và nhân loại tiến bộ đoàn kết đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội
Vai trò của đạo đức trong đời sống xã hội
Đạo đức là sự tổng hòa những nguyên tắc, quy định, chuẩn mực nhằm hướng con người đến các chân, thiện, mỹ, chống lại cái giả, cái cái ác, cái sai trong mỗi thời đại lịch sử, giúp con người soi roi, nhận diện, tự điều chỉnh hành
vi của mình Do đó, đạo đức có vai trò rất lớn trong đời sống xã hội, trong đời sống của con người và được thể hiện: đạo đức là một trong những phương thức
cơ bản để điều chỉnh hành vi con người, một sự điều chỉnh hoàn toàn tự nguyện, tự giác, không vụ lợi trong một phạm vi rộng lớn; Đạo đức góp phần nhân đạo hóa con người và xã hội loài người, giúp con người sống thiện, sống
có ích; Đạo đức thể hiện bản sắc dân tộc trong quan hệ quốc tế, là cơ sở để mở rộng giao lưu giữa các giá trị văn hóa của dân tộc, quốc gia với các dân tộc, quốc gia khác; Đạo đức góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, qua đó thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội
Trong sự vận động phát triển của xã hội loài người suy cho cùng nhân
tố kinh tế là cái chủ yếu quyết định Tuy nhiên, nếu tuyệt đối hóa cái “chủ yếu” này thành cái “duy nhất” thì sẽ dẫn tư duy và hành động đến những lầm lạc đáng tiếc Sự tiến bộ của xã hội, sự phát triển của xã hội không thể thiếu vai trò của đạo đức Và khi xã hội loài người có giai cấp, có áp bức, có bất công, chiến đấu cho cái thiện đẩy lùi cái ác đã trở thành ước mơ, khát vọng, đã trở thành chất men, thành động lực kích thích, cổ vũ nhân loại vượt lên, xốc lên Đạo đức
đã trở thành mục tiêu đồng thời cũng là động lực để phát triển xã hội
1.1.1.2 Khái niệm đạo đức cách mạng
Theo tự điển tiếng Việt: Cách mạng là sự thay đổi to lớn theo hướng tiến bộ trong đời sống xã hội hay trong lĩnh vực nào đó [146, tr.96] Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Cách mạng là tiêu diệt những cái gì xấu, xây dựng những cái gì tốt Chúng ta làm cách mạng để tiêu diệt chế độ thực dân, phong kiến, để
Trang 28xây dựng dân chủ mới” [72, tr.361]
Trong bài Đạo đức cách mạng, bút danh C.B, đăng báo Nhân dân ngày 06/6/1955, Người chỉ rõ: “Quyết tâm giúp đỡ loài người ngày càng tiến bộ
và thoát khỏi ách áp bức, bóc lột, luôn luôn giũ vững tinh thần chí công vô tư -
đó là đạo đức cách mạng” [62, tr.568] Cũng trong bài Đạo đức cách mạng, bút danh Trần Lực đăng trên Tạp chí Học tập, số 12 - 1958, Người viết: “Nói tóm tắt, thì đạo đức cách mạng là: Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng cho cách mạng Đó là điều chủ chốt nhất” [64, tr 285]
Theo quan điểm Mácxít Đạo đức cách mạng là hình thức lịch sử đầu tiên của đạo đức của đạo đức cộng sản chủ nghĩa Đó là đạo đức cách mạng của giai cấp công nhân, đã hình thành từ trong khuôn khổ của xã hội tư bản Đạo đức cách mạng của giai cấp công nhân là toàn bộ những nguyên tắc sống và những qui phạm đạo đức phù hợp với hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa Tiêu chuẩn khách quan và hàng đầu của đạo đức cách mạng là đấu tranh cho sự toàn thắng của chủ nghĩa xã hội và đi lên chủ nghĩa cộng sản Những nguyên tắc của đạo đức cách mạng tạo thành qui tắc của Người, xây dựng và bảo vệ chủ nghĩa xã hội Đó là trung thành với sự nghiệp của Đảng Cộng sản, bằng lao động sáng tạo tăng thêm của cải cho xã hội, tinh thần tập thể, chủ nghĩa nhân đạo, chủ nghĩa quốc tế, v.v
Đạo đức cách mạng của giai cấp vô sản đối lập với đạo đức của giai cấp thống trị bóc lột, nó tiếp thu những qui phạm đạo đức cơ bản chung của loài người do quần chúng nhân dân đề ra trong suốt hàng nghìn năm đấu tranh chống áp bức xã hội và chống những thói quen xấu Như vậy, đạo đức cách mạng là cấp độ tiến bộ, đạo dức cao nhất của loài người
Hồ Chí Minh đánh giá cao giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc xem đó là một sức mạnh về tinh thần trong sự nghiệp giải phóng dân tộc Từ khi cách mạng có Đảng lãnh đạo, qua thực tiễn đấu tranh, Người cho rằng chỉ
