Trong đó dinh dưỡng được xem là một yếu tố có tác động trực tiếp, mạnh mẽ đến sự phát triển cơ thể của trẻ nhỏ, được dùng để đánh giá sự phát triển cơ thể của trẻ, đặc biệt là trẻ mầm no
Trang 11
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ OANH
BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG SUY DINH DƯỠNG CHO TRẺ 3 – 5 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON VÂN DU
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Giáo dục học (Giáo dục Mầm non)
HÀ NỘI, 2017
Trang 22
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn: PGS.TS Hoàng Quí Tỉnh
HÀ NỘI, 2017
Trang 33
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận án này là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu và tài liệu được trích dẫn trong luận án là trung thực Kết quả nghiên cứu này không trùng với bất cứ công trình nào đã được công bố trước đó
Tôi chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình
Hà Nội, ngày 1 tháng 5 năm 2017
TÁC GIẢ
Nguyễn Thị Oanh
Trang 44
LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn nghiêm túc, nhiệt tình
của PGS.TS Hoàng Quý Tỉnh - giảng viên khoa Giáo dục Mầm non, trường
Đại học Sư phạm Hà Nội
Tác giả xin chân thành cảm ơn tới các thầy cô trong Ban Chủ nhiệm Khoa, các thầy cô trong Bộ môn Thể chất và các thầy giáo, cô giáo trong khoa Giáo dục Mầm non trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tạo điều kiện tốt nhất trong quá trình viết Luận văn
Cũng nhân dịp này tác giả xin chân thành cảm ơn tới Ban lãnh đạo nhà trường mầm non Vân Du, huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ, đặc biệt là các cô giáo, các bậc phụ huynh, các cháu của trường đã tận tình giúp đỡ trong quá trình thu thập số liệu
Nhân dịp này tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn bên cạnh, động viên, chia sẻ, giúp
đỡ tôi vượt qua những khó khăn trong quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 1 tháng 5 năm 2017
TÁC GIẢ
Nguyễn Thị Oanh
Trang 55
MỤC LỤC
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt dùng trong luận văn
Danh mục các bảng dùng trong luận văn
Danh mục các hình dùng trong luận văn
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 4
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4
4 Giả thuyết nghiên cứu 4
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6 Phạm vi nghiên cứu 5
7 Phương pháp nghiên cứu 5
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận 5
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn 5
7.3 Phương pháp hỗ trợ nghiên cứu 8
8 Cấu trúc của luận văn 8
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG SUY DINH DƯỠNG CHO TRẺ 3-5 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON 9
1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu 9
1.1.1 Những nghiên cứu trên thế giới 9
1.1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam 12
1.2 Khái niệm và những vấn đề có liên quan của trẻ 3-5 tuổi ở trường mầm non 17
1.2.1 Đặc điểm của trẻ 3-5 tuổi ở trường mầm non 17
1.2.2 Suy dinh dưỡng 19
1.2.3 Suy dinh dưỡng của trẻ 3-5 tuổi ở trường mầm non 23
1.2.4 Những vấn đề có liên quan đến suy dinh dưỡng của trẻ 3-5 tuổi ở trường mầm non 23
1.3 Đặc điểm suy ding dưỡng của trẻ 3-5 tuổi ở trường mầm non 30
1.3.1 Đặc điểm sinh lý 30
1.3.2 Đặc điểm tâm lý 32
1.4 Quan niệm về biện pháp phòng chống suy dinh dưỡng ở trẻ 3-5 tuổi ở trường mầm non 33
1.4.1 Quan niệm về biện pháp 33
1.4.2 Quan niệm về biện pháp phòng chống suy dinh dưỡng ở trẻ 34
Bảo vệ sức khỏe gồm có 4 khâu, tăng cường sức khỏe, phòng ngừa, chữa bệnh, và phục hồi chức năng 34
Trang 66
1.5 Các biện pháp phòng chống suy dinh dưỡng ở trẻ 3-5 tuổi ở trường mầm
non 34
1.5.1 Phối hợp với gia đình, nhà trường, xã hội 34
1.5.2 Tăng cường chế độ dinh dưỡng, đảm bảo Protein – năng lượng 34
1.5.3 Chế độ sinh hoạt hàng ngày hợp lý 35
1.5.4 Tăng cường thể dục, thể thao 36
1.6 Một số kinh nghiệm phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi ở trường mầm non 36
Tiểu kết chương 1 37
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG, BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG SUY DINH DƯỠNG CHO TRẺ 3-5 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON VÂN DU, HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ 38
2.1 Tổ chức nghiên cứu thực trạng 38
2.1.1.Khái quát về giá trị nghiên cứu thực trạng 38
2.1.2 Khái quát về địa bàn nghiên cứu 41
2.2 Thực trạng suy dinh dưỡng ở trẻ 3-5 tuổi ở trường mầm non Vân Du 49
2.2.1 Tình trạng suy dinh dưỡng cân nặng theo tuổi 49
2.2.2 Tình trạng suy dinh dưỡng chiều cao/tuổi 51
2.2.3 Tình trạng dinh dưỡng BMI/tuổi 53
2.2.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng suy dinh dưỡng của trẻ 3-5 tuổi ở trường mầm non Vân Du 54
2.3 Thực trạng biện pháp phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi ở trường mầm non Vân Du 64
2.3.1 Thuận lợi 64
2.3.2 Khó khăn 65
2.3.3 Kết quả thực trạng 67
2.4 Đánh giá chung về thực trạng 68
Tiểu kết chương 2 69
Chương 3 BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÒNG CHỐNG SUY DINH DƯỠNG CHO TRẺ 3-5 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON VÂN DU, HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ 71
3.1 Định hướng đề xuất biện pháp 71
3.1.1 Dựa vào thực trạng suy dinh dưỡng của trẻ 3-5 tuổi ở trường mầm non Vân Du 71
3.1.2 Dựa vào tiêu chí đánh giá tình trạng dinh dưỡng trẻ của tổ chức y tế thế giới WHO (2006) 72
3.1.3 Cân nặng theo tuổi (suy dinh dưỡng thể nhẹ cân) 72
3.1.4 Dựa vào chiều cao theo tuổi (suy dinh dưỡng thể thấp còi) 72
3.1.5 Dựa vào chỉ số BMI/tuổi (suy dinh dưỡng thể còm) 72
3.1.6 Dựa vào mục tiêu chăm sóc giáo dục mầm non 73
Trang 77
3.2 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 73
3.2.1 Đảm bảo phù hợp với thực tiễn trường Mầm non Vân Du 73
3.2.2 Đảm bảo tính khoa học 74
3.2.3 Đảm bảo tính khả thi 74
3.2.4 Đảm bảo tính kế thừa 75
3.2.5 Đảm bảo tính hệ thống 76
3.2.6 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 77
3.3 Các biện pháp nâng cao hiệu quả phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi ở trường mầm non Vân Du 78
3.3.1 Tăng cường nhận thức cho các lực lượng giáo dục, cán bộ quản lí, cán bộ y tế, giáo viên, phụ huynh người trực tiếp chăm sóc trẻ và chính bản thân trẻ mầm non trong và ngoài nhà trường về tầm quan trọng của công tác phòng chống SDD 78
3.3.2 Bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, kiến thức thực hành dinh dưỡng, thực hiện tốt vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh trong chế biến cho đội ngũ giáo viên và nhân viên cấp dưỡng ở trường Mầm non Vân Du 80
3.3.3 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền vận động phòng chống suy dinh dưỡng và nuôi con bằng sữa mẹ 85
3.3.4 Tăng cường công tác xã hội hóa giáo dục để nâng cao chất lượng các bữa ăn cho trẻ 87
3.3.5 Xây dựng chế độ ăn uống đảm bảo tính khoa học cho trẻ 89
3.3.6 Chế biến các món ăn cho trẻ phù hợp với nhu cầu sở thích của trẻ và tác động trực tiếp làm thay đổi thói quen ăn uống của trẻ 91
3.3.7 Tăng cường tổ chức các hoạt động thể dục thể thao cho trẻ 94
3.3.8 Tổ chức tốt công tác khám sức khỏe định kỳ cho trẻ 95
3.3.9 Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá kết quả phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi ở trường mầm non Vân Du 97
3.4 Mối quan hệ giữa các biện pháp phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi ở trường mầm non Vân Du, huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ 98
3.5 Khảo nghiệm về mức độ cần thiết và tính khả thi của biện pháp phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi ở trường mầm non Vân Du, huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ 99
3.5.1 Mục đích khảo nghiệm 99
3.5.2 Nội dung khảo nghiệm 100
3.5.3 Mẫu khách thể khảo nghiệm 100
3.5.4 Tiêu chí và thang đánh giá kết quả khảo nghiệm 101
3.5.5 Phân tích kết quả khảo nghiệm 101
