Thực trạng hoạt động của cơ quan Nhà nước và một số ngành chức năng đối với việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc thiểu số, trong đó có người Thái Trắng ở huyện Mộc Châu .
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA TRIẾT HỌC - -
LƯỜNG VĂN TÀI
BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA CỦA NGƯỜI THÁI TRẮNG Ở HUYỆN MỘC CHÂU,
TỈNH SƠN LA
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA TRIẾT HỌC - -
LƯỜNG VĂN TÀI
BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA CỦA NGƯỜI THÁI TRẮNG Ở HUYỆN MỘC CHÂU,
TỈNH SƠN LA
Chuyên nga ̀nh : Triết ho ̣c
Ma ̃ số : 60.22.03.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS LÊ THỊ HƯƠNG
HÀ NỘI - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa
được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Hà nội, tháng 6 năm 2017
Tác giả luận văn
Lường Văn Tài
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến TS Lê Thị Hương - Người thầy đã tận tâm, nhiệt tình chỉ bảo, hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Đồng thời, em gửi lời cảm ơn đến Ban chủ nhiệm khoa Triết học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Cảm ơn gia đình, cảm ơn bạn bè và đồng nghiệp đã luôn động viên, khích lệ, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua để tôi có thể hoàn thành tốt luận văn
Hà Nội, tháng 6 năm 2017
Tác giả
Lường Văn Tài
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến luận văn 1
3 Mục đích nghiên cứu của luận văn Error! Bookmark not defined 4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu Error! Bookmark not defined 5 Giả thuyết khoa học 7
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 7
7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 8
8 Phương pháp nghiên cứu luận văn 8
9 Cấu trúc luận văn 8
10 Các luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn 8
Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA CỦA NGƯỜI THÁI TRẮNG Ở HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA 10
1.1 Cơ sở lý luận của việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của người Thái Trắng ở huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La 10
1.1.1 Quan điểm về văn hóa 10
1.1.2 Quan điểm về giá trị văn hóa 17
1.2 Cơ sở thực tiễn của việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của người Thái Trắng ở huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La 21
1.2.1 Sự hình thành và phát triển của người Thái Trắng ở huyện Mộc Châu 21 1.2.2 Những giá trị văn hóa đặc sắc của người Thái Trắng ở huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La 23
1.2.2.1 Điều kiện nảy sinh và tồn tại văn hóa của người Thái Trắng ở huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La 23
1.2.2.2 Văn hóa của người Thái Trắng ở huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La 27
Trang 61.3 Tính tất yếu của việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của người Thái
Trắng ở huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La 43
Tiểu kết chương 1 Error! Bookmark not defined Chương 2 : BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA CỦA NGƯỜI THÁI TRẮNG Ở HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA HIỆN NAY - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP 51
2.1 Thực trạng của việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của người Thái Trắng ở huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La 51
2.1.1 Thực trạng hoạt động của cơ quan Nhà nước và một số ngành chức năng đối với việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc thiểu số, trong đó có người Thái Trắng ở huyện Mộc Châu 51
2.1.2 Sự biến đổi của các giá trị văn hóa người Thái Trắng ở huyện Mộc Châu hiện nay 54
2.1.3 Những vấn đề đặt ra trong việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của người Thái Trắng ở huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La hiện nay 67
2.1.4 Nguyên nhân của thực trạng 70
2.1.4.1 Nguyên nhân khách quan 70
2.1.4.2 Nguyên nhân chủ quan 74
2.2 Một số định hướng, giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của người Thái Trắng ở huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La hiện nay 77
2.2.1 Một số định hướng, giải pháp bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của người Thái Trắng ở huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La 77
2.2.1.1 Giải quyết mối quan hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế - xã hội ở huyện Mộc Châu với việc bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa dân tộc 77
2.2.1.2 Bảo đảm sự kết hợp hài hòa, hợp lý giữa truyền thống và hiện đại trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của người Thái Trắng ở huyện Mộc Châu 79
Trang 72.2.1.3 Có thái độ khách quan, khoa học, tôn trọng lịch sử khi đề ra và thực hiện các giải pháp bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa người Thái Trắng ở huyện Mộc Châu 80 2.2.1.4 Luôn coi trọng vai trò điều tiết của Đảng và Nhà nước trong công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa người Thái Trắng ở huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La 82
2.2.2 Một số giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của người Thái Trắng ở huyện Mộc
Châu, tỉnh Sơn La hiện nay……… ……… 822.2.2.1 Phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống, xây dựng cơ sở vật chất cho văn hóa của người Thái Trắng ở huyện Mộc Châu hiện nay 82 2.2.2.2 Khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư cho hoạt động văn hóa 83 2.2.2.3 Nâng cao trình độ dân trí cho người Thái Trắng ở huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La 85 2.2.2.4 Tăng cường vai trò quản lý văn hóa của các cơ quan chức năng gắn liền với xây dựng đội ngũ cán bộ có trình độ cao làm công tác văn hóa 87 2.2.2.5 Nâng cao ý thức bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa trong cộng đồng người Thái Trắng ở huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La 89
Tiểu kết chương 2 Error! Bookmark not defined KẾT LUẬN 92 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95 MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA CỦA NGƯỜI THÁI TRẮNG Ở HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Lý luận và thực tiễn đã chứng minh rằng, bất kỳ dân tộc nào cũng có quá trình lịch sử phát triển riêng của mình, đồng thời sản sinh ra giá trị văn hóa dân tộc và chính giá trị văn hóa đó đã làm nên diện mạo, cốt cách riêng của mỗi dân tộc để tạo nên sự phong phú đa dạng nền văn hóa chung của nhân loại Muốn giữ gìn, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, thì mỗi quốc gia, mỗi dân tộc phải biết tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, đồng thời phải biết bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc; sử dụng những thành quả kinh tế, chính trị, giáo dục, khoa học - công nghệ hiện đại cho việc đẩy mạnh sáng tạo các giá trị văn hóa mới Bởi vì, chỉ có một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc mới đảm bảo cho một quốc gia, một dân tộc có sự phát triển bền vững Nhận thức được vai trò quan trọng của văn hóa Tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ V Ban chấp hành Trung ương khóa VIII về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đã
nhấn mạnh quan điểm “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội”
Mộc Châu được coi là huyện cửa ngõ của tỉnh Sơn La nói riêng và của Tây Bắc nói chung; là nơi nối liền giữa Tây bắc với Hòa Bình và Hà Nội vào vùng kinh tế - xã hội trọng điểm của Bắc Bộ Đây là nơi đang bảo tồn nhiều nét văn hóa đặc sắc của các dân tộc như: H’Mông, Dao, Khơ mú, Thái, LaHa, Mường, Trong đó có giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc của người Thái Trắng
Văn hóa truyền thống của người Thái Trắng ở huyện Mộc Châu được hình thành từ lâu đời và đã trở thành bộ phận không thể tách rời của văn hóa vùng Tây Bắc, được thể hiện ở kiến trúc nhà ở, ẩm thực, trang phục, lễ hội, phong tục tập quán… Trong quá trình tồn tại và phát triển, trải qua những
Trang 9ngày càng được chắt lọc, tạo nên những giá trị văn hóa độc đáo mang tính nhân văn sâu sắc Những giá trị văn hóa ấy đã góp phần phát triển đời sống, kinh tế - xã hội của huyện
