Đầu tư quốc tế nói chung và đầu tư trực tiếp nước ngoài( FDI) nói riêng là xu thế tất yếu đối với mọi quốc gia trong quá trình phát triển. Đầu tư trực tiếp nước ngoài làm xuất hiện một thực thể kinh tế mới trong nền kinh tế, là một bộ phận hữu cơ của mỗi quốc gia. Trên thực tế khu vực có vồn đầu tư nước ngoài luôn có những lợi thế về tiềm năng vốn lớn, công nghệ tiên tiến, hiện đại, kinh nghiệm và trình độ quản lý, quản trị tiên tiến…Khu vực này luôn có điều kiện để trở thành “ đầu tàu”trong phát triển và thúc đẩy sự phát triển các vùng, các địa phương khác trong nước tiếp nhận; đồng thời thúc đẩy sự hội nhập của các vùng trong nước và tăng cường quan hệ kinh tế của quốc gia với các nước trong khu vực và thế giới.
Trang 1MỤC LỤC
Trang
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA
ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐẾN ĐẢM
1.1 Những vấn đề chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài và đảm
1.2 Quan niệm, nội dung tác động của đầu tư trực tiếp nước
Chương 2 THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC
TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐẾN ĐẢM BẢO AN NINH
2.1 Tổng quan về đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Hải phòng 392.2 Đánh giá tác động tích cực và tiêu cực của FDI đến đảm
2.3 Nguyên nhân của những tác động tiêu cực và những vấn đề
Chương 3 QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
NHẰM PHÁT HUY TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC, HẠN CHẾ TIÊU CỰC CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐẾN ĐẢM BẢO AN NINH QUỐC GIA Ở THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG TRONG THỜI GIAN TỚI 61
3.2 Một số giải pháp chủ yếu phát huy những tác động tíchcực, hạn chế tác động tiêu cực của đầu tư trực tiếp nướcngoài đến đảm bảo an ninh quốc gia ở Thành phố Hải
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đầu tư quốc tế nói chung và đầu tư trực tiếp nước ngoài( FDI) nói riêng
là xu thế tất yếu đối với mọi quốc gia trong quá trình phát triển Đầu tư trựctiếp nước ngoài làm xuất hiện một thực thể kinh tế mới trong nền kinh tế, làmột bộ phận hữu cơ của mỗi quốc gia Trên thực tế khu vực có vồn đầu tưnước ngoài luôn có những lợi thế về tiềm năng vốn lớn, công nghệ tiên tiến,hiện đại, kinh nghiệm và trình độ quản lý, quản trị tiên tiến…Khu vực nàyluôn có điều kiện để trở thành “ đầu tàu”trong phát triển và thúc đẩy sự pháttriển các vùng, các địa phương khác trong nước tiếp nhận; đồng thời thúc đẩy
sự hội nhập của các vùng trong nước và tăng cường quan hệ kinh tế của quốcgia với các nước trong khu vực và thế giới
Tuy nhiên, khi xuất hiện khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, hàng loạtquan hệ mới xuất hiện và do đó có nhiều vấn đề kinh tế xã hội nảy sinh đòi
hỏi phải giải quyết Để FDI thực sự đóng vai trò không thể thiếu trong quá trình Công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) theo định hướng Xã hội chủ nghĩa (XHCN) thì vấn đề đảm bảo an ninh quốc gia trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng đặt ra nhiều thách thức Đầu tư trực tiếp nước ngoài luôn có tính hai mặt, tích cực và tiêu cực Một trong những tiêu cực là việc các thế lực thù địch lợi dụng lĩnh vực này để thực hiện các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia (ANQG) như cài cắm gián điệp, thu thập tin tức tình báo, lấy cắp bí mật nhà nước; tổ chức các hoạt động chống, phá chính quyền nhân dân; tuyên truyền phá hoại tư tưởng; phá hoại các chính sách kinh tế quan trọng của Đảng và Nhà nước, xâm phạm lợi ích, chủ quyền quốc gia, dân tộc, dùng kinh tế để chuyển hoá chính trị với âm mưu xoá bỏ chế độ Xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Hải Phòng là một trong những địa phương trong cả nước thu hút đầu tư
Trang 3trực tiếp nước ngoài có hiệu quả Tính đến tháng 6/2015 trên địa bàn Thànhphố Hải phòng có 425 dự án FDI còn hiệu lực, với tổng vốn đầu tư đăng ký
là 10.293,45 triệu USD
Thời gian tới, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài của Thành phố HảiPhòng sẽ có bước phát triển mới Âm mưu của các thế lực thù địch khôngthay đổi Vì vậy, công tác đảm bảo an ninh lĩnh vực đầu tư trực tiếp nướcngoài sẽ có những diễn biến phức tạp khó lường Tình hình đó đặt ra choThành ủy, UBND, Công an thành phố Hải Phòng và các cơ quan chức năngphải có những giải pháp đồng bộ, có tính chiến lược hơn để nâng cao hiệu quảcông tác phòng ngừa và đấu tranh cũng như phát huy tác động tích cực hạnchế tác động tiêu cực của FDI đến đảm bảo an ninh quốc gia trên địa bànThành phố
Từ sự phân tích trên đây cho thấy việc nghiên cứu đề tài “Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến đảm bảo an ninh quốc gia ở thành phố Hải Phòng hiện nay” là rất cần thiết cả về lý luận và thực tiễn.
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
FDI và tác động của nó đến an ninh quốc gia hiện nay là một vấn đề lớn vàphức tạp, đã có rất nhiều công trình khoa học, nhiều bài báo đề cập đến vấn đề này,trong đó liên quan trực tiếp đến đề tài có các công trình đáng chú ý sau:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài với công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa
ở Việt Nam của tiến sĩ Nguyễn Trọng Xuân, nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà
Nội 2002 Công trình đã tập trung làm rõ bản chất của FDI, thực trạng thu hút sửdụng FDI ở Việt Nam và vai trò của FDI đối với sự nghiệp CNH, HĐH ở ViệtNam Trong đó, tác giả khẳng định vai trò to lớn của FDI trong việc nâng caochất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu CNH,HĐH ở nước ta Trên cơ sở
đó, tác giả đưa ra một số quan điểm và giải pháp về thu hút FDI nhằm phục vụcho công cuộc CNH, HĐH ở nước ta trong thời gian tới
Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong nền kinh tế thị trường
Trang 4định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam do PGS.TSKH Nguyễn Bích Đạt chủ
biên Công trình này đã phân tích rõ bản chất, vai trò của khu vực kinh tế có vốnđầu tư nước ngoài, các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động của khu vực kinh tế cóvốn đầu tư nước ngoài, kinh nghiệm của một số nước trong thu hút, sử dụng đầu
tư nước ngoài Trên cơ sở đánh giá những thành tựu, hạn chế, tác động của khuvực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đối với nền kinh tế nước ta, công trình đãđưa ra những quan điểm cơ bản về sử dụng khu vực kinh tế có vốn đầu tư nướcngoài và các định hướng, giải pháp đối với khu vực này trong những năm tới
Các hình thức Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam - Chính sách và thực tiễn của PGS.TS Phùng Xuân Nhạ chủ biên, xuất bản năm 2007 Công trình được xây dựng trên cơ sở kết quả đề tài khoa học“Các hình thức Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam” của Đại học quốc gia Hà Nội Nội dung cơ
bản của cuốn sách bao hàm cơ sở lý luận và thực tiễn của việc lựa chọn cáchình thức của FDI ở Việt Nam, các hình thức FDI theo Luật đầu tư ở ViệtNam Đồng thời, đánh giá thực trạng các hình thức FDI ở Việt Nam và các đềxuất, khuyến nghị chính sách đối với từng hình thức FDI ở Việt Nam tronggiai đoạn hiện nay
Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam- Thực trạng và giải pháp của
Trần Xuân Tùng, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2005
Công trình này đã phân tích được bản chất, xu thế vận động của đầu tưtrực tiếp nước ngoài cũng như vai trò của nó đối với quá trình phát triển kinh
tế nước ta trong quá trình đổi mới, nêu được những thành tựu và hạn chế củaviệc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam; đồng thời đưa ra đượcmột số giải pháp cơ bản nhằm huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn vốnđầu tư trực tiếp nước ngoài
Báo cáo tổng hợp “Hỗ trợ nghiên cứu cơ chế chính sách thu hút vốn FDI vào đầu tư bảo vệ môi trường góp phần thay thế vốn ODA sau này” của
Vụ Khoa học - Giáo dục Tài nguyên và Môi trường - Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Trang 5công bố năm 2011 Báo cáo nêu lên sự cần thiết thu hút vốn FDI vào đầu tưbảo vệ môi trường góp phần thay thế vốn ODA, đồng thời đề xuất một số gợi
ý về cơ chế chính sách nhằm tăng cường thu hút vốn FDI vào đầu tư bảo vệmôi trường, góp phần đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư cho lĩnh vực này trong bốicảnh mới của dòng vốn ODA vào Việt Nam từ sau năm 2010
Dưới dạng luận văn, luận án có các công trình:
Sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước với sự nghiệp phát triển kinh tế và củng cố quốc phòng ở Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, của
tác giả Đặng Đức Quy, luận án Tiến sĩ quân sự, bảo vệ tại Học viện Chính trịnăm 2000 Công trình này đã phân tích những tác động của việc sử dụng cáchình thức của chủ nghĩa tư bản nhà nước (trong đó đặc biệt là hình thức đầu tưtrực tiếp nước ngoài) đối với công cuộc phát triển kinh tế và củng cố quốcphòng, cũng như những vấn đề nảy sinh cần khắc phục Qua đó, đề xuất nhữnggiải pháp phù hợp nhằm phát huy tác dụng của những hình thức này trong pháttriển kinh tế và củng cố quốc phòng ở nước ta
Mặt trái của đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, tác giả Nguyễn
Thị Thoa, luận văn Thạc sĩ kinh tế Chính trị, bảo vệ tại trường Đại học Kinh tế
- Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2008 Luận văn đã trình bày những mặt tráicủa đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam hiện nay đồng thời tác giả đã đưa
ra các giải pháp cơ bản khắc phục, nâng cao hiệu quả của hoạt động đầu tư trựctiếp nước ngoài trong thời gian tới
Đầu tư trực tiếp nước ngoài và ảnh hưởng của nó với củng cố quốc phòng ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào hiện nay của tác giả Vi Nít San
Say, luận văn thạc sĩ kinh tế chính trị - 2002 / Học viện chính trị Bộ quốcphòng Luận văn đã nêu nên những ảnh hưởng của FDI đến quốc phòng ởCHDCND Lào và đề xuất những quan điểm giải pháp phù hợp nhằm củng cốquốc phòng ở CHDCND Lào trong thời gian tới
Trang 6Phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam của tác giả Phí Thị Lan Phương, luận văn thạc sĩ
kinh tế, bảo vệ tại trường Đại học Kinh tế quốc dân năm 2007 Công trình này
đã khái quát hóa một số vấn đề lý luận về thành phần kinh tế có vốn đầu tưnước ngoài, phân tích tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đến phát triểnkinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và thực trạng phát triển thành phần kinh tếnày trong thời gian qua ở Việt Nam Trên cơ sở đó, đề xuất một số quan điểm,giải pháp nhằm phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở nước ta trongđiều kiện hội nhập kinh tế quốc tế thời gian tới
Tác động của toàn cầu hóa đối với dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam của tác giả Đỗ Hoàng Long, luận án tiến sĩ kinh tế, bảo
vệ tại trường Đại học Kinh tế quốc dân năm 2008 Công trình đã khái quátlịch sử, cơ sở lý luận hình thành hoạt động đầu tư nước ngoài trên quy môtoàn thế giới Nêu rõ vai trò, ý nghĩa của đầu tư nước ngoài đối với quá trìnhtăng trưởng kinh tế của Việt Nam, đánh giá hiệu quả nguồn vốn FDI ở nước
ta trong những năm qua Đồng thời, chỉ rõ xu hướng của sự phát triển về đầu
tư trên thế giới ảnh hưởng tới nước ta và đề xuất những giải pháp nhằm thuhút FDI vào Việt Nam trong điều kiện toàn cầu hóa thời gian tới
Kỷ yếu hội nghị 25 năm đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam của
Bộ Kế hoạch và Đầu tư, công bố tháng 3 năm 2013 Công trình tổng hợp bàiviết của các Bộ, Ngành, địa phương và các chuyên gia nước ngoài đánh giákhái quát chặng đường 25 năm thu hút FDI ở Việt Nam Công trình đã chỉ rõnhững thay đổi về cơ chế, chính sách nhằm thu hút FDI, những thành tựu, hạnchế trong thu hút, sử dụng FDI ở nước ta nói chung và từng địa phương nói riêngtrong những năm qua Trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp đẩy mạnh thu hút
và sử dụng có hiệu quả FDI ở nước ta trong thời gian tới
Dưới dạng báo, tham luận khoa học có nhiều bài viết tiêu biểu như:
Trang 7Phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài - Vấn đề đặt ra và một số giải pháp của tác giả Trần Văn Lợi, đăng trên tạp chí Cộng sản số 14/2006 đã
phân tích ảnh hưởng tích cực của vốn đầu tư nước ngoài đến chuyển dịch cơcấu kinh tế, thực hiện CNH, HĐH phát triển lực lượng sản xuất và những mặttrái của nó như mất cân đối vốn đầu tư giữa các vùng, lãnh thổ, ngành kinh tế,gây ô nhiễm môi trường và nguy cơ tiếp cận công nghệ lạc hậu, từ đó kiếnnghị một số giải pháp phát huy tác động tích cực, hạn chế tiêu cực trong quátrình phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở nước ta
Tổng kết 20 năm Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam của tác giả Phan
Hữu Thắng, Tạp chí Kinh tế và Dự báo số 1/2008, đã khái quát kết quả thu hútFDI ở Việt Nam trong 20 năm (1988 - 2008) Từ đó đánh giá tác động của đầu tưnước ngoài trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, môi trường, đồng thời nêu lên nhữngvấn đề có tính định hướng thu hút đầu tư nước ngoài ở nước ta trong thời gian tới
Ngoài ra, có thể tìm thấy nhiều bài viết đăng tải những ý kiến, nhậnđịnh của các chuyên gia, các lãnh đạo, những số liệu thực tế, những chínhsách về FDI trên những trang web của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ủy bannhân dân, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Lao động và Thương binh Xã hộithành phố Hải Phòng với những tiêu đề phong phú, đa dạng Đây thực sự
là những tài liệu quan trọng cung cấp lượng thông tin lớn, tính cập nhậtcao và ý tưởng mới cho tác giả trong quá trình nghiên cứu
Các công trình trên đây đã tiếp cận, nghiên cứu vấn đề dưới nhiều góc
độ khác nhau, cung cấp cho tác giả những nhận thức chung, toàn diện lý luận
về FDI cũng như những tác động của hoạt động này đến đảm bảo an ninhquốc gia ở Việt Nam, nhiều tài liệu cần thiết được kế thừa trực tiếp trong quátrình viết luận văn Tuy nhiên, vấn đề tác động của FDI đến đảm bảo an ninhquốc gia ở thành phố Hải Phòng hiện nay thì chưa có một công trình nàonghiên cứu toàn diện, hệ thống, nhất là trên góc độ một luận văn thạc sĩ kinh
tế chính trị
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Trang 8* Mục đích nghiên cứu
Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn tác động của đầu tư trực tiếp nướcngoài đến đảm bảo an ninh quốc gia ở thành phố Hải Phòng, trên cơ sở đó đềxuất quan điểm và giải pháp phát huy tác động tích cực, hạn chế tác động tiêucực của FDI đến đảm bảo an ninh quốc gia trên địa bàn thành phố Hải Phòngtrong thời gian tới
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đếnđảm bảo an ninh quốc gia ở thành phố Hải Phòng
- Phân tích thực trạng tác động của FDI đến đảm bảo an ninh quốc gia
ở Hải Phòng
- Đề xuất quan điểm và giải pháp phát huy tác động tích cực và hạn chế tácđộng tiêu cực đến đảm bảo an ninh quốc gia trên địa bàn thành phố Hải Phòng
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Đối tượng nghiên cứu
Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến đảm bảo an ninh quốc giadưới góc nhìn của khoa học kinh tế chính trị
* Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Nghiên cứu FDI trên phương diện những tác động của nóđến đảm bảo an ninh quốc gia
- Về không gian: Thành phố Hải Phòng
- Về thời gian: Từ tháng 11/2005 đến nay ( khi Quốc hội thông qua luật đầu tư)
5 Phương pháp luận và nghiên cứu đề tài
Trang 9Đề tài sử dụng tổng hợp hệ thống phương pháp nghiên cứu, bao gồm:
Hệ phương pháp nghiên cứu nền tảng là phương pháp duy vật biệnchứng và phương pháp duy vật lịch sử
Phương pháp nghiên cứu đặc thù của kinh tế chính trị cùng các phươngpháp phân tích, thống kê, so sánh, hệ thống hóa, khái quát hóa
Phương pháp chuyên gia
6 Ý nghĩa của đề tài
* Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thựctiễn tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến đảm bảo an ninh quốc gia ởthành phố Hải phòng , cung cấp những luận cứ khoa học giúp cho việc xácđịnh chủ trương, biện pháp phù hợp đảm bảo an ninh quốc gia trong lĩnh vựcđầu tư trực tiếp nước ngoài
* Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảocho việc nghiên cứu, giảng dạy môn kinh tế chính trị liên quan đến vấn đề đầu
tư trực tiếp nước ngoài và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
7 Kết cấu của đề tài
Luận văn gồm phần mở đầu, 3 chương (7 tiết), kết luận, danh mục tàiliệu tham khảo
Trang 10Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ
TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐẾN ĐẢM BẢO AN NINH QUỐC GIA 1.1 Những vấn đề chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài và đảm bảo
an ninh quốc gia
1.1.1.Những vấn đề chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài
* Quan niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài
Tiếp cận vấn đề từ cấp độ khái quát nhất, có thể hiểu đầu tư trực tiếpnước ngoài là hình thức đầu tư do công dân của một nước nào đó trực tiếpđem vốn vào đầu tư kinh doanh ở một nước khác thông qua các hình thứckhác nhau nhằm thu lợi nhuận bằng việc tận dụng các lợi thế sẵn có về nguồnnguyên liệu, nhân công, thị trường tiêu thụ,… của nước nhận đầu tư, trongkhuôn khổ luật pháp nước sở tại và thông lệ quốc tế
Về mặt lịch sử, đầu tư trực tiếp nước ngoài xuất hiện khá sớm và đạt tớimức phát triển rất lớn vào nửa đầu thế kỷ XX gắn với những điều kiện kinh tếquốc tế đã chín muồi tạo cơ sở kinh tế cho loại hình này phát triển, nó phảnánh các mối quan hệ kinh tế quốc tế khá phong phú Chính vì vậy, hình thứcđầu tư này đã được các tổ chức quốc tế và thể chế kinh tế toàn cầu đề cập đếnnhư: Theo Ủy ban thương mại và phát triển của Liên hiệp quốc (UNCTAD):
“Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hoạt động đầu tư bao gồm mối quan
hệ dài hạn, phản ánh lợi ích và quyền kiểm soát lâu dài của thực thể thường trú ở một nền kinh tế(nhà đầu tư nước ngoài hoặc công ty mẹ nước ngoài)đối với một doanh nghiệp thường trú ở một nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư nước ngoài(doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh hoặc các chi nhánh nước ngoài )”[5, tr 80].
Với Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), đầu tư trực tiếp nước ngoài, được quan
niệm là:“Đầu tư có lợi ích lâu dài của một doanh nghiệp tại một nước khác(nước nhận đầu tư - hosting country) không phải tại nước mà doanh
Trang 11nghiệp hoạt động(nước đi đầu tư -source country )với mục đích quản lý có hiệu quả doanh nghiệp ”[17, tr 235]
Tại Việt Nam, đầu tư trực tiếp nước ngoài xuất hiện từ sau khi Đảng vàNhà nước có chủ trương đổi mới, mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế năm
1986 Quan niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài được thể hiện rõ ràng và đầy
đủ trong Luật đầu tư nước ngoài: Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu
tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào được chính phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập liên doanh, hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài(Khoản
3, điều 2, Luật đầu tư 1987, khoản 1 điều 2 Luật đầu tư 1996)
Luật Đầu Tư năm 2005 của Việt Nam không đưa ra khái niệm “đầu tưtrực tiếp nước ngoài” mà chỉ đưa ra các khái niệm “đầu tư”, “đầu tư trựctiếp”, “đầu tư nước ngoài”:
Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô
hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định củaLuật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan [28, tr.1]
Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và
tham gia quản lý hoạt động đầu tư [28, tr.1]
Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn
bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư [28, tr.2]
Từ các khái niệm này có thể hiểu: Đầu tư trực tiếp nước ngoài là mộthình thức đầu tư quốc tế trong đó chủ đầu tư góp toàn bộ hay phần vốn đủ lớnđầu tư cho một dự án ở nước khác, nhằm giành quyền kiểm soát hoặc thamgia kiểm soát dự án đó
Dưới góc độ tiếp cận của kinh tế học chính trị, đầu tư trực tiếp nước ngoài không gì khác hơn là sự di chuyển vốn, tài sản (nguồn lực tài chính),khoa học, công nghệ, cách thức quản lý từ nước đi đầu tư sang nước tiếp nhận đầu tư nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận thông qua việc thành lập
Trang 12hoặc kiểm soát doanh nghiệp tại nước nhận đầu tư Việc khai thác các nguồn
lực đó được vận hành bởi các quy luật của kinh tế thị trường, chúng tác độngvào nền kinh tế ở nước nhận đầu tư trên cả hai chiều thuận và nghịch
* Bản chất của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Dưới góc độ lý luận, C.Mác và Ph.Ăngghen chưa đề cập đến vấn đềđầu tư nước ngoài nói chung và đầu tư trực tiếp nước ngoài nói riêng Phảiđến thời kỳ chủ nghĩa tư bản phát triển thành chủ nghĩa đế quốc, việc đầu tư
tư bản ra nước ngoài mới xuất hiện dưới hình thức xuất khẩu tư bản và trởthành một trong những đặc điểm kinh tế cơ bản của chủ nghĩa đế quốc.Nghiên cứu về hiện tượng kinh tế này, V.I.Lênin cho rằng xuất khẩu tư bản:
là xuất khẩu giá trị ra nước ngoài nhằm mục đích chiếm đoạt giá trị thặng dư
và các nguồn lợi nhuận khác ở các nước nhập khẩu Thông qua xuất khẩu giátrị, chủ nghĩa tư bản áp đặt những vấn đề chính trị xã hội, lôi cuốn nước nhậpkhẩu vào guồng máy kinh tế, chính trị của mình Thực chất của xuất khẩu tưbản là xuất khẩu quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa ra nước ngoài nhằm mụcđích bóc lột giá trị thặng dư ở nước nhập khẩu Nguồn gốc sâu xa hay nguyênnhân của hiện tượng kinh tế này là ở một số nước phát triển đã tích lũy được
một khối lượng tư bản kếch xù và một bộ phận đã trở thành “tư bản thừa”.