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 105
TÀI LIỆU THAM KHẢO 108
PHỤ LỤC
Trang 88
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT DÙNG TRONG LUẬN VĂN
BMI : Body Mass Index (Chỉ số khối cơ thể)
SDD : Suy dinh dưỡng
SD : Độ lệch chuẩn SPSS : Statiscal Package for the Social Sciences (Phần mềm
máy tính phục vụ công cụ phân tích thống kê) UNICEF : United Nations Children’s Fund (Quỹ Nhi Đồng Liên
hợp quốc) WHO : World Health Organization (Tổ chức Y tế thế giới)
Trang 99
DANH MỤC CÁC BẢNG DÙNG TRONG LUẬN VĂN
Bảng 1 Chuẩn dinh dưỡng cho trẻ 0 - 19 tuổi của WHO (2006) [86] 7
Bảng 2: Tỷ lệ trẻ bị suy dinh dưỡng thể còi tại một số khu vực năm 1980-2005 [30] 11
Bảng 3:Tình hình suy dinh dưỡng trẻ em các nước đang phát triển trên thế giới năm 1990 và 2003 [36] 11
Bảng 4: Phân bố của đối tượng điều tra theo tuổi và giới tính 40
Bảng 5: Câng nặng (kg) trung bình của trẻ trong nghiên cứu 41
Bảng 6: So sánh cân nặng của trẻ em trong nghiên cứu với trẻ em Việt Nam theo điều tra của Bộ Y tế năm 2003 43
Bảng 7: So sánh cân nặng của trẻ tại trường mầm non Vân Du trong nghiên cứu với tổ chức Y tế thế giới - WHO công bố năm 2007[85] 44
Bảng 8: Chiều cao (cm) của trẻ trong nghiên cứu 45
Bảng 9: So sánh chiều cao của trẻ trong nghiên cứu với trẻ em Việt Nam theo điều tra của Bộ Y tế năm 2003 46
Bảng 10: Chỉ số BMI/tuổi của trẻ trong nghiên cứu 48
Bảng 11: Tình trạng suy dinh dưỡng cân nặng/tuổi trong nghiên cứu 50
Bảng 12: Tình trạng suy dinh dưỡng chiều cao/tuổi của trẻ trong nghiên cứu51 Bảng 13: Tình trạng dinh dưỡng BMI/tuổi trong nghiên cứu 53
Bảng 14: Nhận thức về tầm quan trọng của công tác phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi ở trường Mầm non Vân Du 54
Bảng 15: Số con trong gia đình 55
Bảng 16: Mối liên quan giữa số con và tình trạng suy dinh dưỡng thể nhẹ cân 56
Bảng 17: Mối liên quan giữa số con và tình trạng suy dinh dưỡng thể thấp còi 56
Bảng 18: Nghề nghiệp của bố mẹ 58
Bảng 19: Tình trạng kinh tế của gia đình 59
Bảng 20: Mối liên quan giữa tình trạng kinh tế và tình trạng suy dinh dưỡng thể nhẹ cân 59
Bảng 21: Mối liên quan giữa tình trạng kinh tế và tình trạng suy dinh dưỡng thể thấp còi 59
Bảng 22: Thời gian cái sữa mẹ 61
Bảng 23: Mối liên quan giữa thời điểm cai sữa và tình trạng suy dinh dưỡng thể nhẹ cân 62
Bảng 24: Mối liên quan giữa thời điểm cai sữa và tình trạng suy dinh dưỡng thể thấp còi 62
Bảng 25: Mức độ cần thiết của các biện pháp phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi ở trường mầm non Vân Du 101
Bảng 26: Tính khả thi của các biện pháp phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi ở trường mầm non Vân Du 102
Trang 1010
DANH MỤC CÁC HÌNH DÙNG TRONG LUẬN VĂN
Hình 1: Cân nặng trung bình của trẻ trong nghiên cứu 42 Hình 2: Chiều cao trung bình của trẻ trong nghiên cứu 46 Hình 3: Chỉ số BMI/tuổi của trẻ trong nghiên cứu 49 Hình 4: So sánh tình trạng suy dinh dưỡng cân nặng/tuổi trong nghiên cứu tại trường mầm non Vân Du và trẻ em Việt Nam năm 2015 50 Hình 5: So sánh tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ em trong nghiên cứu ở trường mầm non Vân Du và trẻ em Việt Nam năm 2015 52 Hình 6: Quá trình thu thập số liệu về cân nặng của trẻ trong nghiên cứu 122 Hình 7: Quá trình thu thập số liệu về cân nặng của trẻ trong nghiên cứu 122 Hình 8: Phỏng vấn giáo viên 122 Hình 9: Phỏng vấn phụ huynh 123
Trang 111
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên, đặt nền móng cho sự phát triển
về thể chất, trí tuệ, tình cảm, thẩm mĩ của trẻ Theo các chuyên gia trong ngành giáo dục thì trẻ được tiếp cận với bậc học mầm non càng sớm, càng thúc đẩy quá trình học tập và phát triển ở các giai đoạn tiếp theo Để tạo ra những con người phát triển toàn diện, đáp ứng các yêu cầu của xã hội đề ra thì một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu là phải có một sức khỏe tốt
Sự phát triển cơ thể của trẻ phụ thuộc vào nhiều yếu tố như di truyền và môi trường sống (dinh dưỡng, gia đình, xã hội, văn hoá, giáo dục…) Trong
đó dinh dưỡng được xem là một yếu tố có tác động trực tiếp, mạnh mẽ đến sự phát triển cơ thể của trẻ nhỏ, được dùng để đánh giá sự phát triển cơ thể của trẻ, đặc biệt là trẻ mầm non giai đoạn trẻ 3-5 tuổi Việc nghiên cứu và theo dõi sự phát triển thể chất của trẻ, nhất là trẻ lứa tuổi mầm non 3-5 tuổi là cần thiết nhằm đánh giá đúng thực trạng về thể lực, góp phần làm cơ sở cho việc theo dõi và đề xuất các giải pháp tăng cường sức khỏe lứa tuổi đặc biệt này Suy dinh dưỡng ở bà mẹ và trẻ em là vấn đề thời sự ở các nước nghèo và đang phát triển Tổ chức Y tế thế giới đã nhận định trên thế giới hiện còn 36 nước có tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng thấp còi cao, trong đó có nước ta [1] Hiện nay trên thế giới mỗi năm có hàng triệu bà mẹ và trẻ em tử vong do các nguyên nhân liên quan đến dinh dưỡng và có các biểu hiện kém phát triển về thể chất, tinh thần do bị suy dinh dưỡng từ nhỏ Các bằng chứng khoa học đã cho thấy, những năm đầu tiên của cuộc đời nếu trẻ bị suy dinh dưỡng có thể
để lại những hậu quả về thể chất và tinh thần không phục hồi được và kéo sang thế hệ sau
Trang 122
Tuy nhiên tình trạng dinh dưỡng của trẻ em Việt Nam đã được cải thiện nhưng vẫn chưa đạt được mục tiêu cũng như chỉ số phát triển con người và gần đây thì mức độ giảm suy dinh dưỡng có chiều hướng chậm lại Việc hạ thấp tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em và hạ thấp một cách đồng đều giữa các vùng vẫn còn là một nhiệm vụ khó khăn Suy dinh dưỡng là hậu quả của nguyên nhân trực tiếp do thiếu ăn và bệnh tật cùng với các nguyên nhân tiềm tàng là tình trạng mất an ninh lương thực, dịch vụ chăm sóc sức khỏe kém Vì vậy, việc tìm hiểu và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng suy dinh dưỡng (như các yếu tố về kinh tế, xã hội…) sẽ cung cấp những thông tin quan trọng phục vụ cho chiến lược can thiệp phòng chống suy dinh dưỡng và đặc biệt là góp phần nâng cao thể trạng cho trẻ em nước ta Đây cũng là một trở lực quan trọng của phát triển và hội nhập, nên rất cần phải đưa ra các giải pháp cụ thể phòng chống suy dinh dưỡng cho các vùng khó khăn, tập trung ưu tiên cho những vùng có tỷ lệ suy dinh dưỡng cao là rất cần thiết
Tổ chức Y tế Thế giới (1990) ước tính có khoảng 500 triệu trẻ em bị thiếu dinh dưỡng trên phạm vi toàn cầu, khoảng 150 triệu trẻ em dưới 5 tuổi
bị suy dinh dưỡng (SDD) thể nhẹ cân và hơn 20 triệu trẻ em bị SDD nặng [71,79,80] Theo kết quả điều tra quốc gia từ năm 1980 - 1992 của 79 nước đang phát triển cho thấy tỷ lệ trẻ em SDD thể nhẹ cân là 35,8%, tỷ lệ trẻ em còi là 42,7%, tỷ lệ trẻ em bị còm là 9,2% Trong đó Châu Á có tỷ lệ SDD cao nhất so với các châu lục khác: 42% trẻ SDD thể nhẹ cân, 47,1% trẻ em còi và 10,8% trẻ em còm [46]
Muốn có biện pháp can thiệp kịp thời thì cần phải đánh giá được tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ Những nguyên nhân đó lại bị ảnh hưởng bởi các nguyên nhân cơ bản như: trình độ văn hóa thấp, nghèo đói Gần đây, tổng kết của Viện Nghiên cứu Chiến lược và Chính sách Dinh dưỡng quốc tế (IFPRI) cho thấy học vấn của người phụ nữ đóng góp 43% đối với suy dinh dưỡng,
Trang 133
trong khi an ninh thực phẩm đóng góp 26,1% đối với suy dinh dưỡng[48] Điều này cho thấy yếu tố về kiến thức và thực hành nuôi con (một phần thể hiện qua trình độ học vấn của người phụ nữ) có vai trò quan trọng đối với suy dinh dưỡng
Ở tỉnh Phú Thọ, tỉ lệ trẻ em suy dinh dưỡng ở mức khá cao so với các tỉnh trong cả nước Tỉ lệ trẻ em suy dinh dưỡng của tỉnh năm 2015 là 10% thấp hơn so với tỉ lệ chung Tuy nhiên kết quả này chưa phản ánh được thực trạng tại các xã vùng sâu vùng xa (với nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng của người dân khác với mặt bằng chung của tỉnh) Phú Thọ là một tỉnh trung du, miền núi phía bắc, điều kiện vật chất còn khó khăn, dân tộc thiểu số nhiều Do vậy tỉ lệ suy dinh dưỡng còn khá cao và chưa có chương trình can thiệp và biện pháp phòng chống về suy dinh dưỡng cho trẻ mầm non