Trong những năm qua dưới sự lãnh đạo của tỉnh Ủy tỉnh Sơn La, vấn đề phát triển văn hóa, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của các dân tộc trên địa bàn tỉnh có những bước phát triển nhất định Tuy nhiên, để đáp ứng nhu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội, góp phần thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới thì vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của các dân tộc trong đó có văn hóa của người Thái Trắng ở huyện Mộc Châu là vấn đề đặt ra và cần được giải quyết
Thực tiễn đã chứng minh rằng, Mộc Châu không chỉ phát triển về kinh
tế, giáo dục, chính trị mà còn gắn liền với sự phát triển văn hóa của các dân tộc trong đó có văn hóa của người Thái Trắng Vì vậy, để Mộc Châu ngày càng phát triển bền vững thì việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của người Thái Trắng là một vấn đề cần thiết Với những nghĩa trên, việc nghiên
cứu về Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của người Thái Trắng ở
huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về cả phương
diện lý luận và phương diện thực tiễn
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến luận văn
Văn hóa đang là một vấn đề được nhiều nhà khoa học quan tâm và nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau như: Dân tộc học, văn hóa học, chính trị học, lịch sử, văn hóa Dưới góc độ triết học bàn về văn hóa có thể khái quát lại các hướng nghiên cứu sau:
Thứ nhất, nhóm nghiên cứu về văn hóa dưới góc độ bản sắc văn hóa có các công trình:
Công trình nghiên cứu “Văn hóa Việt Nam đặc trưng và cách tiếp cận” của
Lê Ngọc Trà, Nhà xuất bản Văn hóa thể thao, Hà Nội, 2003, tác phẩm khái quát các nền văn hóa đặc trưng của từng vùng miền, đã đưa ra nhiều nhận định sâu sắc
Trang 10về vấn đề văn hóa và tầm ảnh hưởng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam trong giao lưu, hội nhập, phát triển đất nước
Công trình nghiên cứu “Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa ở Việt Nam” của Ngô Đức Thịnh, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1993, tác phẩm
đã nêu những lên những căn cứ phân vùng văn hóa, đặc điểm văn hóa của các vùng Ngoài ra công trình nghiên cứu này còn đem lại cái nhìn tổng quát
về bản sắc văn hóa của 54 dân tộc ở Việt Nam, những nét văn hóa đặc trưng tiêu biểu nhất Qua đó giúp chúng ta phân biệt một cách rõ ràng về văn hóa của từng dân tộc
Công trình nghiên cứu về “Văn hóa và phát triển” của Đỗ Huy, Nhà
xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, đã xác định được vấn đề văn hóa với tư cách là mục tiêu của sự phát triển xã hội Điều này có ý nghĩa rất lớn với những người có nhu cầu nghiên cứu và tìm hiểu về mối quan hệ giữa văn hóa và phát triển kinh tế Từ những quan điểm của tác giả, ta có thể phân tích vai trò của văn hóa trong sự phát triển kinh tế chung
Công trình nghiên cứu “Bản sắc văn hóa Việt Nam” của Phan Ngọc,
Nhà xuất bản Văn hóa thông tin, Hà Nội, 1998, tác giả đi vào phân tích và làm sáng tỏ khái niệm văn hóa và bản sắc văn hóa dân tộc và mối quan hệ giữa các không gian văn hóa Từ đó đi đến khẳng định: văn hóa nào cũng cần phải có sự giao tiếp để phát triển
Công trình nghiên cứu “Cơ sở văn hóa Việt Nam” của Trần Quốc
Vượng, Nhà xuất bản Giáo Dục, 1998, đã giới thiệu các quan niệm về văn hóa và các đặc điểm của văn hóa Việt Nam trong quá trình tiếp biến văn hóa nhân loại Qua đó, khẳng định sự giao lưu văn hóa, cần phải có chính sách giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
Cuốn“Văn hóa bản sắc văn hóa dân tộc” của Hồ Bá Thâm, Nhà xuất
bảnVăn hóa thông tin Hà Nội, 2012, đã làm rõ bản chất, đặc trưng của văn
Trang 11trong điều kiện giữ gìn, phát triển văn hóa Việt Nam hiện nay trước sự tác động của kinh tế thị trường
Ngoài ra, khi nghiên cứu về “Văn hóa Việt Nam trên con đường giải phóng, đổi mới hội nhập và phát triển” của Đỗ Huy, Nhà xuất bản Thông tin
- Truyền thông, 2013, đã trình bày hành trình của quá trình giải phóng, đổi mới và dự báo về bước phát triển mới của văn hóa Việt Nam trong thời kỳ hội nhập và đưa ra những giải pháp cụ thể để phát triển văn hóa
Thứ hai, nhóm nghiên cứu về văn hóa các dân tộc thiểu số có thể kể đến:
Tác phẩm “Tìm hiểu văn hóa vùng các dân tộc thiểu số” của Lò Giàng
Páo, Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 1997, đã nêu lên được những nét văn hóa vùng của dân tộc thiểu số, trong đó có dân tộc H’Mông ở tỉnh Tuyên Quang
Công trình nghiên cứu “Văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam”, của
Ngô Văn Lệ, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1998, đã tập trung khai thác những đặc điểm hình thành và những đặc trưng của bản sắc dân tộc thiểu số
từ đó đưa ra cái nhìn mới về bản sắc dân tộc trước những tác động của kinh
tế thị trường
Ngoài ra có thể kể đến “Nhân tố chủ quan với việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Mường ở tỉnh Phú Thọ hiện nay” của Đinh Thị
Hoa Luận văn thạc sĩ Triết học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh,
Hà Nội, 2006, luận văn đã phân tích sâu sắc về văn hóa dân tộc Mường qua các giá trị vật chất và giá trị tinh thần dước góc độ triết học
Thứ ba, nhóm nghiên cứu về văn hóa người Thái có thể kể đến:
Công trình nghiên cứu “Văn hóa và lịch sử người Thái ở Việt Nam” của
Cầm Trọng, Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 1995, phân tích về lịch sử hình thành và phát triển văn hóa của người Thái thông qua sự so sánh với văn hóa các dân tộc khác
Trang 12Công trình nghiên cứu “Văn hóa Thái ở Việt Nam”, Cầm Trọng - Phan
Hữu Dật, Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 1995, đã đi sâu làm rõ những phong tục, tập quán của người Thái, những nét văn hóa cơ bản về văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần như tín ngưỡng tôn giáo, quan hệ gia đình, quan niệm về tình yêu, hôn nhân… từ đó khẳng định những giá trị văn hóa của người Thái trong quá trình phát triển của văn hóa dân tộc
Công trình nghiên cứu “Những hiểu biết về người Thái ở Việt Nam”,
của Cầm Trọng, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, đã phân tích sâu sắc về các khía cạnh trong đời sống văn hóa tinh thần của người Thái ở Tây Bắc Chỉ ra vai trò của nó đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng Tây Bắc nói riêng và cả nước nói chung
Công trình nghiên cứu “Luật tục Thái ở Việt Nam” của Cầm Trọng -
Ngô Đức Thịnh, Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 1999, tập trung phân tích phong tục tập quán, luật lệ của bản mường trong việc thực hiện các
lễ nghi cưới hỏi, tang ma, cúng bái… tác phẩm cũng chỉ ra những tiến bộ và lạc hậu của các luật tục đó, sự ảnh hưởng của chúng trong đời sống xã hội
Công trình nghiên cứu “Vài nét về người Thái ở Sơn La”, Vì Trọng
Liên, Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 2002, đã phân tích về phong cách sinh sống, ăn mặc, giao tiếp, lao động của người Thái ở tỉnh Sơn La Chỉ ra những tiếp biến của nó dưới sự tác động của nền kinh tế thị trường Đồng thời cũng chỉ ra các giải pháp để giữ gìn nét văn hóa tiến bộ và độc đáo
Ngoài ra còn khá nhiều bài viết về văn hóa của người Thái đăng trên các báo, tạp chí, báo điện tử
Thứ tư, nhóm nghiên cứu về các giải pháp nhằm tiếp tục phát triển nền văn hóa dân tộc:
Công trình nghiên cứu “Luật tục Thái ở Việt Nam” của Cầm Trọng -
Trang 13những hủ tục và tiến bộ, các tác giả đã nêu ra những biện pháp nhằm phát huy những mặt tiến bộ của luật tục trong đời sống xã hội người Thái
Công trình nghiên cứu “Sản phẩm du lịch văn hóa và văn hóa quản lý du lịch ở Việt Nam” của Trịnh Lê Anh, Tạp chí Văn hóa học, số 06, 2016, đã đi sâu
phân tích vai trò của văn hóa đối với du lịch và những giải pháp quản lý, phát triển văn hóa qua đó phát triển du lịch
Công trình nghiên cứu “Sức mạnh nội sinh và yêu cầu hoạt động văn hóa dân tộc thời kỳ đổi mới” của Nguyễn Chí Bền, Tạp chí Văn hóa học, số
02/2016, đã chỉ ra những giải pháp nhằm phát triển nền văn hóa dân tộc trong
xu thế hội nhập kinh tế - văn hóa xã hội hiện nay
Công trình nghiên cứu “Văn hóa và chính sách văn hóa góp phần phát triển nông thôn mới” của Lê Ngọc Thắng, Tạp chí Văn hóa học, số 03/2016,
đã làm rõ giá trị của văn hóa đối với quá trình xây dựng nông thôn mới, qua
