1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bồi dưỡng tư duy lý luận chính trị cho cán bộ cấp xã ở huyện sốp cộp tỉnh sơn la hiện nay

104 247 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong tình hình mới đòi hỏi Đảng ta phải xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp có đủ năng lực, trình độ, phẩm chất đạo đức và tư duy lý luận chính

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Văn Chín

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

Mã số : 60.22.03.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Văn Chín

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến PGS.TS Phạm Văn Chín - Người thầy đã tận tâm, nhiệt tình hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Đồng thời, em gửi lời cảm ơn đến Ban Chủ nhiệm khoa, tập thể cán bộ, giảng viên khoa Triết học, Trường Đại học sư phạm Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn

Cảm ơn gia đình, đồng nghiệp và các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể trực thuộc Huyện ủy, Uỷ ban nhân dân huyện Sốp Cộp đã luôn động viên, khích lệ, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua để tôi có thể hoàn thành tốt luận văn

Hà Nội, tháng 6 năm 2017

Tác giả

Trần Thị Hoài Thương

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ Triết học với đề tài “ Bồi dưỡng tư duy lý luận cho cán bộ cấp xã ở huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La hiện nay” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Phạm Văn Chín

Các số liệu trích dẫn và tài liệu tham khảo trong luận văn là hoàn toàn trung thực, có nguồn gốc rõ ràng

Tác giả

Trần Thị Hoài Thương

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU Error! Bookmark not defined

1 Lý do chọn đề tài Error! Bookmark not defined

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2

3 Mục đích nghiên cứu Error! Bookmark not defined

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu Error! Bookmark not defined

5 Giả thuyết khoa học Error! Bookmark not defined

6 Nhiệm vụ nghiên cứu Error! Bookmark not defined

7 Giới hạn, phạm vi nghiên cứu: 6

8 Phương pháp nghiên cứu Error! Bookmark not defined

9 Tóm tắt những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của Error! Bookmark not defined

10 Cấu trúc của luận văn Error! Bookmark not defined Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC BỒI DƯỠNG TƯ DUY LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO CÁN BỘ CẤP XÃ Ở HUYỆN SỐP CỘP TỈNH SƠN LA HIỆN NAY Error! Bookmark not defined 1.1 Cơ sở lý luận Error! Bookmark not defined

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản Error! Bookmark not defined 1.1.2 Thực chất của việc bồi dưỡng tư duy lý luận chính trị Error!

Bookmark not defined

1.1.3 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về bồi dưỡng tư duy lý luận

chính trị cho cán bộ Error! Bookmark not defined

1.2 Cơ sở thực tiễn Error! Bookmark not defined

1.2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa - xã hội của huyện Sốp

Cộp, tỉnh Sơn La Error! Bookmark not defined

1.2.2 Đặc điểm của đội ngũ cán bộ cấp xã của huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La

hiện nay Error! Bookmark not defined

1.2.3 Sự cần thiết phải bồi dưỡng tư duy lý luận chính trị cho cán bộ cấp xã ở

huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La hiện nay Error! Bookmark not defined Tiểu kết chương 1 Error! Bookmark not defined

Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM BỒI DƯỠNG TƯ DUY

LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO CÁN BỘ CẤP XÃ Ở HUYỆN SỐP CỘP TỈNH SƠN LA HIỆN NAY Error! Bookmark not defined

Trang 6

2.1 Thực trạng việc bồi dưỡng tư duy lý luận chính trị cho cán bộ cấp xã ở huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La hiện nay Error! Bookmark not defined

2.1.1 Những kết quả đã đạt được trong bồi dưỡng tư duy lý luận chính trị cho

cán bộ cấp xã ở huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La hiện nayError! Bookmark not

defined

2.1.2 Một số hạn chế trong việc bồi dưỡng tư duy lý luận chính trị cho cán bộ

cấp xã ở huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La hiện nay Error! Bookmark not

defined

2.1.3 Nguyên nhân của những của những thành tựu và hạn chế trong bồi dưỡng tư duy lý luận chính trị cho cán bộ cấp xã ở huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn

La hiện nay Error! Bookmark not defined

2.2 Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bồi dưỡng tư duy lý luận chính trị cho cán bộ cấp xã ở huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La hiện nayError! Bookmark not defined

2.2.1 Đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, nâng cao trình độ nhận

thức cho đội ngũ cán bộ Error! Bookmark not defined

2.2.2 Đổi mới công tác giáo dục lý luận chính trị đối với Trung tâm Bồi

dưỡng chính trị huyện Error! Bookmark not defined

2.2.3 Nâng cao trình độ lý luận chính trị cho cán bộ cấp xã gắn với tổng kết

thực tiễn Error! Bookmark not defined 2.2.4 Đổi mới cơ chế chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Error!

Bookmark not defined

Tiểu kết chương 2 Error! Bookmark not defined

KẾT LUẬN Error! Bookmark not defined DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Error! Bookmark not defined

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Cán bộ là cái gốc của mọi công việc; muôn việc thành công hay thất bại đều là do cán bộ tốt hay kém Vì vậy, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong tình hình mới đòi hỏi Đảng ta phải xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp có đủ năng lực, trình độ, phẩm chất đạo đức và tư duy lý luận chính trị sắc bén, từ đó đưa ra những quyết sách, những chủ trương phù hợp với điều kiện thực tiễn, nhằm đưa đất nước tiến kịp với xu thế chung của thời đại

Việc bồi dưỡng tư duy lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ có ý nghĩa quan trọng trong vấn đề phát triển kinh tế xã hội, an ninh, trật tự ở địa phương, thúc đẩy sự phát triển chung của toàn xã hội Cán bộ cơ sở có nắm chắc, hiểu sâu lý luận chính trị thì mới nắm vững các quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước để từ đó vận dụng sáng tạo và

cụ thể vào tình hình của địa phương Bồi dưỡng tư duy lý luận chính trị còn giúp cho đội ngũ cán bộ có cơ sở tổng kết hiệu quả thực tiễn từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu, góp phần vào việc sửa đổi, bổ sung, phát triển những chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước

Thực tiễn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ đã chứng minh, đội ngũ cán bộ nói chung và đội ngũ cán bộ xã nói riêng, có vai trò đặc biệt quan trọng trong các tổ chức đảng, nhà nước và các tổ chức chính trị xã hội ở cơ sở Họ là những người trực tiếp bám cơ sở, gần dân nên họ chính là cầu nối đặc biệt giữa Đảng với nhân dân Họ vừa là người lãnh đạo, vừa là người trực tiếp triển khai, tổ chức thực hiện, kiểm nghiệm tính đúng đắn khả thi các đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước Vì vậy, đội ngũ này phải là những người có lập trường giai cấp và lý luận

Trang 8

chính trị kiên định, có phẩm chất đạo đức và năng lực công tác, nhất là phải có trình độ lý luận chính trị vững vàng nhằm đáp ứng yêu cầu của cách mạng trong thời kỳ mới

Sốp Cộp là huyện biên giới đặc biệt khó khăn nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Sơn La với trên 120 km đường biên tiếp giáp với nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào Huyện có 8 đơn vị hành chính cấp xã với 127 bản Đội ngũ cán

bộ xã ở huyện Sốp Cộp nói chung luôn có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu, lý tưởng của Đảng Tuy nhiên, do là huyện miền núi với trên 93% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số, đời sống còn nhiều khó khăn, an ninh chính trị tiềm ẩn nhiều nguy cơ phức tạp nên đội ngũ cán bộ xã của huyện chủ yếu trưởng thành từ thực tế, còn thiếu kiến thức chuyên môn, lý luận chính trị nên trong nhận thức và chỉ đạo thường mắc phải bệnh kinh nghiệm, giáo điều Năng lực lãnh đạo và quản lý còn yếu, xử lý công việc máy móc, kém hiệu quả Điều này đã ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả hoạt động của cấp ủy và chính quyền địa phương

Để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, góp phần xây dựng thành công nông thôn mới thì đội ngũ cán

bộ xã phải không ngừng nghiên cứu, học tập nâng cao trình độ lý luận chính trị

Có như vậy mới nắm bắt được quy luật phát triển của thời đại, vận dụng một cách đúng đắn, sáng tạo, hiệu quả các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước vào địa phương mình lãnh đạo, quản lý Với những

lý do trên, tôi chọn đề tài “Bồi dưỡng tư duy lý luận chính trị cho cán bộ cấp

xã ở huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La hiện nay” làm luận văn thạc sĩ

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trang 9

Bồi dưỡng tư duy lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ là vấn đề đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu, tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau Liên quan đến vấn đề này cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu được công bố

Những năm đầu của thời kỳ đổi mới có rất nhiều tác giả với nhiều bài viết, công trình nghiên cứu đề cập tới vấn đề tư duy, năng lực tư duy của các nhà

lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các nhà khoa học Tiêu biểu như “Đổi mới tư duy và

phong cách tư duy” của Nguyễn Văn Linh, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987; “Năng lực tư duy lý luận trong quá trình đổi mới tư duy” của Nguyễn Ngọc Long, Tạp

chí Cộng sản số 10/1987; “Mấy vấn đề cấp bách về đổi mới tư duy lý luận” của

Học viện Nguyễn Ái Quốc năm 1988….Công trình này đã bàn tới vấn đề bản chất của tư duy, năng lực tư duy cũng như tính tất yếu và định hướng chủ yếu trong đổi mới tư duy ở nước ta

