1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Dạy học module máy điện theo định hướng sáng tạo kỹ thuật tại trường cao đẳng nghề kỹ thuật công nghệ thành phố hồ chí minh

100 202 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 1,81 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm địnhcác giáo án được biên soạn theo định hướng sáng tạo kỹ thuật cho người học để minh chứng cho giả thuyết kh

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

-  -

HOÀNG THỊ THÚY

DẠY HỌC MODULE MÁY ĐIỆN THEO ĐỊNH HƯỚNG

SÁNG TẠO KỸ THUẬT TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG

KỸ NGHỆ II

Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Kỹ thuật

công nghiệp

Mã số: 60140111

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS ĐẶNG VĂN NGHĨA

HÀ NỘI – 2017

Trang 3

Lời cảm ơn

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn các thầy cô trong phòng sau

đa ̣i ho ̣c chuyên ngành lý luâ ̣n và phương pháp da ̣y ho ̣c bô ̣ môn

kỹ thuâ ̣t công nghiê ̣p Trường Đa ̣i Ho ̣c Sư Pha ̣m Hà Nô ̣i đã quan tâm giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong thời gian học tập

và thực hiện đề tài

Đặc biệt, tôi xin trân trọng cảm ơn thầy PGS TS Đă ̣ng Văn Nghĩa - người đã trực tiếp khuyến khích, hướng dẫn tôi thực hiện hoàn thành đề tài bằng tất cả sự tận tình và trách nhiệm

Xin cảm ơn sâu sắc Ban giám hiệu, tập thể giáo viên và học sinh Trường cao đẳng Kỹ Nghê ̣ II đã hỗ trợ tôi trong quá trình thực nghiệm sư phạm theo đúng kế hoạch

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 5 năm 2017

Tác giả luận văn

HOÀNG THI ̣ THÚY

Trang 4

MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ

DANH MỤC CÁC HÌNH

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC

DẠY HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG SÁNG TẠO KỸ THUẬT

5

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về dạy học theo định hướng sáng tạo kỹ thuật

5

1.1.1 Trên thế giới

1.1.2 Ở Việt Nam

1.2 Một số khái niệm cơ bản ……….…… 9

1.2.1 Sáng tạo……….… 9

1.2.1.1 Khái niệm về sáng tạo……… 9

1.2.1.2 Cấu trúc tâm lí của sự sáng tạo……… 13

1.2.1.3 Các cấp độ của sự sáng tạo ……… 13

1.2.1.4 Tư duy sáng tạo……… 13

1.2.2 Sáng tạo kỹ thuật ……… 16

1.3 Dạy học theo định hướng sáng tạo kỹ thuật ……… … 16

1.3.1 Bản chất của quá trình dạy học……… … 16

1.3.1.1 Bản chất của hoạt động học……… 16

1.3.1.2 Bản chất của hoạt động dạy ……… 23

1.3.1.3 Sự tương tác trong hệ dạy - học … 23 1.3.1.4 Bản chất của hoạt động dạy học ở đại học ……….… 24

Trang 5

1.3.2 Đặc điểm dạy học theo định hướng sáng tạo kỹ thuật ………… 25

1.3.2 Đặc điểm dạy học theo định hướng sáng tạo kỹ thuật ………… 27

1.3.3 Tiến trình dạy học theo định hướng sáng tạo kỹ thuật ……… 27

1.3.3.1 Nguyên tắc vận dụng……… 28

1.3.3.2 Qui trình thiết kế bài dạy theo định hướng sáng tạo kỹ thuật… 31

1.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới dạy học theo định hướng sáng tạo kỹ thuật 31 1.3.4.1 Những yếu tố thuộc về chủ quan học sinh:……… 31

1.3.4.2 Những yếu tố thuộc về khách quan:……… 33

1.4 Thực trạng tình hình dạy học module Máy điện ở trường Cao đẳng Kỹ nghệ II 34 1.4.1 Sơ lược về quá trình dạy học module Máy điện ……… 34

1.4.2 Thực trạng dạy học module Máy điện theo định hướng sáng tạo kỹ thuật 35 Kết luận chương 1……… 37

CHƯƠNG 2: DẠY HỌC MODULE MÁY ĐIỆN THEO ĐI ̣NH HƯỚNG SÁNG TẠO KỸ THUẬT 38 2.1 Khái quát về module Máy điện trong chương trình đào tạo nghề điện công nghiệp, trình độ cao đẳng nghề 38 2.1.1 Mục tiêu và chuẩn kĩ năng nghề của module……… 38

2.1.2 Vai trò, vị trí của module……… 38

2.1.3 Nội dung chương trình của module……… 38

2.1.4 Đặc điểm của module……… 40

2.1.4.1 Tính lôgic của module……… 40

2.1.4.2 Tính cụ thể của môn học……… 41

2.1.4.3 Tính trừu tượng của module ……… 41

2.1.4.4 Tính tổng hợp của module……… 42

Trang 6

2.1.4.5 Tính thực tiễn của module……… 42

2.1.5 Điều kiện thực hiện dạy học module……… 42

2.2 Một số biện pháp dạy học module Máy điện theo định hướng sáng tạo kỹ thuật 43 2.2.1 Nguyên tắc dạy học module theo định hướng sáng tạo kỹ thuật 44 2.2.2 Vận dụng phương pháp “ tập kích não”……… 44

2.2.3 Vận dụng phương pháp “tương tự hoá”……….…… 46

2.2.4 Vận dụng phương pháp “mô hình hoá”……… 46

2.2.5 Phân tích các bước thiết kế bài dạy lí thuyết……… 46

2.2.6 Quy trình vận dụng một số PPLST trong thiết kế bài dạy máy điện 48 2.2.6.1 Quy trình thiết kế bài dạy có vận dụng PPLST 48 2.2.6.2 Nội dung các bước……… 49

2.3 MỘT SỐ VÍ DỤ MINH HỌA 52

Kết luận chương 2……… 74

CHƯƠNG 3: KIỂM NGHIỆM SƯ PHẠM……… 76

3.1 Mục đích, nhiệm vụ kiểm nghiệm……… 76

3.1.1 Mục đích kiểm nghiệm……… 76

3.1.2 Nhiệm vụ kiểm nghiệm……… 76

3.2 Đối tượng và quá trình kiểm nghiệm……… 77

3.2.1 Đối tượng kiểm nghiệm……… 77

3.2.2 Chuẩn bị kiểm nghiệm……… 77

3.2.3 Triển khai nội dung kiểm nghiệm……… 77

3.2.4 Đánh giá kết quả kiểm nghiệm……… 77

Kết luận chương 3……… 86

Trang 7

DANH MU ̣C CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Bảng phân chia nội dung theo từng PPLST……… 50 Bảng 3.1 Bảng phân phối xác suất (số SV F i đạt điểm X i )……… 79 Bảng 3.2: Bảng tần suất f i (%) (số % SV F i đạt điểm X i )……… 79 Bảng 3.3: Bảng tần suất hội tụ tiến f a (%)(% số SV F i đạt điểm X i )…… 80 Bảng 3.4: Phương sai, độ lệch chuẩn, hệ số biến thiên cho lớp đối

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1: Quá trình sáng tạo……… 15

Hình 1.2 Quy trình thiết kế bài dạy có vận dụng PPLST KHKT……… 29

Hình 2.1: Quy trình thiết kế bài dạy lí thuyết……… 47

Hình 2.2: Quy trình thiết kế bài dạy máy điện có vận dụng PPLST…… 49

Hình 2.3: Mô hình máy biến thế……… 57

Hình 2.4: Các dạng máy biến thế……… 59

Hình 2.5 Nguyên lý hoa ̣t đô ̣ng của MBT……… 59

Hình 2.6 Ký hiê ̣u cuô ̣n dây trong MBT……… 59

Hình 2.7 Sơ đồ từ thông cha ̣y trong lõi thép……… 60

Hình 2.8 Các mức biến đổi hiệu điện thế……… 63

Hình 2.9 Bộ thí nghiệm tạo từ trường quay……… 67

Hình 2.10 Từ trường quay của đô ̣ng cơ……… 69

Hình 2.11 Hướng của véc tơ cảm ứng từ tổng ……… 71

Hình 2.12 Cấu tạo đô ̣ng cơ KĐB 3 pha……… 72

Hình 2.13 Vị trí các cuô ̣n dây quấn trên stato……… 72

Hình 2.14 Sơ đồ cấu tạo đô ̣ng cơ KĐB 1 pha……… 73

Hình 3.1: Đường tần suất của các lớp thực nghiệm và đối chứng…… 84

Hình 3.2: Đường tần suất hội tụ tiến của các lớp thực nghiệm và đối chứng………

84

Trang 10

MỞ ĐẦU

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Đất nước ta đang trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, việc đào tạo đội ngũ nhân lực có chất lượng cao đang trở thành một vấn đề cấp bách Nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo trong bối cảnh thị trường cạnh tranh và hội nhập quốc tế, đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội đã trở thành một vấn

đề cấp thiết

Bước sang cơ chế thị trường, định hướng đào tạo hướng cung đã không còn phù hợp tình hình thực tế Ngày nay, với quy luật cung - cầu của thị trường lao động, đào tạo phải hướng tới đáp ứng tối đa được nhu cầu lao động kỹ thuật của khách hàng về chất lượng, số lượng cũng như cơ cấu ngành nghề và trình

độ, do vậy để tồn tại và phát triển, các trường dạy nghề phải chuyển sang đào

tạo theo "hướng nhu cầu"

Nghị quyết Hội nghị trung ương VIII của Đảng ta nêu rõ “Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học Học đi đôi với hành lý luận gắn với thực tiễn

giáo dục nhà trường kết hơ ̣p với giáo dục gia đình và giáo du ̣c xã hội.”