đó khẳng định vai trò của chính sách văn hóa cũng như những giải pháp thiết thực góp phần phát triển nông thôn mới trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước
Qua việc phân tích các hướng nghiên cứu nêu trên cho thấy, các công trình nghiên cứu đã tập trung đi vào phân tích và làm rõ các vấn đề: Về khái niệm văn hóa, bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, giá trị văn hóa các dân tộc; những nét văn hóa của người Thái ở vùng Tây Bắc như ma chay, cưới xin, ẩm thực, những luật tục văn hóa của người Thái ở vùng Tây Bắc nói chung và ở tỉnh Sơn La nói riêng Các tác giả cũng tập trung phân tích những tiếp biến văn hóa khi có sự tác động của kinh tế thị trường, trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa Qua đó các tác giả đề ra những giải pháp nhằm không ngừng phát triển văn hóa, nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân trong xu thế hội nhập quốc tế
Mặc dù vậy, trong tất cả các công trình nghiên cứu được khái quát nêu trên, chưa có công trình nghiên cứu nào đi sâu phân tích các giá trị văn hóa
Trang 14của người Thái Trắng ở huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La Cũng chưa có công trình nghiên cứu nào nêu ra những giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của người Thái Trắng ở huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La trong giai đoạn hiện nay
Tuy nhiên kết quả của các nhà nghiên cứu trên là tài liệu tham khảo hết sức quý báu cho tác giả luận văn kế thừa khi thực hiện đề tài “Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của người Thái Trắng ở huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La”
3 Mục đích nghiên cứu của luận văn
Trên cơ sở làm rõ thực trạng bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của người Thái Trắng ở huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La, luận văn nếu ra một số định hướng, giải pháp cơ bản nhằm tiếp tục bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của người Thái Trắng ở huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu
Người Thái Trắng ở huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La
- Đối tượng nghiên cứu
Các giá trị văn hóa của người Thái Trắng ở huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn
La
5 Giả thuyết khoa học
Thực hiện được việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của người Thái Trắng ở huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La hiện nay nhằm góp phần làm phát triển kinh tế - xã hội của huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nêu trên, luận văn có nhiệm vụ:
Một là: Phân tích và làm rõ giá trị văn hóa và tính tất yếu khách quan
của việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của người Thái Trắng ở
Trang 15Hai là: Phân tích, đánh giá thực trạng vấn đề bảo tồn và phát huy các giá
trị văn hóa của người Thái Trắng ở huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La
Ba là: Nêu ra một số định hướng và giải pháp cơ bản, nhằm bảo tồn và
phát huy các giá trị văn hóa của người Thái Trắng ở huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La
7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của người Thái Trắng ở huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La, từ năm 2006 đến nay
8 Phương pháp nghiên cứu luận văn
Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng, phương pháp luận duy vật lịch sử Các phương pháp cơ bản: logic
và lịch sử, diễn dịch và quy nạp, phân tích và tổng hợp và các phương pháp
cụ thể, cùng với các phương pháp liên ngành khác
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo luận văn gồm 2 chương, 5 tiết
10 Các luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn
* Các luận điểm cơ bản của luận văn:
Giá trị văn hóa của người Thái Trắng ở huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn
La là tài sản vô giá cần bảo tồn và phát huy trong quá trình phát triển của huyện Mộc Châu nói riêng, tỉnh Sơn La nói chung
* Đóng góp mới của luận văn:
- Về mặt lí luận: Luận văn góp phần làm rõ thêm những nét đặc sắc của người Thái Trắng ở huyện Mộc Châu, phân tích và hệ thống hóa các giá trị văn hóa của người Thái Trắng dưới góc độ triết học Qua đó đưa ra những giải pháp cơ bản, thiết thực nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của người Thái Trắng ở huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La
Trang 16- Về mặt thực tiễn: Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy các bộ môn: Triết học, Văn hóa, Dân tộc học,…
ở các trường, làm tài liệu tham khảo cho cán bộ hoạch định chính sách và
quản lí văn hóa ở huyện Mộc Châu và tỉnh Sơn La
Trang 17Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC
GIÁ TRỊ VĂN HÓA CỦA NGƯỜI THÁI TRẮNG
Ở HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA 1.1 Cơ sở lý luận của việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của người Thái Trắng ở huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La
1.1.1 Quan điểm về văn hóa
Văn hóa là khái niệm được sử dụng phổ biến trong đời sống xã hội và trên thế giới Hiện nay, có hàng trăm cách định nghĩa khác nhau về văn hóa nhưng về cơ bản đều thống nhất coi văn hóa là những gì mà con người sáng tạo, để hình thành nên các giá trị các chuẩn mực xã hội trong quá trình lao động, hoạt động thực tiễn Các chuẩn mực đó tác động chi phối, điều chỉnh đời sống tâm lý, hành vi, đạo đức và các hoạt động trên mọi lĩnh vực có sự hiện diện của con người
Thuật ngữ “văn hóa” xuất hiện từ rất sớm trong ngôn ngữ nhân loại (xuất phát từ gốc chữ Latinh “Cultura” - có nghĩa là trồng trọt, canh tác) Cho đến nay có rất nhiều cách tiếp cận văn hoá theo những quan điểm khác nhau như cách tiếp cận sinh thái học, chức năng luận với các lý thuyết vị chủng, tương đối
Trong tư tưởng của triết học Mácxít nói tới văn hóa là nói tới con người, nói tới sự biểu hiện của phương thức tồn tại người Bản chất của văn hóa được thể hiện trong mối quan hệ biện chứng với bản chất của con người và xã hội
Trước hết văn hóa là do con người làm nên, thuộc về con người, những
gì không do con người làm nên không thuộc về văn hóa Từ đó, văn hóa là đặc trưng cơ bản phân biệt con người với động vật, đồng thời cũng là tiêu chí
cơ bản để phân biệt sản phẩm nhân tạo với sản phẩm tự nhiên Văn hóa xuất hiện một cách chủ động và có ý thức của con người với tự nhiên, nên văn hóa
Trang 18cũng là sản phẩm của sự thích nghi ấy Do vậy, trình độ phát triển của văn hóa phụ thuộc vào trình độ nhận thức và sức sáng tạo của con người trong quá trình hoạt động thực tiễn của họ Nếu tách văn hóa ra khỏi đời sống của con
người thì văn hóa chẳng còn ý nghĩa gì cả C.Mác đã từng cho rằng: “con người sản xuất là một thực thể song trùng thống nhất giữa cái tự nhiên và cái
xã hội Con người dù là sản phẩm tự nhiên hay là kết quả của quá trình tiến hóa lâu dài của giới hữu sinh đều phải tuân theo quy luật vốn có của tự nhiên… Song con người không phải là động vật thuần túy như các động vật khác mà xét trên khía cạnh xã hội, con người là sản phẩm của xã hội, mang bản tính xã hội Những yếu tố xã hội là tất cả những quan hệ, những biến đổi xuất hiện do ảnh hưởng của các điều kiện xã hội khác nhau, những quy định
về mặt xã hội tạo nên con người Con người chỉ có thể tồn tại được khi tiến hành lao động sản xuất của cải vật chất để thỏa mãn nhu cầu của mình và chính lao động sản xuất là yếu tố quyết định hình thành con người và ý thức Lao động là nguồn gốc duy nhất của văn hóa vật chất và tinh thần” [6,
Trang 19Văn hóa là kết quả của hoạt động sáng tạo của con người nhằm cải biến
tự nhiên - xã hội bắt đầu từ lao động Điều này thể hiện, trong giới tự nhiên chỉ có duy nhất con người sống và hoạt động với tư cách là chủ thể của bản thân mình, làm chủ giới tự nhiên, hòa vào giới tự nhiên nguyên sơ, để tạo nên một “thiên nhiên thứ hai” nhằm thỏa mãn những nhu cầu, ham muốn chinh phục tự nhiên, xã hội của bản thân con người - Đó là văn hóa C.Mác cho rằng, xét đến cùng, văn hóa có nguồn gốc từ lao động Chính lao động đã sáng tạo ra con người và xã hội loài người, làm cho con người ngày càng thoát ra khỏi bản năng động vật, tiến dần đến trình độ trưởng thành về nhân cách, trình độ trưởng thành về văn hóa của mỗi cá nhân Văn hóa thể hiện sự thích nghi một cách sáng tạo của con người với tự nhiên, phù hợp với các giá trị chân - thiện - mỹ