Khắc phục những căn bệnh thường thấy ở đội ngũ cán bộ nước ta như bệnh kinh nghiệm, giáo điều là nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết trong quá trình đổi mới tư duy, nâng cao năng lực, trình độ tư duy Nội dung này được bàn đến

trong các luận án, các tạp chí như luận án “Bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa ở đội

ngũ cán bộ nước ta trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội” của Trần Văn

Phòng, Học viên Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 1994; Lê Hữu Nghĩa

“ Một số căn bệnh trong tư duy của cán bộ ta”, Tạp chí Triết học, số 2/1988

phân tích nguồn gốc và biểu hiện của các căn bệnh này ở nước ta, từ đó đề ra các giải pháp khắc phục

Nghiên cứu việc đổi mới trong công tác giáo dục lý luận chính trị, tư tưởng

cho cán bộ bao gồm đổi mới cả nội dung và phương pháp giáo dục Tiêu biểu

Vũ Ngọc Am: “Đổi mới công tác giáo dục lý luận chính trị, tư tưởng cho cán bộ

cơ sở”, Nxb Chính trị quốc gia 2003; “Một số vấn đề đổi mới phương pháp giáo dục lý luận chính trị”, Nxb Thông tấn 2009; Nguyễn Thái Sơn “Đổi mới công

Trang 10

tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chủ chốt” Nhà xuất bản Lý luận chính

trị, 2001; Phạm Tất Thắng “Một số vấn đề trong đổi mới công tác tư tưởng, lý

luận”, Tạp chí Cộng sản, số 818 (tháng 12/2010); Phùng Hữu Phú “Đổi mới căn bản công tác nghiên cứu lý luận đáp ứng yêu cầu xây dựng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, Tạp chí Cộng sản, số 882 (tháng 4/2016); Vũ Văn Phúc

“Đổi mới và nâng cao chất lượng công tác lý luận trong điều kiện hiện nay”,

Tạp chí Cộng sản, số 888 (tháng 10/2016)

Vấn đề nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nói chung

và đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ các cấp, các tỉnh, vùng miền nói riêng cũng được rất nhiều tác giả quan tâm, nghiên cứu Tiêu biểu Nguyễn

Quốc Thanh “Công tác đào tạo lý luận chính trị và quản lý nhà nước cho cán

bộ cơ sở miền núi ở Quảng Trị” Tạp chí Lý ;uận chính trị, số 3/2005; Thủy Anh

“Nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ ở các Trường chính trị tỉnh, thành phố”,

Tạp chí Xây dựng Đảng, số 5/2005; Nguyễn Xuân Sơn “Tiếp tục nâng cao chất

lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý”, Tạp chí Xây dựng Đảng,

số 2 + 3/2008; Nguyễn Thị Lan Phương “Để nâng cao chất lượng công tác bồi

dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp”, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 10/2008;

Hầu A Lềnh “Công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho đội ngũ cán

bộ người dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc”, Tạp chí Cộng sản, số 11/2016

Đặc biệt cho đến nay, vấn đề nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp nói chung đã có rất nhiều công trình được công

bố Có thể kể đến các công trình tiêu biểu sau: “Nâng cao năng lực tư duy của

đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã hiện nay” của Hồ Bá Thâm, Nxb Chính trị quốc

gia, Hà Nội, 1995, đã làm rõ khái niệm năng lực tư duy và các yếu tố cấu thành, phương pháp và đặc trưng của tư duy một cách sâu sắc nhằm tìm ra bản chất,

quy luật, xu hướng tất yếu của sự vật vận động trong cuộc sống Công trình

“Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ

Trang 11

đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa” Nguyễn Phú Trọng – Trần Xuân Sầm,

Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001 Trong công trình này, tác giả đã nêu lên những vấn đề lý luận, phương pháp luận, quan điểm và giải pháp nâng cao trình

độ lý luận cho đội ngũ cán bộ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất

nước Tác giả Nguyễn Đức Quyền “Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội

ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Triết học, số 3

(166) tháng 3/2005 Bài viết đã đưa ra những nguyên tắc và giải pháp cơ bản để nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở nước

ta hiện nay; Tác giả Mai Đức Ngọc “Phát triển tư duy lý luận cho đội ngũ cán

bộ, đảng viên hiện nay”, Tạp chí Tuyên giáo, số 4/2017 Trong bài này, tác giả

đã chỉ ra sự cần thiết và con đường phát triển tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ, đảng viên ở nước ta hiện nay

Có thể thấy các công trình nghiên cứu trên đã đặt ra rất nhiều các vấn đề cả

về lý luận và thực tiễn, đánh giá đúng thực trạng và đề ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng bồi dưỡng tư duy lý luận chính trị cho cán bộ, công chức nhưng chỉ dành cho một số nhóm xã hội ở nước ta nói chung Còn đối với việc bồi dưỡng tư duy lý luận chính trị cho cán bộ cấp xã ở huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn

La hiện nay thì chưa có công trình nào trực tiếp đề cập, nghiên cứu một cách sâu sắc và toàn diện Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài này sẽ góp phần tích cực vào việc bồi dưỡng tư duy lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ, từng bước khắc phục tình trạng yếu kém về cả lý luận và thực tiễn của đội ngũ cán bộ xã ở huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La hiện nay

3 Mục đích nghiên cứu

Luận văn góp phần làm rõ cơ sở khoa học của việc bồi dưỡng tư duy lý luận chính trị cho cán bộ cấp xã ở huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La hiện nay; từ đó đánh giá được thực trạng và đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng

Trang 12

bồi dưỡng tư duy lý luận chính trị cho cán bộ cấp xã ở huyện Sốp Cộp tỉnh Sơn

4.2 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn chú trọng nghiên cứu việc bồi dưỡng tư duy lý luận chính trị cho cán bộ cấp xã trên địa bàn huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La hiện nay

5 Giả thuyết khoa học

Nghiên cứu việc bồi dưỡng tư duy lý luận chính trị cho cán bộ cấp xã ở huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La hiện nay sẽ góp phần quan trọng nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ ở cơ sở nói chung và đội ngũ cán bộ xã ở huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La hiện nay nói riêng

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

Làm rõ các khái niệm, chỉ ra vai trò, tầm quan trọng của việc bồi dưỡng

tư duy lý luận chính trị cho cán bộ xã ở huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La hiện nay

Đánh giá đúng thực trạng của việc bồi dưỡng trình độ lý luận chính trị cho cán bộ cấp xã ở huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La hiện nay Từ đó đề xuất giải pháp

cơ bản nhằm nâng cao chất lượng bồi dưỡng tư duy lý luận chính trị cho cán bộ

xã ở huyện Sốp Cộp

7 Giới hạn, phạm vi nghiên cứu:

Trang 13

Luận văn tập trung phân tích và làm sáng tỏ năng lực tư duy lý luận chính trị

và việc bồi dưỡng tư duy lý luận chính trị cho cán bộ cấp xã trên địa bàn huyện Sốp Cộp hiện nay, trọng tâm là giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2016

8 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của Triết học Mác – Lênin, đặc biệt nguyên lý về lý luận nhận thức và lôgíc học, quan điểm của Đảng về giáo dục và những thành tựu của các nhà nghiên cứu trong nước liên quan đến vấn đề nâng cao năng lực tư duy biện chứng

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phân tích và tổng

hợp, diễn dịch và quy nạp, lịch sử - lôgíc, hệ thống hoá, khái quát hoá, khảo sát

kết hợp với thống kê, so sánh, xử lý tài liệu…

9 Tóm tắt những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của

luận văn

9.1 Những luận điểm cơ bản

- Tư duy lý luận chính trị và thực chất của việc bồi dưỡng tư duy lý luận chính trị

- Bồi dưỡng tư duy lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ nói chung và cán

bộ xã nói riêng là nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và cấp ủy, chính quyền các cấp đặc biệt quan tâm

- Bồi dưỡng tư duy lý luận chính trị cho cán bộ cấp xã ở huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La hiện nay là đòi hỏi tất yếu khách quan

9.2 Những đóng góp mới của luận văn

- Về mặt lý luận:

Trang 14

+ Luận văn đã nghiên cứu một cách hệ thống các lý luận của việc bồi

dưỡng tư duy lý luận chính trị cho cán bộ cấp xã ở huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La

+ Luận văn chỉ ra thực trạng và giải pháp nhằm bồi dưỡng tư duy lý luận chính trị cho cán bộ cấp xã ở huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La

- Về mặt thực tiễn:

+ Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng

dạy lý luận chính trị ở các trung tâm Bồi dưỡng chính trị cấp huyện, trường Chính trị tỉnh

+ Ngoài ra có thể làm tài liệu tham khảo để xây dựng các kế hoạch, nghị quyết nhắm nâng cao chất lượng việc bồi dưỡng tư duy lý luận chính trị cho cán

bộ xã ở huyện Sốp Cộp nói riêng và các huyện miền núi của tỉnh Sơn La nói

chung

10 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, mục lục, nội

dung luận văn bao gồm 02 chương, 04 tiết

Trang 15

Có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về cán bộ nhưng về cơ bản, cán

bộ là khái niệm dùng để chỉ những người có chức vụ, vai trò, cương vị trong một tổ chức, có tác động ảnh hưởng đến hoạt động của tổ chức và quan hệ trong lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, điều hành góp phần định hướng sự phát triển của tổ chức Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng” [ 38, tr.269]