Trường Cao đẳng Kỹ nghệ II có đặc thù là trường đào tạo nghề nên nhà trường đã đầu tư mua sắm thiết bị phục vụ quá trình giảng dạy, các thiết bị dạy học hiện đại, khuyến khích ứng dụng CNTT và các phương pháp dạy học mới nhằm nâng cao chất lượng dạy học Trong chương trình đào tạo nghề Điện Công Nghiệp, có nhiều môn học, module có nội dung phức tạp, có tính trừu tượng hoá cao và cần cập nhật nhiều kiến thức công nghệ mới Mục tiêu của chương trình đào tạo là người học sau khi tốt nghiệp phải có đủ năng lực và phẩm chất đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động Một trong những giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo là triển khai đào tạo theo module và theo định

Trang 11

hướng sáng tạo kỹ thuật y nhiên, đối với đào tạo nghề Điện Công Nghiệp, việc thực hiện giải pháp này vẫn gặp nhiều khó khăn và hiệu quả chưa được như

mong muốn Với những lý do trên, tôi đã chọn đề tài “Dạy học module Máy điện theo định hướng sáng tạo kỹ thuật tại trường Cao đẳng Kỹ nghệ II” làm

đề tài luận văn Thạc sĩ của mình

II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu đề xuất biện pháp dạy học module Máy điện theo định hướng

sáng tạo kỹ thuật cho sinh viên nhằm nâng cao chất lượng đào tạo

III KHÁCH THỂ, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

3.1 Khách thể nghiên cứu

Quá trình đào tạo nghề tại trường Cao đẳng Kỹ nghệ II

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Lý luận dạy học theo định hướng sáng tạo kỹ thuật của sinh viên; quá

trình dạy học module Máy điện

3.3 Phạm vi nghiên cứu

Dạy học module Máy điện theo định hướng sáng tạo kỹ thuật tại trường Cao

đẳng Kỹ nghệ II

IV GIẢ THUYẾT KHOA HỌC

Nếu xây dựng bài giảng và thực hiện dạy học module Máy điện trình độ cao đẳng nghề tại trường Cao đẳng Kỹ nghệ II theo định hướng sáng tạo kỹ

thuật của người học thì sẽ nâng cao được chất lượng dạy học

V NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài đặt ra một số nhiệm vụ nghiên

cứu cụ thể như sau:

- Tổng quan cơ sở lý luận về dạy học theo định hướng sáng tạo kỹ

thuật của người học

Trang 12

- Vận dụng lý luận dạy theo định hướng sáng tạo kỹ thuật của người học

để biên soạn bài giảng của module Máy điện trình độ cao đẳng nghề tại trường

Cao đẳng Kỹ nghệ II

- Thực nghiệm sư phạm để minh chứng cho giả thuyết khoa học và tính khả thi của việc dạy học module Máy điện trình độ cao đẳng nghề theo định

hướng sáng tạo kỹ thuật cho sinh viên

VI PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, tác giả đã sử dụng

các nhóm phương pháp nghiên cứu sau đây:

- Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận:

Phân tích, tổng hợp, khái quát hóa các tài liệu có liên quan đến đề tài để

xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu

- Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm địnhcác giáo án được biên soạn theo định hướng sáng tạo kỹ thuật cho người học để minh chứng cho giả thuyết khoa học

được đề ra và tính khả thi của việc thực hiện dạy học module Máy điện

Sử dụng phương pháp khảo sát bằng phiếu hỏi để đánh giá thực trạng về dạy học module Máy điện và khả năng vận dụng dạy học theo định hướng sáng tạo kỹ thuật cho người học tại trường Cao đẳng Kỹ nghệ II

Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý các số liệu khảo sát

thực nghiệm

VII CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của

luận văn được cấu trúc thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của dạy học theo định hướng sáng tạo kỹ thuật

Chương 2: Dạy học module Máy điện theo định hướng sáng tạo kỹ thuật

Trang 13

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 14

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC THEO

ĐỊNH HƯỚNG SÁNG TẠO KỸ THUẬT

“Mục đích giáo dục không phải thông tin về những giá trị của quá khứ

mà là sáng tạo những giá trị mới của tương lai”

Hiện nay, vấn đề nghiên cứu về khả năng sáng tạo của con người đang ngày càng được quan tâm và mở rộng trên nhiều lĩnh vực Vì vậy mà sáng tạo được nghiên cứu bởi rất nhiều các ngành khoa học kỹ thuật khác nhau

Tuy nhiên, không phải đến bây giờ chúng ta mới nói đến sáng tạo Từ xa xưa, người ta nói đến sáng tạo với những tên tuổi tài năng, các thiên tài trong các lĩnh vực khoa học kỹ thuật, nghệ thuật…Chính vì vậy, họ chỉ tập trung vào

mô tả, giải thích chứ chưa đi sâu vào nghiên cứu bản chất và quy luật của hoạt động sáng tạo Cũng từ quan điểm đó mà trước đây nguồn lực duy nhất đề

Trang 15

nghiên cứu vấn đề sáng tạo là hồi kí, các tác phẩm nghệ thuật mang tính tự thuật, các phát minh, sáng chế…Quan điểm này đã làm hẹp phạm vi nghiên cứu của các nhà khoa học, điều này đã làm hạn chế khả năng thu thập tài liệu nghiên cứu nếu như chỉ mô tả (tự thuật) bởi vì chúng ta biết rằng không phải chỉ có người tài năng mới có hoạt động sáng tạo mà mỗi cá nhân con người cũng như người học trong các cấp bậc học đều tiềm ẩn một khả năng sáng tạo nhất định

Vào thế kỷ thứ 3, ở thành phố Alexandria thuộc Hy Lạp cổ, nhà toán học Pappos đã đặt nền móng khởi đầu cho khoa học nghiên cứu về tư duy sáng tạo

đề xây dựng các phương pháp, quy tắc làm sáng chế và phát minh trong mọi lĩnh vực Ông đặt tên cho khoa học này là Heuristics (lấy gốc là từ Eureka – Tìm ra rồi) Căn cứ vào đối tượng nghiên cứu và mục đích của nó, Heuristics

có thể dịch sang tiếng Việt là khoa học sáng tạo Sau Pappos, mặc dù có nhiều nhà khoa học như Leibnitz, Bolzano… Đã cố gắng xây dựng và phát triển tiếp Heuristics, nhưng trên thực tế ít người biết đến nó và nó dần đi vào quên lãng Sau cuộc chiến trang thế giới lần thứ 2 nhu cầu xã hội bắt đầu trên con đường phát triển tốc độ phát triển của xã hội và sự cạnh tranh ngày càng tăng nhờ vậy, khoa học sáng tạo chuyển sang thời kỳ mới phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu Như vậy, Heuristics là một khoa học nghiên cứu về phương pháp và quy tắc sáng chế, phát minh trong tất cả các lĩnh vực khoa học

Bên cạnh đó các nhà xã hội học cũng có những đóng góp to lớn trong việc giải quyết các vấn đề sáng tạo Họ cho rằng bản chất của hoạt động sáng tạo là trí tưởng tượng, đây được coi là cơ sở của bất cứ hoạt động sáng tạo nào

Vào nửa cuối thế kỷ XIX, các nghiên cứu về tâm lí học sáng tạo khoa học kĩ thuật bắt đầu xuất hiện Đến thế kỷ XX, bắt đầu nghiên cứu hoạt động

sáng tạo của sự phát triển trí tuệ và thời kỳ này nước Mỹ là cường quốc về sáng tạo, đi đầu trong việc nhiên cứu về sáng tạo khoa học kỹ thuật

Trang 16

Năm 1920, Lewis Terman tiến hành nghiên cứu sáng tạo đối với những học sinh có chỉ số thông minh trên 140 Dựa trên công trình nghiên cứu của mình, ông đã đưa ra kết luận về vấn đề nghiên cứu sáng tạo, phương pháp nghiên cứu sáng tạo Năm 1934, cuốn sách đầu tiên về sáng tạo được xuất bản

ở Mỹ là cuốn sách của Alex Osborn Ông là một nhà kinh doanh nhưng lại quan tâm đến lí luận về vấn đề sáng tạo, đặc biệt là tư duy sáng tạo Trong lời nói đầu của cuốn sách, ông viết ông đã dành khá nhiều thời gian và không ít tiền bạc để hỗ trợ xu hướng sáng tạo trong giáo dục Thành công của ông là trong lĩnh vực kinh doanh, chính là nhờ ông phát minh ra phương pháp tạo cho mình

nhiều ý tưởng đó là phương pháp “tập kích não”

Đến những năm 60, 70 của thế kỷ XX được đánh giá là thời kì hoàng kim của việc nghiên của về sáng tạo trong tất cả các lĩnh vực như khoa học kĩ thuật, nghệ thuật,….Lúc này sáng tạo được quan tâm trở lại một cách có hệ thống Người có công lớn là J.P.Guilford, ông đã gợi mở các vấn đề có ý nghĩa quan trọng định hướng cho hoạt động sáng tạo nhất là sáng tạo trong khoa học

kĩ thuật Ông cũng khẳng định rằng: sáng tạo là một thành phần của trí tuệ con người, nó có vai trò quan trọng hơn trí thông minh đối với sự thành bại của con người Có rất nhiều công trình nghiên cứu về sự sáng tạo mục đích nhằm phát triển năng lực và kích thích khả năng sáng tạo của con người

Ở các nước XHCN, vấn đề sáng tạo cũng được quan tâm nhưng muộn hơn trong hai thập niên năm 60, 70 của thế kỷ XX Trong đó ở Liên Xô cũ có nhiều tác giả nghiên cứu và có những công trình khoa học nghiên cứu về vấn

đề sáng tạo Tác giả Genric Altshuller là một trong những người đi tiên phong

vĩ đại trong lĩnh vực khoa học sáng tạo đầy mới mẻ, hấp dẫn này Ông đã viết hàng chục quyển sách và khoảng 400 bài báo về các vấn đề liên quan đến khoa học sáng tạo, ông đã tìm ra được nguyên tắc giải bài toán sáng chế - TRIZ Tác giả V.N.Puskin nghiên cứu những vấn đề lí luận và thực tiễn của tư duy sáng

Trang 17

tạo và hoạt động vô thức Ngoài ra có hai tác giả tiêu biểu là X.L.Rubinstein và L.X.Vưgôtxki đã nhấn mạnh sự ảnh hưởng qua lại của tư duy và tưởng tượng trong hoạt động sáng tạo và khẳng định tưởng tượng có vai trò rất lớn đối với hoạt động sáng tạo và là một thành phần không thể thiếu của tư duy sáng tạo

