1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN văn THẠC sĩ KINH tế CHÍNH TRỊ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN lực TRONG PHÁT TRIỂN KINH tế xã hội ở QUẬN hà ĐÔNG, THÀNH PHỐ hà nội

101 256 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 617,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước, nguồn nhân lực là nhân tố trung tâm, có vai trò quyết định. Nguồn nhân lực vừa là nguồn lực to lớn, vừa là động lực tăng năng suất lao động, nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ, của doanh nghiệp và của toàn bộ nền kinh tế, lại vừa là yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững; chỉ có nguồn nhân lực mới có khả năng tiếp thu và áp dụng tiến độ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới, công nghệ cao, sử dụng hiệu quả các nguồn lực vật chất khác trong xã hội, trở thành lực lượng xung kích đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập

Trang 1

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Tổ chức Hợp tác và phát triển của Liên Hiệp Quốc OECD

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC

VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở

1.1 Một số vấn đề chung về nguồn nhân lực và nâng cao chấtlượng nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế - xã hội ở

1.2 Nội dung và các nhân tố tác động đến nâng cao chất lượngnguồn nhân lực trong phát triển kinh tế - xã hội ở quận Hà Đông 27

Chương 2 THỰC TRẠNG NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN

NHÂN LỰC TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI Ở

2.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội và quản lý của Nhà nước có liênquan ảnh hưởng đến nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở

2.2 Thành tựu và hạn chế nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

2.3 Nguyên nhân thành tựu, hạn chế và những vấn đề đặt ra từthực trạng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong pháttriển kinh tế - xã hội ở quận Hà Đông 57

Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT

LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ

3.1 Quan điểm cơ bản nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trongphát triển kinh tế xã hội ở Quận Hà Đông, thành Hà Nội trong

3.2 Những giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng nguồn nhânlực trong phát triển kinh tế xã hội ở quận Hà Đông trong

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước, nguồn nhân lực lànhân tố trung tâm, có vai trò quyết định Nguồn nhân lực vừa là nguồn lực tolớn, vừa là động lực tăng năng suất lao động, nâng cao khả năng cạnh tranh củasản phẩm, dịch vụ, của doanh nghiệp và của toàn bộ nền kinh tế, lại vừa là yếu

tố quyết định tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững; chỉ có nguồn nhân lựcmới có khả năng tiếp thu và áp dụng tiến độ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới,công nghệ cao, sử dụng hiệu quả các nguồn lực vật chất khác trong xã hội, trởthành lực lượng xung kích đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa

và hội nhập Phát triển, phân bổ hợp lý và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lựctrong phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là một trong nhữnggiải pháp đột phá nhằm thực hiện thắng lợi chiến lược phát triển ở tất cả cácngành, các cấp góp phần thực hiện thắng lợi sự công nghiệp hóa, hiện đại hóa vàtạo ra sự tăng trưởng bền vững của đất nước trong thới gian tới

Nguồn nhân lực đóng vai trò quyết định đối với việc huy động và sửdụng các nguồn lực khác vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đấtnước Nguồn nhân lực là một nguồn lực đặc biệt, bởi nó không chỉ quyết địnhcho việc phát triển kinh tế mà còn liên quan đến vấn đề con người - xã hội Vìthế, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực không những là mục tiêu phát triểnkinh tế mà còn là mục tiêu xã hội vô cùng quan trọng

Nguồn nhân lực của đất nước nói chung và nguồn nhân lực của Quận

Hà Đông, Thành phố Hà nội nói riêng đã và đang được Đảng và Nhà nước

ta hết sức quan tâm được thể hiện rõ trong chính sách và chiến lược pháttriển kinh tế - xã hội, nhất là chúng ta đang trong quá trình đẩy mạnh sựcông nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế đất nước và hội nhập kinh tếquốc tế Việc hoàn thiện và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nhằm pháttriển kinh tế - xã hội là vấn đề đòi hỏi các cấp, các ngành, các thành phần

Trang 4

kinh tế và toàn xã hội cần phải quan tâm Cũng như các địa phương khác,Quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội là một địa bàn có số lượng lao độngtương đối dồi dào nhưng chất lượng lao động chưa đáp ứng được yêu cầuphát triển kinh tế - xã hội của Quận Mặt khác, Hà Đông là một Quận củaThủ đô Hà Nội trung tâm kinh tế xã hội của cả nước, đòi hỏi chất lượngnguồn nhân lực phải cao hơn các khu vực khác mới tương xứng với yêucầu phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố.

Trong những năm qua, mặc dù nền kinh tế đất nước gặp nhiều khókhăn do tác động của suy thoái kinh tế thế giới Tuy nhiên, với những lợi thếriêng có của mình, Quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội vẫn giữ được sự ổnđịnh và phát triển về mọi mặt Một trong những nguyên nhân dẫn đến sựthành công đó là Quận Hà Đông đã chú trọng nâng cao chất lượng nguồnnhân lực nhằm phát huy tốt vai trò của nó trong phát triển kinh tế xã hội trênđịa bàn Quận Tuy nhiên, với yêu cầu phát triển của Thành phố Hà Nội nóichung và của Quận Hà Đông nói riêng trong thời gian tới thì nguồn nhân lựccủa Quận Hà Đông cần phải có chất lượng cả về trí lực, tâm lực và thể lực,đặc biệt trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa,hội nhập kinh tế quốc tế nảy sinh nhiều vấn đề mới cần được giải quyết kịpthời Do vậy, nguồn nhân lực của Quận còn nhiều bất cập chưa theo kịp vớiyêu cầu phát triển của Thành phố, chưa phát huy hết vai trò của nó để kíchthích phát triển kinh tế - xã hội, phát triển sản xuất kinh doanh của các doanhnghiệp và các thành phần kinh tế trên địa bàn

Vì vậy, việc tiếp tục làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn vềnâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế - xã hội ở Quận

Hà Đông, Thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay là vấn đề có ý nghĩa

cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn Với lý do đó, tác giả chọn vấn đề " Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế - xã hội ở Quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội" làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ.

Trang 5

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Vấn đề nâng cao chất lượng nguồn nhân nguồn nhân lực ở nước ta nóichung và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở Quận Hà Đông, Thành phố

Hà Nội nói riêng là vấn đề rất quan trọng và cần thiết đối với sự phát triểnkinh tế - xã hội của thành phố cũng như của đất nước Trong thời gian quavấn đề này được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu, trong đó nổi lên một sốcông trình khoa học tiêu biểu đó là:

Luận án tiến sĩ kinh tế:“Phát triển nguồn nhân lực ngành công nghiệp dầu khí Việt Nam đến năm 2020”, tác giả Nguyễn Hoàng Thụy [39] Luận án đã luận

giải những vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển nguồn nhân lực trong ngànhcông nghiệp dầu khí ở nước ta Công trình cũng đã phân tích thực trạng pháttriển nguồn nhân lực ở ngành công nghiệp dầu khí và chỉ ra những thành tựu

và hạn chế, đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển nguồn nhân lựccủa ngành dầu khí trong thời gian tới Đặc biệt tác giả đã coi trọng đến giảipháp cần phải có chiến lược liên kết đào tạo, hợp tác quốc tế để phát triểnnguồn nhân lực ngành dầu khí có chất lượng cao nhằm đem lại năng suất,hiệu quả trong công việc khai thác, chế xuất dầu ở nước ta

Luận văn thạc sĩ kinh tế: “Phát triển nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở thành phố Hải Phòng và tác động của nó đến tăng cường sức mạnh khu vực phòng thủ thành phố” tác giả Phạm Tiến

Điện [15] Tác giả đã đưa ra cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực , từ

đó xem xét phát triển nguồn nhân lực theo hướng CNH,HĐH ở thành phốHải Phòng; phân tích chỉ rõ sự tác động của phát triển nguồn nhân lực ởthành phố Hải Phòng đến việc xây dựng khu vực phòng thủ thành phố.Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triểnnguồn nhân lực ở thành phố Hải Phòng gắn với việc tăng cường sức mạnhkhu vực phòng thủ thành phố

Trang 6

Luận án tiến sĩ kinh tế: “Phát triển nguồn nhân lực của Tập đoàn Điện lực Việt Nam”, tác giả Đinh Văn Toàn [41] Luận án đi sâu nghiên cứu về nguồn

nhân lực của một tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam Phần lý luận của đề tài

đã tiến hành cung cấp nhiều kinh nghiệm quý của các quốc gia về phát triểnnguồn nhân lực trong ngành điện lực Công trình cũng đã đi sâu nghiên cứu khảosát thực trạng phát triển nguồn nhân lực ở các công ty, các đơn vị thành viên củaTập đoàn điện lực Việt Nam trong những năm qua và đề xuất một số giải phápchủ yếu nhằm phát triển nguồn nhân lực, tạo sức bật mới trong quá trình tái cơcấu ngành điện lực theo sự phát triển của tình hình thực tiễn đặt ra

Đề tài khoa học B2006 - 37 - 02TĐ HN (2010), “Những vấn đề lý luận cơ bản về phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam”, tác giả Nguyễn Lộc

[26] Đã cung cấp hệ thống lý luận cơ bản về nguồn nhân lực và phát triểnnguồn nhân lực ở cấp độ quốc gia Với cách tiếp cận tổng thể, có sự sosánh và tổng kết kinh nghiệm quốc tế phong phú về phát triển nguồn nhânlực, đề tài đã cung cấp nhiều luận cứ khoa học về lý luận và thực tiễn vềphát triển nguồn nhân lực ở nước ta

Luận án tiến sĩ kinh tế: “Sử dụng nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta”, tác giả Trần Kim Hải [18]

Luận án đã phân tích về thực trạng, chỉ ra yêu cầu và những vấn đề đangđặt ra trong sử dụng nguồn nhân lực cho CNH, HĐH ở nước ta Đồng thờiluận án đã chỉ ra nguồn nhân lực hiện có chưa đáp ứng được những yêu cầu

và đòi hỏi của sự nghiệp CNH, HĐH ở nước ta Vì vậy quá trình khai thác

sử dụng cần phải được đặt trong mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với việc nângcao chất lượng của nguồn nhân lực Coi nâng cao chất lượng nguồn nhânlực là một nội dung, một tiền đề cơ bản để nâng cao hiệu quả sử dụng cácnguồn lực cho CNH, HĐH Luận án khẳng định: Những vấn đề bức xúcnhất của việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở nước ta là mở rộngquy mô đào tạo trên cơ sở đa dạng hoá các nguồn vốn, điều chỉnh cơ cấu

Trang 7

đào tạo, đổi mới nội dung, chương trỡnh đào tạo, thỳc đẩy sự chuyển dịch

cơ cấu nguồn nhõn lực theo hướng CNH, HĐH, đào tạo và xõy dựng độingũ cỏn bộ quản lý và chuyờn gia Tất cả là nhằm thực hiện thắng lợi mụctiêu cung cấp nguồn nhõn lực có chất lợng cao, đáp ứng đợc những yêu cầu

và đòi hỏi khắt khe của thị trờng sức lao động trong nớc và quốc tế, phùhợp với yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH đất nớc

