Chủ nghĩa hiện sinh ra đời đã làm cho con người trở về với đúng ý nghĩa của nó, con người được đặt lên trên làm chủ thế giới tự nhiên.. Con người phản kháng là một trong những nội dung q
Trang 1VŨ THỊ THANH HUYỀN
CON NGƯỜI PHẢN KHÁNG TRONG SÁNG TÁC CỦA ALBERT CAMUS
NHÌN TỪ TÂM THỨC HIỆN SINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
HÀ NỘI, 2016
Trang 2VŨ THỊ THANH HUYỀN
CON NGƯỜI PHẢN KHÁNG TRONG SÁNG TÁC CỦA ALBERT CAMUS
NHÌN TỪ TÂM THỨC HIỆN SINH
Chuyên ngành: Lý luận Văn học
Mã số: 60 22 01 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trương Đăng Dung
HÀ NỘI, 2016
Trang 3Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô giáo ở Viện Văn học, các thầy cô giáo trong Tổ Lý luận văn học - Khoa Ngữ Văn và Phòng Sau đại học Trường ĐHSP Hà Nội 2 đã nhiệt tình giảng dạy và tạo điều kiện tốt nhất trong suốt thời gian tôi học tập tại đây để hoàn thành luận văn này Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả
Vũ Thị Thanh Huyền
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp
đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả
Vũ Thị Thanh Huyền
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 10
4 Đối tượng và phạm vi nghên cứu 11
5 Phương pháp nghiên cứu 12
6 Đóng góp của luận văn 12
NỘI DUNG Chương 1 : KHÁI LƯỢC VỀ TRIẾT HỌC VÀ VĂN HỌC HIỆN SINH 13
1.1 Khái lược về triết học hiện sinh 13
1.1.1 Sự hình thành và phát triển của triết học hiện sinh 13
1.1.2 Những triết gia hiện sinh tiêu biểu 17
1.1.3 Những vấn đề chủ yếu trong triết học hiện sinh 26
1.2 Khái lược về văn học hiện sinh 32
1.2.1 Sự hình thành và phát triển của văn học hiện sinh 32
1.2.2 Các tác gia văn học hiện sinh tiêu biểu 37
1.2.3 Những luận đề tiêu biểu trong văn học hiện sinh 41
1.2.4 Albert Camus đại diện tiêu biểu của văn học hiện sinh 47
Chương 2: CON NGƯỜI PHẢN KHÁNG TRONG THẾ GIỚI PHI LÝ QUA SÁNG TÁC CỦA ALBERT CAMUS 51
2.1 Thế giới phi lý trong sáng tác của A.Camus 51
2.1.1 Vấn đề phi lý trong văn học 51
2.1.2 Phi lý như là vấn đề cốt lõi trong thế giới nghệ thuật của A.Camus 61
2.2 Con người phản kháng trong thế giới phi lý 67
Trang 62.2.1 Sơ lược về hình tượng con người phản kháng trong lịch sử văn học 67
2.2.2 Con người phản kháng trong thế giới phi lý của Camus 71
2.2.2.1 Quay lưng như là hình thức của sự phản kháng 72
2.2.2.2 Tha hóa như là hình thức của sự phản kháng 77
2.2.2.3 Dấn thân như là hình thức của sự phản kháng 82
Chương 2: CÁC THỦ PHÁP NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN CON NGƯỜI PHẢN KHÁNG 89
3.1 Nghệ thuật thể hiện hành vi nhân vật 89
3.2 Nghệ thuật kể chuyện 100
KẾT LUẬN 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO 107
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Có thể thấy rằng, sự khủng hoảng trầm trọng của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật ở cuối thế kỉ XIX và đặc biệt là sự tàn phá nặng nề từ hai cuộc đại chiến vào đầu thế kỉ XX đã đẩy con người tới sự khủng hoảng trong đời sống tinh thần Tất cả những thay đổi đó đã kéo theo sự vận động của tư duy triết học Nếu trước đó triết học tự nhiên “lên ngôi” thì giờ đây thứ triết học này không còn “chỗ đứng” trong cái thế giới đầy biến đổi đó Trong cái thế giới ấy, triết học về con người đã ra đời Khác với triết học tự nhiên triết học nhân sinh luôn đặt con người làm đối tượng nghiên cứu, tập trung vào bản thể luận, đi tìm câu trả lời con người là ai? Và đi tìm ý nghĩa đời sống của con người Với những ưu thế đó, triết học nhân sinh đã đáp ứng được những nhu cầu nội tại của con người trong thời đại mới và nó hấp dẫn nhiều người còn đang “ngơ ngác” trong cái thế giới đầy “thương tích” Tiêu biểu cho dòng triết học về con người phải kể đến trào lưu triết học hiện sinh - triết học về nỗi
lo tồn tại của con người
Ở châu Âu, nhất là Pháp, trước đó “đã trải qua những năm sinh hoạt triết học trầm trầm và buồn tẻ” Triết học hiện sinh xuất hiện giống như “một tiếng sấm vang động cả trời đất, lay động xã hội phương Tây” một cách mới mẻ chưa từng thấy Chủ nghĩa hiện sinh ra đời đã làm cho con người trở về với đúng ý nghĩa của nó, con người được đặt lên trên làm chủ thế giới tự nhiên Cũng trong tiến trình chung của châu Âu, ở Pháp chủ nghĩa hiện sinh ngày càng ảnh hưởng sâu rộng và trở thành một thứ triết học cốt lõi ảnh hưởng đến nhiều đội ngũ những nhà hoạt động nghệ thuật văn chương
1.2 Nói đến phong trào hiện sinh ở Pháp phải kể đến A Camus, cùng với Jeau- Paul Sartre là hai người thầy tư tưởng lớn đi tiên phong trong phong trào triết học hiện sinh Ở A Camus, con người triết gia hòa vào con người
Trang 8nhà văn, ông sáng tác bằng tất cả tâm huyết và hơn hết bằng cả những kinh nghiệm sống thật của bản thân mình Tư tưởng hiện sinh thấm nhuần trong
“những đứa con tinh thần” Qua những tác phẩm ấy, tác giả đặt ra nhiều vấn
đề mang ý nghĩa nhân sinh sâu sắc Nó là tiếng nói khắc khoải của nhà văn về một thế giới đầy phi lí, về thân phận con người cô đơn hay hơn hết đó là những con người luôn mang trong mình tư tưởng phản kháng Những vấn đề này được ông gửi gắm vào những hình tượng nhân vật nghệ thuật Qua đó thôi thúc bạn đọc phát hiện, tìm tòi, suy ngẫm bản chất thực sự của thế giới con người
Tư tưởng phản kháng là sắc thái đáng chú ý trong triết học hiện sinh của
A Camus Yếu tố phản kháng có nhiều ý nghĩ và không hề đơn giản Phản kháng mở đầu bằng sự chấp nhận hiện sinh như nó tồn tại, tức là chấp nhận sự phi lí hay sau đó nó thách thức cuộc sống phi lý Quan niệm về con người phản kháng thấm nhuần trong sáng tác của A.Camus, nó giúp nhà văn tìm ra hành động để chống lại cái thế giới phi lý Con người phản kháng là một trong những nội dung quan trọng trong triết học hiện sinh vì thế nó cũng là vấn đề mà các triết gia quan tâm nhưng có lẽ với Camus, ông là người thể hiện vấn đề này trong sáng tác một cách sâu sắc nhất
Sáng tác của A.Camus để lại không nhiều nhưng sức sống và sự ảnh hưởng của chúng còn rất mạnh mẽ Khi nào con người vẫn đối diện với thế giới phi lý và còn băn khoăn về thân phận của mình, thì đọc A.Camus người
ta vẫn cảm nhận được thái độ của nhà văn trước thân phận con người
Với việc lựa chọn đề tài “Con người phản kháng trong sáng tác của
Albert Camus nhìn từ tâm thức hiện sinh”, chúng tôi muốn góp phần làm rõ
thêm quan niệm về con người phản kháng được soi chiếu từ tâm thức hiện sinh trong những sáng tác của A.Camus Qua đó chúng ta thấy được thân phận thực sự của con người, của thế giới đầy phi lý mà nhà văn cảm nhận
Trang 9đồng thời khẳng định tài năng độc đáo của Albert Camus trong dòng văn học hiện sinh
2 Lịch sử vấn đề
Là một trong những nhà văn tiêu biểu của chủ nghĩa hiện sinh, ngay khi tác phẩm đầu tiên của A Camus được công bố đã thu hút được sự quan tâm của giới nghiên cứu Vì vậy, các bài nghiên cứu về ông rất phong phú và đa dạng nhưng chúng tôi chỉ điểm qua những công trình nghiên cứu có liên quan đến nội dung trên mà chúng tôi có dịp tham khảo
2.1 Nghiên cứu A.Camus trên thế giới
Ngay khi bước chân lên văn đàn, A.Camus đã được đánh giá cao bởi những vấn đề mà ông đã đưa ra trong tác phẩm Jean Paul Sartre, nhà văn,
nhà triết gia hiện sinh tiêu biểu ngay khi tiểu thuyết Kẻ xa lạ và Thần thoại
Sisyphe được công bố (6/1942), ông đã cắt nghĩa “Kẻ xa lạ”, đăng trên tạp chí
Cahier Thông qua bài viết này, “Kẻ xa lạ” đã được dư luận đánh giá là cuốn
tiểu thuyết viết hay nhất từ thời đình chiến Ông cũng nêu ra những nhận định sâu sắc về A.Camus Theo ông “phi lý trong sáng tác của A.Camus vừa là một tình trạng sự vật,vừa là ý thức sáng suốt của một số người trong tình trạng đó”, nhưng“ nó không phải là đối tượng của một khái niệm đơn giản: nó được
chiếu sáng bởi một sự bừng tỉnh đầy luyến tiếc”[13, tr.90] Theo Sartre “Kẻ
xa lạ” là một tác phẩm cổ điển, một tác phẩm viết cho sự phi lý và chống lại
sự phi lý “Khi đọc cuốn sách người ta không có cảm giác cùng hiện hữu với cuốn tiểu thuyết mà như chìm trong một điệu hát buồn tẻ, một khúc hát bằng giọng mũi của người Ả Rập Người ta có thể tin rằng cuốn sách giống như một trong những điệu nhạc mà Couteline nói đến, nó đi mất và không bao giờ trở lại và nó dừng lại bất thình lình mà người ta không hiểu tại sao.”[13,tr.206] Đó là những lời nhận xét hết sức sâu sắc dành cho A Camus bởi những gì ông viết ra đó là cả một quá trình chiêm nghiệm đầy tâm huyết