1.1.2 Ở Việt Nam

Ở nước ta, những hoạt động liên quan đến khoa học về tư duy sáng tạo mới thực sự bắt đầu vào cuối thập niên 70 của thế kỷ XX, những hoạt động này còn mang tính tự phát dựa trên sự nhiệt tình và sáng kiến của một số cá nhân, đoàn thể và cơ quan, chưa có tổ chức thống nhất, như đối với những môn khoa học khác du nhập vào nước ta từ lâu Đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, GS VS Nguyễn Cảnh Toàn đã dạy sinh viên toán sáng tạo qua hướng dẫn nghiên cứu khoa học và ông viết rất nhiều bài báo về dạy và học sáng tạo GS TS Nguyễn Văn Lê đã viết tác phẩm “Cơ sở khoa học của sự sáng tạo” (NXB Giáo dục -1988) Cuốn sách đầu tiên ở nước ta viết về sáng tạo được độc giả rất hoan nghênh

Gần đây, trong khuôn khổ các chương trình khoa học công nghệ cấp nhà nước và trong đề tài nghiên cứu khoa học của Bộ Giáo Dục và Đào tạo, viện khoa học giáo dục là cơ quan khoa học đầu tiên quan tâm đến vấn đề nghiên cứu sự sáng tạo của học sinh Các nghiên cứu này chủ yếu nghiên cứu về bản chất, cấu trúc tâm lí sáng tạo…Từ đó tìm ra con đường giáo dục phát huy tính sáng tạo, học và dạy cho học sinh cách tư duy sáng tạo Bên cạnh đó đã có một

số luận văn thạc sĩ giáo dục, tiến sĩ nghiên cứu về lĩnh vực phát huy tính chủ động, sáng tạo của học sinh

Hiện nay, TSKH Phan Dũng đã thành lập trung tâm sáng tạo khoa học

- kĩ thuật (TSK) thuộc Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh Trung tâm này đã

xây dựng chương trình, biên soạn nhiều tài liệu một cách bài bản và tổ chức nhiều khoá học sơ cấp về phương pháp luận sáng tạo khoa học - kĩ thuật Các

Trang 18

kiến thức về “Phương pháp luận sáng tạo khoa học kĩ thuật” nhằm mục đích

trang bị cho người học hệ thống các phương pháp và các kĩ năng suy nghĩ (tư duy sáng tạo) tiên tiến đang được dạy trong nhiều trường học, công ty trên thế giới nhằm phát triển nguồn nhân lực sáng tạo có ý nghĩa thực tiễn cho xã hội

Ở nước ta, những công trình nghiên cứu về sáng tạo còn chưa nhiều Còn

vấn đề nghiên cứu và áp dụng phương pháp luận sáng tạo khoa học kĩ thuật

đã được nhiều tổ chức và cá nhân quan tâm bởi những tri thức hết sức mới mẻ

có tính thực tiễn cao Tuy nhiên, việc áp dụng cụ thể PPLST KHKT vào dạy học các môn học vẫn chưa được áp dụng

Ở trường Đại học Sư phạm Hà Nội PGS.TS Nguyễn Văn Khôi có đề tài

nghiên cứu khoa học cấp bộ nghiên cứu về vấn đề sáng tạo đó là “Vận dụng một số phương pháp sáng tạo công nghệ trong dạy học kĩ thuật”, đã vận dụng

một số phương pháp sáng tạo công nghệ trong dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn PPDH KTCN

Tuy nhiên, việc vận dụng dạy học theo định hướng sáng tạo kỹ thuật vào dạy học môn học cụ thể như module Máy điện thì chưa có ai nghiên cứu đến

Vì vậy, việc vận dụng học theo định hướng sáng tạo kỹ thuật trong dạy học module Máy điện là một vấn đề mà tác giả rất quan tâm và tiến hành nghiên cứu trong đề tài này

1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN

1.2.1 Sáng tạo

1.2.1.1 Khái niệm về sáng tạo

Chúng ta có thể xem xét khái niệm sáng tạo dưới nhiều góc độ khác nhau:

Ở góc độ ngôn ngữ học, sáng tạo là làm ra cái gì đó chưa hề có Khái niệm này tương đối gần gũi và được coi là cách hiểu cụ thể nhất về sáng tạo

Trang 19

Ở góc độ xã hội học, sáng tạo được hiểu là thành phần, kiểu, chất lượng đặc biệt của hoạt động cá nhân và nhóm xã hội, định hướng vào sự nhận thức những hiện tượng, những quan hệ và những quy luật mới cũng như sự tạo ra thế giới vật chất và thế giới tinh thần mới, hoàn thiện, theo hướng tiến bộ xã hội

Ở góc độ triết học thì: “Sáng tạo là quá trình hoạt động của con người tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần mới về vật chất Các loại hình sáng tạo được xác định bởi đặc trưng nghề nghiệp như khoa học, kĩ thuật, văn học nghệ thuật, quân sự…Có thể nói rằng, sáng tạo có mặt trong mọi lĩnh vực của thế giới vật chất và tinh thần”

Ở góc độ tâm lí, sáng tạo cũng được xem dưới nhiều góc độ khác nhau:

* Dưới góc độ quá trình: Theo tác giả E.P.Torrance (1962) “Sáng tạo được hiểu là một quá trình tạo ra ý tưởng hoặc giả thiết, thử nghiệm ý tưởng này đến kết quả…kết quả này có ít nhiều mới mẻ, có chút ít cái gì đó trước đây con người chưa bao giờ nhìn thấy, chưa có ý thức về nó” Bên cạnh đó tác giả M.Willson cũng định nghĩa “Sáng tạo là quá trình mà kết quả là tạo ra những kết hợp mới cần thiết từ các ý tưởng, các dạng năng lượng, các đơn vị thông tin, các khách thể hay tập hợp những yếu tố khác nhau” Như vậy ở góc độ này, sáng tạo là một quá trình (có mở đầu, diễn biến, kết thúc) và sản phẩm tạo ra mang tính mới mẻ và độc đáo Bản chất của quá trình sáng tạo là quá trình con người xây dựng, kiểm nghiệm giả thuyết để cho ra sản phẩm

* Dưới góc độ sản phẩm: Theo tác giả Ghiselin “Sản phẩm sáng tạo là cấu dạng mới nhất của thế giới kinh nghiệm, được tạo nên bằng sự cấu trúc lại những kinh nghiệm đã có trước đó, thể hiện rõ nhất sự nhận thức của chủ thể sáng tạo về thế giới và bản thân cũng như quan hệ giữa anh ta với thế giới ấy”

Một trong những tiêu chí để đánh giá một cá nhân sáng tạo là thông qua sản phẩm của hoạt động cá nhân Sản phẩm được gọi là sáng tạo khi nó mới, độc đáo và có giá trị Người ta coi đó là tiêu chí để phân biệt giữa sản phẩm

Trang 20

sáng tạo hay không sáng tạo Hạn chế của tác giả này là chỉ bàn đến sản phẩm sáng tạo ở dạng vật chất Khắc phục hạn chế đó, tác giả Guilforld đã khẳng định: sản phẩm sáng tạo bao gồm sản phẩm sáng tạo cụ thể có thể cảm nhận được và sản phẩm sáng tạo tồn tại dưới dạng sản phẩm của tư duy - ý tưởng

Như vậy, nếu sản phẩm được tạo ra là mới, độc đáo và có giá trị thì được gọi đó là sản phẩm sáng tạo Điều này chứng minh rằng: sáng tạo không chỉ có

ở những thiên tài, nhà bác học, mà nó thuộc về tất cả mọi người, kể cả những người bình thường nhất Luận điểm này phù hợp với quan điểm của L.X.Vưgôtxki mà chúng tôi đã đề cập đến ở trên

* Dưới góc độ nhân cách: Trong những người theo trường phái này có thể kể đến là nhà tâm lí người Đức Pippig Theo ông: “Tính sáng tạo là thuộc tính nhân cách đặc biệt, thể hiện khi con người đứng trước hoàn cảnh có vấn

đề Thuộc tính nhân cách này là tổ hợp các phẩm chất tâm lí, mà nhờ đó con người trên cơ sở kinh nghiệm của mình, bằng tư duy độc lập tạo ra được những

ý tưởng mới, độc đáo, hợp lí trên bình diện của cá nhân hay của xã hội Ở đó người sáng tạo gạt bỏ được các giải pháp mới, độc đáo, thích hợp với vấn đề đặt ra” Như vậy, để có sản phẩm sáng tạo cần có sự tổng hợp các thuộc tính tâm lí của nhân cách bao gồm các sản phẩm và năng lực Nhờ đó những phẩm chất và năng lực đó là các giải pháp mới, có lợi để giải quyết những vấn đề được xuất hiện, giúp cá nhân tạo ra sản phẩm sáng tạo

Theo tác giả K.K.Urban “Tính sáng tạo của con người là thuộc tính nhân cách bộc lộ trong sản phẩm hoạt động mới mẻ, độc đáo, gây ngạc nhiên cho bản thân

và cũng mới mẻ, gây ngạc nhiên cho người khác”

Như vậy, mỗi cách tiếp cận vấn đề sáng tạo đều có khái niệm khác nhau Tuy nhiên, trong tâm lí học thì định nghĩa sáng tạo dưới góc độ nhân cách được

sử dụng nhiều hơn cả, bởi lẽ nó phản ánh được bản chất của sự sáng tạo, trong

đó sáng tạo được được tiếp cận trên nhiều bình diện khác nhau và được khẳng

Trang 21

định như một tiềm năng vốn tồn tại ở mọi người, mọi lứa tuổi Chính sự sáng tạo của mỗi cá nhân có thể mang lại ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển của nhân cách cụ thể và cũng là tiền đề của sự sáng tạo xã hội - đó là điều kiện không thể thiếu cho sự phát triển của xã hội