Như vậy, theo C.Mác, văn hóa được hình thành và phát triển trên cơ sở hình thành và phát triển con người Thước đo của sự tiến bộ và phát triển này chính là mức độ hình thành và phát triển bản chất người trong quá trình con người chinh phục và biến đổi tự nhiên, trong mối quan hệ giữa người với cộng đồng, mà bao trùm là quan hệ đời sống tinh thần và không gian sống vật chất của con người và của xã hội loài người
Phát triển tư tưởng của C.Mác trong trong điều kiện xã hội mới về lĩnh vực văn hóa, V.I.Lênin cho rằng: Nền văn hóa vô sản có khả năng phát triển toàn diện năng lực bản chất của con người cho nên nó phải là sự kế thừa có phê phán các giá tri ̣ văn hóa của dân tộc và nhân loại để phát triển lên một tầm cao mới, mang đậm chất liệu văn hóa bản chất con người, V.I.Lênin viết:
“Nền văn hóa vô sản không phải từ trên trời rơi xuống, nó không phải do
hóa vô sản phải là sự phát triển hợp quy luật của vốn kiến thư ́ c mà loài người
đã tạo ra dưới ách áp bức của xã hội tư bản, đi ̣a chủ và của xã hội quan liêu”
[53, tr.402]
Trang 20Quan điểm nêu trên đã góp phần khơi dậy tiềm năng, tính chủ động sáng tạo của quần chúng nhân dân, mở ra hướng đi và nhiệm vụ mới cho cách mạng vô sản - cách mạng văn hóa Đó là cuộc cách mạng giải phóng triệt để con người và xã hội loài người khỏi những áp bức bất công cả trong lao động cũng như trong mọi hoạt động sáng tạo của họ Lênin cũng chỉ ra rằng, chỉ có xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản thì con người mới
có điều kiện thể hiện đầy đủ năng lực sáng tạo, trình độ làm chủ của mình trước tự nhiên, xã hội và ngay cả trước bản thân mình Từ đó, con người và xã hội loài người mới có điều kiện xây dựng và phát triển sự công bằng, bình đẳng, tự do cho bản thân, các tiêu chí: chân, thiện, mỹ mới được xác lập và hoàn thiện, hoạt động sáng tạo của con người mới có đầy đủ điều kiện đạt tới trình độ nhân văn đích thực Có thể nói một cách bao quát: Tất cả những gì có quan hệ với con người (con người với tư cách cá nhân và cộng đồng) với mọi cách thức tồn tại của nó đều là biểu hiện của văn hóa
Qua trên cho thấy, triết học Mác - Lênin đã có nhiều kiến giải sâu sắc về văn hóa, đã khẳng định con người vừa là chủ thể, vừa là sản phẩm của quá trình phát triển văn hóa Thông qua hoạt động thực tiễn, con người đã tạo ra thế giới văn hóa đồng thời tạo ra chính bản thân mình phát triển năng lực tiềm tàng của bản thân Văn hóa gắn với năng lực sáng tạo của con người và sự sáng tạo đó bắt nguồn từ lao động hay chính là sự thăng hoa của sản xuất vật chất, hành vi trên của con người là văn hóa, các vật phẩm do con người làm ra đều mang dấu ấn của con người và đến lượt nó có tác động trở lại bồi đắp tính người
Trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về văn hóa, phát triển
truyền thống văn hóa dân tộc trong điều kiện mới Hồ Chí Minh cho rằng: “Vì
lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học,
Trang 21phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [27, tr.431]
Điều này cho thấy Hồ Chí Minh đã khái quát được nội dung rộng lớn của phạm trù văn hoá, chỉ ra văn hoá không chỉ bao hàm các hoạt động tinh thần của con người mà còn bao hàm trong đó cả những hoạt động vật chất Người cũng chỉ ra nguồn gốc, động lực sâu xa của văn hoá, đó chính là nhu cầu sinh tồn của con người, với tư cách là chủ thể hoạt động của đời sống xã hội Cùng đó là nhu cầu sinh tồn của con người với tư cách là chủ thể hoạt động của đời sống xã hội - một hoạt động khác hẳn với hoạt động sinh tồn bầy đàn của các loài động vật
Văn hóa là quá trình biểu hiện sự thống nhất của yếu tố tự nhiên, yếu tố
xã hội trong con người, biểu hiện khả năng và sức sáng tạo của con người Nó bao chứa trong đó nội dung: văn hóa là sự phát triển tự thân và tất yếu, mang tính xã hội cao, do nhu cầu tồn tại của con người, văn hóa là phương thức hoạt động và không ngừng nâng cao phương thức theo tiến triển xã hội,… Từ các mặt đó, vai trò sáng tạo và giá trị nhân văn đã trở thành cốt lõi của văn hóa Văn hóa phải gắn với nhân văn, nhân đạo
Trong quan điểm của Đảng ta, văn hoá là một lĩnh vực thực tiễn của đời sống xã hội, nó cũng có quy luật vận động phát triển riêng, trong đó tính dân tộc được coi là thuộc tính cơ bản của văn hoá, phản ánh mối quan hệ giữa dân tộc và văn hoá trong điều kiện dân tộc đã hình thành Tính dân tộc là nội dung quan trọng luôn được Đảng ta đặt lên vị trí hàng đầu Quan điểm của Đảng về văn hóa luôn khẳng định trong suốt quá trình tiến hành cuộc cách mạng tư tưởng văn hoá, xây dựng và phát triển đất nước Tại Hội nghị Trung ương 5
khoá VIII quan điểm đó được cụ thể hoá trong nghị quyết “Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” Gần đây tại
Trang 22Đại hội IX, một lần nữa khẳng định: “Xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển xã hội” [12, tr.114]
Giáo sư Federieco Mayor - Cựu Tổng giám đốc Tổ chức giáo dục khoa
học và văn hóa của Liên hợp quốc, đã khẳng định trong lễ phát động “Thập niên thế giới phát triển văn hóa” tại Pháp (21/10/1998), rằng: “Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ, cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình” [50, tr.23] Theo ông văn hóa là cội nguồn trực
tiếp của phát triển xã hội, có vị trí trung tâm và đóng vai trò điều tiết xã hội
Nó không những là yếu tố nội sinh của sự phát triển, mà còn là mục tiêu động lực cho sự phát triển xã hội Văn hóa là những gì còn lại sau những chu trình lịch sử khác nhau, qua đó người ta có thể phân biệt được các dân tộc với nhau Thông qua mỗi chu kỳ của sự phát triển, các dân tộc đó tương tác với mình và với những dân tộc khác cái còn lại được gọi là bản sắc Theo cách tiếp cận này, văn hóa là cái bản sắc để phân biệt dân tộc này với dân tộc khác Dưới góc độ tiếp cận xem lao động sáng tạo là cội nguồn, khởi điểm của văn hóa hướng về các giá trị nhân bản nhằm hoàn thiện con người, nhà nghiên
cứu Hoàng Vinh trong cuốn “Một số vấn đề lý luận văn hóa thời kỳ đổi mới”
đã cho rằng: “Văn hóa là toàn bộ sáng tạo của con người, tích lũy lại trong quá trình hoạt động thực tiễn xã hội, được đúc kết thành hệ giá trị và chuẩn mực xã hội, biểu hiện thông qua vốn di sản văn hóa và hệ ứng xử văn hóa của cộng đồng người Hệ giá trị xã hội là một thành tố cốt lõi làm nên bản sắc riêng của một cộng đồng xã hội, nó có khả năng chi phối đời sống tâm lý và một hoạt động của những con người sống trong cộng đồng xã hội ấy” [55,
Trang 23Nghiên cứu về văn hóa, Đinh Quang trong cuốn “Nhận thức và xử lý vẫn
đề văn hóa trên thế giới” cho rằng: “Văn hóa là khái niệm dùng để chỉ tổng thể những năng lực bản chất người trong tất cả các dạng hoạt động của họ,
là tổng thể các hệ thống giá trị - cả giá trị vật chất và giá trị tinh thần do con người sáng tạo ra trong hoạt động thực tiễn và lịch sử xã hội của mình” [32,
tr.13-14]
Như vậy, nói đến văn hóa là nói đến con người Lịch sử văn hóa là lịch
sử của con người và loài người: Con người tạo ra văn hóa và văn hóa làm cho con người trở thành Người Điều đó có nghĩa là tất cả những gì liên quan đến con người, đến mọi cách thức tồn tại của con người đều mang trong nó cái gọi
là văn hóa
Trong thực tế, văn hóa vật chất và tinh thần luôn gắn bó mật thiết với nhau và có thể chuyển hóa cho nhau, không phải ngẫu nhiên mà C.Mác nói rằng “Tư tưởng sẽ trở thành những lực lượng vật chất khi nó được quần chúng hiểu rõ” Đôi khi, chúng ta không thể phân chia văn hóa một cách rạch ròi thành “văn hóa vật chất” hay “văn hóa tinh thần” Bởi vì, cái gọi là “văn hóa vật chất” thực chất chỉ là sự “vật chất hóa” các giá trị tinh thần, bản thân các giá trị tinh thần cũng hiếm khi tồn tại dưới dạng tinh thần thuần túy, mà
nó thường được “vật thể hóa” trong các dạng tồn tại của vật chất Ngay cả các giá trị tinh thần tồn tại dưới dạng phi vật thể nhưng vẫn mang tính vật chất khách quan như văn hóa trong các lĩnh vực đạo đức, giao tiếp, ứng xử, lối sống, phong tục, tập quán khi tiếp cận vấn đề văn hóa cần phải xét văn hóa dưới dạng cấu trúc hoàn chỉnh Dù là văn hoá vật chất hay văn hoá tinh thần cũng đều là sản phẩm trực tiếp hay gián tiếp của con người, do con người sáng tạo ra vì mục đích của cuộc sống [7, tr.302]
