BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 TRỊNH LAN ANH ĐỜI SỐNG VÀ NGHỆ THUẬT TRONG SÁNG TÁC CỦA PAUL AUSTER NHÌN TỪ TÂM THỨC HẬU HIỆN ĐẠI LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ V
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
TRỊNH LAN ANH
ĐỜI SỐNG VÀ NGHỆ THUẬT TRONG SÁNG TÁC CỦA PAUL AUSTER NHÌN TỪ TÂM THỨC HẬU HIỆN ĐẠI
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
HÀ NỘI, 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
TRỊNH LAN ANH
ĐỜI SỐNG VÀ NGHỆ THUẬT TRONG SÁNG TÁC CỦA PAUL AUSTER NHÌN TỪ TÂM THỨC HẬU HIỆN ĐẠI
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số: 60 22 01 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Trương Đăng Dung
HÀ NỘI, 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy tôi, PGS- TS Trương Đăng Dung – người đã trực tiếp dạy bảo, giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt
quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể quý thầy cô giáo ở Trường ĐHSP
Hà Nội 2, Viện Văn học Việt Nam, Khoa Ngữ văn Trường ĐHSP Hà Nội đã
giảng dạy và giúp đỡ tôi hoàn thành khóa học
Và xin được cảm ơn, chia sẻ niềm vui này với những người thương yêu
đã luôn bên tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu
Hà Nội, ngày 10 tháng 11 năm 2016
Tác giả luận văn
Trịnh Lan Anh
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS- TS Trương Đăng Dung Trong khi nghiên cứu luận văn, tôi đã kế thừa thành quả khoa học của các nhà
khoa học và đồng nghiệp với sự trân trọng và biết ơn
Nội dung luận văn có tham khảo và sử dụng các tài liệu, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí và các trang web theo danh mục tài liệu
của luận văn
Hà Nội, ngày 10 tháng 11 năm 2016
Tác giả luận văn
Trịnh Lan Anh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 9
Chương 1 KHÁI LƯỢC VỀ CHỦ NGHĨA HẬU HIỆN ĐẠI VÀ SÁNG TÁC CỦA PAUL AUSTER 9
1.1 Chủ nghĩa hậu hiện đại, tổng quan về mặt triết học 9
1.1.1 Các quan niệm về chủ nghĩa hậu hiện đại 9
1.1.2 Những điều kiện hình thành của chủ nghĩa hậu hiện đại 12
1.2 Chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học 26
1.2.1 Trong văn học thế giới 26
1.2.2 Trong văn học Việt Nam 27
1.3 Sáng tác của Paul Auster 30
1.3.1.Cuộc đời 30
1.3.2 Quá trình sáng tác 32
1.3.3 Paul Auster- cây bút đại diện của các hình thức văn chương hậu hiện đại 33 Chương 2 BẢN CHẤT CỦA ĐỜI SỐNG TRONG SÁNG TÁC CỦA PAUL AUSTER 42
2.1 Yếu tố ngẫu nhiên của đời sống 42
2.1.1 Ngẫu nhiên như là một thuộc tính 42
2.1.2 Đặc tính của cái ngẫu nhiên 48
2.2 Yếu tố bi hài của đời sống 54
2.2.1 Khái niệm bi hài 54
2.2.2 Đặc tính của cái bi hài 55
Trang 62.3 Những giới hạn của đời sống 59
Chương 3 BẢN CHẤT CỦA NGHỆ THUẬT TRONG SÁNG TÁC CỦA PAUL AUSTER 64
3.1 Mối quan hệ giữa hiện thực và hư cấu 64
3.1.1 Thuật ngữ “Hư cấu” và “Siêu hư cấu” 64
3.1.2 Xóa nhòa ranh giới giữa hiện thực và hư cấu 70
3.1.3.Vạch trấn quá trình hư cấu 75
3.2 Mối quan hệ giữa sự viết và diễn giải văn bản 79
3.3 Những giới hạn của nghệ thuật 90
KẾT LUẬN 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
chung và lí luận văn học nói riêng Sự phát triển của văn học nghệ thuật cho thấy sự vận động của tư duy nghệ thuật được thể hiện qua những quan niệm của nhà văn về đời sống và phương thức phản ánh đời sống Có thể nói, qua thế giới nghệ thuật của nhà văn, chúng ta thấy được tư tưởng thẩm mĩ mà nhà văn ấy gửi gắm qua nội dung phản ánh và các thủ pháp phản ánh mà nhà văn
đã lựa chọn Hiểu theo một cách khác thì phản ánh nghệ thuật thực chất là vấn
đề giữa văn học và hiện thực Các nhà lí luận từ Platon, Aristote cho đến Lukacs rồi Caudwell, trong các nghiên cứu về đặc trưng phản ánh nghệ thuật của họ cũng đưa ra rất nhiều quan điểm không giống nhau và còn tiếp tục gây nhiều tranh cãi Câu hỏi đặc trưng của phản ánh nghệ thuật là gì không chỉ là vấn đề của các nhà lí luận mà cũng là thách thức với các nhà sáng tác Nhiều nhà văn đã thông qua sáng tác để nói lên quan niệm của mình về vấn đề lí luận, trong đó nổi bật là Paul Auster Paul Auster, trong các tác phẩm của mình không chỉ nói về vấn đề sáng tác mà còn nói lên những quan điểm về vấn đề lí luận mà cụ thể là vấn đề phản ánh văn học, mối quan hệ giữa đời sống và nghệ thuật Nói theo một cách khác, Paul Auster đã sử dụng sáng tác như một diễn ngôn khác để trình bày vấn đề về lí luận
1.2 Paul Auster được tôn vinh là nhà văn đương đại kiệt xuất nhất Hoa
Kỳ và là nhà văn hậu hiện đại bậc thầy của thế giới Paul Auster sinh ngày 3-1947 tại Newark, New Jersey trong một gia đình Do Thái trung lưu Ông say mê đọc sách từ tấm bé và khao khát sáng tác để trở thành nhà văn Sau khi tốt nghiệp đại học Columbia, ông làm nhiều nghề tự do để kiếm sống và viết các bài nghiên cứu cho các tạp chí Tháng 6-1969, Auster tốt nghiệp cử nhân
Trang 83-ngành tiếng Anh và văn học so sánh Một năm sau, ông hoàn thành chương trình đào tạo thạc sĩ cùng chuyên ngành Thời gian này, Auster bắt đầu viết
các cuốn tiểu thuyết Tại xứ sở của những cái cuối cùng (In the Country of Last Things) và Cung điện mặt trăng (Moon Palace) Năm 1985, Auster thực
sự được độc giả chú ý khi cho in tác phẩm Thành phố thuỷ tinh (City of
Glass) một cuốn tiểu thuyết giả trinh thám mang đậm phong cách hậu hiện
đại Tiếp đó là Những bóng ma (Ghost, 1986) và Căn phòng khoá (The locked Room, 1986) Những tác phẩm này được tập hợp vào năm 1987 thành Bộ ba
New York (The New York Trilogy) Các tác phẩm của ông thể hiện thành
công cuộc sống đa diện của kỉ nguyên hậu hiện đại bằng lối trần thuật mang đậm tính triết học, chuyển tải cái nhìn hài hước, có lúc mỉa mai đầy chua xót
về cuộc đời và con người trong thời kỳ các giá trị vật chất lên ngôi, và tinh thần của nhân loại cùng quẫn vì những tính toán nhỏ nhoi, những tín điều, suy nghĩ thảm hại của những kẻ lắm quyền, lắm tiền và những nỗ lực cay đắng trong tuyệt vọng của những kẻ thấp cổ bé họng hòng tìm vận may trong thế giới của những gã nhà giàu Một cái nhìn mang tính bi quan nhưng không phải không có lý trong một thời kì mà địa vị xã hội của cá nhân dường như đã được khẳng định trật tự Đồng thời, qua các sáng tác của mình, Paul Auster luôn trình bày những quan điểm về lí luận Mà cụ thể là chức năng phản ánh của văn học Ông luôn hoài nghi sứ mệnh của nghệ thuật, theo những quan niệm truyền thống, hoài nghi khả năng phản ánh hiện thực của văn học khi nó
bị gắn với những trách nhiệm cao siêu, những quy ước ý nghĩa tự nó Theo ông, điều đó triệt tiêu nhanh chóng những cội nguồn sáng tạo của cả nghệ sĩ
và cả người đọc Tác phẩm của Paul Auster không phải là nơi trưng bày những bài học đạo đức, những ý nghĩa đời sống hay thế giới tâm hồn nhà văn…như tham vọng của văn học truyền thống, mà là nơi thể hiện những tìm
kiếm không bao giờ ngơi nghỉ Do vậy mối quan hệ giữa nghệ thuật và đời
Trang 9sống trong sáng tác của Paul Auster luôn là mối quan hệ bình đẳng, dân chủ
và không ngừng khám phá lẫn nhau Đây là điểm khác biệt của Paul Auster
so với quan niệm về phản ánh trước đó nói chung và ở Việt Nam nói riêng
Và là lí do mà chúng tôi lựa chọn đề tài “Đời sống và nghệ thuật trong sáng tác của Paul Auster nhìn từ tâm thức hậu hiện đại”
1.3 Đề tài “Đời sống và nghệ thuật trong sáng tác của Paul Auster
nhìn từ tâm thức hậu hiện đại” hướng tới những khảo sát, phân tích ở một
hiện tượng văn học cụ thể để làm rõ mối quan hệ giữa đời sống và nghệ thuật qua lăng kính của một nghệ sĩ bậc thầy của trào lưu văn học hậu hiện đại Sự lựa chọn này, còn có ý nghĩa trong việc nối kết các các vấn đề thuần túy lý thuyết với thực tiễn sáng tạo nghệ thuật của nhà văn Giúp chúng ta có sự so sánh về đặc trưng phản ánh nghệ thuật của các nhà lí luận mác xít phương Tây, nhà lí luận mác xít ở Việt Nam với đặc trưng phản ánh nghệ thuật hậu hiện đại Đồng thời, chúng tôi mong muốn đem lại một cái nhìn thỏa đáng khi tiếp cận chủ nghĩa hậu hiện đại từ góc độ lý thuyết lẫn góc độ thực tiễn
1.4 Nghiên cứu một hiện tượng văn học nước ngoài đồng thời giúp
chúng tôi có những nhìn nhận, đánh giá, đối sánh khi nhìn về nền văn học dân tộc Đặc biệt, những vấn đề của chủ nghĩa hậu hiện đại vẫn đang có tính thời
sự đối với văn học Việt Nam giai đoạn sau đổi mới đến nay Cái đậm đặc trong chủ nghĩa hậu hiện đại của Paul Auster giúp chúng ta hiểu rõ hơn chủ nghĩa hậu hiện đại và dòng chảy văn học thế giới, đồng thời soi sáng văn học Việt Nam
2 Lịch sử vấn đề
Ở Việt Nam, Paul Auster là tác giả tương đối mới nên việc nghiên cứu tiểu thuyết của ông không nhiều Đầu tiên là những bài giới thiệu sách, vài bài cảm nhận trên Internet, hoặc những bài điểm tên tác giả một cách sơ sài trên
Trang 10một số công trình nghiên cứu tổng thể Tuy vậy, nhìn chung, các tác giả đều thừa nhận đây là một đại biểu xuất sắc của văn học hậu hiện đại Mĩ
Năm 2007, Trịnh Lữ bắt đầu dịch ba tiểu thuyết Thành phố thủy tinh,
Những bóng ma, Căn phòng khóa kín trong tập Trần trụi với văn chương (tác
giả luận án dịch là Bộ ba New York để sát nghĩa hơn với tên gốc The New
York Trilogy), cũng năm đó, bản dịch Nhạc đời may rủi ra mắt Cùng với sự
ra đời của mỗi bản dịch, trong phần Lời người dịch, Trịnh Lữ thường có
những trang viết ngắn vừa để giới thiệu sách, chia sẻ những câu chuyện bên
lề, vừa có một số trích dẫn quan trọng ý kiến của giới phê bình Âu - Mĩ mà
ông chắt lọc Trong Trần trụi với văn chương: “Giới phê bình phương Tây gọi New York Trilogy là “tiểu thuyết trinh thám siêu hình”, là “giả tưởng phản
trinh thám”, là “một biến tấu lạ lùng của thể loại trinh thám” “Một hỗn hợp của trinh thám và tân lãng mạn”, “một trò chơi chắp hình bằng thủy tinh” Theo Trịnh Lữ, bộ ba tiểu thuyết này là dạng đặc biệt của trinh thám hậu hiện đại bởi vẫn dùng những yếu tố quen thuộc của tiểu thuyết trinh thám cổ điển, nhưng Paul Auster đồng thời sáng tạo ra những hình thức mới với lối văn
phong hậu hiện đại châm biếm, mỉa mai.Với Người trong bóng tối, dịch giả
quan tâm tới “chất tự sự sâu lắng kết nối rất tự nhiên mọi yếu tố hậu hiện đại vốn có trong tác phẩn của ông: những thực tại song hành, tính chất liên văn bản (đặc biệt là giữa văn học và điện ảnh), cấu trúc phi trung tâm về đề tài và cốt truyện….” [7, tr.8] Dẫu đây chỉ là những lời giới thiệu mang tính chất bao quát nhưng cũng đã cho thấy cái nhìn lưu tâm của dịch giả về bút pháp hậu hiện đại của tiểu thuyết gia
Tạp chí nghiên cứu Văn học số 6/2009 đã đăng tải bài “Paul Auster và
Nhạc đời may rủi” của Lê Huy Bắc Theo tác giả bài báo, tiểu thuyết của Paul
Auster đã thể hiện thành công “cuộc sống đầy đa diện của kỷ nguyên hậu hiện đại bằng lối trần thuật mang đậm tính triết học, chuyển tải cái nhìn hài hước,
Trang 11có lúc mỉa mai đầy chua xót về cuộc đời và con người trong thời kỳ các giá trị vật chất lên ngôi, và tinh thần của nhân loại cùng quẫn….” [21,tr 16] Tác giả được phân tích khá tỉ mỉ, đặc biệt đi sâu vào các lớp ý nghĩa của các biểu tượng “Giống như nhiều tác giả hậu hiện đại khác, hình tượng của Paul Auster cũng mang tính biểu tượng cao Nhân vật không chỉ tồn tại cho chính
họ mà còn cho một quan niệm nhân sinh, quan niệm đạo đức về cuộc đời” [21, tr 19] Paul Auster được khẳng định là nhà văn hậu hiện đại bậc thầy của thế giới
Đáng kể nhất là luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thanh Hiếu, viện khoa học xã hội Việt Nam Trong luận án “Đặc trưng bút pháp hậu hiện đại trong sáng tác của Paul Auster” tác giả đi sâu vào các đặc trưng cơ bản nhất trong bút pháp hậu hiện đại của Paul Auster Từ cách xử lý của tác giả người Mỹ này, người đọc có thể nhận ra một hướng đi khác của chủ nghĩa hậu hiện đại: bên cạnh những tân kỳ, phá cách về kỹ thuật, thủ pháp; hậu hiện đại còn là sự giản dị về mặt hình thức Căn cốt của nó, do vậy, là ở tính chất đặc thù trong cách nhìn, cách khám phá, tri nhận của mỗi nhà văn Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần lý giải sức hấp dẫn của tiểu thuyết Paul Auster, khẳng định vị trí riêng của ông trong văn học Mỹ và văn học hậu hiện đại thế giới, từ đó, có những đối sánh thú vị với một số hiện tượng đáng chú ý trong văn học Việt Nam đương đại
Những thông tin trên cho thấy việc nghiên cứu tiểu thuyết của Paul Auster ở Việt Nam còn ít Mặt khác, trong các nghiên cứu về Paul Auster mặc dù có đề cập đến mối quan hệ giữa đời sống và nghệ thuật nhưng sơ lược Chưa có nghiên cứu nào đề cập đến như một vấn đề cốt lõi của nghiên cứu Vì thế, luận văn của chúng tôi muốn làm rõ hơn mối quan hệ giữa đời sống và nghệ thuật thông qua lăng kính thẩm mĩ của Paul Auster
Trang 123 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Thông qua việc nghiên cứu một số sáng tác của Paul Auster, làm rõ
vấn đề phản ánh đời sống và nghệ thuật trong sáng tác của Paul Auster nhìn
từ tâm thức hậu hiện đại Đây chính là cơ sở để tác giả chọn lựa các chiến lược, thủ pháp phù hợp và cũng là sự phân biệt Paul Auster với các nhà văn hậu hiện đại khác
3.2 Khẳng định bản chất của đời sống trong sáng tác của Paul Auster
không phải là sự sao chụp tự nhiên mà là cái ngẫu nhiên đầy trùng hợp và bất ngờ, cùng với cái hài hước và bi đát của nó
3.3 Khẳng định siêu hư cấu là một đặc trưng nổi bật của Paul Auster
nhằm phơi bày hiện thực Từ đó đề cao vai trò của người đọc trong việc diễn giải văn bản
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn của tác giả tập trung phân tích những đặc điểm nổi bật trong
việc phản ánh đời sống và nghệ thuật của Paul Auster nhìn từ tâm thức hậu hiện đại ở thể loại tiểu thuyết Tác giả chỉ khai thác những đặc trưng chính yếu, như là những chìa khóa quan trọng giúp nhận diện tiểu thuyết Paul Auster trong nền văn chương hậu hiện đại thế giới Đó là cảm quan đời sống với những yếu tố ngẫu nhiên và bi hài cùng với những giới hạn của nó Đó là cảm quan nghệ thuật với mối quan hệ giữa hiện thực và hư cấu, giữa sự viết
và diễn giải
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là những tiểu thuyết của Paul Auster
đã được xuất bản Một số sáng tác của các nhà văn hậu hiện đại tài năng khác
sẽ được tác giả nhắc đến như là những đối sánh để tìm ra các điểm gặp gỡ và khác biệt
Trang 13Tính đến nay, Paul Auster đã xuất bản mười sáu tiểu thuyết Tuy nhiên, cũng như bất kỳ nhà văn vĩ đại nào, không phải tất cả trong số đó đặc sắc Chính vì thế, chúng tôi đã chọn lọc một số tác phẩm nhất định và xem đó là
“phạm vi nghiên cứu trực tiếp” của luận văn Điểm chung của những tiểu
thuyết được lựa chọn xuất phát từ hai lý do: thứ nhất, chúng được các nhà nghiên cứu uy tín đánh giá là các tác phẩm hậu hiện đại xuất sắc; thứ hai, các
dịch giả đã chuyển ngữ số tiểu thuyết này sang tiếng Việt nên công chúng trong nước đã phần nào được thưởng thức tác phẩm của ông
Cụ thể là các tiểu thuyết Thành phố thủy tinh (City of glass), Căn
phòng khóa kín (The locked room), Nhạc đời may rủi (The music of chance), Moon Palace, Người trong bóng tối (Man in the dark)
Các tiểu thuyết khác của nhà văn được phân tích trong mối liên hệ, đối sánh nên mức độ nhìn nhận, đánh giá sẽ mờ nhạt hơn
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp hệ thống - cấu trúc:
Đây là phương pháp đặt đối tượng trong một hệ thống hoặc cấu trúc nhất định để dễ bề nghiên cứu Tác giả sử dụng phương pháp này nhằm xem xét mối quan hệ giữa đời sống và nghệ thuật trong sáng tác của Paul Auster như một bộ phận cấu thành nên nền văn học hậu hiện đạiv ì thế, bút pháp của ông chịu sự chi phối của văn học hậu hiện đại Mỹ và thế giới Đồng thời, luận văn nhận diện những đóng góp riêng, độc đáo của nhà văn như là nét đặc trưng không trộn lẫn
5.2 Phương pháp loại hình:
Phương pháp này gắn liền với sự phân loại Tác giả sử dụng nó nhằm phân loại các chiến lược, thủ pháp nghệ thuật của tác giả cũng như phân loại thời đại văn học mà nhà văn thuộc về mà ở đây, bối cảnh được đề cập là văn học hậu hiện đại Mỹ
Trang 145.3 Phương pháp so sánh
Bởi đề tài nhấn mạnh cái riêng biệt, độc đáo nên việc đối sánh tiểu thuyết của Paul Auster với các bậc tiền bối hiện đại và những đồng nghiệp hậu hiện đại đương thời là một công việc cần thiết Phương pháp này được sử dụng ở tất cả các nội dung nghiên cứu
6 Đóng góp mới của luận văn
Luận văn phân tích những lựa chọn của Paul Auster trong việc tạo dựng một lối đi riêng giữa dòng chảy hậu hiện đại nhiều ngả hướng, từ đó, dễ dàng nhận diện quan niệm về đời sống và nghệ thuật của ông Để làm được điều đó luận văn khảo sát từ tâm thức hậu hiện đại
7 Cấu trúc của đề tài
Chương 1: Khái lược về chủ nghĩa hậu hiện đại và sáng tác Paul Auster
Chương 2: Bản chất của đời sống trong sáng tác của Paul Auster
Chương 3: Bản chất của nghệ thuật trong sáng tác của Paul Auster
Trang 15NỘI DUNG Chương 1 KHÁI LƯỢC VỀ CHỦ NGHĨA HẬU HIỆN ĐẠI VÀ SÁNG TÁC
CỦA PAUL AUSTER
1.1 Chủ nghĩa hậu hiện đại, tổng quan về mặt triết học
1.1.1 Các quan niệm về chủ nghĩa hậu hiện đại
Khái niệm chủ nghĩa hậu hiện đại được xem là một hệ thống lý thuyết được xây dựng ở thời kỳ hậu hiện đại Nó ra đời khi chủ nghĩa hiện đại hết vai trò toàn trị, đã biến thành các “đại tự sự”: Hậu hiện đại là sự hoài nghi đối với các siêu tự sự Nó hiển nhiên là kết quả của sự tiến bộ của các khoa học; nhưng
sự tiến bộ này đến lượt nó lại tiền giả định sự hoài nghi đó tương ứng với sự già cỗi của cơ chế siêu tự sự trong việc hợp thức hoá là sự khủng hoảng của nền triết học siêu hình học, cũng như sự khủng hoảng của thiết chế đại học phụ thuộc vào
nó Chức năng tự sự mất đi các hình thức mang chức năng: các anh hùng lớn, các hiểm họa lớn chuyến tải thành các mục đích lớn Nó tan ra thành từng mảng các yếu tố ngôn ngữ mang tính tự sự, nhưng cũng là tính sở thị, tính chỉ thị, tính miêu tả,v.v… Như vậy, khái niệm chủ nghĩa hậu hiện đại là một khái niệm
mở Vì vậy, ngoài việc xác định lịch sử ra đời của nó, thì một trong những điều quan trọng nữa là phải xác định nội hàm của khái niệm “chủ nghĩa hậu hiện đại” Trong thực tế, đã có rất nhiều quan niệm về chủ nghĩa hậu hiện đại, thậm chí là đối ngược nhau Hiện trạng này do nhiều nguyên nhân khác nhau cùng cộng hưởng lại Thứ nhất, hậu hiện đại không đơn thuần là một trào lưu trong một phạm vi của một lĩnh vực nào đó, mà mỗi ngành lại có một quan niệm riêng về hậu hiện đại, thích ứng với nội dung và tiến trình vận động của nó: “Chủ nghĩa hậu hiện đại là một trào lưu liên ngành, không dựa trên một bản thể luận theo cách hiểu của triết học truyền thống,nói cách khác nó thiếu
Trang 16một cơ sở làm nền tảng cho mọi lý luận” [14, tr.134] Chính vì tính liên ngành, bao quát một phạm vi quá rộng, từ lịch sử đến kinh tế, từ kiến trúc đến văn học, từ “điều kiện” đến “tâm thức”… đã làm cho “hậu hiện đại” trở thành một khái niệm có tính nguyên hợp và “có điều kiện” (trong những hoàn cảnh
cụ thể) Ngay bản thân các tác phẩm của Lyotard cũng chỉ xem xét vấn đề
“điều kiện” hậu hiện đại, chứ không có tham vọng hoàn thiện một hệ lý thuyết trong tính hoàn chỉnh, từ bản thể luận đến nhận thức luận Steven Seidman đã nhận xét, một khi lĩnh vực mà chúng ta quan tâm là gì, thì sẽ tồn tại một cách hiểu hậu hiện đại tương ứng Thứ hai, bản chất của hậu hiện đại là giải khu biệt hoá, giải hợp thức hoá các hệ hình lý thuyết có tính chất đại tự sự Vì vậy,
lý thuyết hậu hiện đại đề cao tính hỗn độn, bất định và phi trung tâm hoá, và
cả mỹ học hậu hiện đại cũng chủ trương giải - thẩm mỹ hoá
Về phương diện triết học: J Lyotard trong công trình Hoàn cảnh hậu hiện đại (1979) coi hậu hiện đại là sự nỗ lực chống lại các “đại tự sự” (tức các
“lý thuyết phổ biến”) của chủ nghĩa duy lý thời Khai Sáng cùng các di sản của
nó H.Foster phân chia ra hai loại chủ nghĩa hậu hiện đại: một loại mang tính tân bảo thủ (theo kiểu nhân văn chủ nghĩa) và một loại mang tính hậu cấu trúc chủ nghĩa, nhưng cả hai loại đều chủ trương triệt tiêu hoặc giải thể chủ thể (1984) Fredric Jameson cho rằng “sự tha hoá của chủ thể” trong chủ nghĩa hiện đại đã được thay thế bằng“sự phân mảnh của chủ thể” trong chủ nghĩa hậu hiện đại ở giai đoạn chủ nghĩa tư bản muộn, hơn thế, đó còn là một “sự phân mảnh mang tính tinh thần phân liệt” (1983-1984) U Eco xem hậu hiện đại “là một phạm trù tinh thần, hoặc tốt hơn, một Kunstwollen - một phương thức thao tác” [1996]
Về phương diện chính trị: Ihab Hassan coi chủ nghĩa hậu hiện đại là một thứ chủ nghĩa hiện đại muộn (còn gọi là chủ nghĩa hiện đại hậu kỳ), mang tính phi lý tính, phi xác định, hỗn loạn, nhưng cũng mang tính nhập
Trang 17cuộc (1971) J Lyotard xem hậu hiện đại là sự đánh mất niềm tin vào các “đại
tự sự”, là sự nỗ lực chống lại các “đại tự sự” (tức các lý thuyết phổ biến), (1979) Giống như J Lyotard, James Kurth cũng coi chủ nghĩa hậu hiện đại trong triết học chính trị là sự bác bỏ các giá trị hiện đại chủ nghĩa của chủ nghĩa duy lý thời Ánh Sáng (2001) L P.Evstigneva và R Evstigneev quan niệm đặc trưng của xã hội hậu hiện đại là tính đối thoại, còn đặc trưng của xã hội công nghiệp hiện đại là độc thoại (2000)…
Về phương diện lịch sử: J Baudrillard xem hậu hiện đại là “thời gian, khi loài người đạt tới sự cáo chung của lịch sử”, đó là thế giới của những sự
mô phỏng và chỉ là mô phỏng mà thôi, trong đó con người không còn phân biệt được giữa hiện thực và mô phỏng (1983) Ông đã coi Công viên Disneyland và truyền hình mới chính là lịch sử hiện thực nước Mỹ, thậm chí, cuộc Chiến tranh vùng Vịnh cũng không hề có thực mà chỉ là một “hiện thực ngoa thực”, hay một “ngoa thực”, một cảnh mô phỏng (hiện thực ảo) giống như một trò chơi video (1995) Ch Jencks gọi hậu hiện đại “là thời đại của sự lựa chọn không ngừng Đó là thời đại không có sự chính thống nào có thể được tiếp nhận…, là một thứ hỗn hợp mang tính chiết trung của bất cứ truyền thống nào với những gì mới qua” G Lipovetsky cho rằng hậu hiện đại là “sự quay trở về với nguồn gốc của con người”…
Về phương diện văn hoá: L Fiedler xem hậu hiện đại chỉ chú trọng đến những nền phản văn hoá mới mang tính phản lý tính (1965) J Lyotard xem hậu hiện đại là giai đoạn mà thân phận của tri thức bị phụ thuộc vào các phương tiện truyền thông đại chúng (1979) Umberto Eco xem hậu hiện đại là
“sự xem xét lại một cách mỉa mai cái điều đã được phát biểu trong một thời đại của sự ngây thơ đã bị đánh mất” (1983) Baudrillard xem văn hoá hậu hiện đại là thế giới của những “vật ngụy tạo” (1995) A.E Chuchin-Rusov xem văn hoá hậu hiện đại là môi trường có thể làm cho con người “vui sướng
Trang 18cảm thấy tự do bay bổng trong “chiều cạnh thứ tư của văn hoá”, không biết đến mọi giới hạn về thời gian và lãnh thổ” (1999) M Epstein xem văn hoá hậu hiện đại là kết quả của sự “phì đại” trên mọi lĩnh vực, tạo ra một không gian văn hoá giả J Collin nhìn nhận văn hoá hậu hiện đại từ góc độ kết hợp văn hoá đại chúng với văn hoá địa phương M Featherstone xem văn hoá hậu hiện đại là văn hoá tiêu thụ được thẩm mỹ hoá D Kellner và S Best xemvăn hoá hậu hiện đại chính là văn hóa kỹ trị…
Về phương diện nghệ thuật (kiến trúc, hội hoạ): R.Veturi đã đề xuất phương châm mới trong kiến trúc: “Ít hơn, tức là nhàm chán” Kiến trúc hậu hiện đại theo ông là “sự phong phú, kỳ quặc, châm biếm và cả sự bối rối của cái thế giới nó chiếm lĩnh và cố gắng thể hiện” Ch Jenks xem kiến trúc hậu hiện đại là một phong trào lai tạp mới, “một sự pha trộn nhiều phong cách”
D Kolb xem kiến trúc hậu hiện đại là một nền nghệ thuật mang tính châm biếm, cho nên cần có một thái độ phê phán nó Ch.Masters xem kiến trúc hậu hiện đại và nghệ thuật tạo hình là sự kết hợp giữa chất liệu hình thức hiện đại với các phong cách và motip quá khứ, mang tính chiết trung Jonathan Glacey xem kiến trúc hậu hiện đại là một phong trào “phát sinh từ việc đào sâu tìm hiểu lịch sử và bối cảnh do các kiến trúc sư khắp nơi thực hiện, họ đã phấn đấu để dung hoà lịch sử và tiền lệ địa phương với đồ án kiến trúc hiện đại” N.Pevsner lại xem kiến trúc hậu hiện đại là phong cách kiến trúc phản duy lý Trong hội hoạ, theo từ điển Microsoft Encata 99, mỹ thuật hậu hiện đại được xem là “chủ nghĩa biểu hiện mới”
1.1.2 Những điều kiện hình thành của chủ nghĩa hậu hiện đại
Điều kiện triết học: Chủ nghĩa hậu hiện đại, khi được hiểu là một phong trào văn hóa xã hội có tính tổng thể, thì có nghĩa nó được khởi nguồn
từ nhiều điều kiện khác nhau Tuy vậy, cần phải hiểu rằng, nó được bắt đầu từ triết học Đây là vấn đề phức tạp nhất, nhưng cũng quan trọng nhất, và nếu
Trang 19không có được cái nhìn tổng thể về nó thì sẽ không bao giờ hình dung và hiểu được về chủ nghĩa hậu hiện đại Xét về hoàn cảnh, chủ nghĩa hậu hiện đại được hình thành khi mà nền triết học Phương Tây đang chịu tác động (chi phối) bởi chủ nghĩa cấu trúc, hiện tượng luận, phân tâm học, chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa thực chứng Xét về mặt tư tưởng, cơ sở của chủ nghĩa hậu hiện đại đến từ nhiều lĩnh vực, từ triết học về ngôn ngữ cho đến triết học về khoa học, từ triết học về nữ quyền cho đến phân tâm học Theo cách hiểu này, chúng
ta có thể tạm phân chia một số khuynh hướng tư tưởng cơ bản sau
Triết học ngôn ngữ: Dõi theo trục lịch đại của sự phát triển xã hội loài người từ góc độ văn hóa (trong nghĩa phổ quát của từ này), chúng ta thấy mỗi thời đại đều xác lập nên những đặc trưng riêng của nó Cái văn cảnh đặc thù bao bọc đời sống lịch sử cụ thể của văn hóa thời đại gồm nhiều thành tố, yếu
tố đan cài, xếp lớp với nhau rất đa dạng và cũng rất phức tạp
Trước đây, sự định dạng hệ hình văn hóa của từng thời đại thường được xem xét từ các điều kiện: học thuyết chính trị, cơ cấu xã hội, sự kiện lịch sử, phát minh khoa học - kỹ thuật, vấn đề tôn giáo, loại hình nghệ thuật… Trong khi đó, ngôn ngữ - cái chứa đựng trong nó gần như toàn bộ đờisống thời đại, vừa là văn cảnh vừa là nội dung của cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng xã hội, mang tính liên kết duy nhất của mọi yếu tố tồn tại, thì chưa thật sự được nhìn nhận đúng và đầy đủ Phải đến chủ nghĩa hiện đại và tiếp theo là chủ nghĩa hậu hiện đại, ngôn ngữ mới từng bước được đặt định đúng vị trí và tầm quan trọng của nó, khi ngôn ngữ trở thành trung tâm nghiên cứu của triết học, phân tâm học và khoa học văn học
Với vai trò là người sáng lập triết học ngôn ngữ (cùng với B Russell), L.Wittgenstein (người Áo, 1889 - 1951) đã thực hiện một bước ngoặt lớn trong triết học phương Tây thế kỷ XX Không nhìn những vấn đề của triết học dưới hai phạm trù cơ bản là vật chất và tinh thần, L.Wittgenstein đã nhìn nhận
Trang 20thế giới dưới các quy tắc và đặc điểm của ngôn ngữ Năm 1953, trong cuốn Truy tầm triết học (xuất bản sau khi tác giả mất), nhà triết học thừa nhận tính
đa chức năng của ngôn ngữ, đồng thời đưa ra khái niệm về “trò chơi ngôn ngữ” Khái niệm này đã biến mọi nhận thức luận của con người, dù là khách quan nhất, đều chỉ là các diễn ngôn của trò chơi ngôn ngữ Thế giới mang diện mạo không phải như cách con người (khách quan) nhìn thấy nó, mà là như cách mà con người (chủ quan) kể về nó Trò chơi là một loạt những ứng
xử đề cao tính sáng tạo cụ thể của người chơi, hơn là truy tầm những quy tắc, cũng như hoài niệm về người sáng tạo ra những quy tắc đó L.Wittgenstein
đã viết: “Vì mọi định nghĩa tổng quát cũng có thể bị hiểu sai Điểm chính ở đây là cách chúng ta chơi trò chơi (Tôi muốn nói trò chơi ngôn ngữ với từ
“trò chơi”)” [15, tr.64] Tầm quan trọng của lý thuyết Wittgenstein đối với nhận thức hậu hiện đại là ở chỗ: “… bằng các nghiên cứu của mình ông đã vạch ra cho trò chơi ngôn ngữ một viễn cảnh hợp thức hóa kiểu khác hơn là kiểu “hiệu quả thực hiện” (performativité) Thế giới hậu hiện đại phải làm việc với viễn tưởng mới này Hoài niệm về truyện kể đã mất nay cũng đã mất
đi nơi bản thân đại bộ phận con người…” [28, tr.163]
Cùng thời với L.Wittgenstein là M Heidegger (người Đức, 1872 - 1970), một người chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi triết học Hiện tượng luận của E Husserl (1859 - 1938) M Heidegger đã có công lao lớn trong việc hình thành Tường giải học hiện đại, bộ môn có nhiều ảnh hưởng sâu sắc đến các nhà hậu hiện đại tên tuổi như R Ingarden, P Ricoeur, H Gadamer Mối quan tâm về tinh thần và bản chất ngôn ngữ trong mối quan hệ với tồn tại đã được M Heidegger xem là một trọng tâm trong nghiên cứu triết học hiện đại Trong công trình nổi tiếng Hữu thể và thời gian (1923), ông đã nhìn thấy những giới hạn của khoa học ngôn ngữ đương thời, một là dùng dằng ở việc “chỉ tiết hợp hiện vật nội thế được nhận biết nơi suy tư lý thuyết và được diễn tả nơi mệnh
Trang 21đề”, hai là sa vào việc xem “kết quả của việc so sánh sâu sắc nhiều ngôn ngữ
xa lạ như có thể” [36,tr.8] Theo M Heidegger, không thể chỉ xem xét ngôn ngữ trong những chức năng thuần ngôn ngữ, vì ẩn trong các hệ thống hình thức có tính ổn định bên ngoài luôn tiềm chứa những thay đổi không thể tiên liệu và sự dịch chuyển nằm sau những cấu trúc ngôn ngữ Có thể thấy, vấn đề đâu là căn nguyên của ngôn ngữ luôn thường trực trong suy tư triết học của
M Heidegger Gần bốn mươi năm sau của sự xuất hiện Hữu thể và thời gian, trong tác phẩmTrên đường đến với ngôn ngữ (1959), M Heidegger đã nhìn thấy ngôn ngữ chính là “Ngôi nhà của Hữu thể” Sử dụng thuật ngữ “hữu thể” của siêu hình học, ông đã “nỗ lực đưa bản chất siêu hình lên bề mặt rồi qua đó chuyển về gắn với các giới hạn của nó” Đây là sự ám chỉ về sự giới hạn của nhận thức, giới hạn này nằm trong chính mối quan hệ giữa ngôn ngữ với hữu thể được lý giải bởi chủ thể Không phải chỉ thuần tuý con người tạo ra ngôn ngữ, mà chính ngôn ngữ cũng đã tạo ra con người Bản chất của ngôn ngữ chính là ở nơi tạo lập đời sống con người, là nơi sáng tạo ra thế giới Tính liên kết giữa ngôn ngữ và tác phẩm văn học chính là sự minh giải hữu thể toàn vẹn nhất, và trung tâm tạo nghĩa cho văn bản chính là người đọc, trong một vòng tròn quyết định luận Sau này, những nhà Tường giải học đã xem tác phẩm văn học (được biểu hiện qua ngôn ngữ) là vật “hai lần có ý hướng” (R Ingarden), do đó, phương thức tồn tại của văn bản chính là hoạt động cụ thể hóa của người đọc Văn bản mới chỉ là ý hướng của tác giả, đóng vai trò tiền
đề cho sự ra đời của tác phẩm văn học
Chủ nghĩa hậu hiện đại bác bỏ các loại diễn ngôn có tính phán quyết và toàn trị, vì vậy nó không thừa nhận các “đại tự sự” mang tính chính thống và bất biến, trong đó có chủ nghĩa cấu trúc Trường phái ngôn ngữ học cấu trúc
là một trong những hướng phát triển lớn của triết học về ngôn ngữ, được xây dựng bởi nhà ngôn ngữ học F de Saussure (người Thụy Sĩ, 1857 - 1931), và
Trang 22được phát triển bởi những người đi sau như C Levi Strauss, T Todorov, G Genette, R Jakobson Chủ nghĩa cấu trúc không truy tìm ý nghĩa của các hệ thống ngôn ngữ từ những hiện tượng trong đời sống, mà “nghĩa của ngôn ngữ mang chức năng của một hệ thống” [2,tr.57] Với chủ nghĩa cấu trúc, quá trình tạo nghĩa của từ gắn với mối quan hệ giữa “cái biểu đạt” và “cái được biểu đạt” Bao giờ cũng vậy, bên cạnh một cái biểu đạt phát ra, thường có một cái được biểu đạt đang tồn tại làm tương ứng Quan hệ giữa cái biểu đạt và vật được biểu đạt mới là võ đoán, chứ không phải giữa cái biểu đạt với cái được biểu đạt Cho nên, “Nghĩa là sản phẩm của một hệ thống biểu tượng mà bản thân nó không có nghĩa” [2, tr.59] Như vậy, “nghĩa” của ngôn ngữ là con đẻ của một quá trình tạo nghĩa, chứ không phải được cấp từ hiện thực bên ngoài, hay chủ ý từ bên trong Chủ nghĩa cấu trúc vừa loại bỏ nguồn gốc vật chất, vừa giải thể thuộc tính tinh thần của ngôn ngữ, vì vậy, chủ nghĩa hậu hiện đại xem nó là một “chủ nghĩa phi lịch sử” trong triết học về ngôn ngữ
Phê phán chủ nghĩa cấu trúc với những nhìn nhận mang tính hình thức, bất biến và siêu hình về ngôn ngữ, đặc biệt là sự quan niệm máy móc về quá trình tạo nghĩa, những nhà hậu cấu trúc như M.Foucault, J.Derrida, T.Eagleton… lại có một cách nhìn khác về ngôn ngữ Những nhà hậu cấu trúc đặc biệt không tin tưởng vào sự tương ứng giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt trong quá trình tạo nghĩa: “Cái biểu đạt không đưa ra cho chúng ta cái được biểu đạt một cách trực tiếp như tấm gương phản ánh hình ảnh: ở đây không có cặp đối xứng nhau một cách hài hoà giữa mức độ của cái biểu đạt và mức độ của cái được biểu đạt trong ngôn ngữ” [24, tr.301] Các nhà hậu cấu trúc tin rằng, nghĩa của ngôn ngữ không bao giờ được xác định từ chính hệ thống của nó, có một cái gì đó luôn vận động và tuôn chảy đằng sau ngôn
ngữ Đi từ cách hiểu trên, năm 1967, R Barthes đã tuyên cáo về “cái chết”
của tác giả, nhằm nỗ lực trả lại tính tự do cho quá trình tạo nghĩa trong hoạt
Trang 23động đọc của người tiếp nhận Từ đó, R Barthes cũng đề xuất bút pháp “độ
không của lối viết”, nhằm tạo ra những khoảng trống, buộc người đọc phải tự
lấp đầy trong khi tiếp nhận Nhìn chung, các nhà hậu cấu trúc, mà cụ thể là những nhà giải cấu trúc như J Derrida vẫn xem văn bản là trung tâm của thế giới (dĩ ngôn vi trung), nhưng văn bản lại là một kết cấu “có tính vẫy gọi”,
một văn bản mở Theo J Derrida, giải cấu trúc “là đảo lộn và thay thế một
trật tự khái niệm, cũng như trật tự phi khái niệm mà trong đó trật tự khái niệm được diễn tả” [15, tr.661] Các nhà hậu cấu trúc vẫn xem ngôn ngữ là
phương tiện giao tiếp xã hội và công cụ nhận thức, nhưng nó lên án sự lạm dụng và áp đặt ngôn ngữ trong một trật tự mang tính đẳng cấp và ưu tiên, biến ngôn ngữ thành những điều dối trá hợp thức, làm “thoái hoá ngôn ngữ” Vì vậy, họ “coi phê phán ngôn ngữ như phê phán văn hóa và văn minh”
Qua những nét chính được nêu trên của lý thuyết triết học về ngôn ngữ, chúng ta có thể thấy mọi nỗ lực của các nhà tiên phong trong lĩnh vực này đều xoayquanh việc mở rộng giới hạn cho những cách hiểu ngôn ngữ, cách cắt nghĩa văn bản, phương thức tạo nghĩa của từ ngữ Chính cơ sở nền tảng chung đó đã tạo tiền đề quan trọng cho sự ra đời chủ nghĩa hậu hiện đại Tường giải học xã hội và triết học lịch sử hậu hiện đại đã khai thác các khía cạnh ngôn ngữ không chỉ để luận chứng, mà để xây dựng những quan điểm của mình về vấn đề tiến bộ
xã hội
Có thể nhận thấy dấu ấn đậm nét của triết học ngôn ngữ của L Wittgenstein, nhất là lý thuyết về “trò chơi ngôn ngữ”, trong triết học của J Lyotard, người được xem là nhà lập thuyết của chủ nghĩa hậu hiện đại Trong công trình Hoàn cảnh hậu hiện đại, J Lyotard đã vận dụng các phạm trù của triết học ngôn ngữ để phân tích xã hội Dựa vào bộ ba Tri thức, Văn hóa và Ngôn ngữ, ông đã đề xuất nhiều khái niệm quan trọng về thời hiện đại và hậu hiện đại, trong đó khái niệm có vị trí trung tâm là “đại tự sự” (siêu tự sự) Nhà
Trang 24triết học đã xem các luận thuyết lớn được xây dựng dưới thời hiện đại là những đại tự sự Thời hiện đại đã dụng công phát triển hệ thống luận thuyết này, nỗ lực tạo nên một sức mạnh toàn trị Có nhiều người đã không hiểu rõ tinh thần triết học của J Lyotard, cho rằng ông chủ trương triệt phá toàn bộ các chủ thuyết mà con người đã tạo dựng nên Cách phân tích triết học của Trương Đăng Dung là hợp lý hơn cả, khi đánh giá về quan điểm của J Lyotard: “ Việc đánh mất niềm tin vào siêu tự sự không phải là sự phê phán mặt này hay mặt kia; không phải là sự phủ nhận siêu tự sự như là khả năng sản xuất, mà là sự bác bỏ niềm tin vào khả năng bao quát tất cả của siêu tự sự Câu trả lời của hậu hiện đại là các siêu tự sự không đáp ứng được những chờ đợi của chúng ta liên quan đến chiến lược tổ chức ý nghĩa thông qua chúng” [36, tr 4]
Đại diện lớn nhất của chủ nghĩa giải cấu trúc là J Derrida Trong tư tưởng, J Derrida không đồng ý với quan điểm về bản chất ngôn ngữ của E
Husserl, “rằng ngôn ngữ chỉ là công cụ để chuyển tải thông điệp” Vì quá
chú trọng đến việc làm cho sự trải nghiệm chủ quan trở thành nghĩa, và hoạt động nhận thức hiện tượng độc lập với ngôn ngữ, Husserl cho rằng “ngôn ngữ chỉ là hệ thống thứ hai”, chỉ là công cụ để chuyển tải thông báo Đối với E
Husserl, “trung tâm nghĩa, bản chất nghĩa đã có trong ý thức của người làm
ra nghĩa” Nhưng theo J Derrida, “ý thức của tác giả không hề có ưu thế tuyệt đối bên trên nghĩa của ngôn từ […] Cái biểu đạt tự nó nói nhiều hơn bất kỳ sự sử dụng nào của tác giả” [36, tr.9] J Derrida cũng đã phê phán lý
thuyết cấu trúc của L Strauss Ông cho rằng quan điểm về tính thống nhất của cấu trúc văn bản của L.Strauss là hoàn toàn nhầm lẫn Bởi vì, trong văn bản không bao giờ tồn tại một dạng thức được định hướng cụ thể và bất biến, cấu trúc là một hệ thống mở và động, gồm nhiều thành tố với những tính chất khác nhau và không được hiểu giống nhau Nó luôn luôn vận động tùy theo
Trang 25hoàn cảnh và người cắt nghĩa, giống như một trò chơi Theo J Derrida, việc phân tích văn bản (dựa vào nguyên tắc giải cấu trúc) là phải chỉ ra tính bất ổn của các lớp nghĩa chứa trong văn bản, chỉ ra những nghĩa bị bỏ sót, những nghĩa bị che khuất Trong quá trình lý giải, cắt nghĩa văn bản, việc để cho nhiều lớp nghĩa trôi qua mà không bị phát hiện, được xem là sự hiển nhiên, và điều này diễn ra không chỉ ở người đọc “đại chúng”, mà ở ngay các nhà phê bình văn học “thông suốt” và ngay chính cả tác giả Do đó, nghĩa không lệ thuộc vào định hướng của tác giả - chủ thể sử dụng ngôn ngữ trong văn bản,
mà lệ thuộc vào sự hiểu của người đọc hay thế hệ người đọc, với hoạt động cụ thể của từng cá nhân trong quá trình tiếp nhận Chẳng hạn, khái niệm “hiện thực” vẫn được xem là đối tượng nhận thức và phản ánh của văn học, nhưng thực ra nó chỉ là “ảo ảnh” của một quá trình chủ quan hóa, từ tác giả - tác phẩm - người đọc Nghĩa là đã trải qua nhiều lần biến đổi, mà mỗi lần như thế lại có nhiều lớp nghĩa được tạo ra về cách hiểu “hiện thực” Điều tương tự cũng diễn ra với các khái niệm khác như đề tài, chủ đề, hình tượng, giọng điệu, điểm nhìn, phong cách nghệ thuật…
Tư tưởng của J Derrida đã được các nhà giải cấu trúc Mỹ (thuộc trường phái Yale) mở rộng Được gợi ý từ quan điểm “tuột nghĩa” khỏi văn bản của J Derrida, Paul de Man cho rằng đặc trưng của ngôn ngữ văn học ẩn
chứa trong “khả năng của sự đọc sai, hiểu sai” Theo chủ ý của ông, ở đây
không phải là sự cố ý xuyên tạc, gán ghép nghĩa một cách tùy tiện trong hoạt động tiếp nhận, mà chính là quá trình tạo nghĩa theo tinh thần hậu cấu trúc, từ
cơ sở văn bản gốc có thể tạo ra vô số nghĩa mới, mà nhà Mỹ học tiếp nhận W Iser gọi là “sự sản sinh” nghĩa của văn bản Điều này cũng liên quan đến khái niệm “tầm đón đợi” (được H.R Jauss đề xuất) và những khái niệm khác như văn cảnh, cách đọc, kinh nghiệm thẩm mỹ, kinh nghiệm sống… Một đóng góp quan trọng khác của Paul de Man cho nghiên cứu văn học hậu hiện đại là
Trang 26“đổi mới chức năng thi pháp” của ngôn ngữ văn học Chức năng thi pháp là khái niệm quan trọng nhất của thuộc tính văn học, do R.Jakobson đề xuất Jakobson cho rằng chức năng thi pháp tồn tại và hoạt động bên trong hệ thống cái biểu đạt Chức năng thi pháp không lệ thuộc vào chức năng thông báo, mà mục đích chính của nó là “thúc đẩy cái khả năng cảm nhận các ký hiệu” trong văn bản Paul de Man phát triển quan điểm của Jakobson, chỉ ra chức năng thi pháp tồn tại ngay trong chính bản chất ngôn ngữ và nhiệm vụ quan trọng của giải cấu trúc là chỉ ra, dưới những dạng thức khác nhau, chức năng thi pháp góp phần quyết định đến đặc thù nghệ thuật của văn học: tư duy trừu tượng - thẩm mĩ Luận điểm này của Paul de Man đã góp phần làm rõ thêm một khía cạnh quan trọng của cảm quan hậu hiện đại trong lý thuyết văn học, đó là “lối viết tiểu luận nhiều ẩn dụ” “Lối viết” này được xem như một hiện tượng trong trong tư duy hậu hiện đại, được gợi ý từ những cơ sở lý thuyết của M Heidegger, khi ông cho rằng ngôn ngữ thơ ca “bằng những liên tưởng ám chỉ
nó khôi phục lại cái ý nghĩa đích thực của “ngôn từ khởi thủy” [67,tr.403] Như vậy, giải cấu trúc đã đem đến một bước phát triển mới cho hoạt động nghiên cứu, phê bình văn học trên tinh thần xây dựng, khi “các nhà phê bình giải cấu trúc phơi bày chân tướng của ngôn ngữ và thế giới trong các tác phẩm mà họ phân tích”
Với phát ngôn nổi tiếng: “Vô thức được cấu trúc như một ngôn ngữ”, J Lacan chưa hẳn đã có được sự thừa nhận của số đông, nhưng chí ít, ông đã buộc người ta phải xem lại những cách hiểu về cấu trúc não bộ, tâm thần bộ
và chức năng tâm lý não bộ đã được diễn giải từ S Freud Một mặt, nó chỉ ra những điều khoa học tâm lý chưa chỉ ra được (khả năng); mặt khác, là những điều không bao giờ chỉ ra được (giới hạn) Quan niệm của Lacan nhắc nhở rằng, ngôn ngữ chỉ có thể dựa vào tính khả năng để mở rộng các giới hạn, làm phong phú thêm sự thông tỏ của mình, chứ không bao giờ đi hết được các giới
Trang 27hạn Cách hiểu mới về vô thức của ông là sự mở rộng giới hạn Men theo những phát hiện của lịch sử phân tâm học, nghệ thuật hiện đại đã thu hoạch được những gì, và đến lượt mình, nghệ thuật hậu hiện đại đã lợi dụng được những gì Đây là vấn đề quá phức tạp và quá khó để nắm bắt được tính tổng thể, nhưng dẫu sao, dựa vào những gợi ý từ quan niệm của J Lacan, văn học hậu hiện đại đã tạo ra những cách diễn đạt mới mà chưa có tiền lệ Để hiểu được quan niệm của Lacan, phải đặt phát ngôn của ông trong tình trạng ngôn ngữ mà con người đã có được và đạt tới được Theo cách hiểu của phân tâm học trước J Lacan thì vô thức là cái gì đó tạp nhạp, mơ hồ, không đầu không cuối, ẩn hiện, dao động… thường xuyên, liên tục trong não bộ con người Nó được ví như “hố thẳm” và hiển thị thông qua các bản năng Như vậy, vô thức
là cái có thực nhưng khó và không diễn tả được hết Văn học hiện đại đã tạo
ra các kỹ thuật viết dựa vào cách hiểu này: dòng ý thức, đồng hiện không thời gian, nhân vật đa nhân cách… Đến lượt mình, J Lacan đã đưa ra cách hiểu riêng về vô thức và được xem là bước ngoặt để nhận biết vô thức Vô thức là một phần tồn tại của hữu thể, chỉ có thể được hiểu như ngôn ngữ và thông qua ngôn ngữ (với các ký hiệu và biểu tượng có tính cảm giác) Bởi lẽ, nếu không diễn đạt được qua ngôn ngữ thì làm sao biết được nó là vô thức Văn học hậu hiện đại đã lợi dụng quan niệm của J Lacan để tạo ra các kỹ thuật: mờ hóa, giải nhân cách hóa, phi thời gian tuyến tính, ngụy tạo nhân vật …
Xuất phát từ những diễn giải của lý thuyết và thực tiễn của chủ nghĩa hậu cấu trúc / giải cấu trúc, của phân tâm học hậu hiện đại, nghiên cứu - phê bình văn học hậu hiện đại đã xây dựng những khái niệm triết - mỹ cơ bản có khả năng thâu tóm được tinh thần văn học hậu hiện đại: Đại tự sự, Cảm quan hậu hiện đại, Liên văn bản, Hiện thực thậm phồn, Bất tín nhận thức, Giải nhân cách hoá, Ngoại biên, Nguỵ tạo, Phi lựa chọn, Tính nhục thể, Thân rễ… Từ những khái niệm cơ bản này, một tập hợp các thủ pháp nghệ thuật được xuất
Trang 28hiện, tạo mối quan hệ hai chiều giữa lý thuyết và sáng tác: Mảnh vỡ, Tương phản xuyên suốt, Giễu nhại, Mặt nạ tác giả, Mã kép, Mờ hóa, Siêu hư cấu, Hoán vị… Tập hợp khái niệm và thủ pháp nghệ thuật này góp phần quyết định tạo nên khuynh hướng văn học hậu hiện đại
Ngôn ngữ nhị phân: Một vấn đề hết sức quan trọng của ngôn ngữ thời
hậu hiện đại mà chúng ta không thể không bàn đến, và nó được xem như sản phẩm của ngôn ngữ hậu hiện đại: ngôn ngữ lập trình máy tính Nhìn từ đỉnh của sự vận động xã hội loài người, thì con người ngày nay đang sống trong một hoàn cảnh văn hóa mới - văn hóa hậu hiện đại Đặc trưng của nền văn hóa này là tính phổ cập và tính tương tác được tính bằng giây, được tạo nên bởi công nghệ điện tử - viễn thông Hạt nhân giao tiếp của công nghệ này là
hệ ngôn ngữ lập trình máy tính, được gọi là “ngôn ngữ nhị phân” Ngôn ngữ
nhị phân trong văn hóa, văn học hậu hiện đại được bắt đầu từ xu hướng “viễn thông hóa”, một quá trình biến đổi quan niệm của con người, dịch chuyển từ
ý niệm về hiện thực khách quan trở thành ý niệm về thực tại ảo Từ chỗ chỉ là những phát minh đơn thuần về khoa học - kỹ thuật, các phương tiện viễn thông đã từng bước lấn át tri thức văn hóa truyền thống, trở thành không gian
và khả tính của văn hóa hậu hiện đại U Eco đã đưa ra nhận thức về “một nền
văn minh được định hướng bởi hình ảnh” đã xuất hiện Nhân loại đang chứng
kiến việc con người đang di cư vào một không gian tồn tại mới: không gian
ảo được kiến tạo từ thế giới mạng Có thể xem các nền văn hóa từ hiện đại trở về trước là nền văn hóa dùng ngôn ngữ ký tự (các bảng mẫu chữ cái), còn văn hóa hậu hiện đại là nền văn hóa được lập trình (với hai ký tự 0-1) Việc nắm rõ quy tắc của ngôn ngữ nhị phân giúp cho con người có khả năng tiếp nhận đầy đủ hơn các biểu giá trị thẩm mỹ đặc thù của văn học hậu hiện đại Chúng ta buộc phải thừa nhận, với sự xuất hiện của ngôn ngữ nhị phân, sự tồn tại của những hình thức nghệ thuật truyền thống, trong đó có văn học, đã
Trang 29bị mờ hóa dần theo thời gian Tác phẩm văn học đã từng bước bị hoán đổi từ trong hình thức: một thế giới ảo, với những nhân vật ảo, những biểu trưng cho những quan niệm và giá trị của con người thực tại, đã được viết nên từ ngôn ngữ nhị phân
Như vậy, khoa nghiên cứu văn học hiện nay đang đứng trước nhiều thử thách trong việc làm mới lý thuyết của nó Thực tiễn sáng tạo văn học đang vận động rất nhanh trong tinh thần hậu hiện đại, và thậm chí còn đi trước cả
lý thuyết Cần phải xem xét và đặt định lại toàn bộ lý thuyết nghiên cứu văn học cũng trong tinh thần hậu hiện đại Công việc này phải được bắt đầu từ gốc, và cái gốc đó chính là triết học ngôn ngữ, ngôn ngữ nhị phân và phân tâm học cấu trúc Điều này nhiều nhà nghiên cứu văn học vẫn chưa ý thức được đầy đủ Bởi vì, chúng ta cần khách quan thừa nhận, rằng một hệ hình văn hoá - nghệ thuật mới đang hình thành Trong những cái làm nên diện mạo của thời đại mới này, thì triết học ngôn ngữ, ngôn ngữ nhị phân và phân tâm học cấu trúc giữ một vai trò có tính quyết định luận Triết học về khoa học và các học thuyết mới về tự nhiên: Có thể nói, tư tưởng của chủ nghĩa hậu hiện đại được hình thành dựa trên hai chân cơ bản, nếu triết học về ngôn ngữ cung cấp một phương thức mới nhằm tiếp cận những giá trị tinh thần (từ ngôn ngữ), thì triết học về khoa học cung cấp những nhận thức luận mới về hiện thực và tự nhiên
Theo Trần Quang Thái trong Chủ nghĩa hậu hiện đại, tư tưởng hậu hiện đại được phát triển trong một bối cảnh các ngành khoa học chứng kiến nhiều phát minh to lớn, đi kèm với nó là các quan niệm và học thuyết mới về khoa học Một số học thuyết mới như Lý thuyết tương đối, Cơ học lượng tử, Định
lý bất toàn, Lý thuyết tai biến, Lý thuyết hỗn độn, Lý thuyết phức hợp, Điều khiển học, Hình học Fractal Trong đó, lý thuyết hỗn độn là học thuyết do Edward Lorentz phát hiện Trong quá trình tính toán đến những sai số trong
Trang 30lĩnh vực dự báo thời tiết, E.Lorentz chứng minh được trong một thời gian dự báo càng dài, thì sai số càng tăng lên Lý thuyết hỗn độn nhìn chung luận thuyết về những nguyên nhân tiểu vi ban đầu trong vận động học, có thể gây nên những hậu quả khôn lường về sau Chính vì thế, “hiệu ứng con bướm” (butterfly effect) chính là một cách biểu trưng hình tượng về sự kết nối từ những sự kiện rất nhỏ có thể dẫn đến những hệ quả lớn lao, khi chỉ một tiếng đập cánh của một con bướm ở tận rừng già Amazon lại có thể gây nên một trận bão ở New York Nhìn chung, bản chất của lý thuyết hỗn độn là nỗ lực chứng giải về sự bất định trong mọi sự vận động của vật chất Tư tưởng này là một trong những tiền đề của lý thuyết văn học hậu hiện đại
Nhìn chung, nếu như triết học về ngôn ngữ đã tạo lập cho nhân sinh quan hậu hiện đại một cách nhìn có tính dân chủ, bao dung về những “cái khác”, “cái ngẫu nhiên”, thì triết học về khoa học đã tạo lập cho thế giới quan hậu hiện đại một cách quan niệm khác về thực tại Thông qua triết học về khoa học và những lý thuyết cơ bản của nó, một thực tại với đầy rẫy những bất định, sự hỗn độn và tương đối đã được xác minh là có thực Điều này đã trực tiếp tác động đến nhận thức, đồng thời gợi mở cho các nhà văn hậu hiện đại cách tiếp cận và trình bày thực tại trong những chiều kích mới
Những điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa - nghệ thuật
Điều kiện kinh tế - xã hội: Nền kinh tế thế giới, sau hai cuộc đại chiến,
đã dần dần hồi phục Tại các nước Phương Tây, kinh tế có những bước phát triển mạnh mẽ, nhờ chiến lược kinh tế hợp lý thông qua chính sách đầu tư tiền tệ, cùng với sự phát triển của khoa học - công nghệ Về phương diện phát triển kinh tế trên quy mô toàn thế giới, tỷ trọng của khối tư bản chủ nghĩa chiếm ưu thế với 3/5 sản xuất công nghiệp và 2/3 thương mại, trong
đó Mỹ dẫn đầu với việc chiếm 1/3 sản xuất công nghiệp của toàn thế giới [44, tr.8]
Trang 31Chính sự phục hồi và phát triển nhanh chóng về kinh tế, mà tập trung chủ yếu ở các nước tư bản phát triển như Mỹ, Đức, Anh, Pháp, Ý, Cannada,
Tây Ban Nha, “đã làm xuất hiện lối sống tiêu dùng đại chúng, mức tiêu
dùng tăng lên, cơ cấu tiêu dùng thay đổi, trên quy mô rộng lớn hơn là sự hình thành xã hội tiêu dùng” [44, tr.9] Nhìn chung, một xã hội hậu công
nghiệp đã được hình thành, với nền văn minh kỹ trị chiếm ưu thế Chủ nghĩa tư bản toàn cầu lúc này đã dần bước sang “chủ nghĩa tư bản muộn” (thuật ngữ của E Mandel) Xét về phương diện xã hội, chủ nghĩa hậu hiện đại hình thành trong giai đoạn “thống trị” của chủ nghĩa tư bản tiêu dùng, nó lấn át, chi phối toàn bộ đời sống xã hội đương đại Những điều này dẫn tới sự bất ổn, đó là hiểm họa luôn luôn lơ lửng không chỉ đối với xã hội mà nó xâm nhập vào hầu hết mọi gia đình, dù là những nước phát triển hay những nước đang phát triển, lạc hậu Những tăng trưởng chóng mặt về kinh tế, mà ưu tiên hàng đầu là kinh tế tiêu thụ, đã thúc đẩy việc tạo ra những hàng hóa mới và sự thay đổi liên tục về hình thức và chất lượng hàng hóa, đã hình thành một lối sống dư dả về vật chất, tạo nên tâm lý hưởng thụ mang tính “toàn cầu” Điều này làm cho quan niệm và nhận thức của con người và cuộc sống ngày càng
bị đơn giản hóa và lệ thuộc, thiếu khả năng ứng phó
Điều kiện văn hóa, nghệ thuật: F.Jameson đã phân tích lịch trình về
sự phát triển của văn học nghệ thuật gắn với ba giai đoạn phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Giai đoạn thứ nhất là chủ nghĩa tư bản thị trường, từ thế kỷ XVIII đến cuối thế kỷ XIX ở Tây Âu và Mỹ cùng các khu vực chịu ảnh hưởng, đặc thù thẩm mỹ của nó gắn với chủ nghĩa hiện thực Giai đoạn thứ hai là chủ nghĩa tư bản độc quyền, từ cuối thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XX, đặc thù thẩm mỹ gắn với chủ nghĩa hiện đại Giai đoạn thứ
ba là chủ nghĩa tư bản đa quốc gia hay là chủ nghĩa tư bản tiêu dùng, đặc thù thẩm mỹ tương ứng với nó là chủ nghĩa hậu hiện đại Nhìn chung, xét về mặt
Trang 32văn hóa, chủ nghĩa hậu hiện đại ra đời trong giai đoạn mà nghệ thuật truyền thống bị chủ nghĩa tiêu dùng lấn át một cách mạnh mẽ Con người ngày càng
bị phụ thuộc vào mối quan hệ giữa bản thân với các giá trị ảo, chứ không phải bởi giá trị của chính mình Do đó, từ trong tâm thức sâu thẳm của nó, con người ngày càng trở nên cô đơn, cái cảm giác đối diện với hư vô ngày càng hiện rõ
1.2 Chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học
1.2.1 Trong văn học thế giới