Từ những nghiên cứu về sáng tạo được hiểu theo các quan điểm khác nhau ở trên, đối với lĩnh vực kĩ thuật có thể đưa ra định nghĩa về sáng tạo như

sau:“sáng tạo là tạo ra những giá trị mới về vật chất và tinh thần”, là “tìm ra cái mới, cách giải quyết mới, không bị gò bó, phụ thuộc vào cái đã có”

Như vậy, sáng tạo là đặc trưng riêng của mỗi người Mỗi người đều có

khả năng sáng tạo, mang đặc trưng riêng trong một công việc, một lĩnh vực nhất định, ngay ở trong mỗi người khả năng sáng tạo ở các lĩnh vực khác nhau cũng khác nhau Do đó, không thể đánh giá một người sáng tạo hay không sáng tạo khi không xét trong một hoạt động cụ thể Hơn nữa, sáng tạo là tổ hợp các thuộc tính phẩm chất độc đáo của cá nhân, nên cần có sự tham gia của quá trình nhận thức (tri giác, tư duy KT, tưởng tượng KT, trí nhớ) Các thuộc tính này không phải là sự cộng lại mà là sự tương tác giữa các thuộc tính để tạo nên một con người sáng tạo Sản phẩm của sự sáng tạo là cái mới, cái độc đáo và có ích

Đó chính là chỉ số để phân biệt sản phẩm sáng tạo và không sáng tạo Tuy nhiên, không nên tuyệt đối hoá cái mới, bởi cái mới bao giờ cũng là cái kế thừa,

có nguồn gốc từ cái cũ

Tóm lại, sáng tạo là một sản phẩm của trí tuệ Nó cần cho mọi hoạt động

của con người Sáng tạo không chỉ có ở các nhà khoa học, hoạt động nghệ thuật,

kĩ thuật công nghệ mà nó còn có cả ở những người bình thường Đối với người học: sáng tạo là tất cả những gì các em “tự tìm tòi nghĩ ra cái mới” được khi

mà giáo viên chưa dạy, các em chưa đọc sách, chưa biết được nhờ trao đổi với các bạn cùng học

1.2.1.2 Cấu trúc tâm lí của sự sáng tạo

Trang 22

Nghiên cứu về cấu trúc tâm lí của sự sáng tạo có ý nghĩa rất quan trọng Cho đến nay có rất nhiều quan niệm khác nhau về vấn đề này Nhìn chung các quan niệm của các tác giả đều xuất phát từ hai quan điểm cơ bản đó là: quan điểm hệ thống và quan điểm cấu trúc

Theo tác giả E.P.Torrance, sáng tạo gồm 4 thuộc tính:

+ Nhanh nhạy: Thể hiện khả năng nhanh chóng tạo ra sản phẩm

+ Linh hoạt: khả năng linh hoạt trong công việc để tạo ra nhiều lời giải khác nhau + Độc đáo: tính độc đáo của sản phẩm hoặc phương pháp tạo thành sản phẩm + Chi tiết, tỉ mỉ: thể hiện ở tính công phu của sản phẩm

1.2.1.4 Tư duy sáng tạo

* Tư duy (suy nghĩ) sáng tạo:

- Là quá trình suy nghĩ đưa người học:

+ Từ không biết cách đạt đến mục đích đến biết cách đạt đến mục đích

+ Từ không biết cách tối ưu đạt đến mục đích đến biết cách tối ưu đạt đến mục đích trong một số cách đã biết

- Là quá trình suy nghĩ giải quyết vấn đề và ra quyết định

* Tính chất của tư duy sáng tạo:

- Tính mềm dẻo: đặc trưng bởi khả năng dễ dàng chuyển từ hoạt động trí tuệ này sang hoạt động trí tuệ khác

Trang 23

- Tính nhuần nhuyễn: thể hiện ở việc sử dụng nhiều loại hình tư duy đa dạng trong phát hiện và giải quyết vấn đề

- Tính độc đáo: đặc trưng bởi khả năng tìm kiếm được kiến thức mới chưa ai biết, đưa ra được giải pháp tối ưu

- Tính thăng hoa: thể hiện ở sản phẩm tìm được mang tính phát triển, được ứng dụng rộng rãi

* Cơ sở của tư duy sáng tạo:

Như chúng ta đã biết, sáng tạo là hoạt động của con người tạo ra các giá

trị vật chất hay tinh thần, mới về chất Nói cách khác là nhờ suy nghĩ dẫn tới hành động tạo ra được sản phẩm Sản phẩm đó phải đáp ứng được hai yếu tố sau:

Tư duy  Hành động  Sản phẩm sáng tạo - Tính mới (khác cũ)

- Có lợi hơn, tiến bộ hơn

Suy nghĩ mà nhờ đó tạo ra được sản phẩm sáng tạo được gọi là tư duy sáng tạo Tư duy sáng tạo có thể nói là gốc rễ của mọi thành quả sáng tạo

1.2.1.5 Quá trình sáng tạo

* Theo Walls quá trình sáng tạo có bốn giai đoạn

a Chuẩn bị công việc có ý thức:

Giai đoạn này là nhà khoa học hình thành vấn đề cần giải quyết và thử giải quyết bằng các cách khác nhau Ở đây yếu tố suy luận đóng vai trò chủ đạo

Trang 24

nhiên, không thấy trước được Tuy nhiên đôi khi cũng có ngoại lệ, bừng sáng

sẽ xuất hiện sau khi nhà khoa học đã có dự cảm sẽ nhận được kết quả

d Kiểm chứng:

Nhà khoa học triển khai lập luận chứng minh logic và kiểm tra lời giải nhận được từ trực giác Giai đoạn này là cần thiết vì tri giác nhận được bằng trực giác là chưa chắc chắn, có tính giả thiết Nó có thể đánh lừa nhà khoa học

Như vậy, trong 4 giai đoạn trên thì giai đoạn ấp ủ và bừng sáng là giai

đoạn quan trọng nhất của sự sáng tạo

* Quá trình sáng tạo là quá trình suy nghĩ giải quyết vấn đề và ra quyết định (tư duy sáng tạo) chính là quá trình biến đổi xử lí thông tin thành tri thức, tri thức

đã biến thành tri thức mới

Trong quá trình sáng tạo, thường có sự kết hợp và phát huy những mặt mạnh của 4 yếu tố: lôgic, tâm lí, kiến thức và trí tưởng tượng

Các nghiên cứu về tâm lí học tư duy sáng tạo cho thấy: quá trình sáng tạo của con người bắt đầu từ ý tưởng sáng tạo nảy sinh trong óc rồi đưa ra giải pháp, thực hiện thử, áp dụng vào thực tế Các ý tưởng thường xuất hiện một cách tự phát, mò mẫm, bị tính ì tâm lí tri phối, cản trở nhiều vào quá trình thử sai có thể thất bại và không đi đến được kết quả cuối cùng

Có thể tóm tắt theo hình sau:

Tư duy, nảy sinh

ý tưởng, quyết định

Hành động, thực hiện

Trang 25

Sáng tạo kỹ thuật: là hoạt động sáng tạo gắn liền với lịch sử tồn tại và

phát triển của xã hội loài người Từ việc tìm ra lửa, chế tạo công cụ bằng đá thô sơ đến việc sử dụng năng lượng nguyên tử, chinh phục vũ trụ , hoạt động sáng tạo của loài người không ngừng được thúc đẩy Sáng tạo không thể tách rời khỏi tư duy - hoạt động bộ não của con người Chính quá trình tư duy sáng tạo với chủ thể là con người đã tạo các giá trị vật chất, tinh thần, các thành tựu

vĩ đại về mọi mặt trong cuộc sống và tạo ra nền văn minh nhân loại

1.3 DẠY HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG SÁNG TẠO KỸ THUẬT

1.3.1 Bản chất của quá trình dạy học

1.3.1.1 Bản chất của hoạt động học

1, Khái niệm hoạt động học

Khi nói đến hoạt động học cần làm rõ khái niệm học và khái niệm hoạt động học

- Trong cuộc sống đời thường con người luôn luôn có quá trình tiếp thu, tích luỹ những kinh nghiệm sống, trên cơ sở đó tạo nên những tri thức tiền khoa học, làm cơ sở tiếp thu những khái niệm khoa học ở trong nhà trường Đó chính

là việc học, là cách học theo phương pháp của cuộc sống thường ngày, giống như con người khi sinh ra đến khi chết lúc nào cũng phải học ăn học nói học gói học mở, đi một ngày đàng học một sàng khôn…

- Trên thực tế, chỉ có phương thức đặc thù ( phương thức nhà trường) mới có khả năng tổ chức để cá nhân tiến hành hoạt động đặc biệt đó là hoạt động học, qua đó hình thành ở cá nhân những tri thức khoa học, năng lực mới phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn; và trong tâm lý học sư phạm, hoạt động học

là khái niệm chính được dùng để chỉ hoạt động học diễn theo phương thức đặc thù, nhằm chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng, kĩ xảo

2, Bản chất của hoạt động học

Trang 26

Hoạt động học tập là hoạt động chuyên hướng vào sự tái tạo lại tri thức

ở người học Sự tái tạo ở đây hiểu theo nghĩa là phát hiện lại Sự thuận lợi cho người học ở đây đó là con đường để phát hiện lại đã được các nhà khoa học tìm hiểu trước, giờ người học chỉ việc tái tạo lại Và để tái tạo lại, người học không

có cách gì khác đó là phải huy động nội lực của bản thân (động cơ, ý chí, …), càng phát huy nội lực của bản thân cao bao nhiêu thì việc tái tạo lại kiến thức càng diễn ra tốt bấy nhiêu Do đó hoạt động học làm thay đổi chính người học

Ai học thì người đó phát triển, không ai học thay thế được, người học cần phải

có trách nhiệm với chính bản thân mình, vì mình trong quá trình học Hoạt động học có thể cũng có thể làm thay đổi khách thể nhưng như thế không phải là mục đích tự thân của hoạt động học mà chính là phương tiện để đạt được mục đích làm thay đổi chính chủ thể của hoạt động