Luận văn thạc sĩ kinh tế: “Tỏc động của đào tạo nguồn nhõn lực trong

sự nghiệp cụng nghiệp hoỏ, hiện đại hoỏ đến củng cố quốc phũng ở nước ta hiện nay”, tỏc giả Bựi Thỳc Vịnh [49] Luận văn phõn tớch làm rừ tớnh cấp

thiết của đào tạo nguồn nhõn lực cho CNH,HĐH và tỏc động của nú đối vớicủng cố nền quốc phũng Trờn cơ sở đú, đề xuất cỏc quan điểm, giải phỏp cơbản để cụng tỏc đào tạo nguồn nhõn lực vừa đỏp ứng nhu cầu CNH,HĐH vừađỏp ứng nhu cầu củng cố nền quốc phũng toàn dõn

Luận ỏn tiến sĩ kinh tế: “Phỏt triển nguồn nhõn lực quõn sự chất lượng cao đỏp ứng yờu cầu hiện đại húa Quõn đội nhõn dõn Việt Nam”, tỏc giả Đỗ

Văn Dạo [7] Tập trung nghiờn cứu về nguồn nhõn lực trong một lĩnh vực đặcthự Tỏc giả đó lý giải khỏ sõu sắc và toàn diện về lý luận và thực tiễn nhõn lựcquõn sự, nguồn nhõn lực quõn sự chất lượng cao và phỏt triển nguồn nhõn lựcnày với những nội dung và tiờu chớ đỏnh giỏ sự phỏt triển Luận ỏn cũng đó đisõu khảo sỏt đỏnh giỏ thực trạng phỏt triển nguồn nhõn lực quõn sự chất lượngcao, trờn cơ sở đú đề ra những quan điểm cơ bản và những giải phỏp chủ yếu đểphỏt triển lực lượng này đỏp ứng yờu cầu thực tiễn đặt ra Những giải phỏp vềgiỏo dục đào tạo và thực hiện những cơ chế, chớnh sỏch đặc thự ở cả tầm vĩ mụ

và vi mụ đó được tỏc giả đề cập trong cụng trỡnh để tạo ra sự đột phỏ mạnh mẽphỏt triển nguồn nhõn lực quõn sự chất lượng cao

Cuốn sỏch: Phỏt huy nguồn lực con người để cụng nghiệp hoỏ, hiện đại hoỏ của Tiến sĩ Vũ Bỏ Thể [38] Trờn cơ sở nghiờn cứu kinh nghiệm phỏt

triển nguồn nhõn lực của một số nước trờn thế giới và thực trạng nguồn nhõn

Trang 8

lực ở nước ta, tác giả đã đưa ra những quan điểm về nguồn nhân lực và pháttriển nguồn nhân lực; vai trò của nguồn nhân lực đối với tăng trưởng kinh tế

và sự nghiệp CNH, HĐH ở Việt Nam Đồng thời, đưa ra định hướng vànhững giải pháp nhằm phát huy nguồn lực con người ở nước ta hiện nay

Luận văn thạc sĩ kinh tế: “Phát triển thị trường sức lao động và tác động của nó đến đảm bảo nguồn nhân lực cho Quân đội nhân dân Việt nam

hiện nay” tác giả Trần Văn Ban [2] Đã phân tích sự phát triển của thị trường

sức lao động trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và tác động của nóđến đảm bảo nguồn nhân lực cho QĐNDVN Trên cơ sở đó đề xuất quan điểm,giải pháp thúc đẩy sự phát triển của thị trường lao động gắn với bảo đảm nguồnnhân lực cho quân đội trong giai đoạn hiện nay

Cuốn sách: Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, của Tiến sĩ Nguyễn Thanh [36] Tác giả đã luận giải rõ:

phát triển nguồn nhân lực là yếu tố quyết định sự thành công của sự nghiệpCNH,HĐH, đồng thời nêu lên một số thực trạng về phát triển nguồn nhân lực

có chất lượng, trên cơ sở đó đưa ra một số định hướng chủ yếu trong pháttriển nguồn nhân lực cho CNH,HĐH ở nước ta hiện nay

Cuốn sách: Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, tác giả Tô Chí Thành [37] Đã khảo sát

những kinh nghiệm trong phát triển nguồn nhân lực lĩnh vực công nghệ thôngtin của một số nước thuộc khu vực Châu Á - Thái Bình Dương Tác giả chorằng, đối với Việt Nam trong giai đoạn hiện nay đang rất cần học hỏi nhữngkinh nghiệm quốc tế về phát triển nguồn nhân lực nói chung, đặc biệt lànguồn nhân lực trong ngành công nghệ thông tin trong đó có lĩnh vực truyềnhình Đối với một số nước ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, Việt Nam

đã và đang có điều kiện để hợp tác mạnh mẽ trong quá trình phát triển nguồnnhân lực công nghệ thông tin Do vậy, những bài học về phát triển nguồnnhân lực trong lĩnh vực này ở các nước khu vực Châu Á - Thái Bình Dương

Trang 9

được các tác giả luận giải khá sâu sắc từ đó rút ra một số bài học cụ thể đốivới Việt Nam.

Cuốn sách: Phát triển nguồn nhân lực - kinh nghiệm thế giới và thực tiễn nước ta, của Tiến sĩ Trần Văn Tùng và Lê ái Lâm [42] Cuốn sách đã khái

quát những kinh nghiệm về phát triển nguồn nhân lực của các nước phát triểntrên thế giới Tuy nhiên, cuốn sách chưa trình bày được một cách toàn diện về nộidung của phát triển nguồn nhân lực như chăm sóc sức khoẻ, nâng cao mức sống,việc làm… mà mới tập trung vào lĩnh vực giáo dục đào tạo - yếu tố quyết địnhphát triển nguồn nhân lực

Đề tài khoa học KX.02.24/06 (2010), “Nguồn nhân lực và nhân tài cho phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở Việt Nam trong tiến trình đổi mới”, tác giả Nguyễn Ngọc Phú [35] Đã tập trung luận giải một

cách khái quát những vấn đề lý luận chung về nguồn nhân lực, luận giải về

cơ cấu, số lượng, chất lượng, nhu cầu, thực trạng nguồn nhân lực và nhântài Đề xuất những quan điểm, giải pháp, chính sách cho phát triển nguồnnhân lực, nhân tài cho phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở ViệtNam trong tiến trình đổi mới

Báo khoa học: Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế, của Tiến sĩ Phạm Công Nhất [33] Đã khái quát kết quả

hơn hai mươi năm đổi mới đất nước và hơn một năm gia nhập Tổ chức thươngmại thế giới, đồng thời chỉ rõ thực trạng phát triển nguồn nhân lực ở nước ta vàđưa ra một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đápứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và sự nghiệp CNH,HĐH đất nước

- Đề tài nghiên cứu “Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức quản lý Nhà nước đáp ứng yêu cầu hóa - hiện đại hóa” của tác giả Nguyễn Bắc

Sơn(2005) đi sâu phân tích thực trạng đội ngũ viên chức công chức trong khuvực quản lýnhà nước để thấy rõ những ưu điểm và hạn chế còn tồn tại củaNNL này, đồng thời tìm ra những nguyên nhân có được các ưu điểm cũng

Trang 10

như những tồn đọng trong iệc sử dụng đội ngũ viên chức công chức, viênchức quản lý Nhà nước trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH,HĐH) đất nước.

- Đề tài “Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức hành chính nhà nước tỉnh Hải Dương”, luận án tiến sỹ kinh tế, tác giả Nguyễn Kim Diện (2008).

Luận án đề cập đến CLNNL trong lĩnh vực hành chính sự nghiệp Nhữngphân tích đánh giá thực trạng NNL thực hiện công tác hành chính với nhữngthành công và hạn chế trong nhất định thuộc tỉnh Hải Dương, những phân tíchđánh giá này có thể là điển hình đại diện cho đội ngũ công chức hành chínhnói chung nhưng không đại diện cho NNL trong lĩnh vực hoạt động kinh tế

- Đề tài khoa học cấp Nhà nước KHXH 05-03 (GS-TS Nguyễn Phú

Trọng làm chủ nhiệm đề tài): “Luận chứng khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ viên chức trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước” Đề

tài đã đúc kết và đưa ra những quan điểm, sự định hướng trong việc sử dụngcác biện pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ viên chức nói chung vàtrong các lĩnh vực khác nhau của đời sống KTXH Do đó, đề tài là một tài liệuđược tham khảo hữu ích nhất trong trường hợp liên quan đến viên chức làcông chức trong các khoa, phòng hành chính sự nghiệp

Bên cạnh những công trình được phân tích ở trên, trong quá trìnhtriển khai đề tài luận văn tác giả đã nghiên cứu, kế thừa từ một số tài liệu

như: Phạm Minh Hạc (2001), Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nxb CTQG, Hà Nội; Đặng Bá Lãm, Trần Khánh Đức (2002), Phát triển nhân lực công nghệ ưu tiên ở nước ta trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Giáo dục Hà Nội; Đỗ Minh Cương (2002), Một số vấn đề về phát triển nguồn nhân lực ở nước

ta hiện nay, Kỉ yếu Hội thảo Từ chiến lược phát triển giáo dục đến chính sách phát triển nguồn nhân lực, Viện nghiên cứu phát triển giáo dục; Nguyễn Thanh Long (2003) “Phát triển nguồn nhân lực khoa học công

Trang 11

nghệ đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Tạp chí

Lý luận chính trị, Hà Nội; Bộ khoa học và công nghệ - Trung tâm thông

tin khoa học và công nghệ quốc gia (2005), Phát triển nhân lực khoa học

và công nghệ ở các nước Asean, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội; Nguyễn Hữu Dũng (2003), Sử dụng hiệu quả nguồn lực con người ở Việt Nam, Nxb lao động xã hội, Hà Nội; Phạm Việt Dũng, Kinh nghiệm của một số quốc gia trong phát triển, quản lý và sử dụng nguồn nhân lực, Tạp chí

Cộng Sản số tháng 9/2012

Phạm vi nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế

xã hội là một vấn đề rộng lớn, đã được nhiều nhà quản lý, nhà nghiên cứu đềcập ở các khía cạnh khác nhau Có công trình nghiên cứu phân tích dưới góc

độ tổng hợp, có công trình nghiên cứu nâng cao chất lượng nguồn nhân lựcgắn với từng lĩnh vực cụ thể Các tác giả đều đã nêu bật những yếu tố kháchquan và chủ quan tác động đến nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, làm rõnhững yêu cầu mới về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đối với phát triểnkinh tế xã hội trong giai đoạn hiện nay và đề xuất một số quan điểm giảipháp nhằm cao chất lượng nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế xã hội nói

chung Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu vấn đề "Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế - xã hội ở Quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội" Vì vậy, tôi đã lựa chọn vấn đề trên làm đề tài nghiên

cứu luận văn Thạc sĩ của mình

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 12

* Nhiệm vụ

- Làm rõ cơ sở lý luận nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trongphát triển kinh tế - xã hội ở Quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội Phântích làm rõ những nhân tố tác động đến nâng cao chất lượng nguồn nhân lựctrong phát triển kinh tế - xã hội ở Quận Hà Đông

- Đánh giá thực trạng, xác định nguyên nhân và những vấn đề đặt

ra cần giải quyết từ thực trạng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trongphát triển kinh tế xã hội ở địa bàn Quận trong thời gian qua

- Đề xuất những quan điểm cơ bản và một số giải pháp chủ yếunhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế - xãhội ở Quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế - xã hội

* Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Nghiên cứu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trên

địa bàn Quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội

- Về thời gian: Tập trung nghiên cứu nâng cao chất lượng nguồn nhân

lực trên địa bàn Quận Hà Đông, số liệu khảo sát thực tế từ năm 2009 đến nay

- Về không gian: Trên địa bàn quận Hà Đông

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài

Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biệnchứng và duy vật lịch sử, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu đặc thùcủa kinh tế chính trị Mác - Lênin và một số phương pháp khác: Trừu tượng hóakhoa học; kết hợp lôgíc và lịch sử; phân tích, tổng hợp; thống kê, so sánh vàmột số phương pháp khác

Trang 13

6 Ý nghĩa của đề tài

- Góp phần làm sâu sắc thêm những vấn đề lý luận và thực tiễn vềnguồn nhân lực và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nói chung và nângcao chất lượng nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế - xã hội ở Quận HàĐông, Thành Hà Nội nói riêng

- Cung cấp những luận cứ khoa học cho Đảng bộ, chính quyền Quận

Hà Đông tham khảo trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế - xãhội nói chung và trực tiếp là phát triển nâng cao chất lượng nguồn nhân lựccủa Quận nói riêng

7 Kết cấu của luận văn

Kết cấu luận văn gồm: Phần mở đầu, 3 chương (7 tiết), kết luận, danhmục tài liệu tham khảo và phụ lục

Trang 14

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC

VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 1.1 Một số vấn đề chung về nguồn nhân lực và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế - xã hội ở quận Hà Đông

1.1.1 Nguồn nhân lực và vai trò nguồn nhân lực

*Khái niệm nguồn nhân lực

Những thành tựu trong nhận thức về con người mà loài người đạt được ởthời đại ngày nay là kết quả của sự tích luỹ những giá trị tinh hoa của nhânloại qua hàng nghìn năm lịch sử Trong đó, những cống hiến của các nhà sánglập ra chủ nghĩa Mác - Lênin có tính chất quyết định, tạo ra bước ngoặt cáchmạng trong lịch sử tư tưởng của nhân loại Triết học mácxit đã quan niệm conngười là một thực thể trong sự thống nhất biện chứng giữa cái tự nhiên và cái

xã hội Con người là một thực thể thống nhất giữa yếu tố sinh học và yếu tố

xã hội, nhưng yếu tố xã hội mới là bản chất đích thực của con người Ở đây,

cá nhân được hiểu với tư cách là những cá nhân sống, là người sáng tạo cácquan hệ xã hội; sự phong phú của mỗi cá nhân tuỳ thuộc vào sự phong phúcủa những mối liên hệ xã hội của nó Hơn thế, mỗi cá thể là sự tổng hợpkhông chỉ của các quan hệ hiện có, mà còn là lịch sử của các quan hệ đó.Thông qua hoạt động thực tiễn, con người làm biến đổi tự nhiên, xã hội, biếnđổi chính bản thân mình và đã làm nên lịch sử của xã hội loài người

Kế thừa những tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tri thức triết họcphương Đông và vốn văn hoá dân tộc, luôn chú ý đến con người Theo HồChí Minh chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn.Nghĩa rộng là đồng bào cả nước Rộng nữa là cả loài người" Với ý nghĩa

đó, khái niệm con người mang trong nó bản chất xã hội, là con người xãhội, phản ánh các quan hệ xã hội từ hẹp đến rộng trong đó con người hoạt

Trang 15

động và sinh sống Hồ Chí Minh thường đặt mỗi cá nhân con người trongmối quan hệ ba chiều: quan hệ với một cộng đồng xã hội nhất định trong

đó mỗi con người là một thành viên; quan hệ với một chế độ xã hội nhấtđịnh trong đó con người được làm chủ hay bị áp bức bóc lột; quan hệ với tựnhiên trong đó con người là một bộ phận không thể tách rời Con ngườitrong quan niệm của Hồ Chí Minh là một chỉnh thể thống nhất giữa thể lực,tâm lực, trí lực và sự hoạt động Đó là một hệ thống cấu trúc bao gồm: sứckhoẻ, tri thức, năng lực thực tiễn, đạo đức, đời sống tinh thần Người chocon người là tài sản quý nhất, chăm lo, bồi dưỡng và phát triển con người,coi con người là mục tiêu, động lực của sự phát triển xã hội, là nhân tốquyết định thành công của cách mạng

Theo Từ điển Tiếng Việt: Nguồn là nơi phát sinh, nơi cung cấp Nhân lực

là sức của con người bao gồm: sức lực cơ bắp (thể lực), trình độ tri thức được vậndụng vào quá trình lao động của mỗi cá nhân (trí lực), những ham muốn, hoài bãocủa bản thân người lao động hướng tới một mục đích xác định (tâm lực) Nhânlực với ý nghĩa đầy đủ của nó bao gồm ba yếu tố có sự liên hệ biện chứng với

nhau, đó là thể lực, trí lực, tâm lực Nguồn nhân lực được hiểu là nơi phát sinh,

nơi cung cấp sức lực của con người trên đầy đủ các phương diện cho lao động sảnxuất Nguồn lực con người" hay nguồn nhân lực" là khái niệm được hình thànhtrong quá trình nghiên cứu, xem xét con người với tư cách là một nguồn lực, làđộng lực của sự phát triển Các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nướcgần đây đề cập đến khái niệm nguồn nhân lực với các góc độ khác nhau

Khai thác ở góc độ về nguồn lực cho sản xuất kinh doanh: thì yếu tố conngười được xem xét trước hết như là một bộ phận quan trọng và quyết định nhấtcủa quá trình sản xuất, một phương tiện để phát triển kinh tế xã hội Lý luận về

"vốn người" còn được xem xét từ quan điểm nhu cầu về các nguồn lực cho sựphát triển kinh tế xã hội Đầu tư cho con người được phân tích với tính cách tương

tự như đầu tư vào các nguồn vật chất khác có tính đến tổng hiệu quả của các đầu

Trang 16

tư, hoặc thu nhập mà con người và xã hội thu được từ các đầu tư đó Đây là cáchtiếp cận đang được nhiều người quan tâm hiện nay.[17, tr.47]

Từ cách tiếp cận này, Ngân hàng thế giới cho rằng, nguồn nhân lực làtoàn bộ "vốn người", bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp…mà mỗi cánhân sở hữu ở đây nguồn nhân lực được coi như là một nguồn vốn bên cạnh cácloại vốn vật chất khác như vốn tiền, vốn công nghệ, tài nguyên thiên nhiên…Trong đó đầu tư cho con người giữ một vị trí trung tâm trong các loại đầu tư vàđược coi là cơ sở không thể thiếu cho sự phát triển bền vững[17, tr.50]

Cũng dựa trên cơ sở tiếp cận như trên, Tổ chức Hợp tác và phát triển củaLiên Hiệp Quốc (OECD) đã đưa ra khái niệm về nguồn nhân lực, cho rằngnguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng và năng lực của con người cóquan hệ tới sự phát triển của đất nước nguồn nhân lực được coi như một yếu tốquan trọng bậc nhất trong việc tạo ra, khai thác và không ngừng phát triển kếtcấu hạ tầng kinh tế xã hội[17, tr.51]

Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì “Nguồn nhân lực của một quốcgia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động Nguồnnhân lực được hiểu theo hai nghĩa: theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồncung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sựphát triển” Do đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triểnbình thường Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, làmột nguồn lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong

độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, là tổng thể các yếu tố vềthể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động

Theo một số nhà khoa học Việt Nam trong đề tài“Con người Việt mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế xã hội” mang mã số KX-07 thìnguồn nhân lực được hiểu là dân số và chất lượng con người, bao gồm cả thểchất và tinh thần, sức khoẻ và trí tuệ, năng lực và phẩm chất, thái độ và phongcách làm việc[19, tr.328]

Trang 17

Nam-Theo giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực của Đại học kinh tế Quốc dân,nguồn nhân lực là nguồn lực con người Với tư cách là một nguồn lực củaquá trình phát triển, nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năngsáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là sốlượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định Nhân lực haynguồn nhân lực xã hội là những cá nhân có nhân cách, có khả năng lao động,sản xuất Nguồn nhân lực hay nguồn nhân lực tổ chức là nguồn lực con người,nhân tố con người trong một tổ chức cụ thể Nguồn nhân lực là toàn bộ ngườilao động làm việc trong một tổ chức hoặc trong một ngành.

Nguồn nhân lực này do tổ chức tuyển dụng, đào tạo và phát triển và

sử dụng để thực hiện mục tiêu của tổ chức Nguồn nhân lực là nguồn tàinguyên nhân sự, là tài sản quan trọng nhất của tổ chức Nói tới nguồn nhânlực là nói về số lượng, cơ cấu và chất lượng của nguồn nhân lực Nguồnnhân lực được coi là hợp lý và được đánh giá cao khi có số lượng tươngứng với số lượng công việc của tổ chức, có cơ cấu về chuyên môn, nghềnghiệp phù hợp với cơ cấu của công việc Người lao động có trình độchuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, kinh nghiệm công tác đáp ứng đượcnhững đòi hỏi của công việc

Theo Tổng cục thống kê Việt Nam, nguồn nhân lực gồm những người

đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và những người trong độ tuổi lao động, có khảnăng lao động nhưng đang thất nghiệp, đang đi học, đang làm nội trợ tronggia đình, không có nhu cầu làm việc, những người thuộc các tình trạng khácnhư nghỉ hưu trước tuổi

Theo các tác giả của cuốn "Nguồn lực và động lực phát triển trong nềnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam" do Giáo sư, Tiến

sĩ khoa học Lê Du Phong chủ biên thì "Nguồn lực con người được hiểu làtổng hoà trong thể thống nhất hữu cơ giữa năng lực xã hội của con người (thểlực, trí lực, nhân cách) và tính năng động của con người Tính thống nhất đó

Trang 18

được thể hiện ở quá trình biến nguồn lực con người thành vốn con người [34,tr.14 ] Phó giáo sư, Tiến sĩ Đoàn Văn Khái lại cho rằng trong thực tế, kháiniệm “nguồn nhân lực” ngoài nghĩa rộng như “nguồn lực con người”, thườngcòn hiểu theo nghĩa hẹp là nguồn lao động, có khi còn được hiểu là lực lượnglao động Khái niệm “tài nguyên con người” được sử dụng với ý nghĩa nhấnmạnh phương diện khách thể của con người, coi con người như một nguồn tàinguyên, một loại của cải quý giá cần được khai thác hợp lý, có hiệu quả, nhất

là tiềm năng trí tuệ, và cho rằng "Nguồn lực con người là khái niệm chỉ sốdân, cơ cấu dân số và nhất là chất lượng con người với tất cả đặc điểm và sứcmạnh của nó trong sự phát triển xã hội”

Các định nghĩa trên cho thấy nói đến nguồn nhân lực tức là nói đếnnguồn lực con người có khả năng lao động Nguồn nhân lực được xem xét ở 2khía cạnh số lượng (bao gồm cả kết cấu) và chất lượng nguồn nhân lực Sốlượng nguồn nhân lực bao gồm số lượng người lao động làm việc cho tổchức, ngành, địa phương, quốc gia Số lượng nguồn nhân lực còn được xemxét ở cơ cấu của nguồn nhân lực đó có phù hợp với cơ cấu ngành, nghề của tổchức, ngành, địa phương, quốc gia (hiện tại và phát triển) hay không Cơ cấunguồn nhân lực thường được xem xét trên một số chỉ tiêu như: cơ cấu theotrình độ chuyên môn đào tạo, cơ cấu theo giới tính, cơ cấu theo nghề, cơ cấutheo tuổi và thâm niên