Theo Từ điển Tiếng Việt thì: cán bộ là người làm công tác nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan Nhà nước, đoàn thể; người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người không có chức vụ

Theo cách hiểu thông thường, cán bộ được coi là những người thoát ly, làm việc trong bộ máy chính quyền, đảng, đoàn thể và lực lượng vũ trang Trong đời sống hàng ngày, cán bộ là danh từ chung thường được người dân chỉ về những người là cán bộ, công nhân viên chức làm việc trong các cơ quan nhà nước nói chung Đó có thể là giáo viên, y tá, bác sỹ hay công chức các cơ quan, đoàn thể, là những người có quyền hành (cán bộ lãnh đạo, cán bộ cao cấp, cán

Trang 16

bộ quản lý, cán bộ nguồn ), hay đang xử lý, giải quyết một vụ việc cho người dân

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 4 của Luật Cán bộ, công chức năm

2008 thì “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [48, tr.7]

Ở nước ta hiện nay, đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị được chia thành nhiều cấp: cấp Trung ương; cấp tỉnh, thành phố; cấp quận, huyện; và cuối cùng

là cấp xã, phường, thị trấn Cán bộ ở xã, phường, thị trấn được gọi chung là cán

bộ cấp cơ sở

Cán bộ cấp cơ sở hay cán bộ xã là cán bộ có chức năng, nhiệm vụ tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, nhà nước cho phù hợp với tình hình thực tế ở địa phương

Cấp cơ sở là nơi nhân dân cư trú, sinh sống gắn bó chặt chẽ với các quan

hệ kinh tế, văn hóa, xã hội, huyết thống, phong tục tập quán và những sinh hoạt chung khác Nó có vị trí rất quan trọng trong hệ thống chính trị ở nước ta, đó là nơi trực tiếp giải quyết các mối quan hệ giữa nhà nước với nhân dân; cụ thể hóa các chỉ thị, nghị quyết, hướng dẫn của cấp trên Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay thì cấp cơ sở là nơi có tiềm năng, thế mạnh lớn

về kinh tế, sản xuất ra nhiều của cải vật chất, góp phần thúc đẩy sự phát triển chung của đất nước Người lãnh đạo, chỉ đạo việc thực hiện các nhiệm vụ trên ở

cơ sở chính là đội ngũ cán bộ ở cơ sở hay cán bộ cấp xã

Vậy cán bộ cấp xã là gì?

Trang 17

Theo khoản 3, Điều 4 Luật cán bộ, công chức năm 2008 quy định “Cán

bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân,

Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị

- xã hội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [48, tr.8]

Khoản 2, Điều 61 Luật cán bộ, công chức năm 2008 cũng quy định đội ngũcán bộ cấp xã ở nước ta hiện nay có các chức vụ sau:

Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ;

Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân;

Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân;

Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;

Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;

Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam;

Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn

có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam);

Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam [48, tr.36]

Với những vị trí trên có thể khẳng định đội ngũ cán bộ cấp xã có vai trò đặc biệt quan trọng, là lực lượng nòng cốt trong hệ thống chính trị ở cơ sở Họ phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ mà Luật cán bộ, công chức quy định, đó là: Trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ danh dự Tổ quốc và lợi ích quốc gia; tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân; liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến

Trang 18

và chịu sự giám sát của nhân dân; chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước Trong thực hiện nhiệm

vụ họ phải: Thực hiện đúng, đầy đủ và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao; có ý thức tổ chức kỷ luật, nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức, đơn vị, báo cáo người có thẩm quyền khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; bảo vệ bí mật nhà nước; chủ động và phối hợp chặt chẽ trong thi hành công vụ; giữ gìn đoàn kết trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; bảo vệ, quản lý và sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài sản nhà nước được giao; chấp hành quyết định của cấp trên và các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật Họ chính là những người phụ trách chính trong một tổ chức, một tập thể, quyết định đến việc thực hiện các nhiệm vụ, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương và họ cũng chính là những người “đứng mũi chịu sào”, chịu trách nhiệm trước Đảng, trước nhân dân trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội ở cơ

sở

1.1.1.2.Tư duy và tư duy lý luận chính trị

Tư duy là quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết

Xét về thực chất tư duy là chức năng đặc biệt, riêng có của bộ óc con người Đó là quá trình ý thức của con người tiếp cận và nắm bắt hiện thực Là hình thức cao của sự phản ánh tích cực, chủ động, có mục đích về hiện thực khách quan và được biểu hiện là sự nhận thức có tính trung gian gián tiếp, khái quát về các mối quan hệ của sự vật và hiện tượng Tư duy với tư cách là thuộc tính không thể thiếu trong hoạt động chủ quan của con người được thể hiện trong hoạt động sáng tạo và trong việc dự đoán các sự kiện, hiện tượng của Thế

Trang 19

giới Nó được xuất hiện, hiện thực hóa trong quá trình đặt ra và giải quyết các vấn đề của lý luận và thực tiễn con người

Tư duy là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc con người Hoạt động của bộ óc con người phản ánh hiện thực khách quan qua các hình thức: khái niệm, phán đoán, suy luận… thông qua các phương pháp: so sánh, phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa… Xét về thực chất thì

tư duy là hoạt động đặc biệt của quá trình con người phản ánh thế giới, là quá trình phản ánh dựa trên sự hoạt động của bộ não nhằm nhận thức bản chất, quy luật vận động của thực tại khách quan và định hướng quan hệ đối với thực tại khách quan đó Những quy luật của tư duy chính là sự phản ánh các quy luật của thực tại khách quan Từ những hình ảnh của sự vật, hiện tượng trong thế giới do cảm giác mang lại được tư duy lựa chọn, loại bỏ những mặt, những yếu tố bên ngoài, ngẫu nhiên trên cơ sở sáng tạo để tìm ra những cái cơ bản, tất yếu, những quan hệ bản chất, bên trong mang tính quy luật Từ đó, hình thành lên những khái niệm, phạm trù tương ứng với các mặt, các quan hệ tất yếu của chúng, xây dựng lên hình ảnh mới, những quy luật khái quát xu hướng vận động và phát triển của các sự vật Với ý nghĩa như vậy, tư duy chỉ có ở con người, là trình độ cao nhất của nhận thức trong quá trình phản ánh thế giới khách quan Nhưng đó không phải là sự phản ánh thụ động, phụ thuộc mà con người tác động và phản ánh thế giới một cách chủ động và sáng tạo

Nếu con người chỉ dừng lại ở các hình thức như cảm giác, tri giác…thì nhận thức của con người rất hạn chế, bởi vì họ không thể bằng các hình thức đó

mà hiểu được những vấn đề phức tạp hơn trong tự nhiên cũng như trong hiện thực xã hội Với tư cách là kết quả của sự vận động, năng động của ý thức, tư duy bao giờ cũng là sự phản ánh trung gian, gián tiếp, khái quát tích cực về thế giới khách quan, ở giai đoạn cao của nhận thức, sự vật được phản ánh một cách gián tiếp, khái quát trong các khái niệm, phán đoán thông qua các thao tác trung

Trang 20

gian hóa, trừ tượng hóa và khái quát hóa Nhờ các thao tác này, tư duy đã thể hiện được sức mạnh của mình

Tư duy là sự phản ánh khái quát và gián tiếp hiện thực khách quan, đó là quá trình năng động, sáng tạo Tính sáng tạo của tư duy là ở chỗ nó mang lại những tri thức mới về bản chất, cái bên trong, những quy luật của hiện thưc khách quan vốn rất đa dạng, phong phú và biến đổi không ngừng Nhờ tính sáng tạo mà tư duy phân tích và phân loại sự vật, nắm bắt những tri thức ẩn chứa bên trong sự vật, hiện tượng Tư duy giúp con người hiểu đúng về sự vật và đưa ra những biện pháp để tác động chính xác vào chúng Nhờ bản chất sáng tạo mà tư duy là quá trình luôn tìm đến cái mới, nhận thức ngày càng đúng đắn và đầy đủ hơn về thế giới khách quan

Tư duy xuất hiện, biến đổi và phát triển trong quá trình hoạt động thực tiễn của con người Thực tiễn là cơ sở, động lực và tiêu chuẩn kiểm tra sự đúng sai của tư duy Mục đích của tư duy hướng đến là phục vụ cho thực tiễn; quá trình tư duy sẽ tìm ra những cách thức để hiện thực hóa mình thông qua hoạt động thực tiễn của con người Để có thể tác động và biến đổi hiện thực con người phải nhận thức và hiểu biết về nó Việc tác động, biến đổi hiện thực là cơ

sở cho nhận thức, tư duy mang tính sáng tạo và phát triển không ngừng Bởi vì xuất phát từ hoạt động làm biến đổi hiện thực đó mà các sự vật, hiện tượng trong thế giới hiện thực bộc lộ các thuộc tính, tính chất… Trên cơ sở đó, con người mới hiểu biết về sự vật, hiện tượng Đây là quá trình không có giới hạn cuối cùng của hoạt động nhận thức của con người Hơn nữa hoạt động của tư duy còn

là hoạt động sử dụng, kết hợp các khái niệm để sáng tạo ra các khái niệm mới, phản ánh các quan hệ tất yếu, các quy luật vận động, phát triển của thế giới khách quan Đồng thời hoạt động của tư duy cũng là quá trình vận dụng tri thức thu được vào hoạt động thực tiễn của con người, làm cho hoạt động đó phát triển, từ đó mà tư duy lý luận cũng không ngừng phát triển Chính vì thế cả nội