Hoạt động học là hoạt động tiếp thu những tri thức lý luận, khoa học Nghĩa là việc học không chỉ dừng lại ở việc nắm bắt những khái niệm đời thường mà học phải tiến đến những tri thức khoa học, những tri thức có tính chọn lựa cao, đã được khái quát hoá, hệ thống hoá

Hoạt động học tập không chỉ hướng vào việc tiếp thu những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo mà còn hướng vào việc tiếp thu cả những tri thức của chính bản thân hoạt động học Hoạt động học muốn đạt kết quả cao, người học phải biết cách học, phương pháp học, nghĩa là phải có những tri thức về chính bản thân hoạt động học

Hoạt động học là hoạt động chủ đạo của lứa tuổi học sinh, sinh viên Do

đó nó giữ vai trò chủ đạo trong việc hình thành và phát triển tâm lý của người học trong lứa tuổi này

3, Đối tượng của hoạt động học

Chủ thể của hoạt động học là người học thì đối tượng của hoạt động học hướng tới đó là tri thức Nhưng tri thức mà người học phải học được lựa chọn

Trang 27

từ những khoa học khác nhau, theo những nguyên tắc nhất định, làm thành những môn học tương ứng và được cụ thể ở những đơn vị cấu thành như: khái niệm, kĩ năng, thái độ…

Đối tượng của hoạt động học có liên quan chặt chẽ với đối tượng của khoa học Tuy vậy, có sự khác nhau về nguyên tắc giữa hoạt động học và hoạt động nghiên cứu khoa học Hoạt động học là hoạt động tái tạo lại những tri thức đã có từ trước ở người học, còn hoạt động nghiên cứu khoa học đó là phát hiện những chân lý khoa học mà loài người chưa biết đến Có thể nói: đối tượng của hoạt động học là cái mới với cá nhân người học nhưng không mới đối với nhân loại

4, Phương tiện học tập

Hoạt động bao giờ cũng hướng tới một đối tượng cụ thể, và chủ thể phải

có những phương tiện, những điều kiện cụ thể để chiếm lĩnh đối tượng Trong hoạt động học tập, ngoài những phương tiện như: giấy, bút, sách, giáo trình, máy tính… nó còn mang tính chất đặc thù của hoạt động học tập đó là mọi yếu

tố của nó đều được hình thành trong quá trình học tập Phương tiện học tập không có sẵn trong tâm lý chủ thể mà hình thành chính trong quá trình chủ thể tham gia hoạt động học tập

Phương tiện chủ yếu của hoạt động học tập đó là các hành động học tập:

so sánh, phân loại, phân tích, khái quát hoá Tâm lý học đã khẳng định so sánh, phân loại là những hành động học tập, là phương tiện đắc lực cho việc hình thành những khái niệm kinh nghiệm, còn phân tích, khái quát hoá là phương tiện để hình thành nên những khái niệm khoa học

Cần nhấn mạnh rằng trong hoạt động học, phương tiện chủ yếu là tư duy Trong giáo dục, tất cả các hình thức tư duy đều quan trọng và cần thiết

5, Điều kiện học tập

Trang 28

Hoạt động học muốn được diễn ra phải có điều kiện của nó Điều kiện đầu tiên đó là có sự tham gia của các yếu tố bên ngoài (ngoại lực) như: có sự hướng dẫn của thầy, sách, vở, bút, máy tính, giáo trình… Điều kiện thứ hai đó

là có sự vận động của chính bản thân người học hay còn gọi là yếu tố nội lực

Đó là những tri thức mà người học học được, trình độ trí tuệ hiện có của người học, động cơ, ý chí, hứng thú của người học…

Khi có đầy đủ những điều kiện đó, người học dù trong hoàn cảnh có thầy với trò, hay không có sự có mặt của thầy thậm chí khi ra trường, hoạt động học vẫn diễn ra Từ đó có thể hiểu học là quá trình tương tác các yếu tố ngoại lực

và yếu tố nội lực thông qua hoạt động dạy và học Trong đó, yếu tố nội lực ở đây đóng vai trò quan trọng trong hoạt động học của người học

6 Sự hình thành hoạt động học tập

a) Động cơ học tập

Các yếu tố của hoạt động học được hình thành trong chính hoạt động học Nói đến hình thành hoạt động học, trước hết phải nói đến sự hình thành động cơ học tập

- Hoạt động học với chủ thể là người học, còn đối tượng của nó là những tri thức khoa học, với mục tiêu cuối cùng là hình thành nhân cách cho người học Chủ thể khi tiến hành hoạt động học, chiếm lĩnh tri thức thì chính tri thức

đó trở thành cái tinh thần, thôi thúc người học Vì vậy có thể hiểu động cơ học tập là sức mạnh tinh thần điều khiển, điều chỉnh hoạt động học nhằm chiếm lĩnh tri thức khoa học, để thoả mãn nhu cầu nào đó của người học

- Động cơ của hoạt động học tập ở học sinh, sinh viên được hiện thân ở những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo mà giáo dục ở nhà trường mang lại cho họ Trong thực tiễn giáo dục, động cơ học tập được chia thành hai loại: động cơ hoàn thiện tri thức và động cơ quan hệ xã hội

Trang 29

+ Động cơ hoàn thiện tri thức là lòng ham mê, khát khao mở rộng tri thức, say mê với những môn học Hoạt động học tập được thúc đẩy bởi động

cơ này nó không chứa những mâu thuẫn bên trong và nó đòi hỏi phải có những

nỗ lực ý chí để đạt được nguyện vọng chứ không phải hướng vào đấu tranh với chính bản thân mình

+ Động cơ quan hệ xã hội đó là sự thưởng phạt hoặc đe doạ, những áp lực gia đình, nhà trường, công việc, sự hiếu danh hoặc mong đợi sự hạnh phúc

Ở mức độ nào đó động cơ này mang tính cưỡng bách, và có lúc xuất hiện như một vật cản cần vượt qua để đạt được mục đích của mình

Xét về mặt lý luận, mỗi hoạt động được thúc đẩy bởi một động cơ nhất định Hoạt động học hướng đến là những tri thức khoa học, thì chính nó (tức là đối tượng của hoạt động học) trở thành động cơ của hoạt động ấy Động cơ hoàn thiện tri thức là động cơ chính của hoạt động học tập Nhưng trên thực tế còn có động cơ quan hệ xã hội Nó “bám vào”, “hiện thân” trên động cơ hoàn thiện tri thức, trở thành một bộ phận của động cơ hoàn thiện tri thức Khi động

cơ hoàn thiện tri thức được đáp ứng thì đồng nghĩa với nó là động cơ quan hệ

xã hội cũng được thoả mãn Cả hai loại động cơ này đều xuất hiện trong quá trình học tập và trong từng hoàn cảnh cụ thể, tuỳ theo điều kiện nào đó mà động

cơ này hay động cơ kia chiếm vị trí quan trọng hơn, nổỉ lên và chiêm ưu thế trong thứ bậc động cơ Sự phân chia động cơ như vậy chỉ có tính chất tương đối

b) Mục đích học tập

Theo tâm lý học hoạt động, mục đích được hiểu là cái mà hành động đang diễn ra hướng tới Hoạt động học được thúc đẩy bởi động cơ và nó được tiến hành dưới các hành động học Vì vậy, mục đích của hoạt động học là các khái niệm, các giá trị, các chuẩn mực mà hành động học đang diễn ra hướng đến nhằm đạt được nó

Trang 30

Quá trình hình thành mục đích bắt đầu từ việc hình thành trong chủ thể dưới các dạng là các biểu tượng, sau đó được tổ chức để hiện thực hoá biểu tượng trên thực tế, và khi thực tế có hoàn thành được thì mục đích được hoàn thành Mục đích của hoạt động học cũng được hình thành như vậy, chỉ có điều

nó có tính đặc thù riêng đó là việc hình thành mục đích học tập hướng đến là

để thay đổi chính chủ thể ở đây là người học Mục đích này chỉ có thể được bắt đầu hình thành khi chủ thể bắt đầu bắt tay vào thực hiện hành động học tập của mình Trên con đường chiếm lĩnh đối tượng nó luôn diễn ra quá trình chuyển hoá giữa mục đích và phương tiện học tập Mục đích bộ phận được thực hiện đầy đủ thì nó lại trở thành công cụ để chiếm lĩnh các mục đích tiếp theo

c) Sự hình thành các hành động học tập

Học là một quá trình, do đó khi nói đến hoạt động học là phải nói đến sự hình thành các hành động học tập Hành động học ở đây được hiểu là hành động trí óc nhằm chiếm lĩnh tri thức Hành động học có rất nhiều các hành động khác nhau, và bản chất nhất, cơ bản nhất có các hành động chính sau:

- Hành động phân tích: tìm ra nguồn gốc nội tại, cấu trúc lôgíc của đối tượng

- Hành động mô hình hoá: giúp con người diễn đạt các khái niệm một cách trực quan, nó bao gồm mô hình gần giống với vật thật, mô hình tượng trưng, mô hình mã hoá, nó được dùng nhiều trong sinh học…

- Hành động cụ thể hoá: nhằm vận dụng giúp người học hiểu được rõ nhất bản chất của vấn đề, giải quyết những vấn đề trong mối liên hệ cụ thể từng lĩnh vực

7 Đặc điểm chung của hoạt động học tập của sinh viên

- Hoạt động học tập của sinh viên có tính chất độc đáo về mục đích và kết quả hoạt động Đó là, khác với lao động, học tập không làm thay đổi đối tượng mà thay đổi chính bản thân mình Sinh viên học tập để tiếp thu các tri

Trang 31

thức khoa học, hình thành những kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, phát triển những phẩm chất nhân cách người chuyên gia tương lai

- Hoạt động học tập được diễn ra trong điều kiện có kế hoạch vì nó phụ thuộc vào nội dung, chương trình, mục tiêu, phương thức và thời hạn đào tạo

- Phương tiện hoạt động học tập là thư viện, sách vở, máy tính… - Tâm lý diễn

ra trong hoạt động học tập của sinh viên với nhịp độ căng thẳng, mạnh mẽ về trí tuệ

- Hoạt động học tập của sinh viên mang tính độc lập cao Cốt lõi của hoạt động học tập của sinh viên là sự tự ý thức về động cơ mục đích, biện pháp học tập