có giác ngộ chính trị không thì chưa đủ, mà còn phải thấm nhuần, tư dưỡng đạo đức cách mạng Đây chính là nhân tố quan trọng tác động tạo sức mạng cách mạng tăng lên gấp bội
Năm 1947, đề cập đến vấn đề Tư cách của đảng chân chính cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu 12 điều, trên cơ sở đó, khi nói về Phận sự của
Trang 29đảng viên và cán bộ, Người đưa ra khái niệm đạo đức cách mạng - đồng nghĩa với những tính tốt với những nội dung cơ bản gồm 5 điều: Nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm Có lẽ đây là lần đầu tiên Người dùng thuật ngữ này Người khẳng định: “Đó là đạo đức cách mạng Đạo đức đó không phải là đạo đức thủ cựu
Nó là đạo đức mới, đạo đức vĩ đại, nó không phải vì danh vọng của cá nhân, mà
vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc của loài người” [60, tr 252] Người nói
rõ vai trò và tầm quan trọng của đạo đức: "Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì" [60, tr.252 - 253]
Theo Hồ Chí Minh Đạo đức cách mạng là làm cách mạng để cải tạo
xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang
Có đạo đức cách mạng thì gặp khó khăn, gian khổ, thất bại, cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước Có đạo đức cách mạng thì gặp thuận lợi và thành công cũng vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, chất phác, khiêm tốn, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”, lo hoàn thành nhiệm vụ cho tốt chứ không kèn cựa về mặt hưởng thụ, không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo, không hủ hóa Đó cũng là biểu hiện của đạo đức cách mạng Nói tóm tắt, thì đạo đức cách mạng là: "Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng Đó là điều chủ chốt nhất Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc
Ra sức học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, luôn luôn dùng tự phê bình và phê bình
để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình và cùng đồng chí mình tiến bộ" [70 tr.283 - 285]
Đạo đức cách mạng Việt Nam được hình thành, phát triển gắn liền với thực tiễn cách mạng Việt Nam Nó là sự phản ánh quá trình đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân, nông dân và các tầng lớp tiến bộ khác nhằm
Trang 30giành độc lập dân tộc và đưa đất nước đi lên xây dựng CNXH Vì vậy, tiếp cận khái niệm "đạo đức cách mạng", cũng cần phải xem xét dưới góc độ nhận thức luận, chức năng cơ bản và giá trị nhân cách Cũng như các hệ thống lý luận đạo đức khác, lý luận đạo đức cách mạng là kết quả của sự phản ánh tồn tại xã hội Nhưng với tính cách là trình độ phản ánh cao nhất của ý thức đạo đức - một hình thái ý thức xã hội đặc biệt - lý luận đạo đức phản ánh bản chất của tồn tại
xã hội mà cụ thể là các quan hệ sản xuất, biểu hiện ra là các quan hệ lợi ích Cho nên đạo đức cách mạng kế thừa đặc điểm chung của hệ thống lý luận đạo đức trong lịch sử, phản ánh quan hệ lợi ích các giai cấp, các tầng lớp khác nhau trong xã hội
Vai trò đạo đức cách mạng
Khi nói về đạo đức cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “đạo đức cách mạng là quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng Đó là điều chủ chốt nhất Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích của cá nhân mình Hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân, vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quyên mình, gương mẫu trong mọi việc Ra sức học tập chỉ nghĩa Mác - Lênin, luôn luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình và cùng đồng chí mình tiến bộ” [64, tr.285] Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng mà cán
bộ, đảng viên cần phải có là: Tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân, tận trung với nước, tận hiếu với dân; ra sức phấn đấu để thực hiện mục tiêu của Đảng; dù khó khăn đến đâu cũng kiên quyết làm đúng chính sách và nghị quyết của Đảng, làm gương cho quần chúng noi theo; thành khẩn, thật thà tự phê bình
và phê bình để cùng nhau tiến bộ; hoà mình với quần chúng thành một khối, tin quần chúng, hiểu quần chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng Người luôn nhắc nhở: "Mỗi người đảng viên, mỗi người cán bộ từ trên xuống dưới đều phải hiểu rằng: mình vào Ðảng để làm đày tớ cho nhân dân Bác nhấn mạnh: Làm đày tớ nhân dân chứ không phải là "quan" nhân dân" [55, tr.222]