Chất lượng nguồn nhân lực phản ánh khả năng lao động, sáng tạo củanguồn nhân lực Chỉ tiêu phản ánh chất lượng của Nguồn nhân lực bao gồmcác chỉ tiêu như: trình độ chuyên môn đào tạo, kỹ năng nghề nghiệp (côngviệc), kiến thức, thái độ đối với tổ chức và công việc, sức khỏe, kinh nghiệmcông tác

Như vậy, xem xét dưới các góc độ khác nhau có thể có những kháiniệm khác nhau về nguồn nhân lực nhưng những khái niệm này đều thốngnhất nội dung cơ bản: nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã

Trang 19

hội Trong đó, con người với tư cách là yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất,giữ vị trí hàng đầu, là nguồn lực cơ bản và nguồn lực vô tận của sự phát triểnthì không thể chỉ được xem xét đơn thuần ở góc độ số lượng hay chất lượng

mà là sự tổng hợp của cả số lượng và chất lượng; không chỉ là bộ phận dân sốtrong độ tuổi lao động mà là các thế hệ con người với những tiềm năng, sứcmạnh trong cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội

Từ những quan điểm trên có thể thấy rằng nguồn nhân lực được đề cậpnhư một nguồn vốn tổng hợp với hệ thống các yếu tố hợp thành: Vì vậy,

nguồn nhân lực là tổng thể số lượng và chất lượng con người với tổng hoà các tiêu chí về trí lực, thể lực và những phẩm chất đạo đức - tinh thần tạo nên năng lực mà bản thân con người và xã hội đã, đang và sẽ huy động vào quá trình lao động sáng tạo vì sự phát triển và tiến bộ xã hội.

* Vai trò nguồn nhân lực

Nếu xét nguồn nhân lực dưới góc độ là con người thì ta thấy rằng trongmọi thời đại, con người luôn chiếm vị trí hàng đầu trong sự phát triển kinh tế -

xã hội, vai trò này thể hiện qua một số nội dung chủ yếu sau:

- Người lao động là yếu tố hàng đầu, quyết định sự phát triển của lực lượng sản xuất.

Theo V.L Lênin: “Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại

là công nhân, là người lao động” [27, tr.30] Chính con người chế tạo ra công

cụ lao động, cải biến đối tượng lao động, tổ chức quá trình lao động, phối hợpcác yếu tố sản xuất một cách hợp lý để tạo ra năng suất lao động xã hội cao.Thông qua hoạt động sản xuất, con người đã từng bước hoàn thiện tư liệu sảnxuất, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển Ngày nay, cho dù khoa học côngnghệ đã phát triển mạnh mẽ, đúng như dự báo của C.Mác: “Khoa học là mộtđộng lực lịch sử, là lực lượng cách mạng” [31, tr.663] thì nhân tố con ngườivẫn chiếm một vị trí quan trọng và càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hếtbởi ở điều kiện này con người phải có một năng lực sáng tạo, một trình độ kỹthuật cao với một ý thức trách nhiệm lớn lao hơn nhiều

Trang 20

- Người lao động là chủ thể sáng tạo mới và hoàn thiện quan hệ sản xuất.

Con người không những là yếu tố hàng đầu, quyết định sự phát triểncủa lực lượng sản xuất mà còn là chủ thể sáng tạo, đổi mới quan hệ sản xuất,bởi lẽ, trong quá trình lao động, con người luôn sáng tạo vươn tới cái hoànthiện hơn và trăn trở, tìm tòi kỹ thuật mới nhằm đáp ứng nhu cầu cuộc sốngngày càng cao Đến khi, khoa học - công nghệ mới ra đời lại tiếp tục đòi hỏicon người tự nâng cao trình độ để đáp ứng và kích thích sáng tạo mới hơn.Kết quả của sự tác động qua lại mang tính biện chứng này là con người ngàycàng tự cải biến mình, quan hệ sản xuất ngày càng hoàn thiện, xã hội loàingười ngày càng tiến bộ

Trong quá trình này sự phân công và hợp tác lao động đã xuất hiện vàdiễn ra ngày càng sâu sắc, các lao động cá thể liên kết lại với nhau nhằm huyđộng sức mạnh tập thể, người quản lý, điều khiển hoạt động chung cũng ra đời

và đóng vai trò ngày càng cao “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay laođộng chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cầnđến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện nhữngchức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với

sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tựđiều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần nhạc trưởng”[25, tr.480] Tínhchất xã hội hóa nền sản xuất ngày càng cao không những trong phạm vi quốcgia mà lan tỏa ra cả khu vực và thế giới, lao động quản lý phát triển, đạo đứcquản lý ngày càng cần được nâng cao và không thể thiếu trong mọi hoạt độngsản xuất Chính vì thế, quan hệ sản xuất ngày càng được hoàn thiện

- Người lao động vừa là động lực, vừa là mục tiêu thúc đẩy mọi sự phát triển.

Mọi hoạt động lao động của con người đều nhằm đạt được những lợi íchnhất định Người lao động làm việc gì, ở đâu, dưới hình thức nào cũng đều nhằmđạt đến nhu cầu lợi ích của mình, lợi ích càng cao càng hấp dẫn con người, thúcđẩy con người hoạt động có hiệu quả hơn.Về điều này, C.Mác cho rằng: “Một

Trang 21

khi tư tưởng tách rời lợi ích thì nhất định sẽ làm nhục nó” [29, tr.326] Cũng vìquan tâm đến lợi ích cùng với tính tự ái, lòng tự trọng vốn có của con người đãtạo nên sự hăng hái thi đua trong lao động - đây là động lực quan trọng thúc đẩy

sự phát triển sản xuất, do đó thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội

Mọi sự phát triển, suy cho cũng nhằm phục vụ cho nhu cầu của conngười, những nhu cầu đó tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau, cấp độkhác nhau nhưng đều có quan hệ chặt chẽ với nhau và chi phối mạnh mẽhành vi của con người Nền kinh tế nào hướng trực tiếp vào nhu cầu conngười, phục vụ cho con người thì nền kinh tế đó sẽ phát triển nhanh Nềnkinh tế tư bản phát triển nhanh vì đã biết coi trọng con người với tư cách làthị trường tiêu thụ hàng hóa Thật ra, không có một nền kinh tế nào màkhông vì con người; chỉ có sự khác nhau về mức độ phục vụ cao hay thấp,phạm vi phục vụ cho nhiều hay ít người Với mục tiêu, bản chất chính trịcủa xã hội XHCN thì nền kinh tế thị trường định hướng XHCN mà chúng

ta đang xây dựng là nền kinh tế đặt con người lên vị trí hàng đầu, coi sựphát triển và tiến bộ của xã hội là mục tiêu số một Như vậy, con ngườichính là mục tiêu của sự phát triển

Khi xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội mọi quốc gia đềuphải dựa trên cơ sở tiềm năng về con người, vật chất kỹ thuật của đất nước.Khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh mọi chủ thể đều phải xem xétlựa chọn, sử dụng các yếu tố sản xuất như thế nào cho phù hợp và hiệu quảnhất Những cơ sở tiềm năng kinh tế, những yếu tố sản xuất mà quốc gia haychủ thể kinh tế quan tâm, suy cho cùng chính là các nguồn tài nguyên thiênnhiên, khoa học công nghệ, lao động và vốn, trong kinh tế học người ta gọi đó

là các nguồn lực kinh tế Trong 4 nguồn lực nói trên thì nguồn nhân lực lànguồn lực có vai trò đặc biệt quan trọng Bởi vì con người chính là chủ thểcủa mọi hoạt động kinh tế, thiếu nó thì không có hoạt động kinh tế nào tiếnhành được Mọi hoạt động kinh tế - xã hội sẽ ngừng lại ngay và không còn ý

Trang 22

nghĩa gì nữa nếu như không có sự tác động và tham gia của con người Nóimột cách đơn giản, dễ hiểu: hoạt động kinh tế - xã hội là hoạt động của conngười, do con người quản lý, điều hành và thực hiện - nó xuất phát từ ý chícủa con người, do con người hành động và nhằm thỏa mãn mục đích của conngười (đó là mục đích tồn tại và phát triển) Hoạt động kinh tế - xã hội là hoạtđộng của con người, do con người và vì con người.

Xét rộng hơn, chúng ta có thể dễ dàng thấy đựơc quá trình phát triển kinh

tế - xã hội của một địa phương hay một quốc gia phụ thuộc chủ yếu vào vai tròcủa con người tham gia trong các quá trình đó Nói cách khác, hiệu quả của mọihoạt động kinh tế, tốc độ phát triển kinh tế - xã hội của một địa phương hay quốcgia là do nguồn nhân lực quyết định- chính nguồn nhân lực là nhân tố quyết địnhhàng đầu và không thể thay thế được hoàn toàn bởi một nguồn lực nào khác

Chất lượng nguồn nhân lực có vai trò rất quan trọng đối với qúa trìnhphát triển kinh tế - xã hội, bởi các lẽ sau đây:

Thứ nhất, cùng một lượng lao động như nhau nhưng với chất lượng

khác nhau hiển nhiên sẽ cho ra các kết quả lao động khác nhau rất nhiều.Đồng thời, sự đầu tư về chất cho nguồn nhân lực cũng sẽ mang lại kết quả caohơn nhiều so với sự đầu tư về lượng cho nguồn nhân lực Thực tế đã chochúng ta thấy rất rõ về điều này

Thứ hai, chất lượng nguồn nhân lực được tăng lên sẽ là điều kiện hàng

đầu cho khoa học phát triển, trí tuệ của con người được chuyển hóa thànhcông nghệ, vốn và tài nguyên thiên nhiên được sử dụng tiết kiệm hơn, hiệuquả hơn Như vậy, chất lượng lao động là nguồn lực có sức mạnh to lớn thúcđẩy nhanh chóng quá trình phát triển kinh tế - xã hội

Thứ ba, chất lượng nguồn nhân lực là chất lượng của con người nên nó

có khả năng phát triển vượt trội và năng lực ấy hầu như không có giới hạn.Điều này đã, đang và sẽ làm cho xã hội loài người đạt được vô số nhữngthành tựu quý báu và kỳ diệu

Trang 23

Thứ tư, “Các yếu tố khác của quá trình sản xuất không có sức mạnh tự

thân, chúng chỉ có thể vận hành và phát huy tác dụng tích cực khi kết hợp vớinhân tố con người ” [24, tr.9] Nghĩa là, các nguồn lực khác không có khả năng

tự thân vận động, tất cả đều phụ thuộc ít, nhiều vào nguồn lực lao động nên chấtlượng nguồn nhân lực một khi được cải thiện sẽ tạo nên sự bức phá trong việcnâng cao hiệu quả khai thác và sử dụng các nguồn lực, thúc đẩy quá trình pháttriển kinh tế - xã hội Như vậy, Chất lượng nguồn nhân lực có vai trò to lớnquyết định hiệu quả và chất lượng của mọi hoạt động kinh tế - xã hội