8 Tính tích cực trong hoạt động học của sinh viên

Việc tạo ra tính tích cực học tập của sinh viên là nhiệm vụ chủ yếu của người thầy giáo trong nhà trường đại học Một trong những yếu tố quan trọng

có ảnh hưởng mạnh tới tính tích cực hoạt động tập của sinh viên là do sự vận dụng một cách thích hợp phương pháp giảng dạy của thầy

Theo Thái Duy Tiên thì "Tính tích cực học tập của sinh viên là tập hợp các hoạt động nhằm làm chuyển biến vị trí của người sinh viên từ đối tượng tiếp nhận tri thức sang chủ thể tìm kiếm tri thức, để nâng cao hiệu quả học tập"[24] Tính tích cực học tập của sinh viên được thể hiện qua một số đặc điểm

cơ bản sau:

- Trong giờ học sinh viên có chú ý tới bài giảng hay không

- Mức độ tự giác tham gia vào xây dựng bài học, trao đổi thảo luận, ghi chép

- Thực hiện tốt các nhiệm vụ học tập được giao

- Hiểu bài và có thể trình bày lại theo cách hiểu của mình

- Có hứng thú học tập

- Biết vận dụng những tri thức được học vào thực tiễn

Trang 32

- Có sáng tạo trong quá trình học tập

1.3.1.2 Bản chất của hoạt động dạy

Trong phạm vi nhà trường, hoạt động dạy là hoạt động của người thầy - định hướng, tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức, học tập của người học, giúp người học tìm tòi, khám phá tri thức tạo ra sự phát triển tâm lý, hình thành nhân cách ở bản thân

Theo giáo sư Phạm Hữu Tòng “… bản chất của hoạt động dạy học là dạy hành động – hành động chiếm lĩnh tri thức và hành động vận dụng tri thức, và

do đó trong dạy học, giáo viên cần tổ chức các tình huống học tập đòi hỏi sự thích ứng của người học để qua đó người học chiếm lĩnh được tri thức, đồng thời phát triển trí tuệ và nhân cách toàn diện của mình”[34]

1.3.1.3 Sự tương tác trong hệ dạy - học

Trong sự tương tác của hệ dạy học, mỗi hành động của người học diễn

ra theo các pha: “Định hướng- chấp hành- kiểm tra” Trong đó, sự định hướng

có vai trò quan trọng đối với chất lượng và hiệu quả của hành động Người thầy

có vai trò quan trọng trong việc giúp đỡ cho sự hình thành cơ sở định hướng khái quát hành động của người học

Trong sự vận hành của hệ tương tác dạy học, hành động của người thầy với tư liệu hoạt động dạy học là khâu tổ chức, cung cấp tư liệu, tạo tình huống

có vấn đề cho hoạt động của người học Hành động dạy của người thầy có tác dụng trực tiếp tới người học, đó là sự định hướng đối với hành động của người học, sự tương tác, trao đổi, tranh luận giữa người học với nhau và qua đó cung cấp những thông tin liên hệ ngược từ phía người học cho giáo viên Còn hành động học của người học đối với tư liệu hoạt động dạy học là sự thích ứng của người học với tình huống học tập thích đáng nhằm chiếm lĩnh tri thức Sự tương tác của người học với tư liệu còn đem lại cho giáo viên những thông tin liên hệ ngược cần thiết cho sự chỉ đạo của giáo viên đối với người học

Trang 33

1.3.1.4 Bản chất của hoạt động dạy học ở đại học

Bản chất của hoạt động dạy học ở đại học là quá trình nhận thức độc đáo có tính chất nghiên cứu của sinh viên được tiến hành dưới vai trò tổ chức

và điều khiển của giáo viên nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học ở đại học

Tính chất nghiên cứu của sinh viên trong quá trình học tập ở đại học được thể hiện ở những điểm sau:

- Trong quá trình học tập ở đại học, sinh viên phải tự mình chiếm lĩnh hệ thống các tri thức, kỹ năng, phải nắm vững cơ sở của nghề nghiệp tương lai ở trình độ đại học và có tiềm năng vươn lên thích ứng với những yêu cầu trước mắt và lâu dài do thực tiễn xã hội đặt ra

- Khi tiến hành hoạt động học tập, sinh viên không chỉ có năng lực nhận thức thông thường mà cần tiến hành các hoạt động nhận thức mang tính nghiên cứu trên cơ sở khả năng tư duy độc lập, sáng tạo phát triển ở mức độ cao Điều

đó có nghĩa là dưới vai trò hướng dẫn của người thầy, sinh viên không tiếp thu một cách máy móc những chân lý có sẵn mà họ có khả năng tiếp nhận chân lý

đó với óc phê phán, có thể khẳng định, phủ định, hoài nghi khoa học, lật ngược vấn đề, đào sâu vấn đề…

- Trong quá trình học tập ở đại học, sinh viên đã bắt đầu tham gia vào hoạt động tìm kiếm chân lý mới Đó là hoạt động tập dượt nghiên cứu khoa học được tiến hành ở các mức độ từ thấp lên cao tuỳ theo chương trình học của học phần, chẳng hạn như: bài tập nghiên cứu sau mỗi học phần, niên luận, khoá luận, luận văn, đồ án tốt nghiệp Hoạt động nghiên cứu khoa học này giúp sinh viên từng bước tập vận dụng những tri thức khoa học, phương pháp luận khoa học, phương pháp nghiên cứu Thông qua đó, sinh viên tự rèn luyện các phẩm chất, tác phong của nhà nghiên cứu nhằm giải quyết một cách khoa học những vấn đề do thực tiễn xã hội, thực tiễn cuộc sống và nghề nghiệp đặt ra Trong

Trang 34

hoạt động học ở đại học, một trong những phương pháp dạy học có thể phát huy sự tích cực, tự lực ở sinh viên đó là dạy học dự án

1.3.2 Đặc điểm dạy học theo định hướng sáng tạo kỹ thuật

Đặc điểm cơ bản của dạy học theo định hướng sáng tạo kỹ thuật được

thể hiện ở 3 tiêu chí: tính mới mẻ, tính độc lập và tính ích lợi

* Tính mới mẻ:

Tính mới mẻ của sự sáng tạo chính là sự phản ánh hiện thực khách quan một cách mới lạ, có phần khác biệt so với kinh nghiệm vốn có của cá nhân Tính mới mẻ của sáng tạo có được là dựa trên sự tổng hợp, liên tưởng, sâu chuỗi chọn lọc các ý tưởng, cá tri thức có trong kinh nghiệm của cá nhân tạo ra các ý tưởng, những sản phẩm mới Mới mẻ ở đây chính là sự khác nhau của đối tượng cho trước với đối tượng cùng loại ra đời trước đó về mặt thời gian Cái mới này có thể là cái mới đối với cá nhân hoặc đối với xã hội

Như tác giả K.Roger đã khẳng định “cái chính yếu của sự sáng tạo là sự mới mẻ của nó” [38, tr 28] Chính vì vậy, tính mới mẻ là thuộc tính đầu tiên

và rất quan trọng thể hiện rõ nhất bản chất của sự sáng tạo L.X.Vưgôtxki cho rằng “ Sáng tạo là một điều kiện cần thiết của sự tồn tại, và tất cả cái gì vượt ra khỏi những khuôn khổ cũ và chứa đựng dù chỉ một nét của cái mới thì nguồn gốc phát minh của nó đều do quá trình sáng tạo của con người” [48, tr 10] Thực chất tính mới mẻ chỉ mang tính chất tương đối, phụ thuộc rất nhiều vào vốn kinh nghiệm của cá nhân Vì một sản phẩm khi đánh giá là mới mẻ với người này nhưng chắc chắn là mới mẻ so với người khác Nếu như vốn kinh nghiệm của cá nhân càng nhiều thì sản phẩm sáng tạo của họ càng mới mẻ với nhiều người

* Tính độc lập:

Trang 35

Tính độc lập trong sáng tạo chính là sự tự chủ, độc lập trong hoạt động sáng tạo của cá nhân mang đậm bản sắc “cái tôi” của chủ thể sáng tạo Tính độc lập này thể hiện ở việc đề ra mục đích và tìm ra được giải pháp để giải quyết vấn đề nhằm đạt được mục đích

Yếu tố này có vai trò quan trọng, tạo tiền đề cho việc tạo ra tính mới mẻ trong sáng tạo Bởi vì chủ thể hoàn toàn độc lập nên không theo những giải pháp mang tính lối mòn đã được sử dụng

Tính độc lập trong sáng tạo hình thành một kiểu tư duy đặc trưng cho sáng tạo đó là tư duy sáng tạo Loại tư duy này mang tính độc lập cao, tạo ra những giải pháp mới lạ không có trong những giải pháp thông thường, không

có trong một công thức định sẵn hay một hướng đi cho tư duy đã được vạch ra

từ đầu Để phát triển loại tư duy này, cần phải đặt con người vào những tình huống có vấn đề, buộc họ phải tìm ra những giải pháp cho riêng mình Giải pháp đó có thể khả thi hoặc không khả thi, điều quan trọng là nó phải mới lạ mặc dù trên bình diện cá nhân

Tính độc lập của tư duy là một tiền đề quan trọng để tạo nên tính sáng tạo Chính vì vậy, muốn sản phẩm của mình được công nhận là sáng tạo thì ngay từ đầu bản thân con người phải độc lập trong tư duy, suy nghĩ

* Tính ích lợi:

Tính ích lợi của sáng tạo chính là sự tối ưu của việc mang lại tính ích lợi

từ phía sản phẩm sáng tạo Như vậy, tính ích lợi của sáng tạo thể hiện ở tính có ích, tính hữu dụng của sản phẩm sáng tạo đối với chủ thể sáng tạo và rộng hơn

là đối với sự phát triển của xã hội, của nhân loại

Sáng tạo xuất phát từ nhu cầu thực tiễn vì vậy sản phẩm sáng tạo phải quay lại phục vụ nhu cầu đó Sáng tạo không có nghĩa là viển vông, là thoát li khỏi thực tiễn Sáng tạo bao giờ cũng lấy chất liệu từ thực tế muôn màu, muôn

vẻ của cuộc sống Trên cơ sở đó bằng cách chắp ghép, tổng hợp các ý tưởng có

Trang 36

nguồn gốc từ hiện thực để tạo ra những sản phẩm sáng tạo phục vụ cho cuộc sống sinh hoạt của con người