Thiếu đạo đức cách mạng thì dù tài giỏi đến mấy cũng không thể lãnh đạo được nhân dân Thực tiễn thời gian qua cho thấy, tình trạng suy thoái về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên rất đáng lo ngại; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực còn xảy ra ở nhiều nơi
Trang 31nhưng chậm được phát hiện, ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả Một số cán bộ, đảng viên chạy theo lối sống thực dụng, mang nặng chủ nghĩa cá nhân, không quan tâm đến đời sống của nhân dân mà chỉ lo nghĩ đến lợi ích của riêng mình
Từ trong chiều sâu bản chất nhân văn của đạo đức cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh ân cần nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải luôn nhận thức sâu sắc: “Bất cứ ở địa vị nào, làm công tác gì, chúng ta đều là đày tớ của nhân dân Cơm chúng ta ăn, áo chúng ta mặc, vật liệu chúng ta dùng, đều do mồ hôi nước mắt của nhân dân mà ra” [53, tr 392] Hồ Chí Minh căn dặn những “công bộc” của dân phải hết lòng tận tuỵ phục vụ nhân dân, “việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”, không được so sánh, suy tị, kèn cựa Người nói: “Được phục vụ nhân dân, phục vụ Đảng và cách mạng là cao quý hơn cả Không phải thấy người này chánh, người khác phó, bậc này cao, bậc kia thấp mà suy tị, kèn cựa”
Hồ Chí Minh khẳng định: “Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành
xã hội mới, là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang” [64, tr.283]
Hồ Chí Minh đã viết: “Đạo đức cũ như người đầu ngược xuống đất chân chổng lên trời Đạo đức mới như người hai chân đứng vững được dưới đất, đầu ngửng lên trời” [61, tr.320-321] Từ đó Người kết luận: “Đạo đức cách mạng là vô luận trong hoàn cảnh nào, cũng phải quyết tâm đấu tranh, chống mọi kẻ địch, luôn luôn cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, quyết không chịu khuất phục, không chịu cúi đầu" [64, tr.287]
Đạo đức cách mạng là gốc, là nền tảng của người cách mạng
Hồ Chí Minh quan niệm đạo đức cách mạng là gốc của người cách mạng, từ rất sớm và xuyên suốt cuộc đời cách mạng của mình Người khẳng định: “Người cách mạng, phải có đạo đức cách mạng” [70, tr.283, 172] Giữ được đạo đức cách mạng mới là người cán bộ chân chính Bởi mọi việc thành hay bại là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng hay không Đây không chỉ là yêu cầu về phẩm chất, năng lực mà còn là vấn đề có tính nguyên tắc trong chỉ đạo nhận thức và hành động của mỗi cán bộ, đảng viên Trong Di chúc, Người nhấn mạnh: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền Mỗi đảng viên và cán bộ
Trang 32phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thực sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho đoàn viên và thanh niên, "đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”" [55,
tr.498]
Người coi đạo đức như gốc của cây, như nguồn của sông, cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hoá, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?” [69, tr.253] Vai trò nền tảng của đạo đức cách mạng được Hồ Chí Minh khẳng định: “Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới, là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang” [70, tr 283] Đạo đức trở thành nhân tố quyết định sự thành bại của mọi công việc, phẩm chất mỗi con người: “Mọi việc thành hay là bại, chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuận đạo đức cách mạng, hay là không”, “Tuy năng lực và công việc mỗi người có khác nhau, người làm việc to, người làm việc nhỏ, nhưng ai giữ được đạo đức cách mạng đều là người cao thượng” Người từng khẳng định: “Chúng ta đem tinh thần mà chiến thắng vật chất” [60, tr.148]
Giáo dục đạo đức cách mạng
Từ tác phẩm Đường kách mệnh năm 1927, Bản Di chúc lịch sử, Người đã có khoảng gần 200 bài nói, bìa viết về công tác xây dựng Đảng, về rèn luyện, giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên Đó là hệ thống những quan điểm, biện pháp hữu hiệu để chống chủ nghĩa cá nhân, nâng cao uy tín, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng
Theo Hồ Chí Minh, để có cán bộ tốt thì: “huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng” [60, tr 269] Người cho rằng, muốn có đạo đức cách mạng thì phải giáo dục, rèn luyện, Đây là công việc phải tiến hành đồng bộ, thường
Trang 33xuyên bằng nhiều nội dung, hình thức, giải pháp khác nhau: nâng cao nhận thức
về mục tiêu, lý tưởng, lòng trung thành; rèn luyện bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, tình yêu thương con người, sống khiêm tốn giản dị, nói đi đôi với làm; bồi dưỡng trình độ trí tuệ và tác phong, phương pháp công tác của cán
bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ có chức, có quyền; gương mẫu trong công tác và lối sống Hồ Chí Minh yêu cầu: “Đảng phải nuôi dạy cán bộ, như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu”; phải thường xuyên đánh giá cán
bộ, không thành kiến với người có khuyết điểm, “không buông trôi, bỏ mặc”; phải có quan điểm toàn diện, “không nên chỉ xem xét ngoài mặt, chỉ xét một lúc, một việc mà phải xét kỹ toàn bộ công việc của cán bộ”; gắn công tác giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên với phong trào cách mạng của quần chúng
Hồ Chí Minh luôn đề cao tính tự giác, tự rèn luyện đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên Bởi lẽ, phẩm chất đạo đức là giá trị riêng có của từng người, không thể vay mượn, càng không phải chỉ là những lời nói cửa miệng Do vậy, tự phê bình có ý nghĩa đặc biệt tích cực trong việc rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên Là người giác ngộ cách mạng, đi giáo dục đạo đức cách mạng cho nhân dân, cán bộ, đảng viên phải tự mình thực hành trước
để làm gương Với Người, việc phát huy tính tự giác của cán bộ, đảng viên không chỉ là phương thức rèn luyện đạo đức cách mạng, mà còn là một trong những phương thức tổ chức phong trào cách mạng
Giáo dục đạo đức cách mạng theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là công việc rất cần thiết đối với người cán bộ nhất là với đội ngũ cán bộ mới Trong công tác giáo dục đạo đức cho đội ngũ cán bộ mới theo quan điểm của Người, không chỉ bồi dưỡng lý thuyết đạo đức suông mà phải hành động bằng những công việc cụ thể, thiết thực hằng ngày, qua đó, mỗi cán bộ sẽ tự tu dưỡng, rèn luyện bản thân Đây là điều kiện để người cán bộ hoàn thành tốt nhiệm vụ và thực hiện thành công mục tiêu và lý tưởng cách mạng Đặc biệt là việc giáo dục đạo đức người cán bộ cách mạng mới theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là nhiệm vụ cấp bách của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta Cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh hiện nay không chỉ dừng lại ở vấn đề nhận thức, mà phải được cụ thể thành những hành động, những việc làm thiết thực hằng ngày ở khắp mọi nơi, như Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã chỉ rõ: "Chủ tịch Hồ Chí Minh là người Việt Nam đẹp nhất, tiêu biểu cho phẩm chất đạo đức và khí phách của dân tộc ta, Đảng ta Giáo dục đạo
Trang 34đức, xây dựng lối sống tốt đẹp theo tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh vừa là yêu cầu cấp bách hiện nay, vừa là nhiệm vụ cơ bản, lâu dài" [99, tr.4]
1.1.1.3 Người cán bộ cách mạng
Đạo đức cách mạng là gốc của người cán bộ và “một người cán bộ tốt phải có đạo đức cách mạng…” [62, tr 476] Người cũng đã khẳng định: "Người cán bộ cách mạng phải có đạo đức cách mạng Phải giữ vững đạo đức cách mạng mới là người cán bộ cách mạng chân chính Mọi việc thành công hay là bại chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng hay là không" [60,
tr 252, 253]
Hồ Chí Minh đánh giá cao đạo đức truyền thống của dân tộc, coi đó là một sức mạnh tinh thần to lớn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc Từ khi cách mạng có Đảng lãnh đạo, Hồ Chí Minh cho rằng chỉ giác ngộ chính trị chưa đủ,