1.1.2 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế

-xã hội ở quận Hà Đông

* Chất lượng nguồn nhân lực

Theo từ điển tiếng việt của Viện ngôn ngữ học, Ủy ban khoa học xã hộiđịnh nghĩa: “Chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người,một sự vật, một sự việc” Chất lượng của sự vật bao giờ cũng gắn với nhữngthuộc tính, những yếu tố cơ bản tạo nên sự vật, hiện tượng, cái quy định phẩmchất, giá trị của sự vật hiện tượng Do đó, theo nghĩa chung nhất, chất lượng

là thuộc tính chung của mọi sự vật, hiện tượng Mỗi lĩnh vực cụ thể có chấtlượng hoạt động riêng của lĩnh vực đó Ở các lĩnh vực khác nhau, thì yêu cầu

về chất lượng cũng khác nhau

Từ điển Tiếng Việt của Viện nghiên cứu phát triển Giáo dục nghiêncứu về ngôn ngữ học cho rằng chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị củamột con người, một sự vật, sự việc

Theo PGS, TS Vũ Thị Ngọc Phùng cho rằng: chất lượng nguồn nhânlực được đánh giá qua trình độ học vấn, chuyên môn và kỹ năng của ngườilao động cũng như sức khỏe của họ Theo PGS, TS Mai Quốc Chánh thì chấtlượng nguồn nhân lực được xem xét trên các mặt: trình độ sức khỏe, trình độ vănhóa, trình độ chuyên môn, năng lực phẩm chất

Hiện nay trên thế giới, một trong những thước đo để đánh giá chất

Trang 24

lượng nguồn nhân lực là chỉ số phát triển con người - HDI (HumanDevelopment Index) Chỉ số này là tỷ lệ so sánh, định lượng về mức thu nhập,

tỷ lệ biết chữ, tuổi thọ và một vài nhân tố khác Chỉ số HDI là một thước đo

về phát triển con người Thông thường chỉ số HDI đo thành tựu trung bìnhcủa một quốc gia theo ba tiêu chí:

- Về sức khỏe: Được tính dựa trên cuộc sống khỏe mạnh, sống thọ Cóthể sử dụng tuổi thọ trung bình làm căn cứ đánh giá Tuy nhiên, tuổi thọ chỉphản ánh được số năm sống của một con người, không thể hiện được chấtlượng cuộc sống của con người

- Tri thức: Tiêu chí này sử dụng tỷ lệ người lớn biết chữ và tỷ lệ ngườinhập học các cấp từ tiểu học đến đại học Với tiêu chí này, có thể tìm thấy cáccon số về biết chữ và nhập học, nhưng trên thực tế số người lớn biết chữ và cóhiện tượng quên chữ hay còn gọi là tái mù chữ vẫn xảy ra nguyên nhân do íttiếp xúc với chữ Điều đó cho thấy việc sử dụng tỷ lệ người biết chữ, tỷ lệngười nhập học các cấp là căn cứ đánh giá tri thức của con người cũng chưahoàn toàn chính xác

- Mức sống trung bình của dân cư: Tiêu chí này dựa trên thu nhập củadân cư và được đo bằng GDP bình quân đầu người

Như vậy, có thể nói chất lượng nguồn nhân lực là tổng thể những đặctính biểu hiện ở từng người lao động và trên phạm vi từng vùng, từng đơn vịsản xuất kinh doanh về các mặt: sức khỏe, trình độ văn hóa, trình độ chuyênmôn nghề nghiệp, trình độ tổ chức, phẩm chất, đạo đức, ý thức pháp luật, cácyếu tố về tâm lý, tập quán Chất lượng nguồn nhân lực được xem là một chỉtiêu phản ánh trình độ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương hay quốc gia;bởi chất lượng nguồn nhân lực với tư cách là một nguồn lực thì nó là động lựccủa sự phát triển, còn với tư cách là con người thì nó là trình độ sống của xã

hội Vì vậy, chất lượng nguồn nhân lực được hiểu một cách chung nhất là tổng hợp các yếu tố về thể lực, phẩm chất và trình độ năng lực của người lao động,

Trang 25

bảo đảm cho nguồn nhân lực đáp ứng tốt yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội đặt

ra Chất lượng nguồn nhân lực được biểu hiện thông qua: trạng thái sức khỏe,

phẩm chất, năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của nguồn nhân lực

* Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực:

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực được hiểu một cách khái quát là chỉnhững hoạt động làm cho biến đổi về chất lượng nguồn nhân lực theo chiều hướngtăng lên so chất lượng nguồn nhân lực hiện tại Đó là sự biến đổi tăng lên về các mặtnhư: sức khỏe, phẩm chất, năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của mỗi người

Như vậy: Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là tổng thể các nội dung, cách thức, phương thức của chủ thể làm biến đổi các yếu tố cấu thành chất lượng nguồn nhân lực theo hướng làm tăng thêm các giá trị của con người cả về trí tuệ lẫn tâm hồn cũng như những kỹ năng nghề nghiệp, làm cho họ trở thành người lao động có những năng lực và phẩm chất mới, cao hơn và có cơ cấu nguồn nhân lực một cách hợp lý đáp ứng được những yêu cầu ngày càng tăng của sự phát triển kinh tế - xã hội đặt ra.

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là làm tăng thêm giá trị con người,

cả giá trị vật chất và tinh thần, cả trí tuệ lẫn tâm hồn cũng như kỹ năng nghềnghiệp, làm cho con người trở thành người lao động có những năng lực vàphẩm chất mới cao hơn đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng của sự phát triểnkinh tế xã hội Được biểu hiện ở các mặt cụ thể sau:

- Nâng cao thể lực bao gồm việc nâng cao sức khỏe, thể chất của nguồnnhân lực Không có sức khỏe thì không làm được bất cứ việc gì Sức khỏe khôngchỉ biểu hiện chất lượng nguồn nhân lực mà còn ảnh hưởng rất lớn đến chấtlượng công việc Sức khỏe này hàm chứa khỏe cả về thể chất lẫn tinh thần củanguồn nhân lực

- Nâng cao phẩm chất: Tức là nâng cao về tâm lực gồm (thái độ,tinh thần, khả năng chịu áp lực…) Đánh giá được thái độ trong công việc

Trang 26

để biết nguồn nhân lực có nâng cao được tâm lực hay không thực sự rấtkhó nguồn nhân lực có tích cực làm việc hơn không? Có khả năng kiềmchế cảm xúc tốt hơn không? Hành vi có chuẩn mực hơn không? Điềunày còn chịu sự tác động và ảnh hưởng của nhiều yếu tố, ảnh hưởng trướchết chính từ trí lực của nguồn nhân lực đến môi trường sống và làm việccủa nguồn nhân lực…

- Nâng cao năng lực: Tạo ra sự biến đổi trình độ học vấn, trình độchuyên môn, kỹ năng và kinh nghiệm làm việc…theo hướng đáp ứng tốt hơnchức trách, nhiệm vụ, công việc được đảm nhiệm

* Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế - xã hội

ở quận Hà Đông

Từ quan niệm chung về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có thể quan

niệm: Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế - xã hội ở quận Hà Đông là tổng thể các biện pháp mà quận Hà Đông thực hiện nhằm tạo

ra biến đổi về chất lượng nguồn nhân lực theo chiều hướng tăng lên so chất lượng nguồn nhân lực hiện tại đáp ứng được những yêu cầu ngày càng tăng của sự phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn quận đặt ra.

Như vậy, quan niệm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong pháttriển kinh tế xã hội ở quận Hà Đông đã chỉ rõ được mục đích, chủ thể, lựclượng, phương thức nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Về mục đích nâng cao chất lượng nguồn nhân lực được thể hiện đó là:

Nâng cao thể lực, phẩm chất và năng lực của nguồn nhân lực đáp ứng được nhữngyêu cầu ngày càng tăng của sự phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn quận đặt ra

Về chủ thể nâng cao chất lượng nguồn nhân lực: Chủ thể lãnh đạo là

cấp ủy, tổ chức Đảng các cấp của quận Hà Đông lãnh đạo nâng cao chấtlượng nguồn nhân lực thông qua nghị quyết và tổ chức triển có hiệu quả nghịquyết đã đề ra Chủ thể quản lý là chính quyền, các cơ quan chức năng các

Trang 27

cấp trên địa bàn quận Hà Đông Người lao động trên địa bàn quận Hà Đông vừa

là chủ thể vừa là đối tượng của quá trình nâng cao chất lượng nguồn nhân lựctrong phát triển kinh tế - xã hội ở quận Hà Đông

Về lực lượng tham gia nâng cao chất lượng nguồn nhân lực bao gồm:

Ủy Ban nhân dân và các quan chức năng các cấp của quận Hà Đông Lựclượng tham gia nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế -

xã hội ở quận Hà Đông còn bao gồm các tổ chức chính trị xã hội, các cơ sởgiáo dục đào tạo, dạy nghề, các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế ởtrong và ngoài nước có liên quan

Về phương thức nâng cao chất lượng nguồn nhân lực: Việc nâng cao

chất lượng nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế - xã hội ở quận Hà Đôngđược áp dụng bằng nhiều phương thức Các cơ sở sử dụng lao động đã chủđộng tổ chức bồi dưỡng, đào tạo lại nguồn nhân lực hiện có để nâng cao chấtlượng cán bộ, nhân viên, lao động của mình Đồng thời, các cơ sở này đãnâng cao chất lượng nhân lực thông qua tuyển dụng nhân lực mới, liên kết vớicác cơ sở đào tạo, trung tâm dạy nghề để bồi dưỡng nâng cao trình độ về mọimặt Đặc biệt là, các cơ sở sử dụng lao động đã sử dụng tốt phương thức tựhọc tập, rèn luyện của cán bộ, nhân viên, lao động hợp đồng để nâng cao thểlực, phẩm chất và năng lực công tác đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xãhội trên địa bàn quận đặt ra

1.2 Nội dung và các nhân tố tác động đến nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế - xã hội ở quận Hà Đông

1.2.1 Nội dung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế - xã hội ở quận Hà Đông

Từ những vấn đề chung về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; từ yêucầu xây dựng đội ngũ cán bộ, viên chức, lao động trên địa bàn quận Hà Đôngtrong thời gian tới, xác định nội dung nâng cao chất lượng nguồn nhân lựctrong phát triển kinh tế - xã hội ở quận Hà Đông như sau:

Trang 28

Một là, nâng cao thể lực của nguồn nhân lực.