Tóm lại, dựa vào đặc điểm cơ bản của PPLST người ta có thể đánh giá

một sản phẩm kể cả ở dạng vật chất hay tinh thần, là sáng tạo nếu có tính mới

mẻ, tính độc lập và tính ích lợi

* Ngoài các đặc điểm trên, trong lĩnh vực khoa học, kết quả của “sáng tạo” thường được gọi là “phát minh” còn trong lĩnh vực công nghệ, kết quả của

“sáng tạo” còn được gọi là “sáng chế”

Sáng chế (Invention) và phát minh (Discovery) có phần khái niệm

chung nhưng có phần khác biệt

+ Chung: cùng là những hoạt động sáng tạo

+ Riêng: Sáng chế là chế tạo ra cái trước đó chưa từng có Ví dụ sáng

chế ra các loại máy mới chiếc bàn, chiếc ghế Bằng sáng chế phát minh

Phát minh là tìm ra được các quy luật hoặc hiện tượng có tính quy luật

tồn tại sẵn có trong tự nhiên, trong xã hội, trong tư duy nhưng trước đó người

ta chưa biết Ví dụ các định luật khoa học như định luật Niu -Tơn, định luật Ôm là các phát minh Phát minh là những cống hiến lớn cho khoa học và cho loài người

1.3.3 Tiến trình dạy học theo định hướng sáng tạo kỹ thuật

1.3.3.1 Nguyên tắc vận dụng

Những sáng tạo của con người, một mặt mang tính chủ quan vì chúng được tạo ra bởi những con người cụ thể Mặt khác, những sáng tạo của con người được tự nhiên, xã hội tiếp nhận một cách đầy đủ, ổn định và bền vững mới là những sáng tạo tạo ra sự phát triển thực sự Tuy sự phát triển này do con người tạo ra nhưng nó vẫn phải tuân theo các qui luật phát triển khách quan chung, bao trùm cả ba lĩnh vực: tự nhiên, xã hội, tư duy và không phụ thuộc vào con người cụ thể

Trang 37

Đề cập TDST, những nhà nghiên cứu đi theo cách tiếp cận truyền thống thường nghĩ ngay đến quá trình tâm lý xảy ra bên trong bộ óc người khi tập trung mọi chú ý vào việc giải quyết vấn đề Từ đó có thể suy ra rằng, đi tìm các qui luật sáng tạo tức là đi tìm các qui luật tâm lý chủ quan ấy Theo G.S Altshuller, chính các qui luật phát triển khách quan, khi được phản ánh trong

tư duy của người giải quyết vấn đề, sẽ đóng vai trò cơ chế định hướng Nói cách khác, các cách tiếp cận truyền thống, chủ yếu nhắm vào khắc phục “tính ì tâm lí cản trở sáng tạo”

Dựa trên PPLST KHKT, lý luận về phương pháp dạy học nói chung, đặc điểm của module Máy điện nói riêng, có thể áp dụng những nguyên tắc sau:

- Vận dụng PPLST trong dạy học nói chung và dạy học module Máy điện nói riêng là vận dụng những ý tưởng, cách suy nghĩ, cách giải quyết vấn đề của các nhà sáng chế ra những đối tượng gần hoặc tương tự với đối tượng được thể hiện trong nội dung môn học chứ không phải dạy cho HS chỉ biết nguyên xi các PPLST đó

- Việc vận dụng mỗi PPLST trong dạy học phải là một việc làm có mục đích, có kế hoạch chiến lược chứ không thể chỉ là ngẫu hứng, nhấi thời Do đó thường phải có sự tự học, tự nghiên cứu của người học, muốn vậy phải có tài liệu, phải hướng dẫn cho HS phương pháp tự học, tự nghiên cứu

- Việc vận dụng mỗi PPLST trong dạy học phải phù hợp với mục tiêu, nội dung bài học cụ thể và phương tiện, thiết bị có trong thực tế, phải tăng cường hứng thú, phát huy vai trò chủ động, tích cực của người học tức là phải phối hợp nhuần nhuyễn, ăn ý với các phương pháp dạy học tích cực nhằm phát triển TDST cho người học

1.3.3.2 Qui trình thiết kế bài dạy theo định hướng sáng tạo kỹ thuật

Trên cơ sở nghiên cứu các đặc điểm và nội dung của module Máy điện, có thể vận dụng PPLST KHKT trong dạy học module Máy điện nhằm phát triển

Trang 38

TDST cho học sinh Để vận dụng có hiệu quả, việc quan trọng đầu tiên là thiết kế bài dạy, có thể thực hiện theo quy trình 5 bước sau đây (Hình 1.2)

Hình 1.2 Quy trình thiết kế bài dạy có vận dụng PPLST KHKT

Bước 1: Nghiên cứu nội dung bài dạy

Bước này yêu cầu GV phải nghiên cứu kĩ nội dung của từng phần, từng mục của bài dạy cụ thể Dựa vào mục tiêu, nội dung của bài dạy và điều kiện dạy học cụ thể xác định trọng tâm của bài dạy và xác định nội dung nào của bài

có thể phát triển được tư duy nhất là phát triển TDST

Bước 2: Xác định những nội dung dạy học có thể vận dụng PPLST

KHKT

Trên cơ sở đã nghiên cứu kĩ nội dung bài dạy ở bước 1, căn cứ vào bản chất của các PPLST KHKT để từ đó có thể xác định vận dụng những PPLST nào vào bài dạy để phát triển TDST cho người học Qua đó có thể hình dung được các hoạt động của GV và HS gắn với các các nội dung của bài dạy được

Nghiên cứu nội dung bài dạy

Xác định những nội dung dạy học có thể vận dụng PPLST

KHKT để phát triển TDST

Vận dụng vào thiết kế bài dạy cụ thể

Kiểm nghiệm, đánh giá bài dạy đã thiết kế Lựa chọn PPLST vào từng nội dung của bài dạy

Trang 39

xác định Như vậy sẽ giúp người dạy định hướng hoạt động học tập của HS và

sẽ hình thành được khả năng sáng tạo của họ

Bước 3: Lựa chọn PPLST KHKT vào từng nội dung cụ thể

Người GV phải phân chia được các nội dung của bài dạy có thể vận dụng theo từng PPLST và áp dụng đến từng nội dung, từng phần nhỏ trong bài dạy Đồng thời phải rút ra được điều kiện vận dụng các PPLST thực hiện trong bài dạy phù hợp với mục tiêu, nội dung, trình độ của người học, thời gian, phương tiện cụ thể và có độ tin cậy cao

Bước 4: Vận dụng vào thiết kế bài dạy module Máy điện

Ở bước này GV cần xác định điều kiện, qui trình vận dụng từng PPLST vào từng nội dung bài dạy đã xác định ở bước 2 nhằm phát triển TDST cho HS trong quá trình dạy học Bước này cần chú ý tuân theo qui trình thiết kế bài dạy

lí thuyết, đảm bảo vận dụng phù hợp với mục tiêu, nội dung bài dạy, trình độ của người học, thời gian và phương tiện dạy học

Trong quá trình vận dụng vào bài dạy GV có thể vận dụng các PPLST KHKT kết hợp với các PPDH khác một cách song song để phát huy tối đa tính tích cực, chủ động, khả năng sáng tạo của người học làm cho người học trở thành người chủ động tìm ra kiến thức từ đó kích thích hứng thú học tập và khả năng phát triển TDST của người học được nâng lên

Bước 5: Kiểm nghiệm, đánh giá bài dạy đã thiết kế

Sau khi đã thiết kế được bài dạy có vận dụng PPLST KHKT nhằm phát triển TDST cho HS cần kiểm nghiệm, đánh giá bài dạy đã thiết kế, có thể kiểm nghiệm đánh giá bài dạy đã thiết kế theo các vấn đề sau:

- Kiểm nghiệm và đánh giá về mục tiêu

- Kiểm nghiệm và đánh giá về nội dung

Trang 40

- Kiểm nghiệm và đánh giá về qui trình, điều kiện vận dụng từng PPLST KHKT vào bài dạy và khả năng định hướng tư duy, định hướng những ý tưởng sáng tạo của người học tức là có đảm bảo phát triển TDST hay chưa?

Sau khi kiểm nghiệm và đánh giá bài dạy đã thiết kế có vận dụng PPLST KHKT nhằm phát triển TDST cho HS cần phải tiến hành dạy thử (thực nghiệm

sư phạm) để kết luận tính khả thi của việc sử dụng các PPLST vào bài dạy module Máy điện ở trường cao đẳng nghề

1.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới dạy học theo định hướng sáng tạo kỹ thuật

1.3.4.1 Những yếu tố thuộc về chủ quan học sinh:

HS là chủ thể của hoạt động tư duy trong quá trình học tập, sự phát triển

TDST của HS phụ thuộc vào chính họ Kết quả phân tích lý luận và thực tiễn cho thấy yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến sự phát triển TDST của HS bao gồm:

- Động cơ học tập đúng đắn là một trong những thành phần cơ bản của xu

hướng nhân cách HS, biểu hiện ra ở sự học tập, rèn luyện theo mục tiêu, yêu

cầu đào tạo của nhà trường Động cơ học tập đúng đắn sẽ giúp HS có thái độ,

tinh thần tự giác, chủ động sáng tạo, còn động cơ học tập không đúng đắn có thể làm cho người học có những hành vi giả tạo để che giấu năng lực thực tế nhằm đạt được những lợi ích cá nhân nhất định Nhu cầu bên trong tạo nên tính tự giác, ý chí quyết tâm để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao

Vì vậy, trong quá trình dạy học, cần tạo cho HS động cơ, hứng thú học tập, sự say mê trong hoạt động học tập đối với môn học, bài học, góp phần vào phát triển TDST cho họ, làm cho hoạt động tư duy của họ có tính hướng đích rõ ràng, kích thích sự say mê trong học tập, huy động được tối đa các phẩm chất ý chí, nghị lực, khắc phục khó khăn hoàn thành nhiệm vụ học tập