Trang 21

dung, hình thức của tư duy đều phụ thuộc vào thực tiễn lịch sử xã hội Lịch sử không phải bắt đầu từ tư duy mà chính là từ hoạt động thực tiễn của con người Trong đó, hoạt động sản xuất ra của cải vật chất là nền tảng cho sự tồn tại và phát triển của xã hội, là hoạt động cơ bản nhất Hoạt động này càng phát triển thì

tư duy, trí tuệ của con người cũng phát triển theo

Như vậy thông qua hoạt động thực tiễn của mình, con người đã chủ động nhận thức và cải tạo thế giới Tư duy của con người là do hiện thực khách quan quy định; nhưng hoạt động thực tiễn của con người lại là cơ sở, động lực cơ bản cho sự xuất hiện và phát triển của tư duy Thực tiễn cũng là tiêu chuẩn để kiểm tra, điều chỉnh quá trình tư duy, xác nhận cho tính đúng đắn của tư duy, loại bỏ những sai lầm, tạo sự phát triển liên tục của tư duy con người

Tư duy của con người luôn mang tính sáng tạo, hoạt động của tư duy luôn vươn tới những giá trị mới thông qua hoạt động nhận thức và thực tiễn Khi hoạt động thực tiễn còn ở mức độ thấp thì ứng với nó là tư duy ở trình độ thấp Khi hoạt động thực tiễn đạt đến trình độ cao hơn thì phương pháp, trình độ tư duy cũng được nâng cao

Ở trình độ tư duy, sự vật được phản ánh khái quát trong các hình thức khái niệm, phán đoán, suy luận Tư duy luôn gắn liền với ngôn ngữ, tư duy phải được diễn đạt thành ngôn ngữ, bởi vì đó là hiện thực trực tiếp của tư tưởng, là phương tiện để diễn đạt kết quả của nhận thức, để lưu giữ và tiếp tục phát triển kết quả của nhận thức Nhờ thế mà con người có thể sáng tạo ra những khái niệm và những phạm trù khoa học, nêu lên những quy luật của các khoa học và

vì thế mà hiểu biết sâu sắc hơn bản chất của các sự vật Nếu không có ngôn ngữ

sẽ không có phương tiện để biểu đạt tư duy và tư tưởng của loài người không thể lưu giữ, kế thừa và phát triển được

Trang 22

Thế giới là vô cùng, vô tận, thực tiễn luôn đổi mới Điều đó đòi hỏi tư duy phải năng động, không ngừng sáng tạo để tìm ra những cái mới, những tình huống có vấn đề trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, từ đó đưa ra những giải pháp đáp ứng cho nhu cầu của cuộc sống Vì vậy, tư duy là một quá trình vô tận, vận động và phát triển không ngừng Tư duy của con người không phải là bất biến mà nó có quá trình biến đổi và phát triển để đạt tới trình độ cao hơn Theo Ăngghen, tư duy của con người vừa tối cao, vừa không tối cao Xét theo sự thực hiện cá biệt - chủ thể cụ thể của tư duy thì nó không tối cao và có hạn Xét theo bản tính và khả năng thì tư duy của con người là tối cao và vô hạn Khi đề cập đến khả năng nhận thức của con người, chủ nghĩa Mác - Lênin đã cho rằng, chỉ

có những cái con người chưa biết chứ không có cái con người không thể biết

Tư duy là sản phẩm của lịch sử, nó xuất hiện trong lịch sử, cùng với quá trình hoạt động thực tiễn của con người Đó là sự kết hợp giữa sự kế thừa các lối

tư duy truyền thống với lối tư duy hiện tại Vì vậy, ở những thời đại khác nhau, với những điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau, thì trình độ của tư duy cũng ở những mức độ khác nhau

Tư duy là sự phản ánh khái quát, gián tiếp hiện thực khách quan, những mối liên hệ bản chất bên trong của sự vật, đem lại những tri thức mới về tính quy luật chi phối sự vận động và phát triển của sự vật Tư duy là quá trình sáng tạo lại hiện thực dưới dạng tinh thần, là sự tìm tòi những nhận thức mới và không ngừng bổ sung phát triển các nhận thức đó trên cơ sở hoạt động thực tiễn của con người Tư duy của con người không bất biến mà ngược lại nó phát triển không ngừng, luôn vươn tới những nhận thức mới Tư duy thuộc hoạt động nhận thức ở trình độ cao

Theo Từ điển Tiếng Việt “Lý luận là hệ thống những tư tưởng được khái quát từ những kinh nghiệm thực tiễn, có tác dụng chỉ đạo thực tiễn Lý luận là

Trang 23

những kiến thức được khái quát và hệ thống hóa trong lĩnh vực nào đó” [44, tr.544-545]

Chủ tịch Hồ Chí Minh lại cho rằng “Lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử” [38, tr.789]

Theo Triết học Mác - Lê nin thì lý luận là một hệ thống các tri thức được khái quát từ những kinh nghiệm thực tiễn phản ánh những mối quan hệ bản chất, tất nhiên, mang tính quy luật của sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan và được biểu đạt bằng hệ thống các khái niệm, phạm trù, nguyên lý, quy luật…Ngày nay, lý luận được hiểu là “Hệ thống các quan điểm, tư tưởng được khái quát từ thực tiễn, từ thế giới khách quan” [41, tr.54]

Tuy có nhiều cách định nghĩa khác nhau về lý luận nhưng tất cả đều khẳng định lý luận được hình thành từ thực tiễn, là sự tổng hợp các tri thức về tự nhiên, xã hội của con người và nó có vai trò chỉ đạo hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn Từ những quan điểm trên có thể hiểu lý luận theo nghĩa chung

nhất, đó là hệ thống những tri thức được khái quát từ những kinh nghiệm thực

tiễn, phản ánh những mối liên hệ bản chất, tất nhiên, tính quy luật của sự vật, hiện tượng trong thế giới hiện thực và được biểu đạt bằng hệ thống nguyên lý, quy luật, phạm trù

Nhờ có lý luận khoa học chỉ đạo hoạt động thực tiễn nên con người tạo ra nhiều lĩnh vực, nhiều ngành khoa học khác nhau Mỗi lĩnh vực, mỗi ngành đều

có mục đích và đối tượng nghiên cứu riêng như kinh tế, văn hóa, chính trị…trong đó lĩnh vực chính trị đóng vai trò là trụ cột đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc Vậy chính trị là gì?

Cũng như lý luận, có rất nhiều các quan điểm khác nhau về chính trị Khổng Tử là nhà một trong những nhà tư tưởng đầu tiên có cách tiếp cận riêng

Trang 24

về vấn đề chính trị Theo ông, chính trị là cách cai trị của người cầm quyền, quân tử, người cầm quyền cần học tính kỷ luật để cai trị người dân của mình và nên đối xử với họ bằng tình thương và sự quan tâm

Chính trị theo tiếng Hy Lạp có nghĩa là những công việc liên quan đến thành bang, những công việc của quốc gia “Là nghệ thuật cai trị đất nước” [ 10, tr.7]

Bách khoa Triết học lại cho rằng “chính trị - theo nguyên nghĩa của nó là những công việc của nhà nước, là phạm vi hoạt động gắn với những quan hệ giai cấp, dân tộc và các nhóm xã hội khác nhau mà hạt nhân của nó là vấn đề giành, giữu và bảo vệ đất nước” [1, tr.507]

Lê nin lại khẳng định “chính trị là sự biểu hiện tập trung kinh tế” [32, tr.349]

Ngoài ra còn có rất nhiều các định nghĩa khác nhau về chính trị như: chính trị là hệ thống các chính sách và sách lược hành động của các giai cấp hay chính trị là hoạt động cai trị của con người, một tập đoàn hoặc một cá nhân nhất định triển khai xung quanh quyền lực nhà nước…

Từ những quan điểm trên có thể khái quát về chính trị như sau: chính trị

là những vấn đề về điều hành bộ máy nhà nước hoặc những hoạt động của giai cấp, chính đảng nhằm giành hoặc duy trì hoạt động quản lý nhà nước

Như vậy, tựu chung lại có thể hiểu lý luận chính trị là các lý luận trong

lĩnh vực chính trị bao gồm hệ thống các quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách…của một chính đảng, một giai cấp nhằm giành, giữ và thực thi quyền lực nhà nước

Tư duy lý luận là hình thức cao nhất của tư duy, nó chính là quá trình phản ánh hiện thực khách quan một cách gián tiếp, mang tính trừu tượng và khái

Trang 25

quát cao bằng các khái niệm, phạm trù, quy luật Ở đó, chủ thể nhận thức sử dụng ngôn ngữ và các thao tác tư duy để nắm bắt các mối liên hệ mang tính bản chất, tìm ra các quy luật vận động bên trong khách thể nhận thức.

