Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa, Dân ca Quan họ đang chịu nhiều tác động của cơ chế thị trường, tiềm ẩn nguy cơ bị mai một, cần được bảo tồn và phát triển; do đó, em chọn để tài: “
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN HỒNG ANH
BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA QUAN HỌ DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG Ở TỈNH BẮC NINH
Chuyên ngành: Giáo dục và phát triển cộng đồng
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: Tiến sĩ MAI THỊ ANH
HÀ NỘI, NĂM 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến lãnh đạo nhà trường, khoa Tâm lý - Giáo dục trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi được học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ mới
Xin chân thành cảm ơn các nhà giáo, các nhà khoa học đã nhiệt tình giảng dạy, giúp đỡ chúng tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu vừa qua Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn Tiến sĩ Mai Thị Anh đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp Thạc Sĩ chuyên ngành Giáo dục và phát triển cộng đồng
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới Ban Giám hiệu trường Trung cấp Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch tỉnh Bắc Ninh, tới phòng Đào tạo và tới tất cả anh chị em, bạn bè đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu
Những nội dung học tập được ở trường thông qua tài liệu được các nhà giáo lên lớp hướng dẫn nghiên cứu cùng với sự giúp đỡ của đồng nghiệp đã giúp đỡ nâng cao nhận thức để hoàn thiện đề tài
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 4 năm 2017
Nguyễn Hồng Anh
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc rõ ràng và được phép công bố
Hà Nội, ngày 30 tháng 4 năm 2017
HỌC VIÊN THỰC HIỆN
Nguyễn Hồng Anh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
3.1 Khách thể nghiên cứu 2
3.2 Đối tượng nghiên cứu 2
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận 3
5.2 Nghiên cứu thực trạng 3
5.3 Đề xuất các giải pháp 3
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 3
7 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 4
7.1 Phương pháp luận 4
7.2 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Cấu trúc luận văn 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA QUAN HỌ DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG 1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
1.1.1 Nghiên cứu của các tác giả nước ngoài 5
1.1.2 Nghiên cứu của các tác giả trong nước 8
1.1.2.1 Tình hình nghiên cứu trước năm 1945 8
1.1.2.2 Tình hình nghiên cứu sau 1945 đến nay 9
1.2 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến bảo tồn di sản văn hóa 15
1.2.1 Quan họ và di sản văn hóa Quan họ 15
1.2.1.1 Khái niệm Quan họ 15
1.2.1.2 Di sản văn hóa Quan họ 15
1.2.2 Bảo tồn di sản văn hóa Quan họ dựa vào cộng đồng 16
1.2.2.1 Khái niệm bảo tồn 16
1.2.2.2 Bảo tồn di sản văn hóa Quan họ dựa vào cộng đồng 16
1.3 Chức năng nhiệm vụ bảo tồn di sản văn hóa Quan họ dựa vào cộng đồng 17
Trang 61.4 Giải pháp bảo tồn di sản văn hóa Quan họ dựa vào cộng đồng 17
1.4.1 Khái niệm giải pháp 17
1.4.2 Mục đích, nội dung thực hiện giải pháp 18
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến bảo tồn di sản văn hóa Quan họ dựa vào cộng đồng 18
1.5.1 Yếu tố chủ quan 18
1.5.2 Yếu tố khách quan 19
Tiểu kết chương 1: 20
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA QUAN HỌ Ở TỈNH BẮC NINH TRONG NHỮNG NĂM QUA 2.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên, tình hình KT-XH, văn hóa Quan họ tỉnh Bắc Ninh 21
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 21
2.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội 23
2.1.3 Giáo dục và đào tạo tỉnh Bắc Ninh 26
2.1.4 Văn hóa tỉnh Bắc Ninh 27
2.2 Thực trạng công tác bảo tồn di sản văn hóa Quan họ ở tỉnh Bắc Ninh trong những năm vừa qua 29
2.2.1 Nhận thức của các cấp, các ngành về công tác bảo tồn di sản văn hóa Quan họ 29
2.2.2 Hoạt động bảo tồn di sản văn hóa Quan họ 30
2.2.2.1 Về công tác sưu tầm, nghiên cứu 31
2.2.2.2 Công tác khôi phục di sản văn hóa Quan họ 32
2.2.2.3 Hoạt động của Nhà hát Dân ca Quan họ Bắc Ninh 34
2.2.2.4 Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng tài năng của Trường Trung cấp Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch Bắc Ninh 36
2.2.2.5 Công tác chăm lo, xây dựng đội ngũ nghệ nhân, cán bộ quản lý bảo tồn di sản văn hóa Quan họ 36
2.2.2.6 Công tác tuyên truyền quảng bá 38
2.2.2.7 Những tác động của quá trình toàn cầu hóa, thương mại hóa, đô thị hóa và vấn đề du lịch văn hóa 40
2.2.3 Đầu tư các nguồn lực, cơ sở vật chất – kỹ thuật bảo tồn di sản văn hóa Quan họ 41
2.2.4 Công tác kiểm tra giám sát, động viên khen thưởng, xử lý các vi phạm bảo tồn di sản văn hóa Quan họ 42
2.3 Đánh giá chung thực trạng về bảo tồn di sản văn hóa Quan họ ở tỉnh Bắc Ninh trong những năm vừa qua 44
2.3.1 Những mặt mạnh 44
2.3.2 Những mặt yếu 44
Trang 72.3.3 Nguyên nhân của thực trạng 45
Tiểu kết chương 2 47
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA QUAN HỌ DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG Ở TỈNH BẮC NINH 3.1 Nguyên tắc đề xuất các giải pháp 48
3.2 Giải pháp bảo tồn di sản văn hóa Quan họ dựa vào cộng đồng ở tỉnh Bắc Ninh 49
3.2.1 Nhóm giải pháp mang tính khẩn cấp trước mắt 49
3.2.1.1 Nâng cao nhận thức của cấp ủy Đảng, chính quyền và cộng đồng về bảo tồn di sản văn hóa Quan họ 49
3.2.1.2 Chú trọng công tác đào tạo bồi dưỡng nghệ sỹ, nghệ nhân truyền bá văn hóa Quan họ 50
3.2.1.3 Công tác bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn cán bộ làm công tác bảo tồn di sản văn hóa Quan họ 52
3.2.2 Nhóm giải pháp mang tính chiến lược lâu dài 53
3.2.2.1 Tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động bền vững bảo tồn di sản văn hóa Quan họ dựa vào cộng đồng 53
3.2.2.2 Chỉ đạo tốt công tác khảo sát, quy hoạch bảo tồn di sản văn hóa Quan họ 57
3.2.2.3 Tăng cường xã hội hóa, huy động các nguồn lực tham gia bảo tồn di sản văn hóa Quan họ 59
3.2.2.4 Tăng cường kiểm tra giám sát, động viên khen thưởng trong cộng đồng dân cư bảo tồn di sản văn hóa Quan họ 60
3.2.2.5 Công tác phối hợp với các ngành, các cấp, các tổ chức chính trị - xã hội về bảo tồn di sản văn hóa Quan họ 61
3.2.2.6 Về hội nhập, giao lưu và giới thiệu di sản văn hóa Quan họ 63 3.2.2.7 Phối hợp với truyền hình báo chí, tuyên truyền quảng bá di sản văn hóa Quan họ trong và ngoài nước 64
3.3 Mối quan hệ của các giải pháp 65
3.4 Khảo nghiệm sự cần thiết và tính khả thi của các giải pháp 66
Tiểu kết chương 3 71
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 73
1 KẾT LUẬN 73
2 KIẾN NGHỊ 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
PHỤ LỤC PHIẾU ĐIỀU TRA 80
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 91
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Văn hóa Quan họ là một trong những di sản văn hóa phi vật thể có giá trị,
là một loại hình nghệ thuật truyền thống, tiêu biểu của tỉnh Bắc Ninh Nội
dung “Quy hoạch phát triển văn hóa tỉnh Bắc Ninh đến năm 2020 và định
hướng đến năm 2030” đã được UBND tỉnh Bắc Ninh phê duyệt; Sở Văn hóa,