Lý thuyết văn học hậu hiện đại là lĩnh vực có nhiều quan niệm nhất, ghi nhận nhiều thành tựu, nhưng đồng thời chứng kiến nhiều tư tưởng phức tạp nhất về hậu hiện đại Sở dĩ mỹ học và lý luận văn học có sự phát biểu sôi động về hậu hiện đại, bởi đây là những lĩnh vực có phạm vi nghiên cứu rộng
Do đó, trong quá trình khảo sát đối tượng (văn bản nghệ thuật), các nhà nghiên cứu không thể nào tránh khỏi việc đưa ra những lập luận nhiều khi thiếu đồng thuận Điều này tạo nên sự phong phú, nhưng cũng là sự thách thức trong việc tổng hợp và phân loại các quan niệm L.Hutcheon xem hậu hiện đại là “những khuynh hướng trong nghệ thuật dùng hình thức nhại để trình bày, phản ánh” Bernard Smith quan niệm mỹ học hậu hiện đại là phản ứng chống lại quan điểm mỹ học nghệ thuật vị nghệ thuật, chống lại triệt để tính trừu tượng của mỹ học hiện đại (1945) I Hassan cho rằng chủ nghĩa hậu hiện đại là “một thứ chủ nghĩa hiện đại muộn, phi lý tính, phi xác định, hỗn loạn, nhưng cũng mang tính nhập cuộc” (1971) J Lyotard, coi cái hậu hiện đại trong nghệ thuật là một bộ phận của lý thuyết hậu hiện đại, nằm trong lịch
sử của “phong trào tiên phong” chống lại tính hiện đại theo nghĩa duy lý của thời Khai Sáng Theo ông, hậu hiện đại khước từ về mặt triết học việc biểu hiện sự vật; còn ở bình diện mỹ học đó là sự khước từ âm sắc và hình thể; hậu hiện đại là ý chí tuyệt giao với lý tính và với sự biểu hiện (1979) Năm 1990,
Trang 33K Wales đã đưa mục “chủ nghĩa hậu hiện đại” vào Từ điển phong cách học của mình, xác định khái niệm “hậu hiện đại”: “được đưa ra vào những năm
1960 để miêu tả một khuynh hướng văn học đương thời, tiếp nối chủ nghĩa hiện đại - khuynh hướng phát triển mạnh ở châu Âu và Mỹ trong những năm đầu thế kỷ 20 cho đến những năm 1930 Giống chủ nghĩa hiện đại, chủ nghĩa hậu hiện đại thách thức những quy ước và truyền thống của văn học, nhưng quyết liệt hơn Trong tiểu thuyết của những nhà văn Mỹ như Barth, Nabokov
và Pynchon và những nhà văn Anh như D M Thomas và Fowles, có sự cắt giảm đáng kể hiện thực, tính duy nhất và giải pháp triệt để Viết là sự tự ý thức cao độ, ý thức về bản thân và về độc giả đọc nó” [18, tr.30] Đến năm
1996, Terry Eagleton trong cuốn Dẫn luận lý luận văn học đã nhận xét: “Tác
phẩm nghệ thuật hậu hiện đại điển hình nhất là tùy tiện, đa trị, lai ghép, lệch tâm, dễ thay đổi, ngưng đọng, hệt như một mô phỏng” [18, tr.31]
Trên đây là các quan niệm lý thuyết về bản chất của chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học Thuật ngữ “văn học hậu hiện đại” ngoài nghĩa chỉ thời gian, còn chỉ những sự quy định của các thuộc tính nghệ thuật đối với nó Phần lớn các ý kiến đều nhấn mạnh đến các đặc tính của văn học hậu hiện đại như tính phi lý tính (hoặc phản lý tính), tính phi xác định, phi chủ thể, tính phân mảnh và tính đại chúng Ngoài ra, văn học hậu hiện đại, để tạo nên đặc trưng diện mạo riêng đã sử dụng hàng loạt khái niệm, thuật ngữ (và trong số này nhiều cái được xem như thủ pháp nghệ thuật) trong cách viết, tạo nên những văn bản nghệ thuật chưa từng có trước đó - cả về hình thức và nội dung
- như cảm quan hậu hiện đại, siêu truyện, mặt nạ tác giả, giễu nhại, mã kép, phi lựa chọn, giải nhân cách hoá, bất tín nhận thức, ngoại biên, liên văn bản…
1.2.2 Trong văn học Việt Nam
Văn học hậu hiện đại ở Việt Nam được phát triển trong hoàn cảnh diện mạo riêng, khi nền nghệ thuật hiện đại còn dang dở, khi các kinh điển triết -
Trang 34mỹ về hiện đại và hậu hiện đại thế giới còn chưa được giới thiệu nhiều, tư duy triết học về ngôn ngữ chưa đầy đủ, chính vì vậy, điều kiện về “kiến trúc thượng tầng” cho văn học hậu hiện đại ra đời và vận động phát triển là khá thiếu thốn Bởi vì, dù có kế thừa hay lược bỏ, có quay về hay thoát ly, có phủ định hay tiếp nối, để hiểu và để viết theo hậu hiện đại trước hết vẫn phải dựa
trên nền của nghệ thuật hiện đại Hoàng Ngọc Hiến nhận định: “Chủ nghĩa
hậu hiện đại trước hết là một phản ứng với chủ nghĩa hiện đại, do đó phải tìm hiểu về chủ nghĩa hiện đại thì mới cảm nhận được chủ nghĩa hậu hiện đại”
[143] Chính từ nhu cầu bức thiết trên, nền văn học Việt Nam, theo các nhà nghiên cứu, cần phải tiến hành song hành hai quá trình: vừa hiện đại hóa vừa hậu hiện đại hóa Hiện đại hóa nhằm tạo tiền đề và nền tảng cho việc phát triển văn học hậu hiện đại; mặt khác, hậu hiện đại hóa để bắt kịp với tinh thần, trình độ và không khí chung của thời đại
Như vậy, chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học Việt Nam, nếu có, thì đa phần mới dừng lại ở sự pha trộn và kết hợp giữa những yếu tố hiện đại và hậu hiện đại, trong đó, yếu tố hậu hiện đại giữ vai trò chủ đạo Nói cách khác, chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học Việt Nam là một chủ nghĩa hậu hiện đại mang tính nguyên hợp (syncretism) Nếu không có nền tảng hiện đại và trải nghiệm qua hiện đại, rõ ràng sẽ thiếu đi một cơ sở quan trọng nhằm đến với cái hậu hiện đại một cách bền vững
Có thể nhận thấy đời sống văn học Việt Nam hiện nay có hai xu hướng
đi theo lối hậu hiện đại Một xu hướng kết hợp các thủ pháp hậu hiện đại (giễu nhại, liên văn bản, giải thiêng, cực hạn, huyền ảo, phân mảnh…) với các đặc trưng thể loại truyền thống Đại diện cho khuynh hướng này có thể kể đến
Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương, Hồ Anh Thái, Nguyễn Việt Hà, Châu Diên, Lê Anh Hoài, Đặng Thân, Thuận, Nguyễn Đình Tú…, hoặc xa hơn một chút là Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh… Chủ yếu các sáng tác
Trang 35của khuynh hướng này gắn với thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết Trong đó, truyện ngắn lịch sử và tiểu thuyết lịch sử có một vai trò quan trọng Đây là xu hướng đổi mới không quyết liệt và không “hoàn toàn” hậu hiện đại, không tuyên ngôn sáng tác của mình là tác phẩm hậu hiện đại Tuy nhiên, các sáng tác của khuynh hướng này thực sự là những tác phẩm có giá trị quan trọng trong đời sống văn học Việt Nam đương đại Mặc dù mang lại nhiều thành tựu, nhưng các tác phẩm thuộc xu hướng này mới chỉ dừng lại ở dạng mang
“yếu tố”, “dấu ấn” hậu hiện đại, chứ chưa thể hoàn toàn xem đó là các sáng tác mang đầy đủ diện mạo và bản chất của chủ nghĩa hậu hiện đại Cũng chính bởi lý do này, nên mới có sự tranh luận, nghi ngờ diễn ra thường xuyên
ở những năm qua trong giới phê bình, nghiên cứu văn học Việt Nam về việc phân định và xác định các tác phẩm, tác giả hậu hiện đại
Xu hướng thứ hai là sự đổi mới triệt để, từ hình thức cho đến nội dung theo hướng hậu hiện đại, cách ly hẳn với những truyền thống văn học cũ, đây
là xu hướng hậu hiện đại toàn diện và “có ý thức” Có thể kể đến một số cây bút trong xu hướng này như Khế Iêm, Trần Tuấn, Inrasara, Bùi Chát, Lý Đợi, Phan Bá Thọ, Đặng Thân… Các sáng tác của xu hướng này chủ yếu gắn với thể loại thơ, mà đặc biệt là thơ Tân hình thức, thơ văn xuôi, kịch đường phố, thơ trình diễn… Tuy nhiên, những sáng tác của họ đa phần mới chỉ nằm ở
“ngoại biên” đời sống văn học, dừng lại ở mức những thể nghiệm ban đầu và chưa thực sự được giới nghiên cứu -phê bình văn học đánh giá cao
Trong chỉ hơn hai mươi năm, vừa tiến hành tiếp thu lý thuyết, vừa triển khai ứng dụng vào sáng tác, lại phải vừa tiến hành việc tiếp thu và ứng dụng nhiều hệ hình lý thuyết văn học khác, có thể nói văn học theo xu hướng hậu hiện đại Việt Nam đã có những thành tựu nổi bật, không thể không tính đến trong phê bình nghiên cứu văn học Mặc dầu vẫn còn nhiều tiếng nói e ngại, nhiều cái nhìn phiến diện, những sự rụt rè và hoài nghi về hệ hình lý thuyết văn học này, nhưng không thể phủ nhận rằng, những năm cuối thế kỷ XX và
Trang 36đầu thế kỷ XXI, hậu hiện đại là một trong những tiêu ngữ mang lại nhiều nguồn cảm hứng và sự quan tâm nhất của cả giới sáng tác và nghiên cứu - phê bình văn học ở Việt Nam Dù muốn hay không, nền văn học Việt Nam vẫn không thể chối từ cái khí quyển chung của thời đại, chính vì vậy, dẫu còn nhiều bất cập, nhưng hậu hiện đại vẫn là giai đoạn phát triển mang tính tất yếu trong văn học nước nhà Từ sự nhận thức đó, quá trình dấn bước trên con đường hậu hiện đại, sự phát triển về mặt lý thuyết lẫn sáng tác nhanh hay chậm, bảo tồn bản sắc hay lai căng mất gốc, đổi mới triệt để hay kế thừa cơ bản, lại phụ thuộc vào vai trò của hoạt động nghiên cứu - phê bình văn học
Quá trình tiếp nhận và ứng dụng lý thuyết văn học hậu hiện đại trong phê bình, nghiên cứu văn học Việt Nam những năm qua đã diễn ra một cách sôi động, góp phần quan trọng trong việc phân tích, lý giải, cắt nghĩa để tìm ra những giá trị mới của văn học đương đại Hoạt động này vừa chứng minh cơ
sở thực tiễn sáng tạo, vừa góp phần thúc đẩy sự phát triển văn học Bởi vì, một nền văn học không thể chỉ có lý luận văn học phát triển một cách độc lập,
mà không dựa trên cơ sở thực tiễn đời sống văn học bản địa Mọi tìm hiểu và học hỏi từ phương diện lý thuyết bên ngoài, suy cho cùng cũng chỉ nhằm phục
vụ cho việc thúc đẩy văn học trong nước phát triển Theo quy trình ấy, phê bình, nghiên cứu văn học tất yếu phải là địa hạt quan trọng, nhằm thử thách tính khả dụng của việc tiếp nhận lý thuyết văn học hậu hiện đại vào thực tiễn sáng tác của văn học Việt Nam
1.3 Sáng tác của Paul Auster
1.3.1.Cuộc đời
Paul Auster sinh năm 1947 tại New Jersy, nước Mỹ trong một gia đình
Do Thái trung lưu gốc Ba Lan Ông bà nội của Paul Auster di dân tới Mỹ trong thời gian diễn ra chiến tranh thế giới thứ nhất dẫn đến sự tan rã của đế chế Áo – Hung, buộc những người Do Thái phải di cư sang những vùng lãnh
Trang 37thổ khác bao gồm Mỹ và các nước ở Châu Âu Trong thời điểm này, nước Mỹ
cũng mở cửa cho các làn sóng di cư thông qua “dự án đảo Ellis”[12] Ông và
bà Paul Auster cũng đã nhập cư vào nước Mỹ thông qua dự án này Như vậy, Paul Auster là thế hệ thứ ba trong gia đình Mỹ gốc Do Thái, được nuôi dưỡng
và lớn lên trong môi trường đa văn hóa Mỹ
Chịu ảnh hưởng từ nguồn gốc Do Thái và môi trường văn hóa Mỹ, Paul Auster được xếp vào vị trí đại diện cho một thế hệ đang tiếp nối những truyền thống của văn chương Do Thái - Mỹ Trong dòng mạch văn chương này, Auster đã thể hiện được những đặc điểm cốt lõi trong truyền thống Do Thái như các cây bút đàn anh đi trước đồng thời cũng tự tìm cho mình những nét riêng khu biệt Sự khu biệt này do tính Mỹ trong môi trường sống của ông cùng những ảnh hưởng của văn hóa Pháp mà ông có thời gian gắn bó
Sau khi tốt nghiệp Đại học Columbia vào năm 1970, Paul Auster tới Pháp sinh sống bằng nghề dịch thuật, phê bình và viết tiểu luận để kiếm sống Sau đó, ông trở về Mỹ vào năm 1974, tiếp tục công việc gắn bó với dịch thuật, phê bình và viết kịch bản
Trong đời sống tri thức Pháp thời điểm mà Auster sang sinh sống,
những chuyển mình của “hoàn cảnh hậu hiện đại” đã khiến các tư tưởng triết
học và văn học có sự thay đổi lớn Sự giao lưu tiếp xúc với văn chương Pháp
đã giúp Paul Auster thấm nhuần các tư tưởng hậu hiện đại Ông tiếp nhận những thành tựu lớn của văn hóa Pháp để hình thành nên trường kiến thức của mình để rồi vận dụng nó vào trong những sáng tác về sau này
Sự ảnh hưởng của nền văn hóa – văn học Pháp cũng giúp Paul Auster trở thành một đại diện lớn của văn chương hậu hiện đại Những dấu vết về mặt tư tưởng và các hình thức của văn học hậu hiện đại có thể dễ dàng tìm thấy trong các sáng tác của ông
Trang 38Bên cạnh những nhà văn Mỹ đi trước, trong những tác phẩm hậu hiện đại của Paul Auster, người ta cũng tìm thấy những sự ảnh hưởng từ cây bút viết kịch và tiểu thuyết Châu Âu, Samuel Beckett, người ông từng gặp ở Paris Paul Auster cũng được biết đến như là người chịu ảnh hưởng mạnh mẽ nhất bởi phân tâm học Jacques Lacan và thuyết tiên nghiệm của Henry David Thoreau
1.3.2 Quá trình sáng tác
Năm 1974, từ Pháp trở về Mỹ, Paul Auster bắt tay vào việc viết Sự
sáng chế cô đơn (The Invention of Solitude, 1982) là tác phẩm thành công
đầu tay của ông nhung chưa thực sự tạo nên một tiếng vang lớn Đến năm
1985, sau khi lần luợt bị bảy nhà xuất bản từ chối, Thành phố thủy tinh (City
of glass) đã xuất hiện trên văn đàn Mỹ và nhận đuợc sự tiếp nhận nồng nhiệt
của công chúng Sau đó, năm 1986, ông xuất bản cuốn Những bóng ma (Ghosts) và năm 1987 là Căn phòng khóa kín (The locked room) Cả ba cuốn trên đuợc tác giả tập hợp in chung với tiêu đề The NewYork trilogy vào năm
1987 (dịch giả Trịnh Lữ dịch sang tiếng Việt và in chung trong Trần trụi với
văn chương)
Cho đến nay, Paul Auster đã xuất bản muời ba tiểu thuyết bao gồm
Trần trụi với văn chương (The NewYork trilogy, 1985-1987), Trong xứ sở của những điều cuối cùng (In the country of last things, 1988), Nguyệt đài
(Moon palace, 1989), Nhạc đời may rủi (The music of chance, 1991),
Levithan (Levithan, 1992), Vùng xa (Timbuktu, 1999), Ngài Vertigo
(Mr.Vertigo, 1999), Cuốn sách về những ảo giác (The book of illusions, 2002), Đêm đền thiêng (Oracle night, 2003), Những hành động điên cuồng ở
Brooklyn (The Brooklyn follies, 2005), Cuộc du hành trong phòng văn
(Travel in the scriptorium, 2007), Người trong bóng tối (Man in the dark, 2008) và Vô hình (Invisible, 2009) Ông còn có hồi kí và tự truyện: Nghệ
Trang 39thuật của khao khát (The Art of hunger), Sự sáng chế cô đơn (The invention
of solitude, 1982), Cuốn vở đỏ (The red notebook, 1995), Vừa đủ (Hand to mouth, 1997); năm kịch bản phim: Nhạc đời may rủi (The music of chance, 1993), Khói (Smoke, 1995), Tuyệt vọng (Blue in the face, 1995), Lulu trên
cầu (Lulu on the bridge, 1998) và Góc khuất nội tâm của Martin Frost (The
inner life of Martin Frost, 2007) Ngoài ra, ông còn có năm tác phẩm dịch thuật, một tập thơ và nhiều tiểu luận văn học
Paul Auster đã nhận đuợc nhiều giải thuởng văn học danh tiếng, trong
đó, có Prince Asturias của Tây Ban Nha vào tháng 10 năm 2006 Hiện nay ông đang là phó chủ tịch trung tâm Pen của Mỹ và sống cùng với vợ (Siri Hustvedt, cũng là một nhà văn nổi tiếng ở Mỹ) và con gái (Sophie Auster) tại Brooklyn, NewYork
1.3.3 Paul Auster- cây bút đại diện của các hình thức văn chương hậu hiện đại
Paul Auster được đánh giá là nhà văn bậc thầy của văn học hậu hiện đại Mĩ Trong cuốn sách của Aliki Varvogli tạm dịch là Tiểu thuyết của Paul Auster, tác giả trình bày ba nội dung chính: sự kế thừa của Paul Auster từ các nhà văn tiền bối; những sáng tạo riêng và yếu tố hiện thực trong tiểu thuyết của ông Ngay từ đầu, nhà nghiên cứu đã đánh giá Paul Auster là một nhà văn hậu hiện đại tiêu biểu, đích xác: “Có nhiều yếu tố lý giải vị trí riêng của Auster trong nền văn học Mỹ Tiểu thuyết của ông khó xếp loại vì vay mượn
từ nhiều truyền thống, và tham dự, chứ không lệ thuộc vào nhiều trường phái viết lách Tiểu thuyết kết hợp các yếu tố siêu hư cấu với các yếu tố hiện thực của thế giới đương đại Việc công khai bản chất của sáng tạo và đánh đổ quan niệm truyền thống về nghệ thuật kể chuyện không tách rời với những vấn đề của đời sống đô thị, lịch sử phương Tây, chủ nghĩa tư bản, tính chất độc tài của đồng tiền và vị trí của nhà văn trong xã hội” [19, tr.2] Tiểu thuyết của nhà văn Mỹ này được xem là một bản đầy đủ nhưng ám chỉ và chịu ảnh
Trang 40hưởng của những nhà văn truớc đó như F Kafka, S.Beckett, N.Hawthome, H.D Thoreau “Auster đã có sự gặp gỡ với các tác giả đi trước về nhiều mối quan tâm, từ việc khảo sát ngôn ngữ và mối quan hệ của nó với hiện thực đến những vấn đề về nhân dạng, nỗi cô đơn, sự sáng tạo nghệ thuật [19, tr.22] Bằng cách đưa nhiều tác giả xuất hiện trong tiểu thuyết của mình Paul Auster thay đổi tầm quan trọng ra khỏi một tác giả cụ thể trong quá khứ vốn được xem là chỗ dựa, ra khỏi sự chắc chắn, hướng tới hành trình tim kiếm những gì
được xem là cội rễ của hư cấu, của văn bản Đặc biệt, Bộ ba New York “ có
tính biểu trưng sâu sắc nhất trong sáng tác của Auster; đọc nó như đọc một
catalogue những nhà văn mà Auster ngưỡng mộ, những người đã giúp ông
hình thành nên tâm thức của bản thân mình” [19, tr6] Những tiểu thuyết về sau, tính biểu trưng có giảm dần, nhưng sự hiện diện của các nhà văn và các tác phẩm khác vẫn còn là một nỗi ám ánh đối với chúng Có thể nói, Paul Auster không ngần ngại đối thoại với những người tiền nhiệm và đây là là hệ quả của chiến lược liên văn bản trong hầu khắp các tiểu thuyết “Chiến lược liên văn bản của Paul Auster làm suy yếu quan niệm truyền thống về quyền năng của tác giả” [19, tr.18], từ đó, xóa mở đường biên giữa các yếu tố trong
và ngoài văn bản, một mối quan hệ mà các nghiên cứu cũ cố công phân tách Aliki cũng đã chỉ ra sự phong phú của bút pháp hậu hiện đại ở Paul Auster:
những tiểu thuyết như Bộ ba New York, Moon Palace, Leviathan có kết cấu phức tạp, rắc rối thì Đất nước của những điều cuối cùng, Nhạc đời may rủi lại
hướng tới sự tinh giản, ông gọi đó là lối kể chuyện tước lược khung truyện (“bare bone narratives”) Một vấn đề mà cuốn sách khá quan tâm là cái ngẫu nhiên: “Sự may rủi và cái ngẫu nhiên đóng một vai trò quan trọng trong tất cả tiểu thuyết của Auster” [19, tr.126], từ đó, cảm giác bất định, một biểu hiện của nhận thức luận cũng như bản thể luận thiếu chẳc chắn được nhà văn nhấn mạnh triệt để Cốt truyện chủ yếu dựa vào sự trùng hợp ngẫu nhiên, cho nên,