Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp giảng dạy và phương thức đào tạo đội ngũ lao động có chất lượng cao, đặc biệt là trong các ngành kinh tế mũi nhọn, công nghệ cao. Gắn với việc hình thành các khu công nghiệp, khu công nghệ cao với hệ thống các trường đào tạo nghề. Phát triển nhanh và phân bố hợp lý hệ thống trường dạy nghề trên địa bàn cả nước, mở rộng các hình thức đào tạo nghề đa dạng, linh hoạt, năng động”.
Trang 1MỤC LỤC Trang
MỞ ĐẦU
3
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO
TẠO NGHỀ Ở TRƯỜNG TRUNG CẤP CHUYÊN
1.1 Quan niệm về quản lý hoạt động đào tạo nghề ở các
1.2 Nội dung quản lý hoạt động đào tạo nghề ở các Trường
1.3 Nhân tố tác động đến quản lý hoạt động đào tạo nghề ở
Trường Trung cấp Thương mại - Du lịch - Dịch vụ tỉnh
Chương 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO
TẠO NGHỀ Ở TRƯỜNG TRUNG CẤP THƯƠNG
2.1 Khái quát chung về Trường Trung cấp Thương mại - Du lịch
2.2 Thực trạng hoạt động đào tạo nghề ở Trường Trung cấp
Thương mại - Du lịch -Dịch vụ tỉnh Nam Định 372.3 Thực trạng quản lý hoạt động đào tạo nghề ở Trường
Trung cấp Thương mại - Du lịch - Dịch vụ tỉnh Nam Định 42
Chương 3: YÊU CẦU VÀ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO
TẠO NGHỀ Ở TRƯỜNG TRUNG CẤP THƯƠNG MẠI - DU
3.1 Yêu cầu quản lý đào tạo nghề ở Trường Trung cấp Thương
mại - Du lịch - Dịch vụ tỉnh Nam Định 573.2 Biện pháp quản lý hoạt động đào tạo nghề ở Trường Trung cấp
Thương mại - Du lịch - Dịch vụ tỉnh Nam Định 603.3 Khảo nghiệm sự cần thiết và tính khả thi của các biện pháp
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp giảng dạy và phương thức đào tạo đội ngũ lao động có chất lượng cao, đặc biệt là trong các ngành kinh tế mũi nhọn, công nghệ cao Gắn với việc hình thành các khu công nghiệp, khu công nghệ cao với
hệ thống các trường đào tạo nghề Phát triển nhanh và phân bố hợp lý hệ thống trường dạy nghề trên địa bàn cả nước, mở rộng các hình thức đào tạo nghề đa dạng, linh hoạt, năng động”.
Nguồn nhân lực có chất lượng cao đang thực sự trở thành yếu tố cơ bảntrong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đảm bảo cho sự tăng trưởngkinh tế và phát triển bền vững đất nước Nghị quyết Đại hội XI của Đảng
khẳng định: “Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược” đồng thời xác định “phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu” và coi đó là khâu quan trọng để tạo ra nguồn lực
phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Việc nâng caochất lượng nguồn nhân lực đã thực sự trở thành nhiệm vụ then chốt trongchiến lược phát triển của nước ta, đó cũng chính là nhiệm vụ quan trọng nhấtcủa quá trình đổi mới giáo dục và đào tạo ở nước ta
Thực hiện chủ trương của Đảng, trong những năm qua công tác đào tạonghề ở nước ta đã có những bước phát triển đạt được những kết quả đángkhích lệ Mạng lưới cơ sở dạy nghề phát triển khắp toàn quốc, quy mô tuyểnsinh tăng, chất lượng được cải thiện, tỷ lệ học sinh sau tốt nghiệp tìm đượcviệc làm tăng góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người laođộng Bên cạnh những kết quả đạt được, đào tạo nghề vẫn còn nhiều bất cập
so với nhu cầu xã hội, mạng lưới cơ sở dạy nghề tăng nhưng còn mất cân đốigiữa các vùng miền, chất lượng đào tạo nghề chưa đáp ứng yêu cầu phát triểnkinh tế - xã hội, đây là nguyên nhân dẫn đến chất lượng nguồn nhân lực ở
Trang 3nước ta còn thấp, cũng là nguyên nhân dẫn đến năng lực cạnh tranh của nềnkinh tế nước ta chưa đáp với hội nhập khu vực và quốc tế.
Nguồn nhân lực có chất lượng cao, trong đó có nhân lực qua đào tạonghề là yếu tố quan trọng hàng đầu trong quá trình phát triển kinh tế xã hội.Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020 đã xác định:
“Đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đa dạng, đa tầng của công nghệ
và trình độ phát triển của các lĩnh vực, ngành nghề Thực hiện liên kết chặt chẽ với các doanh nghiệp, cơ sở sử dụng lao động và nhà nước để phát triển nguồn nhân lực theo nhu cầu xã hội Thực hiện các chương trình đề án đào tạo nhân lực chất lượng cao đối với các ngành lĩnh vực chủ yếu, mũi nhọn Phát triển mạnh và nâng cao chất lượng dạy nghề và giáo dục chuyên nghiệp”.
Bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nguồnnhân lực đang có tình trạng thừa lao động phổ thông, lao động không có chuyênmôn kỹ thuật nhưng lại thiếu lao động có trình độ tổ chức sản xuất kinh doanh,thiếu thợ kỹ thuật trong các ngành, nghề trong các khu vực kinh tế, khu côngnghiệp Một trong những nguyên nhân chính là do chất lượng đào tạo chưa đápứng được đòi hỏi nhu cầu xã hội, nhu cầu việc làm của các doanh nghiệp và trình
độ khoa học công nghệ đặt ra
Đào tạo nghề ở các trường dạy nghề nói chung, Trường Trung cấpThương mại - Du lịch - Dịch vụ tỉnh Nam Định nói riêng không nằm ngoàithực trạng đó Đặc biệt đối với nước ta, do ảnh hưởng bởi quan niệm truyềnthống thường chú trọng bằng cấp, đề cao giá trị lao động trí óc hơn lao động
chân tay đã dẫn đến tình trạng “thừa thầy, thiếu thợ” trong khi yêu cầu của sự
nghiệp CNH, HĐH đất nước đang rất cần đội ngũ lao động kỹ thuật có tay nghềcao Bởi vậy trong những những năm gần đây, vấn đề đào tạo nghề đang là một
“điểm nóng” được Đảng, Nhà nước, Chính phủ cũng như toàn xã hội quan tâm.
Trang 4Trên thực tế Trường Trung cấp Thương mại - Du lịch - Dịch vụ tỉnhNam Định đã và đang đặt ra cho công tác đào tạo nghề trong tình hình mới đó
là không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động đào tạo nghề Nângcao chất lượng đào tạo nghề như là một tất yếu khách quan và là yêu cầu cấpthiết Nó có ý nghĩa quyết định trực tiếp đến chất lượng nguồn nhân lực phục
vụ mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nâng cao chất lượng đàotạo nghề tức là phải nâng cao chất lượng các yếu tố đảm bảo chất lượng đàotạo đáp ứng nhu cầu ngày càng cao thị trường lao động của địa phương, đàotạo nghề cần được phát triển trên cơ sở đổi mới căn bản, toàn diện theo hướngtiếp cận với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, sự thay đổi nhanhchóng của kỹ thuật, công nghệ và hội nhập Trên thực tế chưa có công trình,
đề tài nào nghiên cứu vấn đề này Nhận thức được vai trò quan trọng của việcnâng cao chất lượng đào tạo nghề của nhà trường xuất phát từ những lý do ở
trên, chúng tôi chọn vấn đề: “Quản lý hoạt động đào tạo nghề ở Trường Trung cấp Thương mại - Du lịch - Dịch vụ tỉnh Nam Định" làm đề tài luận văn
tốt nghiệp cao học
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Hiện nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nước ta đang thực hiện côngcuộc đổi mới, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Để dạy nghề chuyển đổi nhanh chóng theo hướng chất lượng, tiên tiến và hiệnđại, Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược phát triển dạy nghề giai đoạn 2011-
2020 với mục tiêu là bước đột phá về chất lượng theo hướng tiếp cận trình độcủa khu vực và trên thế giới, đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực chất lượngcao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xuất khẩu laođộng và hội nhập kinh tế quốc tế, góp phần giải quyết việc làm và cải thiện đờisống người lao động là giai đoạn lấy nâng cao chất lượng là khâu then chốt để đổimới và phát triển dạy nghề
Trang 5Hiện nay, nghiên cứu về: “Hoạt động đào tạo nghề và quản lý hoạt động đào tạo nghề” đã được nhiều tác giả, các nhà khoa học nghiên cứu.