Sức khỏe tốt là thứ tài sản quý giá nhất đối với con người, là điều kiệnquan trọng để biến tri thức thành sức mạnh vật chất Sức khỏe là một trạng tháithoải mái về thể chất, tinh thần, không đơn thuần là không có bệnh Sức khỏe làtổng hòa nhiều yếu tố tạo nên giữa bên trong và bên ngoài, giữa thể chất và tinhthần Người lao động có sức khỏe tốt và phù hợp với công việc được giao làmột điều kiện cần thiết và bắt buộc Nếu không có sức khỏe thì con người sẽchẳng thể nào tham gia lao động được Khi người lao động khỏe mạnh cả vềthể chất lẫn tinh thần thì họ mới có khả năng và thực hiện tốt công việc đượcgiao Bởi vì, với điều kiện sức khỏe tốt thì người lao động mới có thể hưngphấn làm việc và cống hiến nhiều hơn, mới có khả năng tập trung trí tuệ khilàm việc, mới có niềm tin và ý chí để hoàn thành tốt công việc của mình đượcđảm nhiệm Khi đề cập đến vấn đề nguồn lực con người trong quá trình đẩymạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng ta đã khẳng định rằng: “Sựcường tráng về thể chất là nhu cầu của bản thân con người, đồng thời là vốnquý để tạo ra tài sản trí tuệ và vật chất cho xã hội” [10, tr.30]

Cho dù có học vấn cao, có trình độ chuyên môn tay nghề giỏi, có ýthức lao động tốt nhưng thiếu sức khỏe thì người lao động cũng không thểhoạt động lao động hay cống hiến khả năng của mình cho xã hội Sức khỏe làmột chỉ tiêu chất lượng, là một điều kiện hàng đầu để người lao động thamgia lao động tốt Vì vậy, nâng cao thể lực của nguồn nhân lực là yêu cầukhách quan, mới đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của quận HàĐông trong thời gian tới

Hai là, nâng cao phẩm chất của nguồn nhân lực.

Phẩm chất của nguồn nhân lực được thể hiện trên thực tế qua phongcách, tác phong lao động Đây là nội dung phản ánh mặt định tính, khó có thểđịnh lượng được Phong cách, tác phong của người lao động được hình thành

từ truyền thống văn hóa, tâm lý, phong tục tập quán, lối sống của địa phương,

Trang 29

qua hoạt động thực tiễn Đú là những phạm trù biểu hiện những suy nghĩ,những thói quen đã tồn tại khá lâu trong hoạt động thực tiễn và sinh hoạt củangười lao động ở từng vùng, từng dân tộc và từng ngành, từng lĩnh vực Vềthực chất, tõm lý, tập quỏn, lối sống là những yếu tố tỏc động đến chất lượngnguồn nhõn lực, trong đú cú nhiều yếu tố cấu thành tõm lực người lao động nờnngười ta vẫn thường xem đấy là những yếu tố tạo thành chất lượng nguồn nhõnlực.

Phong cỏch, tỏc phong của người lao động trong hoạt động thực tiễnđược thể hiện ở ý thức chớnh trị, thỏi độ làm việc, tốc độ thao tỏc, hiệu quả làmviệc, tớnh nghiờm tỳc chấp hành giờ giấc lao động, ý thức tổ chức kỷ luật, mức

độ đoàn kết gắn bú giữa cỏc cỏ nhõn, tinh thần trỏch nhiệm đối với cụng việc

Rừ ràng, đõy là những nội dung khụng kộm phần quan trọng đúng gúp vào kếtquả phỏt triển kinh tế xó hội của đất nước núi chung và của Quận Hà Đụng núiriờng Do đú, phong cỏch, tỏc phong là hỡnh thức biểu hiện của phẩm chất làmột nội dung quan trọng trong việc đỏnh giỏ chất lượng của nguồn nhõn lực

Vỡ vậy, nõng cao phẩm chất của nguồn nhõn lực, thực chất là nõng cao ý thức

chớnh trị, tinh thần trỏch nhiệm, hiệu quả cụng tỏc, ý thức tổ chức kỷ luật, việclàm thiết thực của người lao động đối với cụng việc mỡnh đảm nhiệm

Ba là, nõng cao năng lực, trỡnh độ chuyờn mụn, nghiệp vụ.

Để đỏp ứng yờu cầu phỏt triển kinh tế - xó hội trong thời gian tới, đũi hỏiquận Hà Đụng phải chỳ trọng nõng cao năng lực, trỡnh độ chuyờn mụn, nghiệp

vụ cho nguồn nhõn lực của quận Năng lực, trỡnh độ chuyờn mụn nghiệp vụ làyờu cầu hàng đầu đỏp ứng yờu cầu cụng việc, đảm bảo năng lực, của lao độngtrong phỏt triển kinh tế - xó hội ở quận Hà Đụng Sự yếu kộm, thiếu về nănglực, trỡnh độ chuyờn mụn, nghiệp vụ sẽ làm cho chất lượng, hiệu quả lao độnggiảm sỳt, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả hoạt động trong phỏt triển kinh

tế - xó hội của Hà Đụng Trỡnh độ chuyờn mụn nghiệp vụ của nguồn nhõn lựcmặc dự đó được đào tạo trong quỏ trỡnh học tập tại cỏc trường đại học, cao

Trang 30

đẳng, trường nghề, tại các cơ sở sử dụng lao động Nhưng do yêu cầu của hoạtđộng sản xuất kinh doanh, công tác chuyên môn nghiệp vụ của Hà Đông ngàycàng cao và thực tiễn luôn vận động phát triển đòi hỏi quận Hà Đông phảithường xuyên nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, nâng cao năng lựccông tác cho người lao động theo kịp yêu cầu thực tiễn đặt ra.

Nội dung nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ nguồnnhân lực của quận Hà Đông rất toàn diện, phong phú, phù hợp với từng bộphận, từng cá nhân cụ thể Ngoài những yêu cầu chung về trình độ văn hóa(trung cấp, cao đẳng, đại học, sau đại học), trình độ đào tạo chuyên môn,nghiệp vụ (chuyên ngành,…), ngoại ngữ, tin học và các chứng chỉ nghiệp vụkhác,… đối với từng bộ phận, từng cá nhân có những yêu cầu cụ thể về nănglực, chuyên môn, nghiệp vụ

Đối với bộ phận nhân lực đảm nhiệm công tác lãnh đạo, quản lý, thammưu phải chú trọng năng cao năng lực, trình độ quản lý, tổ chức điều hành,tham mưu giúp việc một cách hợp lý, phát huy được năng lực của bộ phậnmình và của từng nhân viên thuộc quyền Đối với bộ phận nhân lực làm việc

ở các cơ sở sản xuất phải chú trọng nâng cao trình độ, năng lực ứng dụng cácthành tựu khoa học công nghệ, vận hành máy móc, thiết bị kỹ thuật, thực hiệnđúng qui trình sản xuất, bảo đảm chất lượng sản phẩm,… Đối với bộ phậnnhân lực làm trong các lĩnh vực dịch vụ phải nâng cao trình độ tiếp thị, nângcao chất lượng phục vụ khách hàng v.v… Đối với bộ phận nhân lực làm côngtác bảo đảm, phục vụ tại các cơ quan chức năng, phải thành thạo chuyên mônnghiệp vụ và có khả năng thay thế, đảm nhiệm công việc của đồng nghiệp khicần thiết (giỏi một việc, biết nhiều việc) v.v

1.2.2 Những nhân tố tác động đến nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế - xã hội ở quận Hà Đông

Trang 31

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế - xã hội ởQuận Hà Đông chịu sự tác động của các điều kiện khách quan cũng như cácnhân tố chủ quan, được biểu hiện ở các nội dung cụ thể sau:

* Các nhân tố bên ngoài

Có nhiều nhân tố bên ngoài tác động ảnh hưởng đến nâng cao chấtlượng nguồn nhân lực của Quận Hà Đông, trong đó nổi lên là:

Thứ nhất, điều kiện kinh tế - xã hội Điều kiện kinh tế - xã hội của quốc

gia của Thành phố Hà nội và của Quận Hà Đông có tác động, ảnh hưởng rấtlớn đến nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của Quận Kinh tế - xã hội pháttriển sẽ đòi hỏi phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của Quận Hà Đôngtheo kịp với sự phát triển của thực tiễn đặt ra Đồng thời, chính sự phát triểncủa kinh tế - xã hội là điều kiện tốt để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cả

về thể chất, phẩm chất và trình độ chuyên môn Ngược lại, điều kiện kinh tế

-xã hội của quốc gia và của Thành phố, của Quận còn hạn chế, đời sống vậtchất - tinh thần của dân cư gặp nhiều khó khăn sẽ ảnh hưởng không nhỏ đếnviệc bảo đảm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Ngoài ra, kinh tế - xã hộiphát triển sẽ tạo ra điều kiện thuận lợi cho xây dựng cơ cấu kinh tế và cơ cấulao động phù hợp, mở ra khả năng bảo đảm tốt hơn nhu cầu để nâng cao chấtlượng nguồn nhân lực trên địa bàn Quận

Thứ hai, sự phát triển của hệ thống giáo dục và đào tạo Chất lượng

nguồn nhân lực của Quận Hà Đông phụ thuộc rất lớn vào hệ thống giáo dụcđào tạo của quốc gia, trong đó đặc biệt là hệ thống giáo dục đào tạo nghề liênquan trực tiếp đến nguồn nhân lực của Quận Hà Đông Mức độ phát triển củagiáo dục, đào tạo là một trong những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đếnnâng cao chất lượng nguồn nhân lực và nó được biểu hiện ở các khía cạnh sau:

- Mức độ phát triển của giáo dục - đào tạo của quốc gia, của Thành phố

Hà Nội và trên địa bàn Quận Hà Đông càng cao thì quy mô nguồn nhân lực

Trang 32

nói chung và nguồn nhân lực của Quận Hà Đông nói riêng có trình độ chuyênmôn nghiệp vụ càng mở rộng bởi vì giáo dục và đào tạo là nguồn gốc cơ bản

để nâng cao tỷ lệ lao động qua đào tạo

- Hệ thống giáo dục - đào tạo càng phát triển cao thì càng có điều kiện

và khả năng nâng cao chất lượng theo chiều sâu của nguồn nhân lực, chấtlượng của đầu ra được đảm bảo, đáp ứng được nhu cầu của thị trường laođộng nói chung và của Quận Hà Đông nói riêng

- Giáo dục - đào tạo đem lại những lợi ích to lớn lâu dài cho cá nhân và

xã hội Đối với cá nhân giáo dục đem lại cho họ kiến thức, kỹ năng, phẩmchất, thái độ… trên nền tảng đó, để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụthích nghi với những với những thay đổi phát triển của nghề nghiệp và của xãhội đặt ra Trong nền kinh tế hiện đại ngày nay, kinh tể tri thức ngày càng giữvai trò quan trọng Sức cạnh tranh sẽ xoay quanh tâm điểm là hàm lượng khoahọc và công nghệ, chất xám, nó quyết định đến giá trị của sản phẩm Do vậy,phát triển của hệ thống giáo dục - đào tạo càng có vị trí vai trò to lớn đối vớinâng cao chất lượng nguồn nhân lực nói chung và đối với nguồn nhân lực củaQuận Hà Đông nói riêng

Thứ ba, cơ chế, chính sách của Quốc gia và của Địa phương Việc

nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của quốc gia nói chung và của Quận HàĐông nói riêng phụ thuộc rất lớn vào cơ chế, chính sách của Nhà nước và củađịa phương.Trước hết việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phụ thuộc vàochính sách đầu tư phát triển nhân lực của Nhà nước Đồng thời, nguồn nhânlực này sẽ được nâng cao chất lượng hơn nếu Nhà nước có cơ chế, chính sáchkhuyến khích phát triển hệ thống giáo đào tạo phù hợp phục vụ có hiệu quảcho quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Ngoài ra, thông qua cácchính sách vĩ mô, Nhà nước có khả năng điều tiết việc chuyển dịch lao động

có trình độ chuyên môn nghiệp ở các ngành, các vùng một cách phù hợptrong đó có Quận Hà Đông Thông qua hệ thống các cơ chế, chính sách của

Trang 33

Nhà nước như: chính sách xã hội hóa giáo dục; chính sách phát triển các cơ sởgiáo dục đào tạo của ngành chất lượng cao đạt chuẩn khu vực và quốc tế;chính sách đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục; chính sách phát triển độingũ cán bộ, công chức của ngành; chính sách tiền lương, nhà ở, thu nhập, bảohiểm xã hội…đây chính là điều kiện, môi trường pháp lý thúc đẩy sự pháttriển hoặc kìm hãm việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của đất nước nóichung và của Quận Hà Đông nói riêng.