mà còn phải thấm nhuần, tu dưỡng đạo đức cách mạng Đây chính là nhân tố làm cho sức mạnh cách mạng tăng lên bội phần, góp phần vào chiến thắng kẻ thù ngoại xâm và nghèo nàn, lạc hậu Đã là cán bộ cách mạng thì phải có đạo đức cách mạng Giữ được đạo đức cách mạng mới là người cán bộ chân chính Bởi vì, mọi việc thành hay bại là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng hay không
Với tinh thần đó, đạo đức cách mạng là nguồn động lực giúp cán bộ vượt qua mọi khó khăn, cám dỗ, thử thách Hơn thế nữa, đạo đức cách mạng và chủ nghĩa xã hội là một cuộc đồng hành Một khi chưa trừ bỏ được chủ nghĩa cá nhân thì chưa thể nói tới thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, và chủ nghĩa xã hội chỉ
có thể khẳng định được mình với tư cách là một chế độ xã hội ưu việt khi cùng với sự phát triển của kinh tế, của lực lượng sản xuất, khoa học - công nghệ, là những tiến bộ của đời sống tinh thần và giá trị đạo đức, nhân văn phải trở thành nhu cầu sống cao đẹp của mỗi con người và toàn xã hội
Khi đề cập đến vấn đề đạo đức cách mạng, Hồ Chí Minh thường sử dụng các thuật ngữ “Đạo đức mới”, “đạo đức cách mạng” [60, tr.252]; “đạo đức
xã hội chủ nghĩa” [66, tr.224]; “đạo đức tập thể”, “đạo đức cộng sản” [65, tr.306, 679]; “đạo đức cách mạng của giai cấp vô sản”, “đạo đức vô sản” [66, tr.375]
Theo Hồ Chí Minh, gọi “đạo đức mới” bởi vì “đạo đức đó không phải
Trang 35là đạo đức thủ cựu” [60, tr.252], nó chưa hề xuất hiện trong lịch sử mà chỉ hình thành và phát triển cùng với tiến trình cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta Đạo đức mới khác hẳn với đạo đức cũ:
"Đạo đức cũ như người đầu ngược xuống đất, chân chổng lên trời Đạo đức mới như người hai chân đứng vững được dưới đất đầu ngẩng lên trời Bọn phong kiến ngày xưa nêu ra cần, kiệm, liêm, chính nhưng không bao giờ làm mà lại bắt nhân dân ta phải tuân theo để phục sự quyền lợi cho chúng Ngày nay ta đề
ra cần, kiệm, liêm, chính cho cán bộ thực hiện làm gương cho nhân dân noi theo
để lợi cho nước, cho dân" [61, tr.321]
Gọi là “đạo đức cách mạng” vì nó là đạo đức phục vụ cách mạng, đạo đức mà người cách mạng cần phải có Đó là đạo đức được nảy sinh và phát triển trong cuộc đấu tranh cách mạng đầy khó khăn, gian khổ và hy sinh của nhân dân ta Đạo đức cách mạng là “tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân” [64, tr.287]; “đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết” [67, tr.439]; “có tinh thần hy sinh cho cách mạng, có tinh thần trách nhiệm để vượt mọi khó khăn" [62, tr.233]; “trong mọi công tác, xung phong đi trước là để lôi kéo quần chúng chứ không phải xa rời quần chúng” [63, tr.261]; “bất kỳ ở cương vị nào, bất kỳ làm công việc gì đều không sợ khó,
sợ khổ, đều một lòng một dạ phục vụ lợi ích của giai cấp, của nhân dân, đều nhằm mục đích xây dựng chủ nghĩa xã hội” [65, tr.306] Đạo đức cách mạng là
“cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” [67, tr.534]; “khiêm tốn, cần cù, hăng hái, dũng cảm ” [63, tr.261]; “nói tóm tắt, thì đạo đức cách mạng là: Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng Đó là điều chủ chốt nhất” [64, tr.258] Đối với Hồ Chí Minh đạo đức cách mạng là “đạo đức mới, đạo đức
vĩ đại, nó không vì danh vị cá nhân, mà vị lợi ích của Đảng, của dân tộc, của loài người” [60, tr.252] Vì vậy, Người cho rằng: “ở bất kỳ cương vị nào, làm công việc gì đều phải trau dồi đạo đức cách mạng” [65, tr.5]; “có gì sung sướng,
vẻ vang hơn là trau dồi đạo đức cách mạng để góp phần xứng đáng vào công cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa và giải phóng loài người” [64, tr.293]
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “Chủ nghĩa cá nhân trái ngược với đạo đức cách mạng”, “cái gì trái với đạo đức cách mạng đều là chủ nghĩa cá nhân” [64, tr.283, 448] Hồ Chí Minh cho rằng, chủ nghĩa cá nhân là thứ “bệnh mẹ” đẻ
ra nhiều thứ “bệnh con” rất nguy hiểm như “tham ô”, “lãnh phí”, “ích kỷ”,
“lười biếng”, “kiêu ngạo”, “hiếu danh”, “công thần, địa vị”, “thiếu kỷ luật”, “óc
Trang 36hẹp hòi”, “óc địa phương”, “óc lãnh tụ” [64, tr.255 - 256] và các tệ nạn “quan liêu, làm việc qua chuyện”, “hách dịch”, “ham chuộng hình thức” [64, tr.509]