Nhiều cuộc hội thảo đã được tổ chức trong thời gian qua đã tập trung đánh giáthực trạng dạy nghề và thực trạng quản lý hoạt động đào tạo nghề nhằm nângcao chất lượng đào tạo nghề ở các trung tâm dạy nghề, các trường trung cấpdạy nghề nhằm tìm ra giải pháp góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nghề
Gần đây, hội thảo với đề tài “Giáo dục nghề nghiệp Việt Nam trước yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện” do Viện sư phạm kỹ thuật Trường Đại học
Sư phạm Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh tổ chức, trong đó các bài phát biểucủa các chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực về giáo dục và đào tạo nghề đềukhẳng định giáo dục nghề nghiệp chiếm một vị trí hết sức quan trọng trongviệc phát triển nguồn nhân lực của nước nhà, chất lượng người lao động kỹthuật “chất lượng cao” là nền tảng cho sự phát triển bền vững của đất nước,hội thảo cũng đề xuất nhiều giải pháp nhằm góp tiếng nói góp phần nâng caochất lượng nguồn nhân lực được đào tạo từ hệ thống giáo dục nghề nghiệpViệt Nam trong giai đoạn triển khai Nghị quyết Trung ương 8, khoá XI về đổimới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá,hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vàhội nhập quốc tế
Hội thảo khoa học (2001): “Cơ cấu tổ chức và quản lý hệ thống giáo dục kỹ thuật và dạy nghề ở Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010” do Tổng cục
Trang 6Đề tài (2002): “Nghiên cứu phát triển hệ thống dạy nghề và đào tạo CNKT TPHCM giai đoạn 2001 - 2005” do Sở Khoa học - Công nghệ và Sở
LĐ-TB&XH và Xã hội TPHCM phối hợp tổ chức
Tác giả Nguyễn Duy Bắc (2002) quan tâm đến “Đào tạo nghề phục vụ
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn" (Tạp chí
Giáo dục, số 22/2002) Trong đó, tác giả đã nêu lên một số vấn đề lý luận vàthực trạng chỉ ra những khó khăn của dạy nghề ở nông thôn và đề xuất một sốbiện pháp bảo đảm chất lượng dạy nghề phù hợp với đặc thù nông thôn
Tác giả Phạm Minh Hạc (2008) với nghiên cứu về “Đào tạo nghề góp phần phát triển nguồn nhân lực của đất nước thế kỷ XXI” (Tạp chí Khoa học
Giáo dục, số 5/2008) Từ sự phân tích nhu cầu đào tạo nghề để phục vụ pháttriển kinh tế - xã hội của đất nước, tác giả đã tập trung làm rõ những hạn chế,khuyết điểm trong đào tạo nghề ở nước ta hiện nay như: đào tạo nghề chưagắn với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, sự phân bố các trường dạy nghềkhông hợp lý, nội dung chương trình, phương pháp dạy nghề lạc hậu, bộ máyquản lý nhà nước về dạy nghề không ổn định, trang thiết bị cho dạy nghề cầnchi phí lớn Đây là công trình nghiên cứu đề cập đến nhiều nội dung, trong đó
có vấn đề quản lý nhà nước về đào tạo nghề
Tác giả Nguyễn Đức Trí (2008) đi sâu nghiên cứu về “Giáo dục nghề nghiệp đáp ứng nhu cầu thị trường lao động” (Tạp chí Khoa học Giáo dục, số
5/2008) Trên cơ sở luận chứng nhu cầu của thị trường lao động, thực trạnggiáo dục nghề nghiệp, tác giả đề xuất một số giải pháp về xác định nhu cầu sốlượng, cơ cấu lao động, qui hoạch lại mạng lưới hệ thống các cơ sở giáo dụcnghề nghiệp, xây dựng một số loại tiêu chuẩn cần thiết cho giáo dục nghềnghiệp, xây dựng hệ thống quản lý chất lượng đào tạo nghề, đa dạng hóa vàgắn kết giữa đào tạo và sử dụng
Trang 7Cũng đề cập đến quản lý nhà nước về dạy nghề, tác giả Nguyễn Minh
Đường (2008) đã nghiên cứu, đề xuất “Hoàn thiện cơ cấu giáo dục quốc dân
và tổ chức quản lý giáo dục nghề” (Tạp chí Khoa học Giáo dục, số 38/2008).
Chỉ ra một số bất cập về quản lý hệ thống giáo dục nghề nghiệp hiện nay,kiến nghị một số giải pháp như tổ chức lại hệ thống dạy nghề, hoàn thiện hệthống quản lý dạy nghề
Tác giả Phan Văn Nhân (2008) đã nghiên cứu về “Nhu cầu đổi mới và quản lý hệ thống giáo dục nghề nghiệp từ việc xây dựng, qui hoạch phát triển giáo dục và nguồn nhân lực cấp tỉnh thành phố” (Tạp chí Khoa học Giáo dục,
số 38/2008) Đánh giá thực trạng quản lý hệ thống giáo dục nghề nghiệp ViệtNam, vướng mắc trong quá trình xây dựng quy hoạch phát triển giáo dục vànguồn nhân lực cấp tỉnh, thành phố, đề xuất giải pháp về hợp nhất cơ quanquản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp, hoàn thiện tổ chức bộ máy phòngquản lý giáo dục nghề nghiệp, tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệmcủa cơ sở dạy nghề, thành lập hội đồng đào tạo nhân lực cấp quốc gia, cáctrung tâm đánh giá và cấp chứng chỉ nghề quốc gia, qui hoạch và thống nhấtmạng lưới CSDN
Tập trung nghiên cứu, tìm kiếm "Giải pháp nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu xã hội của đào tạo nghề" (Tạp chí Khoa học Giáo dục, số 39/2008),
tác giả Phan Minh Hiển (2008) đã luận giải chủ thể của nhu cầu xã hội trongđào tạo nghề, của cơ sở sử dụng lao động, của người học, đề xuất giải phápnâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu xã hội của đào tạo nghề như: Đổi mớiquản lý dạy nghề, tiếp tục phát triển các CSDN, phát triển chương trình dạy nghềtheo nhu cầu lao động, nâng cao năng lực giáo viên dạy nghề, thiết lập hệ thốngthông tin dạy nghề, xây dựng hoàn thiện các chính sách nâng cao chất lượng dạynghề, công tác người học nghề, nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu xã hội củađào tạo nghề
Trang 8Đi từ nghiên cứu “Thực trạng quản lý đào tạo nghề các trường dạy nghề theo hướng đáp ứng nhu cầu xã hội” (Tạp chí Giáo dục, số 297/2012);
tác giả Nguyễn Thị Hằng đã chỉ ra thực trạng đào tạo nghề hiện nay như: Mức
độ phù hợp của chương trình đào tạo, thông tin về đào tạo và tư vấn cho họcsinh, quan hệ hợp tác giữa trường nghề và doanh nghiệp, đào tạo bồi dưỡngcán bộ, từ đó rút ra những điểm mạnh, điểm yếu từ thực trạng đã khảo sát
Công trình nghiên cứu: “Nâng cao chất lượng đào tạo nghề bằng biện pháp tăng cường sự liên kết giữa trường dạy nghề với doanh nghiệp” của tác
giả Vũ Thị Phương Oanh (2008), đã hệ thống hóa được khung lý thuyết vềchất lượng và chất lượng đào tạo nghề, làm cơ sở để tiếp cận phân tích thựctrạng và đề xuất các giải pháp để nâng cao chất lượng đào tạo nghề Tác giả
đã đánh giá thực trạng đào tạo nghề dựa trên các tiêu chí cụ thể; phân tích cácnhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nghề, từ đó đưa ra các giải phápnhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề thông qua mối liên kết giữa trườngdạy nghề với doanh nghiệp Đây là hướng nghiên cứu thiết thực phù hợp vớihướng nghiên cứu cơ bản kết hợp với nghiên cứu ứng dụng có ý nghĩa về thựctiễn hiện nay Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp về mặt lý luận thì luậnvăn chưa có sự đi sâu phân tích tác động của các nhân tố bên ngoài có ảnhhưởng đến chất lượng đào tạo nghề
Cũng đề cập đến quản lý nhà nước về dạy nghề, tác giả Nguyễn Minh
Đường (2008) đã nghiên cứu, đề xuất “Hoàn thiện cơ cấu giáo dục quốc dân
và tổ chức quản lý giáo dục nghề” (Tạp chí Khoa học Giáo dục, số 38/2008).