Trên cho thấy văn hóa là sản phẩm của con người, văn hóa được tạo ra
và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội Song chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người và duy trì sự bền vững và trật tự
Trang 24xã hội Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong các giá trị vật chất và tinh thần do con người tạo ra Vì vậy, nói tới văn hóa là nói tới con người, phát huy năng lực bản chất của con người Cơ sở của mọi hoạt động văn hóa là khát vọng vươn tới cái “chân”,
“thiện”, “mỹ” Đó là ba cột trụ vĩnh hằng của sự phát triển văn hóa nhân loại
Có thể nói, văn hóa là sự hóa thân vào đời sống nó thấm vào mọi hoạt động của con người và trở thành thước đo trình độ phát triển của xã hội, quốc gia nhân loại
Kế thừa và khái quát các quan điểm nêu trên, Văn hóa là tổng thể các giá trị (cả giá trị vật chất lẫn giá trị tinh thần) do con người sáng tạo ra trong quá trình hoạt động thực tiễn được tích lũy, bảo tồn và phát triển trong suốt chiều dài lịch sử, theo đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình
1.1.2 Quan điểm về giá trị văn hóa
Giá trị là phạm trù riêng có của loài người, liên quan đến lợi ích vật chất cũng như tinh thần của con người Bản chất và ý nghĩa bao quát của giá trị là tính nhân văn Chức năng cơ bản nhất của giá trị là định hướng, đánh giá và điều chỉnh các hoạt động của cá nhân và cộng đồng Giá trị gắn liền với nhu cầu con người Nhu cầu của con người rất phong phú, đa dạng và được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau Chính nhu cầu là động cơ thúc đẩy mạnh mẽ hành động của con người, giúp con người tạo nên những giá trị vật chất và tinh thần
Theo C.Mác, “Giá trị văn hóa trước hết là một một phạm trù triết học, chỉ sự đánh giá những thành quả lao động sáng tạo vật chất và tinh thần của con người Nó có tác dụng định hướng, đánh giá và điều chỉnh các hoạt động của xã hội nhằm vươn tới cái đúng, cái tốt, cái đẹp, thúc đẩy sự tiến bộ xã hội” [7, tr.261]
Trang 25Bản chất đặc trưng của giá trị văn hoá là chiều cạnh trí tuệ, năng lực sáng tạo, khát vọng nhân văn biểu hiện ở hoạt động sống của cá nhân, cộng đồng, dân tộc như: các hoạt động ăn, ở, mặc, đi lại, giao tiếp xã hội, phong tục tập quán, tín ngưỡng…
Mục đích của giá trị văn hoá là nhằm hướng tới các giá trị nhân bản, hướng tới sự hoàn thiện của mỗi cá nhân nói riêng và của cả cộng đồng, dân tộc nói chung, mặc dù tiêu chuẩn của các giá trị văn hoá của mỗi cộng đồng, dân tộc là không như nhau Tính mục đích đó của giá trị văn hoá được thể hiện ở ngay trong quá trình sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần
Có thể nói, giá trị văn hoá của mỗi cộng đồng, dân tộc như là “mật mã di truyền xã hội” của tất cả các thành viên sống trong cộng đồng, dân tộc đó đã tích luỹ và lắng đọng trong quá trình hoạt động của mình Chính quá trình hoạt động đó đã hình thành nên bản sắc văn hoá riêng của mỗi cộng đồng, dân tộc Vì vậy, các giá tị văn hoá tồn tại và phát triển trong mỗi cộng đồng, dân tộc nhất định Cộng đồng trở nên bền vững khi nó trở thành dân tộc Yếu tố dân tộc là yếu tố quyết định nhất của một nền văn hoá
Giá trị văn hoá còn mang tính khách quan, tức là không phụ thuộc vào bất cứ cái gì từ bên ngoài áp đặt vào để trở thành văn hoá của một cộng đồng, dân tộc Nếu căn cứ vào nền văn hoá của một cộng đồng, dân tộc nào đó để xem xét, đánh giá các nền văn hoá của các cộng đồng, dân tộc khác là cao hay thấp, phát triển hay kém phát triển thì sẽ dẫn đến sai lầm nghiêm trọng, rơi vào bệnh chủ quan, tạo nên sự nô dịch hay sự áp đặt về văn hoá
Trong xã hội có giai cấp, giá trị văn hoá cũng mang tính giai cấp Bởi lẽ, văn hoá, về thực chất là sản phẩm của một cộng đồng, dân tộc nhất định do những thành viên sống trong cộng đồng, dân tộc ấy tạo ra, và họ chịu dưới sự thống trị của một giai cấp thống trị nhất định - giai cấp lãnh đạo toàn thể xã hội, cho nên mọi sản phẩm của họ làm ra nhằm phục vụ cho giai cấp thống trị
Trang 26Với tư cách là phương thức sản xuất tinh thần, văn hoá không thể không phản ánh và chịu sự quy định của phương thức sản xuất Điều kiện sinh hoạt vật chất của các giai cấp khác nhau sẽ làm nảy sinh những tư tưởng, tình cảm khác nhau Vì vậy, quan tâm đến tính giai cấp của văn hoá là điều cần thiết để hiểu rõ sự vận động của văn hoá trong thời kỳ lịch sử có giai cấp, hiểu rõ tính phức tạp của đời sống văn hoá trong xã hội hiện nay Tuy nhiên, chúng ta không nên từ đó mà tuyệt đối hoá tính giai cấp của văn hoá vì sự tác động của giai cấp vào văn hoá của một cộng đồng, dân tộc tuỳ thuộc vào từng biến động của lịch sử, tác động tới bước đi của nền văn hoá, chứ không thể quyết định được bản chất của nền văn hoá Hệ tư tưởng của giai cấp thống trị tất yếu
có dấu ấn mạnh mẽ tới nền văn hoá của cộng đồng, dân tộc khi quyền lợi của giai cấp đó nhất trí với quyền lợi của cộng đồng, dân tộc Lênin đã từng nhắc nhở chúng ta không được đồng nhất văn hoá với ý thức hệ vì văn hoá rộng hơn rất nhiều so với ý thức hệ
Nói tới giá trị văn hoá là nói tới thành quả mà mỗi cộng đồng dân tộc và nhân loại đã đạt được trong quan hệ với tự nhiên, với xã hội và trong sự phát triển bản thân mình Có những giá trị bị mai một, không còn thích ứng với sự phát triển liên tục của xã hội, nhưng cũng có những giá trị luôn tồn tại mãi mãi trong lịch sử Chân, thiện, mỹ là những giá trị trường tồn trong lịch sử loài người; là ba trụ cột vĩnh hằng của văn hoá nhân loại Những giá trị văn hoá ấy mang tính nhân loại Sự trường tồn của những giá trị văn hoá đảm bảo tính liên tục trong lịch sử nhân loại và dân tộc Khi nào cái chân, cái thiện, cái
mỹ bị lãng quên, khi đó văn hoá sẽ trượt dốc đi xuống Thay vào đó là sự xuất hiện của lối sống ích kỷ, tàn bạo, việc tuyên truyền cho chủ nghĩa hưởng lạc, các trường phái nghệ thuật suy đồi…đều là những biểu hiện suy thoái về văn hoá của con người
Khi xem xét giá trị văn hoá, chúng ta thừa nhận rằng giá trị văn hoá
Trang 27văn hoá là phạm trù lịch sử, được thực tại hoá trong truyền thống văn hoá dân tộc, luôn luôn vận động và phát triển cùng với sự vận động và phát triển của
xã hội
Ngày nay, giá trị văn hoá luôn có mặt trong các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia, dân tộc bởi lẽ nó thể hiện cốt cách của một dân tộc và nó liên quan đến vận mệnh của mỗi dân tộc
Còn giá trị văn hoá tức là còn dân tộc, mất đi các giá trị văn hoá cũng có nghĩa là mất đi một dân tộc Vì thế, việc bảo tồn, giữ gìn và phát huy các di sản văn hoá của dân tộc là vấn đề có ý nghĩa hết sức lớn lao đối với sự tồn vong của mỗi dân tộc
Giá trị văn hoá của người Thái Trắng ở huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La là những công trình theo truyền thống về Nhà sàn Chỉ với mái Tranh, Gỗ, Tre thô sơ mà nó đã trở thành lá chắn cho con người qua hàng ngàn năm Có khi chỉ một nếp Nhà sàn mà truyền từ đời ông, đời cha, đời con đến đời cháu sinh sống Những ché rượu cần, những bộ Cồng, Chiêng quý chỉ dùng trong dịp lễ hội Đó là những công cụ sản xuất thô sơ bằng Đá, bằng Đồng, những vòng Bạc, vòng Đồng đeo ở cổ tay trong ngày lễ hỏi vợ, lễ cưới…
Giá trị văn hoá của người Thái Trắng ở huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La được kết tinh chủ yếu ở phong tục, tập quán từ ăn, ở, mặc, đi lại cho đến các tập tục, lễ nghi thể hiện quan niệm tư duy của con người đối với các sự kiện quan trọng trong cuộc đời của con người và giữa con người với đất trời, thần thánh, với tổ tiên và cả cộng đồng Phong tục, tập quán còn là sự biểu hiện mối quan hệ giữa con người với môi trường tự nhiên, mối quan hệ giữa con người với con người trong sinh hoạt vật chất và tinh thần Không những thế, giá trị văn hoá tinh thần của người Thái Trắng ở huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn
La còn hội tụ đậm nét ở lễ hội - một hình thái sinh hoạt tinh thần phong phú mang sắc thái độc đáo của người Thái Nó còn được thể hiện ở kỹ thuật chế
Trang 28tạo nhạc khí cồng, chiêng, ở các nghệ nhân điêu khắc tượng nhà mồ, kỹ thuật dệt những hoa văn trên trang phục của trưyền thống của họ…