Thể thao và Du lịch tham mưu triển khai thực hiện, thu hút sự quan tâm của đông đảo công chúng cũng như nhiều nhà khoa học trong nước và nước ngoài Nhiều hội nghị, hội thảo khoa học trong và ngoài nước tổ chức tọa đàm về văn hóa Quan họ Trong đó, có cuộc hội thảo quốc tế về chủ đề “Bảo tồn và phát huy dân ca trong xã hội đương đại (Quan họ Bắc Ninh ở Việt Nam)”, do Viện Văn hóa phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bắc Ninh tổ chức tại Hà Nội Ngày 29 và 30/6/2006, có trên 100 nhà khoa học trong nước
và nước ngoài tham gia gồm: Hoa Kỳ, Đức, Anh, Lào, Nhật Bản, Malaixia…v.v… Như vậy, chứng tỏ việc bảo tồn di sản văn hóa Quan họ đã trở thành điển hình về di sản trong cộng đồng Đúng như nhận xét của nhà
nghiên cứu Nguyễn Tri Nguyên: “Văn hóa Quan họ và dân ca Quan họ được
xem xét và tranh luận không chỉ trong bối cảnh và quá trình lịch sử phát triển cộng đồng của dân cư Bắc Ninh và châu thổ Sông Hồng mà còn được xem xét và tranh luận trong bối cảnh văn hóa thế giới hiện đại Có thể nói, văn hóa Quan họ Bắc Ninh đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu
âm nhạc và văn hóa từ nhiều châu lục khác nhau Nó là hiện tượng có tính điển hình để xem xét xu hướng âm nhạc dân gian trong bối cảnh liên văn hóa thế giới hiện nay”[02tr24]
Trong những năm qua công tác bảo tồn các giá trị văn hóa tuy đã có nhiều cố gắng, đạt được những thành tựu nhất định Nhưng so với yêu cầu
Trang 102
phát triển của đất nước và nhu cầu của nhân dân thì vẫn còn những hạn chế nhất định, nhiều di sản văn hóa trong cộng đồng có nguy cơ bị thất truyền Với quan điểm đúng đắn của Đảng, Nhà nước ta về bảo tồn di sản Văn hóa dân tộc Ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng đã đưa ra nhiều biện pháp, giải pháp tổ chức thực hiện, tạo sự đồng thuận của nhân dân và xã hội Nhiều
di sản Văn hóa phi vật thể, không những khắc phục được nguy cơ bị thất truyền mà còn được bảo tồn, gìn giữ
Văn hóa Quan họ là di sản văn hóa đặc sắc của vùng Kinh Bắc và là di sản Văn hóa phi vật thể, truyền khẩu của quê hương Bắc Ninh Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa, Dân ca Quan họ đang chịu nhiều tác động của cơ chế thị trường, tiềm ẩn nguy cơ bị mai một, cần được bảo tồn và phát triển; do
đó, em chọn để tài: “Bảo tồn di sản Văn hóa Quan họ dựa vào cộng đồng ở
tỉnh Bắc Ninh”, để nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và nghiên cứu thực tiễn công tác bảo tồn
di sản Văn hóa dựa vào cộng đồng, đề xuất các giải pháp bảo tồn di sản văn hóa Quan họ dựa vào cộng đồng ở Tỉnh Bắc Ninh; nhằm góp phần xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững di sản văn hóa của quê hương Kinh Bắc, theo tinh thần Nghị quyết Trung ương
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Giải pháp bảo tồn di sản văn hóa Quan họ dựa vào cộng đồng ở tỉnh Bắc Ninh
Trang 113
4 Giả thuyết khoa học
Hoạt động bảo tồn di sản văn hóa Quan họ ở tỉnh Bắc Ninh, được thông qua nhiều chủ thể khác nhau; các biện pháp tổ chức thực hiện đạt được kết quả nhất định Tuy nhiên vẫn còn những hạn chế, tồn tại về bảo tồn di sản văn hóa Quan họ Nếu lựa chọn, đề xuất được các giải pháp động bộ, sát với điều kiện và đối tượng thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả bảo tồn di sản văn hóa Quan họ ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận
Hệ thống hóa cơ sở lý luận bảo tồn di sản văn hóa; chức năng, nhiệm vụ bảo tồn di sản văn hóa dựa vào cộng đồng; giải pháp bảo tồn di sản văn hóa dựa vào cộng đồng; các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động bảo tồn di sản văn hóa dựa vào cộng đồng
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Đề tài tập trung nghiên cứu giải pháp bảo tồn di sản văn hóa Quan họ dựa vào cộng đồng ở tỉnh Bắc Ninh
- Đề tài đề cập các chủ đề: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, UBND tỉnh Bắc Ninh, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Nhà hát Dân ca Quan họ Bắc
Trang 12- Phương pháp tiếp cận Văn hóa học;
- Phương pháp tiếp cận phát triển cộng đồng
7.2 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu tài liệu: Hệ thống hóa cơ sở lý luận liên quan đến bảo tồn
di sản văn hóa;
- Nghiên cứu thực trạng: Quan sát, điều tra, khảo sát thu thập thông tin,
xử lý thông tin về bảo tồn di sản văn hóa Quan họ dựa vào cộng đồng ở tỉnh Bắc Ninh;
- Phỏng vấn, xin ý kiến chuyên gia, các nhà quản lý …
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo
và phụ lục Luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về bảo tồn di sản văn hóa Quan họ dựa vào cộng đồng
- Chương 2: Thực trạng bảo tồn di sản văn hóa Quan họ ở tỉnh Bắc Ninh trong những năm qua
- Chương 3: Bảo tồn di sản văn hóa Quan họ dựa vào cộng đồng ở tỉnh Bắc Ninh
Trang 135
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA QUAN HỌ DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG
1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Nghiên cứu của các tác giả nước ngoài
Cho đến nay đã có 2 luận án Tiến sĩ nghiên cứu về Quan họ và liên quan đến Quan họ được bảo vệ tại Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, đó là các đề tài:
- Hát Quan họ ở miền Bắc Việt Nam: “Khao khát khám phá nghệ thuật
Quan họ” của Lê Ngọc Chân đã chỉ rõ mối quan hệ giữa Quan họ với các
môn nghệ thuật Chèo, Chầu văn và các sinh hoạt văn hóa cộng đồng làng xã Luận án cũng quan tâm ảnh hưởng của văn hóa Chăm đến một số tập tục văn hóa ở làng Viêm Xá như tục cưới, vai trò của người phụ nữ trong gia đình cũng như quan hệ tính giao trong giao du kết bạn Quan họ
- “Sự chuyển tải âm nhạc: âm nhạc dân gian, sự điều chỉnh và quá trình
hiện đại hóa ở Miền Bắc Việt Nam” của L.Meeker đã dụng công nghiên cứu
về các chính sách của Nhà nước Việt Nam đối với việc bảo tồn, phát huy di sản văn hóa dân tộc Nội dung luận án của Bà cũng đề cập sâu sắc quan điểm của Đảng Công sản Việt Nam đối với việc giữ gìn truyền thống Bà cho rằng
ở Việt Nam, việc bảo tồn di sản văn hóa được Nhà nước hóa
Hai luận án trên đều là luận án triết học, bàn về Quan họ từ góc độ âm nhạc, dân ca
- Hội thảo khoa học quốc tế: “Bảo tồn và phát huy dân ca trong xã hội
đương đại (qua trường hợp Quan họ Bắc Ninh ở Việt Nam)” của Bộ Văn hóa
Thông tin phối hợp với Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh với sự tham gia của trên 100 nhà khoa học, trong đó có các nhà khoa học đến từ Mỹ, Anh, Trung Quốc, Nhật Bản, Đức, Lào, Malayxia …
Trang 146
- Tại hội thảo, trong tham luận của các học giả nước ngoài, có một số tham luận tiêu biểu đề cập trực tiếp tới dân ca Quan họ:
+ GS.TS Tokumaru Yosihito, Đại học Không gian, Nhật Bản trong tham
luận: Mục đích của Hội nghị đã đánh giá cao việc Việt Nam chọn Di sản phi
vật thể Quan họ để ưu tiên bảo tồn, phát triển bên cạnh Di sản phi vật thể Âm nhạc Cung đình Huế và Cồng chiêng Tây nguyên Ông khẳng định: bằng việc quan tâm đến “truyền thống nhỏ” (chỉ Quan họ) chúng ta có thể quan tâm đến tương lại âm nhạc trên toàn thế giới
+ GS.TS Gisa Jahnichen, Đại học Frankfurt, Cộng hòa liên bang Đức trong bài tham luận: Truyền thống hát thi và triết học thông tin hiện nay tại Việt Nam đã thể hiện sự am hiểu sâu sắc về dân ca Việt Nam của ông khi đưa vào bài viết của mình các loại dân ca nổi tiếng của Việt Nam như Ví giặm, Trống quân, Bài chòi, hát Đúm, hò Đối đáp, Quan họ để đối chiếu, so sách và lập luận Ông nhấn mạnh đặc điểm “ứng tác, ứng ca” của Quan họ theo những qui tắc đặc điểm riêng Ông kết luận: cuộc sống của chúng ta được bảo vệ bằng chính những thể loại âm nhạc truyền thống phù hợp, ngay cả khi xung quanh chúng ta có những phương tiện thông tin hiện đại Theo ông, “hát Quan
họ là một kiểu thức cuộc sống rất độc đáo, vì nó có ý nghĩa trong việc duy trì một nền âm nhạc bản địa vào đầu thể kỷ XXI”
+ TS Lauren Meecker, Đại học Columbia, Hoa Kỳ trong bài tham luận
từ bài hát ra đến sân khấu: sinh hoạt Quan học ở Việt Nam hiện nay, bà bàn
về quan hệ giữa Quan họ và nghệ thuật diễn xuất đã thay đổi như thế nào; về sân khấu trung gian giữa loại Quan họ cổ và Quan họ mới như thế nào Đây cũng là một trong những nội dung chính được nghiên cứu trong Luận án tiến
sĩ của bà, như chúng tôi đã nêu ở trên Đáng chú ý là bà đặt “Quan họ cổ” gắn với “làng” - sinh hoạt văn hóa Quan họ là, “Quan họ mới” gắn với “hiện đại” Đặc biệt, bà đặt khái niệm “sinh hoạt Quan họ” tương ứng với khái niệm
Trang 157
“chơi Quan họ” và “biểu diễn Quan họ” tương ứng với “hát Quan họ” Theo
bà, “chơi Quan họ” gắn với một hệ thống quy ước và hành động xã hội và cuộc chơi Quan họ không có khán giả như “hát Quan họ” trên sân khấu Như thế, “chơi Quan họ” là một hiện tượng văn hóa tổng thể -là văn hóa Quan họ
Bà nhận định “sinh hoạt xã hội rất quan trọng đối với cách chơi Quan họ” Ở đây, trong tham luận này, bà cũng sử dụng khái niệm “Quan họ làng” gắn với
xã hội làng
+ GS Deborah Wong, Đại học California, Riverside, Hoa kỳ trong tham
luận: Sự biến mất của văn hóa dân gian: một cách tiếp cận từ thế giới thứ
nhất, sau khi đưa ra hai ví dụ về âm nhạc dân gian đang tồn tại ở miền Nam
nước Mỹ, ông đã liên hệ trở lại để suy nghĩ về tương lại của Quan họ như thế nào? Ông đề cập đến 04 vấn đề liên quan đến Quan họ:
“Ra quyết định”: Trả lời cho câu hỏi ai quyết định lưu trữ quá khứ và quyết định tương lai Quan họ Họ sẽ là chính quyền, các nghệ nhân và toàn thể cộng đồng sở tại nhập cuộc với một tinh thần “Lôi kéo tích cực”; “Bối cảnh diễn xướng” (Thực chất là không gian văn hóa Quan họ - cơ bản là văn hóa Quan họ làng - TG): bối cảnh diễn xướng thường thay đổi theo thời gian đối với bất kỳ truyền thống nào… Đó là một thực tế có tính qui luật - không tốt, cũng không xấu, không tích cực cũng không tiêu cực Ông cho rằng, từ thế kỷ XIII Quan họ đã qua nhiều bối cảnh Ở đây, trong trường hợp này GS Deborah Wong nói về sự đổi thay (của dân ca) theo thời gian và đó là quy luật;
“Chuyển giao và phương pháp giáo dục”: Quan họ cần phải được “truyền lại”
để tiếp tục sự tồn tại Ở đây có vai trò nghệ nhân và phương thức treo truyền giữa các thế hệ; “Lưu trữ và sự ủng hộ tích cực”: Sưu tầm tư liệu về Quan họ
là quí giá và vô cùng cần thiết Tuy nhiên, lưu trữ để làm gì lại là một việc khác Quan họ cần phải được hoạt động Đặc điểm chủ yếu của di sản văn háo
Trang 16Như vậy, nghiên cứu về Quan họ của các tác giả nước ngoài chưa nhiều, nhưng cũng cho thấy văn hóa Quan họ độc đáo ở chỗ “một kiểu thức cuộc sống” mà dường như là một “tiểu văn hóa” chứ không chỉ là một loại hình dân ca thuần túy
1.1.2 Nghiên cứu của các tác giả trong nước
1.1.2.1 Tình hình nghiên cứu trước năm 1945
Qua tìm hiểu, nghiên cứu trong khoảng nửa đầu thế kỷ XX đến trước Cách mạng Tháng Tám (1945), mảng đề tài Văn hóa Quan họ, về căn bản chưa thật sự được giới khoa học xã hội quan tâm nghiên cứu Một số bài báo đăng tải trong thời kỳ này của các tác giả như: Chu Ngọc Chi, Vũ Bằng, Dương Quảng Hàm, Việt Sinh, Toan Ánh, Minh Trúc v.v… chỉ tập trung vào việc giới thiệu một cách khái lược về một loại hình sinh hoạt cụ thể nào đó của Văn hóa Quan họ Ví dụ:
- “Hát quan họ” của Chu Ngọc Chi [23]
- “Nghe hát Quan họ một đêm ở Lũng Giang” của Việt Sinh [87]
- “Hát quan họ”, Minh Trúc [109]
- “Hội Lim” của Nguyễn Duy Kiện [61]
Trang 17nhưng không hay bằng giọng “Vặt” Nhận xét này khi ứng vào tình hình phát
triển văn hóa Quan họ hiện nay ta thấy rất rõ là các bài Quan họ giọng “Vặt” được truyền dạy và sử dụng nhiều hơn so các bài Quan họ lề lối
Đặc biệt, đáng chú ý có Luận án tiến sĩ “Hát đối đáp nam nữ thanh niên” của Nguyễn Văn Huyên được công bố vào năm 1934 Trong công trình giá trị này, Nguyễn Văn Huyên đề cập khá sâu sắc đến dân ca Quan họ lớn và tiêu biểu vào bậc nhất của vùng Quan họ Kinh Bắc
1.1.2.2 Tình hình nghiên cứu sau 1945 đến nay
Từ 1945 đến 1954 là giai đoạn kháng chiến chống Pháp Trong thời gian khoảng 10 năm, do chiến tranh, tình hình nghiên cứu không có dấu ấn gì đáng
kể
Từ hòa bình lập lại (1954) đến đầu thể kỷ XXI, công tác nghiên cứu Văn hóa Quan họ đã được tiến hành liên tục và có bước phát triển đáng kể Trên thực tế đã có nhiều công trình nghiên cứu công phu, dày dặn được in thành sách, thành giáo trình dạy học một cách khá toàn diện
Trong giai đoạn từ 1955 đến 1965 có các công trình nghiên cứu: “Tìm
hiểu dân ca Quan họ Bắc Ninh” của Trần Linh Quý, Hồng Thao [84]; “Tìm hiểu nguồn gốc Quan họ Bắc Ninh” của Nguyễn Tiến Chiêu [25]; “Dân ca Quan họ Bắc Ninh” của Nguyễn Hữu Phước, Nguyễn Văn Phú, Nguyễn Viêm,
Tú Ngọc [82]; “Quan họ Bắc Ninh” của Nguyễn Viêm [120] Các công trình
nghiên cứu đã đề cập đến nguồn gốc, quá trình hình thành, phát triển của dân
ca Quan họ Tuy nhiên, do phần lớn là các nhạc sỹ nên chủ yếu sản phẩm
Trang 1810
nghiên cứu thiên về âm nhạc Hướng nghiên cứu liên ngành vê Văn hóa Quan
họ nói riêng và văn nghệ dân gian nói chung giai đoạn này chưa được áp dụng rộng mà chủ yếu là những nghiên cứu đơn ngành Vì vậy, Văn hóa Quan họ chưa thật sự được quan tâm một cách toàn diện với tư cách là văn hóa tổng thể
Đáng chú ý, từ 1965 đến 1973, Ty văn hóa Hà Bắc đã tổ chức 5 hội nghị
về văn hóa Quan họ (năm 1965, 1967, 1969, 1971, 1973) Đánh giá tình hình nghiên cứu và phát triển văn hóa Quan họ với sự tham gia của nhiều nhà nghiên cứu, quản lý văn hóa trung ương và địa phương Kết quả, năm 1972 cuốn kỷ yếu về các hội nghị nói trên đã được xuất bản, đánh dấu một bước tiến triển quan trọng của công tác nghiên cứu Văn hóa Quan họ Cuốn kỷ yếu:
“Một số vấn đề về dân ca Quan họ” (286 trang) đã trở thành tài liệu có tính
chất công cụ cho các thế hệ, các nhà nghiên cứu Văn hóa Quan họ sau này
Từ năm 1975 sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, công tác nghiên cứu văn hóa Quan họ đã đạt nhiều thành tựu quan trọng, góp phần khái quát khá toàn diện về dân ca Quan họ Kinh Bắc cả về nghệ thuật ca hát và sinh hoạt văn hóa phong phú của loại hình dân ca
Năm 1978, nhóm tác giả Đặng Văn Lung, Hồng Thao, Trần Linh Quý đã
công bố cuốn: “Quan họ, nguồn gốc và quá trình phát triển” [65], đây là
công trình nghiên cứu đồ sộ với 527 trang, gồm 6 phần, 12 chương Công trình được viết chủ yếu trên một kho tàng tư liệu điền dã công phu, có giá trị Trong số 3 tác giả của cuốn sách, Trần Linh Quý và Hồng Thao là các nhà nghiên cứu tại Sở Văn hóa Thông tin (VHTT) Hà Bắc Họ sống trên mảnh đất của quê hương Quan họ, gắn bó cả đời với sự nghiệp nghiên cứu loại hình dân
ca Cuốn sách đề cập tương đối toàn diện đến văn hóa Quan họ từ nguồn gốc đến quá trình phát triển Đây là công trình đầu tiên cho thấy xu hướng nghiên cứu đa ngành, liên ngành về Quan họ với tư cách là hiện tượng văn hóa tổng
Trang 1911
thể, trong đó bản thân sinh hoạt ca hát là một thành tố cốt lõi Đặc biệt, đến công trình tập thể này, hầu hết các nhà nghiên cứu đã sử dụng khái niệm “Văn hóa Quan họ” như một sự mặc nhiên, khẳng định văn hóa Quan họ là một hiện tượng văn hóa tổng thể chứ không đơn thuần chỉ là nghệ thuật ca hát Nhạc sỹ Hồng Thao là một trong số ít các nhà nghiên cứu chuyên sâu về văn hóa Quan họ và cũng là tác giả để lại các công trình có giá trị nhiều mặt
về dân ca Quan họ, không chỉ về phương diện âm nhạc Ngoài các công trình viết chung, ông đã có những nghiên cứu riêng, đi sâu giải quyết nhiều vấn đề
cơ bản về học thuật âm nhạc có tính chất chuyên sâu thang âm - điệu thức, tiết tấu, bố cục về vấn đề lời ca Quan họ Không giống như nhiều nhà nghiên cứu
âm nhạc khác khi nghiên cứu văn hóa Quan họ, Hồng Thao đã vượt ra khỏi những vấn đề âm nhạc thuần túy để nghiên cứu cả những vấn đề văn hóa Quan họ như nguồn gốc, tên gọi, lề lối, phong tục tập quán, ứng xử, giao tiếp… Ông phân tích mối quan hệ giữa “Quan họ cổ” và “Quan họ kim” Ông nhất quán quan điểm cần nghiên cứu văn hóa Quan họ với tư cách là một hiện tượng văn hóa dân gian, do vậy ông luôn tìm cách tiếp cận đối tượng nghiên cứu bằng cách phương pháp đa ngành, liên ngành Công trình 300 bài Quan
họ ông sưu tầm, là một kho tàng tư liệu có nhiều giá trị khoa học và thực tiễn đối với công tác bảo tồn văn hóa Quan họ ngày hôm nay
Năm 2006, năm bản lề của quá trình chuẩn bị hồ sơ khoa học về không gian văn hóa Quan họ để tiến tới trình UNESCO công nhận Quan họ là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại UBND tỉnh Bắc Ninh đã phối hợp với Bộ Văn hóa thông tin (VHTT) tiến hành thu thập, lựa chọn một số công trình nghiên cứu về văn hóa Quan họ từ trước tới nay (trong khoảng 100 năm)
để xuất bản thành sách Kết quả tháng 4 năm 2006 cuốn sách “Vùng văn hóa
Quan họ Bắc Ninh” đã được công bố đến bạn đọc Mục đích của cuốn sách,
ngoài việc góp phần hoàn thiện hồ sơ về Quan họ trình ủy ban UNESCO, còn
Trang 2012
cung cấp cho bạn đọc một “cách nhìn toàn diện hơn khi tiếp cận với không gian văn hóa Quan họ” Cuốn sách gồm 3 phần:
- Phần I: Vùng văn hóa Kinh Bắc;
- Phần II: Văn hóa Quan họ;
- Phần III: Âm nhạc Quan họ
Do không thể in tất cả các công trình nghiên cứu về Quan họ trong suốt gần 100 năm, nên các nhà biên soạn đã tổ chức xây dựng một thư mục không gian văn hóa Quan họ để phục vụ cho công tác tra cứu tìm hiểu về văn hóa Quan họ, vùng văn hóa Bắc Ninh - cái nôi của dân ca Quan họ Thư mục này được bố cục trong cuốn sách như một nội dung quan trọng, gồm 2 phần:
- Phần: Quan họ (gồm 579 công trình và bài viết)
- Phần: Vùng văn hóa Bắc Ninh (gồm 319 công trình và bài viết)
Năm 2006, để chuẩn bị hồ sơ cho việc trình UNESCO công nhận dân ca Quan họ Bắc Ninh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, Bộ văn hóa thông tin (nay là Bộ văn hóa, thể thao và du lịch) đã phối hợp với UBND
tỉnh Bắc Ninh tổ chức hội thảo Quốc tế: “Bảo tồn và phát huy dân ca trong xã
hội đương đại (qua trường hợp Quan họ Bắc Ninh ở Việt Nam” [20] có sự
tham gia của gần 100 nhà khoa học, nhà quản lý văn hóa trong nước và quốc
tế Với số lượng 64 bài tham luận (53 tham luận của các nhà khoa học trong nước, 11 tham luận của các nhà khoa học quốc tế) và với một chủ đề như tên của hội thảo, đã cho thấy đây là một hội thảo lớn nhất từ trước đến nay về Quan họ Bắc Ninh (tính từ 1965 đến nay đã có khoảng 10 hội nghị, hội thảo
về Quan họ được tổ chức) Kết quả hội thảo là cuốn kỷ yếu dày 867 trang được Viện VHTT (nay là Viện văn hóa nghệ thuật Quốc gia Việt nam) và Sở
VHTT (nay là sở VHTTDL) Bắc Ninh xuất bản năm 2006 Nội dung của
Hội thảo tập trung vào các vấn đề: Bảo tồn di sản văn hóa Quan họ trong xã hội hiện đại; tác động của quá trình đô thị hóa, hiện đại hóa; công tác trao
Trang 2113
truyền, bảo lưu, tuyên truyền các giá trị văn hóa Quan họ; cơ chế chính sách tôn vinh nghệ nhân - báu vật sống của dân ca Quan họ; chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý v.v… Có một điểm đáng chú ý là cuốn sách của nhiều tác giả này được lấy tên: Không gian văn hóa Quan họ Bắc Ninh - Bảo tồn và phát huy Đây là lần đầu tiên, khái niệm Không gian Văn hóa Quan họ được sử dụng rộng rãi trong một diễn đàn khoa học lớn là hội thảo lần này Quan niệm
“không gian văn hóa Quan họ Bắc Ninh” được thể hiện trong bài Tổng kết Hội thảo do PGS.TS Nguyễn Chí Bền trình bày:
Các nhà khoa học đã phác họa, trình bày về không gian văn hóa Quan họ Bắc Ninh một cách thấu đáo và căn kẽ Đó là những vấn đề về không gian tồn tại và phát triển văn hóa Quan họ: sự hình thành, lịch sử phát triển…., về các giá trị văn chương, nghệ thuật, về quan hệ giữa dân ca và các hình thức văn hóa khác như tín ngưỡng, lễ hội… Tất cả những điểm ấy đều ảnh hưởng tới
sự khẳng định tầm kiệt tác nhân loại không gian văn hóa Quan họ Bắc Ninh
Ở một khía cạnh khác, khi bàn về định hướng xây dựng chương trình cho Đoàn dân ca Quan họ (Nhà hát Dân ca Quan họ tỉnh Bắc Ninh), nhà nghiên cứu Nguyễn Thụy Lan đã phân tích: nếu như chúng ta đòi hỏi Đoàn dân ca Quan họ phải đồng thời “vừa đảm bảo tính sân khấu chuyên nghiệp, hấp dẫn người xem” thì thật lúng túng… Nếu hiểu việc “bảo đảm, giữ gìn truyền thống” theo nghĩa sát hẹp thì cần giữ lại lề lối, phong cách hát và hệ bài bản quan họ cổ truyền ở mức tối đa như nó vốn có mà các nghệ nhân cao tuổi giữ lại tới nay Nhưng nếu muốn “đảm bảo tính sân khấu chuyên nghiệp, hấp dẫn người xem” thì chắc chắn không thể chỉ đưa nguyên xi lối hát cổ của các cụ lên sân khấu mà không có những thay đổi, thêm bớt Giữ gìn truyền thống và phát triển lên sân khấu chuyên nghiệp là hai nhiệm vụ rất khác biệt, khó có thể giao cả hai cho một đơn vị nghệ thuật, nhất là khi nó lại đmả nhiệm nhiệm vụ hoạt động như một đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp với
Trang 22Trong bài tham luận Suy nghĩ về thực trạng và một số kiến nghị về bảo
tồn, phát huy di sản văn hóa Quan họ khi nhận xét về phương hướng và mục
đích của Hội thảo, tác giả Trần Minh Chính đã viết: các nhà tổ chức lại đặt ra yêu cầu rất hay là bàn về “văn hóa Quan họ”, chứ không chỉ bó hẹp loại hình dân ca này trong khuôn khổ một sự ca hát thuần túy Như vậy, đây thực sự là một hội thảo đòi hỏi những đóng góp liên ngành để bàn về một nền văn hóa
mà bản thân sự ca hát chỉ là một thành tố hạt nhân, cốt lõi Quan họ lớn và có thể sẽ trường tồn chính là ở chỗ này Dân ca Quan họ vùng Kinh Bắc đã đem lại cho chúng ta không chỉ những bài ca, những làn điệu mà là cả một nền văn hóa với biết bao khía cạnh hấp dẫn của nó: Từ môi trường tư nhiên và văn hóa đến phong tục tập quán, văn hóa ứng xử, giao tiếp, ngôn ngữ và cả cách cảm, cách nghĩ thấm dẫm tinh thần nhân văn, nhân bản của con người nơi đây Như vậy, Quan họ có một nền văn hóa riêng, một hiện tượng văn hóa tổng thể được hình thành trên cơ sở các mối quan hệ hữu cơ của rất nhiều loại hình sinh hoạt văn hóa khác Về ý kiến này, có thể có nhà nghiên cứu cảm thấy băn khoăn về cụm từ “nền văn hóa”, nhưng chắc chắn phần lớn giới nghiên cứu không băn khoăn khi thừa nhận về một hình thái văn hóa Quan họ gắn liền với dân ca Quan họ mà Quan họ đã bộc lộ sự đặc sắc của nó
Trang 2315
Như vậy, qua sơ lược lịch sử nghiên cứu về văn hóa Quan họ, đã cho ta một cái nhìn sâu và tổng thể về không gian văn hóa Quan họ; quá trình hình thành tồn tại và phát triển của loại hình văn hóa độc đáo này
1.2 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến bảo tồn di sản văn hóa
1.2.1 Quan họ và di sản văn hóa Quan họ
1.2.1.1 Khái niệm Quan họ
Từ điển Bách khoa Việt Nam 3 định nghĩa: “Quan họ (tên gọi đầy đủ: Quan họ Bắc Ninh) là tên gọi lối hát trữ tình đối đáp nam nữ nhân danh việc kết nghĩa giữa hai hoặc ba làng Lối hát này phổ biến ở 49 làng thuộc tỉnh Bắc Ninh Những người tham gia hát gọi là “liền anh, liền chị”, có phân thứ bậc
“anh Hai, anh Ba, …” và “chị Hai, chị Ba, …” Họ họp thành nhóm gọi là
“Nhóm Quan họ” Nhóm Quan họ nam gồm các liền anh, nhóm Quan họ nữ gồm các liền chị Khi hát, một đôi nam hát với một đôi nữ Trong mỗi đôi, một người hát chính, một người hát phụ Việc hát thi, lấy đối giọng làm tiêu chuẩn đánh giá hơn thua Một cuộc hát Quan họ gồm ba phần lớn: hát các giọng lề lối (có khoảng mười bài); hát các giọng vặt (có khoảng trên hai trăm bài); hát các giọng giã bạn (có khoảng năm bài)
1.2.1.2 Di sản văn hóa Quan họ
- Di sản văn hóa Quan họ là vốn tài sản phi vật thể vô cùng quý giá của Bắc Ninh nói chung, vùng Quan họ nói riêng Từ các hình thức sinh hoạt cho tới tiếng hát dân ca, Quan họ không những biểu hiện tài năng sáng tạo của người Bắc Ninh mà còn phản ánh đầy đủ và sâu sắc những mỗi quan hệ, đặc thù của người Bắc Ninh xưa Đó là mối quan hệ không những giữa những người trong một cộng đồng làng xã mà còn là quan hệ của con người giữa những làng xã với nhau Điểm nổi bật của mối quan hệ giữa người và người
ấy là tính bình đẳng giữa các liền anh, liền chị Quan họ, mà đặc biệt là bình đẳng nam nữ
Trang 2416
- Di sản văn hóa Quan họ là một loại hình văn hóa cộng đồng, lấy chữ Lễ làm trọng tâm trong mọi sinh hoạt, lấy chữ Nghĩa làm động lực trong mọi mối quan hệ giữa con người với nhau Lễ Nghĩa Quan họ thấm sâu vào từng hoạt động Quan họ, từ việc kết bạn Quan họ cho tới những lời ca say đắm tình người
- Di sản văn hóa Quan họ là một loại hình sinh hoạt văn hóa tổng hợp, bao gồm các hoạt động chủ yếu: Dân ca Quan họ, tục kết bạn Quan họ, văn hóa hành vi Quan họ, lễ hội Quan họ, tín ngưỡng Quan họ Trong tổng thể ấy, dân ca Quan họ là mặt trọng tâm
1.2.2 Bảo tồn di sản văn hóa Quan họ dựa vào cộng đồng
1.2.2.1 Khái niệm bảo tồn
Từ điển Tiếng Việt: “Bảo tồn là giữ gìn cho còn lại được lâu các tài liệu
và di tích lịch sử, văn hóa, xã hội, … để chuyển đến các thế hệ mai sau” [25tr40]
Như vậy, bảo tồn là việc bảo vệ, duy trì, giữ gìn những gì tồn tại trong thực tế, những gì tồn đọng và có giá trị về mặt lịch sử, mang tính chất tiến hóa, mang tính chất duy trì, tồn tại và phát triển lâu dài
1.2.2.2 Bảo tồn di sản văn hóa Quan họ dựa vào cộng đồng
- Mô hình bảo tồn tốt nhất mà UNESCO đề xướng: “là bảo tồn trong cộng đồng, trong chính môi trường diễn xướng của loại hình nghệ thuật dân gian đó Bởi chính cộng đồng sở hữu di sản, phải ý thức được giá trị sản phẩm văn hóa của mình, để rồi gìn giữ, phát huy nhân rộng nó” [29tr62]
Quan điểm trên cho thấy sự cần thiết phải bảo tồn di sản văn hóa Quan
họ ở chính nơi nó sinh ra Điều đó hoàn toàn đồng nhất trong chủ trương của ngành văn hóa là bảo tồn trong môi trường xã hội đương đại không phải là bảo tồn ở bảo tàng, mà phải ở cộng đồng dân cư, trong môi trường cảnh quan của chính vùng quan họ Việc bảo tồn, người trực tiếp thực hiện là nhân dân, ngành văn hóa chỉ làm nhiệm vụ nghiên cứu định hướng
Trang 2517
1.3 Chức năng nhiệm vụ bảo tồn di sản văn hóa Quan họ dựa vào cộng đồng
- Chức năng bảo tồn di sản văn hóa Quan họ (được UNESCO công nhận
là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại năm 2009): nghiên cứu giải pháp, bảo tồn các giá trị của di sản dựa vào cộng đồng
- Nhiệm vụ bảo tồn di sản văn hóa dân tộc đến năm 2020 được xác định
là nhiệm vụ then chốt của chiến lược phát triển văn hóa Tập trung đầu tư toàn diện, nghiên cứu, sưu tầm, bảo tồn giá trị đích lịch sử - văn hóa và Di sản văn hóa phi vật thể; các loại hình nghệ thuật cổ truyền đặc sắc, văn hóa dân gian của từng địa phương, từng vùng văn hóa, từng vùng dân tộc; nghề thủ công truyền thống lễ hội tiêu biểu kết hợp hài hòa việc bảo tồn và phát huy giá trị
di sản văn hóa với các hoạt động phát triển kinh tế, du lịch bền vững
Từ nhiệm vụ chung, bảo tồn di sản văn hóa Việt Nam nêu trên, trong những năm qua luôn được Tỉnh ủy và UBND tỉnh Bắc Ninh đặc biệt quan tâm đầu tư cho các hoạt động để bảo tồn di sản văn hóa Quan họ
- Định hướng công tác bảo tồn di sản văn hóa Quan họ; đề xuất các nhiệm vụ, giải pháp, các tiểu dự án ưu tiên nhằm bảo tồn giá trị di sản văn hóa Quan họ trong đời sống cộng đồng ở quy mô sâu rộng hơn, hoàn chỉnh hơn, mang tính bền vững hơn để xây dựng “Bắc Ninh đi lên từ văn hóa” là một chủ trương đúng đắn, phù hợp với điều kiện phát triển văn hóa trong kinh tế - xã hội “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội”
1.4 Giải pháp bảo tồn di sản văn hóa Quan họ dựa vào cộng đồng
1.4.1 Khái niệm giải pháp
Từ điển Tiếng Việt: “Giải pháp là toàn bộ những ý nghĩ có hệ thống cùng với những quyết định và hành động theo sau, dẫn tới việc khắc phục khó khăn” Như vậy, nói đến giải pháp là nói đến phương pháp giải quyết một vấn
Trang 2618
đề cụ thể nào đó, là cách thức tác động nhằm thay đổi, chuyển biến một hệ thống, một quá trình, một trạng thái nhất định, nhằm đạt được mục đích hoạt động Giải pháp càng thích hợp, càng tối ưu thì những vấn đề đặt ra càng được giải quyết nhanh chóng Nhưng để có các giải pháp tốt cần phải xuất phát trên những cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn tin cậy
1.4.2 Mục đích, nội dung thực hiện giải pháp
- Mục đích thực hiện giải pháp
+ Tiếp tục giữ gìn và lưu truyền cho các thế hệ mai sau những giá trị đặc sắc về phong tục, tập quán tốt đẹp, lề lối sinh hoạt di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh
+ Nâng cao nhận thức và lòng tự hào dân tộc của người dân trong việc bảo tồn giá trị di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh
+ Đưa di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh trở thành nội lực góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bắc Ninh theo hướng bền vững
- Nội dung thực hiện giải pháp
+ Phân tích, đánh giá kết quả công tác bảo tồn giá trị di sản văn hóa phi vật thể của dân ca Quan họ Bắc Ninh, dự báo các tác động ảnh hưởng và thách thức trong công tác bảo tồn giá trị di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh + Định hướng các nhiệm vụ, giải pháp bảo tồn giá trị di sản văn hóa Quan họ dựa vào cộng đồng
+ Đề xuất các chương trình hành động (các tiểu dự án ưu tiên) bảo tồn giá trị di sản văn hóa Quan họ dựa vào cộng đồng
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến bảo tồn di sản văn hóa Quan họ dựa vào cộng đồng
1.5.1 Yếu tố chủ quan
- Nhận thức của các cấp, các ngành, toàn xã hội về vai trò, ý nghĩa của công tác bảo tồn di sản văn hóa Quan họ còn chưa được nâng cao, nhiều hạn chế
Trang 27do nhân dân đóng góp chưa được quy tụ dưới sự quản lý của các cơ quan chuyên môn một cách chặt chẽ nên không được định hướng để sử dụng một cách có hiệu quả nhất
- Công tác tuyên truyền chưa được chú trọng, thông tin về di sản còn nhiều hạn chế
- Năng lực tham mưu trong công tác bảo tồn của đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa cơ sở còn nhiều hạn chế về trình độ chuyên môn
1.5.2 Yếu tố khách quan
- Do yếu tố thời gian nên giá trị di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh mỗi ngày một bào mòn, xuống cấp (về đội ngũ các nghệ nhân, về các di tích không gian diễn xướng, …)
- Do cuộc sống hội nhập với những luồng văn hóa ngoại lai không lành mạnh du nhập
- Phương tiện hoạt động, trang thiết bị, kinh phí, … còn trang bị thiếu không đầy đủ cũng là những nguyên nhân khách quan gây khó khăn cho công tác bảo tồn di sản văn hóa Quan họ dựa vào cộng đồng ở tỉnh Bắc Ninh
Trang 2820
Tiểu kết chương 1:
Bảo tồn di sản văn hóa Quan họ phi vật thể đại diện của nhân loại trong
xã hội đương đại là một công việc có ý nghĩa lớn, trong công cuộc xây dựng
và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc truyền thống của tỉnh Bắc Ninh Để làm tốt công việc có ý nghĩa to lớn này thì một trong những yếu tố
có ý nghĩa quyết định đó là bảo tồn di sản văn hóa Quan họ “dựa vào cộng đồng” ở tỉnh Bắc Ninh Muốn đạt được kết quả cao trong công tác bảo tồn, vai trò và chức năng của các cơ quan chuyên môn về văn hóa rất quan trọng trong việc: khôi phục, định hướng, chỉ đạo tổ chức… các hoạt động sinh hoạt văn hóa cộng đồng của dân cư có gắn với văn hóa Quan họ
Chương 1 đã hệ thống cơ sở lý luận về bảo tồn di sản văn hóa Quan họ thông qua một số khái niệm về Quan họ, di sản văn hóa Quan họ, bảo tồn, bảo tồn di sản văn hóa Quan họ dựa vào cộng đồng, giải pháp, mục đích, nội dung thực hiện, giải pháp, tạo cơ sở cho việc đánh giá đúng thực trạng của công tác bảo tồn di sản văn hóa Quan họ ở tỉnh Bắc Ninh Căn cứ những cơ sở lý luận được hệ thống ở chương này, đề tài đã khái quát chức năng và nhiệm vụ của công tác bảo tồn di sản văn hóa, từ đó đánh giá đúng thực trạng bảo tồn di sản văn hóa Quan họ ở tỉnh Bắc Ninh sẽ được trình bày ở Chương 2
Trang 2921
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA QUAN HỌ
Ở TỈNH BẮC NINH TRONG NHỮNG NĂM VỪA QUA
2.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên, tình hình KT-XH, văn hóa Quan họ tỉnh Bắc Ninh
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên
Bắc Ninh là một tỉnh thuộc vùng đồng bằng Sông Hồng, nằm trong tam giác kinh tế trọng điểm Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh và là cửa ngõ phía Đông Bắc của thủ đô Hà Nội Tỉnh có địa giới hành chính tiếp giáp với các tỉnh: Bắc Giang ở phía Bắc, Hải Dương ở phía Đông và Đông Nam, Hưng Yên ở phía Nam và thủ đô Hà Nội ở phía Tây Theo số liệu thống kê năm
2007 (niên giám thống kê Bắc Ninh - Nhà xuất bản thống kê 2008) tỉnh Bắc Ninh có diện tích tự nhiên là 823 km2 với tổng số dân là 1,029 triệu người Vùng đất trù phú nơi đây khi xưa vốn là “xứ Kinh Bắc”, nổi tiếng với nhiều làng nghề và các lễ hội dân gian phong phú diễn ra quanh năm Nhìn từ
vệ tinh, tỉnh Bắc Ninh nằm ở phía Bắc của đồng bằng châu thổ sông Hồng, địa hình tương đối bằng phẳng, được ngăn cách với miền trung du và miền núi phía Bắc bởi hệ thống sông Cầu Ngoài ra Bắc Ninh còn có hai hệ thống sông lớn là sông Thái Bình và sông Đuống Hệ thống sông ngòi đã tạo nên một mạng lưới vận tải đường thủy quan trọng, kết nối các địa phương trong tỉnh và nối liền Bắc Ninh với các tỉnh khác trong vùng đồng bằng sông Hồng Ngoài ra chúng còn tạo điều kiện cho các hoạt động nông nghiệp và sinh hoạt của dân cư trong tỉnh
Bắc Ninh ở vị trí rất thuận lợi về giao thông đường bộ và đường không Các tuyến đường huyết mạch: Quốc lộ 1A, 1B, quốc lộ 18, quốc lộ 38, đường sắt Hà Nội - Lạng Sơn, Hà Nội - Quảng Ninh nối liền Bắc Ninh với các trung
Trang 3022
tâm kinh tế, văn hóa thương mại của khu vực phía Bắc Việt Nam, với cảng hàng không quốc tế Nội Bài và liên thông với hệ thống các trục đường quốc
lộ đến với mọi miền trong cả nước
Bắc Ninh không giàu tài nguyên khoáng sản và cũng ít tài nguyên rừng, nhưng vô cùng phong phú về tài nguyên nhân văn Đây là một trong những miền quê “địa linh nhân kiệt”, một trong những nơi hội tụ nhiều nhất các di tích lịch sử, văn hóa Tiêu biểu là chùa, đền, đình, miếu, các loại hình nghệ thuật dân gian gắn liền với các lễ hội, các làng nghề truyền thống Đặc biệt, các làn điệu dân ca Quan họ không những trở thành di sản văn hóa của cả nước mà còn vượt qua mọi không gian, thời gian đến với bạn bè Quốc tế Nhờ vị trí địa lý thuận lợi cùng các cơ chế và giải pháp phát triển kinh tế hợp lý, Bắc Ninh đã và đang khai thác các tiềm năng hiện có của tỉnh để trở thành một trung tâm kinh tế - văn hóa phụ trợ, một thành phố vệ tinh quan trọng cho Hà nội và là một điểm nhấn trong tam giác kinh tế trọng điểm Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh Nơi đây vừa là thị trường tiêu thụ, Vừa là khu vực cung cấp nguồn nhân lực, sản phẩm nông sản, vật liệu xây dựng, hàng thủ công mỹ nghệ… cho các tỉnh thành trong vùng đồng bằng Sông Hồng và các vùng lân cận Cùng với việc khai thác lợi thế của các làng nghề thủ công truyền thống, Bắc Ninh đang có nhiều chính sách khai thác đầu tư, mở rộng quy mô về sản xuất, đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm tạo thành các khu công nghiệp tập trung, cụm công nghiệp vùa và nhỏ, cụm công nghiệp làng nghề nhằm cung cấp các sản phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng tại chỗ, trong nước và xuất khẩu Song song với việc phát triển công nghiệp, Băc Ninh đang tập trung khai thác hiệu quả diện tích đất nông nghiệp - nguồn tài nguyên đất chiếm hơn 60% tổng diện tích tự nhiên - bằng việc hình thành và phát triển các vùng cây, con có giá trị thương mại theo hướng chuyên canh Tỉnh đang từng bước đưa chăn nuôi trở thành một nghành chính tạo nguồn
Trang 31Tuy là tỉnh có diện tích nhỏ nhất đồng bằng Sông Hồng và cũng là tỉnh nhỏ nhất nước, với dân số cũng chỉ hơn một triệu người (đứng thứ 8 trong khu vực), nhưng Bắc Ninh có tốc độ tăng GĐP 2014 là 15,65% gấp đôi tốc đọ trung bình cả nước (6,71%) và đứng ở vị trí thứ 2 trong tổng số các tỉnh của đồng bằng Bắc bộ, chỉ sau Vĩnh Phúc Về môi trường đầu tư, chỉ số năng lực canh tranh cấp tỉnh năm 2014 của Bắc ninh là 79,57% đứng thứ 6 trong số 63 tỉnh thành trên toàn quốc Nhiều tập đoàn công nghiệp lớn như Canon, Nippon Steell, Nikon Seiki, Samsung, Sentec,… đã đầu tư, mở cơ sở sản xuất tại Bắc Ninh
Nhờ phát huy những lợi thế về địa lý của tỉnh và những truyền thống nhân văn tốt đẹp, kết hợp với việc chủ động tìm tòi và khai thác những cơ hội phát triển trong thời đại mới, Bắc ninh đang từng bước khẳng định vị thế của mình trong khu vực đồng bằng Sông Hồng nói riêng và trên cả nước nói chung, Bắc Ninh còn tiến nhanh và vững chắc hơn nữa trong bước đường hội nhập, xây dựng một xã họi văn minh, hiện đại
2.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội
Gần một thế kỷ đã qua, Bắc Ninh - đất Kinh Bắc thủa nào vẫn là một miền đất trù phú tiền ẩn những điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế và gìn giữ những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam Đặc biệt
Trang 3224
trên chặng đường 20 năm qua kể từ ngày tái lập, Bắc Ninh đã phát huy truyền thống cách mạng, năng động, sáng tạo để thực hiện công cuộc đổi mới, tạo nên những bước chuyển biến mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội
- Về mặt hành chính: Bắc Ninh có 8 đơn vị hành chính cấp huyện gồm: 1
Thành phố, 1 Thị xã và 6 huyện; 126 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 17 phường, 6 thị trấn, 103 xã
- Dân cư - lao động: Theo số liệu thống kê mới nhất năm 2015, Bắc
Ninh có 1.153.600 người Trong đó dân cư nông thôn chiếm trên 76,5% dân
số thành thị chiếm 23,5% Thành phần dân số này có xu hướng chuyển dịch theo cơ cấu tăng dân số thành thị và giảm dân số nông thôn
Dân số Bắc Ninh là dân số trẻ, trên 60% trong độ tuổi lao động, với chất lượng ngày càng được nâng cao, đội ngũ dân số trẻ này là lực lượng lao động hùng hậu trong công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
- Tăng trưởng kinh tế: Nhìn lại chặng đường 20 năm qua xây dựng và
phát triển, mặc dù còn không ít khó khăn thử thách, song nhịp độ tăng trưởng kinh tế luôn ở mức cao Tốc độ tăng trưởng bình quân tổng sản phẩm xã hội của tỉnh trong 20 năm 1997 - 2016 là 13,68% Cùng với tăng trưởng kinh tế, mức sống của người dân ngày càng được cải thiện, tỉ lệ hộ nghèo giảm từ 15,24% năm 2010 xuống còn 9,6% năm 2014 (theo tiêu chuẩn số 1751/LĐTBXH)
- Cơ cấu kinh tế: Cơ cấu kinh tế của tỉnh từng bước chuyển dịch theo
hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tỷ trọng khu vực công nghiệp và xây dựng cơ bản tăng nhanh từ 23,77% năm 1997 lên 51,01% năm 2014, trong khi đó tỷ trọng khu vực nông lâm nghiệp và thủ sản giảm từ 45,05% năm
1997 xuống còn 18,65% năm 2014
Trang 3325
- Công nghiệp: Xuất phát điểm từ một tỉnh mà nền kinh tế chủ yếu dựa
vào sản xuất nông nghiệp, các cơ sở sản xuất công nghiệp, nhất là công nghiệp hiện đại hầu như không đáng kể Đến nay trên địa bàn đã có 16 khu công nghiệp tập trung, hơn 20 khu công nghiệp vừa và nhỏ, cụm công nghiệp làng nghề với hàng trăm nhà máy có công nghệ sản xuất hiện đại đã và đang hoạt động Sản phẩm của ngành công nghiệp không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của thị trường trong nước mà còn tăng khối lượng và chủng loại sản phẩm xuất khẩu, tạo nguồn thu đáng kể để tiếp tục đầu tư phát triển, ngành tiểu thủ công nghiệp rất phát triển với nhiều làng nghề truyền thống và được ví là “Vùng đất trăm nghề”, một số sản phẩm đã có thương hiệu trên thị trường trong nước và thế giới như đồ gỗ mỹ nghệ (Đồng Kỵ - Từ Sơn), đúc đồng (Đại Bái - Gia Bình)…
- Nông nghiệp: Sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh có những chuyển
biến tích cực về cơ cấu: Tỷ trọng ngành trồng trọt giảm từ 67,2% năm 1997 xuống 55,11% năm 2014 và phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa từng bước gắn với thị trường, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế
- Thương mại - dịch vụ: hoạt động thương mại - dịch vụ trên địa bàn có
những chuyển biến sâu sắc: tăng nhanh về quy mô; mở rộng thị trường; chuyển dịch tích cực về cơ cấu các thành phần hoạt động kinh doanh, nhóm mặt hàng, phương thức kinh doanh Năm 1997 giá trị sản xuất của ngành đạt 139,8 tỷ đồng, đến năm 2014 con số đó đã tăng lên 963,8 tỷ đồng Quan hệ thương mại với các nước trong khu vực và trên thế giới ngày càng được phát triển và mở rộng Cho đến nay Bắc Ninh đã có quan hệ thương mại với trên
30 nước ở cả 5 châu lục, do đo tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa ngày càng tăng
Trang 3426
2.1.3 Giáo dục và đào tạo tỉnh Bắc Ninh
Bắc Ninh, miền đất sinh thành vị tổ của nền khoa bảng Việt Nam, nơi có làng Tam Sơn (xã Tam Sơn - Từ Sơn), địa phương duy nhất trong cả nước có
đủ tam khôi với 22 vị tiến sĩ trong đó có 2 trạng nguyên Truyền thống hiếu học đất Kinh Bắc năm xưa đã và đang được lớp lớp con cháu kế thừa và phát huy Bắc Ninh là một trong 3 tỉnh hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học đầu tiên trong cả nước vào năm 1999, phổ cập THCS vào 2002 và năm 2010 đã phổ cập xong THPT Mạng lưới trường học ở tất cả các bậc học từ mầm non, phổ thông phát triển đều khắp trên địa bàn toàn tỉnh Cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên trong các trường ngày càng được củng cố về chất lượng và phát triển về số lượng theo hướng chuẩn hóa Tính đến nay toàn tỉnh đã có hơn 200 trường ở các ngành học, bậc học được công nhận là trường chuẩn Quốc gia Theo đó chất lượng giáo dục cũng từng bước được nâng cao Đặc biệt, Bắc Ninh luôn được xếp vào nhóm 10 tỉnh có tỉ lệ học sinh thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng cao nhất trong cả nước
Bên cạnh hệ thống trường phổ thông, còn có 15 trường Cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp của Trung ương và địa phương, 43 trường và các cơ sở có đào tạo nghề đóng trên địa bàn tỉnh Công tác giáo dục chuyên nghiệp và dạy nghề được tiếp tục đầu tư và phát triển Hoạt động khoa học công nghệ và ứng dụng khoa học kỹ thuật ngày càng tiến bộ Công tác xã hội hóa giáo dục được đẩy mạnh và phát triển, góp phần đáng kể vào sự phát triển của giáo dục tỉnh nhà
Những thành tựu về kinh tế, văn hóa xã hội, các kinh nghiệm tích lũy được trong hơn 10 năm đổi mới cùng với truyền thống cách mạng, năng động sáng tạo, truyền thống hiếu học, những ưu đãi của thiên nhiên và nết văn hóa đặc sắc của người Kinh Bắc là nguồn tài sản quý báu của tỉnh Bắc Ninh, tạo
cơ sở vững chắc để hội nhập và phát triển
Trang 3527
2.1.4 Văn hóa tỉnh Bắc Ninh
Bắc Ninh - Kinh Bắc xưa, là vùng đất phía bắc của kinh thành Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội ngày nay Đến bất cứ đâu trên mảnh đất “địa linh nhân kiệt” này cũng đầy ắp những kỉ niệm lịch sử được kết tinh trong những
di sản văn háo tiêu biểu ở khắp các làng quê của vùng đất ngàn năm văn hiến Các kết quả nghiên cứu lịch sử và văn hóa ở Bắc Ninh trong những năm qua cho thấy, đây là địa bàn cư trú chủ yếu của người Việt cổ ở đồng bằng Bắc Bộ,
là nơi sinh của dân tộc Việt, là bộ phận cốt lõi của quốc gia Văn Lang - Âu Lạc đồng thời là nơi hình thành nền tảng văn hóa, văn minh Việt Nam Xứ Bắc - Bắc Ninh giữ vai trò trung tâm của quá trình tiếp xúc giao lưu, hội nhập liên tục trong suốt thời kỳ thuộc trên cả hai lĩnh vực kinh tế và văn hóa Quá trình tiếp biến văn hóa hàng nghìn năm đã tích tụ lại thành nguồn nội lực mạnh mẽ để sang thời Đại Việt kết tinh thành văn hóa Kinh Bắc, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hiến và nhân cách Việt Nam
Miền quê “đất linh” này là đất phát tích nhà Lý - triều đại khai mở nền văn minh Đại Việt, gắn liền với tên tuổi những danh nhân lịch sử - văn hóa kiệt xuất: Lý Vạn Hạnh, Lý Công Uẩn, Lý Nhân Tông, Nguyễn Phi Ỷ Lan, Lê Văn Thịnh… Kinh Bắc là vùng quê trù phú, kinh tế phát triển vào bậc nhất trong “tứ trấn”, là vựa lúa của vùng đồng bằng châu thổ, người dân cần cù một nắng hai sương Không chỉ giỏi làm ruộng là họ còn khéo tay thợ, tinh xảo, hoạt bát trong giao thương buôn bán Quả vậy, ít có nơi nào có nhiều làng nghề, làng buôn nổi tiếng như tỉnh Bắc: tranh Đông Hồ, đúc đồng Đại Bái, rèn Đa Hội, đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ, gốm Phù lãng, dệt lụa Tam Sơn…
và mạng lưới chợ quê rộng khắp, dày đặc các làng xã
Bắc Ninh được biết đến như một vương quốc của lễ hội (toàn tỉnh có 442
lễ hội), quê hương của chùa Tháp, của sinh hoạt văn hóa dân gian đặc sắc và
Trang 3628
phát triển tới đỉnh cao, miền đất của các di tích lịch sử, văn hóa Tiêu biểu nhất là chùa đền, đình miếu gắn liền với các lễ hội: Đền thờ Kinh Dương Vương, đền Đô Chùa Bút Tháp, chùa Dâu, chùa Phật tích, đền Bà Chúa Kho, Văn miếu, hội Lim, hội Diềm-thờ Thủy tổ Quan họ… Ngoài ra, thu hút khách
du lịch cần phải kể đến các làng nghề truyền thống: tranh dân gian Đông Hồ, đúc Đồng Đại Bái, rèn Đa Hội, đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ, Hương mạc, Phù Khê, gốm Phù lãng… và đặc biệt, một loại hình nghệ thuật làm nên bản sắc rất riêng của Bắc Ninh là các làn điệu dân ca Quan họ đằm thắm, trữ tình đã luôn là nguồn tai nguyên phong phú cho phát triển du lịch của tỉnh Cả một vùng 49 làng Quan họ gắn liền với các hội ca hát giao duyên Đây là sinh hoạt của không gian văn hóa nghệ thuật độc đáo riêng có của người Bắc Ninh, đạt tới đỉnh cao của thi ca và âm nhạc
Cổ truyền Quan họ Bắc Ninh
Ai chơi Quan họ co tinh mới tường
Đó là kho tàng quý giá của vùng quê Bắc Ninh: Hàng trăm làn điệu, hơn
500 bà ca, và những cách chơi, lối hát, lễ thức ứng xử của người Quan họ vừa thanh lịch, tinh vi, vừa chặt chẽ, khuôn mẫu nhưng lại biến hóa khôn lường Mỗi người một vẻ, mỗi làng quê một phong cách làm nên tính phong phú, hấp hẫn của sinh hoạt văn hóa Quan họ - vừa đậm tính chất dân gian, vừa mang tính bác học Sinh hoạt văn hóa Quan họ thể hiện tập trung và tiêu biểu phẩm chất tính cách, đạo lý sống của người xứ Bắc: Thông minh, cần cù, tài khéo, năng động và tinh xảo trong hoạt động kinh tế, sáng tạo trong hoạt động văn hóa nghệ thuật và bao trùm là đạo lí sống “uống nước nhớ nguồn”, quý trọng cái tình, cái nghĩa, sự chung thủy trong quan hệ ứng xử giữa người với người
“Tứ hải giao tình, bốn biển một nhà”, “tình chung một khắc, nghĩa dài trăm năm”, tôn vinh tình yêu thương con người và sự mê say các hoạt động văn
Trang 37- Đối với cấp tỉnh:
Đã ban hành các văn bản chính sách thiết thực như: Quy định về quản lý
di tích, bảo vật quốc gia trên địa bàn tỉnh nhằm phân cấp cho các cơ quan, đơn vị, địa phương trực tiếp quản lý và chịu trách nhiệm bảo vệ theo đúng quy định pháp luật; Quy định về chế độ đãi ngộ với nghệ nhân dân ca Quan
họ Bắc Ninh; Chế độ hỗ trợ đối với nghệ sĩ, diễn viên, nhạc công và nhân viên phục vụ Nhà hát Dân ca Quan họ Bắc Ninh; Quy chế xét tặng danh hiệu Nghệ nhân trong lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể tỉnh Bắc Ninh; chế độ trợ cấp nghề cho học sinh, sinh viên đang theo học tại trường Trung cấp văn hóa Nghệ thuật và Du lịch Bắc Ninh … được ban hành và thực hiện nề nếp
- Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bắc Ninh:
Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bắc Ninh, nhiều hoạt động thiết thực được triển khai như thực hiện dự án “Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể Dân ca Quan họ Bắc Ninh”;
Trang 3830
Tôn vinh xứng đáng về vật chất và tinh thần đối với những nghệ nhân cao tuổi đang gìn giữ di sản; tập trung phát triển đội ngũ kế cận bằng việc hàng năm tổ chức được Hội thi tiếng hát Quan họ đầu xuân, Liên hoan tiếng hát Quan họ thiếu nhi, Liên hoan tiếng hát Quan họ người cao tuổi, mở lớp truyền dậy tại cộng đồng, đưa di sản văn hóa Quan họ vào trường học; Tăng cường công tác tuyên truyền, quảng bá một cách tổng thể về di sản; Giao lưu, giới thiệu về di sản văn hóa Quan họ đến bạn bè trong nước và quốc tế được thực hiện, từ đó nâng cao nhận thức của các tầng lớp nhân dân về vài trò, giá trị của di sản văn hóa Quan họ, giúp người dân hiểu rõ giá trị, tiếp cận và thụ hưởng lợi ích tinh thần và vật chất thông qua các hoạt động bảo tồn
2.2.2 Hoạt động bảo tồn di sản văn hóa Quan họ
Trải qua những biến động thăng trầm của lịch sử, văn hóa Quan họ Bắc Ninh đã có lúc chìm lắng và có nguy cơ mai một Từ đầu những năm 60 của thế kỷ XX và cho đến nay, việc bảo tồn di sản văn hóa Quan họ đã thành chủ
Trang 3931
trương, kế hoạch của cấp ủy, chính quyền tỉnh Bắc Ninh; mà Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh được giao trách nhiệm, chủ trì thực hiện
2.2.2.1 Về công tác sưu tầm, nghiên cứu
Công tác này được quan tâm và thực hiện trước tiên nhằm xác định giá trị của di sản văn hóa Quan họ Những kết quả chính của công tác sưu tầm nghiên cứu là: đã thành lập được một tổ chức với một số cán bộ chuyên trách nghiên cứu di sản văn hóa Quan họ Ban đầu là Bộ phận, sau là Tổ sưu tầm nghiên cứu giới thiệu Quan họ, rồi đổi là Bộ phận và nay là Ban sưu tầm nghiên cứu Quan họ thuộc Trung tâm Văn hóa tỉnh Bắc Ninh Cán bộ nghiên cứu ban đầu có nhạc sỹ Hồng Thao, nhà nghiên cứu Trần Linh Quý, rồi sau này là Lê Danh Khiêm, Hoắc Công Huynh, Lê Thị Chung, …
Triển khai nghiên cứu toàn diện về văn hóa Quan họ, tiến hành khảo sát, sưu tầm các nguồn tài liệu về văn hóa Quan họ, tổ chức được nhiều cuộc hội nghị, hội thảo về văn hóa Quan họ, trong đó có 1 cuộc hội thảo quốc tế mang chủ đề “Bảo tồn dân ca trong xã hội đương đại (qua trường hợp Quan họ Bắc Ninh của Việt Nam”, xuất bản công bố trên 600 bài nghiên cứu, luận văn, công trình khoa học về văn hóa Quan họ
Thành tựu to lớn của công tác sưu tầm, nghiên cứu là đã khẳng định di sản văn hóa Quan họ là hình thái sinh hoạt văn hóa nghệ thuật dân gian có từ lâu đời của vùng quê Bắc Ninh - Kinh Bắc với những bản sắc riêng, độc đáo, tiêu biểu Tuy nhiên, công tác sưu tầm, nghiên cứu văn hóa Quan họ vẫn còn những hạn chế và bất cập:
- Đội ngũ cán bộ chuyên môn nghiên cứu văn hóa Quan họ còn quá ít, trình độ hạn chế
- Nhiều vấn đề khoa học và thực tiễn của việc khôi phục và bảo tồn di sản văn hóa Quan họ vẫn chưa được làm sáng tỏ
Trang 4032
Chưa xây dựng được trung tâm lưu trữ và cung cấp các nguồn tài liệu về văn hóa Quan họ, phục vụ nhu cầu tìm hiểu, nghiên cứu, giới thiệu về Quan
họ
2.2.2.2 Công tác khôi phục di sản văn hóa Quan họ
- Đã phát động và duy trì phong trào quần chúng, đặc biệt là nhân dân các làng Quan họ tham gia vào các hoạt động khôi phục để bảo tồn sinh hoạt
di sản văn hóa Quan họ
+ Di tích lịch sử văn hóa được tu bổ, tôn tạo Nhiều lễ hội của các làng Quan họ được khôi phục và đi vào duy trì Phong trào xây dựng làng văn hóa, gia đình văn hóa được toàn dân tham gia, góp phần khôi phục và bảo tồn nhiều phong tục, tập quán, sinh hoạt văn hóa của các thôn, làng, đặc biệt là các làng quan họ gốc
+ Nhiều đội văn nghệ, câu lạc bộ Quan họ được thành lập và hoạt động tích cực, huy động các cụ nghệ nhân, các bậc liền anh, liền chị tham gia hướng dẫn học hát Quan họ, sinh hoạt văn hóa Quan họ cho thế hệ trẻ, tổ chức nhiều hoạt động phong phú nhằm giao lưu, phổ biến, giới thiệu Quan họ với đông đảo công chúng, phục vụ nhu cầu thưởng thức, tìm hiểu, nghiên cứu Quan họ, …
- Ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức nhiều hoạt động nhằm phục hồi và bảo tồn di sản văn hóa Quan họ
+ Đầu tư hỗ trợ tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử văn hóa, thực hiện một số dự
án bảo tồn sinh hoạt di sản văn hóa Quan họ (bảo tồn lễ hội Lim và tục hát Quan họ, bảo tồn làng Quan họ gốc Viêm Xá, xây dựng hồ sơ nghệ nhân Quan họ Bắc Ninh, …)
+ Chỉ đạo khôi phục một số lễ hội Quan họ tiêu biểu (hội Lim, hội Diềm, hội Châm Khê, hội Bồ Sơn, …), tổ chức các lớp hướng dẫn ca hát Quan họ,