Chỉ ra một số bất cập về quản lý hệ thống giáo dục nghề nghiệp hiện nay,kiến nghị một số giải pháp như tổ chức lại hệ thống dạy nghề, hoàn thiện hệthống quản lý dạy nghề
Từ sự khái quát tổng quan tình hình nghiên cứu trên đây có thể rút ramột số nhận xét sau đây:
Trang 9Một là, các công trình nghiên cứu đã nêu lên thực trạng hoạt động đàotạo nghề hiện nay còn những bất cập chồng chéo khi lĩnh vực giáo dục nghềnghiệp có hai bộ ngành cùng song trùng quản lý là Bộ Giáo dục và Đào tạo(quản lý hệ trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, ĐH) và Bộ LĐ-TB&XH(quản lý trình độ sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề).
Hai là, đã đề xuất các chính sách nâng cao chất lượng dạy nghề: Tăngquyền tự chủ cho các cơ sở dạy nghề; cải tiến chương trình và phương phápđào tạo, nâng cao năng lực giáo viên dạy nghề; tăng cường đầu tư thiết bị dạynghề; quy hoạch lại mạng lưới các cơ doanh nghiệp; tăng cường sự liên kếtgiữa các cơ sở đào tạo nghề và doanh nghiệp sử dụng lao động nhằm đào tạonguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng nhu cầu thị trường lao động
Ba là, các công trình nghiên cứu với những hướng tiếp cận khác nhaucũng đã đề cập đến những khó khăn, thuận lợi, những nỗ lực và sự chuyểnbiến tích cực của hoạt động đào tạo nghề trong những năm qua Được sự quantâm của Đảng, Nhà nước và Chính phủ, sự nỗ lực của toàn ngành dạy nghề,
sự nghiệp dạy nghề đã được quan tâm và đang tiếp tục phát triển mạnh, đạtđược một số thành tựu đáng khích lệ: Mạng lưới cơ sở dạy nghề từng bướcđược phát triển theo quy hoạch Các điều kiện bảo đảm chất lượng đào tạonghề được cải thiện một bước như nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên; đổimới nội dung, chương trình đào tạo, cơ sở vật chất, trang thiết bị cho dạy vàhọc nghề đã được đầu tư, nâng cấp Phong trào thi đua dạy tốt học tốt trongtoàn ngành đã được đẩy mạnh Các hoạt động như hội thi học sinh giỏi nghề,hội giảng giáo viên dạy nghề, hội thi thiết bị dạy nghề tự làm … đã trở thànhhoạt động thường xuyên từ cơ sở dạy nghề đến toàn quốc mang lại hiệu quảthiết thực Người học nghề ra trường đã cơ bản đáp ứng được nhu cầu của thịtruờng lao động
Tuy nhiên, vấn đề quản lý hoạt động đào tạo nghề ở Trường Trung cấpThương mại - Du lịch - Dịch vụ tỉnh Nam Định cũng nằm trong thực trạng
Trang 10quản lý đào tạo nghề nói chung của cả nước, chất lượng hiệu quả đào tạonghề, công tác quản lý hoạt động đào tạo nghề còn nhiều bất cập, là vấn đềcấp thiết cần được nghiên cứu trên phương diện lý luận và thực tiễn Đề tài
“Quản lý hoạt động đào tạo nghề ở Trường Trung cấp Thương mại - Du Dịch vụ tỉnh Nam Định” nghiên cứu thành công có ý nghĩa quan trọng trong
lịch-việc nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, góp phần thực hiện tốt mụctiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Nam Định hiện nay
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và thực tiễn quản lý hoạt động đào tạo nghề ở cáctrường Trung cấp nghề Từ đó đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động đàotạo nghề ở Trường Trung cấp Thương mại - Du lịch - Dịch vụ tỉnh Nam Định,góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực cho tỉnh trong giaiđoạn hiện nay
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý hoạt động đào tạo nghề ở
Trường Trung cấp Thương mại - Du lịch - Dịch vụ tỉnh Nam Định.
Khảo sát thực trạng về quản lý hoạt động đào tạo nghề ở Trường
Trung cấp Thương mại - Du lịch - Dịch vụ tỉnh Nam Định
Đề xuất hệ thống biện pháp quản lý hoạt động đào tạo nghề ở TrườngTrung cấp Thương mại - Du lịch - Dịch vụ tỉnh Nam Định
4 Khách thể, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Trang 11Quản lý hoạt động đào tạo nghề ở Trường Trung cấp Thương mại - Du
Thời gian nghiên cứu khảo sát từ 2011 - 2014
5 Giả thuyết khoa học
Quản lý hoạt động đào tạo nghề ở Trường Trung cấp Thương mại - Du
lịch - Dịch vụ tỉnh Nam Định phụ thuộc vào nhiều yếu tố nếu xác lập được các biện pháp quản lý như: Tổ chức nâng cao nhận thức cho các chủ thể quản
lý hoạt động đào tạo nghề của nhà trường; chuẩn hoá đội ngũ giáo viên dạynghề; quản lý tốt hoạt động đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức dạy vàhọc nghề; phát huy tính tích cực, chủ động trong tự học, tự nghiên cứu của họcviên học nghề; thường xuyên kiểm tra, đánh giá quản lý hoạt động đào tạo nghề,
thì sẽ quản lý chặt chẽ và không ngừng nâng cao được chất lượng đào tạo nghề ở
Trường Trung cấp Thương mại - Du lịch - Dịch vụ tỉnh Nam Định hiện nay.