1.2 Cơ sở thực tiễn của việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của người Thái Trắng ở huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La
1.2.1 Sự hình thành và phát triển của người Thái Trắng ở huyện Mộc Châu
Là dân tộc có số dân khá đông ở miền Tây Bắc, năm 1955 người Thái ở miền Tây Bắc nước ta mới có 22 vạn người, năm 1989 riêng người Thái ở tỉnh Sơn La đã có khoảng 40 vạn người, năm 2005 có khoảng 52 vạn người, thì đến tháng 5 năm 2016 có khoảng 61 vạn người chiếm 53% dân số tỉnh Sơn La Có
thể thấy rõ điều này khi khảo sát sự phân bố dân cư của tỉnh Sơn La Người Thái
là bộ phận tiêu biểu của các dân tộc thiểu số ở vùng Tây Bắc
Người Thái ở Tây Bắc vẫn chia hai ngành: Thái Trắng (Tay Đòn) và Thái Đen (Tay Đẳm) Người Thái Trắng ở huyện Mộc Châu là một bộ phận người Thái ở Tây Bắc Người Thái Trắng sinh sống ở huyện Mộc Châu khoảng từ cuối thế kỷ XIV Là dân tộc có số lượng đông nhất tại huyện Mộc Châu với 7.945 hộ, 32.867 khẩu, chiếm 61,7% dân số huyện Mộc Châu (năm 2014) Dòng họ chủ yếu là họ Sa, Lường, Lò, Hà, Vì,… Sinh sống ở 15 xã, thị trấn, nhưng tập trung đông ở Đông Sang, Mường Sang, Tân Lập, Chiềng Sơn, Chiềng Khừa, Lóng Sập, Hua Păng…
Cuộc sống của người Thái Trắng lấy kinh tế ruộng nước và nương rẫy làm cơ sở nên người Thái Trắng sống với nhau tập trung thành những bản làng Họ sinh sống những nơi đồi núi thấp, gần sông, suối, có địa thế rộng rãi, bằng phẳng thuận tiện cho việc canh tác, đi lại Họ gắn kết thành một khối cộng đồng chặt chẽ, cùng nhau chia sẻ buồn vui, giúp đỡ nhau khi hoạn nạn, tạo nên những đặc điểm chung của người Thái Trắng là chân thành, sống hòa thuận, cần cù, chịu khó, khiêm nhường, nhân hậu Người Thái Trắng sinh sống
Trang 29trong những ngôi nhà sàn, trên khoảng đất rộng và ít khi có bờ rào ngăn cách giữa nhà này với nhà kia
Phương thức canh tác:
Do điều kiện môi trường sống có nhiều điểm đặc thù cho nên định hướng tác động trong khai thác tự nhiên của người Thái Trắng là đồng ruộng thung lũng lòng chảo và nương rẫy bên sườn núi Trải qua hàng nghìn năm khai thác thiên nhiên, họ đã tạo ra được hệ sinh thái nhân văn thường gọi là
“văn hóa thung lũng” Đồng bào người Thái Trắng ngoài làm ruộng, làm nương còn chăn nuôi, lợn gà, trâu bò, ngựa… bên cạnh đó người Thái Trắng còn làm các nghề phụ, đan lát và đan chài, đánh cá, dệt vải và thêu thùa Trong cuộc sống của người Thái Trắng, kinh tế trồng trọt là yếu tố quyết định sự tồn tại của xã hội cổ truyền Người Thái Trắng trồng nhiều loại cây nhưng chủ yếu là cây lúa Nông nghiệp của đồng bào Thái Trắng mang tính độc canh, mọi hoạt động sản xuất đều xoay quanh việc làm ra thóc gạo Nếu như người Kinh có câu “quý hồ nhiều lúa là tiên” thì người Thái Trắng có câu
“thóc lúa ngồi trên, tiền bạc ngồi dưới” (kháu nắm nắng tênh, ngân khăm năng cóng) Người Thái Trắng gọi tầng lớp lao động của mình là “ông nương
- bà ruộng” (pó háy - mé na)
Bình nguyên thung lũng thông thường được tạo bởi một hay nhiều dòng suối, dòng sông và cả chi lưu của nó Bám trụ trong điều kiện tự nhiên như thế, người Thái Trắng đã tạo ra được đồng ruộng, đồng lúa (tống na) với biện pháp dẫn thủy nhập điền, được đúc kết như một thành ngữ: Mương, phai, lái, lin Đó chính là bốn cách biến dòng chảy tự nhiên thành nguồn nước tưới, tiêu cho toàn bộ đồng ruộng
Bên cạnh ruộng, người Thái Trắng vẫn làm nương rẫy và chăn nuôi Nương có nhiều tác dụng, nương lúa cùng ruộng lúa có tác dụng cung ứng về thóc gạo, nương ngô giúp thêm cái ăn cho con người và gia súc Nương còn cung cấp các loại thức ăn có bột khác như khoai sọ, khoai lang, sắn…; những
Trang 30cây có dầu như lạc, vừng…; đặc biệt là cây bông để làm nguyên liệu dệt Người Thái Trắng làm nương theo phương pháp chặt, phát cây, đốt, chọc lỗ, tra hạt Nương chỉ làm được ba vụ rồi phải bỏ hóa theo chu kì khép kín Sản phẩm thu được quanh năm chủ yếu là ngô, thóc và một số loài động vật chăn nuôi như trâu bò, gà vịt, lợn, cá…
Như vậy, có thể khẳng định người Thái Trắng có phương thức canh tác chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, với hai loại hình là ruộng nước và nương rẫy, công cụ sản xuất còn thủ công và thô sơ
1.2.2 Những giá trị văn hóa đặc sắc của người Thái Trắng ở huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La
1.2.2.1 Điều kiện nảy sinh và tồn tại văn hóa của người Thái Trắng ở huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La
* Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý: Mộc Châu là huyện miền núi, biên giới nằm ở phía đông
nam của tỉnh Sơn La Có đường biên giới chung dài 40,6 km với huyện Sốp Bâu, tỉnh Hủa Phăn (nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào)
Độ cao trung bình so với mặt nước biển 1.050 m Mộc Châu được xác định tọa độ địa lý 20o63' vĩ độ bắc và 104o30' - 105o7' kinh độ đông Phía Đông và Đông Nam giáp huyện Vân Hồ, phía Tây giáp huyện Yên Châu, phía Nam giáp huyện Vân Hồ và huyện Sốp Bâu, tỉnh Hủa Phăn (nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào), phía Bắc giáp 2 huyện Phù Yên, Bắc Yên (Sông đà là ranh giới) Huyện Mộc Châu có nhiều dãy núi cao, hang động đẹp do kiến tạo của thiên nhiên Trong đó, có núi Pha Luông nằm ở phía Nam huyện là ngọn núi cao nhất với độ cao 1.880 m
Huyện Mộc Châu, gồm 02 thị trấn: thị trấn Mộc Châu, thị trấn Nông trường Mộc Châu và 13 xã: Chiềng Hắc, Đông Sang, Mường Sang, Chiềng Khừa, Chiềng Sơn, Lóng Sập, Phiêng Luông, Tân Lập, Tân Hợp, Hua Păng,
Trang 31Nà Mường, Tà Lại, Quy Hướng Trung tâm hành chính của huyện đóng tại thị trấn Mộc Châu
Đất đai: Hiện nay, huyện Mộc Châu có tổng diện tích tự nhiên 108.166
ha Trong đó đất nông nghiệp 84.020,99 ha chiếm 77,68 % tổng diện tích tự nhiên, trong đó đất sản xuất nông nghiệp 33.596,96 ha chiếm 31,1%; đất lâm nghiệp 50.303,05 ha chiếm 46,5%; đất nuôi trồng thủy sản 99,86 ha chiếm 0,09%; đất nông nghiệp khác 21,12 ha chiếm 0,02% Đất phi nông nghiệp 4.758,15 ha chiếm 4,4%, trong đó đất ở 813,06 ha chiếm 0,75%; đất chuyên dùng 2.114,20 ha chiếm 1,95%; đất tôn giáo, tín ngưỡng 2,00 ha chiếm 0,002%; đất nghĩa trang, nghĩa địa 319,25 ha chiếm 0,295%; đất sông suối và mặt nước chuyên dùng 1.509,55 ha chiếm 1,396%; đất phi nông nghiệp khác 0,09 ha Đất chưa sử dụng 19.386,86 ha chiếm 17,92% diện tích tự nhiên của huyện Đây là tiềm năng để mở rộng quỹ đất sản xuất nông, lâm nghiệp cũng
như đáp ứng một phần các nhu cầu về đất cho mục đích chuyên dùng
Về khí hậu: Khí hậu Mộc Châu chia thành hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ
tháng 4 đến tháng 9, mùa khô từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau Tuy nhiên, do nằm ở vùng cao nguyên có độ cao lớn, lại có địa hình cánh cung mở đón hướng gió nên vùng núi Mộc Châu là nơi tiếp nhận sớm và chịu ảnh hưởng sâu sắc của gió mùa đông bắc, gió thổi từ Lào sang, là nơi tiếp nhận sớm và chịu ảnh hưởng sâu sắc của gió mùa đông bắc, gió thổi từ Lào sang Khí hậu
ở đây rất mát mẻ, nhiệt độ trung bình từ 18 đến 23oC, nhiệt độ chênh lệch giữa ngày và đêm 8oC; độ ẩm trung bình 85% Mộc Châu là huyện có lượng mưa khá dồi dào, số ngày mưa trung bình 186 ngày/năm, lượng mưa trung bình năm từ 1.400 – 1.500 mm và là huyện có số ngày mưa phùn cao nhất tỉnh, trung bình 50 ngày một năm Mộc Châu là huyện có số ngày sương mù cao nhất tỉnh Sơn La, trung bình trên 80 ngày/năm, chính vì vậy Mộc Châu được mệnh danh là “xứ sở của sương mù” hay “Mường Mọk”
Do có độ cao lớn và độ che phủ của thảm thực vật thấp nên lưu lượng
Trang 32nước thiếu ổn định, khả năng giữ nước rất hạn chế thường gây lũ quét, sạt lở đất và xói mòn mạnh Mùa khô nhiều suối bị kiệt nước, thậm chí không còn nước gây ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của nhân dân Nguồn nước mặt phân bố không đều cả về thời gian và không gian, nguồn nước dồi dào về mùa mưa và cạn kiệt về mùa khô, phần lớn mặt nước các sông, suối đều thấp so với mặt bằng canh tác và khu dân cư nên hạn chế khả năng khai thác sử dụng vào sản xuất và đời sống Tuy nhiên do ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường từ các khu dân cư, các điểm chế biến nông sản, nên chất lượng một số nguồn nước