Vì vậy, “nó là thứ vi trùng rất độc” [64, tr.225]; “là một thứ rất gian xảo, xảo quyệt” bởi “nó khéo dỗ dành người ta đi xuống dốc Mà ai cũng biết rằng, xuống dốc dễ hơn lên dốc Vì thế mà càng nguy hiểm” [64, tr.292]
Người cán bộ cách mạng phải tích cực học tập
Để lao động đạt hiệu quả cao đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải có tinh thần học tập không ngừng Vì vậy, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh "mỗi cán bộ, đảng viên phải học lý luận, phải đem lý luận áp dụng vào công việc thực tế Phải chữa bệnh kém lý luận, khinh lý luận và lý luận suông" [60, tr.234-235], phải tự nguyện, tự giác, xem công tác học tập cũng là nhiệm vụ mà người cán
bộ cách mạng phải hoàn thành cho được, do đó mà tích cực chủ động hoàn thành kế hoạch học tập, nêu cao tinh thần chịu khó, cố gắng không lùi bước trước bất kỳ khó khăn nào trong việc học tập
Một thái độ học tập đúng là phải nêu cao tác phong học tập, suy nghĩ
và tự do tư tưởng Đọc tài liệu thì phải đào sâu, hiểu kỹ, không tin một cách mù quáng từng câu một trong sách, có vấn đề chưa thông suốt thì mạnh dạn đề ra
và thảo luận cho vỡ lẽ Đối với bất cứ vấn đề gì đều phải đặt câu hỏi "vì sao?", đều phải suy nghĩ kỹ càng xem nó có hợp với thực tế không, có thật là đúng lý không, tuyệt đối không nên nhắm mắt tuân theo sách vở một cách xuôi chiều
Từ quan niệm "cán bộ là cái gốc của mọi công việc", Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định "huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng" và “cần phải dậy bảo lý luận cho cán bộ Chỉ thực hành mà không có lý luận cũng như có một mắt sáng, một mắt mù” [60, tr.269, 276] Vì vậy, Đào tạo phải bao gồm "nuôi dạy", huấn luyện, bồi dưỡng cán bộ Đó là công việc mà Đảng phải bỏ nhiều công sức tiến hành "chu đáo, công phu" Đảng phải nuôi dạy cán bộ như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, huấn luyện, học tập không phải là một việc đơn giản, muốn làm được thì phải hiểu cho rõ Trước hết, phải xác định đúng mục đích huấn luyện, học tập; điều này phải được quán triệt ở cả chủ thể huấn luyện và đối tượng huấn luyện
Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn cán bộ đi học là để "làm việc, làm người, làm cán bộ" [60, tr.684] Tuy ba mục đích ấy là thống nhất, quan hệ chặt
Trang 37chẽ với nhau nhưng trong thực tế dễ bị đảo lộn thứ tự, nhận thức và hành động sai mục đích, nhất là đối với người học Do đó, đối với người học, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh học để sửa chữa tư tưởng, học để tu dưỡng đạo đức cách mạng, học để tin tưởng, học để hành Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: phải đào tạo một đội ngũ cán bộ “cán bộ cả gan nói, cả gan đề ra ý kiến”, “có gan phụ trách,
có gan làm việc” [60, tr.280, 281] Có thế Đảng mới thành công Nếu đào tạo một mớ cán bộ nhát gan, dễ bảo, không dám phụ trách, như thế là một việc thất bại của Đảng Đào tạo thế là phí công, phí của, vô ích Chủ tịch Hồ Chí Minh nghiêm khắc phê phán cách đào tạo hình thức, chạy theo số lượng mà không thiết thực, chu đáo, chất lượng kém
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: "Phải nâng cao và hướng dẫn việc
tự học" [61, tr.50] Người học phải biết tự giác học tập, xác định mục đích, động cơ học tập Học tập lý luận "theo nguyên tắc: kinh nghiệm và thực tế phải
đi cùng nhau" Cách học tập là: "lấy tự học làm cốt" Trong mục "học ở đâu", Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau và học nhân dân, không học nhân dân là một thiếu sót rất lớn" [61, tr.50]
Do đó, việc giáo dục đạo đức cách mạng theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là công việc rất cần thiết đối với người cán bộ nhất là với đội ngũ cán
bộ mới, cán bộ cốt cán trong hệ thống chính trị Đặc biệt là đội ngũ cán bộ là những người trực tiếp đem chủ trương chính sách Đảng, pháp luật của Nhà nước vào trong nhân dân Trong công tác giáo dục đạo đức cho đội ngũ cán bộ mới theo quan điểm của Người, không chỉ bồi dưỡng lý thuyết đạo đức suông