ở tỉnh Phú Thọ nói chung và trẻ 3-5 tuổi ở trường mầm non Vân Du nói riêng
ở các vùng sâu vùng xa và cũng chưa có ai nghiên cứu về tình trạng và yếu tố đặc thù ảnh hưởng đến suy dinh dưỡng trẻ mầm non tại miền núi tỉnh Phú Thọ Vì vậy, để nhằm góp phần giảm tỉ lệ suy dinh dưỡng cho trẻ mầm non ở tỉnh Phú Thọ nói chung và trẻ 3-5 tuổi ở trường mầm non Vân Du nói riêng theo như chiến lược quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn hiện nay đòi hỏi các tác động đặc thù và sát hợp với thực tế dựa trên việc phân tích tình hình và nghuyên nhân suy dinh dưỡng cụ thể ở địa phương để từ đó đưa ra một số biện pháp phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi ở trường mầm non Vân Du
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi tiến hành lựa chọn đề tài “Biện pháp phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ 3 - 5 tuổi ở trường mầm non Vân Du” mong muốn góp phần nhỏ vào việc phòng chống suy dinh dưỡng trẻ
em ở địa phương ngày càng hiệu quả hơn
Trang 144
2 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng suy dinh dưỡng của trẻ 3-5 tuổi ở trường mầm non Vân Du
Tìm hiểu các yếu tố liên quan đến thực trạng suy dinh dưỡng cho trẻ 3
- 5 tuổi ở trường mầm non Vân Du
Trên các cơ sở nói trên, đề xuất một số biện pháp phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ 3 - 5 tuổi ở trường mầm non Vân Du
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu:
Biện pháp phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ 3 - 5 tuổi ở trường mầm non Vân Du
3.2 Đối tượng nghiên cứu:
Thực trạng suy dinh dưỡng cho trẻ 3 - 5 tuổi ở trường mầm non Vân
Du và đề xuất một số biện pháp phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ
4 Giả thuyết nghiên cứu
Thực trạng suy dinh dưỡng cho trẻ 3 - 5 tuổi ở trường mầm non Vân
Du ở sẽ được cải thiện nếu sử dụng một số biện pháp phòng chống suy sinh
dưỡng cho trẻ
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu những cơ sở lý luận về biện pháp phòng chống suy sinh dưỡng cho trẻ từ 3 - 5 tuổi ở trường mầm non Vân Du
Nghiên cứu thực trạng suy dinh dưỡng và thực trạng biện pháp phòng chống suy dinh dưỡng trẻ từ 3 - 5 tuổi ở trường mầm non Vân Du
Tìm hiểu các yếu tố liên quan đến thực trạng suy dinh dưỡng của trẻ từ
3 - 5 tuổi ở trường mầm non Vân Du
Đề xuất một số biện pháp phòng chống nhằm giảm thiểu tình trạng suy dinh dưỡng cho trẻ 3 - 5 tuổi ở trường mầm non Vân Du
Trang 155
Tiến hành thực nghiệm sư phạm để xác định hiệu quả và tính khả thi của các biện pháp đã đề ra
6 Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của luận văn, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu cơ
sở lý luận về thực trạng suy dinh dưỡng và một số biện pháp phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ 3 - 5 tuổi ở trường mầm non Vân Du
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
Thu thập, đọc, phân tích, phân loại và tổng hợp các tài liệu liên quan đến biện pháp phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ 3 - 5 tuổi ở trường mầm non Vân Du
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp điều tra, phỏng vấn
Các điều tra viên sử dụng phiếu phỏng vấn đã được chuẩn bị sẵn để điều tra các dữ liệu như: Họ tên, Ngày sinh, Nơi sinh, Cân nặng, Chiều cao Các phiếu phỏng vấn này sau đó được đánh số và nhập vào phần mềm SPSS 11.5 Ngoài ra các điều tra viên phỏng vấn sâu phụ huynh, giáo viên về các yếu tố có thể ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ tại địa phương
7.2.2 Phương pháp tính tuổi
Tuổi của trẻ trong nghiên cứu được tính bằng phần mềm WHO Anthroplus Dữ liệu về ngày tháng năm sinh của trẻ được ghi trong phiếu phỏng vấn, sau đó được nhập vào phần mềm WHO Anthroplus, phần mềm sẽ cho ra tuổi của trẻ trong nghiên cứu Tuổi của trẻ mầm non tính theo phần mềm như sau: từ 36 tháng 1 ngày đến 48 tháng là 4 tuổi; từ 48 tháng 1 ngày đến 60 tháng là 5 tuổi
Trang 166
7.2.3 Phương pháp đo cân nặng, chiều cao đứng
Cân nặng: Cân nặng của trẻ được đo bằng cân đồng hồ thông thường
Trẻ được cân vào buổi sáng, đứng giữa cân, mặc quần áo mỏng, mắt nhìn thẳng, trọng lượng chia đều vào cả hai chân
Chiều cao đứng: Chiều cao đứng của trẻ được đo bằng thước dây dán
trên thân cây hoa sốp và dán sát tường Trẻ đứng vuông góc với mặt đất nằm ngang, không đi giầy dép, gót chân đứng sát vào tường Gót chân, mông, vai
và chẩm thẳng theo tường, mắt nhìn thẳng, hai tay buông tự do Mắt điều tra viên nhìn thẳng vuông góc để đọc chỉ số đo chiều cao đứng của trẻ
BMI: Cân nặng và chiều cao của trẻ dùng để tính chỉ số BMI Chỉ số
BMI thường được dùng để đánh giá tình trạng dinh dưỡng và sự phát triển cơ thể của trẻ
7.2.4 Phương pháp phân tích và xử lí số liệu
Số liệu về nhân trắc được xử lí bằng phần mềm WHO Anthroplus và Microsoft Excel Phần mềm sẽ cho ra các số liệu về tuổi, các chỉ số Z-score của cân nặng, chiều cao, BMI dùng để đánh giá tình trạng suy dinh dưỡng
Phần mềm SPSS 11.5 dùng để tính các giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, các yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ tại địa bàn nghiên cứu
7.2.5 Phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng
Tình trạng dinh dưỡng của trẻ từ 0 - 19 tuổi được đánh giá bằng chuẩn suy dinh dưỡng của WHO (2006) [86]
Sau khi đánh giá tình trạng dinh dưỡng, chúng tôi tiến hành tìm hiểu các yếu tố liên quan đến tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ trong khu vực nghiên cứu Các mối liên quan được thực hiện dựa trên phần mềm SPSS 11.5
và Epi – Info 6.04
Trang 177
Bảng 1 Chuẩn dinh dưỡng cho trẻ 0 - 19 tuổi của WHO (2006) [86]
Z-score Chuẩn suy dinh dưỡng cho trẻ dưới 5 tuổi của WHO
>1 SD Bình thường Có nguy cơ thừa cân3
0 (TB) Bình thường Bình thường Bình thường
< -1 SD Bình thường Bình thường Bình thường
0 (TB) Bình thường Bình thường Bình thường
< -1 SD Bình thường Bình thường Bình thường
< -3 SD Rất còi4 Rất nhẹ cân Rất gày
Chú thích: 1 Trẻ trong phạm vi này trẻ có chiều cao khá lớn, gồm cả những trẻ không cao
quá mức như do rối loạn tuyến nội tiết gây ra thì cũng được xếp trẻ vào loại này; 2 Trẻ thuộc ô này có cân nặng theo tuổi thấp, có thể có vấn đề trong tăng trưởng, nhưng vấn đề này sẽ được đánh giá tốt hơn với tiêu chuẩn cân nặng theo chiều cao hoặc BMI theo tuổi; 3 Trên 1 SD cho thấy nguy cơ thừa cân có thể xảy ra; 4 Có thể một đứa trẻ còi (hoặc rất còi) trở thành quá cân 7.2.6 Phương pháp điều tra
Dùng phiếu điều tra phụ huynh và giáo viên mầm non để tìm hiểu nguyên nhân gây ra tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ
7.2.7 Phương pháp trò chuyện
Trao đổi, trò chuyện với phụ huynh, giáo viên mầm non để xác định nguyên nhân ảnh hưởng đến tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ trong nghiên cứu
Trang 188
7.3 Phương pháp hỗ trợ nghiên cứu
Phương pháp xử lý số liệu, thu thập, xử lý, phân tích nghiên cứu các số liệu thu thập được để đánh giá được tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ
Nhập và xử lý số liệu thu được bằng phần mềm SPSS để xác định các yếu tố liên quan tới tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ
Sử dụng phương pháp thống kê toán học nhằm xử lí số liệu một cách khách quan, khoa học để có được kết quả nghiên cứu của luận văn
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung chính của luận văn được thể hiện qua 3 chương: Chương 1 cơ
sở lý luận; Chương 2 Thực trạng suy dinh dưỡng và biện pháp phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi ở trường mầm non Vân Du; và Chương 3 Biện pháp phòng chống nhằm giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng cho trẻ 3-5 tuổi ở trường mầm non Vân Du
Trang 19
9
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG SUY DINH DƯỠNG CHO TRẺ 3-5 TUỔI Ở
TRƯỜNG MẦM NON
1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu
1.1.1 Những nghiên cứu trên thế giới
Năm 1754 Christian Friedrich Jumpert (Đức), đã công bố công trình nghiên cứu cắt ngang đầu tiên về tăng trưởng ở trẻ em trong đó có trình bày các số liệu đo đạc về cân nặng, chiều cao của trẻ em [Trích theo 28]
Nhưng phải đến năm 1925 R Martina (Đức) đã đề xuất phương pháp
và dụng cụ để đo kích thước cơ thể con người Từ đó trên thế giới đã có nhiều nhà nghiên cứu lĩnh vực này Nhưng phương pháp của R Martina ngày càng được bổ sung và hoàn thiện [Trích theo 28]
Cùng trong năm 1925, Tổ chức Y tế của Liên minh Quốc gia nghiên cứu về mối liên quan dinh dưỡng và sức khỏe cộng đồng và J Boyd Orrda đã phát hiện ra mối liên quan trực tiếp giữa tầng lớp xã hội và sức khỏe của họ Tác giả Brnet và Aykroyd cho rằng suy thoái kinh tế 1930 làm cho người nghèo bị SDD nhiều nhất [Trích theo 28]
Năm 1938 C.William phát hiện ra bệnh gọi là SDD thiếu Protein – năng lượng thể phù (Kwashiokor) [Trích theo 28]
Năm 1942 Daray Thompson đã đưa khái niệm tốc độ tăng trưởng cùng
2 đại lượng của tăng trưởng chiều cao và cân nặng như những chỉ tiêu về sức khỏe [Trích theo 23]
Năm 1984 WHO đã tổ chức một hội nghị về dinh dưỡng ở Fiji để đánh giá tình hình và kinh nghiệm phòng chống dinh dưỡng ở các nước trong khu vực Tây Thái Bình Dương Hội nghị kết thúc đã đưa ra một quyết định quan trọng:
“Suy dinh dưỡng trẻ em có rất nhiều nguyên nhân, cho nên việc phòng chống
Trang 2010
suy dinh dưỡng trẻ em không thể hoạt động riêng rẽ của từng ngành, ngành nhi, ngành phòng dịch, ngành nông nghiệp và chế biến thực phẩm, mà phải do những người cầm đầu các nước đứng ra nhận trách nhiệm phối hợp các ngành và giáo dục vận động nhân dân, các gia đình tự giác tham gia bằng khả năng và phương tiện hiện có của mình” Hội nghị đã đưa ra việc phòng chống SDD bắt đầu từ thời kì nhi khoa chuyển sang thời kì phòng dịch [Trích theo 28]
Năm 1990, WHO thành lập Nhóm nghiên cứu về tăng trưởng của trẻ
nhằm đưa ra những khuyến cáo cho việc sử dụng và giải thích một cách hợp
lý về các kích thước nhân trắc áp dụng cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ Theo báo cáo của nhóm nghiên cứu này: dữ liệu tham chiếu của Trung tâm Quốc gia về Thống kê Y học của Mỹ/WHO có những sai sót và thất bại trong việc dự đoán một cách đầy đủ sự tăng trưởng về mặt thể chất của trẻ Những hạn chế này
đã làm cản trở công tác quản lý dinh dưỡng hợp lý của trẻ nhỏ Vì vậy cần phải có những đường tăng trưởng mới để đáp ứng cho nhu cầu trên [83]
Năm 1995, WHO đã đề nghị lấy Quần thể NCHS (National Centre of Health Satistics) của Hoa Kỳ làm Quần thể tham chiếu Từ trước những năm
90 của thế kỷ trước, đề nghị này được ứng dụng rộng rãi tại nhiều nước trên thế giới trong đó có cả Việt Nam Trong đó, WHO lưu ý rằng không nên coi quần thể tham chiếu là chuẩn mà chỉ là cơ sở để đưa ra các nhận định thuận tiện cho các so sánh trong nước và quốc tế [83]
Năm 2006, WHO đã công bố bộ chuẩn tăng trưởng thứ nhất của trẻ dưới 5 tuổi, gồm các chuẩn về chiều cao theo tuổi (chiều cao/tuổi), cân nặng theo tuổi (cân nặng/tuổi), cân nặng theo chiều cao (cân nặng/chiều cao) và BMI theo tuổi (BMI/tuổi) [84]
Theo báo cáo của UNICEF công bố ngày 2/5/2006 cho biết hơn 1/4 trẻ
em dưới 5 tuổi ở các nước đang phát triển bị thiếu cân, cuộc sống đang bị đe dọa Dinh dưỡng không đầy đủ vẫn là đại dịch toàn cầu dẫn đến một nửa số ca
Trang 2111
tử vong là trẻ em, khoảng 5,6 triệu trẻ em mỗi năm [Trích theo 40] Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ước tính có khoảng 500 triệu trẻ em bị suy dinh dưỡng trên toàn cầu, trong đó 150 triệu trẻ em ở Châu Á, chiếm 44% tổng số trẻ em dưới 5 tuổi [Trích theo 22] Gần 3/4 trẻ em thiếu cân trên toàn thế giới đang sống ở 10 quốc gia và hơn một nửa số đó sống ở 3 nước: Bănglađét, Ấn
Độ và Pakixtan Năm 2004, tỉ lệ trẻ dưới 5 tuổi bị thiếu cân ở Bănglađét là 48%, Ấn Độ là 47%
Năm 2009, nghiên cứu của Shankar Prinja và cộng sự ở Ấn Độ sử dụng tiêu chuẩn của WHO để đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi cho thấy: với cùng một quần thể trẻ dưới 5 tuổi, tỷ lệ trẻ nhẹ cân khi áp dụng chuẩn tăng trưởng mới của WHO thấp hơn so với khi áp dụng chuẩn của Viện Nhi khoa Ấn Độ [88]
Tại khu vực Đông Nam Á, theo thống kê của UNICEF năm 1994 cho thấy tỉ lệ SDD còn ở mức cao như Campuchia: 52%, Lào: 40%, Mianma: 39% và Indonesia: 34% [81]
Bảng 2: Tỷ lệ trẻ bị suy dinh dưỡng thể còi tại một số khu vực năm 1980-2005 [30]
Châu Phi 40,5 39,2 37,8 36,5 35,2 33,8 Châu Á 52,2 47,7 43,3 38,8 34,4 29,9
Mỹ Latinh và Caribê 25,6 22,3 19,1 15,8 12,6 9,3 Các nước
đang phát triển 47,1 43,4 39,8 36 32,5 29 Thống kê từ 1990 đến 2003 tỷ lệ SDD chung cho các nước đang phát triển cho thấy chỉ tiêu SDD cân nặng/tuổi đã giảm từ 33% xuống còn 28%, SDD chiều cao/tuổi giảm từ 41% xuống còn 31% [10]
Bảng 3:Tình hình suy dinh dưỡng trẻ em các nước đang phát triển trên thế giới năm 1990 và 2003 [36]
cân nặng/tuổi (%)
Tỷ lệ SDD chiều cao/tuổi (%)
Trang 22Năm 2000, Amy L.Rice, Lisa Sacco và cộng sự nghiên cứu về tử vong
ở trẻ em bị SDD tại các nước đang phát triển nhận thấy có mối liên quan giữa SDD và bệnh tiêu chảy [58]
Năm 2002, Nitabhandari và cộng sự nghiên cứu tình trạng dinh dưỡng trẻ
em ở các gia đình giàu có tại phía Nam New Dheli, Ấn Độ cho thấy tỉ lệ SDD có liên quan mật thiết tới học vấn và tình trạng kinh tế gia đình [77]
Theo báo cáo của Quỹ Nhi Đồng của Liên Hợp Quốc UNICEF năm
2008, trên thế giới có khoảng 146 triệu trẻ em dưới 5 tuổi được xem là thiếu cân (một chỉ tiêu chính của “suy dinh dưỡng”), trong đó có khoảng 20 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị SDD nặng cần được chăm sóc khẩn cấp, phần lớn tập trung ở châu Á, châu Phi, và Mỹ Latin Trong số này có khoảng 2 triệu trẻ em
từ Việt Nam [82]
1.1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam
Trẻ từ 0 đến 6 tuổi là giai đoạn phát triển thể lực, trí lực quan trọng và
có nguy cơ cao khi bị thiếu hụt dinh dưỡng Nhiều nghiên cứu cho thấy ở các nước đang phát triển trong đó có nước ta, giai đoạn trẻ có nguy cơ SDD cao nhất là từ 12 đến 24 tháng tuổi và tỷ lệ SDD giữ ở mức cao cho đến 60 tháng tức là 5 tuổi [7,9] Các nhà dinh dưỡng cũng đúc kết được rằng những trẻ bị SDD nặng trong 2 - 3 năm đầu của cuộc sống sẽ ảnh hưởng đến phát triển thể lực, đặc biệt là chiều cao của trẻ ở tuổi vị thành niên, trí lực của những trẻ này cũng kém hơn những trẻ khác
Trang 2313
Năm 1974, cuốn “Nhân trắc học và sự ứng dụng nghiên cứu trên người Việt Nam” của Nguyễn Quang Quyền ra đời [37] Cuốn sách này có ý nghĩa rất quan trọng cho việc nghiên cứu nhân trắc học ở Việt Nam
Năm 1975, cuốn “Hằng số Sinh học người Việt Nam”, do Nguyễn Tấn
Gi Trọng chủ biên ra đời, đã tổng hợp kết quả nghiên cứu từ năm 1960-1972 trên đối tượng chủ yếu là trẻ em, học sinh thành thị ở phía Bắc nước ta, làm
cơ sở cho nhiều công trình nghiên cứu tăng trưởng trẻ em sau này [6]
Ngày 13/6/1980 Viện dinh dưỡng Quốc gia được thành lập để nghiên cứu các vấn đề về dinh dưỡng có tầm quan trọng hàng đầu đối với sức khỏe cộng đồng Việt Nam Viện đã tiến hành các cuộc tổng điều tra dinh dưỡng, dịch tễ học các bệnh thiếu dinh dưỡng Protein - năng lượng, đồng thời tổ chức các cuộc hội thảo nuôi con bằng sữa mẹ, hội thảo hội nghị phòng chống thiếu Vitamin A [52, 53]
Năm 1984 Đào Ngọc Diễn, Nguyễn Trọng An và cộng sự với công trình nghiên cứu “Tình hình suy dinh dưỡng nặng trong năm năm 1978 -1982” Nghiên cứu cho thấy tỉ lệ SDD nặng đều tăng rõ rệt và nhiều nhất là năm 1982, thời điểm vào viện cao nhất là tháng 9, đồng thời nghiên cứu cũng chỉ ra rằng SDD không những gặp ở gia đình đông con mà còn gặp ở những gia đình mới đẻ con thứ nhất, thứ hai, thiếu máu là triệu trứng thường gặp nhất ở trẻ SDD (chiếm 77%) [16]