Thứ tư, là thị trường lao động Việc nâng cao chất lượng nguồn nhân

lực của Quận Hà Đông đang diễn ra trong điều kiện kinh tế thị trường nên cònphụ thuộc rất lớn vào sự phát triển của thị trường lao động Thị trường laođộng phát triển, cung lao động sẽ được bảo đảm tốt hơn cả về số lượng vàchất lượng cho nền kinh tế nói chung và cho Hà Đông nói riêng; đồng thời hệthống thông tin thị trường lao động, dịch vụ tư vấn, trung tâm giới thiệu việccũng được phát triển, sẽ có khả năng, điều kiện đáp ứng tốt hơn về nguồnnhân lực của Quận và dễ dàng tìm kiếm được nguồn lao động có trình độ, kỹnăng đáp ứng được nhu phát triển kinh tế - xã hội của Quận đặt ra Đồng thờingười lao động có trình độ chuyên môn nghiệp vụ vững cũng dễ dàng tìmkiếm việc làm phù hợp với năng lực và sở trường của họ ở các lĩnh vực, cácngành trên địa bàn Quận Hà Đông…

* Các nhân tố bên trong

Có nhiều nhân tố bên trong tác động mạnh mẽ đến nâng cao chất lượngnguồn nhân lực của Quận Hà Đông đó là:

Thứ nhất là quy hoạch, kế hoạch nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của Quận Việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của Quận sẽ phụ thuộc

vào nhu cầu phát triển nguồn nhân lực của các địa phương, các cơ quan, củacác ngành trên địa bàn Quận Nhu cầu phát triển nguồn nhân lực của các cơquan, các ngành, các địa phương trên địa bàn Quận Hà Đông thể hiện ở quy

Trang 34

hoạch, kế hoạch phát triển nguồn nhân lực Trên cơ sở quy hoạch, kế hoạchphát triển nguồn nhân lực mà các cấp, các ngành có những biện pháp để nângcao chất lượng nguồn nhân lực một cách phù hợp và hiệu quả.

Thứ hai là cơ chế, chính sách tuyển chọn, sử dụng, đãi ngộ nguồn nhân lực của Quận Cơ chế, chính sách thu hút, tuyển chọn, sử dụng, đãi ngộ, bồi

dưỡng nguồn nhân lực có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượngnguồn nhân lực của Quận Trước hết, cơ chế, chính sách tuyển chọn hợp lý, phùhợp sẽ bảo đảm chất lượng tuyển chọn nguồn nhân lực vào làm việc ở các cơquan đơn vị, các ngành, các địa bàn của Quận Đồng thời, chính sách sử dụng,đãi ngộ hợp lý, như chính sách bảo hiểm, y tế, thu nhập, tiền lương, nhà ở, điềukiện lao động được bảo đảm v.v đáp ứng lợi ích, nguyện vọng của người laođộng sẽ có tác dụng to lớn trong việc thu hút, khuyến khích nguồn nhân lực cóchất lượng vào làm việc tại các cơ quan, đơn vị, các ngành trên địa bàn Quận

Thứ ba là nguồn lực bảo đảm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của Quận Hà Đông Nguồn lực bảo đảm để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

của Quận Hà Đông, trong đó đặc biệt là nguồn lực tài chính tác động, ảnhhưởng rất lớn đến thực hiện hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực củaQuận Để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực các cấp, các ngành, cácđơn vị của Quận Hà Đông cần phải tiến hành việc bồi dưỡng, đào tạolại đội ngũ lao động tại chỗ cũng như gửi đi đào tạo, bồi dưỡng ở các

cơ sở giáo dục đào tạo trong và ngoài Quận Điều đó đòi hỏi các cấp,các ngành, các cơ quan đơn vị của Quận Hà Đông cần phải có nguồnlực tài chính nhất định

Thứ tư là sự phụ thuộc vào chính đội ngũ nguồn nhân lực của các cấp, các ngành, các cơ quan đơn vị trên địa bàn Quận Hà Đông Môi

trường xã hội thuận lợi là những yếu tố quan trọng để phát triển nguồn nhânlực nói chung và của Quận Hà Đông nói riêng Tuy nhiên, nhân tố quyết địnhđến việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực lại là tính tích cực, chủ động

Trang 35

sáng tạo của người lao động trong đội ngũ hợp thành nguồn nhân lực củaQuận Hà Đông, với tư cách là chủ thể của hành động Một môi trường dùthuận lợi đến đâu đi chăng nữa nhưng mỗi người lao động không tích cực,chủ động sáng tạo thì khó thực hiện được công việc một cách có hiệu quả.Ngược lại, cho dù điều kiện có khó khăn đến đâu nhưng nếu mỗi người cótinh thần chủ động sáng tạo, tích cực khắc phục khó khăn thì sẽ biến khả năngthành hiện thực, tìm ra những giải pháp để khắc phục khó khăn, hoàn thànhthắng lợi các mục tiêu đề ra Tuy nhiên, tính tích cực, độc lập, tự chủ, sángtạo của mỗi người chỉ có được khi họ có trình độ trí tuệ, năng lực chuyên mônnghiệp vụ cao và bản lĩnh chính trị vững vàng Trước yêu cầu phát triển kinh

tế - xã hội và quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng của đất nước, đòihỏi mỗi thành viên trong đội ngũ nguồn nhân lực của Quận Hà Đông, dù ởcương vị nào cũng phải không ngừng nỗ lực vươn lên, nếu không sẽ bị tụthậu Những tri thức, kinh nghiệm vốn sống đã được tích luỹ cần phải đượcliên tục bổ sung, cập nhật và được kiểm nghiệm trong thực tiễn Mọi sự thoảmãn dừng lại đều dẫn tới sự lạc hậu, làm mai một những năng lực trí tuệ củamỗi cá nhân và điều đó sẽ dẫn đến không còn đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏicủa quá trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn Quận đặt ra

*

* *

Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nguồn nhân lực

là nhân tố trung tâm, có vai trò quyết định đối với sự tăng trưởng và phát triểnkinh tế Nguồn nhân lực vừa là nguồn lực to lớn, vừa là động lực tăng năngsuất lao động, nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ, củadoanh nghiệp và của toàn bộ nền kinh tế, lại vừa là yếu tố quyết định tăngtrưởng kinh tế nhanh và bền vững Nguồn nhân lực đóng vai trò quyết địnhđối với việc huy động và sử dụng các nguồn lực khác vào quá trình phát triểnkinh tế - xã hội của đất nước Nguồn nhân lực là một nguồn lực đặc biệt, bởi

nó không chỉ quyết định cho việc phát triển kinh tế mà còn liên quan đến vấn

Trang 36

đề con người - xã hội Vì thế, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực khôngnhững là mục tiêu phát triển kinh tế mà còn là mục tiêu xã hội vô cùng quantrọng của Quận Hà Đông.

Từ cách tiếp cận về nguồn nhân lực, vai trò nguồn nhân lực, nâng caochất lượng nguồn nhân lực nói chung tác giả đã đưa ra quan niệm nâng caochất lượng nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế - xã hội ở Quận Hà Đông,Thành phố Hà Nội Đồng thời đã chỉ rõ nội dung nâng cao chất lượng nguồnnhân lực trong phát triển kinh tế - xã hội ở Quận Hà Đông bao gồm: nâng caothể lực của nguồn nhân lực; nâng cao phẩm chất của nguồn nhân lực; nâng caonăng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ Trong quá trình nâng cao chấtlượng nguồn nhân lực của Quận hà Đông phải tính đến các nhân tố tác độngchi phối như: Điều kiện kinh tế - xã hội; Sự phát triển của hệ thống giáo dục

và đào tạo quốc gia; cơ chế, chính sách tuyển chọn, sử dụng, đãi ngộ nguồnnhân lực; Nguồn lực bảo đảm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; Sự phụthuộc vào chính đội ngũ nguồn nhân lực của cấp, các ngành, các cơquan đơn vị trên địa bàn Quận Hà Đông

Trang 37

Chương 2 THỰC TRẠNG NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI Ở QUẬN HÀ ĐÔNG

2.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội và quản lý của Nhà nước có liên quan ảnh hưởng đến nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở Quận Hà Đông

2.1.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội có liên quan ảnh hưởng đến nâng chất lượng nguồn nhân lực ở Quận Hà Đông

Hệ thống cơ sở hạ tầng của Quận Hà Đông tương đối hoàn chỉnh là điềukiện thuận lợi cho kinh tế phát triển, đồng thời là điều kiện vật chất, môi trườngtốt cho hoạt động sống và làm việc của người lao động Vấn đề sức khoẻ, điềukiện làm việc, điều kiện học tập của mọi người được đảm bảo và nâng lên.Theo đó, chất lượng nguồn nhân lực ở Hà Đông cũng được nâng lên

Mức sống của dân cư được nâng lên, đây là điều kiện, tiền đề rất quantrọng cho việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trên tất cả các mặt: thểchất, trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn và tác phong trong lao động.Chính sách thu hút đầu tư thông thóang cùng với hệ thống ngân hàng, tàichính hoạt động mạnh đã tạo điều kiện dễ dàng, thúc đẩy nhanh chóng sự rađời và phát triển của nhiều cơ sở sản suất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trênđịa bàn Quận Sự phát triển về kinh tế trên địa bàn Quận đã kéo theo sự thayđổi nhanh chóng về số lượng và chất lượng của nguồn nhân lực Số lượngnguồn nhân lực tăng lên, chất lượng nguồn nhân lực ngày càng được nâng lên

để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của Quận

Điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của Quận Hà Đông trong nhữngnăm gần đây đã làm cho nhu cầu lao động tăng lên nhanh chóng Nhất là thịtrường nhân lực qua đào tạo có trình độ chuyên môn được phát triển mạnh,các ngành có nhu cầu tuyển dụng nhiều là may mặc, cơ khí, kỹ thuật, côngnghệ thông tin, bán hàng

Hệ thống trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạynghề trên địa bàn Quận và các địa bàn lân cận là khá lớn và có chất lượng đã

Trang 38

góp phần quan trọng cho công tác giáo dục - đào tạo cả về văn hóa và chuyênmôn nghiệp vụ cho dân cư nói chung và nguồn nhân lực của Quận nói riêng.Càng thuận lợi hơn khi hệ thống các trường này nằm ngay trên địa bàn Quận vàcác địa bàn lân cận tạo điều kiện dễ dàng cho việc nâng cao chất lượng nguồnnhân lực của Hà Đông Đây là đặc điểm mà nhiều địa phương khác khó có được.