mà phải hành động bằng những công việc cụ thể, thiết thực hằng ngày, qua đó, mỗi cán bộ sẽ tự tu dưỡng, rèn luyện bản thân Đây là điều kiện để người cán bộ hoàn thành tốt nhiệm vụ và thực hiện thành công mục tiêu và lý tưởng cách mạng Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Đạo đức có ảnh hưởng lớn đến sự nghiệp đổi xã hội cũ thành xã hội mới và xây dựng mỹ tục thuần phong Đảng
ta từ trên đến dưới phải chú trọng việc giáo dục đạo đức cách mạng, tăng cường tinh thần cảnh giác, mở rộng tự phê bình và phê bình” [62, tr 568, 569]
Người cán bộ cách mạng phải có tác phong dân chủ
Trong những bài viết, bài nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh ta thấy rõ yêu cầu đối với cán bộ, đảng viên hực sự sâu sát quần chúng, thực sự hiểu và yêu quần chúng, phải nói, phải viết sao cho “sát quần chúng, hợp quần chúng” -
Trang 38nghĩa là "cách làm việc, cách tổ chức, nói chuyện, tuyên truyền, khẩu hiệu, viết báo, của chúng ta, đều phải lấy câu này làm khuôn phép: “Từ trong quần chúng ra Về sâu trong quần chúng” [50, tr.248] Bên cạnh đó, Người còn đề cập đến cách lãnh đạo, cách công tác, cách dân chủ, tác phong độc lập suy nghĩ
Khả năng tổ chức thực hiện đường lối của người cán bộ được quyết định bởi cách làm việc theo quan điểm quần chúng, chứ không phải làm việc theo cách quan liêu Đây là bài học lớn từ tấm gương của Lênin như Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã chỉ ra: "Với phương pháp khéo léo của mình, Lênin đã lay động được quần chúng nhân dân chưa giác ngộ và lạc hậu nhất trong các nước thuộc địa" [49, tr.137] Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, thực hành dân chủ là cái chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn Cán bộ, đảng viên phải xung phong gương mẫu, bàn bạc một cách dân chủ với mọi người, khuyên mọi người phát biểu ý kiến
Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu ý trong phong cách làm việc, phong cách công tác, phong cách lãnh đạo của cán bộ, phải chống bệnh hẹp hòi, nghĩa là phải tuyệt đối nhằm vào lợi ích của toàn quốc, lợi ích của toàn Đảng Nguyên nhân của bệnh có nhiều, nhưng chủ yếu là do ham danh vọng và địa vị, nên khi
ở cương vị phụ trách thì lôi người này, kéo người khác, ưa ai thì kéo vào, không
ưa thì đẩy ra Hậu quả của bệnh hẹp hòi là gây chia rẽ, mất đoàn kết giữa cán bộ cấp trên phái đến và cán bộ địa phương, cán bộ cũ và cán bộ mới, giữa bộ phận
và toàn cục, cán bộ cơ quan này và cán bộ cơ quan khác, địa phương này và địa phương khác… Cán bộ mắc bệnh hẹp hòi đẻ ra nhiều thứ bệnh khác như không biết dùng nhân tài, việc gì cũng ôm hết Ôm lấy hết thì cố nhiên làm không nổi Thậm chí dìm người giỏi
Người cán bộ cách mạng phải có phong cách nói đi đôi với làm
Nói đi đôi với làm là một truyền thống, một chuẩn mực hành vi đạo đức của dân tộc Việt Nam Nó xa lạ với lối nói suông, nói nhiều làm ít, thậm chí nói một đường, làm một nẻo Nói đi đôi với làm cũng là một nét đẹp truyền thống đạo đức phương Đông như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra "Người phương Đông giàu tình cảm, đối với họ một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền" [56, tr.263] Đặc biệt, chủ nghĩa Mác - Lênin với một nguyên tắc cơ bản là lý luận gắn liền với thực tiễn đã tạo ra một bước chuyển biến về chất trong nhận thức và hành động của Chủ tịch Hồ Chí
Trang 39Minh Người dạy: muốn đánh giá đúng con người không phải chỉ căn cứ vào người đó nói và viết như thế nào, mà quan trọng là phải xem người đó làm như thế nào Người yêu cầu cán bộ phải thống nhất giữa nói và làm, tư tưởng phải chuyển hóa thành hành động cụ thể, hoàn thành nhiệm vụ, thực hiện lý tưởng cao cả của Đảng và dân tộc
Kiểm tra là công đoạn cuối cùng của quá trình nói và làm Chính sách đúng là nguồn gốc của thắng lợi Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, "khi đã có chính sách đúng, thì sự thành công hoặc thất bại của chính sách đó là do cách thức tổ chức công việc, lựa chọn cán bộ và do kiểm tra Nếu ba việc đó không được thực hiện tốt, thì chính sách đúng mấy cũng vô ích" [69, tr.520] Đó là tư tưởng