Trang 10về con người trước cái thế giới phi lý và đầy xa lạ Khác với Kafka, một con người luôn khắc khoải lo âu, tìm kiếm lý giải thế giới đầy phi lý Nhưng A.Camus “ông hoàn toàn bình thản giữa những hỗn độn, sự mù quáng bướng bỉnh của một tự nhiên là chỗ dựa cho nó, đảm bảo cho nó, sự bất hợp lý của
nó, cho là một nghịch âm, người phi lý là người yêu một cái gì mang giá trị nhân bản, anh ta chỉ biết những điều tốt đẹp của thế giới này” [13, tr.198] Thế giới phi lý là một trong những vấn đề cốt lõi xuyên suốt toàn bộ sáng tác của A.Camus Tư tưởng này bắt gặp sự đồng cảm của rất nhiều người, đặc biệt là giới tri thức sau đế chiến hai, khi con người vẫn còn bàng hoàng, hoảng sợ, chưa thể thoát khỏi nỗi ám ảnh kinh hoàng do chiến tranh gây ra tất cả nó như một cơn “đại hồng thủy” kéo đến tiêu diệt con người Chính
vì thế ở Nhật Bản, đất nước phải gánh chịu thảm họa khủng khiếp của chiến tranh, người ta đã dành cho A Camus “một mối tình cảm tròn trịa họ hướng về A.Camus như hướng vể một làn ánh sáng đẹp nhất của trời tây”[4, tr.204]
Cũng nói về cái phi lý trong sáng tác của A.Camus, nhà phê bình người Pháp Alain Robbe- Grillet, đã cho rằng: “sự phi lý là vực thẳm không vượt qua được sự tồn tại giữa con người và thế giới, giữa các khát vọng tinh thần của con người và sự bất lực của thế giới trong việc thỏa mãn chúng Cái phi lý không ở trong con người, cũng như trong các sự vật mà ở trong việc không có khả năng thiết lập giữa chúng một mối quan hệ nào khác ngoài cái xa lạ”[1, tr.94-95] Ông nhận thấy rằng cái phi lý “luôn kéo theo thất vọng, sự rút lui, sự nổi loạn” và chính nó là “hình thức của chủ nghĩa nhân văn mang tính bi kịch” [1,tr.95-96]
Trong tinh thần đó, một số nhà phê bình phương Tây đã đề cập đến chủ nghĩa nhân văn của A.Camus và họ cho rằng chủ nghĩa nhân văn của A.Camus đó là chủ nghĩa nhân văn kiểu Địa Trung Hải điều đó có nghĩa là
“nó muốn vượt qua mâu thuẫn giữa trí tuệ và tự nhiên một cách nhịp nhàng”
Trang 11Theo họ, A.Camus có “một thái độ vừa khước từ vừa chấp nhận, một nghệ thuật vừa khẳng định vủa phủ định”[10, tr.119] Tuy sự nghiệp văn học của
A Camus không đồ sộ, gia tài của ông để lại có thể không quá nhiều nhưng những tác phẩm đó đã được đánh giá rất cao và được nhiều nhà nghiên cứu
trên thế giới quan tâm Riêng về cuốn “Kẻ xa lạ”- cuốn tiểu thuyết chỉ hơn
một trăm trang nhưng số trang viết về nó là con số hàng chục nghìn Không chỉ tiểu thuyết mà tiểu luận của ông cũng tốn biết bao giấy mực của các nhà nghiên cứu Chính vì những gì ông để lại lớn lao như vậy cho nên năm 1957 ông được tặng giải thưởng Nobel văn học Xứng đáng là một trong những cây đại thụ của nền văn học hiện sinh chủ nghĩa
2.2 Nghiên cứu Albert Camus ở Việt Nam
Với tư cách là một trong những nhà văn tiêu biểu mang đậm dấu ấn chủ nghĩa hiện sinh, A Camus được nghiên cứu ở nước ta từ những năm 60 của thế kỉ XX trên cả hai miền Tuy nhiên do bối cảnh lịch sử, yêu cầu chính trị của hai miền khác nhau cho nên sự ảnh hưởng của ông nói riêng và chủ nghĩa hiện sinh nói chung có sự đánh giá khác nhau giữa hai miền Nam Bắc
Chủ nghĩa hiện sinh được nghiên cứu đầu tiên ở miền Nam, vào những năm đầu thập niên 60 ngay sau cuộc đảo chính Ngay sau khi bước chân sang một “quê hương mới” nó đã thu hút một bộ phận tri thức ở đây Để đáp ứng niềm say mê của bạn đọc đối với chủ nghĩa hiện sinh những tờ tạp chí như: Bách khoa, Sáng tạo, Văn đã cho đăng khá nhiều bài viết, tác phẩm dịch về triết học và văn học cùng với những tác giả của nó như Jeau- Paul Sartre, Franz Kafka, Ablert Camus, bên cạnh đó, các tác giả xuất sắc nghiên cứu
về trào lưu chủ nghĩa hiện sinh cũng xuất hiện cùng với những bài viết, đánh giá, phê bình như: Trần Thái Đỉnh, Lê Tôn Nghiêm, Lý Chách Trung, Trần Thiên Đạo, Hoàng Trinh, Nguyễn Trọng Văn, Huỳnh Phan Anh, Bùi Ngọc Duy, Huỳnh Như Phương,
Trang 12Sự du nhập của chủ nghĩa hiện sinh vào nước ta đã ảnh hưởng sâu rộng đến tư tưởng của phần lớn tầng lớp tri thức Từ sự gặp gỡ này, một bộ phận thanh niên trí thức đã lựa chọn cho mình con đường tham gia vào phong trào bảo vệ dân tộc Phong trào yêu nước của học sinh, sinh viên, tri thức trong các
đô thị miền Nam được sự cổ vũ rất lớn bởi tư tưởng dấn thân và hành động của Startre và tư tưởng phản kháng, nổi loạn trong sáng tác của A.Camus Chủ nghĩa hiện sinh đến với nước ta là một “cơ duyên” của lịch sử Nó đã đến trong bối cảnh đất nước hay cụ thể là ở miền Nam đang trong giai đoạn bi đát nhất của lịch sử, khi con người đang khao khát tự do và quyền sống, luôn suy
tư về thân phận làm người
Năm 1960, nhà phê bình Thạch Chương đã trình bày và phê bình hai quan niệm nổi loạn của A Camus, ông công nhận sự nổi loạn về bằng lòng sống không cần thượng đế dẫn dắt nhưng tố cáo thái độ ôn hòa của A Camus Theo ông, “cái thái độ ôn hòa của A Camus thực sự rất mơ hồ và đôi khi không thể thực hiện được Mơ hồ bởi nó không xác định đâu là giới hạn: thế nào
là ôn hòa? Là tuyệt đối không xát nhân, hay chỉ giết có chừng mực Nên tuyệt đối không giết thì làm thế nào để bảo vệ được con người vô tội khi hắn cũng sắp
bị giết? Nếu không thì độ bao nhiêu nhân mạng là có chừng mực?”[3]
Trong cuốn sách “Phương Tây văn học và con người”, tác giả Hoàng Trinh cũng đã đưa ra nhận xét về cuốn “Con người nổi loạn” của A.Camus như sau: “Trong Con người nổi loạn, người đọc quả thật là được dẫn vào một
thế giới đầy xung khí của sự “ nổi loạn” Lịch sử của con người, theo Camus
là lịch sử của một sự nổi loạn thường xuyên, từ đời này qua kiếp khác, cho đến mãi mãi sau này Căn nguyên và cơ sở của sự nổi loạn đó là: bản chất con người, bản chất “ sinh tồn” là nổi loạn và con người nổi loạn là vì nó tìm mãi không đâu ra chân lý Vậy lẽ sống của con người là nổi loạn: “Ta nổi loạn thế
là chúng ta tồn tại” [55]
Trang 13Thi sĩ Bùi Giáng người đã dịch nhiều tác phẩm của A Camus cũng ghi nhận một vài lời về nhà văn Ông cho rằng: văn Camus chứa chất nhiều dư vang u uẩn Mỗi lời, mỗi câu là một tiếng kêu của thế kỉ bị tử thương
Như vậy, trong quá trình du nhập, chủ nghĩa hiện sinh đã trở thành một trào lưu ảnh hưởng sâu rộng đến tầng lớp tri thức ở miền Nam Nó đã tác động mạnh mẽ đến tư tưởng, thôi thúc họ hành động tìm về đúng nghĩa với con người
Còn ở miền Bắc do hoàn cảnh lịch sử, sự nghiên cứu về Albert Camus chia thành hai giai đoạn trước 1986 và sau 1986 Trước năm 1986 sự tiếp xúc với những tác giả tác phẩm theo chủ nghĩa hiện sinh rất hạn chế Albert Camus và những nhà chủ nghĩa hiện sinh, chủ yếu được giới thiệu trong các chuyên luận dùng trong các trường học, dưới góc nhìn cực đoan Đưa ra để phê phán chứ chưa được nhìn một cách toàn diện giống như ở miền Nam
Điều này được thể hiện rõ nhất trong công trình “Phê phán văn học hiện sinh
chủ nghĩa (1978)” của tác giả Đỗ Đức Hiểu Nhưng nếu xem xét một cách
toàn diện thì chúng ta có thể thấy rằng, những nhận định của các công trình trên nếu bỏ đi phần phê phán phía sau thì nó sẽ trở thành những tư liệu tham khảo, những gợi ý giá trị cho những nhà nghiên cứu muốn tiếp tục đào sâu vấn đề này Bởi vì trước khi “phê phán” người viết phải nêu ra những đặc điểm, nội dung chủ yếu của chủ nghĩa hiện sinh Như vậy dù phê phán nhưng những công trình đó có ý nghĩa rất quan trọng trong nghiên cứu về chủ nghĩa hiện sinh ở Việt Nam
Trong công trình nghiên cứu, Đỗ Đức Hiểu thừa nhận vài trò người tiền bối của F.Kafka với văn học hiện sinh, bởi vì “ mối quan hệ giữa tiểu thuyết của Kafka và tư tưởng của chủ nghĩa hiện sinh là không thể chối cãi”[10] Với
A Camus, Đỗ Đức Hiểu cũng nêu ra những đóng góp nổi bật của A.Camus trong nền văn học hiện sinh, ông cho rằng vấn đề phi lý, vấn đề phản kháng
