Giải pháp tăng cường tiếp cận thị trường cho các hộ nông dân nghèo tỉnh Phú Thọ (LA tiến sĩ)Giải pháp tăng cường tiếp cận thị trường cho các hộ nông dân nghèo tỉnh Phú Thọ (LA tiến sĩ)Giải pháp tăng cường tiếp cận thị trường cho các hộ nông dân nghèo tỉnh Phú Thọ (LA tiến sĩ)Giải pháp tăng cường tiếp cận thị trường cho các hộ nông dân nghèo tỉnh Phú Thọ (LA tiến sĩ)Giải pháp tăng cường tiếp cận thị trường cho các hộ nông dân nghèo tỉnh Phú Thọ (LA tiến sĩ)Giải pháp tăng cường tiếp cận thị trường cho các hộ nông dân nghèo tỉnh Phú Thọ (LA tiến sĩ)Giải pháp tăng cường tiếp cận thị trường cho các hộ nông dân nghèo tỉnh Phú Thọ (LA tiến sĩ)Giải pháp tăng cường tiếp cận thị trường cho các hộ nông dân nghèo tỉnh Phú Thọ (LA tiến sĩ)Giải pháp tăng cường tiếp cận thị trường cho các hộ nông dân nghèo tỉnh Phú Thọ (LA tiến sĩ)Giải pháp tăng cường tiếp cận thị trường cho các hộ nông dân nghèo tỉnh Phú Thọ (LA tiến sĩ)Giải pháp tăng cường tiếp cận thị trường cho các hộ nông dân nghèo tỉnh Phú Thọ (LA tiến sĩ)Giải pháp tăng cường tiếp cận thị trường cho các hộ nông dân nghèo tỉnh Phú Thọ (LA tiến sĩ)Giải pháp tăng cường tiếp cận thị trường cho các hộ nông dân nghèo tỉnh Phú Thọ (LA tiến sĩ)Giải pháp tăng cường tiếp cận thị trường cho các hộ nông dân nghèo tỉnh Phú Thọ (LA tiến sĩ)Giải pháp tăng cường tiếp cận thị trường cho các hộ nông dân nghèo tỉnh Phú Thọ (LA tiến sĩ)
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Trang 2HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận án này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày… tháng… năm 2017
Tác giả luận án
Trần Văn Cường
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới PGS TS Nguyễn Mậu Dũng và PGS TS Ninh Khắc Bản đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận án này
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Kinh tế tài nguyên và Môi trường đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện luận
án
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Trung tâm Phát triển công nghệ cao, tập thể lãnh đạo địa phương và người dân tại các huyện, xã của tỉnh Phú Thọ đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận án
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận án./
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Nghiên cứu sinh
Trần Văn Cường
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC BẢNG ix
DANH MỤC HÌNH xiii
DANH MỤC SƠ ĐỒ xiv
TRÍCH YẾU LUẬN ÁN xv
THESIS ABTRACT xvii
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA LUẬN ÁN 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.2.3 Câu hỏi nghiên cứu 4
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 4
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 4
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 4
1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN 4
1.4.1 Về lý luận 4
1.4.2 Về thực tiễn 5
1.5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN ÁN 5
PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TIẾP CẬN THỊ TRƯỜNG CỦA HỘ NÔNG DÂN NGHÈO 6
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TIẾP CẬN THỊ TRƯỜNG CỦA HỘ NÔNG DÂN NGHÈO 6
2.1.1 Các khái niệm cơ bản 6
2.1.2 Đặc điểm, nội dung và một số vấn đề tiêu cực trong cận thị trường của hộ nông dân nghèo 12
2.1.3 Mục tiêu tăng cường tiếp cận thị trường cho các hộ nông dân nghèo 20
Trang 62.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến tiếp cận thị trường của hộ nông dân nghèo 21
2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ TIẾP CẬN THỊ TRƯỜNG CỦA HỘ NÔNG DÂN NGHÈO 30
2.2.1 Kinh nghiệm tiếp cận thị trường của các hộ nông dân nghèo ở một số nước trên thế giới 30
2.2.2 Kinh nghiệm tăng cường cận thị trường cho các hộ dân nghèo ở một số địa phương tại Việt Nam 31
2.3 TỔNG QUAN MỘT SỐ CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN35 2.3.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước về vấn đề tiếp cận thị trường 35
2.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước về vấn đề tiếp cận thị trường 37
TÓM TẮT PHẦN 2 40
PHẦN 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 41
3.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 41
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 41
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 44
3.1.3 Khái quát tình hình đói nghèo và đặc điểm hộ nông dân nghèo trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 46
3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 47
3.2.1 Phương pháp tiếp cận 47
3.2.2 Khung phân tích 49
3.2.3 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 51
3.2.4 Phương pháp thu thập số liệu 52
3.2.5 Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu 54
3.2.6 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu của luận án 57
TÓM TẮT PHẦN 3 58
PHẦN 4 THỰC TRẠNG VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI TIẾP CẬN THỊ TRƯỜNG CỦA CÁC HỘ NÔNG DÂN NGHÈO TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ 59
4.1 THỰC TRẠNG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP CỦA CÁC HỘ NÔNG DÂN NGHÈO TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ 59
4.1.1 Thực trạng nghèo đói trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 59
4.1.2 Tình hình sản xuất nông nghiệp của tỉnh Phú Thọ 61
Trang 74.1.3 Tình hình sản xuất nông nghiệp của hộ nghèo trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 62
4.2 THỰC TRẠNG TIẾP CẬN THỊ TRƯỜNG CỦA CÁC HỘ NÔNG DÂN NGHÈO TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ 65
4.2.1 Nhu cầu tham gia thị trường của các hộ nông dân nghèo trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 65
4.2.2 Thực trạng tiếp cận thị trường vốn, tín dụng của các hộ nông dân nghèo trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 67
4.2.3 Thực trạng tiếp cận thị trường đất nông nghiệp của các hộ nông dân nghèo trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 75
4.2.4 Thực trạng tiếp cận thị trường lao động của các hộ dân nghèo trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 82
4.2.5 Thực trạng tiếp cận các yếu tố vật tư nông nghiệp của các hộ dân nghèo trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 86
4.2.6 Thực trạng tiếp cận thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp của các hộ nghèo tại địa bàn tỉnh Phú Thọ 94
4.2.7 Ảnh hưởng của tiếp cận thị trường đến hộ nông dân nghèo trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 103
4.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TIẾP CẬN THỊ TRƯỜNG CỦA CÁC HỘ NÔNG DÂN NGHÈO TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ 105
4.3.1 Các yếu tố thuộc về bản thân hộ nông dân 105
4.3.2 Các yếu tố không thuộc về bản thân các hộ nông dân nghèo 116
TÓM TẮT PHẦN 4 126
PHẦN 5 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG TIẾP CẬN THỊ TRƯỜNG CHO CÁC HỘ NÔNG DÂN NGHÈO TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ 128
5.1 CĂN CỨ ĐỀ XUẤT 128
5.1.1 Bối cảnh phát triển kinh tế xã hội tỉnh Phú Thọ 128
5.1.2 Phân tích SWOT 129
5.2 QUAN ĐIỂM VÀ ĐỊNH HƯỚNG TĂNG CƯỜNG TIẾP CẬN THỊ TRƯỜNG CHO CÁC HỘ NÔNG DÂN NGHÈO TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ 131
5.2.1 Các quan điểm tăng cường tiếp cận thị trường cho các hộ nông dân nghèo trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 131
Trang 85.2.2 Định hướng tăng cường tiếp cận thị trường cho các hộ nông dân nghèo trên
địa bàn tỉnh Phú Thọ 132
5.3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU TĂNG CƯỜNG TIẾP CẬN THỊ TRƯỜNG CHO CÁC HỘ NGHÈO TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ 133
5.3.1 Nâng cao năng lực sản xuất, kinh doanh cho hộ nông dân nghèo 133
5.3.2 Chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa 136
5.3.3 Phát triển thị trường nông nghiệp 138
5.3.4 Tăng cường cơ sở hạ tầng kỹ thuật 142
5.3.5 Tăng cường dịch vụ công 144
5.3.6 Hoàn thiện cơ chế chính sách 145
TÓM TẮT PHẦN 5 148
PHẦN 6 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 149
6.1 KẾT LUẬN 149
6.2 KIẾN NGHỊ 150
DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN151 TÀI LIỆU THAM KHẢO 152
Trang 9DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
ADBI Asian Development Bank Institute (Viện Ngân hàng phát triển
Châu Á) AFTA Asean Free Trade Area (Khu vực Thương mại tự do Asean)
FTA Free trade agreement (Hiệp định Thương mại tự do)
GDP Gross Domestic Product (Tổng sản phẩm quốc nội)
GRDP Gross Regional Domestic Product (Tổng sản phẩm trên địa bàn) GTNT Giao thông nông thôn
IPSARD Institute of Policy and Strategy for Agriculture and Rural
Development (Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp và Nông thôn)
NHCSXH Ngân hàng Chính sách xã hội
NHNN&PTNN Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
PTNT Phát triển nông thôn
QHQG Quy hoạch quốc gia
SRI System of Rice Intensification (Hệ thống canh tác lúa cải tiến)
Sở LĐTB & XH Sở Lao động - Thương binh và Xã hội
Trang 10TBNN Trung bình nhiều năm
Trang 11DANH MỤC BẢNG
3.1 Hiện trạng sử dụng đất đai của tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2011-2014 43 3.2 Một số chỉ tiêu kinh tế tỉnh Phú Thọ năm 2015 44 3.3 Dân số và lao động của tỉnh Phú Thọ qua các năm 45
4.1 Tình hình sản xuất một số cây trồng chủ lực trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
4.7 Tỷ lệ tiếp cận các tổ chức cung cấp vốn, tín dụng của hộ nông dân
trong quá trình vay vốn
72
4.8 Kết quả tiếp cận vốn, tín dụng của các hộ nông dân trên địa bàn nghiên
cứu
72
4.9 Mức độ tham gia thị trường vốn tín dụng của các hộ nông dân nghèo
trên địa bàn nghiên cứu
74
4.10 Kết quả tiếp cận vốn, tín dụng phân theo mức độ tham gia thị trường
của các hộ nông dân nghèo trên địa bàn nghiên cứu
74
Trang 124.11 Hình thức tiếp cận các tổ chức, cá nhân cho thuê/mượn đất nông nghiệp của các hộ nông dân trên địa bàn nghiên cứu
Trang 134.24 Giá trung bình một số loại phân bón phân của các hộ nông dân trên địa
bàn nghiên cứu
92
4.25 Mức độ tham gia thị trường vật tư đầu vào của các hộ nông dân nghèo
trên địa bàn nghiên
93
4.26 Giá một số loại phân bón phân theo mức độ tham gia thị trường của hộ
nông dân nghèo
93
4.27 Thông tin về giá một số mặt hàng nông sản trên địa bàn nghiên cứu 96 4.28 Số thương lái thu gom trung bình hộ nông dân nghèo tiếp cận được 98 4.29 Hình thức tiếp cận thương lái thu gom của các hộ nông dân nghèo trên
địa bàn nghiên cứu
99
4.30 Giá bán cho thương lái một số mặt hàng nông sản của các hộ nông dân
nghèo trên địa bàn nghiên cứu
100
4.31 Mức độ tham gia vào thị trường tiêu thụ nông sản của các hộ nông dân
nghèo trên địa bàn nghiên cứu
101
4.32 Khối lượng tiêu thụ trung bình của một số mặt hàng nông sản phân theo
mức độ tham gia thị trường của hộ nông dân nghèo
102
4.33 Bảng tổng hợp kết quả tiếp cận thị trường của các hộ nông dân
trên địa bàn nghiên cứu
Trang 14trường vốn, tín dụng
4.39 Kết quả xử lý số liệu mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến tiếp cận thị
trường đất nông nghiệp
113
4.40 Kết quả xử lý số liệu mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến tiếp cận
thị trường lao động
114
4.41 Kết quả xử lý số liệu mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến tiếp cận thị
trường tiêu thụ nông sản
115
4.42 Ảnh hưởng của trình độ học vấn chủ hộ đến tiếp cận thị trường của hộ
nông dân nghèo
116
4.43 Ảnh hưởng của diện tích đất sản xuất đến tiếp cận thị trường của hộ
nông dân nghèo
116
4.44 Ảnh hưởng của việc tham gia các lớp đào tạo nghề đến tiếp cận thị
trường của hộ nông dân nghèo
5.2 Dự kiến kế hoạch bồi dưỡng cho cán bộ và hộ nông dân trên địa bàn hai
huyện nghiên cứu đến năm 2020
135
5.3 Dự kiến một số chỉ tiêu phát triển hệ thống thông tin thị trường nông
nghiệp trên địa bàn nghiên cứu đến năm 2020
140
5.4 Một số chỉ tiêu hoàn thiện kênh tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp của tỉnh
Phú Thọ (của ba huyện nghiên cứu) đến năm 2020
142
Trang 15DANH MỤC HÌNH
3.3 Khung phân tích tiếp cận thị trường của hộ nông dân nghèo 50 4.1 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo tỉnh Phú Thọ 59 4.2 Tỷ lệ hộ tiếp cận nội dung và các kênh tiếp cận thông tin thị trường
4.5 Tỷ lệ hộ tiếp cận nội dung và các kênh tiếp cận thông tin thị trường
vật tư nông nghiệp
87
4.6 Tỷ lệ hộ tiếp cận nội dung và các kênh tiếp cận thông tin thị trường
tiêu thụ nông sản
95
4.7 Diện tích đất sản xuất bình quân theo hộ gia đình và hộ nông dân
nghèo trên địa bàn nghiên cứu
108
4.8 Sự tham gia của các hộ nông dân nghèo trong các tổ chức xã hội tại
địa phương
108
Trang 16DANH MỤC SƠ ĐỒ
4.1 Hình thức tiếp cận các tổ chức cung cấp vốn, tín dụng chính thức 70 4.2 Con đường tiêu thụ nông sản của các hộ nông dân nghèo trên địa
bàn nghiên cứu
97
Trang 17TRÍCH YẾU LUẬN ÁN Tên tác giả: Trần Văn Cường
Tên Luận án: Giải pháp tăng cường tiếp cận thị trường cho các hộ nông dân
nghèo tỉnh Phú Thọ
Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp Mã số: 62 62 01 15
Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Mục đích nghiên cứu
Luận án nhằm đánh giá thực trạng tiếp cận thị trường của các hộ nông dân nghèo tỉnh Phú Thọ đối với các loại thị trường: vốn tín dụng, đất đai, lao động, cung ứng đầu vào và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp Đồng thời luận án làm rõ các nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng, từ đó đề xuất các giải pháp tăng cường tiếp cận thị trường cho các hộ nông dân nghèo trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, góp phần nâng cao hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp để làm cơ sở cho việc xóa đói, giảm nghèo tại vùng nông thôn một cách bền vững
Để đạt được mục tiêu đề ra, luận án cần phải trả lời được các câu hỏi sau: (1) Thực trạng tiếp cận thị trường của các hộ nông dân nghèo ở tỉnh Phú Thọ ra sao? (2) Yếu tố nào ảnh hưởng đến tiếp cận thị trường của các hộ nông dân nghèo? Yếu tố nào là quan trọng nhất? (3) Những thuận lợi và khó khăn đối với các các hộ nông dân nghèo khi tiếp cận các loại thị trường: vốn tín dụng, đất đai, lao động, cung ứng đầu vào và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp? (4) Để tăng cường tiếp cận thị trường của các hộ nông dân nghèo tại tỉnh Phú Thọ thì cần phải làm gì?
Phương pháp nghiên cứu
Luận án đã sử dụng các phương pháp sau:
Phương pháp tiếp cận: Tiếp cận hệ thống; Tiếp cận có sự tham gia; Tiếp
cận thể chế; Khung phân tích
Phương pháp chọn điểm nghiên cứu: Phú Thọ là tỉnh trung du miền núi
phía Bắc, với 3 kiểu địa hình chính là miền núi cao, miền trung du và miền đồng bằng ven sông Do vậy, luận án lựa chọn 3 huyện đại diện cho 3 kiểu địa hình của tỉnh: 1) Huyện Thanh Sơn đại diện cho miền núi cao; 2) Huyện Cẩm Khê đại diện cho miền trung du miền núi; 3) Huyện Lâm Thao đại diện cho miền đồng bằng ven sông Trong mỗi huyện, chọn 2 xã có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc phát triển kém nhất huyện, có tỷ lệ hộ nghèo cao
Trang 18Phương pháp thu thập số liệu: Gồm số liệu đã công bố và số liệu mới Để
thu thập số liệu mới luận án đã tiến hành điều tra phỏng vấn trực tiếp 160 hộ nông dân thuộc nhóm hộ nghèo và nhóm hộ không nghèo Ngoài ra, luận án còn
sử dụng phương pháp chuyên gia để thu thập ý kiến của các chuyên gia, các cán
bộ chuyên môn và người kinh doanh ở địa phương về thực trạng các cách thức tiếp cận thị trường của các hộ nông dân trong tỉnh hiện nay
Phương pháp phân tích số liệu: Số liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm
Excel Sử dụng các phương pháp phân tích như: Thống kê mô tả; Phương pháp phân tích so sánh; Phương pháp SWOT
Kết quả chính và kết luận
1) Hoạt động sản xuất nông nghiệp của các hộ nông dân nghèo trên địa bàn nghiên cứu chủ yếu tập trung vào một số loại cây trồng chủ lực như lúa, ngô, chè, cây ăn quả Trong đó, tỷ lệ hộ trồng lúa là 100%, ngô là trên 70%, rau các loại dao động trong khoảng 37,5-43,3% Tỷ lệ tiếp cận thị trường thành công của các hộ nông dân nghèo có sự khác nhau ở 5 loại thị trường nông nghiệp, cụ thể
có đến 74,4% số hộ tiếp cận thành công thị trường vốn, tín dụng nhưng chỉ có 37,8% số hộ tiếp cận thành công thị trường đất nông nghiệp và chỉ 14,5% số hộ tiếp cận thành công thị trường lao động Giá mua vật tư nông nghiệp của các hộ nông dân nghèo cao hơn 1,5-3% so với các hộ còn lại trong khi giá bán sản phẩm lại thấp hơn
2) Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tiếp cận thị trường của các hộ nông dân nghèo Trong các yếu tố thuộc về bản thân hộ dân nghèo, yếu tố trình độ học vấn của chủ hộ và diện tích đất sản xuất của hộ là các yếu tố quan trọng nhất, tác động đến nhu cầu tham gia và kết quả tiếp cận thị trường Trong các yếu tố không thuộc về bản thân hộ dân nghèo, các yếu tố thuộc về thể chế, chính sách của Nhà nước và địa phương, vị trí địa lý, hệ thống cơ sở hạ tầng, các tổ chức chính trị xã hội và một số yếu tố khác đều có các tác động đến tiếp cận thị trường của hộ nông dân nghèo
3) Luận án đề xuất 06 giải pháp tăng cường tiếp cận thị trường cho các hộ nông dân nghèo như sau: (i) Nâng cao năng lực sản xuất, kinh doanh cho hộ nông dân nghèo; (ii) Chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa; (iii) Phát triển thị trường nông nghiệp; (iv) Tăng cường cơ sở hạ tầng kỹ thuật; (v) Tăng cường dịch vụ công; (vi) Hoàn thiện cơ chế chính sách
Trang 19THESIS ABTRACT PhD candidate: Tran Van Cuong
Thesis title: Solutions to improve market accessibility for the poor households in
Phu Tho Province
Major: Agricultural Economics Code: 62 62 01 15
Education Organization: Vietnam National University of Agriculture
Research Objectives
This thesis is to evaluate market accessibility for the poor households in Phu Tho Province in various markets of credit, land, labor, input provision and agricultural products This thesis also clarify the causes and influential factors to market access and to recommend the solutions to improve market access for the poor households in Phu Tho Province This contribute to improve effectiveness
in agricultural production as the basis for sustainable hunger eradication and povery reduction in the rural area
In order to achive the proposed objectives, the thesis try to answer the following research questions (1) what is the status of the poor households’ market access (2) what factors do influence poor households’s market access? which factors are the most important? 3) What the advantages and difficulties for the poor household in accessing to different market: credit, land, labor, input supply and agirucultural product? (4) what should be done to improve market access for the poor households in Phu Tho province?
Material and Methods
The following methodologies have been used in the research
Approach: Different approaches have been used in the research, including: systematic approach, pariticipatory approach, instituional approach, analytical framework
Research site selection methodology: Phu Tho is located in the northern midland and mountainous area Its topography is divided into three main types which are high mountains, midlands and the river deltas Each type of topography has different potential for agricultural development Based on that topography, this research has selected three representative sites including 1) Thanh Son district which represents for high mountainous area 2) Cam Khe district representing for midland area and Lam Thao district representing for the
Trang 20river delta In each district, two communes with high poverty rate have been selected
Data collection methodology: Both secondary data and primary data were collected For primary data, 160 poor and non-poor households has been interviewed to collect the new data In addition, expert consultation has also been used to collect expert, specialized staff and local businessman’s views about status of farmer households’s market access in the province
Data analysis: Data collected has been processed using Excel and SPSS 16.0 Descriptive statistic, comparative analysis and SWOT methods are also used
Main finding and conclusion
1) The main agiricultural production activities of the poor households in the research site are focusing on key crops of rice, maize, tea, fruit tree In which, the ratio of farmers planting rice is 100%, maize is 70% and vegetable is from 37.5-43.3% The ratio of success market accessibility of the poor households in five markets is difirent specifically: 74,4% in capital and credit market but only 37,8% in the land market and 14,5% in the labor market Input supply purchase price of the poor households is higher from 1,5-3,0% more than other households but agricultural products selling price is lower
2) There are various factors effecting to market accessibility of the poor households In which of the factor belonging to the poor households itself, education lever and production land area are key factor effecting to the lever of participation and the result of market accessibility In which of the factor not belonging to poor households itself, state and local policy, infrastructure system, solical organizations etc… all those have effection to market accessibility of the poor households
3) In this thesis, following recommedations are proposed to improve market access for the poor households in Phu Tho Province in the coming time: (i) Improve production, business kills for the poor households; (ii) shifting the agricultural production activities into commondity targeted direction; (iii) improve the agicultural market; (iv) improve the techical infrastructure; (v) improve public services; (vi) strenghthen instituitions and policies
Trang 21PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA LUẬN ÁN
Việt Nam là một nước nông nghiệp với khoảng 60,25 triệu người tương đương 10 triệu hộ nông dân sinh sống ở khu vực nông thôn và khoảng 70% dân
số tham gia sản xuất nông nghiệp (Tổng cục Thống kê, 2016) Năm 2015, trong mức tăng 6,68% của toàn nền kinh tế thì khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chỉ tăng 2,41%, thấp hơn mức 3,44% của năm 2014, đóng góp 0,4 điểm phần trăm vào mức tăng chung, chiếm tỷ trọng 17,00% cơ cấu nền kinh tế Theo báo cáo của các địa phương, trong năm 2015, cả nước có 227,5 nghìn lượt hộ thiếu đói, giảm 27,8% so với năm trước, tương ứng với 944 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, giảm 29,6% Tỷ lệ hộ nghèo năm 2015 ước tính khoảng 7,0 - 7,2%, giảm 1,2
- 1,4 điểm phần trăm so với năm 2014 (Tổng cục Thống kê, 2016)
Nông nghiệp ngày càng đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thuỷ sản luôn tăng dần theo từng năm, năm
2015 đạt 30,45 tỷ USD tăng gấp 76,13 lần so với năm 1986 (chỉ đạt 400 triệu USD) (Trung tâm Tin học và Thống kê - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2015) Tuy nhiên, nông nghiệp của nước ta hiện đang phải đối mặt với rất nhiều những khó khăn, thách thức do phần lớn nông dân vẫn chưa có kiến thức, thông tin thị trường chưa đầy đủ, để tự tin quyết định cần phải sản xuất sản phẩm
gì, với khối lượng sản phẩm là bao nhiêu để đáp ứng nhu cầu thị trường Hơn nữa, việc nắm bắt thông tin đúng lúc, chính xác về giá cả, các yếu tố đầu vào, đầu
ra, đặc điểm của thị trường tiêu thụ là những nhân tố quyết định đến hiệu quả sản xuất và thu nhập của người nông dân vẫn còn nhiều hạn chế Vì vậy, trong bối cảnh cung cầu thị trường đang có nhiều biến động hiện nay, việc tăng cường tiếp cận thị trường có ý nghĩa quan trọng, góp phần giúp nông hộ đổi mới tư duy trong việc tiếp cận thị trường, trở thành chủ thể chính, chủ động trong quá trình sản xuất, điều tiết thị trường, giá cả
Nhận thức được những khó khăn của người nông dân trong việc tiếp cận thị trường, nhất là các thông tin về vật tư đầu vào và sản phẩm nông nghiệp làm ra, trong nhiều năm qua Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương chính sách nhằm từng bước nâng cao trình độ sản xuất cũng như năng lực tiếp cận thị trường cho người nông dân Đó là Nghị quyết 26 của Ban chấp hành Trung ương
Trang 22Đảng ngày 9/7/2008 về “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn”; Quyết định số
23/QĐ-TTg ngày 06/01/2010 của Thủ tướng Chính phủ Quyết định phê duyệt Đề
án "Phát triển thương mại nông thôn giai đoạn 2010-2015 và định hướng đến năm 2020"; Quyết định 01/2012/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về “Một số chính sách hỗ trợ việc áp dụng Quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt trong nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản”; Quyết định số 62/2013/QĐ-TTg ngày 25/10/2013 của Thủ tướng Chính phủ về “Chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng lớn”; Nghị định số 210/2013/NĐ-CP của Chính phủ về “Chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn” Thông qua những chủ
trương chính sách, ngành nông nghiệp đã phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa; đã có sự liên kết trong sản xuất và tiêu thụ nông sản giữa các doanh nghiệp với các hộ nông dân; góp phần định hướng và thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp; đáp ứng đủ, kịp thời nhu cầu sản xuất, tiêu dùng ở địa bàn nông thôn, trên cơ sở đó góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, xóa đói giảm nghèo, tạo tiền đề để chủ động hội nhập kinh tế - thương mại quốc tế thành công
ở địa bàn nông thôn
Phú Thọ là tỉnh thuộc khu vực miền núi, trung du phía Bắc có tổng diện tích
tự nhiên là 3.519,56 km2 (Cục Thống kê tỉnh Phú Thọ, 2015), có nhiều tiềm năng phát triển công nghiệp chế biến nông lâm sản, khai thác và chế biến khoáng sản, sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp dệt, may, v.v trong những năm gần đây Phú Thọ đã đạt được những bước tiến đáng kể trong phát triển kinh tế, xã hội Tổng giá trị sản phẩm trên địa bàn toàn tỉnh năm 2014 ước đạt 27.336 tỷ đồng (Cục Thống kê tỉnh Phú Thọ, 2014a) Tuy nhiên, do Phú Thọ là tỉnh miền núi có địa hình phức tạp; dân cư phân bố không đều, trình độ dân trí còn hạn chế, kết cấu hạ tầng thấp kém, kinh tế phát triển chưa đồng đều giữa các vùng nên thu nhập bình quân đầu người còn thấp, tỷ lệ hộ đói nghèo của tỉnh còn cao, chiếm 12,52% số hộ toàn tỉnh và phân bố không đồng đều giữa các vùng kinh tế, nơi có
tỷ lệ đói nghèo cao vẫn là các huyện miền núi như huyện Tân Sơn (24,43%), Yên Lập (20,53%), Thanh Sơn (16,16%), Cẩm Khê (17,47%), v.v (Cục Thống kê tỉnh Phú Thọ, 2014b) Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên, chủ yếu là
do bản thân các hộ nông dân nghèo không có những kiến thức cơ bản và sự hiểu biết về thị trường; khả năng thu nhận thông tin, xử lý, ứng xử với thị trường trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp còn hạn chế nên đã đưa ra các quyết
Trang 23định sản xuất, kinh doanh không hợp lý, năng suất, sản lượng vật nuôi, cây trồng thấp (Quyền Đình Hà, 2011) Nhằm tháo gỡ những khó khăn đó, UBND tỉnh và các cơ quan chức năng đã đưa ra nhiều giải pháp như đào tạo nghề và nâng cao
kỹ năng của các hộ nông dân, tăng cường sự tham gia của các hộ dân trong chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp, tạo điều kiện cho các hộ nông dân tiếp cận tín dụng
để phát triển hàng hoá, phát triển mạnh mẽ thương mại nông thôn, tạo điểu kiện
và giúp đỡ thành lập các nhóm tiêu thụ sản phẩm Tuy vậy, cho đến nay tiếp cận thị trường của các hộ nông dân nghèo trên địa bàn tỉnh vẫn còn hạn chế, cách tìm kiếm thông tin thị trường, giá cả, chất lượng vật tư nông nghiệp; thị trường tiêu thụ, giá tiêu thụ, tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm nông nghiệp; cách tiếp thị và quảng bá sản phẩm, cách ứng xử, ra quyết định sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của các hộ nông dân nghèo còn nhiều tồn tại Nhiều câu hỏi đã và đang được đặt ra trong việc tiếp cận thị trường của các hộ nông dân nghèo như thực trạng tiếp cận thị trường của các hộ nông dân nghèo hiện nay ra sao? những thuận lợi và khó khăn của các hộ nông dân nghèo khi tiếp cận thị trường là gì? những yếu tố nào ảnh hưởng đến tiếp cận thị trường của các hộ nông dân nghèo? làm thế nào để để tăng cường tiếp cận thị trường của các hộ nông dân nghèo và những vấn đề cần chú ý trong việc tăng cường tiếp cận thị trường của các hộ nông dân nghèo tại tỉnh Phú Thọ là gì?
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng tiếp cận thị trường của các hộ dân nghèo trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, chỉ ra những kết quả đạt được và những tồn tại, hạn chế, từ đó đề xuất giải pháp tăng cường tiếp cận thị trường của các hộ nông dân nghèo trên địa bàn tỉnh Phú Thọ trong thời gian tới
Trang 241.2.3 Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng tiếp cận thị trường của các hộ nông dân nghèo ở tỉnh Phú Thọ
- Để tăng cường tiếp cận thị trường của các hộ nông dân nghèo tại tỉnh Phú Thọ thì cần phải làm gì?
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là những vấn đề lý luận và thực tiễn về tiếp cận thị trường của các hộ nông dân nghèo tỉnh Phú Thọ
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Tập trung nghiên cứu thực trạng tiếp cận thị trường vốn, tín dụng, thị trường đất đai, thị trường lao động, thị trường vật tư và thị trường tiêu thụ trong sản xuất nông nghiệp của các hộ nông dân nghèo trên địa bàn tỉnh Phú Thọ Do giới hạn về thời gian và nguồn lực nên luận án tập trung điều tra nghiên cứu tiếp cận 5 thị trường (vốn, tín dụng; đất đai; lao động; vật tư; tiêu thụ) trong lĩnh vực trồng trọt của các hộ nông dân nghèo trên địa bàn tỉnh
- Về không gian: Nghiên cứu được thực hiện tại tỉnh Phú Thọ, tập trung điều tra khảo sát tại ba huyện đó là các huyện Lâm Thao, Cẩm Khê và Thanh Sơn
- Về thời gian: Nghiên cứu được thực hiện trong thời gian từ năm 2013 đến năm 2016
1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
1.4.1 Về lý luận
Luận án đã tổng hợp, phân tích có hệ thống và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về tiếp cận thị trường của hộ nông dân đặc biệt là các hộ nông dân nghèo
Trang 25của tỉnh Phú Thọ: Khái niệm thị trường, hộ nông dân nghèo, vai trò của tiếp cận thị trường, các yếu tố ảnh hưởng đến tiếp cận thị trường và vận dụng vào nghiên cứu tăng cường tiếp cận thị trường của hộ dân nghèo tỉnh Phú Thọ
1.4.2 Về thực tiễn
Luận án đã có đánh giá đầy đủ về thực trạng sản xuất nông nghiệp và tiếp cận thị trường của các hộ nông dân nghèo tỉnh Phú Thọ đối với các loại thị trường vốn tín dụng, đất đai, lao động, vật tư nông nghiệp và thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp Đồng thời luận án làm rõ các nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng từ đó đề xuất các giải pháp tăng cường tiếp cận thị trường của các hộ nông dân nghèo trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, góp phần nâng cao hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp để làm cơ sở cho việc xóa đói, giảm nghèo tại vùng nông thôn một cách bền vững
1.5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN ÁN
Các phát hiện mới của luận án sẽ bổ sung, đánh giá khách quan về điều kiện
và thực trạng tiếp cận thị trường của hộ nông dân nghèo tại tỉnh Phú Thọ nói riêng và Việt Nam nói chung Điều này sẽ giúp giải quyết những vướng mắc trong quá trình tiếp cận các loại thị trường vốn tín dụng, đất đai, lao động, vật tư nông nghiệp và thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp của các hộ nông dân nghèo Các kết luận của luận án là cơ sở đề xuất nhiều giải pháp để tăng cường tiếp cận thị trường của các hộ nông dân nghèo tỉnh Phú Thọ nói riêng và các hộ nông dân nghèo trong cả nước nói chung
Trang 26PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TIẾP CẬN THỊ
TRƯỜNG CỦA HỘ NÔNG DÂN NGHÈO 2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TIẾP CẬN THỊ TRƯỜNG CỦA HỘ NÔNG DÂN NGHÈO
2.1.1 Các khái niệm cơ bản
2.1.1.1 Khái niệm về hộ nông dân và hộ nông dân nghèo
Hộ nông dân ra đời và tồn tại ở hầu hết các nước có nền sản xuất nông nghiệp trên thế giới Hộ nông dân đã tồn tại và vẫn tiếp tục phát triển theo nhiều phương thức khác nhau tùy thuộc vào từng quốc gia, từng thời kỳ lịch sử Do đó, hiện đang có nhiều quan niệm về hộ nông dân khác nhau:
Theo Ellis (1993), hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm
kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao
Theo Đào Thế Tuấn (1997), hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn
Theo Trần Quốc Khánh (2005), hộ nông dân là một nhóm người có cùng huyết thống sống chung trong một mái nhà, có chung một nguồn thu nhập, tiến hành các hoạt động sản xuất nông nghiệp với mục đích chủ yếu phục vụ cho nhu cầu của các thành viên trong gia đình
Qua đó, chúng tôi cho rằng: Hộ nông dân là những hộ sống ở nông thôn, có nguồn thu nhập và sinh sống chủ yếu bằng nghề nông Ngoài hoạt động sản xuất nông nghiệp, hộ nông dân còn tham gia các hoạt động phi nông nghiệp (như tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ ) ở các mức độ khác nhau Hộ nông dân
là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất vừa là một đơn vị tiêu dùng
Theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2010 thì có thể phân loại hộ nông dân thành các nhóm như sau:
- Hộ nghèo là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000
Trang 27đồng trở xuống hoặc là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản như y tế; giáo dục; nhà ở; nước sạch và vệ sinh; thông tin (Chính phủ, 2015)
- Hộ cận nghèo là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản như y tế; giáo dục; nhà ở; nước sạch và vệ sinh; thông tin (Chính phủ, 2015)
- Hộ có mức sống trung bình là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng (Chính phủ, 2015)
Ngoài ra, nhiều tổ chức quốc tế cũng đưa ra những quan niệm khác nhau về nghèo đói, song khái niệm chung được hiểu như sau: Nghèo là tình trạng của một
bộ phận dân cư chỉ có các điều kiện vật chất và tinh thần để duy trì cuộc sống của gia đình họ ở mức tối thiểu trong điều kiện chung của cộng đồng Mức sống tối thiểu ở đây được hiểu là các điều kiện ăn, ở, mặc và các nhu cầu khác như văn hóa, y tế, giáo dục, đi lại, giao tiếp,… chỉ đạt mức duy trì cuộc sống Nghèo luôn
là dưới mức trung bình của cộng đồng Xét trên mọi phương diện, giữa mức nghèo với mức trung bình của xã hội có một khoảng cách từ ba lần trở lên (Nguyễn Ngọc Nông, 2004)
Như vậy, hộ nông dân nghèo được hiểu là tình trạng của một số hộ nông dân chỉ thoả mãn một phần nhu cầu tối thiểu của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện Và đối với Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, hộ nông dân nghèo là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống hoặc là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản như y tế; giáo dục; nhà ở; nước sạch và vệ sinh; thông tin
Hiện nay, có nhiều khái niệm khác nhau về nghèo nhưng phổ biến hơn cả là nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối, khái niệm này là khái niệm động thay đổi theo không gian và thời gian, cũng như theo trình độ học vấn và truyền thống Theo Bùi Thế Cường và cs (2010), thì nghèo tuyệt đối là một trạng thái mà các cá nhân thiếu những nguồn lực thiết yếu để tồn tại còn nghèo tương đối là tình trạng của một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức trung bình của cộng
Trang 28đồng tại địa phương xem xét Còn Hoàng Thanh Đạm (2014), cho rằng nghèo tuyệt đối đó là sự thiếu hụt so với mức sống (những nhu cầu) tối thiểu còn nghèo tương đối đó là sự thiếu hụt của các cá nhân/hộ gia đình so với mức sống trung bình đạt được
Qua đó, chúng tôi cho rằng: Hộ nông dân nghèo tuyệt đối là những hộ nông dân thiếu hụt những nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống Còn hộ nông dân nghèo tương đối là những hộ nông dân có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương tiện
2.1.1.2 Khái niệm về thị trường và phân loại thị trường
Thị trường ra đời và phát triển gắn liền với nền sản xuất hàng hóa Cùng với
sự phát triển của sản xuất hàng hóa, khái niệm ngày càng trở nên đa dạng và phong phú Tuỳ từng điều kiện và giác độ nghiên cứu mà người ta đưa ra các khái niệm thị trường khác nhau
Theo Lê Thế Giới (2006), thì thị trường là một nhóm người mua và bán một hàng hóa hay dịch vụ cụ thể Còn theo Nguyễn Văn Dần (2007), thì thị trường là
cơ chế trong đó người mua và người bán một thứ hàng hóa hoặc dịch vụ tương tác với nhau để xác định giá cả và số lượng Phí Mạnh Hồng (2008), cho rằng thị trường là tập hợp các điều kiện và thỏa thuận mà thông qua đó người mua và người bán tiến hành sự trao đổi hàng hóa với nhau Nguyễn Thanh Hiền (2009), thì thị trường là nơi người mua và người bán gặp nhau để trao đổi hàng hóa và dịch vụ
Qua đó, chúng tôi cho rằng: Thị trường là nơi mà người mua và người bán tiến hành trao đổi hay mua bán hàng hóa, dịch vụ
Theo Phí Mạnh Hồng (2008) có nhiều cách phân loại khác nhau về thị trường, trong đó có 3 cách phân loại chính như sau:
- Căn cứ vào công dụng của hàng hóa mà người ta giao dịch, chia ra thành thị trường hàng hóa tiêu dùng và thị trường các yếu tố sản xuất Trong đó, thị trường đầu ra lại có thể phân nhỏ thành các thị trường như thị trường gạo, thị trường quần áo, thị trường ô tô, thị trường giáo dục v.v Còn thị trường đầu vào
có thể phân thành thị trường vốn hiện vật (máy móc, thiết bị, nhà xưởng v.v ), thị trường đất đai, thị trường lao động v.v
- Căn cứ theo không gian kinh tế mà theo đó các quan hệ trao đổi hàng hóa diễn ra, thị trường có thể phân ra thành thị trường thế giới, thị trường khu vực, thị
Trang 29trường quốc gia, thị trường vùng hay địa phương Tuy nhiên, khi phân loại thị trường theo cách này, người ta vẫn thường kết hợp với cách phân loại thị trường theo nội dung hàng hóa để xem xét một thị trường cụ thể, trên một địa bàn hay không gian kinh tế cụ thể
- Căn cứ theo cấu trúc thị trường, người ta cũng có thể chia ra thành hai loại thị trường lớn là thị trường cạnh tranh hoàn hảo và thị trường cạnh tranh không hoàn hảo Trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo thì người mua hay người bán không có quyền lực chi phối giá cả hàng hóa Còn thị trường cạnh tranh không hoàn hảo thì người mua hay người bán riêng biệt, dù ít, dù nhiều vẫn có khả năng chi phối giá
2.1.1.3 Khái niệm về thị trường nông nghiệp
Theo Vũ Đình Thắng (2006), thị trường nông nghiệp là một tập hợp những thỏa thuận, dựa vào đó mà các chủ thể kinh tế trong và ngoài ngành nông nghiệp
có thể trao đổi được hàng hóa nông sản hay các dịch vụ cho nhau
Thị trường nông nghiệp có thể phân loại thành 5 loại thị trường cụ thể như sau:
- Thị trường vốn tín dụng
Theo Vương Quốc Duy và Đặng Hoàng Trung (2015), vốn là của cải sinh ra của cải, là tài sản, là biểu hiện bằng phương tiện dùng vào sản xuất kinh doanh nhằm mục đích cuối cùng mang lại lợi nhuận Vốn tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau, được hình thành từ nhiều nguồn vốn khác nhau, thường chia thành hai loại cơ bản là vốn cố định và vốn lưu động Trong đó, vốn cố định là hình thức vốn chuyển dịch dần dần vào từng bộ phận giá trị sản phẩm và hoàn thành trong vòng tuần hoàn khi tài sản cố định hết thời hạn sử dụng Còn vốn lưu động là số vốn ứng trước về đối tượng lao động và tiền lương, sản phẩm đang chế tạo, thành phẩm hàng hóa, tiền tệ, nó luân chuyển một lần vào giá trị sản phẩm cho đến khi nào nó chuyển thành tiền thì vốn luân chuyển hoàn thành một vòng luân chuyển
- Thị trường đất đai
Đất nông nghiệp là tài sản, nguồn lực quyết định để người nông dân tồn tại
và phát triển trong nền kinh tế thị trường hiện nay Theo Phí Mạnh Hồng (2008), thị trường đất đai được phân biệt thành hai loại thị trường là thị trường dịch vụ đất đai và thị trường tài sản đất đai Trong đó, thị trường dịch vụ đất đai là thị
Trang 30trường thuê và cho thuê đất đai để sử dụng trong một khoảng thời gian xác định Còn thị trường tài sản đất đai là thị trường trên đó đối tượng giao dịch là bản thân đất đai với tư cách là một tài sản, khi mua bán tài sản đất thì người ta chuyển giao hẳn quyền sở hữu từ người bán sang người mua
- Thị trường lao động
Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) (1991), thị trường lao động là thị trường trong đó có các dịch vụ lao động được mua bán và thông qua quá trình để xác định mức độ có việc làm của lao động, cũng như mức độ của tiền công Còn Erenbegt and Smith (1996), cho rằng thị trường mà đảm bảo việc làm cho người lao động và kết hợp giải quyết trong lĩnh vực việc làm thì được gọi là thị trường lao động Trần Xuân Cầu (2012), thị trường lao động là tập hợp các hoạt động nhằm trao đổi, mua bán hàng hoá sức lao động giữa người sử dụng lao động và người lao động; thông qua đó giá cả, điều kiện và các quan hệ hợp đồng lao động được xác định Nguyễn Thị Lan Hương (2002), thị trường lao động biểu hiện mối quan hệ giữa một bên là người có sức lao động và bên kia là người sử dụng sức lao động, nhằm xác định số lượng và chất lượng lao động sẽ đem ra trao đổi và mức thù lao tương ứng
- Thị trường vật tư nông nghiệp
Theo Nguyễn Thanh Hiền (2009), thị trường vật tư nông nghiệp (yếu tố đầu vào) là tập hợp các cá nhân, tổ chức mua và bán tư liệu sản xuất đầu vào như phân bón, giống, cũng như dịch vụ thủy lợi, làm đất, nhằm phục vụ cho quá trình sản xuất ra sản phẩm
- Thị trường tiêu thụ sản phẩm
Theo Nguyễn Thanh Hiền (2009), thị trường tiêu thụ sản phẩm (tiêu dùng)
là những cá nhân hay gia đình mua hay bằng một phương thức trao đổi nào đó để
có được thứ nông sản hay dịch vụ để phục vụ cho lợi ích của cá nhân Còn Võ Phước Tấn và Phạm Xuân Thu (2003), cho rằng thị trường tiêu thụ sản phẩm là một sự trao đổi hàng hóa thông thường, xác định hành động tiếp nhận một sản phẩm mong muốn từ một cá nhân hay từ một tổ chức bằng cách đưa cho cá nhân hay tổ chức đó một thứ khác
2.1.1.4 Khái niệm về tiếp cận thị trường
FAO (1989) đưa ra một khái niệm khái quát: “Tiếp cận thị trường bao gồm việc tìm hiểu xem khách hàng của bạn cần gì, cung cấp cái đó cho họ mà vẫn có lãi”
Trang 31Theo Kleih et al (1999), tiếp cận thị trường nông sản phẩm là việc người
nông dân có đầy đủ thông tin, tiềm lực xã hội, tài chính, vật chất để mua vật tư đầu vào và bán sản phẩm nông nghiệp làm ra ở các khu vực có lợi cho họ Nghĩa
là người nông dân có đủ nguồn lực để có thể giao thiệp với người bán vật tư đầu vào phục vụ cho quá trình sản xuất của nông hộ, đồng thời họ cũng có đủ khả năng để tiếp cận và đàm phán với các nhà cơ sở thu mua để bán sản phẩm họ làm
ra ở một mức có lợi Điều này cho thấy điều kiện cơ bản nhất để tiếp cận thị trường nông nghiệp là có sự tồn tại của cầu cho các loại sản phẩm tiềm năng từ khu vực nông thôn Quy luật tự nhiên của sản phẩm đầu vào và đầu ra, phương thức tiếp cận thị trường của người dân và những yêu cầu phải được thực hiện nhằm nâng cao khả năng tiếp cận thị trường Tiếp cận thị trường không thể thực hiện như một lĩnh vực riêng lẻ Tiếp cận thị trường phải được nhìn nhận như một phần đầy đủ, trọn vẹn, không thể thiếu của hệ thống hàng hoá Một mặt, người nông dân phải biết đâu là nơi họ bán sản phẩm trước khi hoạt động sản xuất Mặt khác, nguồn cung cấp đầy đủ, thích hợp và thoả đáng các khía cạnh vật chất chất lượng và số lượng là yêu cầu đầu tiên, tiên quyết cho một hệ thống thị trường hiệu quả Luồng cung cấp thị trường và cầu hàng hoá được trao đổi bằng các hợp đồng bao tiêu sản phẩm hoặc dịch vụ ăn khớp với khách hàng giữa người mua và người bán thông qua thị trường Nâng cao sự liên kết giữa các mắt xích của hệ thống thị trường (chuỗi sản xuất), ở đây là người nông dân nói chung và người kinh doanh nói riêng, là một vấn đề cực kỳ quan trọng của tiếp cận thị trường Bên cạnh đó, cải thiện hệ thống giao thông, luồng thông tin về sản phẩm, về thị trường là các yếu tố không thể thiếu nhằm có được sự liên kết hiệu quả và bền vững Đó là quy luật lưu thông của đầu vào và đầu ra trong nông nghiệp với sự tham gia của nông dân
Theo Bly (2006), tiếp cận thị trường là một quá trình tìm kiếm, phát hiện
và đánh giá những nhu cầu của thị trường Từ đó lên kế hoạch sản xuất kinh doanh, lựa chọn thị trường mục tiêu, xâm nhập thị trường, tiếp cận khách hàng để đạt được mục tiêu của quá trình sản xuất kinh doanh là tiêu thụ sản phẩm Bao gồm thu thập thông tin, phân khúc thị trường, tiếp cận thị trường mục tiêu, tiếp cận thị trường mới
Từ các định nghĩa này chúng ta có thể suy ra một số điểm then chốt về tiếp cận thị trường, đó là: Tiếp cận thị trường là một quá trình toàn diện có bản chất thương mại; bao hàm mối liên kết giữa những yếu tố khác nhau trong một chuỗi
Trang 32mắt xích; gồm quá trình chuyển sản phẩm theo hướng từ đầu đến cuối hệ thống Theo lý thuyết và nhiều nghiên cứu thực nghiệm cho đây là một khái niệm khá rộng Theo Cuong (2005), trong nông hộ tiếp cận thị trường là mức độ dễ hoặc khó để tới được các thị trường của các yếu tố đầu vào cho sản xuất và sản phẩm đầu ra cho sản xuất nông nghiệp Còn theo Trương Chí Hiếu và cs (2013), thì tiếp cận thị trường trong sản xuất kinh doanh nông nghiệp là một nội dung rất rộng, bao hàm khả năng người dân tiếp cận đến hàng loạt các yếu tố nguồn lực cho quá trình sản xuất như đất đai, tín dụng, khoa học kỹ thuật… và khả năng tiêu thụ nông sản phẩm được làm ra
Qua đó, chúng tôi cho rằng: Tiếp cận thị trường nông nghiệp là hoạt động của người sản xuất nông nghiệp tìm hiểu và nghiên cứu thị trường, tìm kiếm đối tác và khách hàng, đàm phán để đạt được các thỏa thuận với đối tác và khách hàng nhằm có lợi nhất cho người sản xuất mà vẫn đảm bảo chất lượng sản phẩm
là tốt nhất
2.1.2 Đặc điểm, nội dung và một số vấn đề tiêu cực trong cận thị trường của
hộ nông dân nghèo
2.1.2.1 Đặc điểm của các thị trường nông nghiệp
a Thị trường vốn tín dụng nông thôn
- Nguồn vốn cho vay còn ở mức hạn chế: Hiện nay, mặc dù nguồn vốn huy động đã tăng liên tục qua các năm, nhưng vốn cho vay vẫn còn ở mức hạn chế và chưa đáp ứng được hết nhu cầu trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn Ngoài việc Agribank có tỷ lệ cho vay khoảng 70% thì đa số các ngân hàng đều có dư nợ cho vay đối với lĩnh vực này thấp Ngoài ra, khả năng huy động vốn tại chỗ của các tổ chức tín dụng trên địa bàn nông thôn chỉ đáp ứng được từ 45% - 70% nhu cầu vốn cho vay nông nghiệp, nông thôn (Lê Thị Tuấn Nghĩa và Phạm Mạnh Hùng, 2015)
- Các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng tại nông thôn còn nghèo nàn: Sản phẩm chủ yếu là tín dụng truyền thống, các dịch vụ thanh toán, bảo hiểm nông nghiệp, bảo hiểm tín dụng nông nghiệp còn rất hạn chế, gần như mới phát triển ở mức thử nghiệm, sản phẩm tín dụng của ngân hàng chưa bao gồm các dịch vụ hỗ trợ
đi kèm, các công cụ đầu tư tài chính chuyên nghiệp hầu như chưa có
Trang 33b Thị trường đất đai nông nghiệp
- Mang nặng tính tự phát: Quan hệ cung - cầu về đất đai và các quan hệ chuyển nhượng, mua bán, kinh doanh đất đai diễn ra thiếu sự quản lý và điều tiết một cách chặt chẽ và hữu hiệu của các cơ quan quản lý Nhà nước (Hồ Thị Lam Trà và Nguyễn Văn Quân, 2005) Nguyên nhân chủ yếu dẫn tới tình trạng đó là trong một thời gian dài chúng ta chưa nhận thức một cách đầy đủ vị trí, vai trò của thị trường đất đai đối với sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa nói riêng Do chưa nhận thức đầy đủ nên chúng ta chưa chính thức thừa nhận thị trường đất đai, từ đó chưa có chủ trương, chính sách và các biện pháp cụ thể, phù hợp để định hướng
và tạo điều kiện cho các quan hệ đất đai vừa vận động theo các quy luật của thị trường, đồng thời vừa vận động theo định hướng của Nhà nước Trong khi đó nhu cầu chuyển nhượng, mua bán đất đai lại là một nhu cầu thực tế, thiết yếu và
có xu hướng ngày càng gia tăng
- Hoạt động ngoài tầm kiểm soát của Nhà nước: Việc chuyển nhượng, mua bán, kinh doanh đất đai trong dân cư chủ yếu được thực hiện theo phương thức trao tay Các bên mua bán phần nhiều không làm thủ tục pháp lý và không thực hiện nghĩa vụ tài chính (nộp thuế chuyển nhượng quyền sử dụng đất, thuế trước bạ) với Nhà nước (Hồ Thị Lam Trà và Nguyễn Văn Quân, 2005) Nguyên nhân chủ yếu và có ảnh hưởng quyết định của tình trạng này là sự buông lỏng quản lý Nhà nước đối với thị trường đất đai nông nghiệp, cụ thể là: 1) Do chưa chú ý đúng mức và chưa thừa nhận thị trường đất đai nông nghiệp nên Nhà nước chưa
có khung pháp lý rõ ràng cho thị trường đất đai nông nghiệp hoạt động và do đó các cơ quan Nhà nước hầu như không quản lý được các tổ chức và cá nhân tham gia vào thị trường đất đai và bất động sản 2) Thông tin về thị trường bất động sản nói chung, thị trường đất đai nói riêng chưa được chú ý nên những người có nhu cầu sử dụng đất rất khó tiếp cận được với những thông tin cần thiết và chính xác Đây là điều kiện cho các thông tin sai lệch nhằm mục đích trục lợi của những người môi giới và đầu cơ đất phát huy tác dụng tiêu cực
c Thị trường lao động khu vực nông thôn
- Quan hệ làm công ăn lương chưa phát triển: Cung lao động khu vực nông thôn co giãn nhiều vì khu vực này có tỷ lệ tăng dân số nhanh so với khu vực thành thị Cầu lao động lại ít co giãn vì cơ cấu sản xuất nông thôn chậm thay đổi,
Trang 34các nguồn lực cho sản xuất bị hạn chế Tiền công ở thị trường này được xác định
ở điểm cân bằng Điều này cũng phản ánh người lao động luôn tìm được việc làm Họ chấp nhận việc làm giản đơn, nặng nhọc và tiền công thấp và thấp hơn mức tiền công ở khu vực thành thị không chính thức (Phạm Đức Chính, 2010)
- Thị trường lao động khu vực nông thôn phát triển ở trình độ thấp: Sự thỏa thuận trong quan hệ thuê mướn lỏng lẻo, thường không có hợp đồng lao động, hình thức đổi công làm thuê theo công nhật, vụ việc là chính Tiền công (trả cho lao động phổ thông, lao động đại trà) trên thị trường rất thấp; tính cạnh tranh không cao; tính linh hoạt và thích ứng của lao động là rất hạn chế (Phạm Đức Chính, 2010)
d Thị trường cung ứng đầu vào và tiêu thụ sản phẩm:
Theo Nguyễn Thanh Hiền (2009), thị trường nông nghiệp có 6 đặc điểm chính, đó là:
- Giá cả dễ biến động trong thời gian ngắn: “Giá của các nông sản có thể thay đổi đáng kể và đột ngột trong vòng một tuần và thậm chí một ngày” do nông sản là những mặt hàng không thể bảo quản được lâu nên giá của chúng thường có
xu hướng giảm nhiều vào cuối thời điểm buôn bán hoặc khi có một lượng hàng lớn đột ngột xâm nhập làm cung vượt quá cầu thị trường
- Tính mùa vụ: “Nguồn cung của thị trường nông nghiệp thường chỉ tập trung vào vụ thu hoạch và tiếp sau vụ thu hoạch từ một đến hai tháng khiến cho giá của sản phẩm trong giai đoạn này thấp và sau đó tăng lên đáng kể cho tới vụ thu hoạch tiếp theo” Tuy nhiên, đối với các nông sản khác nhau thì tính mùa vụ của nguồn cung là khác nhau, hiện đã có nhiều biện pháp làm ổn định nguồn cung như kéo dài và tạo ra nhiều vụ thu hoạch, đa dạng lịch thu hoạch, lưu kho, nên có thể làm giảm tính mùa vụ
- Sự biến đổi về giá giữa các năm cao: “Giá các mặt hàng nông nghiệp cũng
có thể thay đổi đáng kể giữa các năm” Nguyên nhân chủ yếu của sự biến đổi giá này do sự tác động của điều kiện tự nhiên như thời tiết, sâu bệnh hại tới nguồn cung Nếu điều kiện tự nhiên ảnh hưởng xấu đến sản xuất nông nghiệp sẽ dẫn đến sự gia tăng về giá Ngược lại, điều kiện thời tiết thuận lợi có thể có tác động tích cực tới mức độ sản xuất và khiến cho hàng hóa nông nghiệp tràn ngập thị trường sẽ dẫn đến sự suy giảm về giá Mặt khác, tình trạng sản xuất tự phát, nhỏ
lẻ, theo phong trào dẫn đến cung vượt cầu cũng là yếu tố sự biến đổi về giá giữa
Trang 35các năm
- Rủi ro cao: “Tính rủi ro cao là một đặc trưng của thị trường nông nghiệp” Nguyên nhân chính của sự rủi ro là sự biến động về giá Ngoài ra, sản phẩm bị thối, hỏng, dập nát hoặc giảm giá trị trong quá trình vận chuyển, lưu kho, mua bán cũng là một rủi ro
- Chi phí giao dịch và marketing cao: Giá do người tiêu dùng phải trả thường cao hơn rất nhiều so với giá ban đầu của sản phẩm mà người sản xuất bán
ra Nguyên nhân gây ra sự khác biệt đáng kể về giá này, chính là do chi phí marketing và các rủi ro
- Thông tin không đầy đủ: “Thiếu thông tin dẫn tới chi phí tiếp thị và rủi ro cao và dẫn đến phối hợp không tốt giữa cung và cầu” Nguyên nhân là do kiến thức của người nông dân có hạn nên không hiểu biết đầy đủ về thị trường làm hạn chế khả năng hướng tới các cơ hội có lợi, đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và đàm phán được mức giá hợp lý Mặt khác, thương nhân và các nhà chế biến cũng có thể thiếu tiếp cận các thông tin quan trọng, vì vậy, không có khả năng điều chỉnh để thích ứng với môi trường kinh doanh thay đổi
2.1.2.2 Đặc điểm tiếp cận thị trường của hộ nông dân nghèo
- Nguồn thông tin và kênh tiếp cận thông tin hạn chế, đơn giản: Đây là đặc điểm phổ biến trong tiếp cận thị trường của các hộ nông dân nghèo ở các nước đang phát triển, khi mà công nghệ thông tin và truyền thông không được đảm bảo cho một bộ phận không nhỏ người dân khu vực nông thôn Đặc biệt, tại một số vùng núi, vùng sâu, vùng xa, nguồn cung cấp thông tin duy nhất cho người dân lại đến từ chính những thương lái (Olwande and Mathenge, 2012) Theo khảo sát thực tế tại vùng nông thôn Bắc Bộ và một số tỉnh đồng bằng sông Cửu Long cho thấy, truyền hình được xem là kênh tiếp cận thông tin chủ yếu và gần như là duy nhất của các hộ nông dân trong đó có hộ nghèo (Phạm Hoàng Ngân và cs., 2013)
- Kỹ năng và phương pháp tiếp cận thụ động, khả năng đàm phán kém do vậy hiệu quả tham gia thị trường thường kém: Hiện nay, những thay đổi trong nền kinh tế nông nghiệp toàn cầu đang là cơ hội và thách thức cho những hộ nông dân nhỏ trong đó có hộ nghèo tiếp cận với các thị trường mới trong và
ngoài nước (Markelova et al., 2009) Tuy nhiên, hộ nông dân nghèo tại nhiều
nước, đặc biệt là các nước đang phát triển đã không nắm bắt được cô hội này Trong tiếp cận và đàm phán với các tác nhân tham gia thị trường, hộ nông dân
Trang 36nghèo thường thiếu sự chủ động, việc tiếp cận thường diễn ra đơn lẻ mà ít tham gia vào các nhóm liên kết, hạn chế hộ tiếp cận được với các hợp đồng tiêu thụ lớn, giảm khả năng cạnh tranh cũng như đàm phán giá cả
- Hiệu quả tham gia thị trường của hộ nông dân nghèo không cao: Điều này
có thể thấy ở lợi nhuận thuần mà hộ nông dân nghèo thu được rất thấp, trong khi
đó các doanh nghiệp đối tác của họ lại thu được lợi nhuận cao (IFAD, 2003) Trong nghiên cứu của Nguyễn Quốc Nghi (2015) trong tất cả các tác nhân tham gia chuỗi giá trị sản phẩm khóm, hộ nghèo là tác nhân có tỷ suất lợi nhuận/chi phí cao nhất Với 1 đồng chi phí đầu tư, hộ nghèo tạo ra 1,12 đồng lợi nhuận So với các tác nhân tham gia vào chuỗi giá trị sản phẩm, tỷ suất lợi nhuận/chi phí của hộ nghèo trồng khóm là thấp nhất Trong khi đó, bán buôn cấp 2 là tác nhân
có tỷ suất lợi nhuận/chi phí cao nhất Mặt khác, khả năng quay vòng vốn chỉ được 1 lần/năm Trong khi đó, các tác nhân khác có số vòng quay vốn lớn gấp nhiều lần so với hộ nghèo
2.1.2.3 Nội dung tiếp cận thị trường của hộ nông dân nghèo
- Tiếp cận thông tin thị trường: Hoạt động thu thập thông tin xảy ra liên tục trong suốt quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của các hộ dân nghèo Trong quá trình sản xuất các hộ dân cần phải thu thập thông tin và cũng liên tục cập nhật thông tin về kỹ thuật sản xuất, sự biến động của thị trường, giá bán, nhu cầu thị trường, thị hiếu tiêu dùng, các thị trường tiềm năng, tình hình dịch bệnh, sâu hại… (dẫn theo Le Van Cuong và cs., 2013)
Tiago and Yen (2007), đã chỉ ra rằng người nông dân có thể tiếp cận thông tin thị trường từ nhiều nguồn bao gồm chính thức và không chính thức Theo đó, các nguồn chính thức được thực hiện bởi đội ngũ nhân viên các cơ quan chính phủ như các trạm khuyến nông, các chuyên gia thị trường, chương trình tin tức
và chương trình phát sóng, internets, báo, tạp chí vv các nguồn không chính thức được cung cấp bởi các cá nhân là nông dân, các công ty, các cơ sở chế biến
và các tổ chức phi chính phủ
Theo Petersen (1999) cho rằng chất lượng thông tin chia sẻ giữa các thành viên được đo lường bằng mức độ mà thông tin đó có thể đáp ứng được nhu cầu của thành viên Nhiều nhà nghiên cứu đã xác định các khía cạnh quan trọng của chất lượng thông tin Các đặc tính này bao gồm: nội dung, tính chính xác, tính thời sự và tính thường xuyên (Neumman and Segev, 1979); tính chính xác, tính
Trang 37thường xuyên, tính tin cậy và tính sẵn có của các dự báo (McCormack, 1998); hoặc là tính thời sự, tính chính xác và tính hoàn chỉnh (Petersen, 1999) (dẫn theo Trương Chí Hiếu và cs., 2013)
Một nghiên cứu chung cho các hộ nông dân trong đó có hộ nghèo tại Việt Nam cho thấy: Trong tiếp cận thông tin thị trường các kênh thông tin sử dụng nhiều nhất là qua truyền hình, qua các Hội đoàn thể, qua truyền thanh/khuyến nông/công ty vật tư nông nghiệp và trao đổi giữa người nông dân với người nông dân Các thông tin được quan tâm là thông tin phục vụ sản xuất (thông tin về kỹ thuật sản xuất, thông tin về thị trường vật tư), thông tin thị trường (giá bán, nơi bán), thông tin về chính sách (chính sách hỗ trợ sản xuất, tiêu thụ) Cũng theo nghiên cứu này, trong các nhóm thông tin trên, thông tin về thị trường vật tư là tương đối đầy đủ, thông tin về thị trường đất đai, lao động còn hạn chế; các thông tin về giá cả thị trường sẵn có hơn so với thông tin bán ở đâu, bán cho ai; thông tin chính sách thường được phổ biến nhanh (Phạm Hoàng Ngân và cs., 2013)
- Tiếp cận tác nhân tham gia thị trường: Mức độ đa dạng và thành phần các tác nhân tham gia vào thị trường phụ thuộc vào từng loại thị trường Và do vậy, đối với mỗi thị trường khác nhau, việc tiếp cận tác nhân tham gia thị trường của
hộ nông dân nghèo lại khác nhau
+ Đối với thị trường vốn, tín dụng: Ở khu vực nông thôn nước ta hiện nay,
có nhiều nguồn tín dụng mà các hộ nông dân nghèo có thể tiếp cận được như Ngân hàng chính sách xã hội, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các Quỹ hỗ trợ phát triển, các dự án,…(Phạm Bảo Dương, 2009) Tuy nhiên, do thủ tục dễ dàng, thời gian làm thủ tục vay vốn ngắn mà đa số hộ nông dân nghèo thường tìm đến Ngân hàng chính sách xã hội khi có nhu cầu vay vốn
+ Đối với thị trường đất đai: Chế độ sở hữu đất đai đặc biệt của Việt Nam
đã đưa đến hệ quả hình thành hai thị trường đất đai: Thị trường cấp I là thị trường giao dịch giữa Nhà nước và người sử dụng đất (với nhiều chế độ khác nhau, như giao đất có thu tiền, không thu tiền; giao đất có thời hạn khác nhau; cho thuê đất…); thị trường cấp II là thị trường giao dịch giữa những người sử dụng đất nông nghiệp với nhau Các giao dịch trong thị trường đất đai có các dạng khác nhau như: Đi thuê hoặc cho thuê, mượn, mua hoặc bán, đấu thầu và đổi đất
(Marsh et al., 2007) Như vậy, các tác nhân tham gia vào thị trường đất đai chính
là các chủ thể như Nhà nước, các cá nhân, tổ chức và bản thân hộ nông dân
Trang 38Nghiên cứu của CIEM và IPSARD (2015) cho rằng mặc dù thị trường đất đai đã có sự phát triển đáng kể từ khi Việt Nam bắt đầu mở cửa nền kinh tế, song
sự tham gia của người dân, nhất là người dân nông thôn vào thị trường đất nông nghiệp còn vẫn rất hạn chế, đặc biệt là người nghèo Hơn nữa, xét trên nhiều khía cạnh như quyền sử dụng đất hợp pháp với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cũng như chất lượng của các mảnh đất thì người nghèo vẫn thể hiện là nhóm bị nhiều bất lợi hơn so với nhóm người giàu trong việc tiếp cận với đất nông nghiệp
+ Đối với thị trường lao động: Đa số người lao động trong các hộ nông dân nghèo có trình độ văn hóa và chuyên môn thấp, chủ yếu tham gia vào các hoạt động kinh tế hộ, một số tham gia vào các hoạt động kinh tế tiểu thủ công nghiệp Trong thời điểm mùa vụ, họ có thể tiến hành tranh đổi, hoặc thuê mướn lao động Tuy nhiên, việc thuê lao động ở các hộ nông dân nghèo ít phổ biến do hạn chế về tài chính và quy mô sản xuất nhỏ (CIEM, ILSSA, Ipsard, 2013)
+ Đối với thị trường vật tư nông nghiệp: Vật tư nông nghiệp là yếu tố quan trọng trong hoạt động sản xuất, góp phần quyết định hiệu quả của quá trình sản xuất Trên thị trường hiện nay, các tổ chức cá nhân cung cấp vật tư nông nghiệp khá đa dạng: đại lý, cửa hàng bán lẻ, cơ sở sản xuất,… Do vậy, tùy thuộc vào sự phát triển của thị trường vật tư của từng địa phương mà hộ nông dân nghèo nơi
đó có sự tiếp cận khác nhau: Ở Hà Giang, việc trao đổi, mua bán vật tư nông nghiệp được thực hiện chủ yếu ở chợ Ở các tỉnh như Yên Bái, Quảng Trị, người dân lại tiếp cận nhiều với các dịch vụ cung cấp vật tư của tư nhân Mặt khác, sự tham gia của các tổ chức đoàn thể như Hợp tác xã vào thị trường cung cấp vật tư nông nghiệp cũng được người dân hưởng ứng Trong quá trình tiếp cận thị trường vật tư nông nghiệp, hộ nông dân nghèo có thể bị ép giá khi thiếu tiền mặt
để thanh toán, và do vậy họ buộc phải chấp nhận mức giá tư thương đặt ra (Phạm Bảo Dương, 2009)
+ Đối với thị trường tiêu thụ nông sản: Có khá nhiều tác nhân tham gia vào thị trường tiêu thụ nông sản như thương lái thu gom; cơ sở sản xuất, chế biến; người bán lẻ;… và người tiêu dùng Trong đó, đối với từng mặt hàng nông sản,
hộ nông dân nghèo lại có sự tiếp cận khác nhau với các tác nhân tham gia vào thị trường tiêu thụ nông sản đó Tuy nhiên, do đặc điểm sản xuất nông nghiệp của các hộ nông dân nghèo chủ yếu là nhỏ lẻ nên tác nhân tiếp cận thường xuyên và chủ yếu nhất trong quá trình tiêu thụ nông sản là các thương lái thu gom Một ví
Trang 39dụ để thấy rõ điều này là sơ đồ chuỗi giá trị sản phẩm khóm của các nông hộ nghèo tỉnh Tiền Giang, trong đó 75,52% sản lượng khóm được tiêu thụ thông qua các thương lái thu gom (Nguyễn Quốc Nghi, 2015)
- Mức độ tham gia thị trường: Khả năng tiếp cận với người cung cấp đầu vào và tiêu thụ sản phẩm phản ánh mức độ tham gia thị trường của hộ nông dân nghèo Hộ có khả năng tiếp cận với bao nhiêu tổ chức, cá nhân; hình thức tiếp cận là gì? Mức độ tiếp cận có thường xuyên không? Cuối cùng là kết quả tiếp cận/tham gia thị trường: Mua vật tư đầu vào từ bao nhiêu người cung ứng, khối lượng bao nhiêu? Khối lượng so với tổng nhu cầu? Và hình thức mua, bán?
2.1.2.4 Một số vấn đề tiêu cực trong tiếp cận thị trường đối với hộ nông dân nghèo
Trong sự chuyển biến của sản xuất nông nghiệp hiện nay đòi hỏi các hộ nông dân nghèo phải không ngừng nâng cao khả năng tiếp cận thị trường, để nông sản làm ra được tiêu thụ ngày càng nhiều, có sức cạnh tranh cao hơn và đứng vững trên thị trường Tuy nhiên, trong một số trường hợp, việc tiếp cận thị trường thành công với tần suất thường xuyên không chưa hẳn đã cho kết quả tốt trong quá trình thoát nghèo của hộ Điều này thể hiện rõ nét ở các điểm như nhiễu loạn thông tin; bị ép giá
- Thông tin ít và bị nhiễu loạn: Hầu hết các loại nông sản sau thu hoạch đều
có tình trạng tồn đọng Thực tế cho thấy, khi chưa đến vụ thu hoạch thì hàng hóa trở nên khan hiếm, có thể có hiện tượng đột biến về giá cả, nhưng khi vào vụ thu hoạch thì bắt đầu xuất hiện tình trạng dư thừa sản phẩm, giá nông sản tụt giảm nhanh chóng, gây thiệt hại cho người kinh doanh, mà đặc biệt là người nông dân (Trương Chí Hiếu và cs., 2013) Đây chính là điều phản ánh sự yếu kém trong sản xuất nông nghiệp ở nước ta, luôn luôn động viên tăng cường sản xuất, tăng sản lượng nhưng lại không hề chủ động trong việc nắm bắt thông tin đầu ra, hay chủ động thông tin giá cả của các loại nông sản
- Tình trạng bị ép giá: Trong tất cả các kênh phân phối liên quan đến sản xuất nông nghiệp và đời sống của người nông dân ở nông thôn đều có sự tham gia phổ biến của các tiểu thương, dẫn đến điều bất hợp lý là phân phối sản phẩm qua quá nhiều khâu trung gian, dẫn đến làm chậm quá trình lưu thông sản phẩm, gây ách tắc dẫn đến tồn đọng giả tạo (Trương Chí Hiếu và cs., 2013) Điều đó thể hiện rõ nét trong sự chênh lệch về giá cả hàng hóa nông sản và giá cả hàng hóa
Trang 40công nghiệp dịch vụ Trong khi giá nông sản tăng chậm hoặc không tăng, thậm chí giảm sút thì giá cả các loại hàng hóa mà người nông dân phải mua lại ổn định hoặc gia tăng Như vậy, khi mất mùa hay được mùa, người nông dân luôn phải đối mặt với sự lo lắng là bị người mua ép giá Họ không có sự lựa chọn nào khác
là phải chấp nhận những điều kiện phi lý do người mua đặt ra
- Thiếu sự kiểm soát, hỗ trợ sử dụng kết quả tiếp cận thị trường: Thực tế cho thấy, mặc dù sản xuất ra nhiều loại nông sản, nhưng người nông dân vẫn chưa bám sát nhu cầu của thị trường Trong sản xuất nông nghiệp phổ biến vẫn mang đậm nét tình trạng xuất phát từ cung, tức là xuất phát từ khả năng và truyền thống sản xuất, chưa hoàn toàn sản xuất theo yêu cầu (Trương Chí Hiếu và cs., 2013) Phương thức sản xuất này đã lỗi thời và chỉ phù hợp với điều kiện cung nhỏ hơn cầu, sản xuất và tiêu thụ khép kín trong phạm vi quốc gia, thậm chí từng vùng Nhưng trong điều kiện hội nhập kinh tế hiện nay, nguyên tắc cơ bản chi phối sản xuất phải là “sản xuất và đưa ra thị trường cái mà thị trường cần, chứ không phải đưa ra thị trường cái mà mình có” Thực tế trong tiêu thụ nông sản ở
cả nội địa và xuất khẩu, nhiều nông sản đưa ra không được người mua chấp nhận, chính là do không phù hợp về chủng loại, số lượng, chất lượng của nhiều loại nông sản, dẫn đến thực trạng người tiêu dùng ngày càng cảnh giác với nhiều loại nông sản về khả năng bảo đảm an toàn và vệ sinh thực phẩm
2.1.3 Mục tiêu tăng cường tiếp cận thị trường cho các hộ nông dân nghèo
2.1.3.1 Góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế
Các hộ nông dân nghèo khi được trang bị những kiến thức cơ bản về thị trường và phương thức tiếp cận thị trường sẽ có xu hướng chuyển đổi cơ cấu theo hướng từ sản xuất nông nghiệp tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa Người dân không những đủ ăn mà đã bắt đầu có tích lũy và có sản phẩm để trao đổi Điều quan trọng là những xu hướng này ngày càng theo nhu cầu thị trường vì Việt Nam đã hòa nhập vào thị trường hàng hóa thế giới Theo Oxfam và Action Aid (2008), có mối quan hệ chặt chẽ giữa cơ hội thoát nghèo và năng lực tận dụng cơ hội sản xuất hàng hóa, đồng thời các hộ gia đình thành công trong giảm nghèo cần phải sẵn sàng dự đoán và hạn chế các tác động của những cơn sốc đi kèm khi chuyển sang sản xuất theo cơ chế thị trường
Vì vậy, khi tăng cường tiếp cận thị trường cho các hộ nông dân nghèo không những nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp mà người nông dân còn có