Năm 1991, Đào Huy Khuê nghiên cứu cắt ngang gần 50 chỉ tiêu nhân trắc và mô tả của 1.478 học sinh phổ thông 6 - 17 tuổi ở thị xã Hà Đông, bao gồm các đặc điểm hình thái, bề dày lớp mỡ dưới da và đặc điểm phát dục Tác giả cho rằng hầu hết các thông số hình thái đều tăng dần theo tuổi ở hai giới, nhưng nhịp độ tăng trưởng không đồng đều theo tuổi và giới tính [32]
Năm 1994, tác giả Nguyễn Hồng Vân với công trình nghiên cứu “Mô hình suy dinh dưỡng trong 10 năm (1985 - 1994) tại bệnh viện đa khoa tỉnh
Trang 2414
Thanh Hóa”, cho thấy từ năm 1985 - 1994, tại Thanh Hóa số bệnh nhân SDD nặng vào viện đã giảm xuống rõ rệt Hàng năm số bệnh nhân vào viện tập trung vào tháng 8, 9, 10, đây là mùa mưa bão mà Thanh Hóa là một trong số những vùng có nhiều mưa bão nhất nước ta Tuổi mắc bệnh chủ yếu là trẻ dưới 2 tuổi, chiếm 80,7% [50]
Trong 2 năm 1995 - 1996, Hàn Nguyệt Kim Chi và cộng sự đã nghiên cứu trên 10,339 trẻ từ 1 - 36 tháng tuổi và 11,985 trẻ từ 37 - 72 tháng tuổi tại
Hà Nội, Hà Tây, Hà Bắc, Ninh Bình, Nam Hà về các chỉ số cân nặng, chiều cao đứng, chiều cao ngồi, vòng ngực, vòng đùi, vòng cánh tay Kết quả nghiên cứu cho thấy mức tăng cân nặng có nhanh hơn so với mức tăng chiều cao [13]
Năm 1999, nghiên cứu của Hồ Quang Trung với đề tài, “Nghiên cứu tình trạng dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi với các điều kiện kinh tế xã hội tại xã Văn Khúc, huyện Sông Thao, tỉnh Phú Thọ” cho thấy tình trạng dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi tại địa bàn nghiên cứu có tỷ lệ SDD cân nặng/tuổi chiếm 34,1%, tỉ lệ SDD thể còi là 36,6% và SDD thể còm 8% [48]
Phạm Ngọc Khái (2001), nghiên cứu tỉ lệ SDD của trẻ em dưới 5 tuổi và các yếu tố liên quan ở Thái Bình Cũng trong năm này nhóm tác giả Trần Văn Hải
và cộng sự đã nghiên cứu “Tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi và một số yếu tố ảnh hưởng tại tỉnh Kon Tum - 2001” Cho thấy tỉ lệ SDD thể nhẹ cân là 36,9%, thể còi là 46,3%, thể còm là 8,3% Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng con của những người mẹ mù chữ có tỉ lệ SDD nhiều nhất [31]
Nguyễn Đình Học (2004) với nghiên cứu phát triển thể chất, mô hình bệnh tật và một số yếu tố ảnh hưởng ở trẻ em dân tộc Dao ở Thái Nguyên đã đưa ra một số kết luận: Cân nặng và chiều cao của trẻ em dân tộc Dao trong địa bàn nghiên cứu tăng truởng theo quy luật chung và phát triển tương đương
so với cân nặng và chiều cao của trẻ em khu vực miền núi phía Bắc đã công
Trang 2515
bố Sau dậy thì, riêng cân nặng bé gái phát triển ngang bằng, còn lại cân nặng của bé trai và chiều cao của cả hai giới đều thấp hơn so với cân nặng và chiều cao ở khu vực thành thị khác đã công bố [Trích theo 28]
Năm 2004, nhóm tác giả Phan Lê Thu Hằng, Lê Thanh Sơn với nghiên cứu: “Thực trạng và một số yếu tố liên quan tới tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi tại 4 xã tỉnh Hà Tây” Nghiên cứu được tiến hành trên các xã: Đan Phượng, Tân Lập, Nam Phương Tiến, Trần Phú cho thấy tỉ lệ trẻ SDD thể nhẹ cân ở các xã nghiên cứu là 30,3%, tỷ lệ SDD thể còi là 27% và tỉ
lệ SDD thể còm còn ở mức cao 10,4% [22]
Ngày 23/12/2008, lễ tổng kết 10 năm chương trình mục tiêu phòng chống SDD trẻ em ở Việt Nam (1998 - 2008) đã diễn ra tại Hà Nội Qua 10 năm thực hiện, mục tiêu giảm tỷ lệ SDD trẻ em dưới 5 tuổi thể nhẹ cân ở trẻ
em Việt Nam là dưới 20% vào năm 2010, nhưng với sự nỗ lực của ngành Y
tế, sự phối hợp chặt chẽ của các địa phương, Bộ, Ngành và sự phát triển về kinh tế - xã hội, Việt Nam đã đạt được mức 19,9% ngay trong năm 2008 Đến năm 2009 thì tỷ lệ SDD trẻ em dưới 5 tuổi thể nhẹ cân ở Việt Nam giảm còn 18,9% đã vượt trước 2 năm so với Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
X [9] Đây là một dấu mốc quan trọng khi lần đầu tiên Việt Nam đã giảm SDD thể nhẹ cân xuống dưới ngưỡng cao theo phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới
Phạm Văn Hoan, Lê Danh Tuyên (2007), nghiên cứu tình hình SDD trẻ
em từ 1990 đến 2004 cho thấy tỷ lệ SDD nhẹ cân ở trẻ em dưới 5 tuổi từ 45% (năm 1990) đã giảm xuống còn 26,6% (năm 2004) Mức giảm trung bình hàng năm tính từ 2000 đến 2004 là 1,8% cao hơn so với 1,12% ở thập kỉ 90 Mức giảm SDD nhanh nhất ở thành thị, ở cả 3 thể nhẹ cân, còi và còm, đều giảm trên 47%, nông thôn với mức giảm SDD thể nhẹ cân là 35,1%, thể còi là 40,6% và thể còm là 46,5% Tỉ lệ SDD giảm chậm ở vùng núi [26]
Trang 2616
Chiến lược Quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2001 – 2010, SDD nặng giảm (0,8 %) và SDD ở Việt Nam hiện nay chủ yếu là thể nhẹ và thể vừa Tuy nhiên tỉ lệ SDD hiện nay vẫn còn cao so với quy định của Tổ chức Y tế thế giới Mặc dù tỉ lệ trẻ em bị còi đã giảm nhanh trong những năm qua song vẫn còn ở mức khá cao (25,9% năm 2013) Những vùng có tỉ lệ nhẹ cân cao cũng
là những vùng có tỉ lệ còi cao Tỉ lệ SDD có sự khác biệt giữa các vùng sinh thái, giữa các tỉnh [4]
Trong năm này Trần Thị Mai nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng trẻ em dân tộc Êđê, M’Nông tại 2 xã tỉnh Đắk Lắk Nghiên cứu cho thấy tỉ lệ SDD ở 2 xã Durk Măn và Yang Tao đang còn ở mức cao, thể nhẹ cân là 41,2%, thể còi là 40,6%, thể còm là 10,8%, SDD xuất hiện sớm và ở mọi nhóm tuổi [34]
Những năm trước kia, người ta chỉ đề cập đến nhóm SDD do thiếu dinh dưỡng bao gồm nhẹ cân, còi, còm (tức là cân nặng, chiều cao của trẻ thấp hơn
so với tuổi hoặc cân nặng thấp (không đạt) so với chiều cao) Nhưng trong thập kỷ vừa qua, SDD thể thừa (thừa cân, béo phì) có xu hướng gia tăng ở các vùng đô thị Tuy nhiên, SDD thể thiếu vẫn phổ biến hơn, đặc biệt là nông thôn, vùng sâu vùng xa [5]
Trần Khánh Linh (2012) “Một số biện pháp GDDD cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi thông qua Trò chơi học tập” ở trường mầm non Nghiên cứu cho thấy hiệu quả GDDD cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi chưa cao, kết quả điều tra cho thấy tỷ lệ trẻ đạt loại khá - giỏi còn thấp, số trẻ đạt loại trung bình - Yếu chiếm tỉ lệ rất cao Tuy nhiên ở các trường mầm non hiện nay có những mặt tích cực và hạn chế nhất định[26]
Đinh Đạo (2014) nghiên cứu thực trạng và kết quả can thiệp phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em dưới năm tuổi người dân tộc thiểu số tại huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam cho thấy tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng thể cân nặng
Trang 2717
(36,5%), lệ trẻ suy dinh dưỡng thể chiều cao (62,8%), lệ trẻ suy dinh dưỡng thể gầy còm (8,4%)[18]
Deng (2016) nghiên cứu “Thực trạng suy dinh dưỡng của trẻ em ở một
số trường mầm non Lào và đề xuất biện pháp dự phòng” Tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ em tại trường Mầm non Chom Chaeng xã Long, huyện Long, tỉnh Luông Năm Tha, Lào đang ở mức rất cao theo tiêu chuẩn của WHO Tỷ
lệ suy dinh dưỡng thể còi (58,9%), thể nhẹ cân (13,03%), thể còm (5,2%)[19]
1.2 Khái niệm và những vấn đề có liên quan của trẻ 3-5 tuổi ở trường mầm non
1.2.1 Đặc điểm của trẻ 3-5 tuổi ở trường mầm non
Trẻ em là một cơ thể đang lớn và phát triển vì vậy tăng trưởng là một đặc điểm sinh học cơ bản của trẻ em nói chung và của trẻ 3-5 tuổi ở trường mầm non Vân Du nói riêng Tăng trưởng là một khái niệm bao gồm quá trình lớn và phát triển Có hai loại tăng trưởng: tăng trưởng về thể chất và tăng trưởng về chức năng Hai quá trình này có mối liên quan mật thiết với nhau, nhưng thời điểm trưởng thành không giống nhau Nhóm các chỉ tiêu nhân trắc
là một trong ba nhóm đánh giá chỉ tiêu tăng trưởng (chỉ tiêu nhân trắc, đánh
giá tuổi xương và tuổi dậy thì [24]
Có 5 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của trẻ em đó là: Di truyền, môi trường, nội tiết, bệnh tật và khuynh hướng thời gian Mô hình tăng trưởng thể chất của trẻ em không phải đứng yên mà thay đổi theo thời gian Những nghiên cứu gần đây ở các tỉnh phía Bắc đều cho thấy ở mọi lứa tuổi đều có sự gia tăng về chiều cao đặc biệt ở khu vực thành phố Theo nghiên cứu của Lê Nam Trà năm 1997, chiều cao, cân nặng của cả nam và nữ đều tăng cao hơn 1 cm so với hằng số sinh học người Việt Nam (1975) trong
