1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN văn THẠC sĩ CHUYỂN DỊCH cơ cấu KINH tế NGÀNH ở HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ hải PHÒNG

106 574 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 686,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành luôn là một tất yếu khách quan trong điều kiện một nước nông nghiệp lạc hậu tiến hành công nghiệp hoá – hiện đại hoá như nước ta. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành tạo nên sự chuyển đổi căn bản nền kinh tế trên nhiều lĩnh vực. Vì vậy, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành là vấn đề có ý nghĩa chiến lược quan trọng, là chủ trương lớn của Đảng và nhà nước ta trong thời kỳ đổi mới. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI chỉ rõ: “Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, coi chất lượng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh là ưu tiên hàng đầu, chú trọng phát triển theo chiều sâu, phát triển kinh tế tri thức...Xây dựng cơ cấu kinh tế công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ hiện đại, hiệu quả”.

Trang 1

MỞ ĐẦU

MỤC LỤC

Trang3

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU

KINH TẾ NGÀNH Ở HUYỆN KIẾN THUỴ,

1.1 Những vấn đề chung về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành 121.2 Quan niệm, nội dung, sự cần thiết và các nhân tố ảnh

hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở huyện

Chương 2 THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ

NGÀNH Ở HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ

2.1 Đặc điểm, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ở huyện

Kiến Thụy ảnh hưởng đến quá trình chuyển dịch cơ cấu

2.2 Những thành tựu, hạn chế của quá trình chuyển dịch cơ

cấu kinh tế ngành ở huyện Kiến Thụy, thành phố Hải

2.3 Nguyên nhân và những vấn đề đặt ra 62

Chương 3 QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

ĐẨY MẠNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH Ở HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ

3.1 Một số quan điểm cơ bản về đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu

kinh tế ngành ở huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng thời

3.2 Một số giải pháp chủ yếu đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu

kinh tế ngành ở huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng

KẾT LUẬN 97

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

PHỤ LỤC 102

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành luôn là một tất yếu khách quan trong điều kiện một nước nông nghiệp lạc hậu tiến hành công nghiệp hoá – hiện đại hoá như nước ta Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành tạo nên sự chuyển đổi căn bản nền kinh tế trên nhiều lĩnh vực Vì vậy, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành

là vấn đề có ý nghĩa chiến lược quan trọng, là chủ trương lớn của Đảng và nhà nước ta trong thời kỳ đổi mới Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ

XI chỉ rõ: “Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, coi chất lượng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh là ưu tiên hàng đầu, chú trọng phát triển theo chiều sâu, phát triển kinh tế tri thức Xây dựng

cơ cấu kinh tế công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ hiện đại, hiệu quả”

Thực tế cho thấy, vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành đã được nhiều nhà nghiên cứu tiếp cận và phân tích dưới nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên, đây là một vấn đề có nội dung phức tạp xét cả về mặt lý luận và thực tiễn, trong đó có nhiều khía cạnh chưa được làm sáng tỏ Và nếu nhìn sâu hơn vào từng địa bàn, thì một trong những vấn đề cần phải nghiên cứu đó là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trong điều kiện cụ thể ở một địa phương Lâu nay việc nghiên cứu thực trạng cơ cấu ngành và tìm ra những giải pháp

để đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo hướng phù hợp trên quy mô quốc gia nói chung lẫn ở các cấp tỉnh, thành phố và huyện nói riêng luôn là điều cần thiết và bổ ích

Kiến Thụy là một huyện đồng bằng ven biển nằm ở phía Đông Nam Thành phố Hải Phòng, có những điều kiện thuận lợi về vị trí địa lý và nguồn lực để phát triển kinh tế, tuy nhiên nền kinh tế còn có những mặt yếu kém, thu nhập bình quân đầu người còn thấp, kết cấu hạ tầng chưa đồng bộ, cơ cấu kinh tế ngành đã có những bước chuyển dịch nhưng chưa thật sự đảm bảo theo hướng: hiện đại, hiệu quả và bền vững; chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế phát triển của địa phương

Trang 3

Như vậy, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành là nhiệm vụ quan trọng hiện nay của huyện Kiến Thụy Việc xác định và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành thế nào cho hợp lý để tạo điều kiện cho huyện khai thác hết tiềm năng, thế mạnh của mình, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đảm bảo được các mục tiêu trước mắt cũng như lâu dài đó là một việc rất cấp thiết không chỉ có

ý nghĩa lý luận khoa học mà còn là đòi hỏi bức xúc của thực tiễn cuộc sống

Với lý do đó, tác giả đã lựa chọn đề tài “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

ngành ở huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng” làm Luận văn tốt nghiệp

chương trình thạc sỹ chuyên ngành Kinh tế chính trị

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Xung quanh chủ đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nói riêng, đã có nhiều công trình khảo cứu ở nhiều góc độ khác nhau dưới các hình thức như: Đề tài khoa học các cấp, sách tham khảo và chuyên khảo, các đề tài luận văn, luận án, các bài báo được đăng tải trên các báo và tạp chí.v.v

* Các sách tham khảo và chuyên khảo

Đến nay, đã có nhiều cuốn sách viết về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành đã được xuất bản Tiêu biểu có các cuốn sau:

“Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI” do

TS Nguyễn Trần Quế Lâm làm chủ biên (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2004) đã đi sâu phân tích và đánh giá một cách tổng quát sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam trong những năm 1990 – 2002, chỉ ra những điểm mạnh, yếu, xu hướng chuyển dịch và các giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh hơn…Tác phẩm đã dựng lên một bức tranh tổng quát về chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Việt Nam trong những năm 1990 – 2002

Tác phẩm “Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam” do PGS.TS

Bùi Tất Thắng chủ biên (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2006) được biên soạn dựa trên kết quả nghiên cứu của đề tài khoa học cấp nhà nước KX 02 – 05:

Trang 4

“Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ” (thuộc Chương trình nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước KX – 02:

“Công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa: con đường

và bước đi”) Với cách phân tích cụ thể hơn, tập trung khảo cứu một chủ đề độc lập, toàn diện và tổng hợp về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, cuốn sách đã trình bày tổng quan một số vấn đề lý luận về chuyển dịch cơ cấu kinh

tế ngành trong thời kỳ công nghiệp hoá, những tiêu chí đánh giá sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, những kinh nghiệm và bài học rút ra từ chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong một số mô hình công nghiệp hoá và quá trình thay đổi nhận thức trong cách tiếp cận về công nghiệp hoá, thể hiện trong các văn kiện Đảng qua các thời kỳ Cuốn sách đã cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, một vấn đề cơ bản nhất trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung

Cuốn sách chuyên khảo “Phát triển kinh tế vùng trong quá trình Công nghiệp hoá, hiện đại hoá” do TS Nguyễn Xuân Thu và TS Nguyễn Văn Phúc

đồng chủ biên (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006) đã trình bày một cách tổng quan về vùng, phân vùng kinh tế Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá vùng dưới góc cạnh khác nhau, các tác giả đã rút ra những nhận định quan trọng về tính đa dạng và phân dị của các điều kiện và yếu tố phát triển vùng, mức độ

và khả năng khai thác nguồn lực của từng vùng lãnh thổ Từ đó xác định khả năng và sự nắm bắt, vận dụng khoa học công nghệ cũng như đường hướng bước đi theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá trên các kiểu và loại vùng Qua đánh giá thực trạng phát triển kinh tế - xã hội từng kiểu và loại vùng khác nhau, các tác giả đã rút ra những nhận định về việc khơi dậy các tiềm năng, thế mạnh của các vùng Đồng thời rút ra xu hướng phát triển của các vùng, đặc biệt về xu hướng biến đổi cơ cấu lãnh thổ, về chênh lệch, về sự bất bình đẳng giữa các vùng, đặc biệt về xu hướng biến đổi cơ cấu lãnh thổ, về chênh lệch vùng, về sự bất bình đẳng giữa các vùng về kết hợp cơ cấu ngành,

Trang 5

cơ cấu lãnh thổ trên các vùng Thành công chính của cuốn sách này là bước đầu phân tích và luận giải về sự phát triển kinh tế vùng trong cơ cấu kinh tế chung của cả nước Tuy nhiên, cuốn sách chỉ tập chung trình bày một cách khái quát về sự phát triển của các vùng kinh tế trên quy mô cả nước mà chưa

đi sâu vào nghiên cứu từng vùng kinh tế riêng biệt

Những công trình nói trên đã tập trung nghiên cứu từng loại hình kinh

tế riêng biệt, song chưa đi vào so sánh và phân tích sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở Việt Nam

Từ góc độ khoa học kinh tế, còn có nhiều công trình nghiên cứu, hội

thảo khoa học đã đi sâu bàn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế như: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở Hải Phòng” do tác giả

Đào Văn Hiệp làm chủ biên (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2011) đã trình bày một số vấn đề lý luận, thực tiễn về đầu tư nước ngoài; mối quan hệ giữa đầu tư nước ngoài với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở Việt Nam nói chung, Hải Phòng nói riêng và việc tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài

để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại

hoá ở Hải Phòng trong những năm tới Cuốn sách “Chuyển dịch cơ cấu kinh

tế ngành và phát triển các ngành trọng điểm, mũi nhọn ở Việt Nam” do tác

giả Đỗ Hoài Nam làm chủ biên (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1996) đã nêu lên một số vấn đề lý thuyết và kinh nghiệm thế giới về chuyển dịch cơ cấu ngành của nền kinh tế Đặc điểm phát triển kinh tế khu vực châu Á – Thái Bình Dương và tác động cơ cấu của kinh tế đến các nước đi sau trong khu

vực “Vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở Thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá” do các tác giả Trương Thị

Minh Sâm, Phương Ngọc Thạch và Lâm Quang Huyền làm đồng chủ biên (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000) đã trình bày một cách tổng quát về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở Thành phố Hồ Chí Minh Nêu lên các tiêu chuẩn xác định cơ cấu kinh tế ngành, lựa chọn các ngành trọng điểm và mũi

Trang 6

nhọn trong cơ cấu kinh tế ngành Đưa ra các giải pháp để chuyển dịch và tối

ưu hoá cơ cấu kinh tế ngành ở Thành phố Hồ Chí Minh Chuyển dịch cơ cấu

và xu hướng phát triển kinh tế của nông nghiệp Việt Nam theo hướng công

nghiệp hoá, hiện đại hoá từ thế kỷ XX đến thế kỷ XXI trong “Thời đại kinh tế tri thức” của Lê Quốc Sử, Nxb Thống kê, TP Hồ Chí Minh, 2001; Cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế (sách chuyên khảo), Phan Công Nghĩa (Nxb Đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội, 2007); Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng đồng bằng sông Hồng giai đoạn 1995 – 2000 (Do Bộ khoa học công

nghệ, chủ trì)… Những công trình này cung cấp một cái nhìn khái quát về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử trong thế kỷ

XX, đầu thế kỷ XXI, cũng như việc nghiên cứu thống kê về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Về các luận án, luận văn nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành

Nhiều luận án tiến sĩ kinh tế cũng đề cập đến vấn đề chuyển dịch cơ

cấu kinh tế như: Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trong công nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Luận án tiến sĩ của Trần Văn

Nhung (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2001) đã nêu những vấn đề chung về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng lãnh thổ Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp ở thành phố Hồ Chí Minh và các giải pháp cơ bản nhằm thúc đẩy mạnh việc chuyển dịch này theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá; Thị trường nông thôn với sự phát triển kinh tế hộ nông dân ở đồng bằng sông Cửu Long

Luận án tiến sĩ của Bùi Thị Minh Hồng (Học viện Chính trị quốc gia

Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2001); chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trong nền kinh tế thị trường ở thành phố Hải Phòng, đã phân tích thực trạng cơ cấu kinh

tế ngành và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trong nền kinh tế thị trường

Trang 7

giai đoạn 1990 - 2000 của Hải Phòng Phương hướng, điều kiện và biện pháp cần thiết để thực hiện chuyển dịch cơ cấu ngành ở thành phố Hải Phòng.