So với tư duy kinh nghiệm, tư duy lý luận đóng một vai trò hết sức to lớn trong nhận thức và cải tạo thế giới Nhờ có tư duy lý luận mà con người mới phát hiện ra được các quy luật vận động và phát triển của hiện thực khách quan Hướng sự vận động đó vào phục vụ lợi ích của con người Ph.Ăngghen từng nói rằng: “Một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lý luận”.

Tư duy lý luận chính trị khoa học là tư duy lý luận chính trị mácxít Về thực chất, đó là tư duy biện chứng duy vật khoa học (cả trong tự nhiên lẫn trong

xã hội) - một hình thái tư duy được hình thành trên cơ sở tổng kết những kinh nghiệm thực tiễn, những tri thức khoa học mà loài người đã đạt được từ xưa đến nay và luôn được vận dụng vào thực tiễn sinh động, phong phú để không ngừng

bổ sung, hoàn thiện và phát triển Ngoài ra, tư duy lý luận phải được gắn liền với

sự phát triển của khoa học, bởi lẽ theo Ph.Ăngghen “Cứ mỗi lần khoa học đạt được thành tựu mới thì triết học phải thay đổi hình thức tồn tại của chính mình” Việc gắn tư duy lý luận với sự phát triển của khoa học giúp cho tư duy nắm được các mối liên hệ bên trong của các sự vật, hiện tượng Hơn nữa, các thành tựu của khoa học tự nhiên đã mang lại những cơ sở khách quan, những kết luận chung cho tư duy lý luận Ph.Ăngghen chỉ rõ: Những thành tựu khoa học tự nhiên hiện đại đã chẳng bắt buộc bất kỳ một người nghiên cứu các vấn đề lý luận cũng phải thừa nhận chúng, bắt buộc với một sức mạnh khiến các nhà khoa học tự nhiên hiện đại dù họ muốn hay không phải tiến tới những kết luận lý luận chung, đó sao?" Sự phát triển của khoa học nói chung và những phát minh mới trong khoa học nói riêng sẽ làm mất đi một số khái niệm và đồng thời xuất hiện

Trang 26

một số khái niệm mới Đó chính là quá trình làm sâu sắc thêm về tư duy nhờ đó được những hình thức diễn đạt bằng lời tương ứng

1.1.1.3 Bồi dưỡng tư duy lý luận chính trị cho cán bộ cấp xã

Tư duy biện chứng là hình thức cao nhất của tư duy lý luận và phương pháp biện chứng duy vật như là điều kiện không thể thiếu để hình thành tư duy

lý luận Sự nghiệp đổi mới ở nước ta ngày càng đi vào chiều sâu, đặt ra nhiều vấn đề mới, đòi hỏi đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp ở nước ta nói chung và đội ngũ cán bộ xã nói riêng phải được bồi dưỡng tư duy lý luận, không ngừng phát triển tư duy lý luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh

Tư duy lý luận có vai trò quan trọng trong đời sống, đặc biệt là đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý Với vị trí đặc thù của mình, đội ngũ cán bộ xã có vai trò quan trọng trong việc tổ chức, triển khai thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, họ cần phải có trình độ và năng lực tư duy lý luận nhất định mới hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ của mình

Việc bồi dưỡng tư duy lý luận chính trị cho cán bộ là vấn đề đã được nhiều nhà nghiên cứu lý luận ở nước ta quan tâm, nghiên cứu Rất nhiều công trình nghiên cứu khá sâu sắc về tư duy, tư duy lý luận và việc bồi dưỡng, nâng cao trình độ tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ các cấp đã được công bố và góp phần vào việc nâng cao hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị và năng lực tư duy lý luận ở nước ta thời gian qua Bồi dưỡng tư duy lý luận chính trị cho cán bộ là bồi dưỡng khả năng tư duy về những vấn đề chung, tổng thể, nắm bắt đối tượng trong tính chỉnh thể của sự tồn tại, vận động và phát triển; bồi dưỡng những kiến thức chung, cơ bản nhất mang tính lý luận của chủ nghĩa Mác

- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh Đó là bồi dưỡng khả năng tư duy khoa học, sáng tạo trong sử dụng các khái niệm, phạm trù để phân tích, so sánh, tổng hợp, khái

Trang 27

quát nhằm mang lại những tri thức mới chính xác, lôgíc và có hệ thống , phù hợp với quy luật của hiện thực khách quan Việc bồi dưỡng tư duy lý luận chính trị cho cán bộ có sức mạnh đưa lý luận vào cuộc sống, cụ thể hoá lý luận thành mục tiêu, phương hướng, biện pháp để giải quyết các vấn đề một cách hiệu quả

Bồi dưỡng tư duy lý luận chính trị cho cán bộ xã vừa chịu ảnh hưởng bởi các điều kiện của thực tại khách quan, vừa bị ảnh hưởng bởi các nhân tố chủ quan của chủ thể nhận thức Nó phụ thuộc nhiều yếu tố như: năng lực bẩm sinh, trình độ nhận thức, năng lực hoạt động thực tiễn của mỗi người, quá trình đào tạo, bồi dưỡng, điều kiện kinh tế, văn hoá, khoa học… của xã hội

Việc bồi dưỡng tư duy lý luận chính trị cho cán bộ xã ở nước ta hiện nay

có nhiều nét đặc trưng, đòi hỏi đội ngũ cán bộ xã cần phải có trình độ và năng lực tư duy lý luận chính trị nhất định mới có thể hoàn thành tốt chức trách và nhiệm vụ của mình

Hoạt động lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ xã là trực tiếp chỉ đạo, hướng dẫn cho đảng viên và các tầng lớp nhân dân thực hiện các nhiệm vụ về phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng, xây dựng hệ thống chính trị ; đồng thời lãnh đạo triển khai kịp thời, có hiệu quả các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến mỗi người dân tại địa phương mình lãnh đạo, quản lý Thông qua công tác lãnh đạo, quản lý, và nắm bắt khả năng thực hiện, vận dụng sáng tạo các chủ trương, chính sách vào thực tiễn, công tác tổng kết thực tiễn để rút ra những bài học kinh nghiệm, trong quá trình triển khai các chủ trương, chính sách vào thực tiễn, đội ngũ cán bộ xã lấy đó làm cơ sở để

đề xuất các giải pháp khắc phục, điều chỉnh nhằm thực hiện có hiệu quả các chủ trương, đường lối, chính sách đó trong phạm vi đơn vị mình quản lý

Trong hoạt động lãnh đạo, quản lý người cán bộ xã phải đề ra những kế hoạch, biện pháp, quyết định đúng đắn, thể hiện năng lực và trí tuệ của người

Trang 28

cán bộ chủ chốt, phản ánh được sự chỉ đạo toàn diện, thống nhất, sự phối hợp giữa các tổ chức, đoàn thể chính trị ở địa phương Do đó, đội ngũ cán bộ xã,một mặt, phải nắm vững đường lối, chủ trương, chính sách của cấp trên;mặt khác, phải hiểu rõ thực tế từng thôn, bản, nắm chắc tình hình cơ sở, đặc điểm từng địa bàn, lĩnh vực mình phụ trách để qua đó, triển khai, vận dụng đúng đắn và phù hợp quan điểm chỉ đạo của cấp trên vào thực tiễn địa phương, đơn vị

Để hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, người cán bộ xã phải nắm vững chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, trên cơ sở đó vận dụng sáng tạo vào thực tế ở địa phương Đồng thời, trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo, phải lắng nghe, kịp thời thu thập và xử lý các thông thông tin từ đời sống thực tiễn một cách khoa học, chính xác để từ đó vận dụng, điều chỉnh công tác lãnh đạo, quản lý trên địa bàn Chính vì thế, cán bộ xã nhất thiết phải có năng lực tư duy lý luận Và để có năng lực tư duy lý luận thì họ phải thường xuyên nâng cao trình độ hiểu biết về cả khoa học và thực tiễn, phải

có sự hiểu biết sâu sắc về lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng

Việc bồi dưỡng tư duy lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ xã có vai trò rất quan trọng đối với việc lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý thực hiện nhiệm vụ của chính họ

Tư duy lý luận chính trị giúp cán bộ xã nâng cao nhận thức và vận dụng sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện thắng lợi những nghị quyết, chủ trương, chính sách nhằm thúc đẩy sự phát triển của địa phương, đơn vị Nó còn giúp cho cán bộ xã nâng cao khả năng nắm bắt, đánh giá tình hình, tổng kết thực tiễn, tìm ra nguyên nhân của thành công và thất bại, rút ra bài học kinh nghiệm, định hướng cho hoạt động nhận thức và thực tiễn tiếp theo

Trang 29

Ngoài ra, việc bồi dưỡng tư duy lý luận chính trị còn giúp cho cán bộ xã hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ, chủ động trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ Chính vì vậy, tư duy lý luận chính trị được coi là điều kiện, là nền tảng cơ bản tạo nên bản lĩnh và phẩm chất của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã trước những đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng

Thực tiễn cho thấy, phần lớn đội ngũ cán bộ xã nói chung và cán bộ xã ở huyện Sốp Cộp nói riêng còn rất hạn chế về năng lực tư duy lý luận cũng như trình độ lý luận chính trị Vì thế, việc bồi dưỡng tư duy lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ xã hiện nay là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài và mang ý nghĩa chiến lược trong công tác cán bộ