Ngày đăng: 06/06/2017, 12:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Dương Xuân Bảo (2007), Những mẫu chuyện về phương pháp luận sáng tạo, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những mẫu chuyện về phương pháp luận sáng tạo
Tác giả: Dương Xuân Bảo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
2. Dương Xuân Bảo (2009), Khúc giữa của con cá: Một số vấn đề về PPLST, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khúc giữa của con cá: Một số vấn đề về PPLST
Tác giả: Dương Xuân Bảo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
3. Nguyễn Văn Bính, Trần Sinh Thành, Nguyễn Văn Khôi (1999), Phương pháp dạy học công nghiệp (tập 1 – phần đại cương), Nxb Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học công nghiệp (tập 1 – phần đại cương)
Tác giả: Nguyễn Văn Bính, Trần Sinh Thành, Nguyễn Văn Khôi
Nhà XB: Nxb Giáo dục Hà Nội
Năm: 1999
4. Nguyễn Văn Bính, Nguyễn Văn Khôi (2006), Phương pháp luận nghiên cứu sư phạm kĩ thuật, Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu sư phạm kĩ thuật
Tác giả: Nguyễn Văn Bính, Nguyễn Văn Khôi
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2006
5. Nguyễn Hải Châu, Đỗ Ngọc Hồng, Nguyễn Văn Khôi (2007), Những vấn đề chung về đổi mới giáo dụcTHPT môn công nghệ, Nxb Giáo dục Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề chung về đổi mới giáo dụcTHPT môn công nghệ
Tác giả: Nguyễn Hải Châu, Đỗ Ngọc Hồng, Nguyễn Văn Khôi
Nhà XB: Nxb Giáo dục Hà nội
Năm: 2007
6. Hoàng Chúng (1969), Rèn luyện khả năng sáng tạo toán học ở trường phổ thông, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện khả năng sáng tạo toán học ở trường phổ thông
Tác giả: Hoàng Chúng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1969
7. Phan Dũng (1997), Phương pháp luận sáng tạo và đổi mới, Trung tâm sáng tạo KHKT, Trường Đại học KHTN, Đại học Quốc gia TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận sáng tạo và đổi mới
Tác giả: Phan Dũng
Năm: 1997
8. Phan Dũng (1992), Phương pháp luận sáng tạo khoa học kĩ thuật (giáo trình sơ cấp), Trung tâm sáng tạo KHKT, Trường Đại học KHTN, Đại học Quốc gia TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận sáng tạo khoa học kĩ thuật (giáo trình sơ cấp)
Tác giả: Phan Dũng
Năm: 1992
9. Phan Dũng (1992), Làm thế nào để sáng tạo hay khoa học về sự sáng tạo, Uỷ ban KHTN TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làm thế nào để sáng tạo hay khoa học về sự sáng tạo
Tác giả: Phan Dũng
Năm: 1992
10. Trần Khánh Đức (2005), Sư phạm kĩ thuật, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sư phạm kĩ thuật
Tác giả: Trần Khánh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
11. Nguyễn Cao Đằng, Nguyễn Văn Khôi (2006), Dạy học thực hành kĩ thuật theo quan điểm sáng tạo, Tạp chí khoa học, Trường ĐHSPHN, số 06, tr. 65 – 72 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học thực hành kĩ thuật theo quan điểm sáng tạo
Tác giả: Nguyễn Cao Đằng, Nguyễn Văn Khôi
Năm: 2006
13. Trần Bá Hoành (2006), Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và SGK, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và SGK
Tác giả: Trần Bá Hoành
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2006
14. Trần Bá Hoành (1999), Phát triển trí sáng tạo của học sinh và vai trò của GV, Tạp chí nghiên cứu giáo dục số 09 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển trí sáng tạo của học sinh và vai trò của GV
Tác giả: Trần Bá Hoành
Năm: 1999
15. Bùi Văn Huệ (2000), Giáo trình tâm lí học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tâm lí học
Tác giả: Bùi Văn Huệ
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
16. Ngô Văn Hoan (2002), Dạy học thực hành KTĐT ở phổ thông theo quan điểm công nghệ, Luận văn thạc sĩ Giáo dục học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học thực hành KTĐT ở phổ thông theo quan điểm công nghệ
Tác giả: Ngô Văn Hoan
Năm: 2002
17. Lê Huy Hoàng (2002), Sáng tạo và những điều kiện chủ yếu để kích thích sự sáng tạo của con người Việt Nam hiện nay, Nxb khoa học xã hội Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sáng tạo và những điều kiện chủ yếu để kích thích sự sáng tạo của con người Việt Nam hiện nay
Tác giả: Lê Huy Hoàng
Nhà XB: Nxb khoa học xã hội Hà Nội
Năm: 2002
18. Trần Hiệp, Đỗ Long, Sổ tay tâm lí học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay tâm lí học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
19. Trần Thị Phương Huyền (2008), Nghiên cứu mức độ sáng tạo của sinh viên trường CĐSP Vĩnh phúc, Luận văn thạc sĩ khoa học Tâm lí, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu mức độ sáng tạo của sinh viên trường CĐSP Vĩnh phúc
Tác giả: Trần Thị Phương Huyền
Năm: 2008
20. Giáo trình đổi mới phương pháp dạy học môn Toán ở trường THCS nhằm hình thành và phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình đổi mới phương pháp dạy học môn Toán ở trường THCS nhằm hình thành và phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội
24. Nguyễn Văn Khôi (2006), Thiết kế bài dạy công nghệ 10, Tạp chí thế giới trong ta, số 05, tr. 62 – 63 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài dạy công nghệ 10
Tác giả: Nguyễn Văn Khôi
Năm: 2006

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.2. Quy trình thiết kế bài dạy có vận dụng PPLST KHKT - Dạy học module máy điện theo định hướng sáng tạo kỹ thuật tại trường cao đẳng nghề kỹ thuật công nghệ thành phố hồ chí minh
Hình 1.2. Quy trình thiết kế bài dạy có vận dụng PPLST KHKT (Trang 38)
Hình 2.3: Mô hình máy biến thế - Dạy học module máy điện theo định hướng sáng tạo kỹ thuật tại trường cao đẳng nghề kỹ thuật công nghệ thành phố hồ chí minh
Hình 2.3 Mô hình máy biến thế (Trang 66)
Hình vẽ minh họa. - Dạy học module máy điện theo định hướng sáng tạo kỹ thuật tại trường cao đẳng nghề kỹ thuật công nghệ thành phố hồ chí minh
Hình v ẽ minh họa (Trang 68)
Hình 2.8 Các mức biến đổi hiệu điện thế - Dạy học module máy điện theo định hướng sáng tạo kỹ thuật tại trường cao đẳng nghề kỹ thuật công nghệ thành phố hồ chí minh
Hình 2.8 Các mức biến đổi hiệu điện thế (Trang 72)
Hình 2.10 Tư ̀  trường quay của đô ̣ng - Dạy học module máy điện theo định hướng sáng tạo kỹ thuật tại trường cao đẳng nghề kỹ thuật công nghệ thành phố hồ chí minh
Hình 2.10 Tư ̀ trường quay của đô ̣ng (Trang 78)
Hình 2.12 Cấu ta ̣o đô ̣ng cơ KĐB 3 pha - Dạy học module máy điện theo định hướng sáng tạo kỹ thuật tại trường cao đẳng nghề kỹ thuật công nghệ thành phố hồ chí minh
Hình 2.12 Cấu ta ̣o đô ̣ng cơ KĐB 3 pha (Trang 81)
Hình  minh - Dạy học module máy điện theo định hướng sáng tạo kỹ thuật tại trường cao đẳng nghề kỹ thuật công nghệ thành phố hồ chí minh
nh minh (Trang 82)
Bảng 3.1. Bảng phân phối xác suất (số SV F i  đạt điểm X i ) - Dạy học module máy điện theo định hướng sáng tạo kỹ thuật tại trường cao đẳng nghề kỹ thuật công nghệ thành phố hồ chí minh
Bảng 3.1. Bảng phân phối xác suất (số SV F i đạt điểm X i ) (Trang 88)
Bảng 3.2: Bảng tần suất f i (%) (số % SV F i  đạt điểm X i ) - Dạy học module máy điện theo định hướng sáng tạo kỹ thuật tại trường cao đẳng nghề kỹ thuật công nghệ thành phố hồ chí minh
Bảng 3.2 Bảng tần suất f i (%) (số % SV F i đạt điểm X i ) (Trang 88)
Bảng 3.4: Phương sai, độ lệch chuẩn, hệ số biến thiên cho lớp đối chứng - Dạy học module máy điện theo định hướng sáng tạo kỹ thuật tại trường cao đẳng nghề kỹ thuật công nghệ thành phố hồ chí minh
Bảng 3.4 Phương sai, độ lệch chuẩn, hệ số biến thiên cho lớp đối chứng (Trang 89)
Bảng 3.6: So sánh các tham số thống kê - Dạy học module máy điện theo định hướng sáng tạo kỹ thuật tại trường cao đẳng nghề kỹ thuật công nghệ thành phố hồ chí minh
Bảng 3.6 So sánh các tham số thống kê (Trang 91)
Hình 3.2: Đường tần suất hội tụ tiến của các lớp thực nghiệm và đối chứng - Dạy học module máy điện theo định hướng sáng tạo kỹ thuật tại trường cao đẳng nghề kỹ thuật công nghệ thành phố hồ chí minh
Hình 3.2 Đường tần suất hội tụ tiến của các lớp thực nghiệm và đối chứng (Trang 93)
Hình 3.1: Đường tần suất của các lớp thực nghiệm và đối chứng - Dạy học module máy điện theo định hướng sáng tạo kỹ thuật tại trường cao đẳng nghề kỹ thuật công nghệ thành phố hồ chí minh
Hình 3.1 Đường tần suất của các lớp thực nghiệm và đối chứng (Trang 93)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm