1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN văn THẠC sĩ KINH tế CHÍNH TRỊ PHÁT TRIỂN NGÀNH TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ hải PHÒNG

101 323 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 603,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đại hội XI đã xác định “Phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiên đại, chính trị xã hội ổn định, dân chủ kỷ cương đồng thuận, đời sống vật chất và tinh thần của nông dân được nâng lên rõ rệt, độc lập chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế tiếp tục được nâng lên, tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn trong giai đoạn sau”.Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nhằm đưa nước ta cơ bản thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020, việc phát triển ngành nghề nông thôn trong đó có tiểu thủ công nghiệp là một bộ phận quan trọng, góp phần thúc đẩy kinh tế – xã hội nông thôn phát triển, giải quyết việc làm tăng thu nhập cho dân cư.

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

NGÀNH TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP Ở QUẬN

1.1 Quan niệm về tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp; đặc

điểm ngành tiểu thủ công nghiệp 121.2 Nội dung và các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển ngành tiểu

thủ công nghiệp ở quận Kiến An, thành phố Hải Phòng 241.3 Vai trò phát triển của ngành tiểu thủ công nghiệp ở quận

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGÀNH TIỂU THỦ

CÔNG NGHIỆP Ở QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ

2.1 Tổng quan ngành tiểu thủ công nghiệp ở quận Kiến An,

2.2 Thành tựu, hạn chế, nguyên nhân và những vấn đề đặt ra

với phát triển ngành tiểu thủ công nghiệp ở quận Kiến An,

Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN

NGÀNH TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP Ở QUẬN

3.1 Quan điểm phát triển kinh tế tiểu thủ công nghiệp ở quận

3.2 Những giải pháp cơ bản để phát triển ngành tiểu thủ công

nghiệp ở Kiến An đến năm 2020 định hướng đến năm 2025 74

Trang 2

Đại hội XI đã xác định “Phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiên đại, chính trị xã hội ổn định, dân chủ

kỷ cương đồng thuận, đời sống vật chất và tinh thần của nông dân được nâng lên rõ rệt, độc lập chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế tiếp tục được nâng lên, tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn trong giai đoạn sau”.

Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nhằm đưa nước

ta cơ bản thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020, việc pháttriển ngành nghề nông thôn trong đó có tiểu thủ công nghiệp là một bộ phậnquan trọng, góp phần thúc đẩy kinh tế – xã hội nông thôn phát triển, giải quyếtviệc làm tăng thu nhập cho dân cư

Nằm ở vị trí địa lý trung tâm của thành phố Hải Phòng, Kiến An có trụcđường 10 chạy qua là tuyến đường trung chuyển lưu thông hàng hoá đi cáchuyện phía nam của thành phố cũng như đi sang tỉnh Thái Bình, Nam Định…Với vị trí đắc địa, Kiến An có nhiều điều kiện thuận lợi phát triển kinh tế, đặcbiệt là các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn Tuy nhiên theo đánhgiá cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng theo xu thế hiện đại hoá, cơ cấukinh tế công nghiệp – nông nghiệp – dịch vụ đã hình thành rõ nét, nhưng cácngành công nghiệp nguồn, công nghiệp phụ trợ chưa phát triển, nguồn nhân lực

và thiết bị công nghệ phổ biến ở trình độ trung bình Với những điều kiện đó,phát triển tiểu thủ công nghiệp vẫn đóng vai trò quan trọng, không thể tách rờikhỏi công nghiệp trong quá trình phát triển công nghiệp hoá hiện đại hoá địaphương Cùng với quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá – hiện đại hoá, nhữngnăm qua quỹ đất canh tác ngày càng giảm, lực lượng lao động nông nghiệp đãđông lại càng tăng lên Bên cạnh đó khi chúng ta hội nhập kinh tế quốc tế, cácyếu tố về thị trường, công nghệ… cho tiểu thủ công nghiệp cũng có nhiều thayđổi Bởi vậy, phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp trở thành vấn đề cấpthiết trong quá trình xây dựng phát triển địa phương

Trang 3

Trên cơ sở khôi phục và phát triển, tiểu thủ công nghiệp truyềnthống sẽ đẩy mạnh phân công lao động trong nội bộ từng địa phương, pháttriển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp mới, thu hút lao động dôi dư, chuyểndịch cơ cấu kinh tế, nâng cao mức sống cho người dân… mặt khác, còn ghi dấu

ấn truyền thống văn hoá, kinh tế tại mỗi kỳ lịch sử Bên cạnh những ưu thế lớn

đó, việc phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp hiện nay ở Kiến Ancũng nảy sinh nhiều vấn đề đáng quan tâm, đó là: sản xuất phải xuất phát từnhu cầu thị trường trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, trình độ công nghệchưa cao, sử dụng công nghệ truyền thống còn khá phổ biến; vấn đề ô nhiễmmôi trường đang đặt ra nhiều thách thức; thu nhập của người làm nghề tiểu thủcông nghiệp còn thấp…

Vì vậy, việc tìm ra các giải pháp hợp lý đẩy mạnh phát triển ngành tiểuthủ công nghiệp là rất cần thiết, nhằm phát triển kinh tế xã hội của Kiến An,góp phần đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá giúp Hải Phòng về đích

trước vào năm 2020 Do đó, tôi đã chọn đề tài: “ Phát triển ngành tiểu thủ công nghiệp ở quận Kiến An, thành phố Hải Phòng” làm luận văn tốt

nghiệp thạc sỹ chuyên ngành kinh tế chính trị

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Các nước trên thế giới khi tiến hành CNH - HĐH đối với kinh tế nôngnghiệp thì phát triển nông nghiệp, nông thôn luôn được coi là phát huy lợi thế

so sánh, nội lực của đất nước; vừa thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế vừagiải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội Trong đó, làng nghề, làng nghềtruyền thống, ngành nghề ở nông thôn là những nguồn lực còn nhiều tiềmnăng của đất nước Vì vậy, vấn đề phát triển làng nghề, làng nghề truyềnthống, ngành nghề ở nông thôn và phát triển nông nghiệp, nông thôn theohướng CNH - HĐH có ý nghĩa thực tiễn quan trọng đã được nghiên cứu, thảoluận tại nhiều hội thảo trong và ngoài nước Được nhiều tác giả, nhiều nhàkhoa học, chính quyền các cấp quan tâm, các sách chuyên tham khảo, các bài

Trang 4

báo, các tạp chí chuyên ngành đề cập và đã đạt được những kết quả nhất định.Sau đây là tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài như sau:

* Trên thế giới:

- Trong nghiên cứu của Awgichew (2010) về các chính sách và các giảipháp nhằm xúc tiến các làng nghề nông thôn ở Ethiopia tại Hội thảo quốc tế

về “Ứng dụng khoa học và công nghệ vào phát triển các làng nghề” đã nêu

lên các kinh nghiệm của Chính phủ Ethiopia trong việc chú trọng nâng cấp,hiện đại hoá cơ sở hạ tầng giúp các làng nghề phát triển Với 83% người dânEthiopia sống ở các vùng nông thôn và sinh kế xuất phát từ nông nghiệp.Chính phủ Ethiopia đã thông qua chiến lược công nghiệp hoá phát triển nôngnghiệp (ADLI), đóng vai trò làm khung cho qui hoạch đầu tư nông thôn trongcác lĩnh vực: cơ sở hạ tầng, dịch vụ xã hội, nghiên cứu và mở rộng cơ sở hạtầng này thực hiện theo cấp số nhân Thay đổi cách sống của người dân vùngnông thôn, đặc biệt là bằng cách giúp họ có thể sử dụng được các thiết bị máymóc hiện đại và kết nối họ với thế giới hiện đại

- Dưới sự tài trợ của Tổ chức Rockefeller, Trung tâm Nghiên cứu Pháttriển Cộng đồng (Trung Quốc) đã nghiên cứu về Tìm hiểu và Thương mại hóanghề thủ công ở tỉnh Vân Nam Mục đích của dự án là cải thiện thu nhập củaphụ nữ ở huyện miền núi Malutang bằng cách thương mại hóa sản phẩm thêutruyền thống Đầu tiên, họ triển khai thu thập toàn bộ mẫu thêu truyền thống

và thay đổi sao cho phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng hiện nay Sau

đó, những người phụ nữ tham gia dự án sẽ được huấn luyện kỹ thuật gia công,tạo mẫu để có thể sản xuất ra những sản phẩm chất lượng cao và tiêu thụ tốttrên thị trường Cuối cùng, dự án đưa ra khung chi phí hợp lý về sản phẩm donhững người tham gia dự án thực hiện bao gồm: số lượng nguyên vật liệu,thời gian và giá cả có thể tạo thu nhập cao Dự án thành công và được chuyểngiao đến những huyện vùng núi khác ở tỉnh Vân Nam Làng Malutang trởthành một địa phương nổi tiếng về mặt hàng thêu truyền thống

Trang 5

hỗ trợ trực tiếp vốn, hỗ trợ gián tiếp về thực hiện thương mại bình đẳng, nănglực quản lý kinh doanh.

- Trong nghiên cứu của GS.TS Trần Văn Chử (2005) về “Phát triển thị trường làng nghề tiểu thủ công nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng” đây là Đề

tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ năm 2004 - 2005 đã phân tích vai trò của làngnghề và những nhân tố tác động đến sự phát triển của làng nghề Dựa trên cơ sởchủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển làng nghề, đề tài đã

đi sâu khảo sát, đánh giá thực trạng phát triển làng nghề ở đồng bằng sông Hồngtrong thời kỳ đổi mới từ 1986 đến nay Từ đó, đề xuất hệ quan điểm và các giảipháp chủ yếu phát triển kinh tế, nâng cao sức cạnh tranh và tính hiệu quả của cáclàng nghề ở một số tỉnh đồng bằng sông Hồng trong thời gian tới

- Trong dự thảo Đề án “Chương trình phát triển mỗi làng một nghề giai đoạn 2006 - 2015” của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, các

chuyên gia đã nêu một cách tổng quan những xu hướng phát triển của cácnghề phi nông nghiệp và các làng nghề ở nông thôn Việt Nam Phân tích cácđặc điểm và tác động của sự phát triển làng nghề phi nông nghiệp và các làngnghề đối với những thay đổi về kinh tế, xã hội và môi trường, đặc biệt là tácđộng đối với nhóm những hộ nghèo ở nông thôn Trên cơ sở phân tích đó, đềxuất những kiến nghị trong phát triển và quản lý các nghề phi nông nghiệp vàcác làng nghề nhằm giảm nghèo nói riêng và đảm bảo sự phát triển của nôngthôn Việt Nam

- Theo nghiên cứu của TS Mai Thế Hởn về “Phát triển làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở vùng ven Thủ

Trang 6

đô Hà Nội” đến năm 2000 các tỉnh ven Thủ đô có trên 100 làng nghề truyền

thống Các sản phẩm đều có các đặc điểm riêng biệt, có những sản phẩm đượcxuất khẩu đi nhiều nước trên thế giới Về cơ bản, nghiên cứu đã đánh giáđược các tiềm năng, điểm mạnh, điểm yếu, các cơ hội và nguy cơ của việcphát triển làng nghề Từ đó đã chỉ ra các chiến lược chính để phát triển cáclàng nghề truyền thống này Các chiến lược được xem xét và chọn lựa mộtcách hợp lý dựa trên các điều kiện cụ thể Đồng thời, để thực hiện thành côngcác chiến lược nói trên cần có sự hỗ trợ về đào tạo nguồn nhân lực, cung cấpthông tin thị trường và tạo ra một hành lang pháp lý phù hợp để phát triểnlàng nghề

- Đề tài khoa học cấp Bộ thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo của GS.TS

Hoàng Văn Châu (2006) với đề tài “ Làng nghề du lịch Việt Nam” đã nêu bật

tiềm năng về làng nghề du lịch và sự cần thiết phải phát triển mô hình làngnghề du lịch tại một số tỉnh đồng bằng Bắc Bộ cả những mặt được và chưađược Đã trình bày rõ quan điểm và mục tiêu phát triển làng nghề du lịchtrong những năm tới để đưa ra giải pháp và kiến nghị đối với các cơ quan hữuquan nhằm phát triển mô hình làng nghề du lịch Đặc biệt là trong công trình

đã đề xuất phương án xây dựng các tour du lịch hợp lý và hiệu quả nhất đểthu hút khách du lịch đến với các làng nghề

- Đề tài khoa học cấp Bộ thuộc Bộ “Xây dựng thương hiệu sản phẩm làng nghề truyền thống ở đồng bằng sông Hồng hiện nay ” của TS

Nguyễn Vĩnh Thanh đã nghiên cứu Trong đó, tác giả đã nêu rõ vai tròcủa thương hiệu đối với việc phát triển sản phẩm làng nghề truyền thốngvùng đồng bằng sông Hồng trong nền kinh tế thị trường hội nhập hiện naytrên các khía cạnh: thương hiệu và phân loại thương hiệu; vai trò và chứcnăng của thương hiệu; quan hệ thương hiệu – sản phẩm trong nền kinh tếthị trường và sự cần thiết phải xây dựng thương hiệu cho sản phẩm làngnghề truyền thống Đánh giá thực trạng vấn đề xây dựng thương hiệu sản

Trang 7

phẩm làng nghề truyền thống ở đồng bằng sông Hồng, trong đó có vấn đềnhận thức của làng nghề về thương hiệu, chiến lược phân phối và quảng

bá thương hiệu Từ thực trạng vấn đề xây dựng thương hiệu sản phẩmlàng nghề, nghiên cứu đã đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm thúcđẩy quá trình xây dựng thương hiệu sản phẩm của làng nghề ở vùng đồngbằng sông Hồng trong thời gian đến

- Đề tài cấp Bộ của ThS Nguyễn Hữu Thông (2007) “Vai trò nghề thủ công trong sự phát triển kinh tế - xã hội của Huế và sự mai một các nghề thủ công truyền thống” Tác giả đã nêu ra bối cảnh nghề truyền thống ở Việt

Nam, đề cập về những hệ quả mà các làng nghề thủ công truyền thống phảiđối mặt và đưa ra giải pháp để khắc phục Mặc dù, tác giả đưa ra những nhậnđịnh về thực trạng mai một của các làng nghề truyền thống nhưng chưa tìmhiểu những nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn đến những hệ quả này.Những giải pháp chủ yếu tập trung dành cho những doanh nhân trong lĩnhvực này mà thiếu đi những giải pháp về chính sách hỗ trợ của chính quyềntỉnh Thừa Thiên Huế trong việc phát triển nghề thủ công truyền thống

- Nằm trong khuôn khổ dự án “Khung chính sách cho ngành thủ công

ở Việt Nam, tập trung vào làng nghề thủ công truyền thống ở năm khu vực di sản thế giới” do Quỹ Korea Funds - Trust tài trợ, với sự điều phối của Bộ Văn

hóa - Thể thao - Du lịch, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng cáctỉnh có di sản thế giới, TS Nguyễn Thị Phương Châm và các cộng sự (2009)

đã công bố kết quả bước đầu về tiềm năng, thực trạng và những giải pháp cho

sự phát triển nghề thủ công ở Huế trong bối cảnh thành phố di sản Trongnghiên cứu của mình, tác giả đã trình bày bối cảnh chung của Huế và đặc thùnghề thủ công; thực trạng nghề thủ công ở Huế và các giải pháp, trong đó tậptrung vào phân tích các nội dung: nguyên liệu, qui trình và công nghệ sảnxuất, qui mô sản xuất, nhân lực, môi trường, sản phẩm và thị trường tiêu thụsản phẩm; quản lý ngành nghề thủ công và mối quan hệ giữa nghề thủ công

Trang 8

và di sản, du lịch Đồng thời, cũng nêu lên các chính sách, các chương trình,

dự án, nghiên cứu liên quan đến việc phục hồi và phát triển ngành nghề thủcông ở Huế Nhìn chung, nghiên cứu về nghề thủ công này khá toàn diện,nhưng hạn chế của nghiên cứu là chưa đánh giá được vai trò hỗ trợ của chínhquyền địa phương trong việc thúc đẩy phát triển ngành nghề thủ công ở Huế

- Tác giả Liên Minh (2009) cũng đã có bài tham luận “Một số vấn

đề bảo tồn và phát triển làng nghề’ tại Hội thảo “Nghề và làng nghề thủ công truyền thống: Tiềm năng và định hướng phát triển” được tổ chức tại

Thành phố Huế (6/2009) Ông đã đưa ra được những nhận định về việcbảo tồn và phát triển làng nghề thủ công truyền thống nói chung ở ViệtNam và chủ trương, chính sách hỗ trợ của Chính phủ trong lĩnh vực này.Đồng thời, ông đã đưa ra những quan điểm; mục tiêu; định hướng bảo tồn

và phát triển làng nghề theo vùng lãnh thổ; nội dung bảo tồn và phát triểnlàng nghề và một số giải pháp thực hiện bảo tồn và phát triển làng nghề.Tuy nhiên, hạn chế của bài viết chỉ nêu khái quát tình hình mà chưa cónghiên cứu sâu về thực trạng các làng nghề Do đó, các giải pháp đưa racũng chỉ mang tính định hướng là chính mà không có tính chiến lược chotừng địa phương cụ thể

Tóm lại: Tất cả những công trình nêu trên đã tiến hành nghiên cứu làng

nghề, làng nghề truyền thống tập trung ở các lĩnh vực chính sau:

+ Một là, nghiên cứu tổng quan về tình hình hoạt động của công nghiệpnông thôn; thực trạng CNH-HĐH nông nghiệp và phát triển nông thôn;

+ Hai là, nghiên cứu về tình hình phát triển tiểu thủ công nghiệp vànhững vấn đề môi trường tác động đến làng nghề;

+ Ba là, nghiên cứu về tình hình SXKD của làng nghề, làng nghềtruyền thống từ lao động, công nghệ, vốn, thị trường tiêu thụ sản phẩm…trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Trang 9

Tuy nhiên, chưa có một công trình nào đi sâu nghiên cứu về thựctrạng và giải pháp phát triển kinh tế ngành tiểu thủ công nghiệp tại một địabàn quận, huyện như quận Kiến An – thành phố Hải Phòng Đặc biệt lànghiên cứu phát triển kinh tế mang tính bền vững các nghề truyền thống cácngành tiểu thủ công nghiệp trên cơ sở gắn kết 03 nội dung kinh tế - xã hội -môi trường trong bối cảnh cạnh tranh và hội nhập quốc tế.

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

* Nhiệm vụ nghiên cứu

Phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn về kinh tế ngành tiểu thủ côngnghiệp

Phân tích đánh giá thực trạng việc phát triển ngành tiểu thủ côngnghiệp ở quận Kiến An trong thời gian qua

Đề xuất quan điểm cơ bản và những giải pháp chủ yếu nhằm thức đẩy

sự phát triển ngành tiểu thủ công nghiệp của quận Kiến An trong thời gian tới

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu thực trạng phát triển ngành tiểu thủ công nghiệp của các cơ

sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn quận Kiến An trong quá trình phát triểncông nghiệp hoá, hiện đại hoá thành phố hiện nay

* Phạm vi nghiên cứu

Đề tài đi sâu nghiên cứu vấn đề quá trình hoạt động, phát triển TTCNcủa các cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn quận Kiến An

Trang 10

Các số liệu khảo sát, thống kê, minh chứng tính từ năm 2004 trở lại đây,giải pháp đến năm 2020.

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận củachủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, chủ trương,chính sách của Đảng, của thành phố về kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vềcông nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Ngoài ra, để phục vụ mục tiêu nghiên cứu đề tài còn sử dụng phươngpháp kết hợp lịch sử - logic, phân tích và tổng hợp, so sánh, khảo sát thựctiễn, gắn lý luận với thực tiễn…nhằm nhận xét đánh giá thành tựu và các hạnchế một cách thực tế nhất để có phương hướng phát triển ngành TTCN ở quậnKiến An trong thời gian tới

6 Ý nghĩa của đề tài

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thựctiễn trong phát triển kinh tế TTCN; cung cấp những luận cứ khoa học, giúpcho các cơ quan quản lý địa phương có cách nhìn chiến lược trong phát triểnkinh tế địa phương

Sản phẩm của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho các cơ sở sảnxuất tiểu thủ công nghiệp và các cơ quan chức năng

7 Kết cấu của đề tài

Đề tài gồm: Phần mở đầu, 3 chương (6 tiết), kết luận, danh mục tài liệutham khảo, phụ lục

Trang 11

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN NGÀNH TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP Ở QUẬN KIẾN AN,

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 1.1 Quan niệm và các hình thức của tiểu, thủ công nghiệp

1.1.1 Tiểu thủ công nghiệp

Lịch sử xã hội loài người đã trải qua ba lần phân công lao động xã hộilớn, theo đó LLSX xã hội có bước phát triển vượt bậc hơn trước và với cuộcphân công lao động xã hội lần thứ hai TCN trở thành một nghề riêng biệt.TCN là giai đoạn phát triển thấp của công nghiệp; lúc đầu chỉ thỏa mãn cácnhu cầu của người sản xuất và mang tính chất của một nghề phụ Về sau đãxuất hiện những nghề thủ công độc lập, chuyên chế biến các nguyên liệu vàdùng sản phẩm đó để trao đổi Đến thế kỷ XI, NN và TCN đã phát triển, trởthành những ngành độc lập và mối quan hệ giữa chúng trở thành mối quan hệcủa trao đổi sản phẩm hàng hóa

Ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, nội hàm của khái niệm “tiểu công nghiệp” và “thủ công nghiệp” có sự thay đổi do sự phát triển mạnh mẽ của

khoa học kỹ thuật, thậm chí mỗi quốc gia khác nhau tùy theo quy ước củamình mà đưa ra những cách hiểu khác nhau Đối với Việt Nam, chúng takhông có sự phân định rõ ràng giữa CN và TCN, hai khái niệm này thườngđược dùng ghép với nhau như một thuật ngữ không tách biệt

Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin đã đề cập đến TCN Khi

nói đến TCN, V.I.Lênin viết “hình thức CN thứ nhất tách khỏi NN gia trưởng, là nghề thủ công nghiệp, là nghề chế tạo các vật phẩm theo đơn đặt hàng của người tiêu dùng” Người cũng khẳng định TCN là sản phẩm của sự phát triển xã hội, là giai đoạn phát triển thấp của CN “sự xuất hiện của một nghề thủ công mới đánh dấu một bước tiến trong sự phân công lao động xã hội; Một bước tiến như vậy là điều tất yếu phải có trong xã hội TBCN chừng

Trang 12

nào mà xã hội này còn ít nhiều duy trì nông dân và nền NN của tự nhiên và chừng nào mà những cơ cấu và truyền thống của thời xưa (gắn liền với tình trạng đường giao thông chưa được tiện lợi ) còn ngăn cản đại CN cơ khí thay thế trực tiếp cho CN gia đình Mỗi bước tiến trong sự phát triển của kinh

tế hàng hóa đều không tránh khỏi dẫn đến chỗ là nông dân luôn luôn sản sinh

ra những người mới làm nghề thủ công; quá trình đó có thể nói là mở ra một địa bàn mới, chuẩn bị cho CNTB tiến hành những cuộc xâm nhập mới vào những khu vực lạc hậu nhất trong nước hoặc vào những ngành CN lạc hậu nhất”.

Khái niệm “thủ công nghiệp” và “tiểu công nghiệp” cho đến thời điểm

này vẫn chưa có sự phân biệt rõ ràng Các nhà kinh tế học dân túy Nga trước

đây nói đến “công nghiệp thủ công” tương đồng với khái niệm TTCN hiện nay Nhưng khái niệm đó đã bị V.I.Lênin phê phán “đó là một khái niệm hoàn toàn không thích do việc nghiên cứu một cách khoa học, vì trong khái niệm đó người ta thường bao gồm tất cả mọi hình thức CN, từ những nghề thủ công gia đình và nghề thủ công cho đến lao động làm thuê trong những công trường thủ công rất lớn” Để phân biệt “thủ công nghiệp” và “tiểu công nghiệp” V.I.Lênin đã viện dẫn ba giai đoạn phát triển của CNTB trong CN nước Nga “đặc biểm của tiểu SXHH là kỹ thuật thủ công hoàn toàn nguyên thủy, từ xưa đến nay kỹ thuật ấy vẫn không thay đổi” Người làm nghề thủ

công vẫn là nông dân, họ chế biến nguyên liệu theo phương pháp truyềnthống Công trường thủ công áp dụng lối PCLĐ, do đó kỹ thuật được cải cách

về căn bản, nông dân biến thành thợ bạn, thành “công nhân sản xuất bộ phận” Hơn thế, Lênin cũng chỉ ra “đặc trưng của tiểu SXHH và công trường thủ công là ở chỗ các xí nghiệp nhỏ chiếm ưu thế, trong đó chỉ thấy có một số

xí nghiệp lớn” và “ngay tính chất của sự phát triển sản xuất cũng thay đổi theo những giai đoạn khác nhau của CNTB” Trong các nghề thủ công nhỏ sự

phát triển sản xuất đi theo đà phát triển của kinh tế nông dân; thị trường hết

Trang 13

sức nhỏ hẹp, người sản xuất và người tiêu thụ không xa nhau lắm, quy mônhỏ hẹp dễ thích hợp với nhu cầu địa phương, nhu cầu đó lên xuống khôngbao nhiêu Vì vậy, CN ở giai đoạn này được ổn định đến mức độ cao nhất,tình trạng ổn định này lại là tình trạng kỹ thuật đình đốn, tình trạng duy trìquan hệ xã hội gia trưởng, mà quan hệ xã hội này lại xoắn xuýt chặt chẽ vớimọi tàn tích của truyền thống thời trung cổ Công trường thủ công sản xuấtcho thị trường lớn, đôi khi cho cả toàn quốc, nên sản xuất của nó có tính chấtkhông ổn định mà chỉ riêng CBTB mới có và tính chất này lên đỉnh chóp của

nó trong sản xuất công xưởng

Như vậy, giai đoạn phát triển công trường thủ công gần với nội hàm

khái niệm “tiểu công nghiệp”, sự khác nhau giữa thủ công nghiệp và tiểu công

nghiệp chỉ là ở trình độ PCLĐ, tiến bộ kỹ thuật, thị trường tiêu thụ sản phẩm,nguyên vật liệu, quy mô tổ chức sản xuất lớn hay nhỏ, phân tán hay tập trung.Với tiêu trí đó, cũng như tại thời điểm bùng nổ cuộc cách mạng khoa học kỹ lần

thứ nhất thì có thể hiểu “tiểu công nghiệp” chính là hình thức CN sử dụng công

cụ lao động nửa cơ khí để chế biến nguyên liệu ra sản phẩm Cuộc cách mạngkhoa học kỹ thuật lần thứ nhất khởi đầu ở nước Anh thế kỷ XVIII, máy móc đãthay thế công cụ thủ công, sự phát minh và ứng dụng máy hơi nước có tác dụngthen chốt trong sản xuất lớn TBCN Máy móc ban đầu là sự kết hợp của ba bộphận: công tác, phát lực và truyền lực; sau đó có thêm bộ phận điều khiển tựđộng, sử dụng rộng rãi sức điện và vật liệu mới Nhưng nếu vẫn sử dụng sứcngười thay cho máy phát lực thì lao động bằng máy công tác đó là lao độngnửa cơ khí

Ngày nay, trên thế giới có hai quan niệm về TTCN là tiểu công nghiệp

và thủ công nghiệp:

* Về Tiểu công nghiệp: mỗi quốc gia đều đề ra các quy định về tiểu

công nghiệp có tính chất hành chính, pháp lý để phân biệt với “đại hay trung công nghiệp” Khái niệm này làm cơ sở cho việc thi hành các chính sách

Trang 14

riêng cho khu vực “tiểu công nghiệp” Mỗi quốc gia, trong các thời kỳ khác

nhau, có chính sách khác nhau trong ưu tiên về tín dụng, nguyên liệu, cố vấn

kỹ thuật, trên cơ sở yêu cầu phát triển KT-XH khác nhau, vì thế khái niệm vềTiểu công nghiệp cũng khác nhau:

Năm 1957, Nhật Bản ban hành Luật quy định: các xí nghiệp sử dụngdưới 300 công nhân, mức vốn dưới 10 triệu Yên, được thừa nhận hợp pháp làtiểu công nghiệp, được hưởng những chính sách tài trợ về tiểu công nghiệp

Ở Mỹ quy định: dưới 250 công nhân được xem là tiểu công nghiệp, vàtiểu công nghiệp còn được phân biệt theo bộ hoặc cơ quan quản lý nhà nước.Trong ngành công nghiệp chế tạo vẫn lấy số lượng công nhân làm cơ sở, nhưngngành dịch vụ chủ yếu lấy số bán ra hay số thu hàng năm làm tiêu chuẩn

Ở Ấn Độ, trước năm 1960 quy định về “tiểu công nghiệp” là có dưới

100 công nhân nếu không dùng năng lượng, hay dưới 50 công nhân nếu có sửdụng năng lượng; đến năm 1960 quy định chủ yếu căn cứ vào mức vốn

“không quá 500.000 Rupi hay 1 triệu Rupi trong một số trường hợp đặc biệt”

Do sự xác định khác nhau nên năm 1952 Ủy ban Kinh tế của Liên hợpquốc đưa ra định nghĩa để chuẩn hóa các thuật ngữ sử dụng Theo đó, Côngnghiệp sản xuất quy mô nhỏ là loại xí nghiệp chủ yếu sử dụng nhân công đượctrả lương, số lương không quá 50 người ở mọi cơ sở sản xuất không dùng độnglực hay dùng không quá 20 người trong một xí nghiệp có dùng động lực

Vì để có một khái niệm “tiểu công nghiệp” dùng chung cho các nước là

rất khó nên người ta dùng một loại khái niệm nêu bật các đặc điểm cơ bản về sốlượng, chức năng, tính chất, cơ cấu của doanh nghiệp với 4 đặc trưng sau:

- Sự chuyên môn hóa ở mức độ thấp về quản lý và lãnh đạo xí nghiệp;

- Vai trò cá nhân chủ xí nghiệp về những mối liên hệ tiếp xúc chặt chẽvới khách hàng, tính mềm giẻo trong sản xuất hoặc giao dịch, quan hệ chủ vớithợ; tính linh hoạt trong các chính sách đối với tiểu công nghiệp;

Trang 15

- Những điểm mạnh, điểm yếu về phương diện vốn và tín dụng như:khó vay vốn ở ngân hàng hơn các xí nghiệp lớn, nhưng dễ huy động vốn từ bàcon hay bạn bè để thành lập, phát triển sản xuất;

- Tính chất đa dạng của sản xuất TTCN cần áp dụng mềm dẻo các biệnpháp, chính sách, một sự chỉ đạo, một chương trình phát triển chuyên biệt

* Về thủ công nghiệp: người ta vẫn coi là một thành phần, một dạng đa

thức, một loại “tiểu công nghiệp” Hai loại định nghĩa về tiểu công nghiệp và

thủ công nghiệp bổ sung cho nhau, nhưng không thể sử dụng toàn cầu Đểnghiên cứu sâu các vấn đề về tiểu công nghiệp và thủ công nghiệp, chúng tacần có một mốc chuẩn nào đó

Ở Việt Nam, khái niệm “thủ công nghiệp” hay nghề thủ công được hiểu

là một hình thức công nghiệp sử dụng công cụ cầm tay, để chế biến nguyênliệu ra sản xuất ra sản phẩm Hình thức nguyên thủy là sự tác động của tayhoặc chân người lao động lên đối tượng lao động thông qua công cụ lao động.Đặc trưng của thủ công nghiệp là công cụ cầm tay hay cải tiến

Về “tiểu công nghiệp” có thể hiểu bao gồm các đơn vị sản xuất công

nghiệp có trang bị kỹ thuật tương đối cao hơn thủ công nghiệp Ở một số khâu,

bộ phận chủ yếu trong dây chuyền sản xuất có thể được trang bị máy móc hiệnđại, được chuyên môn hóa để sản xuất ra các chi tiết, bộ phận, sản xuất hoànchỉnh Sự khác nhau căn bản giữa tiểu công nghiệp và thủ công nghiệp là ở trình

độ kỹ thuật của TLSX Giữa chúng có điểm giống nhau dựa trên quy mô sảnxuất nhỏ đã tồn tại một nền đại công nghiệp và chúng là bộ phận công nghiệpphụ trợ Trong điều kiện KH – CN phát triển nhanh chóng, để phân biệt với đạicông nghiệp, khái niệm tiểu công nghiệp không chỉ dựa vào chỉ tiêu về vốn vàlao động mà cần bổ sung các chỉ tiêu như mức độ phức tạp của quản lý, hiệu quảSXKD để làm rõ danh giới giữa tiểu công nghiệp và đại công nghiệp

Về chỉ tiêu độ phức tạp của quản lý có 05 yếu tố: quy mô vốn sản xuấtkinh doanh, doanh thu và thu nhập khác, đầu mối quản lý, trình độ công nghệsản xuất (cao, trung bình, thấp), lao động sử dụng

Trang 16

Về chỉ tiêu hiệu quả SXKD có 03 yếu tố: số tiền nộp ngân sách nhànước, lợi nhuận thực hiện và tỷ suất lợi nhuận trên vốn.

Căn cứ vào 08 yếu tố quy định tại Thông tư liên tịch số23/2005/TTLT:Bộ LĐTB&XH và Bộ Tài chính, để phân hạng DNNN hoạtđộng theo Luật doanh nghiệp và vận dụng để xếp hạng doanh nghiệp ở cácTPKT khác:

- DNNN được phân ra 5 hạng: Tổng công ty đặc biệt và tương đương;Tổng công ty và tương đương; đối với Công ty được xếp thành 03 hạng: từhạng I đến hạng III với quy mô nhỏ dần

- Việc xếp hạng được tiến hành theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ như:phận loại, chọn chỉ tiêu, xác định tỷ trọng và cho điểm dựa theo ngành kinh tế

- kỹ thuật, đảm bảo tương quan hợp lý trong xếp hạng

- Theo đó quy mô các doanh nghiệp hạng III, doanh nghiệp thành lậptheo Luật Công ty, Luật Doanh nghiệp tư nhân tương ứng với quy mô xínghiệp trung, tiểu ở một số nước khác nhau trên thế giới

Như vậy, định nghĩa tiểu công nghiêp được đề cập ở trên và theo Nghịđịnh số 90/2001/NĐ-CP đó là DNNVV, là các cơ sở SXKD độc lập đã đăng kýkinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc

số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người và là doanh nghiệp đượcxếp hạng III tùy theo ngành nghề Điểm xếp hạng, danh giới giữa doanh nghiệphạng III với các hạng khác quy định theo đặc điểm của các ngành đó

Theo Từ điển Bách khoa toàn thư thì “thủ công nghiệp” là hình thức

sản xuất sử dụng công cụ cầm tay, các phương pháp thủ công để tác động trựctiếp lên đối tượng lao động Đặc trưng kỹ thuật của thủ công nghiệp là công

cụ cầm tay thô sơ hoặc cải tiến Trong lao động thủ công, con người làm cảchức năng phát lực, truyền lực và điều khiển công cụ Như vậy, thủ côngnghiệp là một nghề thủ công, hình thức sản xuất công nghiệp dựa trên quy mônhỏ, công cụ lao động đơn giản và chủ yếu dựa vào sự khéo léo của bàn tay

Trang 17

người thợ thủ công Hiện nay, khi KH – CN đã có những phát triển vượt bậc,

cách hiểu về khái niệm “thủ công nghiệp” có những nội dung thay đổi, người

thợ thủ công đã sử dụng máy móc để phát lực, truyền lực kết hợp với sự khéoléo của đôi bàn tay để tạo ra các sản phẩm thủ công độc đáo, tinh xảo và cógiá trị kinh tế cao Sự khác biệt cơ bản giữa thủ công nghiệp và đại côngnghiệp chính là việc điều khiển công cụ lao động được thực hiện dựa vào sựkhéo léo của bàn tay con người và sự PCLĐ được tiến hành một cách chủquan dựa vào năng lực của người công nhân

Đặc điểm chủ yếu của thủ công nghiệp bao gồm nhiều ngành, nghềphong phú từ sản xuất đến dịch vụ sản xuất và đời sống; gắn chặt chẽ vớisản xuất và tiêu dùng các nguyên liệu, tận dụng các phế liệu và đáp ứngcác nhu cầu và thị hiếu tiêu dùng của địa phương; thường là quy mô nhỏ,linh hoạt, thuận tiện và tiết kiệm được chi phí quản lý; có khả năng huyđộng nhiều nguồn vốn tự có của gia đình đồng thời kết hợp được với vốnvay Các loại hình sản xuất của thủ công nghiệp khá phong phú như thủcông nghiệp gia đình, thủ công nghiệp tiểu chủ, thủ công nghiệp hợp tác(tổ, đội, HTX TCN ) Cơ cấu sản xuất thủ công nghiệp bao gồm nhiềuloại khác nhau: mộc, nề, cơ khí, xây dựng cơ bản, thủ công mỹ nghệ, dệt,may, giấy, vận chuyển Tính chất sản xuất thủ công nghiệp cũng cónhiều dạng: tự cung tự cấp, tự sản tự tiêu; vừa tự cung tự cấp vừaSXHH; SXHH Thủ công nghiệp Việt Nam có truyền thống sản xuất lâuđời với nhiều ngành nghề phong phú, gắn chặt với nông nghiệp, lâmnghiệp, ngư nghiệp, phân bố rộng khắp các làng xã và mang tính chất địaphương rõ rệt; nhưng tùy theo điều kiện tự nhiên, kinh tế khác nhau,trình độ phát triển cũng có khác nhau giữa các vùng Việc bảo tồn vàphát triển thủ công nghiệp truyền thống phải theo hướng CNH, HĐH mới

có thể tăng được NSLĐ, chất lượng sản phẩm tạo nên nhiều sản phẩmhàng hóa

Trang 18

Còn “tiểu công nghiệp” là bộ phận của công nghiệp bao gồm những cơ

sở sản xuất nhỏ có trình độ trang thiết bị kỹ thuật cơ khí hoặc nửa cơ khí và

có trường hợp có kỹ thuật tinh xảo Tùy theo điều kiện khác nhau, tiểu côngnghiệp có các hình thức sở hữu, quy mô và trình độ khác nhau Về hình thức

sở hữu, có thể là HTX, tư nhân, gia đình Về quy mô, nói chung thuộc quy mônhỏ được biểu hiện ở một số chỉ tiêu như số lao động, vốn, máy móc thiết bị,sản phẩm Về trình độ có trang thiết bị bằng cơ khí, nửa cơ khí hay tự động.Tiểu công nghiệp không chỉ phát triển ở các nước đang phát triển mà ở cả cácnước phát triển Tiểu công nghiệp thường phát triển ở các doanh nghiệp nhỏ

vì nó có đặc điểm không đòi hỏi nhiều vốn, máy móc thiết bị, mặt bằng sảnxuất lớn như các doanh nghiệp lớn; cơ cấu sản xuất đa dạng, khả năng linhhoạt cao đáp ứng kịp thời nhu cầu thay đổi thị trường; phục vụ nhanh nhạy thịhiếu của người tiêu dùng; việc tổ chức quản lý gọn nhẹ, kết hợp chặt chẽ giữasản xuất thủ công và sản xuất cơ giới Tiểu công nghiệp phát triển ở nôngthôn góp phần thúc đẩy nhanh quá trình CNH – HĐH nông thôn Cơ cấu sảnxuất công nghiệp bao gồm nhiều nhóm: nhóm khai thác tài nguyên khoángsản; nhóm khai thác chế biến các tài nguyên động vật, thực vật trong nônglâm ngư nghiệp; nhóm gia công cơ khí, điện tử, dệt, may, mặc, giày da; nhómsản xuất các mặt hàng truyền thống như gốm, nữ trang, mỹ nghệ, đồ gỗ ỞViệt Nam, tiểu công nghiệp có những điều kiện phát triển thuận lợi do tàinguyên đất đai, khoáng sản, lao động dồi dào, kỹ thuật và công nghiệp khôngquá phức tạp, thị trường tiêu thụ ở thành thị và nông thôn rộng lớn

Từ trước tới nay, ở Việt Nam không có sự phân định rõ ràng giữa thủcông nghiệp và tiểu công nghiệp; hai khái niệm này thường được dùng ghépvới nhau như một thuật ngữ không tách biệt Xét về nguồn gốc ra đời, các tổchức sản xuất TTCN của nước ta được hính thành theo 3 cách:

Trang 19

Thứ nhất: tổ chức những người thợ thủ công cá thể vào làm ăn tập thể,hình thành các HTX TTCN, các HTX TTCN ở đây thường được hiểu là HTXchỉ sở hữu tập thể còn TTCN chỉ trình độ kỹ thuật của sản xuất.

Thứ hai: thông qua con đường cải tạo XHCN đối với các xí nghiệp tưbản tư doanh, hình thành các xí nghiệp công tư hợp doanh

Thứ ba: các xí nghiệp công nghiệp quốc doanh tỉnh hoặc huyện hoặccủa các đoàn thể, của tổ chức các hội nghề nghiệp hình thành thông qua việcđầu tư xây dựng các xí nghiệp mới

Tiểu thủ công nghiệp (TTCN) là một lĩnh vực sản xuất có quan hệ vớisản xuất công nghiệp, TTCN được coi là một lĩnh vực vừa độc lập, vừa phụthuộc với công nghiệp Xét về trình độ kỹ thuật và hình thức tổ chức sản xuất, thìTTCN chính là hình thức phát triển sơ khai của công nghiệp Trong quá trìnhphát triển lịch sử, ngành công nghiệp đã trải qua hình thái tiểu thủ công nghiệp

TTCN phát sinh và phát triển cùng con người và xã hội loài người ởcác xã hội tiền tư bản cái gọi là sản xuất tiểu thủ công nghiệp đảm bảo toàn bộcác sản phẩm lao động và tiêu dùng của con người, trừ các sản phẩm nôngnghiệp Với quá trình phát triển của nền công nghiệp hiện đại ngày nay thìtiểu thủ công nghiệp cần được xác định rõ ràng hơn

- Thủ công nghiệp: Về mặt sản xuất thủ công nghiệp là hình thái pháttriển của công cụ lao động từ thô sơ bằng tay đến cơ khí kế hợp máy móc hiệnđại, năng suất lao động ngày càng cao, sản xuất nhiều hàng hoá Về mặt quan

hệ sản xuất đó là sự phát triển từ quan hệ thợ ban, phường hội tới quan hệ chủxưởng và nhân công làm thuê

- Tiểu công nghiệp: Như tên gọi của nó, tiểu công nghiệp chỉ nhữngđơnvị sản xuất công nghiệp với quy mô nhỏ, tiểu công nghiệp và thủ côngnghiệp khó tách biệt với nhau Tiểu công nghiệp là hình thức phát triển caohơn của thủ công nghiệp trong điều kiện phát triển công nghiệp ngày nay

Trang 20

* Khái niệm: “Tiểu thủ công nghiệp (TTCN) bao gồm toàn bộ cơ sở

sản xuất có quy mô nhỏ được tiến hành bằng các kỹ thuật thủ công kết hợp với máy móc cơ khí, chuyên sản xuất các mặt hàng tiêu dùng phi nông nghiệp truyền thống được tiến hành sản xuất ở nông thôn, ở các làng nghề, thị trấn

thị tứ và đô thị”

Về làng nghề TTCN: Theo Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày7/7/2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn, Chính phủ đãgiao cho Bộ NN và Phát triển nông thôn quy định nội dung và tiêu chuẩncông nhận nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống Cho đếnnay, trên phạm vi cả nước vẫn chưa có tiêu chuẩn thống nhất về công nhậnlàng nghề, làng nghề truyền thống Tuy nhiên trên thực tế, hầu hết các tỉnh đãban hành các văn bản quy định về tiêu chuẩn làng nghề TTCN của riêngmình, trong đó để được công nhận làng nghề phải có đủ 05 tiêu chuẩn sau:

Một là về ngành nghề: các làng nghề có ngành nghề sản xuất hàng thủcông mỹ nghệ; TTCN; sản xuất – chế biến; bảo quản nông lâm, thủy sản vàcác ngành nghề khác phù hợp với quy hoạch phát triển KT – XH được UBNDThành phố hoặc UBND các quận, huyện phê duyệt

Hai là về kinh tế: giá trị sản xuất từ ngành nghề đặc trưng của làngnghề chiếm tỷ trọng từ 40% trở lên so với tổng giá trị sản xuất của các ngànhnghề trong làng

Ba là về sử dụng lao động: có số hộ trong làng trực tiếp tham gia làmnghề từ 40% trở lên so với tổng số hộ dân của làng

Bốn là được Sở Tài nguyên Môi trường và Nhà đất, Sở Thương mại, SởLao động – Thương binh và Xã hội chấp thuận bằng văn bản đạt các tiêuchuẩn về môi trường, văn minh thương mại, dịch vụ và an toàn lao động tronglàng nghề

Năm là về văn hóa – xã hội: làng nghề có hương ước hoặc quy chế hoạtđộng và chấp hành tốt các tiêu chuẩn về an ninh và an toàn xã hội

Trang 21

Thông thường, hoạt động của làng nghề TTCN lúc đầu phát sinh từ một

số gia đình, dần dần mở rộng ra nhiều gia đình và phát triển thành làng nghề

Số hộ và số lao động làm nghề TTCN ngày càng nhiều Như vậy, làng nghềTTCN là những làng ở nông thôn có một hay một số nghề TTCN tách ra khỏi

NN để SXKD độc lập, phương pháp sản xuất đã được cải tiến hoặc sử dụngnhững máy móc hiện đại hỗ trợ cho sản xuất

Có thể thấy rằng mỗi địa phương cũng quy định về con số định lượngcông nhận làng nghề khác nhau, ví dụ Hà Tây (cũ) quy định số hộ hoặc số laođộng làm nghề TTCN phải đạt từ 50% trở lên; Thừa Thiên Huế lại quy định

số hộ lao động trực tiếp tham gia làm nghề TTCN đạt từ 30% trở lên, JICA –

cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản phối hợp với Bộ NN và Phát triển nôngthông điều tra năm 2004 đánh giá tiêu chí có trên 20% số hộ làm nghề, thunhập từ nghề chiếm trên 20% thu nhập chung Qua đây, ta có thể thấy con sốđịnh lượng công nhận làng nghề phải đạt các tiêu chuẩn sau:

- Giá trị sản xuất của làng nghề chiếm tỷ trọng nhất định (ít nhất là 20%trở lên) so với tổng giá trị sản xuất của làng;

- Số hộ hoặc số lao động làm nghề CN – TTCN ở làng chiếm đa số ( từ20% trở lên) trong tổng số hộ hoặc lao động của từng làng;

- Chấp hành tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luậtcủa Nhà nước, các quy định của địa phương;

- Ngoài ra, còn một số tiêu chuẩn khác liên quan đến tuổi đời của nghề đượclưu truyền, tiêu chuẩn về môi trường, văn minh, an toàn lao động của làng nghề

1.1.2 Các hình thức sản xuất tiểu thủ công nghiệp.

Trước thời kỳ đổi mới, các làng nghề truyền thống nước ta có ba môhình tổ chức sản xuất: tổ sản xuất, HTX cung tiêu sản xuất và HTX sản xuất.Sau thời kỳ đổi mới, đã phát triển thêm một số mô hình mới: doanh nghiệp tưnhân, công ty TNHH, tổ hợp tác, HTX mới, hộ cá thể Trong cơ chế thịtrường có sự quản lý của Nhà nước định hướng XHCN, các mô hình tổ chứcsản xuất phù hợp sẽ thúc đẩy TTCN phát triển, đạt được nhiều thành tựu mới.Cho đến nay có một số hình thức sản xuất tiểu thủ công nghiệp sau:

Trang 22

Một là: sản xuất tiểu thủ công nghiệp hộ gia đình:

Đây là hình thức tổ chức sản xuất cổ truyền, rất phổ biến trong nghềTCN ở các làng nghề TLSX của xưởng thủ công là đồng sở hữu các thànhviên trong gia đình Các thành viên trong gia đình lao động không phải lấytiền công mà góp chung vào kết quả sản xuất của cơ sở sản xuất Gia đình tự

tổ chức lao động Chủ hộ đồng thời là người quản lý, người thợ cả quyết địnhviệc SXKD và tài chính của cơ sở sản xuất Mô hình sản xuất này có nhiều ưuđiểm gọn nhẹ, NSLĐ cao, bảo tồn công nghệ cổ truyền, tiết kiệm chi phí quản

lý, tận dụng lao động, sản phẩm có sức cạnh tranh và hiệu quả kinh tế cao

Mô hình này cũng có một số nhược điểm như tài chính, thị trường, cải tiếncông cụ và đổi mới công nghệ còn hạn chế Kinh nghiệm ở các nước CN pháttriển, TCN gia đình có thể duy trì, trên cơ sở tiếp thu kỹ thuật và công nghệhiện đại để cải biến chính nghề thủ công của mình, quan hệ bổ trợ, liên kếtvới CN hiện đại

Hai là: tổ sản xuất

Đây là một hình thức liên kết sản xuất có tính hiệp tác của một số thợthủ công hoặc một số hộ gia đình sản xuất TCN, SXKD một sản phẩm nào

đó Mô hình hoạt động theo nguyên tắc khách quan, tự nguyện và cùng có lợi

Sự hợp tác này có thể thực hiện ở tất cả các khâu hoặc một khâu nào đó trongviệc sản xuất hoàn chỉnh một sản phẩm; hoặc chỉ một khâu tiêu thụ sản phẩm,bán thành phẩm hay việc thu mua nguyên vật liệu, vật tư trên thị trường Mức

độ hợp tác giữa họ phụ thuôc vào trình độ xã hội hóa nghề TTCN hay cơ sở

hạ tầng KT – XH ở địa phương, nhằm phát triển sản xuất, nâng cao doanh lợi

Sự hợp tác đó có thể thực hiện trên một sơ sở pháp lý hoặc tín chấp theophong tục tập quán của cộng đồng

Trang 23

nghề khác nhau, hoặc có thể giao một số nhiệm vụ khác Việc phân phối thunhập cho lao động làm nghề thủ công này cũng tính theo công điểm, ăn chianhư lao động NN.

- Hiện nay mô hình HTX kiểu mới thực hiện theo Luật HTX, là loạihình tổ chức sản xuất chủ yếu ở nông thôn nước ta Ở hình thức tổ chức sảnxuất này, các nghề TTCN sẽ phát huy yếu tố tích cực tạo việc làm, sẽ huyđộng mọi nguồn vốn trong nhân dân, để cải tiến, đầu tư máy móc, công cụ,nhà xưởng sản xuất, mở rộng SXKD TTCN

Bốn là: mô hình doanh nghiệp như doanh nghiệp tư nhân, công tyTNHH, công ty cổ phần:

Đây là những mô hình sản xuất tiên tiến, có trình độ xã hội hóa caotrong khu vực kinh tế nông thôn Các hình thức này tuy chưa phổ biến ở làngnghề song bước đầu nó đóng vai trò liên kết, hợp tác trong sản xuất và tiêuthụ sản phẩm có hiệu quả Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật,quy định về mặt pháp lý hoạt động của các loại doanh nghiệp Nhà nước tanhất quán công nhận sự tồn tại lâu dài và phát triển của công ty, thừa nhận sựbình đẳng trước pháp luật và tính sinh lời hợp pháp của họ Trong khuôn khổpháp luật, chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền tự do và chủ động trong mọihoạt động kinh doanh Các mô hình sản xuất trên tồn tại đan xen nhau, hợptác và hỗ trợ các mô hình sản xuất TCN khác phát triển, cùng đưa kinh tếnông thôn tiến lên CNH - HĐH

1.2 Quan niệm, nội dung và các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển ngành tiểu thủ công nghiệp ở quận Kiến An, thành phố Hải Phòng

1.2.1 Nội dung phát triển kinh tế ngành tiểu thủ công nghiệp

Ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau thì nội hàm của khái niệm “tiểu công nghiệp” và “thủ công nghiệp” cũng có sự thay đổi nhất định Dưới góc

độ nội dung của 2 khái niệm này mà từ điển Bách khoa toàn thư đưa ra, ta cóthể hình dung được nội dung của việc phát triển TTCN ở nước ta trong giai

Trang 24

đoạn hiện nay Trên cơ sở kết hợp công nghiệp hiện đại với kỹ thuật truyềnthống, phát huy lợi thế của tiểu thủ công nghiệp góp phần củng cố cơ cấu kinh

tế đã được từng địa phương xác định, đồng thời thu hút lao động, hướng tớiphân công lại lao động, nhất là lao động trong nông nghiệp, nông thôn Pháttriển TTCN bao gồm một số nội dung:

- Khôi phục và duy trì các nghề thủ công, làng nghề truyền thống; đồngthời du nhập, cấy nghề mới và đưa nghề vào làng thuần nông Tập trung sản xuấtcác sản phẩm truyền thống: gỗ, gốm sứ, may mặc, bánh mứt, mây tre đan…

- Phát triển và mở rộng các ngành nghề phục vụ sinh hoạt: chế biếnnông sản thực phẩm, đồ gỗ mỹ nghệ, nội thất cao cấp… các ngành nghề đápứng yêu cầu của ngành công nghiệp: gia công, chế biến, sơ chế các thànhphẩm, bán thành phẩm ngành công nghiệp, sản xuất vật liệu xây dựng…

- Đầu tư đổi mới, chuyển giao, từng bước HĐH các công nghệ, kỹ thuậtphục vụ sản xuất

- Xây dựng kết cấu hạ tầng cho các cụm, điểm công nghiệp, TTCN vàlàng nghề

- Đào tạo nghề mới, nâng cao tay nghề cho lao động gắn với doanhnghiệp, cơ sở sản xuất CN, TTCN

- Thành lập các hiệp hội ngành nghề CN, TTCN theo các quy mô

Năm 2006, Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược phát triển ngành TTCNgiai đoạn 2006 – 2015 của Bộ Công nghiệp với mục tiêu cơ bản là phát triểnngành nghề thủ công phải gắn với phát triển NN, CN và thị trường tiêu thụsản phẩm, giải quyết việc làm nâng cao thu nhập cho người lao động

Như vậy, phát triển ngành TTCN nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh

tế nông thôn theo hướng CNH - HĐH, tăng tỉ trọng nghề thủ công trong cơ cấu kinh tế nông thôn, tạo việc làm, tăng thu nhập và giá trị hàng hóa dịch

vụ, cải thiện cuộc sống của người dân nông thôn và bảo tồn giá trị văn hóa dân tộc của địa phương.

Trang 25

Việc phát triển ngành TTCN cần phải đảm bảo 03 tiêu chí sau:

Một là Tiêu chí phát triển về kinh tế: Việc phát triển các ngành nghề phải

đảm bảo tăng năng suất lao động, gia tăng giá trị sản lượng, thu hút lao động vàongành nghề phi nông nghiệp, nâng cao thu nhập, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấukinh tế nông thôn, thay đổi mô hình sản xuất tiêu dùng, thông qua:

- Tăng năng suất lao động nhằm giảm chi phí, hạ giá giá thành, nângcao sức cạnh tranh của sản phẩm làng nghề

- Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động nông thôn theohướng CNH-HĐH Điều này thể hiện qua: Tăng tỷ trọng công nghiệp - TTCN,dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp; chuyển lao động từ sản xuất nông nghiệp cóthu nhập thấp sang ngành nghề phi nông nghiệp có thu nhập cao hơn; tạo ra mộtnền kinh tế đa dạng ở nông thôn với sự thay đổi về cơ cấu, phong phú, đa dạng

về loại hình sản phẩm

- Gia tăng giá trị sản lượng, làm tăng giá trị sản phẩm hàng hóa, đóng gópđáng kể cho kinh tế địa phương

- Góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển; kích thích sự ra đời

và phát triển các ngành nghề liên quan mật thiết với nó như dịch vụ, thương mại,vận tải, thông tin liên lạc.v.v

- Từng bước hình thành phố chợ sầm uất, các trung tâm giao lưu buônbán, dịch vụ và trao đổi hàng hóa, dần dần tạo lập cụm dân cư với lối sống đô thịngày một rõ nét, tiến đến đô thị hóa trở thành các thị tứ, thị trấn

Hai là phát triển về xã hội: tạo việc làm, thu nhập ổn định cho người lao

động, góp phần xóa đói giảm nghèo, tăng quỹ phúc lợi, nâng cao trình độ dân trí,xây dựng nông thôn mới, bảo tồn văn hóa vùng miền ở làng nghề, thông qua:

- Tạo thêm nhiều việc làm mới, thu hút nhiều lao động vào các ngànhnghề phi nông nghiệp, nhất là lao động nông nhàn, tăng thêm thu nhập cho laođộng nông thôn Giải quyết việc làm không chỉ tại địa phương mà còn thu hútlao động các vùng lân cận, từ đó tạo ra động lực phát triển KT-XH địa phương

Trang 26

- Tận dụng và thu hút nhiều loại lao động, từ lao động thời vụ nông nhànđến lao động trên độ tuổi hay dưới độ tuổi, hạn chế việc di cư từ vùng này sangvùng khác.

- Các cơ sở ngành nghề phát triển tạo ra nguồn tích lũy lớn và ổn định chongân sách địa phương, từ đó đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật nông thôn(hệ thống điện, trường học, cấp thoát nước.v.v ); tăng sức mua của người dân vàthu hẹp khoảng cách thành thị - nông thôn

- Nâng cao học vấn của người dân, thể hiện trình độ dân trí văn minh caohơn; góp phần xóa đói giảm nghèo; giải quyết tốt các vấn đề xã hội như văn hóa,giáo dục, chăm sóc sức khỏe của người dân, giảm tệ nạn xã hội…

- Phát triển gắn liền với bảo tồn giá trị văn hóa dân tộc vì nó là sự kếttinh của lao động vật chất và lao động tinh thần, được tạo nên bởi bàn taytài hoa và óc sáng tạo của người thợ thủ công Giữ gìn và phát huy đượctính đa dạng và bản sắc văn hóa dân tộc thông qua các hoạt động lễ hội hayhương ước

Ba là phát triển về môi trường: nhằm giảm thiểu tác hại ô nhiễm môi trường

do quá trình sản xuất kinh doanh gây ra; có kế hoạch, quy hoạch khai thác, sửdụng tiết kiệm nguồn nguyên liệu; đa dạng hóa, nghiên cứu, sử dụng nguồnnguyên liệu thay thế; phòng ngừa, hạn chế các bệnh nghề nghiệp

- Bảo vệ môi trường sống không bị ô nhiễm, hạn chế các bệnh nghề nghiệp

- Gắn liền tái tạo tài nguyên, có ý thức nâng cao chất lượng môi trườngsinh thái làng nghề

- Khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm, có kế hoạch, quy hoạch vùngnguyên liệu cho các cơ sở sản xuất Hoặc làng nghề phải nghiên cứu, hướng tới

sử dụng nguyên liệu nhân tạo, đa dạng hóa, thay thế nguồn nguyên liệu

1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng

Quá trình phát triển TTCN ở nước ta chịu tác động của nhiều yếu tố,đặc biệt trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, những yếu tố này có sự biếnđổi và tác động ở nhiều chiều hướng khác nhau:

Trang 27

a Con người

Con người với tư cách là yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất, là chủthể sang tạo các hoạt động sản xuất kinh doanh, là khởi nguồn và là kết quảcủa quá trình sử dụng tất cả các nguồn lực khác Vì vậy, nguồn lực lao động,đặc biệt là chất lượng lao động có vai trò quyết định đến NSLĐ, chất lượngsản phẩm để nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm, thích ứng với nhu cầuphát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế

Trong môi trường cạnh tranh ngày càng quyết liệt, bình đẳng, các ứngdụng KH – CN ngày càng áp dụng sâu rộng vào quá trình sản xuất, việc tạo ra

và khẳng định chỗ đứng cho các sản phẩm TTCN là vấn đề không dễ dàng.Muốn vậy, rất cần có đội ngũ lãnh đạo chủ chốt không những chỉ vững vàngchính trị, giàu tâm huyết mà còn có bản lĩnh thương trường và kiến thức vềKTTT, về hội nhập kinh tế quốc tế tốt, đủ sức nhìn nhận, nắm bắt kịp thời,đầy đủ và xử lý chính xác, hiệu quả các vấn đề quản lý kinh doanh và nhân sựtrong quá trình hoạt động của các cơ sở sản xuất TTCN Trình độ học vấnthấp sẽ khó khăn khi tiếp cận, tiếp thu công nghệ mới Thiếu kiến thức quản

lý kinh doanh và thông tin thị trường sẽ ảnh hưởng đáng kể đến năng lực làmviệc của người quản lý

Hiện nay, các hộ sản xuất trong làng nghề TTCN vẫn sử dụng lao độngtrong gia đình là chính Tuy nhiên, tùy theo mức độ ngành nghề và quy môsản xuất ở những làng nghề có tính tập trung hóa cao mà số lao động thuêmướn bên ngoài nhiều hơn và nhờ đó mà quy mô sản xuất cũng lớn hơn, vốnkinh doanh nhiều hơn Nhìn chung, lao động trong các làng nghề TTCN trình

độ vẫn cón thấp, chưa được đào tạo cơ bản, thiếu sự hiểu biết về lý luận vàthực tiễn, phần lớn là hướng dẫn nghề tại chỗ, truyền nghề theo kinh nghiệm,theo kiểu cha truyền con nối Trong khi đó, lớp nghệ nhân lão thành ngày một

ít đi, hơn nữa bí quyết ngành nghề và kỹ thuật tinh xảo của nghề không đượctruyền lại; lớp thợ trẻ mải chạy theo lợi ích trước mắt, thích bắt chước cách

Trang 28

làm và mẫu sản phẩm của nước ngoài, làm cho sản phẩm truyền thống ngàymột mai một.

Tất cả các yếu tố đó ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng, khả năngcạnh tranh và chiếm lĩnh thị trường của sản phẩm, đến hiệu quả kinh tế; ảnhhưởng trực tiếp đến sự tồn vong của hoạt động TTCN

b Vốn

Vốn là một nhân tố đầu vào không thể thiếu trong quá trình sản xuất

Để phát triển TTCN, đặc biệt là để có điều kiện sử dụng công nghệ hiện đạinhằm tăng tính cạnh tranh của sản phẩm thì nhu cầu về vốn là rất lớn Vốnbao gồm cả vốn bằng tiền và vốn bằng tài sản khác phục vụ cho sản xuất,tác động đến nhiều khía cạnh của sản xuất Nhờ có vốn mà tạo điều kiệncho các cơ sở sản xuất tự chủ trong nền kinh tế thị trường, chủ động điềuchỉnh cơ cấu sản xuất, cơ cấu sản phẩm đáp ứng đúng nhu cầu phong phú vàbiến đổi của thị trường

Tuy nhiên, vốn mới chỉ là điều kiện cần; còn việc sử dụng vốn có hiệuquả để đảm bảo tiêu thụ được hàng hóa, thu hồi được vốn ứng ra ban đầu và

có tích lũy mới tạo cơ sở để đổi mới thiết bị, dự trữ nguyên vật liệu, giải quyếtviệc làm, tạo điều kiện phát triển cho cơ sở sản xuất một cách bền vững đâymới là vấn đề cốt lõi

Về cơ bản, thị trường vốn chưa phát triển Khi có nhu cầu vốn đổi mớithiết bị, các cơ sở gặp nhiều khó khăn Ngân hàng mới chủ yếu cho vay ngắnhạn để mua nguyên liệu là chính, các nguồn vón cho vay trung và dài hạn rất

ít Hệ thống tín dụng chưa phát triển, nếu có nhu cầu vốn các cơ sở thườngphải vay vốn của tư nhân với lãi xuất cao hoặc kết hợp vốn tự có với huyđộng của người thân quen làm hạn chế khả năng đầu tư SXKD và không kịpthời nắm bắt được cơ hội kinh doanh Doanh nghiệp TTCN vẫn đang mongchờ sự tháo gỡ các chính sách hỗ trợ sản xuất về vốn không có các phiền hà,phức tạp trong thủ tục vay để có điều kiện tiếp tục sản xuất

Trang 29

c Khoa học và công nghệ

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và phát triển kinh tế thị trườngnhư hiện nay, mọi sản phẩm đều mang tính cạnh tranh Nhân tố đầu tiên quyếtđịnh khả năng cạnh tranh của sản phẩm là trình độ công nghệ, điều đó đồngnghĩa với việc ứng dụng khoa học công nghệ càng có ý nghĩa quyết định.Khoa học công nghệ đóng vài trò quan trọng trong việc mở rộng khả năng sảnxuất cho các cơ sở sản xuất TTCN, tạo nền tảng vững chắc để nâng cao nănglực cạnh tranh trong từng sản phẩm, từng cơ sở sản xuất và tạo điều kiện nângcao khả năng tự chủ trong sản xuất của mỗi cơ sở Vì vậy, nhiều làng nghềTTCN đã đẩy mạnh việc áp dụng các kỹ thuật và công nghệ mới, đổi mớicách thức sản xuất để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, giảm thiểuchi phí sản xuất để đạt mục đích cuối cùng là hạ giá thành sản phẩm

Tuy nhiên, do khả năng có hạn về vốn, nhu cầu giải quyết việc làm…nhưng vẫn phải tận dụng công nghệ truyền thống Hạn chế của công nghệtruyền thống là quy mô nhỏ, năng suất thấp, ít có khả năng phổ biến rộng rãi,gây ô nhiễm môi trường… nhưng ưu điểm là khả năng tạo việc làm rất lớn, nhucầu vốn thấp, phù hợp với trình độ người lao động Do đó, việc giải bài toán chocác cơ sở sản suất TTCN và làng nghề không đơn giản Để tăng khả năng cạnhtranh của sản phẩm làng nghề phải từng bước ứng dụng công nghệ hiện đại PhảiHĐH trước mắt một số khâu phục vụ sản xuất như thiết kế mẫu mã, các côngđoạn sản xuất nặng nhọc nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, sửdụng mạng internet cung cấp thông tin quảng bá sản phẩm rộng rãi Như vậy, kếthợp công nghệ hiện đại và công nghệ truyền thống là yêu cầu khách quan trongphát triển TTCN Về nguyên tắc, những công đoạn sản xuất nặng nhọc, gây ônhiễm môi trường, quyết định chất lượng sản phẩm, khả năng cạnh tranh của sảnphẩm… cần áp dụng công nghệ hiện đại; những công đoạn khác có thể và nên

sử dụng công nghệ truyền thống trong điều kiện riêng của nước ta

Trang 30

d Thương hiệu và thị trường

Để có thể tiếp tục phát triển TTCN, theo các chuyên gia, cần phải khắcphục một số điểm yếu dẫn tới bị thua thiệt khi cạnh tranh trên thị trường trong

và ngoài nước là thiếu thương hiệu, hoặc nếu có chỉ là “truyền miệng” trong

dân gian, chứ chưa được đăng ký và bảo hộ có tính pháp lý

Muốn có làng nghề thủ công truyền thống có tuổi thọ vài trăm năm tuổivới những sản phẩm tinh xảo, độc đáo tiếp tục phát triển và đem lại giá trịkinh tế cao, không thể không tính đến việc xây dựng thương hiệu cho sảnphẩm Các làng nghề cần ý thức được rằng đây là khâu có tính chất sống còntrong SXKD chứ không nên có thái độ bàng quan Mặt khác, do những đặc

thù sản xuất mang tính thủ công làng xã, nên chăng Nhà nước “linh hoạt”

không bắt buộc các làng nghề tuân thủ những quy định như doanh nghiệptrong thủ tục đăng ký thương hiệu, nhằm tạo điều kiện cho làng nghề dễ dànghơn tạo dựng thương hiệu để nâng cao sức cạnh tranh

Hiện nay, việc đăng ký thương hiệu là một khái niệm còn khá xã lạ vớicác làng nghề, bởi đa số làng nghề vẫn còn mang nặng tư duy sản xuất nhỏ lẻmanh mún Bên cạnh đó, những làng nghề, có ý thức mở rộng thị trường tiêuthụ sản phẩm ra nước ngoài bằng việc tạo dựng thương hiệu thì lại lo tốn kém.Theo lý giải của họ, ngoài khoản chi phí đăng ký thương hiệu, còn phải tốnmột khoản không nhỏ để quảng bá thương hiệu sau khi đã có được Lối suynghĩ này rõ ràng là hoàn toàn chưa thấy hết được những lợi ích lớn khi xâydựng một thương hiệu mạnh trong bối cảnh tự do thương mại bùng nổ

Trong nền kinh tế thị trường, sự tồn tại và phát triển của tiểu thủ côngnghiệp phụ thuộc rất lớn vào thị trường và sự biến động của thị trường Cácsản phẩm TTCN phải được thị trường chấp nhận về chủng loại, mẫu mã, chấtlượng, giá cả… và các sản phẩm đó phải luôn được đổi mới phù hợp với nhucầu và thị hiếu tiêu dùng của xã hội Do vậy, hiện nay có những cơ sở, làngnghề thủ công vẫn tiếp tục phát triển nhanh, chiếm lĩnh thị trường trong nước

Trang 31

và mở mang thị trường ra nước ngoài; ngược lại có những làng nghề, ngànhnghề sa sút, có chiều hướng mai một thậm chí mất đi.

Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta, nhiều sản phẩmthủ công phải cạnh tranh gay gắt với các sản phẩm cùng loại của Trung Quốc,Hàn Quốc, Thái Lan… ngay ở thị trường trong nước Nếu không tiếp tục giảiquyết thị trường cho sản phẩm TTCN một cách đồng bộ từ khảo sát nhu cầuthị trường, xác định cơ cấu sản phẩm cho từng làng nghề, hạ thấp chi phí đầuvào… thì sản xuất của các làng nghề rất khó phát triển Như vậy, thị trường

có tác động rất lớn đến phương hướng sản xuất, cơ cấu sản phẩm, là yếu tốảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn vong của TTCN ở nước ta

e Nguồn nguyên liệu

Nguồn nguyên liệu là yếu tố đầu vào rất quan trọng trong quá trình sảnxuất và phát triển của TTCN vì chất lượng của nguyên liệu thường có ảnhhưởng trực tiếp tới chất lượng sản phẩm và khả năng cạnh tranh của sản phẩmtrên thị trường Do đó vấn đề chủ động được nguồn nguyên liệu trong sảnxuất có ý nghĩa lớn Trước đây, hầu hết sản xuất của làng nghề thường gắn bóchặt chẽ với các vùng nguyên liệu, nguồn nguyên liệu tại chỗ Nhưng nhữngnăm gần đây nguồn nguyên liệu tại chỗ ngày càng khó khăn do đã cạn kiệtdần và chủ yếu phải khai thác từ ngoài vùng Hơn nữa, việc khai thác nguồnnguyên liệu của các làng nghề TTCN còn tự phát và chưa có quy hoạch, dẫnđến sự lãng phí Điều này ảnh hưởng lớn đến giá thành sản phẩm Nhờ có sựphát triển của các phương tiện giao thông và sự phát triển của khoa học kỹthuật, nguồn nguyên liệu của làng nghề đã được giải quyết phần nào; điềuđáng đề cập đến là chất lượng, chủng loại, nguồn nguyên liệu có dồi dào haykhông, ổn định hay không, khoảng cách của nguồn nguyên liệu và nơi sảnxuất ra sao sẽ quyết định lợi thế của doanh nghiệp

Do vậy, để đáp ứng nhu cầu sản xuất của làng nghề TTCN thì việc tìmnguồn nguyên liệu cung cấp nguyên liệu ổn định với giá cả hợp lý và có kế

Trang 32

hoạch sử dụng nguồn nguyên liệu phụ thay thế hợp lý, theo hướng đa dạnghóa; cần có quy hoạch phát triển các vùng sản xuất nguyên liệu gắn với hoạtđộng của các làng nghề, chất lượng nguồn nguyên liệu phải được đảm bảo, ổnđịnh về số lượng, quy mô cung ứng để nhà sản xuất chủ động lựa chọn; tạođiều kiện cho các làng nghề đảm bảo cơ cấu sản phẩm, đảm bảo cho quy trìnhsản xuất nhanh, tăng năng suất, chất lượng và hạ giá thành, nâng cao khả năngcạnh tranh của sản phẩm.

g Kết cấu hạ tầng

Kết cấu hạ tầng bao gồm hệ thống đường giao thông, điện, cấp thoátnước, bưu chính viễn thông, ytế, giáo dục…có ảnh hưởng tới hoạt động sảnxuất TTCN Đây là yếu tố tác động tạo điều kiện, tiền đề cho sự ra đời và pháttriển các cơ sở sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện khai thác và phát huy tiềmnăng lợi thế vốn có của các làng nghề Thực tế cho thấy ở đâu có hệ thống kết

cấu hạ tầng được đầu tư, phát triển thì các hoạt động sản xuất và giaothương cũng phát triển mạnh Chính nhờ yếu tố này mà sự vận chuyển vàcung ứng nguyên liệu, tiêu thụ sản phẩm, nhanh nhạy trong tiếp thu và ứngdụng KH – CN mới cho sản xuất, hạn chế tối đa ô nhiễm môi trường…Ngoài ra, cũng nhờ có hệ thống thông tin liên lạc phát triển là chìa khóa đềngười sản xuất nắm bắt được nhu cầu, thị hiếu, sở thích của người tiêudùng, từ đó có chiến lược sản xuất hợp lý Đây cũng chính là kênh quantrọng để các doanh nghiệp quảng bá sản phẩm của mình, đưa các thông tincủa sản phẩm đến với người tiêu dùng, từ đó đẩy mạnh hoạt động tiêu thụsản phẩm… Như vậy, việc đầu tư xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng làyêu cầu cấp thiết để đẩy mạnh sự hoạt động và phát triển của TTCN, đặcbiệt ở nông thôn trong giai đoạn hiện nay

h Chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước:

Đối với nước ta, TTCN là một bộ phận quan trọng của sức sản xuất xãhội, tạo ra khối lượng hàng hoá lớn cho nền kinh tế quốc dân Các chủ trương,

Trang 33

chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước ta có tác động rất lớn đến việcphát triển TTCN Quá trình đề ra và thực thi các chủ trương, chính sách, phápluật đối với phát triển TTCN là quá trình nhân thức các quy luật kinh tế kháchquan về phát triển TTCN, được thể hiện cụ thể:

- Từ năm 1956 đến năm 1975: Nhà nước ta khẳng định vị trí, vai tròquan trọng của TTCN trong nền kinh tế quốc dân, quan niệm TTCN là nghềphụ gia đình, đặc biệt là khu vực nông thôn TTCN có nhiệm vụ phục vụ sảnxuất nông nghiệp, sản xuất hàng tiêu dùng cho nhân dân và hàng hóa cho suấtkhẩu Năm 1956, TTCN truyền thống được khôi phục, mở nhiều ngành nghềmới, các cơ sở sản xuất được cải tạo và HĐH HTX TTCN là hình thức sảnxuất kinh doanh XHCN Trong 3 năm 1958 – 1960, có 50% thợ TTCNtham gia các tổ chức sản xuất tập thể, sản xuất được khôi phục và phát triểnmột bước Bộ máy quản lý nhà nước về TTCN được tổ chức kiện toàn.Năm 1968, HTX TTCN được tổ chức lại sản xuất và quản lý, chuyển từchế độ gia công sang mua bán nguyên vật tư và thu mua sản phẩm, theo kếhoạch nhà nước Năm 1975, miền Bắc có 4.000 đơn vị sản xuất TTCN độclập, là HTX bậc cao quy mô lớn công nghệ tương đương xí nghiệp quốcdoanh, với 800.000 lao động

Thời kỳ sau 1975 cho đến 1988: Đảng ta cho rằng TCN có tiềm năng

to lớn, là bộ phận quan trọng của CN tiêu dùng, là bộ phận kinh tế XHCNtrong chặng đường đầu tiên Hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ, vận độngtheo hướng SXHH Đảng chủ trương giải phóng mọi năng lực sản xuất hiện

có, khai thác tiềm năng, thực hiện 3 chương trình kinh tế trọng điểm củađất nước Kết quả là TTCN đã sản xuất ra 45% giá trị CN địa phương, tạo20% giá trị kim ngạch xuất khẩu và thu hút hàng vạn lao động nông thôn.Thời kỳ 1975-1988 là thời gian mà HTX TTCN phát triển rực rỡ nhất Tuynhiên do còn duy trì chế độ kế hoạch hóa bao cấp; đến cuối thập kỷ 80, môhình HTX TTCN cũ không còn thích hợp do mất thị trường Đông Âu và cả

Trang 34

nguyên nhân trong nội bộ không giải quyết thỏa đáng vấn đề lợi ích, nên đa sốHTX TTCN bị tan rã.

Thời kỳ 1988 đến nay, quan điểm của Đảng về phát triển TTCN rõ hơn

và trực tiếp nêu phương hướng phát triển TTCN, làng nghề, làng nghề truyềnthống và các loại hình dịch vụ phục vụ sản suất và đời sống nhân dân Trong

đó, phát triển đa dạng CN chế biến và TTCN ở nông thôn, thị trấn, liên kếtvới CN lớn ở đô thị lớn, khu CN tập trung, phát triển các làng nghề, nhất làlàng nghề xuất khẩu, mở rộng xuất khẩu dịch vụ… Nhà nước công nhận vềpháp lý sự tồn tại, phát triển, vai trò tác dụng tích cực lâu dài của các thànhphần kinh tế cá thể, kinh tế tư doanh trong nền kinh tế quốc dân Từ năm

1992 đến nay, các cơ sở sản xuất TTCN trong làng nghề truền thống đượckhôi phục, đổi mới hoạt động, phát triển Các HTX được thành lập theo LuậtHTX mới, có bước phát triển mới về chất

Như vậy, từ khi đổi mới chủ chương phát triển nền kinh tế hàng hóanhiều thành phần được cụ thể hóa đã tạo điều kiện cho TTCN phát huy vai tròcủa mình trong CNH – HĐH nền kinh tế NN, nông thôn, đặc biệt là từ sauĐại hội IX

1.3 Vai trò phát triển của ngành tiểu thủ công nghiệp trong phát triển kinh tế xã hội

1.3.1 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng CNH – HĐH

Trong quá trình phát triển, các nghề TTCN đã có vai trò tích cực gópphần tăng tỷ trọng CN, dịch vụ, thu hẹp tỷ trọng NN, chuyển lao động từ sảnxuất NN có thu nhập thấp sang ngành nghề phi NN có thu nhập cao hơn Lịch

sử ra đời và phát triển các nghề và làng nghề ngay từ đầu đã làm thay thay đổi

cơ cấu kinh tế nôn thôn Sự tác động này đã tạo ra nền kinh tế đa dạng ở nôngthôn, với sự thay đổi về cơ cấu và phong phú, đa dạng về loại hình sản xuất.Như vậy, khi nghề thủ công hình thành và phát triển thì kinh tế nông thôn

Trang 35

không chỉ có ngành NN thuần nhất mà bên cạnh là các ngành TCN, thươngmại và dịch vụ cùng tồn tại và phát triển Thông qua việc làm tăng thêm sốlượng cơ sở sản xuất TTCN và quá trình tích tụ, tập trung sản xuất cũng nhưthông qua việc tích lũy vốn của các cơ sở đó hoặc qua sự liên kết giữa các cơ

sở có quy mô nhỏ cho phép khai thác và sử dụng có hiệu quả những tiềmnăng, lợi thế hiện có của nông thôn

Xét trên góc độ phân công lao động thì các nghề TTCN đã có tácđộng tích cực tới sản xuất NN Nó không chỉ cung cấp TLSX phục vụ chokhu vực nông nghiệp mà còn có tác dụng chuyển dịch cơ cấu trong nội bộngành NN Ví dụ, khi ngành nghề chế biến phát triển, yêu cầu nguyên liệu

từ NN phải nhiều hơn, đa dạng hơn, chất lượng cao hơn Do vậy, trong

NN hình thành những khu vực NN chuyên canh hóa, tạo ra NSLĐ cao vànhiều sản phẩm hàng hóa Đồng thời, người nông dân trước yêu cầu tănglên của sản xuất sẽ tự thấy nên đầu tư vào lĩnh vực nào là có lợi nhất Nhưvậy, quá trình chuyển dịch cơ cấu sản xuất NN đã được thực hiện dưới tácđộng của sản xuất và nhu cầu thị trường

Mặt khác, có thể thấy kết quả sản xuất của các làng nghề cho thu nhập

và giá trị sản lượng cao hơn hẳn só với sản xuất NN Do từng bước tiếp cận vớinền KTTT, năng lực thị trường được nâng lên, người lao động nhanh chóngchuyển sang đầu tư cho các ngành nghề phi NN, đặc biệt là những ngành màsản phẩm có khả năng tiêu thụ mạnh ở thị trường trong nước và thế giới

Làng nghề truyền thống phát triển đã tạo ra cơ hội cho hoạt động dịch

vụ ở nông thôn mở rộng quy mô và địa bàn hoạt động, thu hút nhiều lao động.Khác với sản xuất NN, sản xuất trong các làng nghề là một quá trình liên tục,đòi hỏi một sự thường xuyên dịch vụ cung ứng vật liệu và tiêu thụ sản phẩm

Do đó, dịch vụ nông thôn phát triển mạnh mẽ với nhiều hình thức đa dạng vàphong phú, đem lại thu nhập cho người lao động

Trang 36

Sự phát triển của các ngành nghề TTCN có tác dụng rõ rệt với quá trìnhchuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo yêu cầu của sự nghiệp CNH –HĐH Sự phát triển lan tỏa của các ngành nghề TTCN đã mở rộng quy môsản xuất, thu hút nhiều lao động Đến nay, cơ cấu kinh tế ở nhiều làng đãchuyển dịch theo hướng 60 – 80% cho CN và dịch vụ, 20 -40% cho NN.

1.3.2 Thu hút vốn, giải quyết việc làm cho người lao động nông thôn, tận dụng thời gian và lao động dôi dư

Phát triển toàn diện KT – XH nông thôn, tạo việc làm, nâng cao đờisống cho dân cư nông thôn là vấn đề quan trọng hiện nay ở nước ta Với diệntích đất canh tác bình quân vào loại thấp và tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm ởkhu vực nông thôn còn chiếm tỷ lệ cao; việc giải quyết vấn đề công ăn việclàm cho lao động nông thôn trở lên hết sức khó khăn, đòi hỏi sự hỗ trợ nhiềumặt và đồng bộ của các ngành nghề và khu vực Khác với sản xuất côngnghiệp và một số ngành khác, đa số các ngành nghề truyền thống không đòihỏi số vốn đầu tư lớn, bởi rất nhiều nghề chỉ cần công cụ thủ công, thô sơ dothợ thủ công tự sản xuất được Hơn nữa, đặc điểm sản xuất trong làng nghềquy mô nhỏ, cơ cấu vốn và lao động ít nên rất phù hợp với khả năng huy độngvốn và các nguồn lực vật chất của các gia đình Với mức vốn đầu tư khônglớn, đó là các lợi thế để các làng nghề có thể huy động các loại vốn nhàn rỗitrong dân vào hoạt động SXKD Các làng nghề còn có khả năng tiết kiệm chiphí xây dựng cơ bản vì không phải đầu tư nhiều vào xây dựng nhà xưởng, khotàng… mà sử dụng ngay diện tích nhà ở, sân vườn, bếp làm nơi sản xuất, nhàkho nên tiết kiệm khá lớn, vốn đầu tư – lợi thế của sản xuất nghề thủ công.Mặt khác, do đặc điểm sản xuất của nghề thủ công là sử dụng lao động thủcông là chủ yếu, nơi sản xuất cũng chính là nơi ở của người lao động nên bảnthân nó có khả năng tận dụng và thu hút nhiều lao động; từ lao động thời vụnông nhàn đến lao động trên dưới độ tuổi lao động Trẻ em vừa học và tham

Trang 37

gia sản xuất dưới hình thức học nghề hay giúp việc Lực lượng này chiếm tỷ

lệ đáng kể trong tổng số lao động làm nghề

Cùng với việc tận dụng thời gian và lực lượng lao động, sự phát triểncủa nghề thủ công đã có vai trò tích cực trong việc hạn chế di dân tự do ởnông thôn Quá trình di dân tự do hình thành một cách tự phát và tự điều tiếtbởi sự tác động của quy luật cung cầu lao động; diễn ra theo hướng di chuyển

từ nơi thừa lao động và giá nhân công rẻ đến nơi thiếu lao động với giá nhâncông cao, từ nơi có đời sống thấp đến nơi có đời sống cao Quá trình này xétbình diện chung của nền kinh tế - xã hội đã có những tác động tích cực làmgiảm sức ép việc làm của khu vực nông thôn, đáp ứng nhu cầu lao động giảnđơn ở thành phố; đồng thời làm tăng thu nhập, nâng cao đời sống xã hội, giảmbớt đói nghèo cho người dân nông thôn Tuy nhiên, nó lại có những tác độngtiêu cực tới đời sống KT – XH, gây áp lực đối với dịch vụ, cơ sở hạ tầng xãhội ở thành phố và là một khó khăn lớn trong vấn đề quản lý đô thị

Việc khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống được thúc đẩytrên phạm vi thành phố và vùng kinh tế là chuyển biến quan trọng, tạo việc làm

ổn định tăng thu nhập và cải thiện đời sống nhân dân ngoại thành Phát triển làng

nghề thủ công truyền thống theo phương châm “ly nông bất ly hương” không chỉ

có khả năng giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động mà còn

có vai trò tích cực trong việc hạn chế dòng di dân tự do ra đô thị

1.3.3 Phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng ở nông thôn

Hệ thống giao thông và kết cấu hạ tầng vừa là tiền đề, vừa là hệ quả củaphát triển các làng nghề TTCN Trước tiên thì làng nghề được hình thành ởnhững nơi có đường giao thông thuận lợi, song chính sự phát triển của làngnghề làm nảy sinh đòi hỏi phải có hệ thống kết cấu hạ tầng ngày càng pháttriển Ngoài ra, việc phát triển làng nghề TTCN cùng với việc tăng thu nhậpcủa dân cư đã tạo ra nguồn tích lũy khá lớn và ổn định ngân sách địa phương

Trang 38

cũng như các hộ gia đình Do đó, có điều kiện đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầngnhư đường giao thông, trạm biến thế điện, hệ thống thông tin liên lạc và cácyếu tố kết cấu hạ tầng phục vụ sinh hoạt, nâng cao dân trí và sức khỏe củangười dân như trường học, trạm ytế vệ sinh môi trường… Kết cấu hạ tầngnông thôn có vai trò quan trọng trong phát triển KT – XH nông thôn, là mộttrong những điều kiện để khai thác lợi thế và nguồn lực của địa phương, làđiều kiện thuận lợi để phát triển SXHH, mở rộng thương mại giữa các địaphương, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của dân cư, góp phần rútngắn khoảng cách tách biệt giữa thành thị và nông thôn, đẩy nhanh quá trình

đô thị hóa; góp phần xây dựng nông thôn mới

1.3.4 Phục vụ cho phát triển công nghiệp, tận dụng các phế liệu, phế phẩm trong sản xuất và sinh hoạt

Trong quá trình phát triển kinh tế hàng hóa, nhu cầu phát triển kinh tế

đã xóa bỏ tình trạng tự cung, tự cấp Chính ở giai đoạn này, sản xuất TTCNphát huy được vai trò của nó trong việc sơ chế các loại nguyên liệu phục vụcho sản xuất CN Vai trò này của TTCN được thể hiện:

Thứ nhất: TTCN sẽ là đầu mối thu gom sơ chế các loại nông, lâm, thổ

sản, thủy – hải sản, các loại khoáng sản phân bố rải rác với chữ lượng thấp,tạo tiền đề cho kinh tế hàng hóa phát triển ở các vùng sâu, vùng xa trung tâm,vùng có nguyên liệu, khoáng sản trữ lượng, tiềm năng không cao; đồng thờivới việc sơ chế một mặt giữ cho nguyên liệu không bị xuống cấp, làm giầucác khoáng sản do loại bớt các tạp chất, tiết kiệm cho xã hội vì không phảivận chuyển cả các tạp chất từ khắp nơi về các trung tâm CN để chế biến

Thứ hai: TTCN tạo ra các nguồn hàng nguyên liệu ổn định, tin cậy, cả

về số lượng và chất lượng cho đại CN

Những vai trò đó của TTCN đã góp phần mang lại hiệu quả KT – XH

rõ nét, tạo ra nhiều việc làm, hạ giá thành sản phẩm, tạo sự hoạt động thôngsuốt, nhịp nhàng giữa các công đoạn trong sự hoạt động của cả nền kinh tế

Trang 39

Với ngành nghề đa dạng, máy móc thiết bị phần nhiều là đơn giản, cóthể trang bị lại dễ dàng để phù hợp với sự thay đổi nhanh chóng các mặt hàng;với nguồn nguyên liệu không lớn, không đòi hỏi chuyển hóa cao cả về kíchthước, kiểu dáng và chất lượng TTCN có lợi thế rất lớn trong việc tận dụngphế liệu, phế phẩm để tổ chức sản xuất Việc tận dụng đã mang lại hiệu quả

KT – XH rất rõ rệt; một mặt có tiết kiệm lao động quá khứ của xã hội, mặtkhác lại tạo ra sản phẩm đáp ứng nhu cầu mới Hiện nay có rất nhiều các nhàmáy lớn, sử dụng nhiều loại, nguyên liệu khác nhau nên TTCN lại càng có vịtrí quan trọng trong việc tận dụng phế liệu của các nhà máy đó

1.3.5 Giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc và phát triển du lịch

Sản phẩm thủ công truyền thống là sự kết tinh của lao động vật chất vàlao động tinh thần, được tạo nên bởi bàn tay tài hoa và óc sang tạo của ngườithợ Nhiều sản phẩm truyền thống có tính nghệ thuật cao, mỗi sản phẩm làmột tác phẩm nghệ thuật, trong đó hàm chứa những nét đặc sắc của văn hóadân tộc, đồng thời thể hiện những sắc thái riêng, đặc tính riêng của mỗi làngnghề Với những đặc điểm riêng biệt ấy chúng không còn là hàng hóa đơnthuần mà đã trở thành sản phẩm văn hóa với tính nghệ thuật cao, được coi làbiểu tượng nghệ thuật truyền thống của dân tộc Việt Nam Nghề truyền thống,đặc biệt là nghề thủ công mỹ nghệ là những di sản văn hóa quý báu mà cácthế hệ cha ông đã sáng tạo ra và truyền lại cho các thế hệ sau

Tìm hiểu lịch sử các nghề thủ công truyền thống, ta thấy kỹ thuật chếtác các sản phẩm từ xa xưa và được bảo tồn đến nay Ngày nay, nền sản xuất CNhiện đại phát triển mạnh mẽ, các sản phẩm CN được sử dụng và tiêu thụ ở khắpnơi Nhưng các sản phẩm thủ công truyền thống với tính độc đáo và tinh xảo của

nó rất cần thiết và có ý nghĩa đối với nhu cầu đời sống của con người Vì vậy,các làng nghề truyền thống với những bàn tay vàng của người thợ thủ công cầnđược coi trọng, bảo tồn và phát triển Những công nghệ truyền thống quan trọng

và quý cần được bảo lưu và phát triển theo hướng HĐH Do đó, việc khôi phục

Trang 40

và phát triển các làng nghề truyền thống có ý nghĩa quan trọng trong việc giữ gìncác giá trị văn hóa của dân tộc trong quá trình CNH – HĐH của đất nước.

Môi trường văn hóa làng nghề truyền thống với khung cảnh thôn quêtrong quần thể kiến trúc đền chùa cũng như các hoạt động lễ hội… trở thànhmột bộ phận không thể thiếu trong văn hóa Việt Nam, điều đó thu hút sự quantâm của khách du lịch Theo xu hướng của cuộc sống của một xã hội, một nềnsản xuất hiện đại, các sản phẩm làm ra ít có tính khác biệt hóa, ít có tính đặcthù và thường không có giá trị lao động cao Với khách du lịch, đặc biệt làkhách du lịch quốc tế đến từ các nước phát triển thì cần đòi hỏi sự tinh xảo,hàm lượng lao động thủ công cần có tính sáng tạo được kết tinh trong sảnphẩm Mặt khác, với đặc điểm chung có tính hình thành từ xưa của các làngnghề là nằm trên trục giao thông cả đường bộ đến đường sông đã giúp các làngnghề có thể chuyển hóa hàng hóa đến nơi tiêu thụ Đây là điều kiện lợi cho việcxây dựng các tour, tuyến du lịch Bên cạnh đó, sự phát triển của làng nghề giúpcho ngành du lịch quảng bá, đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm truyền thống.Nếu du lịch làng nghề được tổ chức tốt, đáp ứng các nhu cầu tìm hiểu về vănhóa của khách du lịch, các làng nghề sẽ chắc chắn là điểm dừng chân thú vị vàhấp dẫn

1.3.6 Tạo ra và đáp ứng nhu cầu sản phẩm ngày càng đa dạng cho xã hội

Với nhiều ngành nghề đa dạng, tận dụng được các nguồn tài nguyên,phế liệu của địa phương các cơ sở sản xuất TTCN đã làm ra các sản phẩm tiêudùng như đồ gỗ, cơ khí – kim khí, điện - điện tử, giầy dép đồ dùng bằngnhựa… phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của dân cư ngày càng đa dạng Khisản xuất TTCN phát huy được thế mạnh của mình, đưa NSLĐ lên cao thì nócòn có khả năng mở rộng diện tích, đáp ứng nhu cầu của các vùng, các địaphương lân cận Song song với việc sản xuất hàng tiêu dùng, các cơ sở sảnxuất TTCN còn làm ra các công cụ thô sơ, các thiết bị đơn giản phục vụ choviệc sản xuất nông nghiệp, thu hoạch và chế biến nông sản

Ngày đăng: 06/06/2017, 10:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w