cơ bản, nhất quán, chỉ đạo quá trình xây dựng, rèn luyện đội ngũ cán bộ của Đảng trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh
1.1.2 Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng
1.1.2.1 Truyền thống đạo đức dân tộc Việt Nam
Truyền thống đạo đức của dân tộc được hình thành và phát triển trên
cơ sở của chủ nghĩa yêu nước Nhiều giá trị đạo đức từ đó được tích luỹ như: đạo lý yêu quê hương đất nước, yêu thương, quý trọng con người; đồng cam cộng khổ cứu giúp lẫn nhau; cần cù trong lao động sản xuất, dũng cảm hy sinh trong đánh giặc cứu nước sống có thuỷ chung, có tình có nghĩa; uống nước nhớ nguồn; đói cho sạch rách cho thơm rất lạc quan yêu đời nhưng cũng rất căm ghét cái ác, căm thù bọn cướp nước hiếu thảo với cha mẹ; trọng tình nghĩa vợ chồng, anh em, tiết kiệm và dung dị trong đời sống Tất cả những giá trị đạo đức ấy đã đi vào tâm hồn Hồ Chí Minh ngay từ khi còn nằm trong nôi ngày càng nồng đượm trở thành khát vọng thôi thúc Người ra đi tìm đường cứu nước
1.1.2.2 Tinh hoa đạo đức nhân loại
Trước khi đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh tiếp thu, vận dụng nhiều tinh hoa đạo đức như: Nho giáo, Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Mặc gia Người nhận thấy: “Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm của nó là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân Tôn giáo Giê su có ưu điểm của nó là lòng nhân ái cao
cả Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp biện chứng Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm của nó, chính sách của nó thích hợp với điều kiện nước ta” Khổng Tử, Giê su, Mác, Tôn Dật Tiên đều mưu cầu hạnh phúc cho loài người,
Trang 40mưu phúc lợi cho xã hội Do đó, Người nói: “Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy” [140, tr.152] Thế nhưng Người vẫn phê phán và loại bỏ lập trường phong kiến của Khổng Tử trên các mặt: tôn thờ chế độ phong kiến, phân biệt đẳng cấp; trọng nam khinh nữ; phân biệt nghề nghiệp Hồ Chí Minh còn
kế thừa mặt tiến bộ trong tư tưởng tam dân của Tôn Dật Tiên và tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái của cách mạng dân chủ tư sản để xây dựng nền đạo đức mới
ở nước ta
1.1.2.3 Đạo đức cộng sản chủ nghĩa trong học thuyết Mác-Lênin và phong trào cộng sản quốc tế
Đạo đức mà Hồ Chí Minh kế thừa, vận dụng nhiều nhất và có giá trị
lý luận, phương pháp luận để Người kế thừa các giá trị đạo đức khác, xây dựng đạo đức mới là đạo đức học Mác - Lênin, đạo đức của giai cấp vô sản
Nội dung cơ bản của đạo đức học Mác-lênin là các phạm trù và các tiêu chuẩn đạo đức được hình thành trên nền tảng của cách mạng vô sản, của chủ nghĩa tập thể vô sản, lấy việc giải phóng triệt để giai cấp, dân tộc, con người làm mục đích tối cao; coi hạnh phúc không phải chỉ là thoả mãn nhu cầu của cá nhân mà cái chính là phục vụ cho tất cả mọi người theo tinh thần “mình
vì mọi người, mọi người vì mình” Đây chính là điểm khác nhau căn bản, sự tiến bộ về chất của đạo đức vô sản so với đạo đức cũ Hồ Chí Minh đã nhận rõ điều đó và vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của nước ta để xây dựng nền đạo đức mới - đạo đức cách mạng ở nước ta
1.1.2.4 Thực tiễn hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh
Sự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức không mệt mỏi của Hồ Chí Minh Cả cuộc đời Người là một tấm gương vĩ đại về tu dưỡng, rèn luyện đạo đức Quá trình rèn luyện, tu dưỡng đạo đức của Hồ Chí Minh đã nâng Người lên thành bậc đại nhân, đại trí, đại nghĩa, đại dũng, đại liêm của thế kỷ XX, khiến kẻ thù cũng phải kính phục, bị cảm hóa và nhân loại tin tưởng noi theo
Hồ Chí Minh không chỉ thương yêu con người và dân tộc Việt Nam,
mà còn thương yêu thương yêu nhân loại Người không chỉ muốn cứu nước Việt Nam mà còn muốn cứu giúp các dân tộc khác Chính quyền Pháp nhiều lần
dụ dỗ, đe doạ, tử hình vắng mặt, nhưng Hồ Chí Minh không sợ hãi mà càng tăng thêm quyết tâm hoạt động cách mạng Sau này Người tâm sự: “Cả đời tôi