giai đoạn từ 1 - 9 tuổi [25]
Trang 2818
Theo nghiên cứu của Lê Nam Trà về chỉ tiêu sinh học người Việt Nam cho thấy ở 3 - 6 tuổi mức tăng chiều cao vẫn diễn ra đều đặn, mỗi năm tăng khoảng 4,75 - 7,08 cm, cân nặng tăng từ 0,98 - 1,69 kg [47] Cân nặng theo tuổi của bé trai cũng như bé gái đều tăng rất nhanh trong năm đầu đời, nhưng
từ năm thứ hai trở đi mức độ tăng giảm có chiều hướng đi ngang và duy trì mức tăng cho đến 9 - 10 tuổi (đó là giai đoạn phát triển tĩnh) Sau đó cân nặng tiếp tục tăng mạnh ở lứa tuổi trước dậy thì và dậy thì [58] Nếu tính theo BMI, trong năm đầu chỉ số BMI tăng dần nhưng từ năm thứ hai đến 6 tuổi thì chỉ số BMI lại giảm dần theo tuổi ở cả hai giới [40] Theo Mei Z, Dietz và cs nghiên cứu trên 10844 trẻ từ 0 - 60 tháng cho thấy tốc độ tăng trưởng thay đổi phổ biến nhất là trẻ dưới 6 tháng tuổi, ít thay đổi hơn là giai đoạn 6 - 24 tháng và
ít hơn nữa là giai đoạn 24 - 60 tháng [45] 1.2.2 Khái niệm dinh dưỡng
Dinh dưỡng là quá trình phức hợp bao gồm việc đưa vào cơ thể những thức ăn cần thiết qua quá trình tiêu hóa và hấp thụ để bù đắp hao phí năng lượng trong quá trình hoạt động sống của cơ thể, tạo ra sự đổi mới các tế bào
và mô cũng như điều tiết các chức năng sống của cơ thể [11]
Dinh dưỡng là nhu cầu sống hàng ngày của mỗi cơ thể, nếu người lớn cần dinh dưỡng để khỏe mạnh, làm việc thì trẻ em cần dinh dưỡng để phát triển thể lực và trí lực Trẻ em nếu được nuôi dưỡng tốt sẽ mau lớn, khỏe mạnh, thông minh … Ngược lại nếu không được nuôi dưỡng, chăm sóc tốt sẽ
bị còi cọc chậm phát triển và nguy cơ mắc bệnh cao
Tất cả chúng ta đều thấy rõ tầm quan trọng của việc ăn uống Đây là nhu cầu hàng ngày, một nhu cầu bức thiết, không chỉ là để giải quyết chống lại cảm giác đói, mà quan trọng hơn ăn uống là để cung cấp năng lượng cho
cơ thể hoạt động và cung cấp các axitamin, vitamin, chất khoáng … là những chất cần thiết cho sự phát triển của cơ thể, duy trì các tế bào, các tổ chức cơ
thể
Trang 29bệnh huyết áp cao, tim mạch, tiểu đường và một số loại ung thư [13]
Ở trẻ em, cơ thể đang phát triển mạnh, nhu cầu dinh dưỡng rất lớn Nếu thiếu ăn, trẻ em sẽ là đối tượng đầu tiên chịu hậu quả về các bệnh dinh dưỡng như: SDD protein - năng lượng, các bệnh do thiếu vi chất dinh dưỡng (đần
độn do thiếu iot, hỏng mắt do thiếu Vitamin A …)
Dinh dưỡng là một vấn đề rộng lớn và đa ngành, vì vậy nó đòi hỏi sự kết hợp, hỗ trợ lẫn nhau của mọi ngành, mọi cấp, các cơ chế hợp tác liên ngành, sự tham gia trong cộng đồng trong mọi lĩnh vực nhằm cải thiện tình trạng dinh dưỡng là vấn đề hết sức cần thiết nhằm nâng cao chất lượng cuộc
sống cho mọi người [11]
1.2.2 Suy dinh dưỡng
Suy dinh dưỡng là một trạng thái nghèo dinh dưỡng liên quan tới việc
hấp thụ không đủ hoặc quá nhiều thức ăn, hấp thụ không đúng loại thức ăn và phản ứng của cơ thể với hàng loạt các lây nhiễm dẫn tới hấp thụ không tốt hoặc không có khả năng sử dụng các chất dinh dưỡng một cách hợp lý để duy trì sức khỏe Về mặt lâm sàng, SDD được đặc trưng bởi sự hấp thụ thừa hoặc thiếu protein, năng lượng và các vi chất như vitamin và hậu quả là sự xuất hiện của các bệnh lây nhiễm và rối loạn Theo WHO, có các loại SDD sau: SDD thể còm (wasting), thể còi (stunting), thể nhẹ cân (underweight), thừa cân (overweight) và béo phì (obesity) [83]
Trang 3020
Nhân trắc học dinh dưỡng có mục đích đo các biến đổi về kích thước
và cấu trúc cơ thể theo tuổi và tình trạng dinh dưỡng Phương pháp nhân trắc học có những ưu điểm là đơn giản, an toàn và có thể điều tra trên một mẫu lớn Có thể khai thác đánh giá được các dấu hiệu về tình trạng dinh dưỡng trong quá khứ và xác dịnh được mức độ suy dinh dưỡng Tuy nhiên phương pháp nhân trắc học cũng có một vài nhược điểm như: không đánh giá được sự thay đổi về tình trạng dinh dưỡng trong giai đoạn ngắn hoặc không nhạy để xác định các thiếu hụt dinh dưỡng đặc hiệu [29]
Có thể chia ra nhóm kích thước nhân trắc sau đây: Khối lượng cơ thể, biểu hiện bằng cân nặng; Các kích thước về độ dài, đặc hiệu là chiều cao; Cấu trúc cơ thể và các dự trữ về năng lượng và protein, thông qua các mô mềm bề mặt (lớp mỡ dưới da và cơ)
Hiện nay, người ta nhận định tình trạng dinh dưỡng ở trẻ em chủ yếu dựa vào 3 chỉ tiêu: chiều cao theo tuổi, cân nặng theo chiều cao và cân nặng theo tuổi
Chiều cao theo tuổi (chiều cao/tuổi): phản ánh sự tăng trưởng về chiều
dài của cơ thể, những thiếu hụt về chiều dài (cao) theo tuổi phản ánh những nguy cơ dài hạn về sức khỏe và dinh dưỡng của cơ thể trẻ Chiều dài cơ thể và chiều cao đứng là hai thuật ngữ đều chỉ chiều cao nhưng chiều dài là thuật ngữ sử dụng đối với những trẻ em chưa thể đứng vững (khi đo người ta để trẻ nằm) và chiều cao đứng sử dụng với những trẻ đã đứng vững (thường 3 tuổi trở lên) Để thuận tiện, người ta sử dụng thuật ngữ chiều cao để chỉ chung cho
cả chiều dài và chiều cao đứng của trẻ
Chiều cao/tuổi thấp: thấp và còi “Thấp” (shortness) là định nghĩa có
tính chất mô tả về chỉ số chiều cao theo tuổi ở mức thấp hơn so với bình thường, định nghĩa này không đề cập tới nguyên nhân của tình trạng thấp mà chỉ được sử dụng để chỉ biến dị bình thường hoặc một quá trình bệnh lý nào
Trang 3121
đó của cơ thể “Còi” (stunting) là một thuật ngữ thường dùng khác để đề cập
tới tình trạng thấp là do bệnh lý, thuật ngữ này chỉ sự tăng trưởng không bình thường của cơ thể và nguyên nhân của điều này có thể là do sức khỏe hoặc tình trạng dinh dưỡng không tốt hoặc cả hai lý do này
Chiều cao/tuổi cao hơn so với bình thường: là chỉ số ít có ý nghĩa về
phương diện sức khỏe cộng đồng Về phương diện lâm sàng, chỉ số này chỉ được quan tâm ở những khu vực phát triển do có các rối loạn nội tiết (ví dụ: khối u gây tăng sinh hormone tăng trưởng có thể dẫn tới sự tăng trưởng quá mức bình thường)
Cân nặng theo chiều cao là chỉ số thường được sử dụng khi gặp những
khó khăn trong quá trình xác định tuổi, đặc biệt là ở các khu vực đang phát triển Tuy vậy, điều đáng chú ý là chỉ số này không thể thay thế cho chiều cao/tuổi hoặc cân nặng/tuổi được bởi mỗi chỉ số phản ánh một tổ hợp các quá trình sinh học khác nhau
Cân nặng/chiều cao thấp hơn bình thường là gầy và còm “Gầy”
(thinness) không chỉ quá trình bệnh lý còn “còm” (wasting) là thuật ngữ được
sử dụng rộng rãi để mô tả quá trình sụt cân đáng kể xảy ra gần đây do hậu quả của thiếu ăn hoặc bệnh tật (hoặc cả thiếu ăn và bệnh tật) Trẻ cũng có thể bị gầy do thiếu hụt khẩu phần ăn thường xuyên hoặc do bệnh tật Thuật ngữ
“còm” dùng để chỉ những trẻ bị gầy do nguyên nhân bệnh lý, thuật ngữ này
cũng có thể được áp dụng với những quần thể có tỷ lệ trẻ gầy vượt quá 2-3% tổng số trẻ (ở những quần thể như vậy, có thể hầu hết những trẻ gầy đều bị còm)
Cân nặng/chiều cao cao hơn bình thường là quá cân và béo phì “Quá cân” (overweight) có tương quan chặt với cân nặng/chiều cao cao và “béo phì” (obesity) Trên phương diện quần thể, chỉ số cân nặng/chiều cao cao có
thể được dùng để chỉ tình trạng béo phì bởi đa số những trẻ có cân nặng/chiều
Trang 3222
cao cao đều béo phì Tuy vậy, chỉ nên sử dụng thuật ngữ béo phì khi đo đạc các chỉ số về tình trạng béo phì như bề dày lớp mỡ dưới da
Ở trẻ, chiều cao theo tuổi (chiều cao/tuổi) bị ảnh hưởng bởi cả chiều
cao và cân nặng điều này sẽ gây nhiều phức tạp khi giải thích về chỉ số này Tuy nhiên, nếu trong một quần thể có tỷ lệ trẻ bị còm cao thì các chỉ số cân nặng/tuổi và chiều cao/tuổi đều cho các thông tin tương tự nhau, cả hai chỉ số này đều phản ánh tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe dài hạn của cá thể hoặc quần thể Những biến đổi ngắn hạn đặc biệt là giảm cân nặng/chiều cao sẽ làm xuất hiện những thay đổi về cân nặng/chiều cao
Cân nặng/tuổi thấp: “Nhẹ cân” (underweight) được sử dụng để đề cập
tới quá trình bệnh lý Mặc dù có một bất đồng nào đó với việc sử dụng thuật
ngữ “quá cân” (overweight) (quá cân đề cập tới thừa cân nặng/chiều cao) nhưng thuật ngữ nhẹ cân vẫn được sử dụng rộng rãi