6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biệnchứng của chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm củaĐảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục và quản lý giáo dục đối với quản lý đào tạonghề nhằm phát triển con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đẩy mạnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tiếp cận nghiên cứu theo quan điểm hệthống - cấu trúc, lịch sử lôgíc và quan điểm thực tiễn trong nghiên cứu khoa học
* Phương pháp nghiên cứu
Trang 12Tác giả sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của khoa họcchuyên ngành, bao gồm các phương pháp nghiên cứu lý thuyết, nghiên cứuthực tiễn, để luận giải các nhiệm vụ của đề tài Cụ thể là:
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Sử dụng các phương pháp nghiên cứu lý thuyết, như: Phương pháp giảthuyết; phương pháp phân tích, tổng hợp lý thuyết, phân loại, hệ thống hoá,
mô hình hoá lý thuyết và tổng kết kinh nghiệm lịch sử để thu thập thông tinkhoa học trên cơ sở nghiên cứu các văn bản, tài liệu đã có và bằng các thaotác tư duy lôgic để làm rõ những cơ sở lý luận liên quan đến vấn đề nghiêncứu và rút ra các kết luận khoa học cần thiết
- Phương pháp quan sát khoa học
Quan sát cách thức tổ chức quản lý của Ban giám hiệu và cán bộ quản
lý các cấp
Quan sát tình hình tuyển sinh, tình hình triển khai thực hiện nội dungchương trình, đội ngũ giáo viên, tình hình cơ sở vật chất, tài chính để nắmbắt thực tế tình hình đang diễn ra ở nhà trường
- Phương pháp điều tra
Sử dụng phiếu trưng cầu ý kiến để điều tra xã hội học với cán bộ, giáoviên nhà trường; học viên đang học nghề tại nhà trường; học sinh đã tốtnghiệp và cán bộ quản lý các doanh nghiệp
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Phân tích, xem xét những kết quả đào tạo của Trường về quản lý đào tạonghề nhằm rút ra những kết luận, bài học kinh nghiệm tìm ra giải pháp phùhợp với thực tiễn
- Phương pháp xin ý kiến chuyên gia
Xin ý kiến một số nhà khoa học về các vấn đề của đề tài nghiên cứu.Người nghiên cứu trực tiếp gửi bài, trực tiếp xin ý kiến và nêu những vấn đề
Trang 13trao đổi với chuyên gia Các chuyên gia đọc và nhận xét bằng văn bản, đồngthời trực tiếp trao đổi với người nghiên cứu.
- Phương pháp toán học trong nghiên cứu khoa học
Sử dụng toán học để xử lý các tài liệu đã thu thập được từ các phươngpháp nghiên cứu khoa học khác nhau Thông qua các số liệu thu thập đượcbằng phiếu hỏi để phân tích, xử lý bằng phương pháp thống kê toán học nhằmđảm bảo độ tin cậy của các kết quả liên quan
7 Ý nghĩa của đề tài
Đề tài là một công trình nghiên cứu có ý nghĩa lý luận và thực tiễn tốtcho công tác đào tạo nghề, quản lý hoạt động đào tạo nghề và rất thiết thựctrong nâng cao hiệu quả đào tạo nghề của nhà trường
Nghiên cứu đề tài thành công có thể làm tài liệu giảng dạy và nghiên cứu ởcác trung tâm dạy nghề, trường nghề trong cả nước nói chung và ở Trường Trung
cấp Thương mại - Du lịch - Dịch vụ tỉnh Nam Định nói riêng.
8 Kết cấu của đề tài
Đề tài có kết cấu bao gồm 3 chương (9 tiết); kết luận và kiến nghị; danhmục tài liệu tham khảo và phụ lục
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO NGHỀ Ở
TRƯỜNG TRUNG CẤP CHUYÊN NGHIỆP 1.1 Quan niệm về quản lý hoạt động đào tạo nghề ở các trường Trung cấp chuyên nghiệp
1.1.1 Khái niệm nghề, hoạt động đào tạo nghề
* Khái niệm nghề
Mỗi quốc gia đều có sự khác nhau nhất định về quan niệm nghề Chođến nay thuật ngữ “nghề” được hiểu và định nghĩa theo nhiều cách khác nhau.Chẳng hạn: Ở một số nước, nghề được hiểu là một loại hoạt động lao động đòihỏi có sự đào tạo nhất định và thường là nguồn gốc của sự sinh tồn Ở Tây Âu,nghề là một loại lao động có thói quen về kỹ năng, kỹ xảo của một người để từ
đó tìm được phương tiện sống Ở Việt Nam hiện nay, nghề được hiểu là mộttập hợp lao động do sự phân công lao động xã hội quy định mà giá trị của nótrao đổi được
Mặc dù quan niệm nghề được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau, songchúng ta có thể nhận thấy một số nét đặc trưng chung nhất định sau:
Nghề là hoạt động, là công việc của con người được lặp đi lặp lại nóicách khác, đây là công việc thường xuyên của con người, mỗi người, tùy theotrình độ, sức khỏe, môi trường sống, nhu cầu xã hội mà có thể chọn chomình một nghề phù hợp Nghề là sự phân công lao động xã hội, phù hợp vớiyêu cầu xã hội Mỗi một xã hội, tùy vào trình độ phát triển mà sẽ có nhữngyêu cầu về ngành nghề khác nhau Nghề là phương tiện để sinh sống; là laođộng kỹ năng, kỹ xảo chuyên biệt có giá trị trao đổi trong xã hội và đòi hỏiphải có một quá trình đào tạo nhất định
Như vậy, nghề là một hiện tượng xã hội có tính lịch sử, phổ biến gắnchặt với sự phân công lao động, với tiến bộ khoa học và văn minh nhân loại,
và chừng nào con người, xã hội con người còn tồn tại thì vẫn còn có nhu cầu
về nghề và học nghề
Trang 15* Hoạt động đào tạo nghề
Hoạt động đào tạo nghề ở nhà trường bao gồm hoạt động dạy nghề(GV) và học nghề (HV), nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo nghềnghiệp, đáp ứng mục tiêu yêu cầu đào tạo của nhà trường và mục đích sửdụng lao động của các doanh nghiệp và xã hội
Hoạt động đào tạo nghề gồm chủ thể (GV) và đối tượng (HV):
Dạy nghề: Là quá trình giảng viên truyền bá những kiến thức về lýthuyết và thực hành để HV có được một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự khéoléo, thành thục nhất định về nghề nghiệp Nhờ có nền tảng giáo dục - đào tạo,trong đó có đào tạo nghề, người lao động có thể nâng cao được kiến thức và
kĩ năng nghề của mình, qua đó nâng cao năng suất lao động, góp phần pháttriển kinh tế Như vậy có thể thấy, đào tạo nghề là một thành tố và là thành tốquan trọng nhất, có ý nghĩa quyết định phát triển nguồn nhân lực Muốn cónguồn nhân lực chất lượng cao, có khả năng cạnh tranh trên thị trường laođộng, song song với các cơ chế chính sách sử dụng có hiệu quả nguồn nhânlực, cần phải tăng cường đầu tư nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo nóichung và đào tạo nghề nói riêng
Học nghề: Là quá trình tiếp thu những kiến thức về lý thuyết và thựchành của người lao động để đạt được một trình độ nghề nghiệp nhất định
Các lý thuyết tăng trưởng gần đây chỉ ra rằng, một nền kinh tế muốntăng trưởng nhanh và ở mức cao phải dựa trên ít nhất ba trụ cột cơ bản: ápdụng công nghệ mới; phát triển hạ tầng cơ sở hiện đại và nâng cao chất lượngnguồn nhân lực Trong đó, động lực quan trọng nhất của sự tăng trưởng kinh
tế bền vững chính là những con người được đào tạo, đặc biệt là nhân lực có
kỹ năng nghề cao Trong bối cảnh các nguồn lực tự nhiên và nguồn lực khác
là hữu hạn và ngày càng có nguy cơ cạn kiệt, thì nguồn nhân lực có chấtlượng chính là vũ khí mạnh mẽ nhất để giành thắng lợi trong cạnh tranh giữacác nền kinh tế
Trang 16Nguồn nhân lực chất lượng cao, là những con người được đầu tư pháttriển, có kỹ năng, kiến thức, tay nghề, kinh nghiệm, năng lực sáng tạo (nóicách khác, đó chính là năng lực thực hiện của nguồn nhân lực) Năng lực thựchiện này chỉ có thể có được thông qua giáo dục đào tạo và tích lũy kinhnghiệm trong quá trình làm việc Như vậy, có thể thấy, vai trò quyết định củađào tạo nghề nghiệp đối với việc hình thành và phát triển năng lực thực tiễnnghề nghiệp của con người
Hoạt động đào tạo nghề ở các trường Trung cấp chuyên nghiệp thựcchất là việc lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, kiểm tra hoạt động đào tạo củanhà trường nhằm đạt mục tiêu ban đầu đã đề ra
Từ quan niệm trên tác giả cho rằng:
Hoạt động đào tạo nghề ở Trường Trung cấp chuyên nghiệp là sự cụ thể hóa mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức đào tạo nghề, nhằm truyền đạt kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo đến người học, qua đó biến đổi năng lực người học, tạo ra năng lực cần thiết thực hiện thành thạo một loại công việc nào đó đáp ứng yêu cầu phát triển xã hội trong những giai đoạn nhất định.