Hiện tượng tư bản thừa được Lênin luận giải là sự thừa tương đối, theo đó số tưbản thừa được dùng không phải là để nâng cao mức sống của quần chúng trongnước mà là để tăng thêm lợi nhuận bằng cách xuất khẩu tư bản ra nước ngoài,vào những nước lạc hậu”[6, tr 456 ] Do vậy, ở các nước tư bản xuất hiện nhucầu tìm nơi đầu tư mới ở nước ngoài - nơi có tỷ suất lợi nhuận cao hơn
Trong khi đó, tại nhiều nước khác, đặc biệt là các nước đang hoặc kémphát triển, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, lại xuất hiện nhu cầu cao về vốncông nghệ, kinh nghiệm quản lý… để khai thác và sử dụng các nguồn lực trongnước và các tài nguyên của mình để phát triển Sự gặp gỡ giữa hai loại nhu cầunày đã làm xuất hiện hình thức vận động mới của các dòng vốn, trong đời sốngkinh tế quốc tế, trong đó đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một dạng cụ thể
Trang 13Có thể coi vấn đề trình bày ở trên là nguyên nhân sâu xa làm xuất hiện
xu hướng vận động ngày càng mạnh mẽ của đầu tư trực tiếp nước ngoài vàonước khác Từ hai nguyên nhân đó, theo nguyên tắc thị trường vốn từ nơi thừa
sẽ chảy sang nơi thiếu tạo thành dòng xuất khẩu tư bản diễn ra ngày càng mạnh
mẽ trên phạm vi toàn thế giới Thực tiễn cho thấy, hình thức kinh tế này luônchứa đựng trong lòng nó sự tác động hai chiều đối với cả nước đưa vốn ra nướcngoài đầu tư, cũng như nước tiếp nhận dòng vốn đó
* Các hình thức cơ bản của FDI
Có nhiều tiêu thức để xác định hình thức FDI, về cơ bản là:
Thứ nhất, theo “cách thức xâm nhập”, FDI được chia thành 2 hình thức: Đầu tư mới (greenfield investment): Chủ đầu tư nước ngoài góp vốn để
xây dựng một cơ sở sản xuất, kinh doanh mới tại nước nhận đầu tư
Sáp nhập và mua lại (merger & acquisition): đầu tư nước ngoài mua lại
hoặc sáp nhập một cơ sở sản xuất kinh doanh sẵn có ở nước nhận đầu tư
Thứ hai, theo “quan hệ về ngành nghề, lĩnh vực giữa chủ đầu tư và đối
tượng tiếp nhận đầu tư”, FDI được chia thành 3 hình thức: FDI theo chiềungang, FDI theo chiều dọc và FDI hỗn hợp
Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo chiều ngang: là việc một công ty tiến
hành đầu tư trực tiếp nước ngoài, vào chính ngành sản xuất mà họ đang có lợithế cạnh tranh một loại sản phẩm nào đó Với lợi thế sẵn có họ muốn tìmkiếm lợi nhuận cao hơn, nên muốn mở rộng và thôn tính thị trường nướcngoài Hình thức này phổ biến trong hoạt động FDI tại các nước phát triển vàthường dẫn đến cạnh tranh độc quyền
Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo chiều dọc: Đây là hình thức khá phổ biến
của hoạt động FDI tại các nước đang phát triển Các nhà đầu tư tập trung khai tháccác lợi thế cạnh tranh về nguồn tài nguyên thiên nhiên và các yếu tố đầu vào giá rẻnhư lao động, đất đai của nước nhận đầu tư để lắp ráp, hoàn thiện sản phẩm củamình, sau đó bán sản phẩm trên thị trường quốc tế thu lợi nhuận cao
Trang 14Đầu tư trực tiếp nước ngoài hỗn hợp: Là sự kếp hợp giữa FDI theo
chiều ngang và FDI theo chiều dọc
Thứ ba, theo “định hướng của nước nhận đầu tư”, FDI được chia thành
ba hình thức:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài thay thế nhập khẩu: Là hoạt động FDI
được tiến hành nhằm sản xuất và cung ứng cho thị trường nước nhận đầu tưcác sản phẩm mà trước đây nước này phải nhập khẩu Các yếu tố ảnh hưởngnhiều đến hình thức FDI này là dung lượng thị trường, các rào cản thươngmại của nước nhận đầu tư và chi phí vận chuyển
Đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng cường xuất khẩu: Thị trường mà hoạt
động đầu tư này nhắm tới không phải hoặc không chỉ dừng lại ở nước nhậnđầu tư mà là các thị trường rộng lớn hơn trên toàn thế giới Các yếu tố quantrọng ảnh hưởng đến dòng vốn FDI theo hình thức này là khả năng cung ứngcác yếu tố đầu vào với giá rẻ của các nước nhận đầu tư như nguyên, nhiên vậtliệu, bán thành phẩm
Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo các định hướng khác của Chính phủ:
Chính phủ nước nhận đầu tư có thể áp dụng các biện pháp khuyến khích đầu
tư để điều chỉnh dòng vốn FDI theo đúng ý định của mình Ví dụ tại ViệtNam, Chính phủ có thể thực hiện các chính sách nhằm tăng cường thu hútFDI vào lĩnh vực bảo vệ môi trường thay thế cho vốn ODA sau này
Thứ tư, theo “hình thức pháp lý”, FDI thường có các hình thức sau:
Tùy theo qui định của luật pháp nước nhận đầu tư, FDI có thể được tiếnhành dưới nhiều hình thức pháp lý khác nhau như:
Hợp đồng hợp tác kinh doanh (gọi tắt là hợp đồng BCC): là hình thức
đầu tư được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợinhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập pháp nhân
Doanh nghiệp liên doanh: là một công ty trách nhiệm hữu hạn được
thành lập trên cơ sở hợp đồng liên doanh được ký kết giữa các bên đối tác
Trang 15Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài: Loại doanh nghiệp này thường trú
đóng trong khu chế xuất hoặc các công ty, xí nghiệp ở các khu công nghiệp, khucông nghệ cao Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài có tư cách pháp nhân tạinước sở tại, thời gian hoạt động thường kéo dài (có thể tới 50 - 70 năm)
Hợp tác liên danh: Doanh nghiệp nước sở tại và doanh nghiệp nước ngoài
hợp tác liên danh theo phương thức: Thời gian đầu khai thác sản phẩm và dịch vụdựa trên nhãn hiệu, thương hiệu của bên đã nổi tiếng trước Sau một khoảng thờigian nhất định, việc khai thác sản phẩm và dịch vụ sẽ tiếp tục với nhãn hiệu,thương hiệu của đối tác bên kia Các bên không góp vốn kinh doanh, không thànhlập pháp nhân mới, phân chia lợi nhuận theo thỏa thuận giữa các bên
Ngoài ra, FDI cũng còn được tiến hành bằng các hình thức: xây dựng kinh doanh - chuyển giao (BOT), xây dựng - chuyển giao - kinh doanh(BTO), xây dựng - chuyển giao (BT) Ngày nay, cùng với sự gia tăng củadòng vốn FDI, đã xuất hiện nhiều hình thức đầu tư mới, đa dạng nhằm đưa lạihiệu quả cao cho nhà đầu tư và nước nhận đầu tư
-* Vai trò của FDI.
Trên thực tế, FDI được xem như một động lực quan trọng thúc đẩy sựphát triển kinh tế của chủ đầu tư và bên nhận đầu tư
Đối với chủ đầu tư
Từ những phân tích trên có thể hiểu, FDI là một trong những hình thức
“xuất khẩu tư bản” Trong cuốn sách Chủ nghĩa đế quốc, giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản V.I.Lênin chỉ rõ xuất khẩu tư bản là xuất khẩu giá trị
hay đưa “tư bản thừa” của các tổ chức độc quyền hay của nhà nước tư sản ranước ngoài nhằm mục đích bóc lột giá trị thặng dư và các nguồn lợi khác ởnước nhập khẩu tư bản Đây là hiện tượng kinh tế tất yếu, khách quan, xuấthiện khi quá trình tích tụ và tập trung tư bản ở các nước phát triển đạt đến mộtmức độ nhất định, dẫn đến việc đầu tư ở trong nước không mang lại nhiều lợinhuận như mong muốn của các nhà tư bản Để tìm kiếm lợi nhuận cao hơn,
Trang 16các nhà tư bản ở các nước tiên tiến đã thực hiện xuất khẩu tư bản ra nướcngoài, vì ở đó họ khai thác những lợi thế của nước chủ nhà về tài nguyên, laođộng, thị trường để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư Hoạt động này gópphần làm cho CNTB phát triển sâu và rộng trên phạm vi toàn thế giới.
Đối với các tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia, đầu tư trực tiếp ra nướcngoài giúp thực hiện việc bành trướng, mở rộng thị phần trên phạm vi thếgiới Đồng thời, giảm được chi phí khi đặt cơ sở sản xuất gần vùng nguyênliệu hoặc gần thị trường tiêu thụ và tránh được hàng rào bảo hộ mậu dịchngày càng chặt chẽ của các nước, từ đó tăng lợi nhuận tối đa FDI cho phépcác chủ đầu tư có thể kiểm soát và điều hành hoạt động sản xuất, kinh doanhtheo hướng có lợi nhất Thông qua hoạt động này, các nhà đầu tư nước ngoài
có thể tham dự vào quá trình giám sát việc thực thi chính sách mở cửa kinh tếtheo cam kết thương mại và đầu tư song phương, đa phương của nước nhậnđầu tư
Đối với nước tiếp nhận đầu tư.
FDI có vai trò quan trọng trong tạo nguồn vốn đầu tư ban đầu, từ đó tạotác động lan tỏa, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, nhất là đối với cácnước đang phát triển Cụ thể:
Thứ nhất, đầu tư trực tiếp nước ngoài bổ sung vốn cho nền kinh tế Đối
với mỗi quốc gia, muốn phát triển kinh tế cần đảm bảo bốn yếu tố cơ bản lànguồn lao động, tài nguyên thiên nhiên, vốn và công nghệ Tuy nhiên trênthực tế, đa số các nước đang phát triển đều thiếu vốn, khả năng tích luỹ vốnhạn chế do trình độ lực lượng sản xuất thấp, năng suất lao động thấp Hơnnữa, phần nhiều trong khoản tích lũy đó phải dùng để đảm bảo điều kiện vậtchất tối thiểu cho số dân đang tăng lên Để phát triển, các nước này phải có
“cú huých” từ bên ngoài nhằm phá vỡ “cái vòng luẩn quẩn”, tức là cần có đầu
tư vốn của nước ngoài để tạo động lực phát triển Do đó, việc tiếp nhận FDI
sẽ nguồn bổ sung vốn đầu tư phát triển quan trọng
Trang 17Thứ hai, đầu tư trực tiếp nước ngoài cung cấp công nghệ mới cho sự
phát triển FDI có vai trò đặc biệt quan trọng đối với quá trình phát triển khoa
học - công nghệ, nâng cao năng suất lao động tại nước tiếp nhận đầu tư Cùngvới việc thu hút, sử dụng FDI nước nhận đầu tư tiếp nhận được công nghệhiện đại và phương pháp quản lý tiên tiến của nước đầu tư, từ đó nội địa hóa
và phát triển công nghệ của mình Một mặt, thông qua FDI công nghệ hiện đại được nước đầu tư trực tiếp đưa vào sử dụng trong nước nhận đầu tư Mặt khác, trong quá trình sử dụng các công nghệ nước ngoài (nhất là ở các doanh nghiệp liên doanh) các doanh nghiệp tại nước nhận đầu tư nắm bắt được phương pháp sử dụng, thiết kế, chế tạo của công nghệ mới phù hợp với điều kiện sử dụng của mình Quá trình chuyển giao công nghệ thông
qua FDI đã làm cho “khoảng cách công nghệ” giữa nước đi đầu tư và nướcnhận đầu tư được thu hẹp lại
Thứ ba, đầu tư trực tiếp nước ngoài giúp phát triển nguồn nhân lực Để
tối đa hóa lợi nhuận, các nhà đầu tư nước ngoài thường đặc biệt quan tâm đến việc tận dụng nguồn lao động giá rẻ ở nước nhận đầu tư Do đó, sự có mặt và hoạt động của các doanh nghiệp FDI đã tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho nguồn lao động dư thừa ở nước sở tại FDI không chỉ tạo cơ hội việc làm cho người lao động mà còn góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Bởi lẽ, để người lao động có thể sử dụng thành thạo công nghệ tiên
tiến buộc các doanh nghiệp FDI phải đào tạo họ, nhờ vậy trình độ lao động ởnước nhận đầu tư ngày càng được nâng lên Việc đào tạo lao động không chỉdừng lại đối với người sản xuất trực tiếp mà còn đào tạo cả kỹ năng, trình độcho các đối tượng lao động quản lý Do đó, nước nhận đầu tư không chỉ nângcao được trình độ người lao động nói chung mà quan trọng hơn là còn tiếp thuđược kinh nghiệm tổ chức và quản lý sản xuất Mặt khác, để đáp ứng yêu cầucủa các doanh nghiệp FDI công nhân phải có trình độ chuyên môn kỹ thuậtcao, buộc người lao động phải tự đào tạo để đáp ứng yêu cầu đó Điều nàycũng góp phần nâng cao trình độ nguồn nhân lực tại các nước nhận đầu tư
Trang 18Thứ tư, đầu tư trực tiếp nước ngoài giúp mở rộng thị trường và thúc
đẩy xuất khẩu Thông qua việc tiếp nhận FDI các nước đang phát triển có thể tiếp cận, mở rộng thị trường xuất khẩu, vì hầu hết các hoạt động FDI đều do các công ty xuyên quốc gia thực hiện Với vị thế và uy tín sẵn có trong hệ thống sản xuất và thương mại quốc tế, các công ty xuyên quốc gia đóng vai trò quan trọng trong việc sản xuất hàng xuất khẩu và mở rộng thị truờng cho nước nhận đầu tư Ngược lại, đối với các công ty xuyên quốc gia, hoạt động xuất khẩu đem lại nhiều lợi nhuận cho họ do sử dụng được các yếu tố đầu vào rẻ và được hưởng nhiều ưu đãi từ nước chủ nhà.
Thứ năm, đầu tư trực tiếp nước ngoài thúc đẩy quá trình chuyển dịch
cơ cấu kinh tế Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại là đòi hỏi khách quan của mỗi quốc gia trong xu hướng toàn cầu hóa kinh tế hiện nay FDI góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước tiếp nhận đầu tư làm
cho cơ cấu ngành, vùng ở nước nhận đầu tư thay đổi theo hướng hiện đại hơn Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế được thể hiện ở việc chuyển đổi năng suất lao động từ thấp đến cao, đa dạng về mẫu mã và chủng loại sản phẩm, công nghệ hiện đại và sử dụng ít lao động trực tiếp, tính chuyên sâu cao và dịch vụ hoàn hảo Đồng thời, thay đổi cơ cấu các ngành, vùng bên trong của một lĩnh
vực sản xuất thông qua việc thay đổi công nghệ sản xuất Ngược lại, chính
sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của mỗi quốc gia phù hợp với xu thế chung của thế giới lại tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động FDI.
1.1.2 An ninh Quốc gia , đảm bảo an ninh Quốc gia.
*Quan niệm về an ninh quốc gia
An ninh là yên ổn, không có rối loạn Nói đến an ninh quốc gia là nóiđến sự yên ổn của một quốc gia, ở bên trong thì không có rối loạn, không bịchia cắt, ở bên ngoài thì không bị các quốc gia khác quấy nhiễu, xâm phạm,không bị lệ thuộc vào quốc gia khác và các tổ chức quốc tế An ninh quốc gia
là một khái niệm mang tính chính trị - pháp lý, thể hiện bản chất chế độ xã hộicủa một quốc gia
Trang 19An ninh quốc gia là sự ổn định và phát triển bền vững của chế độ xã hội; độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và các lợi ích quan trọng khác của một quốc gia.
Ở nước ta, an ninh quốc gia là sự ổn định, phát triển bền vững của chế
độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sự bấtkhả xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.(Điều 3 Luật An ninh quốc gia được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 03 tháng 12 năm2004) An ninh quốc gia bao gồm an ninh trên các lĩnh vực: Chính trị, kinh tế,
tư tưởng - văn hoá, xã hội, quốc phòng, đối ngoại trong đó an ninh chính trị
là cốt lõi, xuyên suốt
* Quan niệm về đảm bảo an ninh quốc gia.
Đảm bảo an ninh quốc gia là đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển bền vững của một chế độ xã hội, của nhà nước Đảm bảo an ninh quốc gia được thực hiện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, bao gồm cả hoạt động đối nội
và đối ngoại.
Những hành vi xâm phạm đến chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền vănhóa, an ninh, quốc phòng , đối ngoại, độc lập, chủ quyền, thống nhất , toànvẹn lãnh thổ của một quốc gia, dân tộc hay nhà nước đều là những hành vi viphạm đến an ninh quốc gia của dân tộc hay quốc gia, nhà nước
Hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia là những hành vi xâm phạm chế
độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, an ninh, quốc phòng, đối ngoại, độclập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước Cộng hoà xã hội chủnghĩa Việt Nam
Mục tiêu quan trọng về an ninh quốc gia là những đối tượng, địa điểm,công trình, cơ sở về chính trị, an ninh, quốc phòng, kinh tế, khoa học - kĩthuật, văn hoá, xã hội thuộc danh mục cần được bảo vệ theo quy định củapháp luật
Trang 20Chủ thể đảm bảo an ninh quốc gia: Là toàn bộ hệ thống chính trị, các
cơ quan, tổ chức và toàn dân đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lí củaNhà nước, nhân dân làm chủ, công an là lực lượng nòng cốt
Nội dung đảm bảo an ninh quốc gia:
Đảm bảo an ninh chính trị nội bộ Đó là các hoạt động đảm bảo chế độchính trị và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bảo vệ ĐảngCộng sản Việt Nam ; giữ gìn sự trong sạch, vững mạnh về mọi mặt của tổchức Đảng, Nhà nước ; bảo vệ các cơ quan đại diện, cán bộ, lưu học sinh vàngười lao động Việt Nam đang công tác, học tập và lao động ở nước ngoài.Phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu vàhành động chống phá hệ thống chính trị, gây chia rẽ mất đoàn kết, làm thahoá đội ngũ cán bộ, đảng viên Đảm bảo an ninh chính trị nội bộ luôn lànhiệm vụ trọng yếu hàng đầu, thường xuyên và cấp bách của toàn Đảng, toàndân, của các ngành, các cấp
Đảm bảo an ninh kinh tế Đó là bảo vệ sự ổn định, phát triển vữngmạnh của nền kinh tế thị trường nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủnghĩa Chống các biểu hiện chệch hướng và các hoạt động phá hoại cơ sở vậtchất - kĩ thuật của chủ nghĩa xã hội, phá hoại nền kinh tế, gây ảnh hưởng táchại đến lợi ích của quốc gia Bảo vệ đội ngũ cán bộ quản lí kinh tế, các nhàkhoa học, các nhà kinh doanh giỏi không để nước ngoài lôi kéo mua chuộcgây tổn thất hoặc làm chuyển hướng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa ở nước ta
Đảm bảo an ninh văn hoá, tư tưởng An ninh văn hoá, tư tưởng là sự ổnđịnh và phát triển bền vững của văn hoá, tư tưởng trên nền tảng của chủ nghĩaMác - lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Đảm bảo an ninh văn hoá, tư tưởng làbảo vệ sự đúng đắn, vai trò chủ đạo của chủ nghĩa Mác - lênin, tư tưởng HồChí Minh trong đời sống tinh thần của xã hội ; bảo vệ những giá trị đạo đứctruyền thống, bảo vệ bản sắc văn hoá dân tộc ; bảo vệ đội ngũ văn nghệ sĩ,những người làm công tác văn hoá, văn nghệ Đấu tranh chống lại sự công
Trang 21kích, bôi nhọ, nói xấu của các thế lực thù địch đối với chủ nghĩa Mác - lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh, ngăn chặn các hoạt động truyền bá văn hoá phẩmphản động, đồi trụy, thiếu lành mạnh, không phù hợp với thuần phong mĩ tụccủa dân tộc Việt Nam
Đảm bảo an ninh dân tộc Đó là đảm bảo quyền bình đẳng giữa các dântộc, đảm bảo cho tất cả các thành viên trong đại gia đình các dân tộc ViệtNam cùng phát triển theo đúng Hiến pháp, pháp luật của nhà nước ; ngănngừa, phát hiện, đấu tranh với các hoạt động lợi dụng dân tộc ít người để làmviệc trái pháp luật, kích động gây chia rẽ giữa các dân tộc, xâm hại đến anninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội
Đảm bảo an ninh tôn giáo Đảm bảo an ninh tôn giáo là đảm bảo chínhsách tự do tín ngưỡng của Đảng và Nhà nước đối với nhân dân nhưng đồng thờicũng kiên quyết đấu tranh với các đối tượng, thế lực lợi dụng vấn đề tôn giáo đểchống phá cách mạng Thực hiện đoàn kết, bình đẳng giúp đỡ nhau cùng pháttriển giữa các tôn giáo, giữa cộng đồng dân cư theo tôn giáo với những ngườikhông theo tôn giáo, đảm bảo tốt đời đẹp đạo, phụng sự Tổ quốc
Đảm bảo an ninh biên giới Biên giới quốc gia là hàng rào pháp lí ngăncách chủ quyền quốc gia và không gian hợp tác phát triển với các nước màtrước hết là với các nước láng giềng Vấn đề bảo vệ vững chắc chủ quyềnbiên giới quốc gia đang được Đảng, Nhà nước đặt ra như là một nhiệm vụ
chiến lược cực kì quan trọng Đảm bảo an ninh biên giới là đảm bảo nền an
ninh, trật tự của Tổ quốc ở khu vực Biên giới quốc gia, cả trên đất liền và trênbiển, chống các hành vi xâm phạm chủ quyền biên giới từ phía nước ngoài,góp phần xây dựng đường biên giới hoà bình, hữu nghị với các nước lánggiềng theo tinh thần “giữ vững chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, đặc biệt là vùngbiển, đảo” Chống các thế lực thù địch lợi dụng việc xuất, nhập cảnh, quácảnh Việt Nam để tiến hành các hoạt động chống phá Nhà nước Cộng hoà xãhội chủ nghĩa Việt Nam
Trang 22Đảm bảo an ninh thông tin An ninh thông tin là sự an toàn, nhanhchóng, chính xác và bí mật của thông tin trong quá trình xác lập, chuyển tải,thu nhận, xử lí và lưu giữ tin Đảm bảo an ninh thông tin là một bộ phận quantrọng của công tác đảm bảo an ninh quốc gia nhằm chủ động phòng ngừa,phát hiện và đấu tranh có hiệu quả với âm mưu, hoạt động của các thế lực thùđịch, bọn tội phạm khác nhằm khai thác, sử dụng hệ thống thông tin liên lạchoặc tiến hành các hoạt động phá huỷ công trình, phương tiện thông tin liênlạc gây thiệt hại cho an ninh quốc gia của nước ta ; chống lộ lọt những thôngtin bí mật của nhà nước ; ngăn chặn các hoạt động khai thác thông tin tráiphép, dò tìm mật mã, mật khẩu để đánh cắp thông tin trên mạng
Tóm lại : Tình hình về ANQG trong những năm qua nổi lên những vấn
đề khá phức tạp và nhạy cảm Đó chính là những yếu tố có thể gây ra tìnhhình mất ổn định, ảnh hưởng đến sự an nguy của quốc gia, vì vậy Đảng vàNhà nước ta đã xác định đảm bảo ANQG là nhiệm vụ cực kì quan trọng củatoàn Đảng, toàn dân ta
Phương thức đảm bảo an ninh quốc gia.