Trang 14(nổi loạn) đây là hai nội dung đáng chú ý nhất trong chủ nghĩa hiện sinh của A.Camus “nó đứng ở bên kia của chủ nghĩa phát xít, nó không đồng tình với bất công tội ác, với chiến tranh phi nghĩa, với khủng bố dã man”[10] “A Camus phản kháng bạo lực phi nghĩa mà ông gọi là lich sử phi lý tính, song đồng thời ông cũng cự tuyệt bạo lực chính nghĩa mà ông gọi là lịch sử lý tính,
và ông đánh giá ngang bằng hai thứ bạo lực ấy, sai lầm nghiêm trọng của A Camus là ở chỗ đấy Ông tìm đến con đường ôn hòa nhiều khi có nghĩa là thỏa hiệp với kẻ thù của loài người”[13, tr.119-120]
Từ sau 1986 đến nay do sự đổi mới tư duy trong văn học đã đem đến một tinh thần mới trong nhận thức và tầm đón đợi mới của bạn đọc Tất cả những hiện tượng trước đó được coi là không phù hợp với bấy giờ đã được nhìn nhận lại một cách chính xác Tất cả những hiện tượng và trào lưu văn học du nhập vào nước ta đã có cái nhìn mới mẻ và toàn diện hơn Chính vì vậy sự tiếp cận, đánh giá vai trò của Camus cũng như trào lưu chủ nghĩa hiện sinh ở Pháp được đánh giá lại và trả đúng ý nghĩa, giá trị của nó Nhiều nhà nghiên cứu đã nhạy cảm đưa ra những vấn đề đã bị che khuất từ trước đó, trên
cơ sở đó đánh giá lại những đóng góp to lớn của A.Camus và chủ nghĩa hiện sinh cho nền văn học thế giới Một loạt những nhà nghiên cứu, phê bình như : Đặng Anh Đào, Trương Đăng Dung, Nguyễn Văn Dân, Phùng Văn Tấn, đã
có những bài chuyên luận sâu sắc và đa chiều có ý nghĩa như sự “phát hiện lại” những giá trị nghệ thuật từng bị khuất lấp
Nhìn chung so với Kafka tình hình nghiên cứu về A Camus ở Việt Nam
có phần hạn hẹp hơn, song trong vai trò của một nhà văn hiện sinh tiêu biểu ông cũng được quan tâm Các nhà nghiên cứu chú ý đến việc lựa chọn hình thức thể hiện trong những sáng của ông Vì tự bản thân sự lựa chọn ấy đã tạo nên “hiệu ứng” nghệ thuật, tự nó nói lên thông điệp của các nhà văn Nhà nghiên cứu Đặng Anh Đào nhận định rằng “cách tân và truyền thống không
Trang 15loại trừ nhau trong một tác phẩm A Camus được xem như người kế thừa văn chương giáo huấn của một số tác giả Pháp truyền thống vừa là một trong nhưng người in dấu của nền văn nghệ tiên phong Pháp thế kỉ XX”[7]
Gần đây tác giả Nguyễn Văn Dân đã tập hợp những bài chuyên luận của
mình về văn học phi lý để xuất bản thành bản khảo luận có tên là Văn học phi
lý Trong khảo luận, tác giả quan tâm những đóng góp về mặt tư tưởng nội
dung của Kafka và Camus trong tương quan so sánh hai tác giả này về vấn đề phi lý Và xem những tư tưởng này của hai nhà văn tiểu biểu cho dòng văn học phi lý và là bước đệm tiêu biểu cho sự phát triển của dòng văn học này Trong
công trình “Văn học phương tây”, tác giả Hoàng Nhân đã bàn về A.Camus, ông
cho rằng “A Camus đã thể hiện nỗi lo âu, sự sợ hãi của thân phận con người trước bao nhiêu biến động và tai ương trong nửa đầu thế kỉ XX ở phương Tây Ông không bàn đến vấn đề siêu hình phức tạp như thực tế và hư vô, tồn tại và bản thể,… mà chỉ nói về ý nghĩa của hiện sinh và thân phận của con người”[11, tr.737] Mặc dù các nhà nghiên cứu có những ý kiến tranh luận khác nhau chưa
đi đến thống nhất, nhưng nhìn chung các nhà nghiên cứu đều đưa ra cách hiểu
về hiện tượng “người phi lý”trên tinh thần mới mẻ nhất Qua đó thấy được
quan niệm nghệ thuật về con người của A.Camus
Như vậy, qua việc nghiên cứu tập hợp nhưng ý kiến bàn về chủ nghĩa hiện sinh và vấn đề con người phản kháng trong sáng tác của A Camus chúng tôi thấy rằng:
- Hầu hết các tác giả, các nhà nghiên cứu đã phát hiện và khẳng định, những phạm trù trung tâm trong tư tưởng hiện sinh của A Camus là vấn đề phi lý và vấn đề phản kháng Hai tư tưởng này được xét từ phương diện đạo đức quy về tích cực hay tiêu cực để giải thích cho những tư tưởng triết học
- Nhiều nhà phê bình, lý luận nghiên cứu xem A Camus là một triết gia hiện sinh và tác phẩm của ông được xem như con thuyền chở tư tưởng triết học
Trang 16- Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đã có những bài đánh giá và phân tích sâu sắc về những đóng góp trong tư tưởng hiện sinh của A Camus, những vấn
đề thân phận con người và nhất là con người trong đương đại ngày hôm nay Như vậy chúng ta có thể thấy rằng, trên thế giới cũng như ở Việt Nam có rất nhiều công trình nghiên cứu, những bài đánh giá về Albert Camus nhưng cho đến nay chưa có công trình hay đề tài nào đi sâu vào vấn đề con người phản kháng trong sáng tác của Camus Vì vậy chúng tôi lựa chọn đề tài này, người viết mong muốn góp phần nhỏ vào “cuộc hành trình tìm kiếm” một người nghệ sĩ tài ba và những đóng góp to lớn của người nghệ sĩ đó cho nền văn học hiện sinh
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Khi tiến hành nghiên cứu đề tài này, chúng tôi nhằm mục đích, làm sáng
tỏ những biểu hiện con người phản kháng trong quan niệm nghệ thuật của Camus nhìn từ lý thuyết hiện sinh, qua đó thấy được những quan niệm mới
mẻ, sâu sắc của Camus về con người trước thân phận của chính mình Con người phản kháng trước thế giới phi lý như thế nào, nó làm gì để khẳng định chính mình, để trở về với đúng ý nghĩa làm người của mình
Song song với việc khai thác làm rõ chúng tôi cũng đặt ra mục đích tìm hiểu vai trò của nghệ thuật trong việc thể hiện con người phản kháng nhìn từ tâm thức hiện sinh
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích đã nêu ở trên, chúng tôi đã đề ra cho luận văn những nhiệm vụ chính
- Đi sâu vào sáng tác của A Camus qua sự phân tích, so sánh, khái quát để qua đó thấy được những biểu hiện của chủ nghĩa hiện sinh và những đóng góp của Camus trong lịch sử văn học thế giới
Trang 17- Tìm hiểu sơ lược về triết học và văn hoc hiện sinh
- Tìm hiểu những biểu hiện cụ thể của con người phản kháng nhìn từ tâm thức hiện sinh
- Tìm hiểu những thủ pháp nghệ thuật biểu hiện con người phản kháng nhìn từ tâm thức hiện sinh
4 Đối tƣợng và phạm vi nghên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu con người phản kháng và vai trò của nghệ thuật trong việc biểu hiện con người phản kháng trong những sáng tác của A Camus nhìn từ tâm thức hiện sinh
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Mặc dù sáng tác của Camus rất phong phú và đa dạng ở nhiều thể loại từ tiểu thuyết, truyện ngắn đến kịch hay tiểu luận nhưng do giới hạn của nội dung luận văn cho nên chúng tôi chỉ nghiên cứu ở một vài tác phẩm tiêu biểu đáp ứng yêu cầu đề tài của luận văn
H; 2002
lý; NXB Văn hóa thông tin, Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, H, 2002
dịch), NXB Trẻ, 2014
Trang 185 Phương pháp nghiên cứu
Xuất phát từ yêu cầu của đối tượng và mục đích nghiên cứu, luận văn vận dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp loại hình
- Phương pháp phân tích - tổng hợp
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp hệ thống
6 Đóng góp của luận văn
Tìm hiểu con người phản kháng trong các sáng tác của A.Camus, luận văn muốn cố gắng khám phá những đóng góp của A.Camus về thân phận con người cho nền văn học hiện đại nói chung và cho dòng văn học hiện sinh nói riêng Qua đó khẳng định những yếu tố độc đáo trong sáng tác của Albert Camus so với các nhà văn cùng thời, đồng thời đề tài cũng có thể góp một phần nhỏ vào kho tư liệu tham khảo vốn rất phong phú về sáng tác của nhà văn A Camus trên thì đàn văn học thế giới
Trang 19Chương 1 KHÁI LƯỢC VỀ TRIẾT HỌC VÀ VĂN HỌC HIỆN SINH
Thế kỉ XX đã chứng kiến những cuộc phiêu lưu vĩ đại của nhân loài “đã từng quay cuồng qua bao điên đảo vọng tưởng và cũng từng nhìn nhận ra những sự thật thâm nghiêm” Lịch sử đã ghi nhận những cuộc trở mình vĩ đại
cả về khoa học lẫn văn hóa Điều đáng ghi nhận trong thế kỉ này phải kể đến
sự ra đời của chủ nghĩa hiện sinh Sự ra đời của chủ nghĩa hiện sinh là một sự khám phá mới về triết học của thế kỉ XX Nó đã tạo nên cả một phong trào rộng lớn và sôi nổi trong giới văn học Lần đầu tiên trong lịch sử triết học, từ
cổ tới kim người ta thấy “triết học đã xuống đường” Ngay sau khi ra đời, triết học hiện sinh đã lan tỏa từ văn học cho đến đời sống của con người đặc biệt là giới trẻ Nó như một “liều thuốc” cảnh tỉnh, đánh thức con người sau những năm dài quên lãng
1.1 Khái lược về triết học hiện sinh
1.1.1 Sự hình thành và phát triển của triết học hiện sinh
Chủ nghĩa hiện sinh với tư cách là trào lưu văn hóa triết học xuất hiện đầu tiên ở Đức sau thế chiến I và ngay sau đó, nó trở thành một làn sóng mới nổi lên ở Pháp sau thế chiến II Triết học hiện sinh ra đời trong lúc cả Châu
Âu đang trong giai đoạn “nước sôi lửa bỏng”, con người đang loay hoay không lối thoát, tâm trạng lo âu bi quan, nổi loạn bao trùm lên toàn xã hội
Theo Jacques Colette, thuật ngữ “chủ nghĩa hiện sinh” được dùng đầu
tiên trong một cuốn sách ở Italy vào những năm 30 của thế kỉ XX Nhưng nó chỉ thực sự trở thành phổ biến từ năm 1944 trong một cuộc luận chiến ở Pháp Khi mới ra đời, triết học hiện sinh còn khiến nhiều người hoài nghi, bởi họ chưa phân biệt được ranh giới giữa triết học hiện sinh, văn học hiện sinh với lối sống hiện sinh Chính những quan điểm sai lầm như vậy đã khiến nhiều
Trang 20người có ác cảm với nó, coi nó là triết lý của những kẻ chỉ muốn sống cho riêng mình, theo bản năng của chính bản thân mình
Vậy tại sao thứ triết học này lại được gọi là triết học hiện sinh? Để trả lời câu hỏi đó chúng ta hãy trở về quá khứ, lục lại lịch sử về triết học từ xa xưa đến nay Trong suốt chiều dài lịch sử của triết học nhân loài, chúng ta đã trải qua những thời kì khác nhau của triết học Từ triết học cổ truyền điển hình là Platon, Aristote đến Kant hay đến Hegel Đối với họ, triết học chỉ là triết học phóng thể, thay vì giúp con người nghĩ về bản thân và định mệnh của mình, triết học khuyến khích con người quên mình để mãi tìm hiểu lẽ huyền vi của tạo hóa Mục đích của thứ triết học này là tìm ra căn nguyên của vũ trụ Con người bị coi là một trong số hàng vạn vật Trong tương quan với thế giới tự nhiên, con người vô cùng nhỏ bé, bị vũ trụ lấn át, con người bị lãng quên Nhưng đến với triết học hiện sinh con người đã trở về với chính mình, là chủ thể của thế giới Triết học hiện sinh xuất hiện giống như một tiếng súng phản ứng của con người chống lại sự thái quá của triết học cổ truyền Nó đả kích triết học cổ truyền đã lãng quên cuộc sống của con người để chú tâm triết lý
về thiên nhiên, vũ trụ Triết học hiện sinh đã giúp con người tìm lại chính bản thân mình Nó không lấy cuộc sống nói chung mà lấy cuộc sống của chính con người làm vấn đề đầu tiên Nó trả lời câu hỏi của bản thân con người, ý nghĩa của cuộc sống, cái chết
Triết học hiện sinh vừa là sự kế tục vừa là sự phủ định những thành tựu trước đó Có thể thấy rằng, ngay từ thời cổ đại tư duy hiện sinh đã có những biểu hiện ban đầu, tiêu biểu phải kể đến là Socrate (470-399 TCN) Ông đã không chủ trương xây dựng một vũ trụ luận như các triết gia trước và cùng thời, vì theo ông, loài người phải để cho thần thánh nhiệm vụ chú ý tới vũ trụ ngoại tại, còn con người phải chú ý tới những gì liên quan trực tiếp, liên hệ với mình “hãy biết mình” Còn trong Kinh thánh Adam và Eva cùng ăn trái
Trang 21cấm trong vùng địa đàng, bị thượng đế trừng phạt xuống trần gian làm người, phải trải qua tất cả những vui buồn đau khổ của loài người, luôn mang trong mình mặc cảm tội lỗi Đến Pascal (1623-1620) tư tưởng hiện sinh hiện lên rõ ràng hơn Ông đã miêu tả trạng thái bất an của con người trong một thế giới mênh mông rộng lớn, ông nhận ra trái tim có những lý lẽ mà lý trí không bao giờ hiểu được Pascal hầu như đã đề cập tới mọi vấn đề của hiện sinh Đến cuối thế kỉ XX, sự khủng hoảng triết học bắt đầu gia tăng, mầm mống của chủ nghĩa hiện sinh có điều kiện để bắt đầu phát triển Điển hình trong giai đoạn này phải kể đến S Kierkegaard (Đan Mạch, 1813-1855), được xem là ông tổ của chủ nghĩa hiện sinh, với quan điểm về tính nhân vị của chủ thể Nietzsche (Đức, 1844-1900), ông được xem là ông tổ của hiện sinh vô thần, khi hoài nghi tất cả những giá trị cũ và khẳng định “Thượng đế đã chết” Và đến khi hiện tượng luận của E.Husserl (Đức, 1859-1938) ra đời, khi đó những tư tưởng của Kierkegaagrd, Nietzsche đã có một quy chế triết học rõ ràng và những triết gia sau đó đã làm cho chủ nghĩa hiện sinh trở thành một triết học như các trào lưu triết học đang tồn tại
Triết học hiện sinh ra đời đã làm thay đổi hoàn toàn quan niệm về con người Giờ đây con người đã trở về với chính mình, với đúng nghĩa làm người trong thế giới này Con người đã trở thành tâm điểm là chủ thể của vũ trụ Đó
là những con người cụ thể, những cá thể riêng biệt độc đáo có chủ thể tính và
tự do tính chứ không phải con người phổ quát chung chung như của Aristote Triết học hiện sinh nhấn mạnh tới tính chủ thể, độc đáo của mỗi con người Chủ đích của triết học hiện sinh là làm cho mỗi người ý thức và ý thức một cách bi đát về địa vị làm người của mình, đồng thời nó nhắc cho ta biết nếu ta thụ động, ta sẽ bán rẻ thiên chức làm người của ta và như vậy ta sẽ rơi xuống hàng sự vật”[39, tr.28] Trách nhiệm hiện sinh của con người thể hiện ở sự lựa chọn cách thức hành động để khẳng định bản thân, để chứng minh sự độc đáo,
Trang 22sáng tạo, khẳng định cá tính bản lĩnh của riêng mình, không giống bất cứ người nào khác Con người phải đảm nhận lấy sự tự do của mình Sự lựa chọn hành động trong mỗi thời điểm là cách thể hiện ý nghĩa của cuộc đời, là cách
để mình tạo nên giá trị bản thân và định mệnh của mình Mỗi quyết định là một giá trị hiện sinh và mỗi quyết định đòi hỏi một ý thức thận trọng và một tinh thần cao cả
Tư tưởng hiện sinh coi trọng tự do cá nhân, đề cao tính độc đáo, sáng tạo, tính tự chịu trách nhiệm của mỗi người Nội dung của triết học hiện sinh không diễn tả bằng những câu định nghĩa trừu tượng như triết học cổ truyền
mà dùng các hình thức ngôn từ dễ hiểu, cụ thể sinh động, có sức hàm súc cao của văn chương như nhật kí, tiểu thuyết, truyện ngắn Triết học hiện sinh ra đời giống như một cuộc cách mạng “đưa triết lý vào đời sống và hướng dẫn đời sống bằng những suy nghĩ triết học” [39, tr.23]
Trong những năm 1950-1970, triết học hiện sinh giống như một luồng sinh khí mới cho giới tri thức phương Tây Thời đó J.P.Sartre và A Camus được xem là những người thầy tư tưởng của phong trào triết học này Đến những năm sau đó, thuật ngữ chủ nghĩa hiện sinh đã có vị trí quan trọng trong đời sống xã hội và đi vào lịch sử của triết học hiện đại Chủ nghĩa hiện sinh được bàn luận rất nhiều, và hơn thế nữa tư duy hiện sinh vẫn không ngừng vươn xa trong xã hội hiên đại Chủ nghĩa hiện sinh không phải là một học thức cứng nhắc, bó hẹp mà luôn mở rộng tập trung vào bản thể con người Chủ nghĩa hiện sinh rất đa dạng, hầu như có bao nhiêu nhà triết học, bao nhiêu nhà văn dùng từ hiện sinh thì có bấy nhiêu loại chủ nghĩa hiện sinh Hơn nữa ngoại trừ Sartre, không nhà văn nào, nhà triết học nào nhận mình là nhà hiện sinh chủ nghĩa Song về bản chất, họ đều giống nhau ở chỗ cùng đề cao quan điểm chủ thể tính, coi hiện sinh là chủ thể tính có trước bản chất
Trang 231.1.2 Những triết gia hiện sinh tiêu biểu
Triết học hiện sinh ra đời không phải chỉ do một nhà kiệt xuất nào đề ra
mà nó là sự nối tiếp từ những mảnh tư tưởng hiện sinh trong lịch sử loài người Từ thời cổ đại “lịch sử loài người đã đánh dấu những chuỗi thức tỉnh hiện sinh kêu gọi con người tự suy tư về mình và trở về nhiệm vụ chính yếu của chính mình” [31, tr.9] Đó là tiếng gọi thống thiết “hãy tự biết mình” của Socrate, hay là số phận những nhân vật trong Kinh thánh của đạo Kito, là tâm trạng bất an, mối lo âu không ngừng nghỉ về thân phận “cây sậy yếu ớt” của con người trong tư tưởng của Pascal Sự phát triển của tư tưởng hiện sinh thành một chủ nghĩa và hơn hết là một trào lưu triết học đó là nhờ sự vận dụng kết hợp tư tưởng triết học của F Nietzche, S Kierkgaagrd và phương pháp khoa học hiện tượng luận của Husserl
Triết học hiện sinh phân chia thành hai nhánh: vô thần và hữu thần Nhánh vô thần với những tên tuổi tiêu biểu như Nietzche, Heidergger, Sartre Còn hữu thần phải kể đến ông tổ Kieckegaagrd, Jaspers và Marecl Hai ngành này mặc dù đều có điểm chung lớn nhất là “lấy triết học của con người làm trọng tâm” nhưng điểm làm cho hai ngành này khác biết thậm chí đối lập nhau đó là thái độ đối với con người và thượng đế Hiện sinh hữu thần công nhận, đề cao sự giao tiếp với tha nhân, coi tính liên kết giữa các chủ thể là cách hiện sinh hoàn hảo, thúc đẩy sự phát triển con người Ngược lại hiện sinh vô thần đề cao sự đấu tranh chống lại tha nhân để tha nhân không biến ta thành tha hóa vì “tha nhân là địa ngục cho tôi”[39].Thái độ đối với Thượng
Đế của hai ngành này cũng hoàn toàn khác nhau Hiện sinh tôn giáo coi thượng đế là lời mời gọi con người tiến lên, là cái đích và động lực cho con người vươn tới, trái lại triết học hiện sinh vô thần chủ trương gạt bỏ Thượng
Đế ra ngoài cuộc sống Nếu tin vào Thượng Đế con người chưa hoàn toàn tự
do, bị giới hạn
Trang 24Triết gia tiêu biểu đầu tiên phải kể đến S Kierkegaard (Đan Mạch, 1855), ông được coi là ông tổ của chủ nghĩa hiện sinh và cũng là người đi đầu trong ngành hiện sinh hữu thần Triết học hiện sinh của ông là sự phủ định tuyệt đối triết học duy nghiệm, duy lý của Kant và Hegel Đó là triết học về đời sống con người, đem con người về với cuộc đời và bản thân mình Đối với ông Thượng Đế là niềm tin duy nhất Thượng Đế sẽ giúp con người vượt lên những cái tầm thường để vươn lên cái tuyệt đối, vượt qua cái bình thường
1813-để vươn lên độc đáo Ông cho rằng hiện sinh chia làm 3 giai đoạn:
- Giai đoạn đầu là hiếu mĩ: giai đoạn này đồng nhất với khoái cảm Con
người sống bằng những quan tâm hiện tại, chưa biết lựa chọn Giai đoạn này
có 3 chặng nhỏ: là buồn chán toàn diện, bạo dâm, trung gian hay còn gọi là
“mỉa mai” là chặng liên kết thẩm mĩ và đạo đức
- Giai đoạn hai là đạo hạnh: giai đoạn này thể hiện cuộc đấu tranh chống
lại những đam mê cảm tính và chế ngự chúng Con người sống bằng nghĩa vụ, quan tâm đến nhau và cùng hi vọng vào tương lai Sống trung thành với bổn phận và nghĩa vụ của con người Nhưng hạn chế của giai đoạn này ở chỗ nó
dễ ru ngủ con người, biến họ thành một sinh vật máy móc, mù quáng tuân theo những quy luật, những mô tuýp đạo đức định sẵn Thay vì lựa chọn tự do
là nỗi sợ hãi của cá nhân
- Giai đoạn ba là giai đoạn tôn giáo: nơi hiện hữu của cá nhân thống
nhất với Thượng Đế Theo ông, đời sống tôn giáo sẽ giúp chúng ta vượt lên tới sinh hoạt độc đáo sẽ mở ra con đường dẫn con người đến chỗ tiếp xúc thân mật với Thượng Đế Qua đó sẽ giúp con người thoát khỏi những thiển cận và tầm thường của luân lý duy nhiên Ngoài quan niệm trên, ông cũng là người đầu tiên bàn đến tính chủ thể của nhân vị biểu hiện trong trực giác- một lĩnh vực nằm ngoài sự kiểm soát của lý trí Điều này cũng được hiện tượng luận của Husserl trình bày một cách khoa học và là cơ sở cho mọi triết học hiện sinh của các triết gia sau này
Trang 25Friederich Nietzsche (1844-1900), cùng với Kierkegaard ông cũng được coi là một trong người tiên phong của chủ nghĩa hiện sinh Nietzsche được xem như ông tổ của hiện sinh vô thần “Nietzsche nổ bung như một tiếng sét lạ giữa một khung trời trống vắng”[31, tr.13] Quan niệm triết học của ông khác hoàn toàn với Kierdegaard, đối với ông “Thượng Đế đã chết” “phải giết chết thượng đế thì người hùng tức con người siêu nhân mới có cơ hội để xuất hiện” Nietzsche chống đối lại quan niệm của các tôn giáo về một đấng tối cao sinh ra và chỉ đạo cuộc sống của con người Nietzsche luôn luôn hoài nghi
“con người chỉ là một sự nhầm lẫn của Thượng Đế hay Thượng Đế chỉ là sự nhầm lẫn của con người”[31, tr.20] Nietzsche bày tỏ sự khâm phục với những người thầy như Goeth, Schillers, Dostoevsky, Beethoven, Emerson… Với Nietzsche, Dostoevsky là người duy nhất dạy ông được vài điều về tâm lý học Đó là những bài học về giá trị một con người Ông là người xây dựng lên triết lý người hùng Theo ông, để vượt qua lối sống tầm thường, thấp hèn đó con người phải tôi luyện ý chí hùng lực để một lần vượt đại dương mênh mông, nghĩa là vượt lên khỏi những thần linh của sóng gió biển khơi và lúc bấy giờ những ảnh tượng phù phiếm của thần thánh đối với con người trở nên
vô nghĩa Như vậy chỉ có ý chí hùng lực mới có thể giúp đỡ con người thức tỉnh trước mọi ảnh tượng mờ ám của thần linh
Đại diện tiếp theo phải kể đến là Karl Jaspers (Đức, 1883-1964), triết học hiện sinh của ông được nuôi dưỡng bởi tinh thần của Nietzsche và của Kierkegaard Toàn bộ tinh thần triết học của Jaspers được triển khai trong bộ
Triết học (Philosophi -1932) Theo quan niệm của Jaspers, hiện sinh bắt đầu
xuất hiện khi con người ý thức sâu sắc rằng mình là một cá thể Bằng phương pháp soi vào hiện sinh, Jaspers cho ta thấy vô thần là con đường cùng, là giới hạn của hư vô, vì thế không thể đạt tới siêu việt bằng con đường này Ông nhận ra những ưu điểm lớn lao của tôn giáo nhưng bên cạnh đó ông cũng tố
Trang 26cáo sự nguy hiểm mà các hình thức tôn giáo sùng bái mang lại cho hiện sinh Ông khước từ tôn giáo vì đức tin tôn giáo thường là một an nghỉ- những tín
đồ thường tự coi mình đã đạt tới chân lý tuyệt đối và chỉ mình họ có chân lý tuyệt đối Triết học Jaspers lay tỉnh con người, thúc đẩy những ưu tư của con người về định mệnh làm người của mình Con người tự tìm thấy tự do cho chính mình Tự do tính đây là quan điểm mới mẻ của Jaspers hơn hẳn hai bậc tiền bối trước đó Ông cổ vũ con người vươn lên thoát khỏi cảnh sa lầy trong cảm giác tự thỏa mãn, tự bằng lòng với cuộc sống bình bình
Gabriel Marcel (Pháp, 1889-1973), ông là người đã “khai sinh” cho phong trào hiện sinh ở Pháp
Marcel đã phủ nhận hoàn toàn chủ nghĩa duy lý Ông hướng triết học của mình vào sự trải nghiệm làm người, “muốn phục hồi sức mạnh hữu thể học” [29, tr.562] Marcel lấy quan điểm của Socarte làm kim chỉ nan, ông học tập quan niệm chân lý tuyệt đối của Socarte Cũng như Socarte, Marcel luôn đặt
ra câu hỏi làm phương pháp để hướng tới chân lý tuyệt đối còn về mục đích thì luôn hướng tới chỗ đối diện với thực tại Theo ông, để đạt tới chân lý chúng ta thường đưa ra những quyết định vội vàng và hình thức như vậy nó sẽ làm tê liệt tất cả sức lực và óc tiến thủ của con người, hơn nữa bản thân không bao giờ được phép cho rằng mình đã đạt tới chân lý toàn vẹn Con người trên hành trình trong cuộc đời phải luôn đặt ra những câu hỏi và luôn đi tìm những câu trả lời nhưng trong cuộc tìm kiếm đó con người không bao giờ tìm được câu trả lời thỏa mãn những câu hỏi của ta về nhân sinh Tuy nhiên những câu trả lời đó giúp con người tiến sâu thêm vào huyền nhiệm của hiện sinh Vì vậy theo Marcel, chính những cái toàn vẹn không bao giờ đạt được đó là huyền nhiệm Huyền nhiệm và thế giới tinh thần không giải thích được là những tri thức ta có về nhân vị con người, về tha nhân, về Thượng Đế
Tư tưởng của Marcel tập trung xung quanh vào hai vấn đề: chiếm hữu
và hiện hữu (avor-etre) hay còn gọi là sở hữu và tồn tại Chiếm hữu là quy chế
Trang 27của sự vật còn hiện hữu là quy chế của chủ thể vươn tới hiện sinh Hiện hữu
là hình thức suy đới của chiếm hữu Theo quan niệm của Marcel chiếm hữu
có 3 đặc tính Đặc tính thứ nhất: cái mà tôi sở hữu là cái tôi có, tôi có quyền
sử dụng những cái mà tôi sở hữu Nói một cách chung nhất chiếm hữu là những gì chúng ta có thể ý niệm được nó, những gì thuộc về quy chế của sự vật Còn ngược lại hiện hữu là ý niệm thuộc về tinh thần của chủ thể muốn vươn tới hiện sinh Theo ông, hiện hữu là thái độ của những nhân vị đối với chính mình, đối với người khác Marcel phê phán những nhà triết học duy tâm
và duy vật đã khách thể hóa con người tìm cách định nghĩa cho con người trong khi con người là một chủ thể tự do Marcel cho rằng con người tự do không phải là muốn làm gì thì làm, muốn quyết định bản thân mình như thế nào cũng được mà tự do ở đây chính là hành vi sáng tạo của con người hiện sinh Người tự do là người tự tìm lấy đường đi hoặc học tập con đường đạo lý của những người đi trước làm con đường của mình sau khi đã suy xét và thấy phù hợp với bản thân Đã là con người ai cũng có thế sống tự do, tự chủ nếu không muốn tự đánh mất tư cách của bản thân mình Sự tự do và sáng tạo của người hiện sinh là sáng tạo chung tay với Thượng Đế là sự sáng tạo trên nền tảng lịch sử văn hóa dân tộc, nhân loài để lại
Một đặc điểm nữa trong triết học của Marcel là tư tưởng công nhận và kính yêu Đây là một trong những tư tưởng đặc biệt trong triết học hiện sinh của Marcel- cái mà không nhà hiện sinh nào có được Ngoài ra cái hay trong triết học hiện sinh của Marcel là tình yêu Ông đã tốn không ít giấy mực khi viết về đề tài tình yêu Marcel đã đưa ra cho người đọc những suy tưởng hết sức tuyệt vời về tình yêu “nhờ cầu khấn và nhờ tin tưởng lẫn nhau, những người yêu nhau tự cảm thấy mình phong phú và tiến triển mỗi ngày” “tình yêu là hình thức tinh thần cao quý nhất” [39, tr.29] Hiện sinh là hiện hữu và một khi con người hiện hữu thì lúc đó con người sẽ đạt được tự do chân
Trang 28chính Hiện hữu dẫn con người đến niềm tin tưởng, lòng kính yêu và cuối cùng nó sẽ giúp con người tìm ra con đường đến với một tình yêu đích thực Triết học hiện sinh có tầm ảnh hưởng rộng rãi ở châu Âu Những biểu hiện về hiện hữu, tình yêu, tha nhân… không bao giờ làm chúng ta thỏa mãn được vì thế đòi hỏi phải có một Thượng Đế Thượng Đế là tình yêu vĩnh cửu
và thuần túy Triết học Marcel đáng để suy ngẫm trong một xã hội đầy những bộn bề
Một nhà hiện sinh nữa mà chúng ta không thể không nhắc tới là Martin Heidegger (Đức, 1889-1976), ông là người “tiên báo một đột biến sâu xa trong lịch sử tư tưởng và xuyên suốt chiều dài của truyền thống lịch sử siêu hình học, từ những người Hi Lạp cho tới ngày nay”[29, tr.531]
Triết học của ông được xây dựng trên chữ Dasein- đây là một từ dùng để chỉ con người của Heidegger Hegel là triết gia dùng từ này đầu tiên Dasein theo quan niệm của Hegel nó có nghĩa là một hữu thể nào đó, bất cứ một sự vật nào đang xét như nó là một cái gì đang có ở đây Nhưng đến Heidegger ông đã có cái nhìn hoàn toàn khác về “Dasein” Theo Heidegge: “Da có nghĩa
là hiện diện, Sein có ngĩa là hiện hữu Dasein: hiện hữu như một hiện diện” [39, tr.347] Nói một cách đơn giản nhất, Dasein theo ý niệm của Heidegger
là nhằm tập trung vào bản chất của con người là hiện diện với thế giới và thân nhân Tồn tại người là một hiện hữu ý thức được sự hiện hữu của chính mình,
có khả năng nhận thức, tra vấn về vấn đề hiện hữu Chỉ con người mới có hiện hữu, chỉ mình con người mới được coi là một hữu thể mà bản chất là mở ra đón chào ý nghĩa của vạn vật Lúc con người hiện diện thì lúc đó vạn vật được gọi tên và nhận thức Triết học của Heidegger nhấn mạnh đến sự hiện hữu của con người Sự hiện hữu là cái nền cho sự hiện diện, tồn tại và phát triển của con người Và nó cũng làm nền cho sự hiện hữu khác, không có sự hiện hữu của con người thì sẽ không có vũ trụ Sự hiện hữu này, giúp cho con
Trang 29người ý thức mình đang sống, mình đang hiện diện và tồn tại Đây là một trong những điểm nổi bật trong tư tưởng của Heidegger Ông đã có công trong việc đưa con người nhìn lại chính mình và có trách nhiệm với chính cuộc đời của mình Xác định sự hiện hữu giúp cho chúng ta tránh được lối sống tạm bợ, dựa dẫm, sống bám vào những sự hiện hữu khác mà đánh mất
sự hiện hữu của chính mình Ngoài ra ông còn quan tâm tới tính thời gian vì thời gian là cái làm nên ý nghĩa của tồn tại, Heidegger quan niệm con người ngay từ khi sinh ra đã đủ tuổi già để chết đi, cho nên bản chất con người Dasein đó là sự lo âu, ưu tư về thân phận “tử vong” của mình Lo âu là bản chất trung thực của hiện hữu
Ngoài ra ông còn có đóng góp to lớn cho lịch sử văn học thế giới với
những công trình nghiên cứu về ngôn ngữ như cuốn “Tại sao có nhà thơ”
Theo ông, ngôn ngữ tự nó có sự biểu hiện, có tiếng nói riêng Với việc xem
nó như công cụ, vật chất hóa nó, đồng nhất nó với tiếng nói, với một phần thể xác của con người bị kĩ trị hóa thành phương tiện truyền thông … đã làm
“chết” đi tiếng nói riêng của nó Heidegger quan niệm “ngôn ngữ là ngôi nhà của hữu thể” là nơi trú ngụ của tồn tại Chỉ có nhà thơ bằng sự tinh vi, nguyên
sơ của tâm hồn mới có thể lắng nghe tiếng nói của ngôn ngữ
Jean –Paul Sartre (Pháp, 1905-1980) ông được đánh giá là một hiện tượng độc đáo và tiêu biểu của nền văn học Pháp vào thể kỉ XX Sartre là sự gặp gỡ kì lạ giữa: khuynh hướng duy tâm lý nơi Janet, Bergson, hiện tượng luận của Husserl, hữu thể học của Heidegger, triết học Hegel, triết học Max Cuộc đời và sự nghiệp của ông là một sự tồn tại lớn lao, kết tinh hội tụ những tinh hoa của những người đi trước Ông là một đại diện lớn cho cả triết học và văn học hiện sinh
Khác với các triết gia hiện sinh cùng thời, Sartre dang tay đón nhận danh hiệu “chủ nghĩa hiện sinh”, thậm chí ông còn dành lấy danh hiệu đó Trong
Trang 30những cuộc tranh luận nẩy lửa giữa các nhà hiện sinh, ông cương quyết bảo
vệ quan niệm của mình về triết học hiện sinh Ông còn dành hẳn một bài thuyết trình dài khẳng định “thuyết hiện sinh là một thuyết nhân bản” để trả lời cho những lời bình phẩm về triết thuyết của ông nhất là từ những người công giáo và những người cộng sản Sartre là một người có tài năng đa đạng, ông vừa là một triết gia sắc bén, vừa một nhà văn đặc biệt, một nhà hùng biện tài ba được nhiều người kiêng nể Cuộc đời của ông cũng có nhiều sự kiện nổi bật đáng chú ý như từ chối giải thưởng Nobel văn học năm 1964, “hợp đồng hôn nhân” với Simond de Beauvoir, … Tất cả những yếu tố đó đã làm nên một ngôi sao sáng trên bầu trời chủ nghĩa hiện sinh
Chủ nghĩa hiện sinh của Sartre là sự tiếp nối, phát triển của Heidergger
về con người và hiện hữu Với Sartre, con người có hai đặc điểm chính Một
là con người tự tạo nên mình, làm mình thành người Hai là để tạo nên mình
con người lựa chọn tự do Trong tác phẩm triết học “Tồn tại và hư vô”, ông đã
đưa ra mệnh đề nổi tiếng “tôi chỉ hiện hữu khi tôi sẽ không hiện hữu nữa” Theo ông, con người luôn phải đối diện với cái chết, cũng như con người từ
hư vô trở về với hư vô thế nên cuộc đời con người như một đường hầm không lối thoát Vì ý thức được điều đó cũng như nhận ra con người là hữu thể cô đơn nên “lo âu là sự nắm bắt phản tính tự do bởi chính nó” Con người lo âu
vì phải mang trách nhiệm với bản thân mình Cuộc tồn sinh là quá trình làm nên mình, lo âu Và khi lo âu khéo dài không có đường giải thoát thì con người rơi vào tuyệt vọng vì con đường trước mắt là hư vô Tuy nhiên tuyệt vọng không phải là buông xuôi khuất phục mà bắt buộc con người phải nhập cuộc Hành trình làm người là một quá trình đau khổ vì không có một thước
đo chuẩn mực để hướng tới Chính vì con người sinh ra để đi đến cõi chết và trong cuộc hành trình về với hư vô lại quá trĩu nặng trách nhiệm cũng như sự
sợ hãi nên cuộc đời thật phi lý biết bao Song trong cái vòng bắt buộc của
Trang 31thân phận con người ta có quyền lựa chọn để làm nên ta Vậy cuộc đời không phải là sự sắp đặt mà là những lựa chọn, những lựa chọn giúp ta trở thành con người
Quan niệm về tự do của Sartre cũng có nhiều điểm đáng chú ý Ông chủ trương tư do tuyệt đối, nghĩa là đương trong mỗi hoàn cảnh, con người luôn phải tự quyết về mình và tự quyết một cách không chút lệ thuộc vào hoàn cảnh sống Mỗi cá nhân đều có tự do nhưng thứ tự do ấy không ngừng bị đe dọa, nguy cơ đầu tiên đến từ tha nhân Sartre muốn con người, bằng hành động dấn thân, toàn quyền sáng tạo ra mình và phải tự phát minh ra mình Sartre đã “nâng con người lên bậc chúa tể, tự mình đặt luật lệ cho vũ trụ và cho chính mình” [39, tr.325] Tự do là định mệnh bi đát của con người Tự do của con người có trước bản chất làm cho bản chất của con người trở nên cái
có thể Sartre tin vào khả năng của con người dù con người ngẫu nhiên được sinh ra, được ném vào thế giới một cách vô cớ, trống rỗng mang định mệnh tự
do tuyệt đối Ông chủ trương dấn thân, nhập cuộc để vượt qua bản thân mình hướng về những mục tiêu, dự tính của mình Con người là một dự phóng không ngừng nó có quán tính phóng thể, cho nên phải hành động để không tha hóa.Vì thế triết học của Sartre được coi là triết lý của những hành động, con người được định nghĩa theo hành động “Thuyết hiện sinh cũng không phải là một mưa toan để làm con người thất vọng buông xuôi không hành động nữa, vì thuyết này cho rằng con người chỉ có thể hi vọng ở trong hành động thôi, và yếu tố duy nhất có thể giúp con người sống được, đó là hành động” [60, tr.42] Tuy đầy niềm tin của con người nhưng “vì quá đề cao chủ thể tính của con người, Sartre đã cô đơn hóa con người” [39, tr.372] Vì quá
đề cao tính chất độc đáo của mỗi cá nhân nên tự do của Sartre chủ trương sa xuống tự do cá nhân, phủ nhận mối quan hệ với thế giới bên ngoài, với tha
Trang 32nhân, vì thế con người trở nên cô đơn tuyệt đối Đây cũng là điểm mà mốt sống hiện sinh làm chỗ dựa để tồn tại
Triết học hiện sinh của Sartre thu hút đông đảo thanh niên vì tuổi trẻ con người mang nhiều ước mơ, khát vọng, một tự do tuyệt đối Triết học của ông phù hợp với khát khao thể hiện cá tính, khẳng định bản thân của họ Cuộc đời ông là một bi kịch đầy mâu thuẫn: có một Sartre thánh thiện, biết đồng cảm
và cũng có một Sartre biện hộ cho bạo lực, một con người vươn tới sự tự do cao cả của ý chí Sự độc đáo, vĩ đại của Sartre làm nên vị trí không thể thay thế của ông trong lịch sử triết học và văn học của riêng nước Pháp và của cả thế giới Qua sự thẩm định của thời gian, khi đọc lại Sartre thế hệ như chúng
ta không bao giờ được phép quên hoàn cảnh mình đang sống vì đó là nơi chúng ta hành động, chiến đấu, đau khổ, hạnh phúc
Trên đây là sự trình bày một cách khái quát nhất về một số triết gia tiêu biểu trong phong trào hiện sinh Mỗi triết gia đều mang trong mình những tư tưởng khác nhau nhưng điểm chung trong đó là cái nhìn về con người và cuộc sống Mỗi quan điểm đó tạo ra một vườn hoa đầy sắc màu cho chủ nghĩa hiện sinh Với những tên tuổi sáng giá như Heidegger, Marecl hay Sartre họ đã xây dựng lên “tòa lâu đài” hiện sinh vững chắc, tạo thành một chủ nghĩa ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống tư tưởng cũng như đời sống xã hội phương Tây thế kỉ XX
1.1.3 Những vấn đề chủ yếu trong triết học hiện sinh
Hiện sinh chủ nghĩa là một phong trào rộng lớn, bao gồm nhiều khuynh hướng, phạm trù khác nhau Tuy nhiên, vượt lên sự khác nhau đó, các triết gia hiện sinh đều thống nhất cho rằng: triết học không phải là khoa học tìm hiểu những nguyên lý, quy luật của tự nhiên mà là khoa học tìm hiểu về hiện sinh,
về ý nghĩa đời sống con người Con người trong triết học hiện sinh là con người độc đáo cô đơn luôn nhận ra những giới hạn để khẳng định bản thân
Trang 33dám dấn thân nhập cuộc vào cuộc đời Con người luôn cố gắng vì nỗi sợ hãi
bị lãng quên, vì tham vọng được sống trong tim và óc của kẻ khác Trước giới hạn lớn nhất đời người là cái chết, tất cả sự cố gắng trước đó dù con người đạt tới sự viên mãn thì nó vẫn không thoát khỏi hư vô khi sánh với cái vô cùng
Là triết học về con người, tức là đi tìm tất cả những gì có trong con người, chủ nghĩa hiện sinh đã xây dựng cho mình một hệ thống phạm trù khá
cụ thể tập trung xoay quanh cuộc sống sinh hoạt của con người trong đời sống Đó là những khái niệm về buồn nôn, hữu thể (ý thức, hiện hữu, hiện sinh), hư vô (không hữu thể), cô đơn, lo âu, ưu tư (xao xuyến, tuyệt vọng, thất bại), phóng thể, tha nhân, nhập cuộc hay cái chết, trách nhiệm Những phạm trù này làm nên sự phong phú của trào lưu triết học hiện sinh và cũng giúp chúng ta thực sự phải nhìn nhận lại cuộc sống của chính bản thân trong một thế giới đầy rẫy những bộn bề đang diễn ra, suy ngẫm nhiều hơn về cuộc đời
và cũng thôi hi vọng về thân phận làm người của mình
E Mounier trong cuốn “Những chủ đề triết hiện sinh” sau khi khảo cứu
về các trào lưu của triết hiện sinh đã khái lược tư tưởng hiện sinh thành một
số luận đề chính Những luận đề này có ý nghĩa quan trọng làm nên diện mạo
và chứng tỏ sự phát triển sôi nổi của các trào lưu hiện sinh, giúp mỗi người nhìn nhận lại cuộc sống của chính mình để suy ngẫm nhiều hơn và cũng không ngừng hi vọng về thân phận
a Buồn nôn (phi lý)
Buồn nôn là danh từ chỉ những con người chưa tìm được đích đến cuộc sống, chưa vươn lên mục đích thực sự của bản thân còn sống như cỏ cây và động vật
Phạm trù này được Sartre khai thác rất tài tình và sâu sắc Theo ông, nếu con người chỉ biết tuân theo những quy luật sẵn có của tự nhiên như ăn, ngủ, thì đó chỉ là những “con người thừa” Những người như vậy chỉ là hiện hữu
Trang 34chứ chưa phải là hiện sinh, tồn tại chứ không phải sống Bản thân những người đó không ý thức được sự nhàm chán và “buồn nôn” của cuộc đời mình Còn những người đã ý thức sâu xa được địa vị làm người của mình thì cảm thấy “khó chịu” bởi vẻ tầm thường vô nghĩa lý đó Chính thái độ “buồn nôn” làm cho con người vùng dạy bỏ trạng thái vô vị để vươn lên thiên chức làm người tự do và tự chịu trách nhiệm Điều này làm nên ý nghĩa nhân văn của tư tưởng hiện sinh
b Phóng thể (sự vong thân, tha hóa)
Con người luôn đứng trước nguy cơ bị phóng thể, biến thành kẻ khác Bởi con người chưa ý thức được mình là những nhân vị độc đáo
Con người hiện sinh luôn băn khoăn về thân phận làm người của mình vì
họ biết rằng tương lai đầy huyền nhiệm vì vậy mình phải là người quyết định cuộc sống và thân phận của mình Nếu ta để người khác quyết định thay ta nghĩa là ta đã từ chối địa vị con người chủ thể tự do của mình Tất cả cuộc sống, hạnh phúc và đau khổ, thành công hay thất bại đều lệ thuộc vào quyết định của ta Sự tiếp xúc với tha nhân, với thế giới bên ngoài làm rơi mất những gì có trong bản chất của tôi, đồng thời những yếu tố từ tha nhân, ngoại giới ăn nhập vào tôi Do vậy, con người không thể điều khiển cuộc đời đầy ngẫu nhiên của mình “phóng thể làm con người mất bản ngã, nằm lì ở trạng thái sự vật”[39, tr.44]
c Ưu tư (lo âu, xao xuyến)
Ưu tư, lo âu giúp con người vượt lên cuộc sống khẳng định được nhân
vị làm người, chủ động hành động để trở thành một con người tự chủ và tự
do Ưu tư là vẻ đặc sắc của nhân vị khi đã tự ý thức muốn dứt mình ra khỏi cảnh sống thừa.Ưu tư chính là cái con người cựa mình để vươn lên và không bao giờ cam chịu trạng thái của một sự vật
d Tự quyết
Trang 35Con người hiện sinh là con người luôn tự chọn cho mình con đường làm người tự do dù khổ cực đến mấy chứ không làm người nô lệ chỉ thỏa mãn sự sung sướng của bản thân Con người chấp nhận những giới hạn của định mệnh và sẵn sàng vượt qua những giới hạn để dấn thân vào cuộc đời đầy khó khăn Mỗi quyết định đều ghi một bước tiến để lại dấu ấn trong cuộc đời mỗi con người Tự quyết khẳng định rằng tôi là một chủ thể tự do và có thể đảm nhiệm về hành động của mình
f Độc đáo
Đây là một phạm trù quan trọng và đặc sắc nhất của triết học hiện sinh Triết học hiện sinh đã lay tỉnh con người và nhắc cho họ biết mình là những nhân vị độc đáo và bản thân phải hoàn thành cái độc đáo đó Mỗi con người là một vũ trụ thần bí không ai giống ai, ai cũng có cái độc đáo riêng cho bản thân mình Mỗi người phải giữ được cái độc đáo, khác lạ để không bị tha nhân chiếm giữ và cũng phải giữ chính bản thân mình nếu không sẽ bị phóng thể Nhưng một khi đã ý thức sâu xa về tính độc đáo hiện sinh thì lúc đó con người lại cảm thấy cô đơn Cô đơn ở đây không phải cô đơn về tâm hồn mà là
cô đơn về số phận tự mình quyết định sự sống và cái chết không để ai phải
Trang 36thay thế “chính tôi sẽ chết cái chết của tôi, vậy thì chính tôi phải sống cuộc sống độc đáo của tôi, đừng để người ta sống mất cuộc sống đó nghĩa là tôi đừng sống theo đuôi “người ta” [39, tr.55]
g Nhập thể (dấn thân, gia nhập)
Triết học hiện sinh thay thế hình ảnh tĩnh lặng về con người bằng sự vươn lên, tự quyết Con người là một thực thể ở đời, trong một hoàn cảnh đã có sẵn, một hữu thể tại thế như Heidegger đã nói Trong thế giới khả năng và hoàn cảnh cuả mình, mỗi cá nhân có thể phát triển tối đa để tạo hình ảnh cho mình Con người là một nhân vị tự do và phải đảm nhiệm trách nhiệm lựa chọn, tự tạo nên mình, tự mình làm lên thành quả của chính mình Ngay khi sinh ra trên cõi đời, chúng ta đã bị tham gia vào cuộc hiện sinh, nếu thụ động sẽ không có phần của chúng ta, vậy nên cần thiết phải tham gia với tư cách tự do, chủ động tích cực Có như vậy con người mới trở thành một người hiện hữu thực sự
h Sự ngẫu nhiên của cuộc sống con người
Sự tồn tại của mỗi cá nhân chúng ta như ngẫu nhiên bị ném xuống cuộc sống Những câu hỏi liên tục được đặt ra: tại sao tôi lại được sinh ra, tại sao tôi lại được sinh ra ở nơi này mà không phải nơi khác, tại sao có con người… Khi con người có ý thức và tự mình sống đời sống của mình thì đã thấy mình
ở đó rồi Tất cả những câu hỏi đó đều không có câu trả lời Sartre nói: có người ở đó, như thế, không nghĩa lý gì cả, con người là một sự thừa, ngẫu nhiên có mặt, ngẫu nhiên chết đi, chúng ta không thể thừa nhận sự hư vô bao quanh cuộc sống con người
i Sự bất lực của lý trí
Ý niệm này được xuất hiện từ quan niệm của Pascal Lý trí của con người là một phần rất quan trọng giúp con người cấu tạo định mệnh của mình nhưng nó cũng có giới hạn nhất định Trước mọi việc con người luôn dùng lý trí để phân tích Nhưng lý trí đôi khi lại bất lực trong việc tìm hiểu vận mệnh của chính con người
Trang 37j Sự nhảy vọt của con người
Triết học hiện sinh thức tỉnh con người giúp con người nhìn thẳng vào nỗi bi đát của mình Nó là một triết học can đảm dù là can đảm trong tuyệt vọng.Triết học hiện sinh mời gọi con người tự tạo nên cuộc đời mình bằng cách tiến lên, nhảy vọt trong từng giây phút mặc dù là nhảy vọt vào hư vô Con người luôn vượt lên cái mình hiện là, hướng tới cái mình sẽ là Hiện sinh đặt con người vào đúng vị trí và là một thứ triết học lạc quan cổ vũ cho sự cố gắng của con người
k Sự cô độc và bí mật
Nếu như cái chết là người bạn đồng hành chung thủy của con người thì
cô độc lại như một thứ quà tặng vĩnh cửu của con người Định mệnh của con người là sống cô độc, không ai sống thay cuộc đời chúng ta được Ngay cả quá trình vươn lên không ngừng để khẳng định bản ngã độc đáo của mình cũng là quá trình vươn tới cô đơn tuyệt đối Dù yêu thương và thấu hiểu đến mấy con người vẫn không thể nào có được sự cảm thông tuyệt đối của tha nhân, mỗi con người là một thế giới bí ẩn
l Sự hư vô
Với triết học hiện sinh, sự hư vô như một nét chính yếu của cuộc sống con người Sartre nói “đời người là một đam mê vô ích” Con người luôn hướng tới cái tuyệt đối vô cùng nhưng sự thật không bao giờ đạt được điều
đó Nhưng dù sao vẫn phải có gắng để tiến lên ý nghĩa đích thực của một cuộc hiện sinh là luôn vươn lên cái tuyệt đối để rồi cảm thấy thất vọng hoàn toàn vì không bao giờ chạm tới chân lý Cuộc sống chỉ có ý nghĩa và thúc đẩy khát vọng sống của con người khi tiệm cận với hư vô
m Tha nhân
Tha nhân cũng là một trong những phạm trù được triết học hiện sinh quan tâm Con người luôn sống trong mối tương quan với người khác Và
Trang 38chúng ta luôn đứng trước mâu thuẫn: khát vọng hòa nhập, thông cảm với tha nhân và nguy cơ bị tha hóa biến thành tha nhân Con người là dự tính của mình, mình tự tạo ra mình bởi vậy bản thân phải chịu trách nhiệm về việc làm của mình và hơn nữa phải có trách nhiệm với tha nhân
n Sự cải hóa
Đời sống đích thực của con người không phải sinh ra đã có sẵn mà bằng hành động con người phải tự tạo ra bản tính ấy Trong cuộc sống hàng ngày, con người có xu hướng hòa tan vào thế giới mà con người tự nhận là mình thuộc về thế giới đó và bị thế giới đó xâm chiếm hoàn toàn Con người trở thành một kẻ sống không chân thực trong thế giới xa lạ, say sưa với những cái bình thường, cầu an với một cuộc sống đầy đủ về cả tinh thần lẫn thể chất Người ta không nghĩ rằng mình bị hòa tan chìm vào thế giới của tha nhân của cộng đồng, đánh mất tính chất hiện sinh của mình Để có một cuộc hiện sinh đúng nghĩa, con người cần vươn lên dấn thân, nhập cuộc tự mình làm nên bản chất của mình
Trên đây là sự tổng hợp nội dung tư tưởng triết học hiện sinh Tất cả những phạm trù đó cho ta thấy rằng triết học hiện sinh đã gạt bỏ hoàn toàn vũ trụ chỉ để suy nghĩ về con người giúp con người thức tỉnh, lôi con người thoát khỏi tình trạng phóng thể và vươn lên thành những nhân vị tự do và tự nhiệm Mỗi triết gia lại đào sâu thêm các phạm trù theo một chiều hướng và theo sự chủ quan của mình Những vấn đề này tùy theo mức độ đã được thể hiện cụ thể trong các tác phẩm văn học hiện sinh chủ nghĩa
1.2 Khái lƣợc về văn học hiện sinh
1.2.1 Sự hình thành và phát triển của văn học hiện sinh
Triết học hiện sinh là triết học về con người Vì vậy ngay khi ra đời, nó
đã chọn cho mình một lối đi riêng không giống như một triết thuyết nào cùng thời Nếu như triết học truyền thống chỉ là những định nghĩa khô khan cứng
Trang 39nhắc khó hiểu thì triết hiện sinh lại tìm đến văn học- một loại hình nghệ thuật gần gũi, bởi ai cũng biết văn học là tấm gương phản ánh những diễn biến của đời sống Triết học hiện sinh đã lựa chọn văn học để truyền tải nội dung Vì thế, nội dung của nó dễ tiếp nhận, gần gũi với con người được mọi người đón nhận nhiệt tình Cũng vì lý do này cho nên, chủ nghĩa hiện sinh đã trở thành một trào lưu nghệ thuật ảnh hưởng sâu rộng trong xã hội
Trong những năm đầu thế kỉ XX ở Pháp, chủ nghĩa hiện sinh đã bộc lộ
rõ nét trong lĩnh vực văn chương và nó thực sự trở thành “một cơn bão” vào những năm 1945-1960 Văn học hiện sinh gắn bó mật thiết với triết học hiện sinh và có ý nghĩa quan trọng trong việc thức tỉnh chúng ta suy ngẫm về thân phận làm người, về thế giới nhân sinh
Văn học trở thành “con thuyền” chuyên chở những tư tưởng của triết học hiện sinh và ngược lại cũng nhờ sự khai mở của tư tưởng hiện sinh mà văn học trở nên sâu sắc hơn mời gọi độc giả khám phá
Chủ nghĩa hiện sinh cho rằng đối với hiện sinh của con người, nhận thức duy lý là bất cập, nhưng sự trải nghiệm trực tiếp lại có thể khám phá được Do vậy, lối tư duy của triết học hiện sinh rất gần với lối tư duy của nghệ thuật Vì vậy đây chính là nguyên nhân giải thích tại sao một số nhà triết học hiện sinh
đã dùng văn chương để truyền tải tư tưởng Jean-Paul Sartre, Simond de Beauvoir là những nhà văn đồng thời là những nhà triết học hiện sinh tiêu biểu Một số tác giả đi vào phân tích sáng tác nghệ thuật nghĩa là việc của những nhà lý luận, phê bình như Heidegger, Chestow, Marcel Thậm chí những bậc tiền bối của tư tưởng hiện sinh cũng là những nhà văn tên tuổi như Pascal, Nietzsche Nhiều ý kiến cho rằng, văn học chính là triết học của chủ nghĩa hiện sinh bởi vì giữa phương pháp luận sáng tác văn học có điểm tương đồng Tác phẩm văn học hiện sinh không đơn thuần là phương tiện chở triết học hiện sinh, nó còn là một bộ phận của triết học hiện sinh Bản thân các tác
Trang 40phẩm văn học hiện sinh có một đời sống độc lập với triết học hiện sinh khi nó đạt đến những giá trị thẩm mĩ đích thực vì như A Camus đã nói: “nghệ thuật chỉ sống cùng những ép buộc do nó tự đặt ra cho nó, nó chết vì những ép buộc
do kẻ khác đặt ra” [14, tr.64]
Có thể thấy rằng, mỗi thời đại sẽ có một nền văn chương cho riêng mình
Sự phát triển của văn học nghệ thuật đã đi cùng với sự phát triển của lịch sử loài người Từ thời thần thoại đến sử thi cổ đại đã lấy đời sống kì diệu, thần thánh làm đối tượng phản ánh, nhân vật được đo bằng kích thước vũ trụ làm trung tâm Đến đương đại hôm nay văn học là những mảnh vỡ, không trọng tâm… là cả một hành trình dài qua nhiều chặng đường phát triển Đặc điểm thời đại bao giờ cũng được ghi dấu ấn trong văn học Vì vậy chủ nghĩa hiện sinh cũng là đối tượng khám phá của văn học
Văn học hiện sinh đã từng xuất hiện ở châu Âu, châu Mĩ vào những năm đầu thế kỉ XX, tuy rất khó có thể định nghĩa thế nào là văn học hiện sinh nhưng nó thực sự đi vào đời sống của con người Tiếp bước thời gian, đến thế chiến II, triết học hiện sinh trở nên rầm rộ và văn học cũng nhuốm màu hiện sinh rõ ràng hơn Văn học hiện sinh cũng phức tạp như trào lưu tư tưởng triết học hiện sinh Có bao nhiêu trào lưu tư tưởng triết học thì có bấy nhiêu khuynh hướng văn học trong sáng tác, nhưng dù có sự phân ly như vậy nhưng tất cả các nhà văn hiện sinh đều gặp nhau ở một điểm Họ không ca ngợi Chân, Thiện, Mĩ xa xôi, không lý tưởng hóa cuộc đời, cũng không tả chân những cái vụn vặt điều mà họ muốn là vạch trần tất cả ý nghĩa cuộc nhân sinh cùng với những thảm cảnh của con người đã phản tỉnh mà đồng thời lại chưa hiểu được cái sống và cái chết của mình có ý nghĩa gì không
Triết học hiện sinh là sự khám phá thế giới và con người, văn học suy cho cùng là sự thể hiện khát vọng tự nhận biết và tự biểu hiện mình của con người Mỗi nhà văn trong trí tưởng tượng của mình có thể đi đến tận cùng của