Mục tiêu đào tạo nghề ở các trường TCCN là trang bị cho người học(người lao động) những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp nhằm thựchiện thành thạo một công việc nào đó trong thực tiễn Đây là quá trình giảiquyết đồng thời hai mối quan hệ của một quá trình đào tạo: GV - HV và HV -
GV, trong đó GV là người giữ vai trò quan trọng không thể thiếu trong tổchức, hướng dẫn, định hướng ngời học Học viên học nghề là người quyếtđịnh cuối cùng đến chất lượng học tập của bản thân mình
Nội dung đào tạo nghề là hệ thống những kiến thức trên tất cả các lĩnhvực liên quan trực tiếp đến nghề nghiệp của HV và nhu cầu của xã hội sau khi
ra trường Do đó, vấn đề đặt ra trong quá trình đào tạo của các nhà trườngkhông phải ở chỗ đào tạo cái mà nhà trường đang có, mà đào tạo cái xã hội
Trang 17đang cần Bởi vậy, để khẳng định được năng lực đào tạo với xã hội, khẳngđịnh uy tín, thương hiệu, chất lượng của nhà trường với xã hội, mỗi nhàtrường cần phải chứng minh cho xã hội thấy chất lượng sản phẩm đào tạocũng như nhu cầu các doanh nghiệp sử dụng lao động Hiện nay, quá trìnhtoàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ tác động theo haichiều thuận, nghịch khác nhau đến đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hộicủa mỗi nước, trong đó có đào tạo nghề, đòi hỏi việc đào tạo nghề ở cáctrường nghề nói chung, trường trung cấp chuyên nghiệp nói riêng phải đạtnhững tiêu chuẩn về chất lượng, người học khi ra trường phải hội đủ nhữngtiêu chuẩn về trình độ, tay nghề, chuyên môn đáp ứng nhu cầu ngày càng caocủa thị trường lao động trong nước và quốc tế.
Vai trò của đào tạo nghề đối với nâng cao chất lượng nguồn nhân lựcđược thể hiện thông qua chính nhu cầu phát triển của nền kinh tế Nhu cầucủa nền kinh tế công nghiệp đòi hỏi phải phát triển đội ngũ lao động có kiếnthức, có kỹ năng nghề nghiệp cao, có khả năng làm chủ được các phươngtiện, máy móc, làm chủ được công nghệ Đây có thể nói là nhu cầu kháchquan của nền kinh tế, đòi hỏi phải đầu tư cho hoạt động đào tạo nghề ở cáctrường Trung cấp chuyên nghiệp
1.1.2 Khái niệm quản lý hoạt động đào tạo nghề ở các trường Trung cấp chuyên nghiệp
Quản lý là một trong những loại hình lao động đặc biệt của con người.Quản lý đề cập tới nghệ thuật hoạch định kế hoạch tại mức cao nhất và hiệuquả nhất có thể Đó là nhiệm vụ của các nhà lãnh đạo trong các nhà trường,các cơ quan, đơn vị nhằm tập trung vào xây dựng một cấu trúc nền tảngvững chắc cho hoạt động của đơn vị mình, theo đó các vấn đề mới khôngngừng được bổ sung thông qua những nỗ lực phối kết hợp của các nhânviên, người lao động Là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích củangười lãnh đạo lên tập thể những người lao động, các khách thể quản lý; sử
Trang 18dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các cơ hội của tổ chức mình để đạt tớimục đích, mục tiêu theo đúng luật định Theo Henry Fayol, nhà lý luận quản
lý người Pháp, “Quản lý hành chính là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra” Theo Từ điển tiếng Việt, “Quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” Theo tác giả Trần Văn Bình, “Quản lý là một nghệ thuật đạt được mục tiêu đề ra thông qua việc điều khiển phối hợp, hướng dẫn, chỉ huy hoạt động của những người khác”.
Mặc dù vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau xung quanh vấn đề này, nhưngcác định nghĩa trên đều có những điểm chung, thống nhất đó là: coi quản lý làhành động thống nhất, có tổ chức, có mục đích của các chủ thể quản lý (cánhân, tổ chức) tác động đến khách thể quản lý (con người, tổ chức, quytrình ) thông qua các hành động như lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, chỉ đạo,kiểm tra nhằm hướng đến những mục tiêu xác định
Là một bộ phận cấu thành của công tác quản lý nói chung, quản lý đàotạo nghề trong Nhà trường được hiểu là hệ thống những tác động có mụcđích, có kế hoạch và hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm tác động vào cácthành tố của quá trình đào tạo, qua đó làm cho hệ thống các thành tố đó pháttriển, vận hành ổn định theo mục đích đề ra, đảm bảo cho sản phẩm đào tạođạt được các chuẩn mực xác định đáp ứng yêu cầu của xã hội và sự phát triểnkinh tế, xã hội
Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xãhội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích đã đề ra Sựtác động của quản lý, phải bằng cách nào đó để người chịu quản lý luôn luôn
hồ hởi, phấn khởi đem hết năng lực và trí tuệ sáng tạo, bởi vậy, quản lý là mộtmôn khoa học sử dụng trí thức của nhiều môn khoa học tự nhiên và xã hộinhân văn khác như: toán học, thống kê, kinh tế, tâm lí và xã hội học… Nó còn
là một nghệ thuật đòi hỏi sự khôn khéo và tinh tế để đạt tới mục đích
Trang 19Từ cách tiếp cận trên, tác giả cho rằng: Quản lý hoạt động đào tạo nghề ở các trường Trung cấp chuyên nghiệp là hệ thống các hoạt động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý bằng hệ thống các chính sách, quy định, luật lệ, nguyên tắc, phương pháp và biện pháp cụ thể nhằm làm cho hệ thống đào tạo nghề vận hành, phát triển thống suốt, có chất lượng, đáp ứng những yêu cầu của xã hội trong những giai đoạn nhất định.
Tiếp cận dưới góc độ mục tiêu, quản lý đào tạo nghề là tổng thể cáchoạt động của các chủ thể quản lý từ xác định mục tiêu, nội dung, chươngtrình, kế hoạch đào tạo; xây dựng các điều kiện cần thiết khả thi: Đội ngũ GV,cán bộ quản lý, cơ sở vật chất, trường, xưởng, nguồn tài chính, môi trường sưphạm ; xác định quy mô phát triển số lượng, chất lượng của từng ngành nghềđào tạo; tổ chức chỉ đạo hoạt động dạy và học của thầy và trò; hoàn thiện cơchế tổ chức quản lý; phát triển cơ chế cộng đồng, phối hợp trong và ngoài; tổchức đánh giá chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề của cơ sở đào tạo nhằmhướng đến nâng cao chất lượng đầu ra của sản phẩm đào tạo Thực chất củaquản lý đào tạo nghề là tìm ra phương án tối ưu trên cơ sở giải quyết đồng bộ,
có hiệu quả các nhiệm vụ như xác định mục tiêu đào tạo, xây dựng quy trình,chương trình, nội dung, phương pháp đào tạo phù hợp với từng đối tượng đàotạo của nhà trường và yêu cầu của doanh nghiệp
Tiếp cận dưới góc độ hoạt động, quản lý đào tạo nghề là hoạt độngmang tính chủ quan của các chủ thể đào tạo trên cơ sở nắm bắt được cái tấtyếu, từ đó đề ra các chủ trương, biện pháp, phương pháp tác động tới đốitượng quản lý: con người, cơ sở vật chất, phương tiện phục vụ dạy học, đồngthời không ngừng nắm bắt, tranh thủ thời cơ, phát huy tối đa điều kiện, cơ hộihiện có, cả bên trong và bên ngoài, qua đó phát huy vai trò tích cực, tự giác,
Trang 20chủ động, sáng tạo của đối tượng quản lý vào thực hiện thắng lợi nhiệm vụgiáo dục – đào tạo của nhà trường.
1.1.3 Khái niệm quản lý hoạt động đào tạo nghề ở Trường Trung cấp nghề Thương mại – Du lịch – Dịch vụ tỉnh Nam Định
Thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước về đào tạo nghề được nêu
trong “Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010” và Quyết định số 48/2002
ngày 14/4/2002 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch mạnglưới trường dạy nghề giai đoạn 2002 - 2010; Quyết định số 07/2007/QĐ-BLĐTBXH ngày 02/10/2006 của Bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã
hội về “Quy hoạch phát triển mạng lưới trường Cao đẳng nghề, trường Trung cấp nghề, Trung tâm dạy nghề đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020”, trên cơ sở quán triệt sâu sắc các Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ; các
văn bản, hướng dẫn của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, với mục đíchtham gia đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho các đối tượng, góp phần cùngvới hệ thống chính trị tham gia giải quyết các vấn đề xã hội, tạo sự ổn định đểphát triển đất nước, tham gia xoá đói giảm nghèo cho địa phương
Quản lý là sự công tác liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể(người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý) về các mặtchính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế… bằng một hệ thống các luật lệ, các chínhsách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ramôi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng Đối tượng quản lý cóthể trên qui mô toàn cầu, khu vực, quốc gia, ngành, đơn vị, có thể là một conngười, sự vật cụ thể Quản lý thể hiện việc tổ chức, điều hành tập hợp người,công cụ, phương tiện tài chính,… để kết hợp các yếu tố đó với nhau nhằm đạtmục tiêu định trước Chủ thể muốn kết hợp được các hoạt động của đối tượngtheo một định hướng quản lý đặt ra phải tạo ra được “quyền uy” buộc đốitượng phải tuân thủ Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫncác quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục
Trang 21đích đã đề ra Sự tác động của quản lý, phải bằng cách nào đó để người chịuquản lý luôn luôn hồ hởi, phấn khởi đem hết năng lực và trí tuệ để sáng tạo ralợi ích cho bản thân, cho tổ chức và cho cả xã hội Quản lý là một môn khoahọc sử dụng trí thức của nhiều môn khoa học tự nhiên và xã hội nhân vănkhác như: toán học, thống kê, kinh tế, tâm lí và xã hội học… Nó còn là một
“nghệ thuật” đòi hỏi sự khôn khéo và tinh tế để đạt tới mục đích
Quản lý đào tạo nghề bao gồm các hoạt động cơ bản sau: xác định mụctiêu, nội dung, chương trình, kế hoạch đào tạo nghề Xây dựng các điều kiệncần thiết khả thi: Đội ngũ giáo viên, cán bộ kỹ thuật, cơ sở vật chất, trường,xưởng, nguồn tài chính, môi trường sư phạm Xác định quy mô phát triển sốlượng, chất lượng của từng ngành nghề đào tạo Tổ chức chỉ đạo hoạt độngdạy và học của thầy và trò Hoàn thiện cơ chế tổ chức quản lý, phát triển cơchế cộng đồng, phối hợp trong và ngoài Tổ chức đánh giá chất lượng và hiệuquả đào tạo nghề của nhà trường
Hoạt động đào tạo nghề có một số đặc trưng khác với giáo dục phổ thông
và giáo dục đại học Đó là hoạt động đào tạo nghề dựa trên cơ sở tiếp thu kết quảgiáo dục phổ thông để đào tạo về nghề nghiệp cho học sinh học nghề Việc đàotạo để hình thành năng lực nghề nghiệp giữ vai trò then chốt, chủ đạo Hoạt độngđào tạo nghề cần chú trọng đến một hệ thống các kỹ năng thông qua thực hành,luyện tập Đó chính là những yêu cầu, vị trí công tác, hoạt động nghề nghiệp củangười công nhân kỹ thuật sau khi được học nghề
Dạy nghề trong thời kỳ CNH-HĐH bao hàm nội dung rất phong phú từ
"Dạy chữ, dạy người, dạy nghề”, dạy đạo lý nghề nghiệp, dạy pháp luật, tác
phong công nghiệp Dạy nghề phải gắn liền với giải quyết việc làm, với sử dụngngười lao động có tay nghề, với phát triển nhân lực bồi dưỡng và trọng dụng nhântài Trước yêu cầu phát triển nguồn nhân lực thực hiện sự nghiệp CNH-HĐH,công tác đào tạo nghề cần phải được đẩy mạnh cả về số lượng và chất lượngtheo 2 hướng đào tạo nghề dài hạn và ngắn hạn, trong đó đào tạo nghề dài hạn
Trang 22giữ vai trò chủ đạo Chính vì vậy đào tạo nghề có tầm quan trọng góp phầnquyết định chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng sự nghiệp đổi mới và hội nhậpkinh tế quốc tế “Để đáp ứng yêu cầu về con người và nguồn nhân lực là nhân
tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ CNH - HĐH, cần tạochuyển biến cơ bản, toàn diện về GD-ĐT”
Từ cách tiếp cận trên, có thể quan niệm: Quản lý hoạt động đào tạo nghề ở Trường Trung cấp Thương mại - Du lịch - Dịch vụ tỉnh Nam Định là hoạt động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý (Đảng ủy, Ban Giám hiệu Nhà trường) lên khách thể quản lý (các cơ quan, khoa GV, HV ) bằng hệ thống các quy định, nguyên tắc, phương pháp quản lý cụ thể nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng yêu cầu của xã hội.
Mục đích quản lý là hướng đến hoàn thiện, chuẩn hóa nội dung, chương
trình, quy trình đào tạo, phương pháp tổ chức kiểm tra đánh giá kết quả, nângcao trình độ, năng lực chuyên môn của đội ngũ CB quản lý, GV, chất lượng đàotạo của Nhà trường, và được biểu hiện ở chất lượng đầu ra của sản phẩm, qua đókhẳng định vị thế, uy tín của Nhà trường đối với doanh nghiệp và người học,góp phần xứng đáng vào sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục
vụ ngày càng tốt hơn sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
Chủ thể quản lý hoạt động đào tạo nghề ở Trường Trung cấp Thương mại
- Du lịch - Dịch vụ tỉnh Nam Định là Đảng ủy, Ban Giám hiệu, các cơ quan chứcnăng được ủy quyền tham gia quản lý đào tạo như Phòng Đào tạo, ban khảo thí
và bảo đảm chất lượng, các khoa giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục và các cơquan liên quan Sự hoạt động đồng bộ, hiệu quả của các chủ thể là cơ sở, điềukiện tiên quyết nâng cao chất lượng đào tạo ở Trường Trung cấp nghề Thươngmại - Du lịch - Dịch vụ tỉnh Nam Định hiện nay Đòi hỏi các chủ thể quản lýphải có trình độ, kiến thức tương đối sâu, rộng về các vấn đề kinh tế, chính trị,
Trang 23văn hóa xã hội, quản lý đào tạo, đáp ứng được nhu cầu trước mắt cũng như sựphát triển bền vững lâu dài của Nhà trường.
Khách thể quản lý là toàn bộ con người, quy trình đào tạo, cơ sở vật
chất, phương tiện phục vụ nhiệm vụ nghiên cứu, tham khảo và học tập của
CB, GV, HV của Nhà trường Trong đó đội ngũ GV, CB quản lý đào tạo giữvai trò quyết định Nâng cao nhận thức, trách nhiệm, trình độ chuyên mônnghiệp vụ của đội ngũ này có ý nghĩa đặc biệt trong nâng cao chất lượng đàotạo của Nhà trường
Đối tượng quản lý là toàn bộ các quá trình, quy trình, các hoạt động của
thầy và trò gắn liền với hoạt động giáo dục - đào tạo nghề ở Nhà trường
Phương thức quản lý, quản lý hoạt động đào tạo ở trường Trung cấp
Thương mại - Du lịch - Dịch vụ tỉnh nam Định được thực hiện bằng những cáchthức, biện pháp tác động cụ thể khoa học Đó là tổng hợp những cách thức tácđộng có mục đích, có tổ chức của chủ thể quản lý đến các hoạt động dạy nghề vàhọc nghề nhằm đạt được các mục tiêu đã xác định
Phạm vi tác động của hệ thống các của biện pháp quản lý hoạt động đào tạo
ở nhà trường mang tính toàn diện, tác động hai nhân tố trung tâm và hai hoạt độngchủ yếu đó là hoạt động dạy và hoạt động học của quá trình đào tạo nghề
Quản lý hoạt động đào tạo nghề được tiến hành ở hai phương diện: Một
là, quản lý Nhà nước về đào tạo nghề; hai là, quản lý hành chính sự nghiệp
trong các trường Trung cấp chuyên nghiệp, cơ sở dạy nghề, ngành, lĩnh vực,địa phương về đào tạo nghề
Từ những phân tích trên có thể thấy, quản lý là sự kết hợp tổng hòa củacác phương pháp, biện pháp nhằm đạt tới: Thông qua quản lý để thúc đẩy tínhtích cực, tự giác của mỗi cá nhân, tổ chức trong thực hiện nhiệm vụ; góp phầntăng thêm sự hiểu biết lẫn nhau giữa mọi người, cá nhân và tập thể, qua đógiảm thiểu tối đa khoảng cách giữa người với người, cá nhân với tập thể, giữacác chủ thể quản lý và đối tượng quản lý; tăng cường hợp tác hỗ trợ lẫn nhau,
Trang 24thông qua hỗ trợ để làm được những việc mà một cá nhân không thể làmđược, nhằm tạo ra giá trị lớn hơn.
1.2 Nội dung quản lý hoạt động đào tạo nghề ở các Trường Trung cấp chuyên nghiệp
Nội dung quản lý hoạt động đào tạo nghề ở các Trường Trung cấpchuyên nghiệp chính là cụ thể hóa nội dung quản lý hoạt động từng thành tốtrong quá trình đào tạo; nội dung quản lý hoạt động đào tạo bao gồm:
* Quản lý mục tiêu, kế hoạch đào tạo nghề
Quản lý mục tiêu đào tạo nghề thực chất là xây dựng bản kế hoạch dạynghề theo chu trình: chuẩn bị (thu thập thông tin về ngành nghề); lập kế hoạch (kếhoạch nhân lực, vật lực, tài lực); tổ chức thực hiện (quản lý tiến độ thực hiện mụctiêu ); chỉ đạo (đôn đốc, giám sát phối hợp với các đơn vị ); kiểm tra (kiểm tratừng phần, kiểm tra tổng thể hoạt động đào tạo nghề…)
Kế hoạch hoạt động đào tạo của nhà trường nói chung và kế hoạch đàotạo nghề cho khóa học là thật sự cần thiết Kế hoạch đào tạo nghề là văn bảnpháp quy xác định danh mục và khối lượng nội dung các nghề đào tạo, cáchoạt động chính của nhà trường được phân chia theo thời gian và các nguồnlực đáp ứng cho hoạt động đào tạo nghề của nhà trường
Lập kế hoạch là nhiệm vụ thiết yếu, nó được coi là cơ sở pháp lý đểlãnh đạo nhà trường theo dõi tiến độ thực hiện các khóa học nghề Các bướclập kế hoạch tuân thủ tuần tự sau: Xác định mục tiêu đào tạo nghề, lựa chọncác chương trình đào tạo, viết tên khóa đào tạo, xác định tiêu chí đánh giákhoá học, xác định nguyên tắc đào tạo, lựa chọn phương pháp đào tạo, điềuchỉnh kế hoạch đào tạo Vì vậy quản lý kế hoạch đào tạo nghề cũng là nộidung rất quan trọng trong quá trình đào tạo của nhà trường
* Quản lý nội dung, chương trình đào tạo nghề
Trang 25Là quản lý việc xây dựng nội dung đào tạo nghề, kế hoạch đào tạo nghề
và nội dung chương trình đào tạo nghề, quản lý hoạt động đào tạo nghề thực
tế của giáo viên và học viên sao cho kế hoạch, nội dung, chương trình giảngdạy được thực hiện đầy đủ và đảm bảo về thời gian, quán triệt được các yêucầu của mục tiêu đào tạo
Khi xác định nội dung đào tạo nghề phải lựa chọn nội dung phù hợpvới mục tiêu đề ra, phát huy được tài nguyên, tiềm năng mà con người đangcần khai thác, phù hợp với phương hướng và chính sách phát triển kinh tế - xãhội của quốc gia, của địa phương, phản ánh và tiếp thu được tiến bộ khoa học
kỹ thuật Để thích ứng với nền kinh tế thị trường, nội dung chương trình đàotạo cần xây dựng theo hướng đào tạo công nhân kỹ thuật có diện nghề rộng,kiến thức hiện đại, sáng tạo và linh hoạt trong công việc sản xuất và kinhdoanh, dịch vụ
Quản lý nội dung, chương trình đào tạo nghề cũng được thực hiện theochu trình: chuẩn bị, lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo, kiểm tra
Chuẩn bị: Thu thập thông tin, phân tích ngành nghề, chú trọng cập nhật bổsung kiến thức mới, quán triệt kế hoạch, nội dung, chương trình đào tạo, chuẩn bịtài liệu, chuẩn bị cơ sở vật chất trang thiết bị, chuẩn bị đội ngũ giáo viên
Lập kế hoạch: kế hoạch về nhân lực, điều kiện, lịch trình tiến độ quytrình, kế hoạch dự giờ kiểm tra, kế hoạch tài chính vật tư, phương tiện
Tổ chức thực hiện: Xem xét nội dung chương trình các môn học, tiến
độ thực hiện, triển khai các kế hoạch đào tạo nghề
Chỉ đạo: Đôn đốc, giám sát phối hợp các đơn vị, giữa giáo viên vớiphòng ban, bộ môn, phối hợp nhà trường với đơn vị sử dụng lao động
Kiểm tra: Kiểm tra từng phần, từng bộ phận, tổng thể, kiểm tra kết quả,chất lượng, hiệu quả thực hiện chương trình đào tạo
* Quản lý đội ngũ giáo viên dạy nghề
Trang 26Bao gồm công tác tuyển chọn, sử dụng, đãi ngộ, đào tạo, bồi dưỡng đốivới đội ngũ giáo viên Quản lý đội ngũ giáo viên bao gồm cả việc quản lýthực hiện nhiệm vụ giảng dạy của đội ngũ giáo viên, của từng giáo viên quacác nội dung: Quản lý kế hoạch giảng dạy, việc đổi mới phương pháp giảngdạy, quản lý sinh hoạt chuyên môn, theo dõi chỉ đạo việc hoàn thiện các hồ sơ