1.1.2 Thực chất của việc bồi dưỡng tư duy lý luận chính trị

1.1.2.1 Nâng cao nhận thức chính trị

Trong thời gian gần đây, cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ,

sự kết nối nhanh và rộng khắp của các mạng xã hội, các thế lực thù địch và một

số phần tử cơ hội đã lợi dụng sự kém hiểu biết của một bộ phận nhân dân, đặc biệt đồng bào ở các vùng núi, vùng sâu, vùng xa để tuyên truyền, phát tán trên các phương tiện thông tin nghe, nhìn một số trang web và mạng xã hội những thông tin có nội dung bôi xấu, vu khống, xuyên tạc sự thật, phê phán chế độ, đi ngược lại các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước nhằm hạ thấp uy tín của một số tổ chức cũng như những cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước Báo cáo chính trị tại Đại hội Đại biểu lần thứ XII của Đảng đã chỉ rõ: “

“nguy cơ diễn biến hòa bình” của thế lực thù địch nhằm chống phá nước ta; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức…” [17, tr.19] Chính vì vậy, hơn lúc nào hết chúng ta cần phải quan tâm

Trang 30

bồi dưỡng lý luận, nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân nói chung

Muốn vậy, cần tăng cường và nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, trong đó tập trung công tác tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước Để công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân đạt hiệu quả cao trước hết cần ưu tiên bồi dưỡng, giáo dục chính trị, tư tưởng cho đội ngũ cán bộ, đặc biệt là đội ngũ cán bộ xã Việc giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước

đã trang bị cho đội ngũ cán bộ những kiến thức cơ bản, quan trọng nhất về lý luận để trên cơ sở đó, người cán bộ có nền tảng kiến thức nhất định phục vụ cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý ở địa phương, đơn vị mình phụ trách

Ngoài việc tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước cho đội ngũ cán bộ thì cũng cần phải tiếp tục đẩy mạnh việc học tập làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo tinh thần Chỉ thị 05-CT/TW ngày 15.5.2016 của Bộ Chính trị; Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”; tiếp tục đổi mới việc học tập, quán triệt các chỉ thị, nghị quyết của Đảng theo hướng thiết thực, phù hợp với từng đối tượng Đổi mới công tác tuyên truyền các sự kiện chính trị, xã hội, các ngày lễ lớn của đất nước Đây là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân mà cơ bản và đóng vai trò quan trọng là đội ngũ cán bộ ở cơ sở Đẩy mạnh công tác giáo dục, tuyên truyền, gương mẫu thực hiện gắn liền với việc thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn thuộc lĩnh vực được phân công phụ trách

Trang 31

Kịp thời nắm tình hình diễn biến tư tưởng, tâm trạng trong cán bộ, đảng viên và nhân dân để định hướng dư luận xã hội và giải quyết tốt yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của cán bộ, đảng viên và nhân dân, tạo sự thống nhất cao về tư tưởng và hành động trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội Cấp cơ sở là cấp thực hiện các nhiệm vụ, chương trình, chủ trương mà cấp ủy và chính quyền cấp trên đề ra Vì thế, cán bộ cơ sở phải thường xuyên, chủ động nắm tình hình tư tưởng, tâm trạng của nhân dân Kịp thời nhận, xử lý hoặc xin ý kiến cấp trên khi tình hình dư luận có diễn biến phức tạp phát sinh

Nâng cao chất lượng, hiệu quả tuyên truyền các chỉ thị, nghị quyết, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đảm bảo chính xác, trung thực, gắn

“xây” với “ chống”; coi trọng việc nêu gương, cổ vũ, nhân rộng gương người tốt việc tốt; tránh xu hướng thương mại hóa, phiến diện một chiều, thông tin sai lệch; chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm, thông tin, luận điệu sai trái của các thế lực thù địch

Đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước; phát hiện và nhân rộng các điển hình tiên tiến, các nhân tố mới, các cá nhân có nhiều thành tích trong các hoạt động; thực hiện phương châm “ lấy cái đẹp, dẹp cái xấu” đẩy mạnh đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí Thực hiện tốt việc xây dựng văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước

1.1.2.2 Nâng cao năng lực tổng kết thực tiễn

Thực tiễn bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp (pratica) có nghĩa là hoạt động tích cực, chủ động Trong lịch sử triết học có rất nhiều các quan điểm khác nhau về thực tiễn Như: thực tiễn là hoạt động thực nghiệm khoa học trong phòng thí nghiệm hay thực tiễn chỉ là những hành động bẩn thỉu mang tính chất con buôn Bằng tư duy biện chứng, kế thừa những yếu tố hợp lý và khác phục những hạn chế, thiếu sót trong quan điểm về thực tiễn của các nhà triết học trước đó, Mác

Trang 32

và Ăng - ghen đã đưa ra một quan niệm đúng đắn, khoa học về thực tiễn và vai trò của nó đối với nhận thức cũng như đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người Theo Mác, quan hệ đầu tiên của con người đối với giới tự nhiên là quan hệ thực tiễn Như vậy, Mác đã khẳng định rằng con người luôn tác động vào thế giới xung quanh Nếu con vật chỉ hoạt động theo bản năng, nhằm thích nghi một cách thụ động với thế giới bên ngoài thì con người nhờ vào thực tiễn như hoạt động có mục đích, có tính xã hội của mình mà cải tạo thế giới để thỏa mãn nhu cầu của mình, thích nghi một cách chủ động, tích cực với thế giới để làm chủ thế giới Sự khác biệt căn bản giữa con người với thực thể tự nhiên là ở chỗ con người có khả năng nhận thức được thế giới khách quan và không ngừng tác động vào thế giới khách quan để biến đổi, cải tạo nó phục vụ theo nhu cầu và mục đích của mình Để tác động vào thế giới khách quan một cách tích cực, sáng tạo đòi hỏi con người phải có nhận thức Bởi nhận thức là hoạt động đặc trưng của con người, nó được biểu hiện trong mối quan hệ với thực tiễn Hay nói cách khác, nhận thức nảy sinh, tác động từ thực tiễn và vì thực tiễn của con người Lênin nhận xét trong cuốn Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán: “Quan điểm về đời sống, về thực tiễn phải là quan điểm thứ nhất và

cơ bản của lý luận về nhận thức” Theo triết học Mác: Thực tiễn là một phạm trù triết học dùng để chỉ toàn bộ những hoạt động vật chất cảm tính, có mục đích, mang tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải tạo thế giới tự nhiên và xã hội phục vụ con người

Hoạt động thực tiễn là hoạt động bản chất của con người, chỉ thông qua thực tiễn con người mới nhận thức, cải tạo được thế giới khách quan Tuy nhiên, quá trình hoạt động thực tiễn đó đòi hỏi con người phải biết tổng kết, rút kinh nghiệm để từ đó tìm ra phương án tối ưu nhất cho hoạt động thực tiễn tiếp theo Trong hoạt động lãnh đạo quản lý cũng vậy, đòi hỏi người lãnh đạo, quản lý phải biết tổng kết thực tiễn để thấy được mặt nào đã làm được, mặt nào chưa

Trang 33

làm được hay còn hạn chế để từ đó rút ra những kinh nghiệm cho hoạt động thực tiễn tiếp theo được tốt hơn Vậy, thế nào là tổng kết thực tiễn?

Để hiểu được tổng kết thực tiễn là gì trước hết phải xuất phát từ tổ chức thực tiễn Tổ chức thực tiễn là một hệ thống khép kín bao gồm trong đó các khâu, các bước: chuẩn bị và ra quyết định, tổ chức bộ máy và con người để thực hiện quyết định, kiểm tra việc thực hiện, tổng kết rút kinh nghiệm

Như vậy, tổng kết thực tiễn là một khâu trong hoạt động tổ chức thực tiễn, đây là một quá trình bằng tư duy khoa học với phương pháp biện chứng duy vật làm cơ sở để phân tích, đánh giá, khái quát thực tiễn, rút ra những bài học kinh nghiệm cho chỉ đạo hoạt động thực tiễn tiếp theo cũng như kiểm tra, bổ sung, hoàn thiện, phát triển lý luận và đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước Tổng kết thực tiễn là khâu cuối cùng của chu trình tổ chức thực tiễn, đồng thời lại là khâu mở đầu cho chu trình tổ chức thực tiễn tiếp theo Tổng kết thực tiễn

có vai trò to lớn trong việc bổ sung, hoàn thiện, phát triển lý luận, khắc phục bệnh kinh nghiệm, giáo điều Do có vai trò hết sức to lớn như vậy cho nên chúng ta không thể xem tổng kết thực tiễn như là sự mô tả về những gì đã diễn

ra, liệt kê những ưu, khuyết điểm, những đánh giá chung chung…Phải thấy tổng kết thực tiễn là thể hiện khả năng phân tích, đánh giá vấn đề, khả năng thu thập

và xử lý thông tin có hiệu quả hay không; vấn đề tổng kết có đi vào trọng tâm, trọng điểm, có tính khái quát cao hay chưa; kiểm tra việc thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước có chính xác, khách quan hay không…để từ đó khái quát, rút ra được những vấn đề cơ bản, cốt lõi, nhằm sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, phát triển lý luận, rút ra những bài học kinh nghiệm nhằm chỉ đạo các hoạt động thực tiễn tiếp theo