Huy động và phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị, sứcmạnh của toàn dân, nhân dân làm chủ, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, sựquản lí của Nhà nước, thực hiện nhiệm vụ đảm bảo an ninh quốc gia trong đólực lượng Công an nhân dân đóng vai trò nòng cốt, xung kích, tiếp tục xâydựng lực lượng Công an cách mạng, chính quy, tinh nhuệ từng bước hiện đại,tuyệt đối trung thành với Tổ quốc với Đảng và gắn bó mật thiệt với nhân dân,đấu tranh ngăn chặn làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động của các thế lực thù
địch, ngăn chặn các loại tội phạm.
Đảng lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt là nhân tố quyết địnhthắng lợi của cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia
Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách
mạng Việt Nam, trong đó có công tác đảm bảo an ninh quốc gia Chỉ có Đảng
Trang 23lãnh đạo mới có thể huy động được sức mạnh tổng hợp của toàn bộ hệ thốngchính trị, của toàn xã hội, bảo đảm thắng lợi trọn vẹn và triệt để trong cuộcđấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia Đảng lãnh đạo tuyệt đối trực tiếp về mọimặt thể hiện : Đảng đề ra đường lối chính sách và phương pháp đấu tranh bảo
vệ an ninh quốc gia một cách đúng đắn, đồng thời lãnh đạo chặt chẽ bộ máyNhà nước và các đoàn thể quần chúng thực hiện thắng lợi đường lối chínhsách đó
Đảm bảo an ninh quốc gia là sự nghiệp của nhân dân, là nghĩa vụ đồngthời cũng là lợi ích thiết thân của nhân dân An ninh quốc gia có được đảmbảo tốt hay không thì vấn đề rất quan trọng là do sự giác ngộ của nhân dân vềquyền làm chủ của mình trên lĩnh vực đó Phát huy quyền làm chủ của nhândân thực chất đó là cuộc vận động phong trào cách mạng của quần chúngnhằm xây dựng trật tự an ninh, trật tự nhân dân từ cơ sở Nhân dân có điềukiện và khả năng để thực hiện quyền làm chủ đó
Nội dung phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động thể hiện :Quán triệt sâu sắc và tự giác chấp hành nghiêm chỉnh đường lối chínhsách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các chế độ thể lệ nội quy về bảo vệ
an ninh trật tự Đấu tranh kiên quyết với các thế lực thù địch, bọn phản cáchmạng và bọn phạm tội khác, với mọi hành vi vi phạm pháp luật và những hiệntượng tiêu cực trong đời sống xã hội ; kiên quyết giữ vững an ninh trật tự ởmọi nơi mọi lúc Tự giác tham gia các tổ chức quần chúng bảo vệ an ninhquốc gia, tích cực giúp đỡ các cơ quan chuyên trách nhất là lực lượng Công
an nhân dân, các lực lượng bảo vệ ở địa phương hoàn thành tốt nhiệm vụ Tựgiác tổ chức, tham gia xây dựng và quản lí cuộc sống mới văn minh trật tự,yên vui lành mạnh ở địa phương, đơn vị công tác, sản xuất, chiến đấu
Tăng cường hiệu lực quản lí của Nhà nước trên lĩnh vực bảo vệ an ninhquốc gia
Trang 24Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, Nhà nước là công cụ sắc bén để nhândân lao động thực hiện quyền làm chủ của mình trên mọi lĩnh vực, trong đó
có công tác bảo vệ an ninh quốc gia Nhà nước có mạnh (hiệu lực) thì quyềnlàm chủ của nhân dân mới được đảm bảo vững chắc
Nội dung tăng cường hiệu lực quản của Nhà nước : Phát huy mạnh mẽtác dụng của pháp chế xã hội chủ nghĩa làm cho nó trở thành vũ khí sắc bén
để xây dựng và quản lí nền trật tự xã hội xã hội chủ nghĩa Phải thường xuyênquan tâm xây dựng các cơ quan chuyên trách trong công tác bảo vệ an ninhquốc gia Phát huy vai trò tác dụng của hội đồng nhân dân và uỷ ban nhân dâncác cấp trong việc ban hành và đôn đốc tổ chức thực hiện những quy định vềcông tác bảo vệ ở địa phương Phối kết hợp chức năng quản lí của các cơquan Nhà nước vào việc bảo vệ an ninh quốc gia
Công an là lực lượng nòng cốt
Lực lượng Công an là chỗ dựa trực tiếp và thường xuyên cho cácngành, các cấp và quần chúng trong công tác đảm bảo an ninh quốc gia Lựclượng Công an phải tập trung giải quyết những khâu cơ bản nhất ; tổ chức hư-ớng dẫn các lực lượng khác thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia Quathực tiễn tiến hành cuộc đấu tranh, lực lượng Công an phải làm tham mưu choĐảng, Nhà nước về những vấn đề có liên quan đến công tác bảo vệ an ninhquốc gia
Cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia có liên quan đến nhiều ngành,nhiều lĩnh vực hoạt động của xã hội Do đó để đảm bảo thắng lợi hoàn toàn và
triệt để trong cuộc đấu tranh, lực lượng Công an phải biết kết hợp tính tích cực cách mạng của quần chúng với công tác nghiệp vụ của các cơ quan chuyên môn Sự kết hợp đó thể hiện : Quần chúng phát hiện cung cấp tình
hình, cơ quan chuyên môn thu thập ý kiến đó Những ý kiến đó phải đượctổng hợp, kết hợp với nghiệp vụ chuyên môn của các ngành để tìm ra bản chấtcủa vấn đề và biện pháp xử lí Phải coi trọng cả hai mặt đó, không được coinhẹ mặt nào
Trang 251.2 Quan niệm, nội dung tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến đảm bảo an ninh Quốc gia
1.2.1 Cơ sở lý luận để tìm hiểu tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến đảm bảo an ninh quốc gia.
Một là, xuất phát từ cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin Khi
nghiên cứu CNTB trong giai đoạn tự do cạnh tranh, C.Mác và Ph.Ăng ghen
đã dự báo: Tự do cạnh tranh sinh ra tích tụ và tập trung sản xuất, tích tụ và tậptrung sản xuất phát triển đến một mức độ nào đó sẽ dẫn đến độc quyền Kếthừa và phát triển lý luận của C Mác, bằng những cứ liệu lịch sử về sự pháttriển của độc quyền đầu thế kỷ XX, V.I.Lênin đã chỉ rõ bản chất kinh tế củaCNTB độc quyền là sự thống trị của các tổ chức độc quyền, được biểu hiện ởnăm đặc điểm kinh tế cơ bản trong đó “xuất khẩu tư bản” là một đặc điểmđiển hình V.I.Lênin viết: “Điển hình của chủ nghĩa tư bản cũ, trong đó sựcạnh tranh tự do còn hoàn toàn thống trị, là việc xuất khẩu hàng hoá Điểmđiển hình của chủ nghĩa tư bản mới nhất, trong đó các tổ chức độc quyềnthống trị, là việc xuất khẩu tư bản” [20, tr.455]
Thực tế cho thấy, quá trình tích tụ và tập trung tư bản diễn ra mạnh mẽ
ở một số nước tư bản phát triển đã tạo ra một khối lượng tư bản kếch sù vàmột bộ phận đã trở thành “tư bản thừa” do chưa tìm ra nơi đầu tư có lợi hơnđầu tư trong nước “Tư bản thừa” ở đây là có tính chất tương đối, có nghĩa làthừa so với nơi đầu tư có lợi nhuận thấp ở trong nước, nếu đầu tư ra nướcngoài sẽ thu được lợi nhuận cao hơn Số “tư bản thừa” này, các nước tư bảnphát triển đang tìm nơi đầu tư có lợi nhất
Trong khi đó, các nước đang phát triển có lợi thế về nguồn nguyên liệu,tài nguyên dồi dào chưa được khai thác, giá nhân công rẻ, giá thuê đất thấpnhưng thiếu vốn và công nghệ để phát triển kinh tế Đầu tư vào những nước này
sẽ có lợi nhuận cao Như vậy, một bên có nhu cầu xuất khẩu tư bản, còn một bên
có nhu cầu nhập khẩu đã tạo nên sự vận động của các luồng tư bản, trong đó có
Trang 26FDI giữa các quốc gia Sự vận động này đã trực tiếp tạo nên những tác động tíchcực và tiêu cực đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội của các nước tham gia.Theo đó, lao động của các nước cũng chịu những tác động to lớn.
Hai là, xuất phát từ xu thế toàn cầu hóa kinh tế Những năm gần đây
xuất khẩu tư bản không chỉ có chiều hướng tăng từ các nước tư bản phát triểnsang các nước đang phát triển mà còn diễn ra mạnh mẽ giữa các nước pháttriển với nhau Nguyên nhân bắt nguồn từ xu hướng toàn cầu hoá đang diễn ramạnh mẽ lôi cuốn tất cả các quốc gia tham gia Trong quá trình toàn cầu hoá,không chỉ các nước nghèo phụ thuộc vào nước giàu về vốn, công nghệ vàquản lý cũng như thị trường, mà bản thân các nước giàu cũng cần vốn côngnghệ và thị trường của các nước khác để bổ sung cho những khiếm khuyếtcủa nền kinh tế nội địa Do đó hiện nay, FDI - một dạng cụ thể của xuất khẩu
tư bản không chỉ đơn thuần vì lợi nhuận, mà nó đã trở thành chiến lược hàngđầu của các công ty xuyên quốc gia
Thực tế cho thấy, thông qua xuất khẩu tư bản dưới dạng đầu tư trựctiếp, các đối tác có thể tận dụng các lợi thế so sánh về vốn, công nghệ, kinhnghiệm quản lý sản xuất kinh doanh cũng như thị trường, nhằm đạt được hiệuquả kinh tế cao hơn Mặt khác, hoạt động này có tác động tiêu cực đến sựphát triển kinh tế của các nước tham gia như: gây mất cân đối về cơ cấu đầu
tư trong và ngoài nước, ảnh hưởng đến cân đối vĩ mô nền kinh tế, gây ônhiễm môi trường, cạn kiệt tài nguyên, làm gia tăng xung đột lợi ích giữa cácquốc gia Do đó, khi đánh giá quá trình phát triển kinh tế - xã hội của cácquốc gia trong giai đoạn hiện nay, các nhà nghiên cứu đặc biệt chú ý đếnnhững tác động tích cực và tiêu cực do nguồn vốn FDI tạo nên
Ba là, xuất phát từ quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về mở rộng thu hút đầu tư nước ngoài ở nước ta trong thời kỳ đổi mới.
Đại hội VI (1986) của Đảng xác định: Mở rộng và nâng cao hiệu quảquan hệ kinh tế đối ngoại, sử dụng tốt mọi khả năng mở rộng quan hệ thương
Trang 27mại, hợp tác kinh tế và khoa học kỹ thuật với bên ngoài Đồng thời công bốchính sách khuyến khích nước ngoài đầu tư vào nước ta dưới nhiều hình thức,nhất là những ngành và cơ sở đòi hỏi kỹ thuật cao, sản xuất hàng xuất khẩu.Thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước ta đã nâng Điều lệ Đầu tư năm 1977thành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 Những chủ trương, biệnpháp đó đã đặt nền móng cho việc thu hút đầu tư nước ngoài vào nước ta.
Cùng với sự phát triển KT - XH của đất nước, tại các kỳ Đại hội IX, X
và XI Đảng ta khẳng định nhất quán chủ trương tiếp tục cải thiện môi trườngđầu tư, hoàn thiện các hình thức đầu tư, nâng cao khả năng cạnh tranh trongviệc thu hút FDI Đổi mới cơ chế, chính sách để thu hút mạnh các nguồn lựccủa các nhà đầu tư nước ngoài vào các ngành, các lĩnh vực quan trọng củanền kinh tế, nhất là lĩnh vực có công nghệ cao, công nghệ nguồn, xây dựng kếtcấu hạ tầng kinh tế, xã hội Tạo điều kiện cho đầu tư nước ngoài tham gia nhiềuhơn vào phát triển các ngành, các vùng lãnh thổ phù hợp với cam kết quốc tế củanước ta Thể chế hóa chủ trương đó, ngày 29/11/2005 tại kỳ họp thứ 10, Quốchội khóa X đã ban hành Luật Đầu tư, thay thế Luật Đầu tư nước ngoài và LuậtKhuyến khích đầu tư trong nước Từ những chủ trương, chính sách của Đảng vàNhà nước, đã tạo điều kiện cho hoạt động đầu tư nước ngoài nói chung, FDI nóiriêng ngày càng phát triển và có tác động mạnh mẽ đến quá trình phát triển kinh
tế - xã hội của nước ta nói chung, Hải phòng nói riêng Để tăng cường thu hút và
sử dụng hiệu quả nguồn ngoại lực này cần có sự phân tích, nhìn nhận chính xác
vai trò, tác động của nó Từ đó, tìm ra những giải pháp phát huy những tác động
tích cực, hạn chế tác động tiêu cực của FDI đến đảm bảo an ninh quốc gia của cảnước cũng như từng địa phương
1.2.2 Quan niệm tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến đảm bảo an ninh quốc gia.
Hiểu theo nghĩa là một danh từ, thì tác động là quá trình biến đổi của sự vật
hiện tượng do ảnh hưởng của một quá trình khác Hiểu theo nghĩa là động từ, thì
Trang 28tác động là hành động gây ra sự biến đổi nào đó cho sự vật được hành động hướng tới Như vậy, có thể hiểu: Tác động, là ảnh hưởng của sự vật, hiện tượng này với sự
vật, hiện tượng khác tạo nên sự biến đổi của các sự vật, hiện tượng
FDI trực tiếp tác động đến những nhân tố quyết định đến đảm bảo anninh quốc gia.Tuy nhiên, đầu tư trực tiếp nước ngoài luôn có tính hai mặt, tíchcực và tiêu cực Một trong những tiêu cực là việc các thế lực thù địch lợi dụnglĩnh vực này để thực hiện các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia như càicắm gián điệp, thu thập tin tức tình báo, lấy cắp bí mật nhà nước; tổ chức cáchoạt động chống, phá chính quyền nhân dân; tuyên truyền phá hoại tư tưởng;phá hoại các chính sách kinh tế quan trọng của Đảng và Nhà nước, xâm phạmlợi ích, chủ quyền quốc gia, dân tộc, dùng kinh tế để chuyển hoá chính trị với
âm mưu xoá bỏ chế độ Xã hội chủ nghĩa ở nước ta Bên cạnh việc tăng cườngthu hút và sử dụng hiệu quả nguồn ngoại lực này cần có sự phân tích, nhìnnhận chính xác vai trò, tác động của nó đến đảm bảo an ninh quốc gia
Do đó, cùng với sự phát triển của hoạt động FDI ở Hải Phòng có tác động
to lớn đến đảm bảo an ninh quốc gia của địa phương Với cách tiếp cận đó, theotác giả tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến đảm bảo an ninh quốc gia ở
Hải Phòng: Là những hệ quả tất yếu của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn Hải Phòng, tạo nên những thay đổi lớn theo chiều hướng tích cực
và tiêu cực đối với đảm bảo an ninh quốc gia trên địa bàn thành phố.
Như vậy, sự tác động của FDI đến đảm bảo an ninh quốc gia của HảiPhòng được tạo ra từ hoạt động đầu tư trực tiếp của các nhà đầu tư nướcngoài và từ hoạt động quảng bá, xúc tiến thu hút đầu tư, quản lý, sử dụng vốnFDI của địa phương Hoạt động này tác động đến an ninh quốc gia của thànhphố theo những chiều hướng khác nhau, bao gồm cả tích cực và tiêu cực Tuynhiên mức độ, phạm vi ảnh hưởng của những tác động đó như thế nào còn tuỳthuộc vào tình hình cụ thể, từng lĩnh vực, từng địa bàn và năng lực quản lýcủa Nhà nước cũng như sự vững mạnh của chính nền kinh tế địa phương
Trang 291.2.3 Nội dung tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến đảm bảo an ninh quốc gia.
Thứ nhất, FDI bổ sung vốn cho nền kinh tế Đối với mỗi quốc gia, để phát triển kinh tế, cần đảm bảo bốn yếu tố cơ bản là: nguồn lao động, tài nguyên thiên nhiên, vốn và công nghệ Thực tế, đa số các nước đang phát triển đều thiếu vốn, do khả năng tích luỹ vốn hạn chế Những nước dẫn đầu trong chạy đua tăng trưởng phải đầu tư ít nhất 20% thu nhập quốc dân vào việc tạo vốn Trái lại, những nước nông nghiệp lạc hậu thường chỉ
có thể tiết kiệm được 5% thu nhập quốc dân Hơn nữa, phần nhiều trong khoản tiết kiệm nhỏ bé này phải dùng để cung cấp nhà cửa và những công
cụ giản đơn cho số dân đang tăng lên Để phát triển kinh tế, các nước đang phát triển phải có tác động từ bên ngoài nhằm phá vỡ cái “vòng luẩn quẩn”, phải có đầu tư của nước ngoài vào các nước đang phát triển.
FDI không chỉ bổ sung nguồn vốn đầu tư phát triển mà còn là mộtluồng vốn ổn định hơn so với các luồng vốn đầu tư quốc tế khác, bởi FDI dựatrên quan điểm dài hạn về thị trường, về triển vọng tăng trưởng và không tạo
ra nợ cho chính phủ nước tiếp nhận đầu tư, do vậy, ít có khuynh hướng thayđổi khi có tình huống bất lợi
Thứ hai, FDI cung cấp công nghệ mới cho sự phát triển Có thể nói công nghệ là yếu tố quyết định tốc độ tăng trưởng và sự phát triển của mọi quốc gia, đối với các nước đang phát triển thì vai trò này càng được khẳng
Trang 30định rõ Bởi vậy, tăng cường khả năng công nghệ luôn là một trong những mục tiêu ưu tiên phát triển hàng đầu của mọi quốc gia Tuy nhiên, để thực hiện mục tiêu này đòi hỏi không chỉ cần nhiều vốn mà còn phải có một trình độ phát triển nhất định của khoa học - kỹ thuật.
V.I.Lênin cũng đã từng khẳng định: Không có kỹ thuật đại tư bản chủnghĩa được xây dựng trên những phát minh mới nhất của khoa học hiện đại,không có một tổ chức nhà nước có khoa học khiến cho hàng triệu người phảituân theo hết sức nghiêm ngặt một tiêu chuẩn thống nhất trong công việc sảnxuất và phân phối sản phẩm thì không thể nói đến chủ nghĩa xã hội được
FDI được coi là nguồn quan trọng để phát triển khả năng công nghệ củanước chủ nhà Vai trò này được thể hiện qua hai khía cạnh chính là chuyểngiao công nghệ sẵn có từ bên ngoài vào và sự phát triển khả năng công nghệ củacác cơ sở nghiên cứu, ứng dụng của nước chủ nhà Đây là những mục tiêu quantrọng được nước chủ nhà mong đợi từ các nhà đầu tư nước ngoài
Mặt khác, trong quá trình sử dụng các công nghệ nước ngoài (nhất là ởcác doanh nghiệp liên doanh) các doanh nghiệp trong nước học được cáchthiết kế, chế tạo từ công nghệ nguồn, sau đó cải biến cho phù hợp với điềukiện sử dụng của mình Đây là một trong những tác động tích cực quan trọngcủa FDI đối với việc phát triển công nghệ ở các nước đang phát triển
Thứ tư, FDI giúp mở rộng thị trường và thúc đẩy xuất khẩu Xuất khẩu là yếu tố quan trọng của tăng trưởng Nhờ có đẩy mạnh xuất khẩu, những lợi thế so sánh của yếu tố sản xuất ở nước chủ nhà được khai thác có hiệu quả hơn trong phân công lao động quốc tế Các nước đang phát triển tuy có khả năng sản xuất với mức chi phí có thể cạnh tranh được nhưng vẫn rất khó khăn trong việc thâm nhập thị trường quốc tế Bởi thế, khuyến khích đầu tư nước ngoài hướng vào xuất khẩu luôn là
ưu đãi đặc biệt trong chính sách thu hút FDI của các nước này Thông qua FDI các nước tiếp nhận đầu tư có thể tiếp cận với thị trường thế
Trang 31giới, vì hầu hết các hoạt động FDI đều do các TNC thực hiện Ớ tất cả các nước đang phát triển, các TNC đều đóng vai trò quan trọng trong việc mở rộng xuất khẩu do vị thế và uy tín của chúng trong hệ thống sản xuất và thương mại quốc tế Đối với các TNC, xuất khẩu cũng đem lại nhiều lợi ích cho họ thông qua sử dụng các yếu tố đầu vào rẻ, khai thác được hiệu quả theo quy mô sản xuất (không bị hạn chế bởi quy mô thị trường của nước chủ nhà) và thực hiện chuyên môn hoá sâu từng chi tiết sản phẩm ở những nơi có lợi thế nhất, sau đó lắp ráp thành phẩm.
Thứ năm, FDI thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế không chỉ là đòi hỏi của bản thân sự phát triển nội tại nền kinh tế mà còn là đòi hỏi của xu hướng quốc tế hoá đời sống kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ hiện nay FDI là một bộ phận quan trọng của hoạt động kinh tế đối ngoại, thông qua đó các quốc gia sẽ tham gia ngày càng nhiều vào quá trình liên kết kinh tế giữa các nước trên thế giới, đòi hỏi mỗi quốc gia phải thay đổi cơ cấu kinh tế trong nước cho phù hợp với sự phân công lao động quốc tế Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của mỗi quốc gia phù hợp với trình độ phát triển chung trên thế giới sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động FDI Ngược lại, chính FDI lại góp phần thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước chủ nhà, vì nó làm xuất hiện nhiều lĩnh vực và ngành nghề kinh tế mới và góp phần nâng cao nhanh chóng trình độ kỹ thuật và công nghệ ở nhiều ngành kinh tế, phát triển năng suất lao động của các ngành này Mặt khác, dưới tác động của FDI, một số ngành nghề được kích thích phát triển, nhưng cũng có một số ngành nghề truyền thống bị mai một và dần bị xoá bỏ.
Thứ sáu, Đầu tư trực tiếp nước ngoài tác động tích cực đến văn hoá - xã hội.
Văn hoá- xã hội là lĩnh vực rất nhạy cảm và mang đậm bản sắc của mỗiquốc gia Khi tiếp nhận FDI, có nghĩa là nước chủ nhà đã mở cửa giao lưu vớinền văn hoá các dân tộc trên thế giới FDI tác động mạnh vào mối quan hệ
Trang 32giữa giữ gìn bản sắc của dân tộc và tiếp nhận nền văn hoá bên ngoài ở cácmặt quan trọng như: đổi mới tư duy; thái độ và đạo đức nghề nghiệp; lối sống,tập quán; giao tiếp ứng xử; bình đẳng giới và các vấn đề xã hộị.
Chất lượng của tư duy là yếu tố quyết định sự phát triển của xã hội Đổimới tư duy tức là đổi mới cách nghĩ, cách làm FDI tác động rât tích cực vàoquá trình này thông qua trực tiếp đào tạo các nhà quản lý bản địa có kiến thứckinh doanh hiện đại, những lao động làm việc trong các công ty nước ngoài,tiếp xúc với công nghệ hiện đại và gián tiếp tạo ra trong xã hội, nhất là thế hệtrẻ, một lối nghĩ mới có hiệu quả của nền kinh tế thị trường
Thái độ và đạo đức nghề nghiệp có ảnh hưởng rất lớn đến hành vi vàchất lượng lao động của mỗi cá nhân Do hoạt động trong môi trường cạnhtranh gay gắt, những người làm việc trong các dự án FDI phải có thái độnghiêm túc với công việc và đảm bảo uy tín cao đối với khách hàng Nhờ đó,góp phần quan trọng hình thành nên phong cách kinh doanh có văn hoá
Đầu tư nước ngoài đã làm thay đổi đáng kể lối sống, tập quán của cáctầng lớp dân cư theo kiểu hiện đại, tiêu dùng công nghiệp Tác phong côngnghiệp đã buộc người lao động phải tiết kiệm thời gian cho gia đình và sinhhoạt cá nhân
Đầu tư nước ngoài tác động tích cực đến văn hoá giao tiếp, ứng xử ởnước chủ nhà Những người làm việc trong khu vực FDI hoặc có quan hệ vớicác công ty nước ngoài thường có phong cách giao tiếp lịch sự và thái độ ứng
xử hoà nhã, tôn trọng đồng nghiệp và khách hàng Phong cách này dần đầnlan toả ra các cá nhân trong toàn xã hội
Thứ bảy, FDI tạo thêm nhiều việc làm và thu nhập ổn định, nâng cao
mức sống cho người lao động Tạo nên sự lạc quan cho người dân lao động vàtin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước
Trang 33Tác động tạo việc làm của FDI được thực hiện thông qua hoạt động củacác doanh nghiệp FDI, qua 3 kênh chính là: tạo việc làm cho lao động có kỹnăng và lao động phổ thông; tạo ra việc làm gián tiếp và tạo việc làm cho laođộng nữ.
Việc làm được tạo ra trực tiếp khi các doanh nghiệp FDI đi vào hoạtđộng, thuê lao động Đối với lao động đã qua đào tạo, lao động phổ thôngtrong vùng hoặc một số nông dân trong độ tuổi lao động bị thu hồi ruộng đấtthì sự xuất hiện các doanh nghiệp FDI đã mang lại nhiều cơ hội cho họ trởthành công nhân trong các doanh nghiệp Ngoài ra, quá trình san lấp, xâydựng cơ sở hạ tầng, nhà đầu tư phát triển hạ tầng KCN cũng có nhu cầu thuêmướn lao động tại địa phương cũng tạo ra lượng việc làm lớn
Bên cạnh đó, nhu cầu đối với các sản phẩm và dịch vụ bổ sung chohoạt động của các doanh nghiệp FDI sẽ tạo ra nhiều việc làm gián tiếp Nhucầu lương thực, thực phẩm của công nhân trong các doanh nghiệp FDI tạo cơhội cho nông dân chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp từ trồng lúa sang trồng rauquả và chăn nuôi Đối với lao động ngoài độ tuổi, các doanh nghiệp FDI cũngtạo điều kiện phát triển các việc làm mới, như: làm dịch vụ nhà ở, sửa chữa xemáy, kinh doanh buôn bán nhỏ… phục vụ nhu cầu hàng ngày của công nhântrong các doanh nghiệp FDI
Các doanh nghiệp FDI tạo ra nhiều việc làm cho phụ nữ Thực tế chothấy, tỷ lệ lao động nữ trong các doanh nghiệp FDI Hải phòng cao hơn đáng
kể so với lao động nam Điều này cho thấy, thu hút, sử dụng hiệu quả vốnFDI đã tạo ra nhiều cơ hội việc làm trực tiếp cho lao động nữ ở địa phương
và các vùng lân cận
Cùng với quá trình tạo việc làm, FDI đã tạo nên nguồn thu nhập ổnđịnh cho người lao động, cao hơn mức thu nhập trung bình trên địa bàn Đốivới lao động chuyển từ nông dân sang làm công nhân cho các doanh nghiệpFDI, thu nhập của họ khoảng 3 - 3,5 triệu đồng/tháng có thể bằng thu nhập
Trang 34làm nông nghiệp cả năm Đánh giá tổng thể cho thấy, các doanh nghiệp FDI
đã tạo điều kiện và mang lại nhiều cơ hội việc làm cho người lao động Vớimức thu nhập tương đối ổn định, việc làm trong các doanh nghiệp FDI đãgiúp người lao động từng bước cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinhthần của bản thân và gia đình
*Tác động tiêu cực:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài chủ yếu được thực hiên bởi các công tyxuyên quốc gia(TNCs) có tiềm lực mạnh về tài chính, khoa học công nghệ vàmạng lưới phân phối trên phạm vi toàn cầu do đó khi tiếp nhận FDI các nướcđang phát triển rất lo ngại trước sức mạnh của công ty này có thể can thiệpvào chủ quyền lãnh thổ, đe dọa đến an ninh chính trị và làm lũng đoạn nềnkinh tế của mình
Về mặt lý thuyết , FDI có đe dọa đến an ninh kinh tế của nước chủ nhàthông qua thao túng một số ngành sản xuất quan trọng, những hàng hóa thiếtyếu hoặc đẩy mạnh đầu cơ, buôn lậu, rút vốn đi nơi khác… Vì mục tiêu theođuổi lợi nhuận cao, nên không loại trừ một số TNCs có thể can thiệp một cáchgián tiếp vào vấn đề chính trị của nước chủ nhà Do đó đảm bảo tôn trọng chủquyền lãnh thổ là nguyên tắc quan trọng hàng đầu trong các chính sách, luậtpháp thu hút FDI của nước chủ nhà Hơn nữa mặc dù có tiềm lực mạnh nhưngcác TNCs là những nhà kinh doanh tài sản bị phân tán ở nhiều nước, trong khi
đó nước chủ nhà lại có quân đội và các sức mạnh cần thiết để đảm bảo chủquyền quốc gia
Đầu tư trực tiếp nước ngoài đang là con đường chủ yếu làm tăng nhân
tố tư bản chủ nghĩa trong nền kinh tế nước ta; Cơ cấu vốn của nước ngoàiđang chiếm ưu thế lớn, chứa đựng những nhân tố bất lợi cho việc giữ vữngđộc lập, chủ quyền, lợi ích quốc gia, dân tộc trong quá trình mở cửa hội nhập;
cơ cấu kinh tế theo vùng, lãnh thổ còn nhiều bất hợp lý, cơ cấu ngành chưahợp lý, công nghiệp chế tạo ít, công nghiệp chế biến và sản xuất hàng tiêu
Trang 35dùng chiếm tỷ lệ lớn, có nguy cơ biến kinh tế nước ta thành nền kinh tế tiêudùng, gây nhiều khó khăn cho quá trình CNH, HĐH đất nước; đối tác nướcngoài phần đông là những quốc gia có khác biệt về chính trị, là các chủ thểdiễn biến hoà bình đối với Việt Nam, là nhân tố bất lợi, tiềm ẩn lâu dài về anninh quốc gia.
Do đầu tư trực tiếp nước ngoài tập trung vào những khu vực và thànhthị, vì thế nó làm tăng khoảng cách thu nhập giữa nông thôn và thành thị,cũng như sự phát triển không cân đối giữa các khu vực
Các doanh nghiệp FDI dễ dàng thông qua sản phẩm có giá thành kháthấp để chiếm thị trường nước chủ nhà, thao túng xu thế tiêu dùng, gây trởngại đến việc gia tăng tiền gửi tiết kiệm và gia tăng tư bản (vốn) trong nước
Các doanh nghiệp FDI thường nhập công nghệ không thích hợp, không
có lợi cho việc điều chỉnh cơ cấu sản xuất đặc biệt là sự kỳ vọng vào cácngành công nghệ cao của nước chủ nhà
Công ty xuyên quốc gia với sự hùng hậu về nguồn vốn, quy mô lớn,lũng đoạn cả ngành có thể sẽ làm mất sự chủ động trong việc khống chế điềutiết nền kinh tế của chính phủ nước chủ nhà
Trong vấn đề các xí nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài gửilợi nhuận về nước, thời gian được gửi lợi nhuận tương đối dài, thường làmtăng thêm tình trạng thiếu hụt ngoại tệ, gây nguy hại rất lớn cho thu nhậpquốc dân và tích luỹ quốc nội
Các doanh nghiệp FDI thường ít quan tâm đến môi trường sinh thái củanước chủ nhà
Hiển nhiên, những ảnh hưởng tiêu cực của đầu tư trực tiếp nước ngoàiđối với nước chủ nhà, chủ yếu được quyết định bởi mức độ tư bản nước ngoàichi phối và khống chế kinh tế của nước chủ nhà Nhìn từ góc độ công tyxuyên quốc gia - chủ thể của đầu tư trực tiếp nước ngoài, nếu quyền quyếtsách của các chi nhánh và các công ty con của các công ty xuyên quốc gia
Trang 36nằm trong tay các công ty mẹ ở chính quốc, thì nước chủ nhà khó có thểkhông bị ảnh hưởng lớn trong việc duy trì chính sách hợp lý về cơ cấu tiêudùng, cơ cấu sản xuất, thương mại và thuế Nhìn từ thực tế thu hút đầu tư trựctiếp nước ngoài của Việt Nam, những ảnh hưởng tiêu cực nói trên là tồn tạikhách quan Trong đó, về cơ bản là do hiệu ứng tiêu cực vốn có của các hoạtđộng đầu tư trực tiếp nước ngoài tạo nên, nhưng điều không thể được phépcoi thường là, có một số những ảnh hưởng tiêu cực lại do nguyên nhân trongnước, đặc biệt là do hành vi của chính quyền địa phương tạo nên, hay làmnặng nề thêm Có một số chính quyền địa phương, vì để mở rộng lợi ích địaphương nên thường tự mình nới rộng mức khống chế, mở rộng phạm vi ưutiên, nâng cao điều kiện ưu đãi, như vậy đã làm tăng thêm hiệu ứng tiêu cựccủa đầu tư trực tiếp nước ngoài, cũng như gây ảnh hưởng lớn hơn đến an ninhkinh tế của Việt Nam Hậu quả của hiện tượng chính sách không thống nhấtnày khá nghiêm trọng, người viết gọi nó là "hành vi tự tiêu hao".
Đầu tư trực tiếp nước ngoài tạo ra những khó khăn, phức tạp nhất địnhtrong việc huy động và sử dụng các nguồn lực của địa phương phục vụ nhiệm
vụ quốc phòng an ninh.
Quá trình thu hút và sử dụng FDI ở nước ta cũng như tại địa bàn Thànhphố Hải Phòng đã khẳng định rõ vị trí, vai trò ngày càng quan trọng, có tácđộng tích cực đến việc củng cố quốc phòng - an ninh của địa phương cũngnhư đất nước Mục đích của nhà đầu tư là hệ thống hạ tầng cơ sở giao thông,cầu cảng thuận tiện, những nơi dân cư đông đúc, sức mua hàng hóa cao,…Điềunày đã tạo ra những khó khăn không nhỏ trong việc xây dựng và quy hoạchkhu vực phòng thủ - thế bố trí quốc phòng của thành phố Thêm vào đó,những khu vực đông dân, giao thông thuận lợi thường là những vị trí rất nhạycảm về chính trị xã hội Sự tập trung quá mức các tầng lớp lao động cùng vớiphương tiện tại các đô thị lớn, các khu công nghiệp tập trung đã gây nhữngquá tải trong kết cấu hạ tầng cơ sở và dịch vụ công cộng tại địa phương, ảnhhưởng lớn đến môi trường và làm xuất hiện nhiều tệ nạn xã hội, là một trong
Trang 37những nguyên nhân tích tụ các vấn đề xã hội dễ bị kẻ địch lợi dụng để hoạtđộng gây mất ổn định chính trị; đòi hỏi các ngành, các cấp phải có quy hoạch,sắp xếp hợp lý thế bố trí chiến lược lâu dài tại địa phương đồng thời, đặt ranhiệm vụ bảo vệ cao hơn cho các lực lượng vũ trang trong thành phố.
Trong quá trình thu hút vốn FDI bên cạnh phần lớn là những nhà đầu tưđến Hải Phòng có nhu cầu làm ăn chính đáng, có không ít kẻ lợi dụng mở cửa,đội lốt nhà đầu tư để lừa gạt, làm ăn bất chính, lợi dụng kẽ hở của pháp luật đểtrục lợi bằng nhiều biện pháp phi kinh tế như làm hàng giả, hàng nhái, trốnthuế…Thêm nữa, có những kẻ làm tình báo kinh tế xâm nhập để thu thập thôngtin kinh tế, bí quyết công nghệ, thậm chí phá hoại kinh tế của doanh nghiệp vàđịa phương nếu cần và có thể Tình hình tội phạm lợi dụng công nghệ kỹ thuậtcao (Internet) bắt đầu xuất hiện và có chiều hướng phát triển, các thế lực thùđịch có điều kiện lợi dụng để kích động công nhân và tiến hành các hoạt độngxâm phạm an ninh quốc gia…Những hiện tượng này trong những năm qua đãgây những ảnh hưởng không nhỏ tới tốc độ phát triển kinh tế - xã hội của thànhphố Hải phòng, qua đó gián tiếp tác động tiêu cực đến củng cố quốc phòng anninh trên địa bàn
Thu hút và sử dụng vốn FDI là nhu cầu tất yếu, khách quan của HảiPhòng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập kinh tế với cảnước, khu vực và thế giới Thực tiễn cho thấy, thời gian qua hoạt động hoạtđộng thu hút FDI ở Hải Phòng đã thu được những kết quả và kinh nghiệmbước đầu rất có ý nghĩa, góp phần quan trọng giữ vững ổn định chính trị,tạo môi trường thuận lợi để thành phố đẩy mạnh việc thu hút FDI, pháttriển kinh tế xã hội Tuy nhiên, FDI ở Hải Phòng cũng tạo nên những tácđộng tiêu cực đến đảm bảo an ninh quốc gia của thành phố, ảnh hưởng xấuđến đời sống kinh tế, xã hội và củng cố quốc phòng, an ninh của địaphương Chính vì vậy, cần có sự đánh giá khách quan, toàn diện những tácđộng của FDI đến đảm bảo an ninh quốc gia ở thành phố Hải Phòng; trên
cơ sở đó có phương hướng, giải pháp phát huy những tác động tích cực,
Trang 38hạn chế những tác động tiêu cực của nguồn lực này đến đảm bảo an ninhquốc của thành phố.
Chương 2 THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
ĐẾN ĐẢM BẢO AN NINH QUỐC GIA 2.1 Tổng quan về đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Hải phòng
* Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Hải Phòng.
Hiện trên địa bàn Thành phố Hải phòng có 425 dự án FDI còn hiệu lực,với tổng vốn đầu tư đăng ký là 10.293,45 triệu USD Trong số đó, có sự gópmặt của những tên tuổi, thương hiệu hàng đầu thế giới như LGE, Bridgestone,FuijXerox…Đây là điểm đến của các nhà đầu tư lớn Ngày 27/3/2015, Tậpđoàn LG Electronics của Hàn Quốc đã khánh thành tổ hợp công nghệ LG tạikhu công nghiệp Tràng Duệ Đây là tổ hợp lớn nhất khu vực Đông Nam Ácủa LGE, với tổng số vốn đầu tư là 1,5 tỷ USD Đây cũng là dự án FDI có sốvốn đầu tư lớn nhất, tính tới thời điểm hiện tại của Hải Phòng
Theo công bố mới nhất của UBND TP Hải Phòng về việc tăng cườngthu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài Từ tháng 9/2011 đến hết tháng 10/2014,Hải Phòng đã thu hút 124 dự án FDI cấp mới với số vốn đăng ký là 4.153,6triệu USD và 91 dự án tăng vốn với tổng vốn tăng thêm là 1.249,3 triệu USD,nâng tổng vốn thu hút mới và tăng vốn lên 5.402,9 triệu USD Từ năm 1989đến nay, toàn thành phố có 407 dự án còn hiệu lực, với tổng số vốn đầu tưkhoảng 9,9 tỷ USD, chỉ trong vòng 3 năm, tổng mức đầu tư đã chiếm gần55% tổng số vốn FDI đăng ký thu hút được trong vòng 25 năm, đưa HảiPhòng lên vị trí dẫn đầu trong cả nước về thu hút vốn đầu tư nước ngoài
Phần lớn các dự án FDI trong giai đoạn này đến từ các nhà đầu tư lớn, cáctập đoàn đa quốc gia uy tín và được đánh giá cao về quy mô chất lượng đến từNhật Bản, Hàn Quốc, Italia chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực công nghiệpchế biến, công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp chế tạo (thiết bị điện tử, chi tiết, linh
Trang 39kiện điện tử, điện lạnh…) có công nghệ kỹ thuật cao hiện đại, thân thiện với môitrường như: Nhà máy Sản xuất lốp xe Bridgestone (Nhật Bản) 574,8 triệu USD;sản xuất dược phẩm Nippro Pharma (Nhật Bản) 250 triệu USD; sản xuất máy in,photocopy Fuji Xerox (Nhật Bản) 119 triệu USD… Đến thời điểm hiện nay,Nhật Bản và Hàn Quốc là hai đối tác có nhiều dự án đầu tư nhất cho thành phố,vốn đầu tư chiếm 40% tổng vốn FDI tại Hải Phòng.
Theo công bố mới nhất về cơ cấu vốn FDI của Cục Thống kê thànhphố, nguồn vốn FDI lớn nhất vào Hải Phòng thuộc lĩnh vực công nghiệp chếbiến, chiếm tới gần 52% tổng vốn đầu tư (Nhật Bản đầu tư vào công nghiệpchiếm tới 91%) tiếp đến là kinh doanh tài sản và dịch vụ tư vấn chiếm khoảng21%, lĩnh vực văn hóa- thể thao chiếm gần 16%, thương nghiệp và khách sạn,nhà hàng chiếm 10%
Những năm trước, nếu FDI tập trung vào lĩnh vực công nghiệp thì 3năm trở lại đây, cùng với những chính sách mới của Chính phủ, nguồn vốnnày đã có những phần nhánh “chảy” vào bất động sản, phát triển hạ tầng khucông nghiệp, xây dựng khu đô thị, khu vui chơi Một số nhà đầu tư Nhật Bản,
Mỹ trong lĩnh vực này đã đến và tìm hiểu cơ hội tại Hải Phòng, bước đầutriển khai có 3 dự án được cấp giấy chứng nhận đầu tư như Trung tâm thươngmại tổng hợp, khu nhà ở Khu đô thị ven sông Lạch Tray có tên gọi WaterfrontCity, đã chính thức được đơn vị phân phối Đất Xanh Miền Bắc chào bán từ6/2015 Dự án xây dựng khách sạn 5 sao hợp tác với Tập đoàn Hilton (Mỹ)
đã khởi công vào ngày 27/4/2015
Trước đó một dự án FDI có vốn đầu tư và quy mô lớn khác cũng đãkhánh thành tại Hải Phòng Đó là dự án đầu tư nhà máy sản xuất lốp xe cao
su của Bridgestone Corporation với tổng số vốn lên đến 1,224 tỷ USD.Riêng năm 2014 Hải phòng đã thu hút được nhiều dự án lớn của các nhàđầu tư đến từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore Trong đó phải kể đến dự án
mở rộng khu công nghiệp VSIP Hải Phòng( tăng vốn từ 145,9 triệu USD lên
Trang 40268 triệu USD); Dự án sản xuất chi tiết, phụ tùng, linh kiện nhựa DongYang Hải phòng(38 triệu USD): Dự án sán xuất loa ti vi, động cơ rung điệnthoại, tai nghê blutooth Bluecon Vina (50 triệu USD): Dự án Đầu tư xâydựng và kinh doanh cơ sở hạ tầng KCN Cảng cửa ngõ quốc tế Hải phòng(259 triệu USD)…
Giai đoạn 1998-2002, xu hướng thu hút FDI của Hải Phòng có dấu hiệuchững lại và đi xuống, nhưng so với cả nước, số dự án cũng như nguồn vốngiảm chậm hơn Đây là thời kỳ thu hút FDI của thành phố gặp khó khăn nhất,giảm sút nghiêm trọng (đặc biệt năm 1998 và 2000 chỉ thu hút dưới 10 dự án
và vốn đăng ký dưới 10 triệu USD/năm) Nguyên nhân chính dẫn đến tìnhtrạng đi xuống của nguồn vốn FDI là do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tàichính Châu Á Những nhà đầu tư chủ yếu vào Hải Phòng là từ các nước Châu
Á, khi xảy ra khủng hoảng tài chính, nhiều nhà đầu tư đã rơi vào tình trạngkhó khăn về tài chính, khả năng đầu tư ra nước ngoài bị giảm sút mặt khác,điều kiện nội tại của nền kinh tế Việt Nam cũng là một nguyên nhân góp phầnlàm giảm sút việc thu hút nguồn vốn FDI Trước đó, đã có nhiều dự án lớnđầu tư vào thành phố nhằm khai thác lợi thế của Hải Phòng để từ đó xâmnhập thị trường trong nước như các dự án thép, công nghiệp nặng, sản xuất ximăng… Do vậy, Nhiều nhà đầu tư khác thấy khó tìm được chỗ đứng trong thịtrường còn hạn hẹp như Việt Nam, do đó Hải Phòng mất đi tính ổn định hấpdẫn đối với một số nhà đầu tư trong một số lĩnh vực nhất định Ngoài ra, vềchủ quan, thành phố Hải Phòng chưa chuyển đổi kịp thời và chưa có cơ chế,biện pháp khuyến khích thu hút vốn FDI so với nhiều địa phương khỏc trong