Luận án tiến sĩ của Trần Tuấn Anh (Trường Đại học Kinh tế thành phố

Hồ Chí Minh, 2007); Phương hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành tỉnh Trà Vinh đến năm 2015 đã xác định phương hướng chuyển dịch cơ cấu kinh

tế ngành của tỉnh đến năm 2015 Hệ thống hoá cơ sở lý luận về cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nội bộ các ngành ở tỉnh Trà Vinh đến năm 2015

Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành công nghiệp ở vùng lãnh thổ đồng bằng sông Hồng: Thực trạng và giải pháp, luận án tiến sĩ kinh tế của Phạm

Ngọc Dũng (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2002) đã nêu lên cơ sở lý luận và thực trạng chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, những nguyên nhân hạn chế đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nông nghiệp ở đồng bằng sông Hồng, đồng thời đưa ra định hướng cùng các giải pháp nhằm đẩy nhanh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nông nghiệp vùng đến năm 2010

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành của vùng duyên hải Nam Trung Bộ của Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, luận án

tiến sĩ kinh tế của Vũ Hùng Cường (Viện kinh tế Việt Nam, 2008) đã chỉ ra

cơ sở lý luận phân tích chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành của vùng duyên hải Nam Trung Bộ của Việt Nam giai đoạn 1996 – 2005 Định hướng và giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành của vùng duyên hải Nam Trung Bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Phương hướng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ thời kỳ đến năm 2020, luận án tiến sĩ của Đỗ

Mạnh Khởi (Viện chiến lược Phát triển, 2010) đã đi vào phân tích, đánh giá thực trạng về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành của vùng Trung du và miền

Trang 8

núi Bắc Bộ thời kỳ 1997 – 2008 Xác định quan điểm, phương hướng và giải pháp nhằm góp phần thúc đẩy quá trình này…

Ngoài ra, chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn có những luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ khoa học lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam

như: Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá lãnh đạo chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, luận án tiến sĩ của Nguyễn Văn Vinh (Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2010); Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá giai đoạn 1997 – 2003

của Đào Thị Vân (Trung tâm Đào tạo bồi dưỡng học viên lí luận chính trị, Đại học quốc gia Hà Nội, 2004)…Những luận án, luận văn này đã đề cập đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong một tỉnh, hoặc một vùng, cung cấp về ý tưởng

và cách tiếp cận nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn mỗi địa phương, gắn với mỗi hoàn cảnh và điều kiện lịch sử cụ thể, đặc biệt làm rõ sự lãnh đạo của Đảng bộ mỗi địa phương về chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Những công trình trên tuy không nghiên cứu trực tiếp về sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở huyện Kiến Thuỵ, thành phố Hải Phòng, song cũng đã khẳng định tính tất yếu của sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và hiệu quả của nó đối với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, cung cấp cho tác giả luận văn một cách nhìn tổng thể về sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên cả nước và những tri thức cần thiết, nhất là về mặt phương pháp, tạo điều kiện thuận lợi để đi sâu nghiên cứu đề tài này

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích nghiên cứu

Làm rõ cơ sở lý luận và thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trên địa bàn huyện Kiến Thụy, đề xuất những quan điểm cơ bản và giải pháp nhằm đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trên địa bàn huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng thời gian tới

Trang 9

* Nhiệm vụ nghiên cứu

Làm rõ một số vấn đề lý luận về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành.Đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở huyện Kiến Thụy thành phố Hải Phòng tập trung trong giai đoạn 2010 – 2014 Chỉ rõ những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của những thành tựu, hạn chế trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở huyện Kiến Thuy

Đề xuất một số quan điểm cơ bản, giải pháp chủ yếu để đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng giai đoạn 2015 – 2020

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành

* Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi về không gian: Được giới hạn trong huyện Kiến Thụy, thành

phố Hải Phòng

Phạm vi về thời gian: Đề tài lấy mốc thời gian tập trung từ 2010 đến

2014 để đánh giá thực trạng quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, trên

cơ sở đó đề xuất các quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở huyện Kiến Thụy giai đoạn 2015 - 2020

Phạm vi về nội dung: Được giới hạn trong việc nghiên cứu chuyển dịch

cơ cấu giữa 03 ngành: công nghiệp – nông nghiệp – dịch vụ và nội bộ từng ngành ở huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

* Phương pháp luận

Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, những nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành Các văn kiện của Đảng Cộng Sản Việt Nam về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành

Trang 10

Trong quá trình nghiên cứu tác giả còn sử dụng các lý luận có liên quan

để tiếp cận đối tượng, luận giải các nhiệm vụ của đề tài

* Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử; phương pháp nghiên cứu đặc thù của khoa học kinh tế chính trị là phương pháp trừu tượng hoá khoa học

Tổng kết thực tiễn kết hợp với nghiên cứu lý thuyết

Luận văn còn sử dụng các phương pháp phân tích và tổng hợp, thống

kê, so sánh, hệ thống hoá, phân tích định lượng và khái quát hóa, phương pháp chuyên gia

6 Ý nghĩa của đề tài

Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể là cơ sở khoa học cho việc xác định chủ trương, giải pháp của lãnh đạo, chính quyền và các cơ quan chức năng trên địa bàn huyện Kiến Thuỵ, thành phố Hải Phòng và các địa phương khác góp phần nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội Đồng thời, kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, học tập, giảng dạy bộ môn kinh tế chính trị liên quan tới vấn

đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế

7 Kết cấu của đề tài

Phần mở đầu, 3 chương (7 tiết), kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục

Trang 11

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH

Ở HUYỆN KIẾN THUỴ, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 1.1 Những vấn đề chung về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành

1.1.1 Cơ cấu kinh tế

“Cơ cấu” là một thuật ngữ được dùng để biểu thị cấu trúc bên trong, tỉ lệ các mối quan hệ hợp thành hệ thống và được biểu hiện như là một tập hợp mối liên hệ hữu cơ giữa các yếu tố khác nhau của một hệ thống nhất định

Cơ cấu kinh tế là một khái niệm rộng, phức tạp Việc xác định đúng khái niệm cơ cấu kinh tế sẽ góp phần làm rõ nội dung cơ cấu kinh tế và phương hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Do cách tiếp cận, mục đích, đối tượng nghiên cứu khác nhau nên cũng

có những cách hiểu khác nhau về cơ cấu kinh tế, nhưng xét cho cùng thì cơ cấu kinh tế là một phạm trù kinh tế thể hiện các mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành nền kinh tế quốc dân, đó là các mối quan hệ tỷ lệ giữa các ngành, các vùng, các thành phần kinh tế Mối quan hệ này phản ánh cả về mặt số lượng và chất lượng của các yếu tố hợp thành Có thể thấy rằng nền kinh tế quốc dân là một tổng thể phức tạp gồm nhiều ngành, nhiều nghề, nhiều lĩnh vực, nhiều thành phần Vì thế, cơ cấu kinh tế có phạm vi rộng hẹp khác nhau,

có cơ cấu kinh tế cả nước, có cơ cấu kinh tế ở từng vùng, từng địa phương, có

cơ cấu ngành và cơ cấu trong từng ngành

Cơ cấu kinh tế bao giờ cũng gắn với những điều kiện không gian và thời gian cụ thể Cơ cấu kinh tế không cố định trong một thời gian dài mà có sự vận động chuyển dịch cần thiết, phù hợp với những biến động của điều kiện

tự nhiên - kinh tế - xã hội Sự duy trì quá lâu hoặc sự thay đổi quá nhanh chóng cơ cấu kinh tế mà không phù hợp với những biến đổi của tự nhiên - kinh tế - xã hội đều có thể ảnh hưởng đến hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh Bởi vậy, việc duy trì hay thay đổi cơ cấu kinh tế không phải là mục

Trang 12

tiêu mà chỉ là phương tiện của việc tăng trưởng và phát triển kinh tế Cơ cấu kinh tế trong quá trình vận động chuyển dịch nhanh hay chậm không hoàn toàn phụ thuộc vào ý muốn chủ quan mà còn phụ thuộc vào các điều kiện cần thiết cho sự chuyển dịch.

Trong cơ cấu kinh tế quốc dân, cơ cấu ngành là quan trọng nhất Cơ cấu ngành được hình thành trên cơ sở phân công lao động theo ngành, là kết quả của sự phân công lao động xã hội Cơ cấu kinh tế ngành là tổ hợp các ngành hợp thành, là các nhân tố tạo thành ngành kinh tế, là quan hệ hữu cơ giữa các nhân tố tạo thành ngành kinh tế và trong nội bộ từng ngành đó Về mặt số lượng, cơ cấu ngành biểu hiện quan hệ tỷ lệ giá trị, tỷ trọng ngành đó với ngành khác trong nền kinh tế Quan hệ tỷ lệ về mặt giá trị của một ngành nào

đó trong cơ cấu ngành luôn luôn có sự thay đổi Về mặt chất lượng, cơ cấu ngành biểu hiện sự tác động qua lại bên trong giữa các ngành với nhau

Thông thường, các ngành trong cơ cấu kinh tế được phân chia thành 3 nhóm: nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ Trong từng nhóm ngành lại có

sự phân chia thành những phân ngành nhỏ hơn

Cơ cấu kinh tế

Theo C.Mac: Cơ cấu kinh tế của xã hội là toàn bộ những quan hệ sản xuất phù hợp với một quá trình phát triển nhất định của lực lượng sản xuất vật chất Sở dĩ như vậy, vì ở mỗi trình độ khác nhau của lực lượng sản xuất

sẽ quyết định những quan hệ sản xuất khác nhau, mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành cũng khác nhau, tạo thành cơ cấu kinh tế khác nhau, đặc biệt là cơ cấu ngành, bởi gắn với mỗi ngành sản xuất khác nhau sẽ có tư liệu sản xuất khác nhau Các bộ phận này cấu thành lực lượng sản xuất vật chất của một xã hội nhất định C.Mác còn nhấn mạnh: cơ cấu kinh tế là một

sự phân chia về chất và một tỷ lệ về số lượng của những quá trình sản xuất

xã hội Vì vậy, khi phân tích cơ cấu kinh tế phải chú ý đến cả hai khía cạnh

là chất lượng và số lượng

Trang 13

Theo từ điển Bách khoa Việt Nam: Cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành, các lĩnh vực, bộ phận kinh tế với vị trí, tỷ trọng tương ứng của chúng

và mối quan hệ hữu cơ tương đối ổn định giữa chúng hợp thành trong một khoảng thời gian nhất định

Cơ cấu kinh tế mang tính khách quan phản ánh trình độ phát triển của

xã hội và các điều kiện phát triển của một quốc gia Sự tác động từ chiến lược phát triển kinh tế, hay sự quản lý của nhà nước có tác dụng thúc đẩy hoặc kìm hãm sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định chứ không thể thay đổi hoàn toàn nó Mặt khác, cơ cấu kinh tế lại mang tính lịch

sử xã hội nhất định Cơ cấu kinh tế được hình thành khi quan hệ giữa các ngành, các lĩnh vực, bộ phận kinh tế được thiết lập một cách cân đối và sự phân công lao động diễn ra một cách hợp lý

Cơ cấu kinh tế được hình thành một cách hợp lý khi chủ thể quản lý Nhà nước có khả năng nắm bắt các quy luật khách quan, đánh giá đúng nguồn lực trong nước và ngoài nước để tác động trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình hình thành cơ cấu kinh tế Nhưng sự tác động này không mang tính áp đặt ý chí mà là sự tác động mang tính định hướng

Cơ cấu kinh tế được xem xét dưới các góc độ khác nhau như trong đó:

Cơ cấu kinh tế ngành, cơ cấu vùng kinh tế và cơ cấu thành phần kinh tế Đây

là 3 bộ phận cơ bản và có quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó cơ cấu kinh tế ngành là dạng cơ cấu kinh tế quan trọng nhất của mọi quốc gia

Từ những phân tích trên có thể hiểu, cơ cấu kinh tế là một tổng thể hợp thành bởi nhiều yếu tố kinh tế của nền kinh tế quốc dân, giữa chúng có mối liên hệ hữu cơ, những tương tác qua lại cả về số lượng và chất lượng, trong những không gian và điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể, chúng vận động hướng vào những mục tiêu nhất định Theo quan điểm này cơ cấu kinh tế là phạm trù kinh tế, là nền tảng của cơ cấu xã hội và chế độ xã hội.

Trang 14

Như vậy, từ cách hiểu trên chúng ta có thể khái quát cơ cấu ngành kinh

tế bao gồm một số nội dung cơ bản sau: Tổng thể các nhóm ngành, các yếu tố cấu thành hệ thống kinh tế của một quốc gia

Số lượng, tỷ trọng của các nhóm ngành và của các yếu tố cấu thành hệ thống kinh tế trong tổng thể nền kinh tế đất nước

Các mối quan hệ tương tác lẫn nhau giữa các nhóm ngành, các yếu tố hướng vào các mục tiêu đã xác định

Sự vận động và phát triển của nền kinh tế theo thời gian luôn bao hàm trong đó sự thay đổi bản thân các bộ phận cũng như sự thay đổi của các kiểu

cơ cấu Cho nên dù xem xét dưới bất kỳ góc độ nào cũng có thể thấy rằng, cơ cấu của nền kinh tế quốc dân là tổng thể những mối quan hệ về chất lượng, số lượng giữa các bộ phận cấu thành đó trong một thời gian và trong những điều kiện kinh tế – xã hội nhất định

1.1.2 Cơ cấu kinh tế ngành

Cơ cấu kinh tế ngành là tương quan giữa các ngành trong tổng thể kinh

tế, biểu hiện mối quan hệ hữu cơ và sự tác động qua lại cả về số lượng và chất lượng giữa các ngành với nhau Các mối quan hệ này được hình thành trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định, luôn vận động và hướng vào những mục tiêu cụ thể Như vậy, cần phải hiểu cơ cấu kinh tế ngành theo những nội dung sau:

Một là, số lượng các kinh tế ngành được hình thành Số lượng các kinh

tế ngành không cố định Từ đầu thế kỷ 19, nhà kinh tế học Colin Clark căn cứ vào tính chất chuyên môn hoá của sản xuất đã chia thành 3 nhóm ngành:

Ngành thứ nhất sản xuất những sản phẩm dựa trên sự khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên (gồm nông nghiệp và khai thác khoáng sản) Ngành thứ hai có chức năng gia công chế biến sản phẩm có nguồn gốc từ ngành thứ nhất,

đó là ngành công nghiệp chế biến Hai ngành này là những ngành sản xuất ra

của cải vật chất hữu hình, còn ngành thứ ba là ngành sản xuất các sản phẩm

Trang 15

vô hình Cách phân loại của Clark có ảnh hưởng rộng rãi và được áp dụng phổ biến ở nhiều nước Tuy nhiên, bên cạnh đó còn nhiều cách phân loại ngành khác nhau Để thống nhất cách phân loại ngành, Liên hợp quốc (UN) sau này đã phân loại các kinh tế ngành thành 3 khu vực: khu vực 1 là những ngành sản xuất sản phẩm sơ chế, có đầu vào từ tự nhiên: nông nghiệp, thuỷ sản, lâm nghiệp và công nghiệp khai thác; Khu vực 2 là các ngành công nghiệp chế biến và xây dựng; Khu vực 3 là các ngành dịch vụ: sản xuất và phân phối điện nước, thương mại, ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, giáo dục, y tế

Hiện nay, ở Việt Nam, cơ cấu kinh tế ngành bao gồm 3 ngành lớn (ngành cấp I): nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ Các ngành cấp I lại được phân thành các ngành cấp II, như ngành dịch vụ được chia thành các phân ngành: dịch vụ bảo hiểm, ngân hàng, tài chính, y tế, giáo dục, vận tải Ngành nông nghiệp có: trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, ngư nghiệp Ngành công nghiệp được phân thành: công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghiệp khai thác Các ngành cấp II được phân thành các ngành cấp III, như hoa màu, cây

ăn trái là phân ngành cấp III của ngành trồng trọt

Hai là, mối quan hệ tương tác giữa các ngành với nhau Mối quan hệ

này bao gồm cả về mặt số lượng và mặt chất lượng Mặt số lượng thể hiện ở

tỷ trọng (tính theo GDP, lao động, vốn ) của mỗi ngành trong tổng thể nền kinh tế quốc dân; còn mặt chất lượng phản ánh vị trí, tầm quan trọng của từng ngành và tính chất của sự tác động qua lại giữa các ngành với nhau Sự tác động qua lại giữa các ngành có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp Tác động trực tiếp bao gồm tác động cùng chiều và ngược chiều, còn mối quan hệ gián tiếp được thể hiện theo các cấp 1,2,3 Nói chung mối quan hệ của các ngành cả số lượng và chất lượng đều thường xuyên biến đổi và ngày càng trở lên phức tạp

Trang 16

hơn theo sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội trong nước và quốc tế.

1.1.3 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành luôn là một tất yếu khách quan, một nhiệm vụ hết sức quan trọng, lâu dài đối với mỗi quốc gia, địa phương trong phát triển kinh tế Nếu như mỗi quốc gia, địa phương xác định đúng các phương hướng và giải pháp thì sẽ đảm bảo hiệu quả kinh tế cao trong quá trình phát triển Ngược lại, nếu kết quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành không theo đúng nhiệm vụ, yêu cầu của quá trình phát triển kinh tế - xã hội thì cái giá phải trả cho sự phát triển sau này sẽ là khôn lường

Ngày nay, trước sự thay đổi của nhu cầu thị trường và sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và đặc biệt là sự tác động của việc mở cửa hội nhập kinh tế thế giới thì các quốc gia trên thế giới đều đã và đang đặt ra mục tiêu, yêu cầu cũng như xác định các kế hoạch, chiến lược chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành của mình Ở Việt Nam cũng như ở các nước đang phát triển khác trên thế giới, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành là xác định, xây dựng một cơ cấu kinh tế ngành phù hợp với quá trình phát triển kinh tế và quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước Yêu cầu là phải định hướng được một

cơ cấu kinh tế ngành, xác định các ngành chủ chốt, mũi nhọn cho phù hợp với mỗi giai đoạn của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở mỗi quốc gia, địa phương thành công hay thất bại phụ thuộc rất lớn vào chủ trương, chính sách chuyển dịch và việc tổ chức thực hiện các mục tiêu đã xác định Nhà nước có vai trò quyết định trong việc đề ra các chủ trương, chính sách kinh tế vĩ mô, còn các doanh nghiệp thì có vai trò quyết định việc thực hiện các phương hướng nhiệm vụ chuyển dịch đó

Đối với Đảng Cộng Sản Việt Nam việc tư duy, nhận thức về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành cũng đã có sự bổ sung, thay đổi và hoàn thiện qua

Trang 17

các kỳ Đại hội: Tại Đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ III (1960), vấn

đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành đã được đề cập tới với quan điểm chỉ đạo “thực hiện công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa bằng cách ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời ra sức phát triển công nghiệp và công nghiệp nhẹ”[6,tr.79]

Tại Đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ VI (1986), với cách đặt vấn đề “đổi mới tư duy kinh tế” đã đánh dấu một bước chuyển căn bản trong

tư duy nhận thức của Đảng về cơ cấu kinh tế ngành thời kỳ công nghiệp hoá

Từ việc nhìn nhận, đánh giá một cách nghiêm túc những tồn tại, hạn chế trong nhận thức và quản lý, tổ chức chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu kinh tế ngành nói riêng, Đại hội Đảng lần thứ VI đã xác định giải pháp cơ cấu

là phải thật sự tập trung sức người, sức của vào việc thực hiện 3 chương trình mục tiêu về lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu

Trên cơ sở các thành tựu của 15 năm đổi mới, phát triển kinh tế và về

cơ bản đã hoàn thành các mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn (1991 - 2000) Tại Đại hội Đảng lần thứ IX (2001), đối với vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế, lần đầu tiên vấn đề chuyển dịch cơ cấu lao động được đưa vào như một mục tiêu quan trọng của vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế Chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, tư tưởng xuyên xuốt của Đại hội IX là “rút ngắn thời gian, vừa có những bước nhảy tuần tự, vừa có bước nhảy vọt”, “cơ cấu đầu tư dựa trên cơ sở phát huy các tiềm năng, lợi thế của đất nước, tăng cường sức cạnh tranh và phải gắn với nhu cầu thị trường trong và ngoài nước”, phải coi trọng thị trường trong nước và chủ động mở rộng thị trường nước ngoài, tăng cường việc xuất khẩu hàng hoá Và cũng tại

kỳ Đại hội này, có 2 phân ngành được xác định là những ngành mũi nhọn của nền kinh tế gồm: công nghiệp điện tử - thông tin và ngành du lịch Đây là điểm mới trong quan điểm về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế so với các kỳ Đại hội trước đó

Trang 18

Với việc mở cửa, hội nhập kinh tế thế giới và trước xu thế toàn cầu hoá Kinh tế Việt Nam phải chịu những tác động mạnh mẽ Trước tình hình này, Đại hội Đảng lần thứ X (2006) đã xác định: “Đổi mới mô hình tăng trưởng và

cơ cấu lại nền kinh tế, nâng cao chất, hiệu quả, phát triển kinh tế nhanh, bền vững” [12,tr.46] Đối với cơ cấu kinh tế ngành, Đảng ta có chủ trương: “Cơ cấu lại, xây dựng nền công nghiệp theo hướng phát triển mạnh những ngành

có tính nền tảng, có lợi thế so sánh và có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển nhanh, bền vững, nâng cao tính độc lập, tự chủ kinh tế, từng bước có khả năng tham gia sâu, có hiệu quả vào mạng sản xuất và phân phối toàn cầu”[12,tr.67]

Cùng với thời gian, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã có những thay đổi căn bản về tư duy, nhận thức đối với vấn đề cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nói riêng Cùng với việc thay đổi tư duy, nhận thức Đảng cũng đã xác định được nền kinh tế đất nước hiện đang nằm ở vị trí nào trên nấc thang phát triển kinh tế cũng như trong mối quan hệ quốc tế Và với kinh nghiệm của thế giới, cũng như của Việt Nam một đất nước mà nền kinh tế đã đạt được những thành tựu hết sức quan trọng trong thời kỳ đổi mới, chúng ta càng hiểu rõ hơn những nhân tố không thể bỏ qua nếu muốn chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ kinh tế nông nghiệp lạc hậu sang kinh tế công nghiệp hiện đại trong thời điểm hiện nay

Từ những luận giải trên, có thể đưa ra quan niệm về chuyển dịch cơ cấu

kinh tế ngành như sau: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành là sự thay đổi về số

lượng, vị trí, tỷ trọng và mối quan hệ tương tác giữa các ngành trong nền kinh tế cho phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội

Cơ cấu kinh tế ngành là một phạm trù động, nó luôn luôn thay đổi theo từng giai đoạn, từng thời kỳ phát triển bởi các yếu tố hợp thành cơ cấu không

ổn định Qúa trình thay đổi cơ cấu ngành từ trạng thái này sang trạng thái

Trang 19

khác ngày càng hoàn thiện hơn, phù hợp với môi trường và điều kiện phát triển gọi là chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành.

Qúa trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành là một quá trình diễn ra liên tục và luôn gắn liền với sự phát triển kinh tế Quan hệ giữa chuyển dịch

cơ cấu ngành kinh tế và sự phát triển của nền kinh tế luôn gắn kết với nhau và

có một ý nghĩa hết sức quan trọng vì gắn với nó là cả một động thái về phân

bổ nguồn lực có hạn của mỗi quốc gia trong những thời điểm nhất định

Quá trình sản xuất vật chất luôn chứng kiến sự thay đổi mạnh mẽ của lực lượng sản xuất Khi lực lượng sản xuất phát triển, phân công lao động xã hội ngày càng sâu sắc, tính chuyên môn hoá trong lao động ngày càng nâng cao, sẽ làm xuất hiện hoặc biến mất một số ngành kinh tế Nói cách khác, sự phát triển của phân công lao động xã hội và lực lượng sản xuất tất yếu dẫn đến sự thay đổi cơ cấu ngành nghề Như vậy, cơ cấu kinh tế ngành luôn thay đổi theo từng thời kỳ phát triển bởi các yếu tố hợp thành cơ cấu kinh tế luôn vận động, phát triển Sự thay đổi đó bao gồm cả về số lượng và về quan hệ tỷ

lệ giữa các ngành

Trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành mỗi quốc gia, mỗi ngành hay mỗi vùng, mỗi địa phương có thể đưa vào cơ cấu kinh tế những ngành mới (sản phẩm hoặc dịch vụ mới) hay có thể loại ra khỏi cơ cấu kinh tế những ngành (sản phẩm hoặc dịch vụ) không còn phù hợp hoặc có thể chuyển dịch theo hướng tăng hay giảm tỷ trọng của một ngành, một sản phẩm nào đó

Đó là quá trình chuyển từ cơ cấu kinh tế lạc hậu, bất hợp lý sang cơ cấu kinh

tế hợp lý; hoàn thiện và bổ sung cơ cấu kinh tế cũ nhằm biến đổi cơ cấu cũ thành cơ cấu kinh tế mới hiện đại và phù hợp hơn Sự thay đổi như vậy không đơn giản chỉ là sự thay đổi số lượng các ngành và tỷ trọng mỗi ngành mà còn bao gồm sự thay đổi vị trí, tính chất của mối quan hệ trong nội bộ cơ cấu ngành Việc chuyển dịch cơ cấu ngành phải dựa trên cơ sở một cơ cấu hiện có

và nội dung của sự chuyển dịch là cải tạo cơ cấu cũ, lạc hậu hoặc chưa phù

Trang 20

hợp để xây dựng cơ cấu mới tiên tiến, hoàn thiện và bổ sung cơ cấu cũ nhằm biến đổi cơ cấu cũ thành cơ cấu mới hiện đại và phù hợp hơn.

Với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, khu vực ngày càng mở rộng và phát triển thì việc lựa chọn và chuyển dịch phù hợp, hợp lý sẽ thể hiện được các lợi thế và khả năng cạnh tranh của một quốc gia trong nền kinh tế toàn cầu, là nền tảng quan trọng cho sự chủ động tham gia và thực hiện hội nhập thành công

Nội dung của chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành không chỉ là sự thay đổi về tỷ trọng, số lượng, vị trí và mối quan hệ giữa các ngành mà còn là sự thay đổi về chất và lượng trong nội bộ các ngành Đồng thời, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành cũng là quá trình chuyển dịch mạnh mẽ về lực lượng lao động giữa các ngành và trong nội bộ từng ngành kinh tế

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân tạo điều kiện giải quyết sự bất bình đẳng giữa các ngành, các vùng trong nền kinh tế Đồng thời, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành cũng là quá trình sắp xếp lại tỷ trọng các ngành, các loại hình doanh nghiệp theo hướng tăng cường các ngành, các loại hình doanh nghiệp có trình độ khoa học công nghệ cao hơn, tiên tiến hơn, từ đó tạo ra hiệu quả sản xuất kinh doanh cao hơn, thúc đẩy tốc

độ tăng trưởng

Qúa trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành sẽ góp phần đô thị hoá nông thôn, miền núi, sẽ tạo ra sự phát triển bình đẳng giữa các vùng, đưa miền núi tiến kịp miền xuôi, đồng thời qua đó thúc đẩy phát triển của toàn nền kinh tế

Tóm lại, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành phải tạo ra được một cơ cấu kinh tế hiện đại, hợp lý giữa các ngành của nền kinh tế Để có được một cơ cấu kinh tế như thế, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành phải đảm bảo

các yêu cầu sau: thứ nhất: quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành phải

Trang 21

đảm bảo phù hợp với mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nói chung cũng như tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, từng địa

phương nói riêng; thứ hai: chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành phải đảm bảo

việc khai thác, sử dụng một cách có hiệu quả các nguồn lực của đất nước và phải phù hợp với sự phát triển, tiến bộ của khoa học kỹ thuật, mở cửa hội

nhập kinh tế quốc tế; thứ ba: quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nhất

thiết phải gắn liền với quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động, phát triển nguồn nhân lực và phân công lao động một cách hợp lý

1.2 Quan niệm, nội dung, sự cần thiết và các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng

1.2.1 Quan niệm

Là một bộ phận quan trọng nhất trong cơ cấu nền kinh tế quốc dân Là những ngành kinh tế được hình thành và số ngành kinh tế có mối quan hệ biểu hiện bằng tỷ trọng của ngành so với tổng thể nền kinh tế Cơ cấu kinh tế được hình thành trên cơ sở phân công lao động xã hội và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, hình thành nên các ngành chuyên môn hoá tổng hợp ( Công nghiệp - Nông nghiệp - Dịch vụ)

Chuyển dịch cơ cấu ngành không chỉ là sự thay đổi về số lượng các ngành, tỷ trọng của mỗi ngành mà còn bao gồm sự thay đổi vị trí, tính chất mối quan hệ trong nội bộ cơ cấu ngành Việc chuyển dịch cơ cấu ngành phải dựa trên cơ sở của một cơ cấu hiện có và nội dung của sự chuyển dịch là cải tạo cơ cấu cái cũ, lạc hậu hoặc chưa phù hợp để xây dựng cơ cấu tiên tiến, hoàn thiện nhằm biến cơ cấu cũ thành cơ cấu mới hiện đại và phù hợp hơn Qúa trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành là một quá trình diễn ra liên tục

và gắn liền với sự phát triển kinh tế

Từ những phân tích trên có thể quan niệm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng là sự vận động không ngừng, biến đổi về cấu trúc, tỷ trọng, tốc độ giữa các ngành kinh tế, cụ thể :

Trang 22

Công nghiệp - Nông nghiệp - Dịch vụ, sao cho đạt được cơ cấu ngành kinh tế hợp lý hiện đại hơn so với trước, từ đó tạo đà cho sự phát triển kinh tế - chính trị - xã hội ở các thời kì tiếp theo.

Từ quan niệm trên cho thấy, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng là công việc thường xuyên, là trách nhiệm của Đảng bộ, chính quyền, các cơ quan chức năng, các doanh nghiệp và mọi người dân trong huyện Đây là quá trình hoạch định và tổ chức thực hiện các chủ trương, cơ chế chính sách thông qua các biện pháp, hình thức phù hợp nhằm tác động theo hướng tích cực vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành trên địa bàn huyện Sự chuyển dịch đó phải được tiến hành một cách toàn diện, đồng bộ trên các lĩnh vực từ lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất,

cơ cấu kinh tế đến quy hoạch, bố trí, xắp xếp lại những ngành, những lĩnh vực sao cho hợp lý đảm bảo được lợi ích cho các ngành

Chủ thể của sự chuyển dịch, là Đảng bộ, các cấp chính quyền, các cơ

quan ban ngành chức năng, các doanh nghiệp và các tầng lớp nhân dân trên địa bàn huyện Các chủ thể này phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy các cấp, sự quản lý của các cấp chính quyền, sự chỉ đạo của các cơ quan chức năng theo một đường hướng xác định

Mục đích của sự chuyển dịch, là chuyển từ cơ cấu kinh tế cũ, lạc hậu sang

cơ cấu kinh tế mới, hợp lý và hiện đại hơn, tạo động lực mạnh mẽ cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội và nó sẽ đưa đến sự biến đổi cả về vị trí, tỷ trọng và mối quan hệ tương hỗ giữa các ngành kinh tế Nói cách khác, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nhằm tạo ra đầy đủ những điều kiện tiền đề cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tạo đà cho sự phát triển lực lượng sản xuất

Phương thức thực hiện, thông qua các chủ trương, đường lối, các kế

hoạch, quy hoạch, chương trình, dự án của Huyện uỷ, uỷ ban nhân dân huyện…nhằm phát huy có hiệu quả trong sử dụng các nguồn lực trong phát triển kinh tế theo mục tiêu đã xác định

Trang 23

Nội dung phát triển, phải đảm bảo toàn diện cả lực lượng sản xuất,

quan hệ sản xuất, cơ cấu kinh tế, cho phép phát huy hết mọi tiềm năng thế mạnh của huyện, tạo đà phát triển mạnh mẽ

1.2.2 Nội dung của chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng

Thời gian qua, kinh tế huyện Kiến Thụy tăng trưởng liên tục với tốc độ khá Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng tích cực, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp, thương mại, dịch vụ

Một là, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành của huyện thay đổi theo hướng tăng tỷ trọng của ngành công nghiệp, dịch vụ, giảm tỷ trọng của ngành nông nghiệp.

Nằm trong xu thế chung của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành của huyện đang có sự chuyển dịch theo hướng tích cực, đúng hướng phản ánh đúng những quan điểm, nghị quyết của Huyện uỷ, kế hoạch của Uỷ ban nhân dân huyện Kiến Thuỵ về đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng của ngành công nghiệp - dịch vụ, giảm tỷ trọng của ngành nông nghiệp

Cùng với quá trình phát triển kinh tế, nhiều ngành mới sẽ ra đời, nhiều khu, cụm công nghiệp và các khu đô thị, thị tứ sẽ hình thành trong huyện Vì vậy, cơ cấu kinh tế ngành sẽ có xu hướng chuyển dịch từ nền nông nghiệp chủ yếu sang phát triển công nghiệp và dịch vụ Trong đó, nông nghiệp giảm dần về giá trị tương đối nhưng vẫn tăng lên về giá trị tuyệt đối Công nghiệp

và dịch vụ tăng cả tương đối và tuyệt đối Nội bộ các ngành cũng có sự chuyển dịch về cơ cấu, quy mô, trình độ công nghệ với chất lượng sản phẩm

và hiệu quả kinh tế ngày càng cao Sự biến đổi cơ cấu kinh tế ngành dẫn đến chuyển dịch cơ cấu lao động và dân cư, lao động giản đơn có xu hướng giảm dần cùng với quá trình tăng lên của lao động chuyên môn kỹ thuật

Trang 24

Thời gian qua, kinh tế huyện Kiến Thụy tăng trưởng liên tục với tốc độ khá Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng tích cực, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp, thương mại, dịch vụ Điều này không chỉ phản ánh bức tranh về sự phát triển kinh tế nói chung của huyện mà còn phản ánh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trên địa bàn huyện đã và đang diễn ra đúng hướng, phù hợp với đường lối, chủ trương, biện pháp mà nghị quyết Đại hội lần thứ XXIII của huyện đã xác định là: sớm đưa Kiến Thụy trở thành huyện phát triển năng động của thành phố có cơ cấu kinh tế công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ hợp lý

Trước hết về nông nghiệp: những năm qua, trên địa bàn huyện có xu hướng là giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp, tăng tỷ trọng ngành thủy sản Trong nông nghiệp (theo nghĩa hẹp), tỷ trọng của ngành trồng trọt giảm, tỷ trọng của ngành chăn nuôi tăng

Ngành công nghiệp trên địa bàn huyện đang có xu hướng chuyển đổi

cơ cấu sản xuất và đa dạng hóa sản phẩm để phù hợp hơn với yêu cầu thị trường và tăng hiệu quả đầu tư Ngành công nghiệp chế biến có tỷ trọng tăng, công nghiệp khai thác có tỷ trọng giảm Trong từng ngành công nghiệp, cơ cấu sản phẩm cũng chuyển đổi theo hướng tăng tỷ trọng của sản phẩm cao cấp, có chất lượng và có khả năng cạnh tranh về giá cả, giảm sản phẩm có chất lượng thấp và trung bình không phù hợp với yêu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu

Và trên địa bàn huyện đã có những bước thay đổi đáng kể, nhất là trong lĩnh vực có liên quan đến kết cấu hạ tầng kinh tế và phát triển đô thị; nhiều loại hình dịch vụ mới phát triển phù hợp với chủ trương của Huyện ủy - uỷ ban nhân dân huyện trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành như: chuyển giao công nghệ, tư vấn đầu tư

Trang 25

Như vậy, tỷ trọng giữa các khu vực đã có sự thay đổi đáng kể, khu vực nông nghiệp từ chỗ chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế của huyện so với các ngành các công nghiệp, dịch vụ thì hiện tại công nghiệp, dịch vụ từ chỗ chiếm tỷ trọng ít dần chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế, điều này cũng phản ánh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã và đang diễn ra mạnh

mẽ, những thành tựu của khoa học công nghệ được áp dụng vào những ngành công nghiệp quan trọng, thúc đẩy tốc độ tăng trưởng GDP ở những ngành đó

Hai là, trong cơ cấu GDP tỷ trọng ngành nông nghiệp ngày càng giảm

so với ngành công nghiệp và dịch vụ.

Sự giảm tỷ trọng của ngành nông nghiệp trong cơ cấu GDP là xu hướng tất yếu trong giai đoạn hiện nay, đối với nước ta đang trong quá trình đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước thì sự giảm tỷ trọng này càng diễn ra mạnh hơn bao giờ hết Nằm trong xu hướng đó, cơ cấu kinh

tế của huyện cũng đang có sự chuyển dịch tương đối mạnh mẽ theo xu hướng giảm tỷ trọng của ngành nông nghiệp và tăng tỷ trọng của ngành công nghiệp

và dịch vụ, cùng với đó là những làng nghề truyền thống, tiểu thủ công nghiệp cũng tăng lên nhiều so với trước Sự giảm tỷ trọng này cũng là một điều dễ hiểu bởi trước ảnh hưởng của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại,

sự phát triển của kinh tế tri thức nhiều khu công nghiệp, cụm công nghiệp ra đời và mở rộng thị trường phát triển làm cho diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp Mặt khác, do sản phẩm nông nghiệp làm ra chưa đảm bảo về mặt chất lượng do trong quá trình chăm sóc thiếu kỹ thuật và do thị trường xuất khẩu

có nhu cầu chưa cao, nên đã làm giảm diện tích đất nông nghiệp, đồng nghĩa với đó là lao động trong ngành công nghiệp, dịch vụ và tiểu thủ công nghiệp lại tăng lên làm cho bức tranh chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra khá rõ

Mục tiêu phấn đấu của huyện đến năm 2020 là: tỷ trọng GDP của nông nghiệp 16 - 17%; công nghiệp 40 - 41%; dịch vụ 42 - 43% Khi đó thu nhập

Trang 26

quốc dân tính theo đầu người là 800$/năm 2020 GDP tăng bình quân hàng năm bằng 7,2% Mục tiêu phát triển của Việt Nam là đến năm 2020 về cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, có thu nhập trung bình Đời sống người lao động nâng cao gấp 10 lần so với năm 2000 GDP đầu người là 5000 - 6000$/năm; tích luỹ 30%, 70% cho tiêu dùng; cơ cấu ngành kinh tế ngày càng hiện đại, hợp lý: nông nghiệp: 10%; công nghiệp: 41%; dịch vụ: 49% Đối với huyện Kiến Thụy, thời gian qua, kinh tế Kiến Thụy tăng trưởng liên tục với tốc độ khá Cơ cấu kinh tế ngành có sự chuyển dịch theo hướng tích cực, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp, thương mại, dịch vụ Trong sản xuất nông nghiệp, bước đầu hình thành 29 vùng sản xuất lúa tập trung với tổng diện tích hơn 2.000 ha, xây dựng 6 cánh đồng mẫu lớn với tổng diện tích 166,5 ha

Việc đầu tư hạ tầng giao thông nội đồng, hệ thống thủy lợi và áp dụng

cơ giới hóa vào sản xuất góp phần khắc phục tình trạng thiếu lao động, giảm chi phí, tăng năng suất từ 10 - 15%, tạo thương hiệu một số mặt hàng nông sản chủ lực như lúa nếp Tân Trào, tôm rảo Kiến Quốc, rau, củ Tú Sơn…

Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp của huyện duy trì tăng trưởng bình quân 11 - 12%/năm, chủ yếu là may mặc, giày dép, cơ khí, đồ gỗ… tạo việc làm, thu nhập ổn định cho một bộ phận lao động Thương mại, dịch vụ có bước phát triển tích cực trong vận tải hàng hóa, dịch vụ ăn uống Hệ thống chợ nông thôn được đầu tư nâng cấp, thúc đẩy giao thương, tiêu thụ nông sản Hàng năm, có hơn 50 nghìn lượt khách du lịch đến huyện Đặc biệt, hơn 3 năm qua, chương trình xây dựng nông thôn mới phát huy hiệu quả, góp phần thay đổi diện mạo làng quê Đến hết năm 2014, huyện đạt gần 13 tiêu chí Rõ nét nhất là kết cấu hạ tầng bước đầu được đầu tư đồng bộ, vệ sinh môi trường được quan tâm, coi trọng

Ba là, cơ cấu ngành chuyển dịch tương đối mạnh mẽ trong nội bộ từng ngành kinh tế.

Trang 27

Là một huyện có thế mạnh về nuôi trồng thủy hải sản, trong thời gian qua nhờ việc tận dụng những lợi thế về vị trí địa lý, cùng với kinh nghiệm trong nuôi trồng và đánh bắt nên sản lượng đạt khoảng 45 nghìn tấn/năm, đời sống của nhân dân trong huyện cũng đã được cải thiện và nâng cao Đặc biệt, trong những năm gần đây tỷ trọng của ngành trồng trọt trong cơ cấu giá trị sản xuất giảm và tỷ trọng của ngành chăn nuôi tăng dù rằng dịch bệnh gia cầm, gia súc bùng phát và kéo dài Ngay trong ngành trồng trọt, xu hướng chung là giảm tỷ trọng cây lương thực và tăng tỷ trọng của cây công nghiệp

và các nhóm cây khác nhờ việc đa dạng hoá các loại cây trồng cũng như hướng vào các loại có giá trị kinh tế cao Sự chuyển dịch cơ cấu trong ngành nông nghiệp đã tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu lao động xã hội nông thôn, mà biểu hiện rõ nhất là thúc đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu hộ nông thôn theo hướng ngày càng tăng thêm các hộ làm công nghiệp, thương mại và dịch vụ, trong khi số hộ làm nông nghiệp thuần túy giảm dần

Đối với công nghiệp, trên địa bàn huyện cơ cấu ngành và cơ cấu sản phẩm đang có sự thay đổi để phù hợp hơn với yêu cầu của thị trường Ngành công nghiệp chế biến tăng tỷ trọng, trong khi công nghiệp khai thác có chiều hướng giảm Cụ thể, tỷ trọng ngành khai khoáng giảm từ 11,2% năm 2000 xuống còn 7,6% năm 2013, ngành công nghiệp chế biến tăng từ 83,2% năm

2000 lên 88,1% năm 2013 Trong từng nhóm ngành công nghiệp, cơ cấu sản phẩm cũng có sự thay đổi, một số ngành có hàm lượng kỹ thuật cao, tăng dần

tỷ trọng, điển hình như: công nghiệp điện tử - tin học, dược liệu Tỷ trọng ngành công nghiệp dựa vào tài nguyên đã có xu hướng giảm từ 42,7% năm

2010 xuống 38,5% năm 2014, ngành công nghiệp sử dụng công nghệ thấp giảm từ 41,2% năm 2010 xuống 35,2% năm 2014, ngành công nghệ trung bình và cao tăng lên khoảng 26,3%

Tỷ trọng của các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng lớn, dịch vụ trình độ cao, chất lượng cao tiếp tục được phát triển, như: tài chính - ngân hàng, thông tin

Trang 28

truyền thông, viễn thông, bảo hiểm… ngày càng có vị thế quan trọng, góp phần không nhỏ vào sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành của huyện Kiến Thụy

1.2.3 Sự cần thiết đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nghành

Thực tiễn lịch sử đã chứng minh rằng, để thủ tiêu nghèo nàn, lạc hậu, khai thác tối ưu các nguồn lực và các lợi thế, đảm bảo nhịp độ tăng trưởng nhanh và ổn định, giải quyết cơ bản các vấn đề kinh tế xã hội bức bách thì mỗi quốc gia, mỗi khu vực, mỗi địa phương phải xác định được một cơ cấu kinh tế cũng như cơ cấu kinh tế ngành hợp lý và cần phải đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Do yêu cầu tất yếu của sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá.

Phát triển lực lượng sản xuất - cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội - trên cơ sở thực hiện cơ khí hoá nền sản xuất xã hội và áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật công nghiệp hiện đại

Cải tiến lao động thủ công, lạc hậu thành lao động sử dụng máy móc, tức là phải cơ khí hoá nền kinh tế quốc dân Đó là bước chuyển đổi căn bản từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp Đồng thời phải hiện đại hoá các ngành để nhằm nâng cao năng suất lao động cũng như chất lượng sản phẩm, hàng hoá Đi liền với cơ khí hoá là điện khí hoá, tự động hoá sản xuất từng bước và trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân Sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá đòi hỏi phải xây dựng và phát triển mạnh mẽ các ngành công nghiệp (vì đây là ngành chế tạo ra tư liệu sản xuất), là "đòn neo" để cải tạo, phát triển kinh tế quốc dân, phát triển kinh tế khu vực nông - lâm - nghiệp Sử dụng kỹ thuật công nghệ cao sẽ làm tăng năng suất lao động xã hội, chất lượng, đời sống xã hội nâng cao Đồng thời sản phẩm tốt dẫn đến cạnh tranh hàng hoá, nền kinh tế thị trường phát triển Do đó ngành dịch vụ phải được quan tâm, chú trọng đặc biệt để rút ngắn khoảng cách tụt hậu xa về kinh tế giữa nước ta với các nước tiên tiến Trên cơ sở đó, nâng cao sức cạnh

Trang 29

tranh của hàng hoá các doanh nghiệp, cả nền kinh tế để từ đó tham gia hội nhập kinh tế quốc tế ở thế chủ động

Do yêu cầu của việc phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Qúa trình hình thành và phát triển các ngành kinh tế (công nghiệp –nông nghiệp – dịch vụ) đặc biệt là những ngành có hàm lượng khoa học cao,

sự xuất hiện các vùng sản xuất chuyên canh tập trung… không chỉ là biểu hiện của sự phát triển của lực lượng sản xuất, phát triển cơ sở vật chất - kỹ thuật trong tiến trình mà còn làm cơ cấu kinh tế thay đổi hợp lý Nghĩa là: trong nền kinh tế thị trường nhà nước ta hiện nay, đòi hỏi các ngành kinh tế trọng yếu công nghiệp – nông nghiệp – dịch vụ cần phải có phương hướng chuyển dịch hợp lý và hiện đại thông qua việc áp dụng khoa học kỹ thuật công nghệ tiên tiến Sự phát triển mạnh mẽ ngành công nghiệp sẽ tạo ra tư liệu sản xuất cho ngành nông nghiệp để ngành nông nghiệp ngày càng sản xuất được nhiều sản phẩm đạt chất lượng tốt mà lực lượng sản xuất tập trung trong ngành này càng ngày giảm hơn Mạng lưới dịch vụ với tư cách một ngành kinh tế phát triển có thể phục vụ tốt hơn cho sự phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp và nông nghiệp Đồng bộ các ngành kinh tế then chốt

có xu hướng phát triển mạnh mẽ về chất và phân phối một cách hợp lý về ượng sẽ tạo điều kiện để các thành phần kinh tế phát triển, các vùng kinh tế cũng phát triển… do vậy nền kinh tế quốc dân tăng trưởng vững mạnh, chính trị - xã hội ổn định lâu dài, dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng văn minh

l-Do yêu cầu tất yếu của việc nâng cao sức cạnh tranh chủ động hội nhập kinh

tế khu vực - quốc tế: Mở cửa nền kinh tế là nhu cầu cấp bách đối với nền kinh

tế nước ta Như vậy kinh tế trong nước mới được phát triển nhanh, thu nhập, đời sống của nhân dân mới được nâng cao Mở rộng quan hệ kinh tế giữa n-ước ta với các nước khác trở thành một tất yếu kinh tế, tạo khả năng để nước

ta tranh thủ vốn, kỹ thuật, công nghệ, kinh nghiệm tổ chức quản lý… nâng

Trang 30

cao tỷ trọng kinh tế ngành công nghiệp mũi nhọn Muốn xây dựng nền kinh tế

mở đòi hỏi tất yếu phải điều chỉnh cơ cấu ngành kinh tế để vừa hội nhập khu vực vừa hội nhập toàn cầu

Do yêu cầu mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế

Trong thế giới hiện đại, việc mở cửa hội nhập kinh tế thế giới là một xu thế tất yếu của tất cả các nước trên thế giới

Với sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ, trong quá trình toàn cầu hoá đã và đang tạo ra các lĩnh vực, những ngành kinh tế mới, tiến bộ

có công nghệ tiên tiến thân thiện với môi trường Qúa trình mở cửa, hội nhập với thế giới vừa đem đến những cơ hội, vận hội mới đồng thời cùng với đó là những khó khăn, thách thức không nhỏ, đòi hỏi mỗi chúng ta phải có những nhận thức, lựa chọn sao cho phù hợp để không bị lạc hậu, phải biết tận dụng các lợi thế của nước đi sau để phát triển, hội nhập mà không bị biến thành nơi chuyển giao những công nghệ lạc hậu, hiệu quả của các dây chuyền không cao và ảnh hưởng tới môi trường; tránh bị lệ thuộc vào việc phải nhập khẩu các công nghệ của các nước Sau 30 năm đổi mới, Việt Nam từ một đất nước

có nền kinh tế kém phát triển, công nghệ lạc hậu chúng ta đã đạt được những thành tựu hết sức quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội Nhưng so với các nước tiên tiến trên thế giới và trong khu vực chúng ta vẫn còn bị tụt hậu một khoảng cách khá xa, chúng ta cần phải phấn đấu nhiều hơn nữa để thu hẹp khoảng cách đó Để làm được điều này, thì việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế đặc biệt là cơ cấu kinh tế ngành sao cho phù hợp với điều kiện, tình hình kinh tế trong nước và khu vực là một giải pháp hết sức quan trọng và nhất thiết phải thực hiện

Khi chúng ta chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành một cách đúng đắn chúng ta có thể khai thác, sử dụng những tiềm năng, lợi thế của đất nước như: tiềm năng về con người trong độ tuổi lao động chiếm tỷ lệ lớn trong cơ cấu

Trang 31

dân số hiện nay của Việt Nam, về nguồn nhân lực có trình độ, về tài nguyên thiên nhiên…

Là một nước vừa trải qua các cuộc chiến tranh tàn khốc để giành độc lập tự do, nền kinh tế bị tàn phá nặng nề và tụt hậu khá xa so với các nước trên thế giới Muốn phát triển đuổi kịp các nước khác một cách nhanh chóng, Việt Nam cần phải có một chiến lược đúng đắn trong việc phát triển kinh tế,

đó là phải có một cơ cấu kinh tế hơp lý, một cơ cấu kinh tế ngành đủ mạnh để sẵn sàng tham gia cạnh tranh với các nước khác trên thị thường thế giới

1.2.4 Những nhân tố tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành

Trong quá trình phát triển kinh tế của Việt Nam cũng như của huyện Kiến Thụy; Cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu kinh tế ngành nói riêng luôn biến đổi, chuyển dịch dưới tác động của nhiều nhân tố Trong những nhân tố tác động có những nhân tố tích cực thúc đẩy phát triển song cũng có những nhân tố hạn chế, kìm hãm sự chuyển dịch và phát triển Các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành của huyện Kiến Thuỵ có thể chia ra thành các nhóm sau:

Nhóm các nhân tố địa lý, tự nhiên.

Đây là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở huyện Kiến Thụy trong thời gian qua, trong một trường hợp nào đó những yếu tố về thời tiết, khí hậu còn ảnh hưởng rất lớn đến việc phát triển kinh tế nông nghiệp và như vậy, cũng ảnh hưởng đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành của huyện, làm cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành diễn

ra chậm hơn, khó đạt được mục đích đề ra Như C Mác viết: “Bất cứ nền sản xuất xã hội nào cũng là việc con người chiếm hữu lấy những đối tượng của tự nhiên trong phạm vi của một hình thái xã hội nhất định”[4, tr47] Vì vậy quá trình chiếm hữu đó luôn luôn chịu ảnh hưởng bởi yếu tố tự nhiên Những nhân tố về địa lý, tự nhiên vừa cho phép Kiến Thụy có điều kiện để phát triển

Trang 32

những ngành thế mạnh của huyện như nuôi trồng đánh bắt thủy hải sản; chăn nuôi vừa đặt ra cho Kiến Thụy những khó khăn, bất cập trong bảo tồn, duy trì, phát triển những làng nghề truyền thống, phát triển những nhà máy, xí nghiệp

do thiếu quỹ đất, nguồn nhân lực chất lượng cao, vốn Chính vì vậy, trong thời gian qua việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở huyện Kiến Thụy đã có những khởi sắc nhất định, một cơ cấu kinh tế ngành hợp lý theo hướng tăng tỷ trọng của ngành công nghiệp và dịch vụ đã dần dần xuất hiện và tỷ trọng của ngành nông nghiệp cũng dần giảm xuống, đây là bước đi chung cho việc phát triển cơ cấu kinh tế ngành không những ở Kiến Thụy mà còn với nhiều địa phương khác

Nhóm nhân tố bên trong

Một là, nhân tố thị trường và nhu cầu tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ của

xã hội.

Trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở huyện Kiến Thụy hiện nay, thì ngoài những yếu tố về vị trị địa lý, nguồn tài nguyên thiên nhiên thì thị trường được xem như là yếu tố quyết định sự phát triển của nền kinh tế nói chung cũng như ảnh hưởng đến sự hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh

tế ngành nói riêng, thị trường cho phép các ngành có thể phát triển hay không phát triển hoặc phát triển đến mức nào Trước bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay, thị trường tạo ra sức hút cho người tiêu dùng, thúc đẩy nhanh các ngành, các lĩnh vực phát triển

Như vậy, thị trường và nhu cầu tiêu dùng xã hội là người đặt hàng cho tất cả các ngành, lĩnh vực kinh tế, thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở huyện Kiến Thụy trong thời gian qua Nếu như xã hội không có nhu cầu thì không thể có bất kỳ một quá trình sản xuất nào diễn ra

cả Cũng như vậy không có thị trường thì không có kinh tế hàng hoá Nó không chỉ quy định về số lượng mà cả chất lượng các sản phẩm hàng hoá,

Trang 33

dịch vụ nên nó có tác động trực tiếp đến quy mô, trình độ phát triển của các ngành, các lĩnh vực ở địa phương.

Hai là, nhân tố các nguồn lực.

Suy cho cùng, con người là yếu tố quyết định sự thành bại của mọi công việc Một trong những đặc điểm cơ bản hiện nay là chất lượng nguồn nhân lực đang làm việc trong các ngành nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ ở huyện Kiến Thụy còn hạn chế Đây là nhân tố gây khó khăn cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nói riêng cũng như cho tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nói chung Tình trạng số lượng nhân lực dư thừa, trong khi đó đại bộ phận lao động ở khu vực nông thôn chưa được qua đào tạo Lao động chưa được qua đào tạo dẫn đến năng xuất lao động thấp, cản trở việc tiếp thu các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm

Do đó, trong chiến lược quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn chính quyền huyện Kiến Thuỵ luôn phải tính đến yếu tố chất lượng nhân lực để có cơ chế, chính sách cũng như kế hoạch bồi dưỡng, đào tạo nâng cao chất lượng, trình độ cho người lao động ở khu vực nông thôn Lao động trong công nghiệp và dịch vụ thì chưa qua đào tạo không có chuyên môn kỹ thuật, việc áp dụng những thành tựu của khoa học - kỹ thuật vào nông nghiệp, công nghiệp còn lúng túng, bỡ ngỡ hoặc có áp dụng nhưng hiệu quả không cao, cho nên ảnh hưởng đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành của huyện

Ba là, nhân tố về cơ chế chính sách.

Cơ chế chính sách là những nhân tố tác động trực tiếp đến các ngành, các lĩnh vực ở huyện, trong thời gian qua Ủy ban nhân dân huyện và các cơ quan, chức năng ban ngành đã ban hành nhiều văn bản, chỉ thị, hướng dẫn đối với từng ngành, từng lĩnh vực để bảo đảm cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành được diễn ra nhanh chóng và đạt được mục tiêu đề ra đưa Kiến Thụy trở thành huyện phát triển năng động của thành phố

Trang 34

Đối với cơ chế quản lý của nhà nước: Cơ chế về quản lý nhà nước có

ảnh hưởng mạnh mẽ đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu kinh tế nông thôn nói riêng Một cơ chế quản lý khoa học, phù hợp với quy luật khách quan và tình hình thực tiễn huyện Kiến Thuỵ thì nó sẽ thúc đẩy nền kinh tế huyện phát triển, tạo điều kiện cho quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế diễn ra nhanh và hiệu quả Ngược lại nõ sẽ kìm hãm, làm chậm lại quá trình phát triển và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của huyện

Định hướng chiến lược, mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của huyện trong từng giai đoạn: Mặc dù cơ cấu kinh tế khách quan và tính lịch sử xã hội, nhưng nó chịu sự tác động, chi phối của nhà nước Nhà nước tác động gián tiếp thông qua định hướng chiến lược, đặt ra các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội và khuyến khích mọi thành phần kinh tế phát triển nhằm đạt mục tiêu đề

ra Nhà nước tuy không trực tiếp sắp đặt các ngành nghề, không quy định cụ thể về cơ cấu kinh tế song thông qua chiến lược phát triển, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, nhà nước điều tiết vĩ mô, phát triển các ngành, các lĩnh vực kinh tế phát triển theo định hướng chung, bảo đảm tính cân đối và đồng bộ của nền kinh tế

Vốn đầu tư: đây là yếu tố quan trọng hàng đầu trong quá trình sản xuất,

quyết định sự tăng trưởng kinh tế Đặc biệt đối với một huyện như Kiến Thuỵ hiện nay thì vốn đầu tư cho phát triển kinh tế trên địa bàn vẫn chủ yếu là nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước Nhà nước sử dụng ngân sách để đầu tư phát triển sản xuất sẽ tạo ra được sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nhất là cơ cấu ngành công nghiệp một cách nhanh chóng Vốn đầu tư là chìa khoá cho mọi sự phát triển của quốc gia nói chung và mọi địa phương nói riêng trong đó có huyện Kiến Thuỵ Không có vốn đầu tư để hiện đại hoá trang thiết bị, đổi mới công nghệ thì không có tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, tăng hiệu quả kinh tế thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành

Trang 35

Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất: lực lượng sản xuất bao gồm

tư liệu lao động và con người có khả năng sử dụng tư liệu lao động để tác động vào các đối tượng lao động, tạo ra sản phẩm hàng hoá, dịch vụ đáp ứng nhu cầu xã hội Lực lượng sản xuất phát triển sẽ làm thay đổi quy mô sản xuất, công nghệ, trang thiết bị…làm hình thành và phát triển các ngành nghề mới, chuyển lao động từ giản đơn thành phức tạp, từ ngành nghề này sang ngành nghề khác…làm phá vỡ những cơ cấu cũ, thiết lập một cơ cấu kinh tế mới phù hợp hơn trên địa bàn huyện Kiến Thuỵ

Nhóm các nhân tố bên ngoài

Một là, xu thế toàn cầu hoá kinh tế và quốc tế hoá lực lượng sản xuất.

Xu thế này tạo ra sự đan xen vào nhau, khai thác thế mạnh của nhau, thúc đẩy hợp tác với nhau một cách toàn diện cả trong sản xuất, trao đổi hàng hoá, dịch vụ và chuyển giao khoa học công nghệ Tính phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế tăng lên, các mối quan hệ hợp tác kinh tế giữa các nước và các khu vực ngày càng trở lên sâu rộng và mật thiết Qúa trình phân công lao động trở lên sâu sắc và chuyên môn hoá hơn, làm cơ sở cho quá trình quốc tế hoá lực lượng sản xuất (hay công nghiệp hoá toàn cầu) Nằm trong xu thế đó, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở huyện Kiến Thụy thời gian qua đã có những bước chuyển mình nhất định trong từng ngành, từng lĩnh vực đặc biệt là trong lĩnh vực công nghiệp đã có sự chuyển giao công nghệ lẫn nhau nhờ vậy, sản phẩm từ công nghiệp đã đáp ứng được nhu cầu của thị trường

Hai là, xu hướng chính trị - xã hội của khu vực và thế giới

Nhờ có đường lối chính trị đúng đắn và tình hình trật tự an ninh trên địa bàn huyện tương đối ổn định, nên việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trên địa bàn huyện được diễn ra theo đúng kế hoạch đã đề ra Xét đến cùng, chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế Sự biến động về chính trị - xã hội của một nước, một khu vực hoặc thế giới sẽ tác động mạnh mẽ đến hoạt động ngoại thương, đầu tư, chuyển giao công nghệ…buộc các nước phải điều chỉnh

Trang 36

chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phù hợp, đảm bảo nền kinh tế ổn định và phát triển

Ba là, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ.

Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và ứng dụng những thành tựu của khoa học công nghệ là yếu tố rất quan trọng Đặc biệt, trong điều kiện hội nhập quốc tế như hiện nay việc chuyển giao công nghệ, hợp tác, liên doanh, liên kết giữa các ngành, các lĩnh vực để bảo đảm cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trên địa bàn huyện diễn ra theo đúng chủ trương, đường lối

là rất quan trọng Do vậy, quan điểm tư duy sản xuất ngày nay là sản xuất và phát triển theo hướng bền vững và hiệu quả Muốn đạt được điều đó, sự phát triển khoa học - công nghệ phải có nhiều nội dung, công trình khoa học hướng đến phục vụ cho việc phát triển kinh tế công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ Phải có cơ chế, chính sách để các sản phẩm khoa học ngày càng được

áp dụng nhiều trong lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ và được mọi doanh nghiệp, người dân ủng hộ

Như vậy, các nhân tố bên ngoài có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, là nhân tố tác động đến sự hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành Tuy nhiên, chính các nhân tố bên trong mới giữ vai trò then chốt và quyết định đối với quá trình chuyển dịch trên

*

* *

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng hiện nay có vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng bởi sự chuyển dịch này một mặt sẽ làm cho cơ cấu kinh tế của huyện hợp lý hơn, mặt khác thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước diễn ra nhanh hơn Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng

là sự vận động không ngừng, biến đổi về cấu trúc, tỷ trọng, tốc độ giữa các ngành kinh tế, cụ thể : Công nghiệp - Nông nghiệp - Dịch vụ, sao cho đạt

Trang 37

được cơ cấu ngành kinh tế hợp lý hiện đại hơn so với trước, từ đó tạo đà cho

sự phát triển kinh tế - chính trị - xã hội - ở các thời kì tiếp theo

Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng là một tất yếu khách quan do yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá, do yêu cầu của việc phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Vì vậy, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng về thực chất là sự thay đổi tỷ trọng trong cơ cấu kinh tế công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ của huyện

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng chịu ảnh hưởng bởi những nhóm các nhân tố địa lý, tự nhiên, nhóm các nhân tố bên trong, nhóm nhân tố bên ngoài đó là: chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành phụ thuộc và chịu ảnh hưởng lớn từ xu thế chính trị - xã hội trong khu vực và thế giới, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; quan điểm chiến lược, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, cơ chế quản lý; đặc điểm văn hoá –

xã hội…

Trang 38

Chương 2 THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH Ở

HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG THỜI GIAN QUA 2.1 Đặc điểm, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ở huyện Kiến Thụy ảnh hưởng đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành

2.1.1 Về vị trí địa lý

Kiến Thụy là một huyện đồng bằng ven biển nằm ở phía nam của thành phố Hải Phòng thuộc vùng châu thổ sông Hồng, sau khi được điều chỉnh địa giới hành chính theo Nghị định 145/2007/NĐ-CP của chính phủ để thành lập

02 quận Dương Kinh và Đồ Sơn Huyện Kiến Thụy hiện nay còn 17 xã và 01 thị trấn với tổng diện tích đất tự nhiên là 10.753ha Phía Bắc và Tây Bắc giáp quận Dương Kinh và quận Kiến An, phía Tây giáp huyện An Lão, phía Nam

và Tây Nam giáp huyện Tiên Lãng, phía Đông và Đông Nam giáp quận Đồ Sơn và Vịnh Bắc Bộ

Huyện Kiến Thụy là địa bàn chịu ảnh hưởng trực tiếp của vùng kinh tế trọng điểm: Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh Mặt khác Kiến Thụy là huyện ven đô có lợi thế lớn về phát triển một số ngành nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ và là thị trường trao đổi, tiêu thụ hàng hoá nông sản thực phẩm, vật liệu xây dựng, lao động…Đây là những lợi thế về mặt vị trí địa lý kinh tế của huyện Kiến Thụy

Tuy nhiên vị trí của Kiến Thụy cũng có những bất lợi trong phát triển kinh tế xã hội: là nơi đầu sóng ngọn gió, luôn hứng chịu sự tàn phá của bão

lũ, một phần đất đai của huyện thường xuyên chịu nhiễm mặn trực tiếp của nước biển

2.1.2 Về các nguồn tài nguyên

Tài nguyên đất: hiện nay diện tích đất tự nhiên của huyện có 10.751,9

ha, chủ yếu là đất phục vụ sản xuất nông nghiệp, nhìn chung tài nguyên đất của huyện Kiến Thuỵ hạn chế về số lượng và chất lượng Tình hình sử dụng

Trang 39

đất của huyện những năm qua có ít biến động, đây là nguồn dự trữ rất quan trọng cung cấp mặt bằng cho phát triển, chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp, dịch vụ trên địa bàn huyện Theo kết quả điều tra phân hạng đất, Kiến Thụy còn khoảng 17% - 22% diện tích đất trồng cây hàng năm phải đầu tư về thuỷ lợi để trồng cây lương thực hoặc chuyển sang nuôi trồng thuỷ sản.

Về tài nguyên rừng: Trên địa bàn huyện hiện có 2 rừng đó là: rừng cảnh quan (thuộc khu vực Núi Đối và núi Trà Phương với tổng diện tích là 21,5 ha) và rừng phòng hộ ven biển Kiến Thuỵ là huyện ven biển nên việc trồng rừng phòng hộ đã được huyện chú trọng thực hiện trong thời gian qua, đến nay diện tích rừng hiện có của huyện đạt khoảng 646,2 ha chiếm 5,1% diện tích đất tự nhiên của toàn huyện

Về tài nguyên du lịch: Kiến Thụy là một huyện đồng bằng vừa có núi (Núi Đối, Trà Phương) và lại vừa có biển, đây là những yếu tố tự nhiên tạo nên nét riêng đặc hữu của huyện, rất thuận lợi cho việc khai thác phục vụ phát triển các hoạt động kinh tế du lịch

Miền đất Kiến Thụy từ xa xưa đã có một truyền thống văn hoá lâu đời, đây là vùng đất cách mạng của miền duyên hải Bắc bộ, là vùng đất địa linh nhân kiệt nơi phát tích của vương triều nhà Mạc (1527 - 1592), với hàng chục

di tích văn hoá và lịch sử đã được xếp hạng cấp quốc gia và thành phố; nhiều văn hoá vật thể và phi vật thể là di sản văn hoá được giữ gìn và có giá trị cho các thế hệ Cùng với hệ thống đình, chùa miếu mạo, Kiến Thụy còn là vùng đất có nhiều làn điệu dân ca và các lễ hội truyền thống đang được duy trì Bên cạnh đó Kiến Thuỵ còn gìn giữ được những làng nghề truyền thống như: đan lát mây tre của làng Xuân La xã Thanh Sơn; sản xuất bánh đa, bánh đúc của

xã Đông Phương; sản xuất nước mắm tại xã Đại Hợp, Tú Sơn, Đoàn Xá

Ngoài ra Kiến Thụy còn có con sông Đa Độ chảy qua, đây là sông có vị trí quan trọng trong việc cung cấp nước ngọt cho sinh hoạt và phục vụ một phần sản xuất công nghiệp của thành phố đồng thời sông Đa Độ còn có cảnh

Trang 40

quan khá đẹp đặc biệt với đoạn chảy qua Thị Trấn Núi Đối, đó chính là tiềm năng để Kiến Thụy có thể phát triển hoạt động du lịch sinh thái trên sông trong thời gian tới.

Với những đặc điểm về tài nguyên du lịch như vậy, nếu gắn kết chặt chẽ trong hệ thống thắng cảnh phong phú của Hải Phòng sẽ tạo thành một tuyến du lịch ven biển đẹp, đa dạng có sức hấp dẫn

Tài nguyên biển: là huyện ven biển của thành phố Hải Phòng, Kiến Thuỵ có tiềm năng lớn về nuôi trồng thuỷ sản và khai thác hải sản Dọc theo

bờ biển, Kiến Thụy có hàng ngàn ha bãi triều ngập nước Đây là điều kiện thuận lợi cho nuôi trồng thuỷ sản đặc biệt là các loại nhuyễn thể hai mảnh Ngoài ra Kiến Thụy còn có điều kiện thuận lợi để tham gia làm dịch vụ hậu cần nghề cá cho các khu vực lân cận, trong tương lai đây sẽ là một thế mạnh của huyện

Tài nguyên khoáng sản và tài nguyên nước: kết quả điều tra địa chất và tìm kiếm khoáng sản cho thấy trên địa bàn huyện Kiến Thụy hầu như không

có khoáng sản để phục vụ phát triển sản xuất công nghiệp Về tài nguyên nước của Kiến Thụy chủ yếu là nguồn nước mặt, Kiến Thụy có nguồn nước ngọt lớn nhất đó là sông Đa Độ, trong tương lai đây là một trong những nơi cung cấp nước ngọt lớn nhất cho thành phố Hải Phòng Về nguồn nước ngầm của Kiến Thụy có nhiều hạn chế, đây là nguồn nước nằm ở trầm tích kỷ thứ 4

có độ khoáng hoá, clo cao và nhiều sắt chỉ có thể dung vào sinh hoạt và phục

vụ sản xuất, không dùng để ăn uống được

2.1.3 Về nguồn nhân lực

Tổng dân số trên địa bàn huyện Kiến Thụy năm 2014 là 132.230 người, mật độ trung bình 1.229,7 người/km2, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên xấp xỉ 1,3% Trong những năm vừa qua, do việc điều chỉnh địa giới hành chính cho nên sự biến động dân số cơ học diễn ra khá phức tạp, lượng dân chuyển đi và chuyển đến thường xuyên thay đổi Dân số của huyện Kiến Thụy chủ yếu tập trung ở

Ngày đăng: 06/06/2017, 10:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1.Trần Tuấn Anh, Phương hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành tỉnh Trà Vinh, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành tỉnh Trà Vinh
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (1999), Giáo trình Kinh tế phát triển, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế phát triển
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 1999
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Giáo trình Kinh tế chính trị học Mác - Lênin, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế chính trị học Mác - Lênin
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
5. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Đề tài khoa học cấp Nhà nước, mã số KX 02 – 05 (2005), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Tác giả: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Đề tài khoa học cấp Nhà nước, mã số KX 02 – 05
Năm: 2005
6. Nguyễn Sinh Cúc (2005), “Tổng quan chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam 20 năm đổi mới”, Tạp chí Sinh hoạt lý luận, Số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam 20 năm đổi mới”, "Tạp chí Sinh hoạt lý luận
Tác giả: Nguyễn Sinh Cúc
Năm: 2005
7. Cục Thống kê Hải Phòng, Niên gián thống kê huyện Kiến Thụy (qua các năm 2000, 2005-2014), số liệu thống kê các phòng, ban của huyện Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên gián thống kê huyện Kiến Thụy (qua các năm 2000, 2005-2014)
8. Vũ Hùng Cường (2008), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành của vùng Duyên hải Nam Trung Bộ của Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Luận án tiến sĩ kinh tế, Viện kinh tế Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành của vùng Duyên hải Nam Trung Bộ của Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Tác giả: Vũ Hùng Cường
Năm: 2008
9. Phạm Ngọc Dũng (2002), Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành công nghiệp ở vùng lãnh thổ đồng bằng sông Hồng: Thực trạng và giải pháp, Luận án tiến sĩ kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành công nghiệp ở vùng lãnh thổ đồng bằng sông Hồng: Thực trạng và giải pháp
Tác giả: Phạm Ngọc Dũng
Năm: 2002
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (1982), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1982 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1982
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1986
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Nghị quyết Trung ương 4 khoá VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Trung ương 4 khoá VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
19. Trần Thọ Đạt (2006), Tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, Nxb Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
Tác giả: Trần Thọ Đạt
Nhà XB: Nxb Đại học Kinh tế quốc dân
Năm: 2006
20. Trần Hùng Hậu (2002) , “Để góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Việt Nam”, Tạp chí tài chính, số 12 năm 2005, Nxb. Tạp Chí Tài Chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Để góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Việt Nam”," Tạp chí tài chính
Nhà XB: Nxb. Tạp Chí Tài Chính
21. Đào Văn Hiệp (2011), Đầu tư trực tiếp nước ngoài và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở Hải Phòng, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư trực tiếp nước ngoài và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở Hải Phòng
Tác giả: Đào Văn Hiệp
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2011
22. Bùi Thị Minh Hồng (2001), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trong nền kinh tế thị trường ở Thành phố Hải Phòng, Luận án tiến sĩ, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trong nền kinh tế thị trường ở Thành phố Hải Phòng
Tác giả: Bùi Thị Minh Hồng
Năm: 2001

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng số 2: TỔNG GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ HUYỆN - LUẬN văn THẠC sĩ   CHUYỂN DỊCH cơ cấu KINH tế NGÀNH ở HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ hải PHÒNG
Bảng s ố 2: TỔNG GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ HUYỆN (Trang 44)
Bảng số 4: GIÁ TRỊ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP - LUẬN văn THẠC sĩ   CHUYỂN DỊCH cơ cấu KINH tế NGÀNH ở HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ hải PHÒNG
Bảng s ố 4: GIÁ TRỊ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP (Trang 47)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w