Trang 34

Tổng kết thực tiễn tuy là một khâu của chu trình tổ chức thực tiễn nhưng bản thân nó không phải là thực tiễn mà là hoạt động trí tuệ của chủ thể tiến hành tổng kết thực tiễn Cho nên trong quá trình tổng kết thực tiễn đòi hỏi chủ thể phải biết thu thập, xử lý thông tin, biết lựa chọn vấn đề để tổng kết, từ đó bằng

tư duy khoa học và phương pháp duy vật biện chứng tiến hành phân tích, đánh giá, khái quát hóa để rút ra những bài học ở trình độ lý luận Hiệu quả của tổng kết thực tiễn đạt đến mức độ nào, cao hay thấp, khách quan hay không khách quan, theo hướng tích cực hay tiêu cực, qua tổng kết rút ra được những bài học kinh nghiệm gì cho chỉ đạo thực tiễn tiếp theo, có khắc phục được bệnh kinh nghiệm, giáo điều, chủ quan, duy ý chí hay không…Điều đó còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhưng trước hết là năng lực tổng kết của chủ thể tiến hành tổng kết thực tiễn Tổng kết thực tiễn có vai trò hết sức quan trọng, tuy nó là một khâu trong quá trình tổ chức thực tiễn nhưng bản thân nó cũng thực hiện một quy trình với đầy đủ các khâu từ việc chọn vấn đề tổng kết; thu thập, xử lý thông tin liên quan đến vấn đề tổng kết; rút ra kết luận; vận dụng các kết luận vào quy trình tổ chức thực tiễn tiếp theo Vì vậy, để việc tổng kết thực tiễn đạt hiệu quả cao thì người cán bộ lãnh đạo, quản lý phải có năng lực tổng kết thực tiễn

Với tư cách là một phạm trù, năng lực đã được nhiều ngành khoa học, nhiều tác giả nghiên cứu với những khía cạnh và mức độ khác nhau, đem lại kết quả mang tính đặc trưng của mỗi ngành

Theo từ điển Tiếng Việt “Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc

tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó ở mức độ cao, hoặc năng lực được hiểu là những phẩm chất của con người tạo cho người đó khả năng hoàn thành có kết quả một quá trình hoạt động nhất định” [44, tr.639]

Trang 35

Năng lực còn được hiểu là “Tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân, phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm bảo đảm hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy” [54, tr 174]

Như vậy năng lực là khả năng thực tế mà con người có được thông qua quá trình học tập, hoạt động thực tiễn, tích lũy kinh nghiệm, tự giáo dục và tự đào tạo để đáp ứng một yêu cầu nào đó của công việc được giao nhằm thực hiện nhiệm vụ hay xử lý những tình huống đặt ra trong công tác, trong đời sống hàng ngày Năng lực là những khả năng của chủ thể hoạt động được sử dụng để đáp ứng những đòi hỏi của công việc, của đối tượng và khách thể đặt ra Khi nói đến năng lực phải nói đến từng người cụ thể, đó là người đã trưởng thành về mặt xã hội, là một cá nhân, một chủ thể mang nhân cách Tùy thuộc vào nghề nghiệp, vị trí xã hội, chức trách, nhiệm vụ của từng cá nhân mà biểu hiện những khả năng khác nhau một cách sinh động, đa dạng, phức tạp

Năng lực là khả năng, là phẩm chất tâm sinh lý vốn có của con người, những khả năng, phẩm chất ấy vừa là sản phẩm của tự nhiên, vừa là sản phẩm mang tính lịch sử xã hội Tuy nhiên cái tự nhiên đó chỉ thực sự trở thành năng lực khi nó được thẩm thấu qua lăng kính của thực tiễn, tự học tập, trau dồi, rèn luyện để không ngừng nâng cao trình độ nhận thức, kiến thức khoa học Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định “Năng lực của con người không phải hoàn toàn

do tự nhiên mà có, mà một phần lớn do công tác, do tập luyện mà có” [36, tr.180]

Năng lực tổng kết thực tiễn là khả năng xác định đúng và trúng vấn đề thực tiễn cần tổng kết; khả năng thu thập, phân tích, xử lý thông tin liên quan đến vấn đề cần tổng kết một cách tối ưu nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm thực tiễn mang tính lý luận cao; khả năng vận dụng những bài học kinh nghiệm

Trang 36

thực tiễn để rút ra chỉ đạo tổ chức thực tiễn tiếp theo hoặc điều chỉnh, bổ sung lý luận

Năng lực tổng kết của người cán bộ, lãnh đạo quản lý là loại năng lực riêng biệt, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong kiểm tra, tổng kết việc thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước ở địa phương, đơn vị Việc đánh giá và chỉ ra những việc nào hoàn thành, chưa hoàn thành, những kết quả đạt được và những hạn chế, tồn tại chủ yếu, tìm ra nguyên nhân của những thành công và thất bại, kiểm tra lại đường lối, chủ trương, kế hoạch, phát triển những mâu thuẫn cần phải giải quyết….có khách quan, chính xác hay không phụ thuộc vào năng lực của chủ thể tổng kết Bởi kết quả của việc tổng kết sẽ là cơ sở cho việc xây dựng đường lối, chủ trương chỉ đạo giai đoạn thực hiện nhiệm vụ tiếp theo

Chủ trương, đường lối, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước thâm nhập vào quần chúng nhân dân đến đâu, được nhân dân ủng hộ, đồng tình đến mức nào, có mâu thuẫn xảy ra trong quá trình thực hiện chủ trương, đường lối

đó hay không…sẽ là tiêu chuẩn, là thước đo chính xác nhất năng lực tổng kết thực tiễn của người cán bộ lãnh đạo, quản lý Cho nên năng lực tổng kết thực tiễn là một yêu cầu rất quan trọng đối với đội ngũ lãnh đạo, quản lý các cấp, đặc biệt là đội ngũ cán bộ cấp xã, đội ngũ trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo nhân dân thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách đó Tuy nhiên trong thực tế, không phải ai cũng có năng lực tổng kết thực tiễn bởi mỗi người sinh ra trong một điều kiện hoàn cảnh khác nhau, môi trường, trình độ học tập khác nhau nên trình độ nhận thức của họ cũng có sự khác nhau

Trong tất cả các năng lực của con người thì năng lực tổng kết thực tiễn là nhân tố đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động thực tiễn của con người Năng lưc tổng kết thực tiễn của người cán bộ kể cả cán bộ cấp xã ngoài sự tác

Trang 37

động của các điều kiện khách quan, các quy luật chung, quy luật tự nhiên còn bị chi phối bởi nhân tố chủ quan của chính chủ thể nhận thức Nhân tố chủ quan đó

là vốn tri thức, sự hiểu biết, trí tuệ, trình độ lý luận chính trị, trình độ chuyên môn nghiệp vụ Trong tình hình hiện nay khi mà đất nước đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đòi hỏi người cán bộ, lãnh đạo quản lý nói chung, đặc biệt là đội ngũ cán bộ cấp xã nói riêng phải có trình độ học vấn, trình

độ chuyên môn và trình độ lý luận chính trị nhất định thì mới có khả năng giải quyết được những vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra hiện nay Trong cuốn “Đổi mới tư duy và phong cách” cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã khẳng định

“Cuộc sống càng phức tạp, nhiệm vụ càng khó khăn, thời đại càng diễn biến nhanh chóng thì lý luận càng trở thành thiết yếu như cơm ăn và nước uống hàng ngày, chúng ta từ một nền sản xuất nhỏ đi lên chủ nghĩa xã hội thì càng phải quán triệt điều này”

Đối với đội ngũ cán bộ cấp xã thì trình độ lý luận chính trị là rất cần thiết Nếu không có một trình độ lý luận chính trị nhất định hoặc không được đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị thì họ sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong công tác, đặc biệt là trong tổng kết thực tiễn, họ sẽ không có tư duy biện chứng, khoa học trong việc phân tích, xử lý vấn đề để tổng kết, họ sẽ rơi vào kinh nghiệm chủ nghĩa, giáo điều, chủ quan duy ý chí Nếu người cán bộ mà trình độ lý luận kém thì trong tổng kết thực tiễn họ chỉ dừng lại ở kinh nghiệm tức là chỉ đánh giá, xem xét sự việc ở những biểu hiện bên ngoài, mà không tìm hiểu cặn kẽ bản chất bên trong của vấn đề Trong công việc thiếu tính kế hoạch hoặc nếu có kế hoạch thì không chặt chẽ, không khoa học Trong giải quyết các vấn đề phát sinh thường lúng túng, không hiệu quả

Trình độ lý luận của đội ngũ cán bộ xã được hình thành qua môi trường giáo dục, qua cuộc sống, qua kinh nghiệm công tác, quá trình tự nghiên cứu, học hỏi…Người cán bộ nói chung, cán bộ cấp xã nói riêng cần phải được trang bị lý

Trang 38

luận chính trị nhưng nếu chỉ được học tập lý luận chính trị mà không có trình độ

tư duy lý luận chính trị thì trong công tác và trong hoạt động tổng kết thực tiễn

sẽ gặp rất nhiều khó khăn Đối với đội ngũ cán bộ, tư duy lý luận giống như chiếc chìa khóa mở ra cho hoạt động nhận thức và thực tiễn của họ Có tư duy lý luận họ sẽ nắm vững các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, có khả năng phân tích, tổng hợp để nắm được tinh thần cốt lõi của đường lối Có tư duy lý luận người cán bộ xã sẽ có đủ năng lực

để phân tích sự phong phú, đa dạng, và phức tạp của vấn đề mà thực tiễn cuộc sống đặt ra, từ đó vận dụng lý luận một cách chủ động, sáng tạo và có hiệu quả Nếu người cán bộ không có trình độ tư duy lý luận thì trong tổng kết thực tiễn sẽ không mang tầm khái quát cao, không rút ra được những bài học mang tính lý luận cho chỉ đạo thực tiễn tiếp theo

1.1.2.3 Nâng cao năng lực vận dụng sáng tạo các nguyên tắc của tư duy

lý luận

Vận dụng các nguyên lý, quy luật của phép biện chứng duy vật vào quá trình tư duy, việc bồi dưỡng tư duy lý luận chính trị cho cán bộ cũng đảm bảo các nguyên tắc của phép biện chứng duy vật Đó là nguyên tắc khách quan, nguyên tắc toàn diện, nguyên tắc phát triển, nguyên tắc lịch sử - cụ thể, nguyên tắc thực tiễn

Nguyên tắc khách quan đòi hỏi việc bồi dưỡng tư duy lý luận phải dựa vào những cơ sở thực tế khách quan, xuất phát từ chính bản thân đối tượng, từ những thuộc tính và mối liên hệ vốn có của nó, từ những quy luật vận động và phát triển của bản thân nó; không thể dựa vào ý muốn chủ quan hoặc lấy ý chí chủ quan áp đặt cho thực tế, đồng thời không được cắt xén, không được gán

ghép cho sự vật, hiện tượng những gì mà chúng vốn không có Trong Bút ký

Trang 39

triết học, V.I.Lênin chỉ ra rằng, "tính khách quan của sự xem xét (không phải thí

dụ, không phải dài dòng, mà bản thân sự vật tự nó)" [27, tr.239]

Nắm vững và vận dụng đúng đắn nguyên tắc khách quan sẽ góp phần thiết thực trong việc bồi dưỡng năng lực tư duy biện chứng cho người học Nắm vững nguyên tắc này giúp cho người học thấy được rằng, để rút ra được những bài học kinh nghiệm trong công tác quản lý, lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ tại địa phương, đơn vị thì người cán bộ phải thường xuyên bám, nắm tình hình của cơ

sở, phải đi sâu, đi sát vào thực tế để có được những tư liệu cần thiết nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm đúng đắn Những kết quả, bài học kinh nghiệm được rút ra phải được kiểm tra, đối chiếu, so sánh và đánh giá có phù hợp với hiện thực khách quan hay không Nắm vững nguyên tắc khách quan giúp người cán

bộ cấp xã hiểu được sự cần thiết phải bám sát tình hình thực tế một cách tỉ mỉ, chính xác; phải xuất phát từ bản thân đối tượng, phải xem xét đối tượng đúng như nó vốn có trong thực tế

Bản thân các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan không tồn tại biệt lập, tách rời, mà luôn có mối liên hệ hữu cơ với nhau Hơn nữa, những mối liên hệ ấy lại vô cùng phong phú, đa dạng và hết sức phức tạp, bao gồm cả những mối liên hệ bản chất và không bản chất, tất nhiên và ngẫu nhiên, chủ yếu

và thứ yếu Vì thế, khi nhận thức thế giới khách quan, tư duy biện chứng đòi hỏi

phải tuân thủ nguyên tắc toàn diện V.I.Lênin viết: "Muốn thực sự hiểu được sự

vật, cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các mối liên hệ

và "quan hệ gián tiếp" của sự vật đó Chúng ta không thể làm được điều đó một cách hoàn toàn đầy đủ, nhưng sự cần thiết phải xét tất cả mọi mặt sẽ đề phòng cho chúng ta khỏi phạm phải sai lầm và sự cứng nhắc"[ 32, tr.364]

Nắm vững nguyên tắc toàn diện, người cán bộ sẽ nhìn nhận, đánh giá sự việc một cách chính xác, đầy đủ, toàn vẹn; xem xét sự việc như một chỉnh thể,

Trang 40

thống nhất; tránh được lối tư duy phiến diện, chiết trung, ngụy biện Thực tế cho thấy, các sự việc trong công tác quản lý, lãnh đạo tại địa phương, đơn vị đặc biệt

là ở cơ sở thường xảy ra rất phức tạp, do nhiều nguyên nhân gây ra, chịu sự tác động của nhiều yếu tố và biến đổi qua nhiều giai đoạn, nhưng nhiều khi ta chỉ nắm được kết quả của sự việc đã xảy ra Chính vì thế, nếu xem xét, nghiên cứu các sự việc một cách phiến diện sẽ dẫn tới những đánh giá, kết luận và cách xử

lý sai lầm

Tự nhiên, xã hội và tư duy con người luôn nằm trong quá trình vận động

và phát triển không ngừng theo những quy luật tất yếu, vốn có của chúng Vì vậy, để nhận thức được bản chất của các sự việc, ngoài các nguyên tắc trên, còn

phải tuân thủ nguyên tắc phát triển Mọi sự vật, hiện tượng trong xã hội luôn vận

động, biến đổi và phát triển Sự vận động, biến đổi của các sự việc trong công tác lãnh đạo, quản lý của cán bộ chịu sự tác động của rất nhiều yếu tố: cơ chế, chính sách, tư duy, quyết định của người lãnh đạo và cả sự ủng hộ hay phản đối của nhân dân Chính vì thế trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo tại đơn vị, địa phương người cán bộ phải nhìn nhận, đánh giá sự việc trong sự vận động và phát triển theo những quy luật phổ biến, khách quan vốn có, chỉ ra được chiều hướng biến đổi và phát triển của nó để từ đó đề ra những phương hướng, biện pháp phù hợp nhằm đạt được hiệu quả cao nhất trong thực hiện nhiệm vụ Mặt khác, nắm vững và sử dụng linh hoạt nguyên tắc này còn giúp cho tư duy của người cán bộ trở nên năng động, linh hoạt, mềm dẻo trước các tình huống phức tạp nảy sinh; khắc phục bệnh bảo thủ, trì trệ và máy móc trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ

Lôgíc biện chứng chỉ cho chúng ta thấy được sự phát triển biện chứng của nhận thức khoa học Các khái niệm, định luật, lý thuyết tất yếu được bổ sung, điều chỉnh, phát triển trong quá trình nhận thức, trong lịch sử phát triển của khoa học Những khái niệm, định luật, lý thuyết mới này không phủ nhận hoàn toàn

Ngày đăng: 06/06/2017, 12:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1996
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 2001
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 2006
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 2011
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 2016
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (1993), Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 BCHTW khóa VII, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 BCHTW khóa VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1993
19. Đảng Cộng sản Việt Nam, Bộ Chính trị (12/5/1999), Quy định \ chế độ học tập lý luận trong đảng, số 54 – QĐ/TW Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định \ chế độ học tập lý luận trong đảng
20. Trần Thanh Giang (2017), “Đổi mới phương pháp giảng dạy, nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị nước ta hiện nay”, Tạp chí Cộng sản, (123), tr. 66-70 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới phương pháp giảng dạy, nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị nước ta hiện nay”, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Trần Thanh Giang
Năm: 2017
31. V.I. Lênin (1981), Toàn tập, tập 41, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V.I. Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1981
32. V.I. Lênin (1981), Toàn tập, tập 42, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V.I. Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1981
33. V.I. Lênin (1997), Toàn tập, tập 43, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V.I. Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1997
34. Văn Thị Thanh Mai (2010), “Học tập lý luận là một sự bức thiết đối với đảng ta”, Tạp chí Tuyên giáo, (7), tr. 40-43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học tập lý luận là một sự bức thiết đối với đảng ta”, "Tạp chí Tuyên giáo
Tác giả: Văn Thị Thanh Mai
Năm: 2010
35. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 1995
36. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 1995
37. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 1995
38. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 1995
39. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 1995
40. Hồ Chí Minh (1996), Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 1996
41. Ngô Kim Ngân (2001), “Xây dựng đội ngũ lãnh đạo quản lý cấp xã trong thời ký mới”, Tạp chí giáo dục lý luận, (7), Học viện Chính trị Quốc Gia Hồ Chí Minh, Phân viện Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng đội ngũ lãnh đạo quản lý cấp xã trong thời ký mới”, "Tạp chí giáo dục lý luận
Tác giả: Ngô Kim Ngân
Năm: 2001
42. Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 5, Ban Chấp hành Trung ương khóa X Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2:  Báo cáo số lượng học viên được đào tạo, bồi dưỡng tại Trung - Bồi dưỡng tư duy lý luận chính trị cho cán bộ cấp xã ở huyện sốp cộp tỉnh sơn la hiện nay
Bảng 2 Báo cáo số lượng học viên được đào tạo, bồi dưỡng tại Trung (Trang 65)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w