bị giảm, ảnh hưởng đến sản xuất và sinh hoạt của nhân dân Hiện nay việc phân tích chất lượng nguồn nước mặt để phục vụ sinh hoạt của nhân dân theo các quy chuẩn quốc gia đều chưa thực hiện được
Như vậy, với kiến tạo địa chất trên, Mộc Châu còn là nơi gặp gỡ của nhiều sông suối Trong đó, sông Đà là con sông lớn nằm ở phía bắc của huyện, chảy qua xã Tân Hợp đến xã Quy Hướng Suối Sặp chảy qua huyện Mộc Châu dài 85 km cùng với suối Quanh, suối Đôn, suối Giăng…tổng chiều dài tới 247 km, giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển của miền đất này
Tài nguyên sinh vật: Mộc Châu có diện tích rừng đặc dụng 2.338,112 ha;
rừng phòng hộ 27.690,867 ha; rừng sản xuất 23.052,472 ha Độ che phủ của rừng 47% tổng diện tích tự nhiên Có khoảng 456 loài thực vật thuộc 4 ngành với các loại gỗ quý phân bố trên toàn địa bàn như: Pơ Mu, Bách Xanh, Thông, Trò Chỉ, Nghiến, Có 48 loài động vật hoang dã thuộc 19 họ của 8 bộ
với các loài động vật như: Gấu, Hổ, Hoẵng, Lợn rừng,…Ngoài ra còn có các
thảm thực vật phong phú và đa dạng, có nhiều cây có giá trị kinh tế cao và phục vụ nhu cầu ăn uống, sinh hoạt hàng ngày của người Thái Trắng như:
Mắc khén, cây sung…
* Điều kiện kinh tế - xã hội
Trang 33Môi trường tự nhiên có vai trò quan trọng đối với con người, nhưng khả năng và hiệu quả của cải và tiềm lực thiên nhiên phụ thuộc vào trình độ kỹ thuật và tính chất của chế độ xã hội nhất định Ảnh hưởng của thiên nhiên đối cới con người thế nào, ở mức độ nào, phụ thuộc vào phương thức sản xuất quyết định Nói cách khác, chính lao động sản xuất, chính bản thân phương thức sản xuất quy định phương thức sống của con người Nhân cách, phẩm chất, cách sống, phong tục tập quán của con người hình thành trước hết trong hoàn cảnh sản xuất và biểu hiện thông qua hoạt động sản xuất của họ
Kinh tế chủ yếu của người Thái Trắng ở huyện Mộc Châu là nền nông nghiệp nương rẫy Người Thái Trắng làm nương rẫy không tập trung đi vào cải tiến cộng cụ sản xuất, chiếc Rìu, Xà Gạc, Gậy chọc lỗ, chiếc Cuốc xới cỏ vẫn tồn tại từ bao đời nay nhưng họ hướng những cố gắng vào khâu kỹ thuật canh tác để giữ độ màu cho đất, hạn chế rửa trôi, giữ độ ẩm cho đất, khai thác những khác biệt của tiểu khí hậu địa phương để khi thu hoạch mùa lúa, mùa ngô thì gặp nắng, khi trồng lúa, tròng ngô thì có mưa Họ nhạy cảm với những thay đổi thời tiết hàng năm, tích cóp những tri thức về đất đai, rừng núi, cây
cỏ, muông thú… dù mới ở dạng kinh nghiệm dân gian
Công việc nương rẫy nhọc nhằn, nhiều khi tinh tế, nhưng ở trình độ tư duy ít nhiều mang tính thần bí, con người vẫn nghĩ tới việc thần thánh hóa trong canh tác nương rẫy, vẫn tuỳ thuộc vào các thần linh, vào hồn lúa, bởi thế, cùng với những quy trình lao động, người Thái Trắng còn tiến hành song song những nghi lễ nông nghiệp phức tạp, tìm sự trợ giúp thường xuyên của thế giới siêu nhiên, đó là hai mặt hiện thực và hư ảo của một quá trình, mà ở trình độ xã hội của người Thái Trắng không thể thiếu mặt này hay mặt kia
Từ vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và con người như vậy Nên đây là những yếu tố cơ bản để hình thành bản sắc văn hóa, những tập tục, mang nhiều nét riêng đặc thù từ ngàn đời nay của người Thái Trắng huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La
Trang 341.2.2.2 Văn hóa của người Thái Trắng ở huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La
* Văn hóa vật thể
Văn hóa vật thể bao gồm toàn bộ những sản phẩm do hoạt động sản xuất vật chất của con người tạo ra: công cụ lao động, nhà ở, đồ ăn, đồ mặc, đồ dùng sinh hoạt hàng ngày… Nó có tính đặc thù riêng cho mỗi dân tộc sống ở trên một vùng đất riêng, điều kiện tự nhiên khác nhau Người Thái Trắng đã tạo ra nhiều vật phẩm mang đậm dấu ấn của dân tộc mình như: Nhà ở, trang phục… Đó là nét đặc trưng tạo nên giá trị văn hóa của người Thái Trắng ở huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La
+ Văn hóa nông nghiệp
Sống với điều kiện tự nhiên môi sinh có nhiều điểm đặc thù cho nên định hướng tác động trong khai thác tự nhiên truyền thống của người Thái Trắng là đồng ruộng lòng chảo và nương rẫy trên sườn núi Hàng ngàn năm nay, dân tộc này đã có những biện pháp dẫn thuỷ nhập núi điền, đúc rút được tập quán làm thuỷ lợi bằng biểu tượng ngôn ngữ (điều mà không phải bất cứ cộng đồng người làm ruộng nào cũng làm được) Người Thái Trắng có bốn chữ nói lên bốn giải pháp về nông nghiệp: mương, phai, lái, lin (mương là đường khai thông để dẫn nước vào ruộng; phai là một loại đập dùng bằng gỗ hoặc tre ngăn ngăn sông hoặc suối để nước dâng lên dẫn tới ruộng; lái bao gồm những hệ thống cọn nước, phai phụ dẫn nước mương chảy qua chướng ngại vật tới ruộng; lin là loại cây có dóng như: tre, nứa, bương…đục bỏ mắt
để làm máng dẫn nước) Việc khai khẩn vùng đất hoang vu thành cánh đồng trồng lúa trở thành hàng đầu trong hệ thống kinh tế cổ truyền người Thái Trắng Trong đó, cùng với việc vỡ đất phải giải quyết ngay khâu dẫn nước từ các dòng chảy tự nhiên vào tưới tiêu, sao cho cánh đồng trồng lúa hợp lý với vùng tự nhiên của nó Từ đó, dòng nước thiên nhiên gắn chặt với các khâu của công trình thủy lợi truyền thống, mà người Thái Trắng quen lấy mương
Trang 35thống mương, phai, lái, lin, người Thái Trắng đã sớm tích lũy được một số kinh nghiệm để dẫn nước tưới ruộng theo phương pháp thủ công và thu được những hiệu quả nhất định, cho cuộc sống lao động sản xuất của người Thái Trắng trong một thời gian dài Song song với việc sản xuất lương thực trên ruộng nước, người Thái Trắng còn làm nương rẫy Công cụ lao động của người Thái Trắng chủ yếu là các công cự thô sơ bằng sắt, như: cày bừa, cuốc xẻng, dao búa… Trong hiện tại thì một số vùng có đồng bằng và cao nguyên rộng lớn đã có nhiều máy cày, xe kéo… các máy móc mới đã dần thay thế các công cụ thô sơ, cho năng suất công việc cao hơn, hiệu quả hơn
- Văn hóa kiến trúc
+ Nhà sàn
Cũng như người Thái, người Thái Trắng ở huyện Mộc Châu có truyền thống ở nhà sàn Song do hoàn cảnh địa lý khác nhau và do sự tiếp thu, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau về kiến trúc giữa các dân tộc anh em sống xem kẽ nên nhà sàn của người Thái Trắng ở huyện Mộc Châu cũng có sự biến tấu khác nhau ở một số chi tiết Nhà sàn truyền thống của người Thái Trắng ở huyện Mộc Châu có các loại như: nhà cột chôn, nhà cột kê Loại nhà cổ từ xa xưa nhất truyền lại là nhà cột chôn Về sau các loại gỗ tốt để lấy lõi cạn dần nên xuất hiện nhà cột kê Nếp nhà sàn như thế được cấu trúc bởi các loại cây thân
gỗ và có giống như tre, vầu, nứa.v.v lợp bằng cỏ tranh kiến trúc phần mái
có hai kiểu: Mái hồi cong và mái hồi thẳng Nếu ai đó đã quen với nếp sống thủ công nghiệp đến quan sát thì sẽ không sao tránh khỏi ngạc nhiên vì cả một ngôi nhà sàn, có nếp khá đồ sộ như của các gia đình quý tộc xưa mà không phải dùng đến một mẩu sắt nhỏ nào trong thiết kế xây dựng Thay vào đó những cái đinh đóng là cả một hệ thống dây chằng buộc thắt khá công phu và tinh xảo bằng lạt, tre, giang và vỏ những cây chuyên dùng gọi là năng hu,
Trang 36năng xa, năng xiểu Để nối các cột kèo, nhà người kinh thì nắp mộng thắt còn nhà sàn người Thái Trắng là những đòn dầm xuyên suốt qua các lỗ đục của các cột Kiểu kiến trúc có vẻ đơn sơ, nhưng chắc chắn, đủ lực chống nắng, mưa và gió, bão
Xu hướng nhà sàn đều có và sử dụng tầng trệt (gầm sàn) với nhiều chức năng đa dạng hơn: Vì mục tiêu chủ yếu tránh không khí ẩm thấp của miền núi, sạt lở đất, tranh thú rừng, có hại cho sức khỏe… không gian chỉ để củi, buộc trâu bò, nông sản, xe cộ, công cụ lao động… Hiện nay chiều cao sàn đã được nâng dần, nhất là những ngôi nhà mới dựng 10 - 15 năm trở lại đây, với chiều cao 2,5m - 2,7m Gầm sàn đã được sử dụng như một không gian sinh hoạt chung, tiếp khách, mắc võng nghỉ, chỗ chơi trẻ em
Quan niệm về chọn hướng nhà của người Thái Trắng được coi là khâu rất quan trọng, việc chọn hướng nhà lúc nào cũng lấy những ngọn núi, những dòng sông, suối làm “chuẩn” Ngọn núi mà dòng sông, suối là những vật cố định, có sức sống thể hiện bên ngoài rất mãnh liệt dòng sông, suối chạy quanh năm, không bao giờ hết nước; ngọn núi suốt bốn mùa có cây cối xanh tươi Cuộc sống sinh hoạt thường ngày của người Thái Trắng ở huyện Mộc Châu ngoài thời gian lao động trên nương tất cả đều diễn ra trong nếp nhà sàn Theo truyền thống gia đình người Thái Trắng, mỗi người sau khi đã lấy