Cân nặng/tuổi cao: chỉ số này hiếm khi được sử dụng trong đánh giá
sức khỏe cộng đồng bởi các chỉ số khác như cân nặng/chiều cao cao thường hữu dụng hơn trong việc đánh giá tình trạng quá cân
Để kiểm soát sự tăng trưởng của trẻ nói chung thì việc chỉ sử dụng chỉ
số cân nặng theo tuổi là không đủ Vì vậy người ta thường sử dụng chỉ số BMI/tuổi để bổ sung cho chỉ số chiều cao/tuổi trong việc đánh giá mức độ gầy (BMI/tuổi thấp), thừa cân và béo phì (BMI/tuổi cao) cùng với còi (chiều cao/tuổi thấp) với trẻ em ở độ tuổi đi học và người trưởng thành [29] Sử dụng riêng chỉ số cân nặng/tuổi thì chỉ có thể đánh giá sự tăng trưởng của trẻ trong giai đoạn trước 10 tuổi, bởi vì sau 10 tuổi thì chỉ số này không phân biệt được chiều cao và cân nặng trong giai đoạn này khi có nhiều trẻ đang trải qua đỉnh tăng trưởng dậy thì và nhiều trẻ có biểu hiện thừa cân nhưng thực tế là do chúng chỉ cao lên đơn thuần
Trang 3323
BMI/tuổi là chỉ số đơn giản dựa trên cân nặng theo chiều cao thường
được dùng để phân loại tình trạng béo phì và thừa cân BMI được tính bằng cân nặng (kg) chia cho bình phương chiều cao (m2) [29]
1.2.3 Suy dinh dưỡng của trẻ 3-5 tuổi ở trường mầm non
Suy dinh dưỡng ở trẻ em nói chung và suy dinh ở trẻ 3-5 tuổi ở trường
mầm non là tình trạng thiếu thụt và không được cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết làm ảnh hưởng đến quá trình phát triển thể chất, quá trình sống và tăng trưởng sự suy giảm sức đề kháng lẫn trí tuệ của trẻ
Suy dinh dưỡng ảnh hưởng rõ rệt đến phát triển trí tuệ, hành vi khả năng học hành của trẻ, khả năng lao động đến tuổi trưởng thành Gần đây, nhiều bằng chứng cho thấy SDD ở giai đoạn sớm, nhất là trong thời kỳ bào thai có mối liên hệ với mọi thời kỳ của đời người Phụ nữ đã từng bị SDD trong thời kỳ còn là trẻ em nhỏ hoặc trong độ tuổi vị thành niên đến khi lớn lên trở thành bà mẹ bị suy dinh duỡng Bà mẹ bị SDD thường dễ đẻ con nhỏ yếu, cân nặng sơ sinh thấp Hầu hết những trẻ có cân nặng sơ sinh thấp bị SDD (nhẹ cân hoặc thấp còi) ngay trong năm đầu sau sinh Những trẻ này có nguy cơ tử vong cao hơn so với trẻ bình thường và khó có khả năng phát triển bình thường [2]
1.2.4 Những vấn đề có liên quan đến suy dinh dưỡng của trẻ 3-5 tuổi ở trường mầm non
1.2.4.1 Nhận biết suy dinh dưỡng ở trẻ
Các mức độ suy dinh dưỡng ở trẻ bao gồm:
Suy dinh dưỡng ở độ 1: 1) Cân nặng còn 70 - 80% (-2SD đến -3SD); 2) Lớp mỡ dưới da bụng mỏng; 3) Trẻ vẫn thèm ăn và chưa có biểu hiện rối loại tiêu hóa
Trang 3424
Suy dinh dưỡng vừa: 1) Cân nặng còn 60 - 70% (-3SD đến -4SD); 2) Mất lớp mỡ dưới da bụng, mỏng, chi; 3) Rối loại tiêu hóa từng đợt; 4) Trẻ có thể biếng ăn
Suy dinh dưỡng nặng: Gồm 3 thể là Thể teo đét (Marasmus), Thể phù (Kwashiorkor) và Thể phối hợp (Marasmus-Kwashiorkor)
Hiện nay tổ chức Y tế Thế giới khuyến nghị coi là thiếu đinh dưỡng khi
tỷ lệ cân nặng/tuổi dưới 2 độ lệch chuẩn (-2SD) so với quần thể tham khảo NCHS (National Center for Health Statistics) của Mỹ [48]
1.2.4.2 Ảnh hưởng của suy dinh dưỡng ở trẻ
Suy dinh dưỡng ảnh hưởng rõ rệt đến phát triển trí tuệ, hành vi khả năng học hành của trẻ, khả năng lao động đến tuổi trưởng thành Có nhiều bằng chứng cho thấy SDD ở giai đoạn sớm, nhất là trong thời kỳ bào thai có mối liên hệ với mọi thời kỳ của đời người Phụ nữ đã từng bị SDD trong thời kỳ còn là trẻ em nhỏ hoặc trong độ tuổi vị thành niên đến khi lớn lên trở thành bà
mẹ bị suy dinh duỡng Bà mẹ bị SDD thường dễ đẻ con nhỏ yếu, cân nặng sơ sinh thấp Hầu hết những trẻ có cân nặng sơ sinh thấp bị SDD (nhẹ cân hoặc thấp còi) ngay trong năm đầu sau sinh Những trẻ này có nguy cơ tử vong cao hơn so với trẻ bình thường và khó có khả năng phát triển bình thường [34]
Ảnh hưởng đến sức khỏe: Tăng gánh nặng bệnh tật và tử vong Suy dinh
dưỡng thể vừa và nhẹ hay gặp và có ý nghĩa sức khoẻ cộng đồng quan trọng nhất vì ngay cả SDD nhẹ cũng làm tăng gấp đôi nguy cơ bệnh tật và tử vong
so với trẻ em không bị SDD Ước lượng gánh nặng bệnh tật cho thấy gia tăng gánh nặng bệnh đối với nhóm trẻ dưới 5 tuổi vừa bị SDD thấp còi, vừa bị gầy còm SDD làm tăng tỷ lệ tử vong và làm tăng gánh nặng cho xã hội, ước tính mỗi năm trên toàn thế giới có khoảng 2,1 triệu cái chết ở trẻ dưới 5 tuổi vì lý
do SDD; đồng thời SDD cũng gây ra 35% gánh nặng bệnh tật ở trẻ dưới 5 tuổi [64]
Trang 3525
Ảnh hưởng đến vóc dáng, chiều cao khi trưởng thành Chiều cao của
trẻ được quy định bởi di truyền nhưng dinh dưỡng chính là điều kiện cần thiết
để trẻ đạt tối đa tiềm năng di truyền của mình Ở tất cả các nước đã tiến hành nghiên cứu về chiều cao của trẻ cho thấy, chiều cao của những trẻ bình thường cao hơn rất nhiều so với những trẻ bị SDD thể còi khi dưới 5 tuổi Những trẻ SDD thể còi đến khi trưởng thành sẽ trở thành người có chiều cao dưới mức bình thường [2]
Trẻ bị suy dinh dưỡng dẫn tới chậm phát triển thể chất Suy dinh
dưỡng ảnh hưởng nghiêm trọng tới tầm vóc của trẻ Đây là nguyên nhân trực tiếp làm cho tất cả các hệ cơ quan của cơ thể giảm phát triển, bao gồm của cả
hệ cơ xương, nhất là khi tình trạng thiếu dinh dưỡng diễn ra sớm như suy dinh
dưỡng trong giai đoạn bào thai và giai đoạn sớm trước khi trẻ được 2 tuổi
Nếu tình trạng suy dinh dưỡng kéo dài đến thời gian dậy thì, chiều cao của trẻ
sẽ càng bị ảnh hưởng trầm trọng hơn Chiều cao của trẻ được quy định bởi di truyền, nhưng dinh dưỡng chính là điều kiện cần thiết để trẻ đạt tối đa tiềm năng di truyền của mình
Trong những năm qua, nghiên cứu của Barker và cộng sự đã chỉ ra mối liên quan kích thước nhân trắc học lúc mới sinh với bệnh tim, và đó như
là một yếu tố nguy cơ Cân nặng thấp, chu vi vòng đầu lúc sinh và cân nặng thấp lúc 1 tuổi có mối liên quan với việc tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch khi truởng thành [59]
Ảnh hưởng đến tâm lý: Trẻ bị suy dinh dưỡng chậm phát triển tinh thần
Suy dinh dưỡng ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của não bộ trong giai đoạn trẻ dưới 6 tuổi Trẻ bị thiếu dinh dưỡng thường là thiếu đồng bộ nhiều chất trong đó có những chất tối cần thiết cho sự phát triển não và trí tuệ của trẻ như chất béo, chất đường, sắt, iốt, DHA, Taurine… Trẻ bị suy dinh dưỡng cũng thường chậm chạp lờ đờ vì vậy giao tiếp xã hội thường kém, kéo
Trang 3626
theo sự giảm học hỏi, tiếp thu Ngoài ra, khi thế hệ trẻ bị suy dinh dưỡng, xã hội cũng phải đối mặt với nhiều nguy cơ như: Tầm vóc của dân tộc sẽ chậm tăng trưởng nếu tình trạng suy dinh dưỡng không được cải thiện qua nhiều thế
hệ Khả năng lao động về thể lực cũng như về trí lực của những người suy dinh dưỡng trong quá khứ hay trong hiện tại đều không thể đạt đến mức tối
ưu, là một sự lãng phí vô cùng lớn với những nước đang phát triển có nhu cầu
về nguồn nhân lực rất cao Nguồn nhân lực trong tương lai cũng sẽ bị ảnh hưởng vì tầm vóc và thể lực của các lớp thanh thiếu niên liên quan đến sức khỏe sinh sản [2]
Ảnh hưởng đến nhận thức, phát triển trí tuệ và khả năng lao động: Suy
dinh dưỡng ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của não bộ trong giai đoạn trẻ dưới 6 tuổi Trẻ bị SDD cũng thường chậm chạp, lờ đờ vì vậy giao tiếp xã hội thường kém, kéo theo sự giảm học hỏi, tiếp thu
Nguy cơ về mặt xã hội: Khả năng lao động về thể lực cũng như trí lực của
những người SDD không thể đạt đến mức tối ưu Đây là một sự lãng phí vô cùng lớn với những nước đang phát triển có nhu cầu về nguồn nhân lực rất cao Ngoài
ra, nguồn nhân lực trong tương lai cũng sẽ bị ảnh hưởng do tầm vóc và thể lực của các lớp thanh thiếu niên liên quan đến sức khỏe sinh sản
Nhiều nghiên cứu cho thấy, những trẻ SDD thể còi có khả năng chậm đi học và tỉ lệ bỏ học cao hơn trẻ bình thường Những trẻ này thường có
tỉ lệ tốt nghiệp ở cấp 1 và cấp 2 thấp, chậm chạp trong học tập, nhận thức, học kém hơn lúc thơ ấu [56] Điều đó dẫn đến sức lao động về mặt năng lực, tài năng và trí truệ, nhân tài của đất nước sau này
1.2.4.3 Nguyên nhân dẫn đến suy dinh dưỡng ở trẻ
Năm 1998, Quỹ nhi đồng Liên hiệp quốc UNICEF đã đưa ra mô hình nguyên nhân suy dinh dưỡng Mô hình này cho thấy, SDD là do tác động của nhiều yếu tố, có mối quan hệ chặt chẽ với vấn đề y tế, lương thực - thực phẩm
Trang 3727
và thực hành chăm sóc trẻ tại gia đình Mô hình chỉ ra các nguyên nhân ở các cấp độ khác nhau: nguyên nhân trực tiếp, nguyên nhân cơ bản, nguyên nhân sâu xa và các yếu tố ở cấp độ này ảnh hưởng đến cấp độ khác
Yếu tố di truyền: Trong thời gian mang thai, mối quan hệ của mẹ và bé
rất khăng khít Người mẹ bị suy dinh dưỡng khi mang thai ăn uống cầu kì sinh con kén ăn, chán ăn, quá kén chọn thức ăn trong thời gian mang thai không những làm ảnh hưởng đến sức khỏe của bà mẹ mà còn ảnh hưởng tới thói quen ăn uống của con sau khi sinh ra Sự kén ăn có thể xuất phát từ tính cách
mẹ hoặc do sự thay đổi bên trong cơ thể khi bắt đầu mang thai Những nguyên nhân đó, mẹ không đảm bảo ăn đủ bữa với chế độ dinh dưỡng cân bằng dẫn đến đứa trẻ đã bị suy dinh dưỡng nay từ khi ở trong bào thai
Chế độ dinh dưỡng: Cha mẹ thiếu kiến thức nuôi con trẻ không được
bú sữa mẹ, cho ăn dặm không đúng cách, không biết cách lựa chọn thực phẩm phù hợp với trẻ, cho trẻ ăn quá ít lần trong ngày, kiêng khem quá đáng khi trẻ bệnh
Do việc chăm sóc bà mẹ khi có thai và khi cho con bú chưa tốt Nguyên nhân sinh con thiếu tháng hoặc thiếu cân (dưới 2500g) là do người mẹ ăn uống kiêng khem trong thời kì mang thai Bình thường trước khi sinh cơ thể người mẹ phải tăng được 12 kg so với lúc chưa có thai (trong đó 3 tháng đầu chỉ tăng lên 1 kg, 3 tháng sau tăng thêm 5 kg và 3 tháng cuối tăng 6 kg) Nếu người mẹ ăn uống thiếu chất, 3 tháng cuối cân hầu như không tăng, trẻ sơ sinh
bị SDD ngay trong bụng mẹ Sau khi sinh con, mẹ không được ăn uống đầy
đủ nên sức khỏe yếu, thiếu sữa nuôi con Ngoài ra, nhiều bà mẹ phải lao động nặng nhọc, tham công tiếc việc đến tận ngày sinh con, ảnh hưởng đến sức khỏe và bào thai trong bụng mẹ [29]
Do sai lầm trong cách nuôi con như: không cho trẻ bú sữa non, không nuôi con bằng sữa mẹ hoặc chưa tận dụng triệt để sữa mẹ để nuôi con trong 3
Trang 3828
- 4 tháng đầu Trẻ bị cai sữa sớm hoặc ăn sam sớm và không đầy đủ về số lượng và chất lượng, khẩu phần ăn mất cân đối, gây ra thiếu năng lượng, thiếu đạm và các vi lượng cần thiết cho sự lớn và phát triển khỏe mạnh của trẻ (sắt, đồng, kẽm, iot, hoặc các vitamin A, vitamin D) Các phong tục, tập quán, thói quen lạc hậu vẫn còn tồn tại Do kết quả của các bệnh như tiêu chảy, viêm phổi, sởi, lao, giun, sốt rét gây rối loạn chuyển hóa các chất, trẻ biếng ăn, sụt cân Suy dinh dưỡng là nguyên nhân thuận lợi cho các bệnh phát triển, ngược lại bệnh tật lại làm nặng thêm tình trạng suy dinh dưỡng [29]
Chế độ luyện tập: Cùng với yếu tố ăn uống, sự gia tăng tỉ lệ SDD ở trẻ
đi song song với sự giảm hoạt động thể lực trong một lối sống tĩnh tại Nếp sống ít hoạt động thể lực làm cho cơ thể càng ốm yếu, mệt mỏi dẫn đến quá trình hấp thu chất dinh dưỡng của cơ thể không được tốt Trong quá trình vận động thì các hệ cơ quan trong cơ thể hoạt động rất tốt khối lượng cơ bắp tăng dần, các hệ tiêu hóa cũng hoạt động tốt, làm tăng sức đề kháng Trẻ ít vận động làm hạn chế sự phát triển của cơ bắp, trẻ nhanh mệt mỏi, ốm yếu Chúng
ta thương thấy ở trẻ suy dinh dưỡng chế độ vận động của trẻ thấp, trẻ thường lười vận động, thường xuyên ngồi một chỗ hay ngủ nhiều…
Yếu tố kinh tế - xã hội: Nguyên nhân cơ bản (nguyên nhân gốc rễ):
Nguyên nhân gốc rễ của SDD là tình trạng đói nghèo, lạc hậu về các mặt phát triển nói chung, bao gồm cả mất bình đẳng về kinh tế Trong quá trình phát triển kinh tế hiện nay của các nước phát triển, khoảng cách giàu nghèo ngày càng gia tăng, tác động đến xã hội ngày càng sâu sắc [61] Nhiều yếu tố kinh
tế xã hội ảnh hưởng đến phát triển chiều cao Các yếu tố này ít nhiều ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sức khỏe của đứa trẻ đang lớn thông qua môi trường sống và vệ sinh của chúng
Về cơ bản sơ đồ nguyên nhân SDD và tử vong ở trẻ của UNICEF đưa
ra cho chúng ta hiểu được vai trò, vị trí của mỗi hệ thống các nguyên nhân
Trang 3929
Song tùy vào điều kiện hoàn cảnh của mỗi nước, mỗi nhóm, mỗi giai đoạn khác nhau mà xuất hiện nguyên nhân và các yếu tố khác nhau tác động tới tình hình SDD ở trẻ em
Các yếu tố kinh tế - xã hội thường được chia ra hai xu hướng phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế
Các nước đang phát triển, suy dinh dưỡng thường thấy ở lớp người nghèo khổ có thu nhập thấp, lao động nặng nề
Các nước phát triển suy dinh dưỡng lại thường thấy ở tầng lớp dân nghèo, không có ý thức và kiến thức phòng bệnh
Các yếu tố kinh tế xã hội cũng tác động mạnh đến trẻ em góp phần làm gia tăng tỉ lệ trẻ suy dinh dưỡng Khi chất lượng cuộc sống ngày một nâng cao bữa cơm gia đình ngày càng xuất hiện nhiều những món ăn, đồ ăn sẵn, bánh kẹo, nước ngọt để thỏa mãn nhu cầu của trẻ, nhưng những đồ ăn đó chưa chắc đảm bảo được các chất dinh dưỡng trong một bữa ăn của trẻ Trẻ thường ít chịu sự quản lý về nhu cầu ăn uống do cha mẹ qua bận rộn Ngược lại ở lớp người dân nghèo khổ kinh tế - xã hội càng phát triển thì họ lại càng hiếu ăn, nghèo đói dẫn đến trẻ bị suy dinh dưỡng ngày càng gia tăng
Yếu tố tôn giáo: Trên thực tiễn cho thấy, trẻ em là một cơ thể đang sinh
trưởng từng ngày từng đêm, trẻ cần được cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng nhưng một số người dân của xã họ lại có tin ngưỡng theo tôn giáo như
có sự kiêng khem và ăn chay, không ăn thịt, không ăn đồ mặn, các loại động vật, không được uống các loại sữa Còn một số tôn giáo không được ăn rau, trẻ càng nhỏ phải càng kiêng ăn, phụ nữ phải có sự kiêng ăn rất kỹ trong thời gian sinh con và cho bú, điều đó làm ảnh hưởng rất nhiều đến việc cung cấp chất dinh dưỡng cho trẻ cơ thể trẻ
Tập quán nuôi con: Tập quán nuôi con được hình trong quá trình nuôi
trẻ của các bà mẹ và được truyền lại từ đời qua đời khác, phần lớn là gia đình
Trang 4030
nhiều thế hệ, gia đình đông con và bao gồm toàn bộ thói quen liên quan tới cách lựa chọn và chế biến thức ăn, cách phân bố các bữa ăn trong ngày Nuôi dưỡng trẻ em được bắt đầu ngay từ khi còn trong bụng mẹ bằng việc chăm sóc thai nghén, rồi đến việc cho trẻ bú, ăn bổ sung, chăm sóc vệ sinh và chăm sóc khi trẻ bị ốm Ngoài ra còn mang tính cộng đồng, chịu ảnh hưởng của yếu
tố gia đình, văn hóa, đặc biệt là trình độ học vấn của người phụ nữ trong gia đình (cho con bú muộn sau sinh, cho ăn bổ sung quá sớm hoặc không biết cách cho trẻ ăn bổ sung đúng, chất lượng bữa ăn bổ sung nghèo nàn, kiêng khem khi trẻ bị ốm hoặc còn nhỏ)
Văn hóa của vùng miền: Lối sống của một dân tộc được hình thành từ
văn hóa dân tộc, đặc điểm truyền thống, đặc điểm nhân chủng và các điều kiện sống của dân tộc trong vùng miền đó Vì vậy, việc nuôi con cũng chịu sự ảnh hưởng trực tiếp từ văn hóa của dân tộc, nhiều dân tộc tập quán không có lợi như: có sự kiêng khem thức từ lúc bắt đầu mang thai cho đến khi con cai sữa, khi mới sinh con trong vòng 6 tháng - 12 tháng người mẹ chỉ được ăn một vài món ăn do người lớn tuổi trong gia đình mang đến cho ăn, trong vòng
15 ngày hoặc một tháng không được gội đầu, không được tắm, không được đi
ra ngoài, trẻ nhỏ cũng phải kiêng ăn như người mẹ Các thức cho bữa ăn hàng ngày là không có sự phân chia cho đủ các chất dinh dưỡng, kiếm được gì thì
ăn cái đó, không có sự phân biệt thức ăn người lớn hay trẻ nhỏ
1.3 Đặc điểm suy ding dưỡng của trẻ 3-5 tuổi ở trường mầm non
1.3.1 Đặc điểm sinh lý
Suy dinh dưỡng ở trẻ nhỏ thì càng trầm trọng và khó điều trị ở lứa tuổi lớn Trẻ suy dinh dưỡng kéo dài có nhiều nguy cơ và dễ trở thành người lớn suy dinh dưỡng Ngay cả sau này khi trở thành người lớn không còn SDD thì nguy
cơ bệnh tật vẫn cao hơn với những người lúc nhỏ không bị suy dinh dưỡng
Suy dinh dưỡng thường làm tăng nguy cơ bệnh tật và tử vong ở trẻ nhỏ