2.1.2 Một số tác động quản lý của Nhà nước có ảnh hưởng và liên quan đến nâng cao chất lượng nguồn lao động

* Phát triển và hoàn thiện hệ thống giáo dục, đào tạo nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

- Về giáo dục: Hoạt động quản lý giáo dục của Hà Đông trong những

năm gần đây đã góp phần quan trọng cho việc nâng cao chất lượng nguồnnhân lực của Quận được thể hiện ở các kết quả cụ thể sau:

Hà Đông có 17/17 phường đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học và phổcập giáo dục trung học Điều này cho thấy, Hà Đông là một địa phương rất chútrọng về giáo dục; trình độ học vấn của nguồn nhân lực khá cao so với các địaphương lân cận Quận Hà Đông đã thực hiện tốt công tác xã hội hóa giáo dụcnhư: Huy động đóng góp vốn của nhân dân cho giáo dục, thực hiện đa dạnghoá các loại hình, mô hình dạy và học ở các cấp, đến việc phổ cập giáo dụccác bậc học trong thời gian qua đã thu được nhiều kết quả đáng khích lệ

Kiến thức văn hóa là tiền đề cho con người tiếp tục học tập chuyên mônnghiệp vụ khi chuẩn bị tham gia vào thị trường lao động Để thực hiện tốtviệc này thì cần phải hướng nghiệp cho học sinh Việc định hướng nghềnghiệp cho học sinh sau bậc trung học ở Hà Đông được triển khai tương đốichặt chẽ và hiệu quả ở tất cả các trường trên địa bàn Quận Theo đánh giá của

Ủy ban nhân dân Quận Hà Đông trong “Chương trình phát triển giáo dục vàđào tạo, KHCN, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng nhiệm vụ củathời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá” cho thấy: Hệ thống giáo dục và đàotạo của Hà Đông đã từng bước phát triển Công tác xây dựng đội ngũ được

Trang 39

chú trọng với tỉ lệ giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn khá cao (đạt trên 90%).Công tác xây dựng trường chuẩn quốc gia đạt được những kết quả tốt Nguồnđầu tư từ ngân sách, viện trợ và từ các nguồn lực xã hội cho giáo dục tăng dầnhàng năm Công tác xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật trường học và đặc biệt

là việc ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý giáo dục và dạy học được chú trọng[45]

-Bên cạnh những thành tựu đạt được, hoạt động giáo dục của Quận cònbộc lộ những mặt hạn chế sau:

Chất lượng giáo dục tuy có nâng lên song chưa đáp ứng yêu cầu đàotạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đạihoá của Quận Công tác quản lý, điều hành, tổ chức hoạt động và năng lựcchuyên môn, nghiệp vụ của một bộ phận cán bộ quản lý và giáo viên chưađáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục Tình trạng dạy thêm - học thêm tràn lan,căn bệnh “chạy theo thành tích” vẫn chưa được khắc phục một cách triệt để

Từ thực tế trên làm cho trình độ học vấn của nguồn nhân lực của Hà Đông cónhiều ảnh hưởng như: chất lượng nhận thức của người lao động có nhữngkhiếm khuyết, tài năng con người không được khơi dậy đầy đủ, việc đánh giáchất lượng lao động thiếu tính chính xác, khả năng tiếp thu, trí lực của nguồnnhân lực bị hạn chế

- Về đào tạo: Trong thời gian qua, Hà Đông đã có nhiều chuyển biến rõ

rệt về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; là một trong những địa phươngđược đánh giá khá cao về chỉ tiêu đào tạo nguồn nhân lực và lao động đượcđược biểu hiện cụ thể qua các hoạt động sau:

Phát triển mạng lưới cơ sở dạy nghề: Các trường dạy nghề, trung tâm

dạy nghề, các trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp chuyên nghiệp, các doanhnghiệp có đăng ký hoạt động dạy nghề được gọi chung là cơ sở dạy nghề pháttriển nhanh về số lượng Theo thống kê trên địa bàn Hà Đông, năm 2014 có

67 cở sở dạy nghề hoạt động trong đó có 35 trường, trung tâm dạy nghề cônglập, 32 trường, trung tâm dạy nghề dân lập

Trang 40

Chính sách xã hội hoá hoạt động dạy nghề đã thúc đẩy sự phát triển của

cơ sở dạy nghề về số lượng, chất lượng và mở rộng về quy mô Năm 2008trên địa bàn Quận chỉ có 14 cơ sở ngoài công lập, năm 2012 có 23 cơ sở, đếnnăm 2014 có 32 cơ sở Trước đây chưa có doanh nghiệp tham gia đào tạonghề, đến nay có 24 doanh nghiệp tham gia mở cơ sở dạy nghề [45]

Các loại hình trường, trung tâm, doanh nghiệp dạy nghề phát triển đadạng, các thành phần kinh tế tham gia dạy nghề ngày càng mở rộng đó tạo ramôi trường cạnh tranh lành mạnh trong dạy nghề Sự phát triển các cơ sở dạynghề ngoài công lập góp phần giải quyết gánh nặng về ngân sách, mặt kháctạo động lực thúc đẩy các cơ sở dạy nghề công lập nhanh chóng đổi mới nộidung hoạt động, nâng cao chất lượng đào tạo, khẳng định thương hiệu dạynghề của mình

Tuyển sinh đào tạo nghề: Năm 2008, tuyển được 17.865 học sinh thamgia học nghề, đến năm 2014 tuyển được 39.432 học sinh học nghề (tăng 2,2lần) Đây là kết quả tích cực góp phần tạo ra đội ngũ thợ lành nghề ngày càngcao cho Quận Hà Đông

Mặc dù, số lượng cơ sở dạy nghề ngoài công lập tuy có tăng trong thờigian gần đây, song quy mô đào tạo không lớn, nên tỉ lệ học sinh ngoài cônglập thấp Số học sinh đóng học phí để học nghề mới đạt 85%, trong đó học tại

cơ sở dạy nghề ngoài công lập mới đạt 34% so với tổng số học sinh học nghềtrên địa bàn Quận [45]

Nguồn lực đầu tư cho lĩnh vực dạy nghề: Trong những năm qua, việc

đầu tư trang thiết bị cơ sở vật chất cho dạy nghề được huy động từ nhiềunguồn: ngân sách nhà nước, chương trình mục tiêu nâng cao năng lực cơ sởdạy nghề, học phí do học sinh học nghề đóng góp, vốn của các tổ chức, cánhân, vốn đầu tư nước ngoài, tài trợ của các tổ chức quốc tế… Tổng nguồnvốn đầu tư của các cơ sở dạy nghề trong 5 năm gần đây đạt 1.272 tỷ đồng,trong đó cơ sở dạy nghề ngoài công lập là 469 tỷ đồng, chiếm 37%; tổng giá

Ngày đăng: 06/06/2017, 10:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Trần Văn Ban (2006), Phát triển thị trường sức lao động và tác động của nó đến đảm bảo NNL cho Quân đội nhân dân Việt nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ Kinh tế , Học viện Chính trị quân sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển thị trường sức lao động và tác động của nó đến đảm bảo NNL cho Quân đội nhân dân Việt nam hiện nay
Tác giả: Trần Văn Ban
Năm: 2006
3. Bộ Lao động-Thương binh và xã hội (2006), Số liệu thống kê lao động- việc làm ở Việt Nam 2005, Nxb Lao động-Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số liệu thống kê lao động-việc làm ở Việt Nam 2005
Tác giả: Bộ Lao động-Thương binh và xã hội
Nhà XB: Nxb Lao động-Xã hội
Năm: 2006
4. Bộ khoa học và công nghệ - Trung tâm thông tin khoa học và công nghệ quốc gia (2005), Phát triển nhân lực khoa học và công nghệ ở các nước Asean, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nhân lực khoa học và công nghệ ở các nước Asean
Tác giả: Bộ khoa học và công nghệ - Trung tâm thông tin khoa học và công nghệ quốc gia
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2005
5. Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Thế Nghĩa, Đặng Hữu Toàn (2002), Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam- lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam- lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Thế Nghĩa, Đặng Hữu Toàn
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
6. Đỗ Minh Cương (2002), Một số vấn đề về phát triển nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay, Kỉ yếu Hội thảo: Từ chiến lược phát triển giáo dục đến chính sách phát triển nguồn nhân lực, Viện nghiên cứu phát triển giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về phát triển nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay
Tác giả: Đỗ Minh Cương
Năm: 2002
7. Đỗ Văn Dạo (2012), Phát triển nguồn nhân lực quân sự chất lượng cao đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa Quân đội nhân dân Việt Nam, Luận án tiến sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị - BQP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nguồn nhân lực quân sự chất lượng cao đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa Quân đội nhân dân Việt Nam
Tác giả: Đỗ Văn Dạo
Năm: 2012
8. Nguyễn Hữu Dũng (2003), Sử dụng hiệu quả nguồn lực con người ở Việt Nam, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng hiệu quả nguồn lực con người ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hữu Dũng
Nhà XB: Nxb Lao động xã hội
Năm: 2003
9. Phạm Việt Dũng (2012), “Kinh nghiệm của một số quốc gia trong phát triển, quản lý và sử dụng nguồn nhân lực”, Tạp chí Cộng sản, số tháng 9/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm của một số quốc gia trong phát triển, quản lý và sử dụng nguồn nhân lực”," Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Phạm Việt Dũng
Năm: 2012
10.Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Hội nghị Đại biểu toàn quốc khoá VIII, Nxb Chính trị qiốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị Đại biểu toàn quốc khoá VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị qiốc gia
Năm: 1996
11.Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ 2, Ban chấp hành TW (khoá VIII), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 2, Ban chấp hành TW (khoá VIII)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
12.Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
14. Phạm Quang Đạt (2002), Phát triển nguồn nhân lực và giải quyết việc làm trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nguồn nhân lực và giải quyết việc làm trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
Tác giả: Phạm Quang Đạt
Năm: 2002
15.Phạm Tiến Điện (2000)“Phát triển nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở thành phố Hải Phòng và tác động của nó đến tăng cường sức mạnh khu vực phòng thủ thành phố”, Luận văn thạc sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị quân sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phát triển nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở thành phố Hải Phòng và tác động của nó đến tăng cường sức mạnh khu vực phòng thủ thành phố”
16. Nguyễn Đình (2006), “Bàn luận về thị trường nhân lực”, Tạp chí Doanh nghiệp Thương mại, Số 3-4/2006, tr.47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn luận về thị trường nhân lực”, "Tạp chí Doanh nghiệp Thương mại
Tác giả: Nguyễn Đình
Năm: 2006
17.Phạm Minh Hạc (2001), Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2001
18.Trần Kim Hải (1998), Sử dụng nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta, Luận án tiến sĩ Kinh tế, Học viện An ninh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta
Tác giả: Trần Kim Hải
Năm: 1998
19.Trần Thị Bích Hạnh (2003), Sử dụng có hiệu quả nguồn lao động ở các vùng kinh tế trọng điểm miền Trung trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Luận án tiến sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng có hiệu quả nguồn lao động ở các vùng kinh tế trọng điểm miền Trung trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Tác giả: Trần Thị Bích Hạnh
Năm: 2003
20.Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2002), Giáo trình Kinh tế học phát triển, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế học phát triển
Tác giả: Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
21.Đặng Bá Lãm, Trần Khánh Đức (2002), Phát triển nhân lực công nghệ ưu tiên ở nước ta trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nhân lực công nghệ ưu tiên ở nước ta trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả: Đặng Bá Lãm, Trần Khánh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục Hà Nội
Năm: 2002

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w