vợ, lấy chồng phải ở nhà bố mẹ một thời gian khá dài mới được làm nhà riêng
Trong kiến trúc nhà sàn của người Thái Trắng chúng ta dễ dàng nhận thấy số lẻ gắn với khá nhiều thiết kế: số gian chính, cầu thang, hay số đòn tay của nhà sàn thường là số lẻ (3,5,7…), Theo quan niệm dân gian, người Thái Trắng cho rằng số lẻ tượng trưng cho sự vận động, phát triển đi lên, còn số chẵn tượng trưng cho sự yên tĩnh, không vận động, không phát triển
Không gian trong nhà phân theo chiều đòn nóc một bên dùng làm chỗ
Trang 37khác trong gia đình Phân theo chiều quái giang thì hai đầu hồi có hai cửa ra
vào, hai đầu hồi này có hai tên gọi khác nhau một bên là “quản” một bên là
“chan”, cầu thang lên xuống được bắc ở hai bên đầu hồi của ngôi nhà sàn Theo phong tục, cầu thang bên “quản” dẫn lên lan can đi vào cửa chính Gian
đầu tiên là gian thờ tổ tiên, đó là một buồng có vách ngăn được gọi là
“hoòng” Tiếp đến là buồng ngủ của chủ nhà, phía chân chỗ ngủ của chủ nhà
thường đặt thêm một bếp lửa để cả gia đình sum họp sưởi ấm, chuyện trò trước khi đi ngủ Nửa này được tính từ giữa nhà đổ về phía lan can đầu hồi
được gọi là bên “quản” Bên này chủ yếu dành cho sinh hoạt của đàn ông
Một bên cầu thang dẫn lên nhà sàn có sàn phơi Sàn phơi là nơi để các thiếu
nữ ngồi kéo sợi dệt vải và tâm sự cùng người yêu Qua cửa vào gian bếp nấu
ăn hàng ngày, đối diện là nơi sinh hoạt của phái đẹp, gọi là “cửa sổ gương”
Nửa này được tính từ giữa nhà đổ về gọi là “chan”, bên này chủ yếu dành
cho sinh hoạt của đàn bà, gắn với các công việc nội trợ
- Văn hóa ẩm thực
Nền văn hóa của người Thái vùng Tây Bắc nói chung và người Thái Trắng ở huyện Mộc Châu nói riêng được biết tới nhiều với chiếc khăn Piêu và điệu múa xòe, nhảy sạp trong lễ hội hoa Ban truyền thống Ít ai biết rằng người Thái Trắng ở huyện Mộc Châu còn có những món ăn truyền thống từ ngàn đời mà ai đã từng được thưởng thức một lần đều sẽ nhớ mãi
Với những món ăn được chế biến công phu, độc đáo, ẩm thực truyền thống của người Thái Trắng ở huyện Mộc Châu được xem là cách truyền tải hữu hiệu nhất nét văn hóa của dân tộc Tất cả món ăn đều được chế biến từ nguồn nguyên liệu hoàn toàn tự nhiên, không dùng dầu mỡ và rất chú trọng tới việc điều phối các vị đắng - cay - mặn - chát Những vị này được phối hợp hài hòa khiến thực khách cảm thấy vừa miệng, không có cảm giác ngấy, ngán khi ăn những món nướng, luộc, hấp, hun khói
Trang 38Phương pháp chế biến món ăn của người Thái Trắng ở huyện Mộc Châu chỉ dựa vào kinh nghiệm, được lưu giữ từ đời này qua đời khác, không có trường lớp nào truyền dạy Những phương pháp chế biến món ăn hoàn toàn dựa vào kinh nghiệm từ ngàn xưa để lại và được lưu giữ từ đời này qua đời khác chứ hoàn toàn không có bất cứ trường lớp nào truyền dạy Chính điều này đã khiến cho những món ăn của người Thái Trắng ở huyện Mộc Châu không thể lẫn với bất kỳ dân tộc nào khác
+ Món xôi nếp
Đối với người Thái Trắng ở huyện Mộc Châu, gạo nếp vẫn là lương thực
ăn truyền thống Nếu người Kinh ăn cơm xôi (cơm nếp) lót dạ vào bữa sáng
và trong các nghi thức tập quán như cúng lễ, cưới xin… Đối với người Thái Trắng xôi vẫn là lương thực ăn truyền thống Khi lên rừng hay nương rẫy người Thái Trắng thường mang theo cơm nếp bởi tác dụng no lâu, chắc dạ và
để lâu cơm vẫn dẻo chứ không bị khô và rắn như cơm tẻ Phương pháp đồ xôi cách thuỷ bằng chõ gỗ rất kỹ thuật Xôi chín bằng hơi, mềm, dẻo nhưng không dính tay Xôi được đựng vào ép khẩu hoặc giỏ cơm đậy kín, ủ ấm, giữ cho cơm dẻo lâu Chõ ninh được đục đẽo từ khúc của thân cây gỗ, do phong tục tập quán ăn của đồng bào, họ thường xôi chín hầu như tất cả các thực phẩm của mình: Xôi cơm nếp, xôi rau, xôi khoai sắn, xôi bánh trái, củ quả Món ăn nấu chín bằng phương pháp này thường ngon hơn, màu sắc cũng đẹp
và tự nhiên hơn Chõ xôi bằng gỗ làm hơi nước ngưng tụ chậm đi, nên thực thẩm ít bị ướt và nát, giữ lại được vitamin và dưỡng chất cao hơn Trong gia đình người Thái Trắng, ninh đồng là một trong những thứ gia truyền, theo tập quán thì chiếc chõ là vật dụng chứa đựng “điều cấm kỵ” Ngoài dùng với cơm nếp xôi, người Thái Trắng còn dùng chõ để chế biến thực phẩm rau, thịt, cá được lấy trong tự nhiên hoặc do con người lao động sản xuất ra
+ Món thịt trâu gác bếp
Trang 39nó thì chắc chắn sẽ làm “ám ảnh” những du khách đã từng ghé chân qua nơi đây Thịt trâu gác bếp là món ăn đặc sản của người Thái Trắng ở huyện Mộc Châu Món này thường được làm từ thịt bắp của những chú trâu thả rông trên các vùng đồi, núi cao Khi chế biến, người ta róc các thớ thịt trâu ra thành từng miếng và thái dọc thớ rồi đem tẩm ướp thịt trâu bằng các loại lá rừng như: ớt, gừng, sả, mắc khén (một loại hạt tiêu rừng của người dân tộc thiểu số vùng cao) Khi thịt đã ngấm gia vị người ta đem xâu thịt thành từng xiên, treo trên những thanh tre được gác ngang qua phía trên của bếp, rồi hun bằng khói của than củi được đốt từ các loại cây mọc trên núi đá Đây chính là lí do món
ăn này có tên gọi thịt trâu gác bếp Khói củi ngấm vào từng thớ thịt trâu làm thịt đỏ sậm màu hơn, mùi khói gần như vẫn còn nguyên, song lại không gây khó chịu, vị ngọt của thịt cộng với vị cay, thơm của các gia vị, quyện với mùi khói thơm khiến món ăn càng trở nên đặc biệt Ngoài ra món này có thể cất được rất lâu và sử dụng rất đa dạng trong bữa ăn, có thể dùng vào bữa ăn chính với xôi nếp, khi uống rượu hay đãi khách, khi đi núi…
+ Món nộm da trâu
Tên món ăn nghe tưởng như đùa bởi ai cũng biết đặc tính của da trâu là dày, dẻo, dai và rất khó chế biến nhưng đây lại là một món ăn đặc trưng của người Thái Trắng ở huyện Mộc Châu Đem da trâu đốt sơ qua, sau đó ngâm với nước Khi da trâu đã mềm, bên ngoài miếng da có màu vàng đậm, bên trong có màu vàng nhạt, nhìn trong trong, người ta dùng dao sắc thái thành những sợi mỏng, sau đó cho vào chảo mỡ đang sôi chiên giòn Đấy chỉ là bước đầu tiên, tiếp theo lấy da trâu đã chiên giòn, cho thêm ít thịt trâu, mùi ta, mùi tàu, rắc thêm lạc và một chút hạt mắc khén Đặc trưng của món nộm này
là không phải dùng chanh hay dấm để tạo nên vị chua mà lại là dùng nước măng chua, nhưng là vị chua vừa phải, không chua gắt quá sẽ làm mất đi vị thơm của món ăn này Thưởng thức món ăn này chúng ta sẽ được nếm cảm giác ngòn ngọt của thịt trâu, vị bùi của lạc rang, thơm của mùi ta đặc biệt là
Trang 40cái giòn giòn của da trâu Nhấm nháp thêm chút rượu thì món nộm da trâu là món ăn mà dân nhậu không thể bỏ qua
+ Món “Pà pỉng tộp” (cá nướng)
Cá suối nướng úp là món ăn không thể thiếu trong các lễ hội của người Thái Trắng ở huyện Mộc Châu, và đã trở thành một nét văn hóa ẩm thực đặc biệt mang hương vị dân tộc Món ăn này nổi tiếng đến mức người người Thái Trắng còn có câu nói nổi tiếng: “Gà tơ tần đem đến, không bằng Pa Pỉnh Tộp đem cho”, điều này cũng thể hiện được sự đặc biệt của nó Để làm được món này quan trọng nhất có lẽ là khâu chuẩn bị các loại gia vị tẩm ướp cho cá làm sao cho cá có ngọt và thơm của các loại lá và hạt cây rừng gồm: các hạt lá và cây rừng, tỏi, gừng, hành củ, rau húng rừng, lá gừng, rau mùi, ớt, muối… làm cho món cá suối nướng thơm lừng, cá chín vàng nhưng thịt cá lại có vị ngọt đặc trưng của cá suối, đặc biệt thân cá bị gập lại khi nướng nhưng thịt lại không hề bị vụn, rời ra Nếu được ăn kèm với cơm lam, uống rượu cần và nhâm nhi cá nướng chúng ta sẽ cảm nhận được hương vị núi rừng Tây Bắc thật thi vị và khó quên
+ Món canh hoa ban
Đến với Mộc Châu đặc biệt là khi mùa xuân đến, du khách không chỉ được chiêm ngưỡng một màu trắng tinh khôi của hoa ban nở trắng, phủ kín khắp đỉnh đèo, lưng núi mà còn được thưởng thức các món ăn từ hoa ban – loài hoa không chỉ mang vẻ đẹp trinh bạch của núi rừng mà còn đi vào đời sống ẩm thực của người Thái Trắng, đặc biệt sự độc đáo, tinh xảo cùng những kinh nghiệm dân gian chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ con người qua ẩm thực Người Thái Trắng có nhiều món ăn ngon được chế biến từ cây ban Hoa ban,
lá ban non, quả ban già, người ta chế biến thành những món ăn vừa ngon, vừa
bổ như: hoa ban hầm móng giò, hoa ban xào thịt lợn rừng, hoa ban đồ, hoa ban nộm củ riềng… Những món ăn này vừa tốt cho sức khoẻ vừa có thể chữa