sổ sách chuyên môn nghiệp vụ Theo dõi đôn đốc việc thực hiện, đánh giá kếtquả thực hiện các nhiệm vụ giảng dạy Theo dõi chỉ đạo thực hiện và đánh giákết quả thực hiện việc học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn và sưphạm của đội ngũ giáo viên, của từng giáo viên Nắm được các ưu điểm,khuyết điểm, đánh giá được sự tiến bộ các mặt về chính trị tư tưởng, phẩmchất đạo đức của từng giáo viên Tự đánh giá của giáo viên được xem là nộidung quan trọng, tự đánh giá sẽ tạo cơ sở cần thiết để đánh giá tổng thể về hiệuquả hoạt động của giáo viên Đánh giá giáo viên thông qua học viên Kiểm trađánh giá giáo viên thông qua đồng nghiệp và người quản lý được xem là cầnthiết Kiểm tra đánh giá được tiến hành theo định kỳ và đột xuất thông cáchình thức: Kiểm tra việc lên lớp, hội giảng, dự giờ, sinh hoạt sư phạm
* Quản lý học viên học nghề
Quản lý học viên học nghề thực chất là quản lý việc thực hiện các nhiệm
vụ học tập, rèn luyện của học viên trong quá trình đào tạo, nội dung quản lý chủyếu sau: Quản lý quá trình học tập trên lớp và ở nhà Quản lý việc thực hành cơbản ở xưởng và thực hành tại cơ sở sản xuất Theo dõi, tìm hiểu để nắm đượcnhững biểu hiện tích cực và tiêu cực trong việc thực hiện nhiệm vụ học tập,rèn luyện của học sinh, sinh viên Theo dõi thúc đẩy, khuyến khích học sinhphát huy các yếu tố tích cực, khắc phục những yếu tố tiêu cực để phấn đấuvươn lên đạt kết quả học tập và rèn luyện
Công cụ để người quản lý kiểm tra, đánh giá theo định kỳ và đột xuất thôngqua: Kiểm tra đầu vào (tuyển sinh) Kiểm tra việc lên lớp, kiểm tra miệng, kiểmtra viết, thi học kỳ, thi cuối năm học và kiểm tra đầu ra (thi tốt nghiệp)
Trang 27* Quản lý cơ sở vật chất thiết bị dạy và học nghề
Trong hệ thống giáo dục, nhất là dạy nghề, phương tiện dạy học, máymóc thiết bị và cơ sở vật chất, nguồn tài chính là điều kiện quan trọng gópphần quyết định chất lượng dạy học Việc đảm bảo cơ sở vật chất, tài chínhphục vụ đào tạo nghề nhằm:
Đảm bảo cung cấp đầy đủ máy móc thiết bị và nguyên vật liệu cho đào tạo.Đảm bảo đầy đủ nguồn tài chính cho việc xây dựng cơ sở vật chất và các hoạtđộng khác phục vụ cho quá trình dạy học Đảm bảo lớp học, xưởng thựchành, phòng thí nghiệm, thư viện, đáp ứng nhu cầu giảng dạy, học tập Cungcấp đầy đủ giáo trình tài liệu giảng dạy và học tập
* Quản lý thông tin trong đào tạo nghề
Có thể nói chức năng thông tin là phương tiện để thống nhất hoạt độngcủa hệ thống giáo dục và hệ thống quản lý giáo dục Nó là phương tiện cungcấp đầu vào cho hệ thống quản lý, đồng thời cũng là phương tiện để thay đổicách cư xử và để tác động lên sự thay đổi Do đó có thể định nghĩa thông tin
là bộ phận tri thức được sử dụng để định hướng, để tác động tích cực, để điềukhiển, nghĩa là nhằm duy trì tính đặc thù về chất, hoàn thiện và phát triển hệthống Thông tin là quá trình hai chiều, trong đó mỗi bộ phận, mỗi người vừa
là người nhận thông tin vừa là người phát tin Trong tổ chức thông tin là hệthống đan chéo nhau: thông tin giữa bộ phận cung cấp và giữa bộ phận cấptrên với bộ phận cấp dưới Đối với giáo dục thông tin nhằm những mục đích
cụ thể sau: Xây dựng và phổ biến các mục tiêu đào tạo và quản lý hoạt độngđào tạo nghề Lập các kế hoạch đào tạo nghề, kế hoạch quản lý hoạt động đào tạonghề Tổ chức nguồn nhân lực và các nguồn lực khác theo cách có hiệu quả nhấtnhằm đạt mục tiêu đào tạo nghề và mục tiêu quản lý hoạt động đào tạo nghề Lựachọn, phát triển và đánh giá các thành viên của tổ chức Lãnh đạo, hướng dẫn,điều khiển, thúc đẩy và tạo môi trường thuận lợi cho việc phát huy tính chủđộng, sáng tạo của những tổ chức hoặc cá nhân trong và ngoài trường thamgia hoạt động đào tạo nghề của nhà trường
Trang 28* Quản lý công tác tuyển sinh hợp tác đào tạo nghề
Chất lượng tuyển sinh có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng nhận thức,tiếp thu các kiến thức lý luận và kỹ năng nghề nghiệp mà nhà trường trang bị.Học sinh với tư cách vừa là một chủ thể vừa là đối tượng của quá trình dạynghề của nhà trường, sẽ có tác động tới chất lượng của hoạt động dạy nghề.Trong thực tế, hoạt động dạy nghề học sinh tự học hỏi lẫn nhau thông qua cácphương pháp làm việc theo nhóm, thảo luận, trao đổi … nên chất lượng tuyểnvào và tính đồng nhất về trình độ của học viên cũng được quan tâm Công tácquản lý tuyển sinh bao gồm: Tổng số học sinh tuyển mới cho khóa học phântheo ngành và hệ đào tạo Cách thức tuyển sinh của nhà trường và các tiêuchuẩn chấp nhận Điểm trung bình các môn học ở phổ thông và xếp hạng họctập Điểm trung bình các môn thi tốt nghiệp phổ thông Kết quả rèn luyện đạođức, động cơ học tập, năng khiếu cá nhân, sức khỏe thể chất và tinh thần củahọc viên khi nhập học
1.3 Nhân tố tác động đến quản lý hoạt động đào tạo nghề ở Trường Trung cấp Thương mại - Du lịch - Dịch vụ tỉnh Nam Định
* Tác động của toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế
Toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế thúc đẩy nhanh quá trình hình thành vàphát triển các thị trường vốn, hàng hóa, dịch vụ, công nghệ và lao động …,trong đó có dòng di chuyển nguồn nhân lực trình độ cao từ các nước pháttriển sang các nước đang phát triển để chiếm giữ vị trí then chốt về quản lý vàkinh doanh, dịch vụ chất lượng cao; bao gồm cả trong lĩnh vực giáo dục vàđào tạo, khoa học và công nghệ trong đó lĩnh vực đào tạo nghề được xem làvấn đề trọng tâm cần được quan tâm Điều đó đòi hỏi chúng ta phải phát triểnnhân lực qua đào tạo để chủ động tiếp cận những công nghệ mới, chuyển giao
và làm chủ tri thức, công nghệ Vì vậy, toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế mở ranhững cơ hội thuận lợi nhưng nó cũng đặt ra yêu cầu rất cao về nguồn nhân lực
có chất lượng và trực tiếp tác động đến chất lượng đào tạo ở Trường Trung cấpThương mại - Du lịch - Dịch vụ tỉnh Nam Định
Trang 29Xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế; trình độ phát triểnkhoa hoc công nghệ; sự phát triển kinh tế xã hội; cơ chế chính sách của nhànước; nhu cầu nhân lực lao động và cơ sở, doanh nghiệp sử dụng lao động quađào tạo; nhận thức của xã hội và tâm lý xã hội về học nghề lập thân, lập nghiệp
đó là không chỉ vào đại học là con đường duy nhất
* Tác động từ các chính sách của Nhà nước liên quan đến hoạt động đào tạo nghề
Có thể nói, chưa khi nào hoạt động đào tạo nghề, giải quyết việc làm lạiđược Nhà nước quan tâm như hiện nay Hệ thống văn bản, pháp luật, chính sáchcủa Nhà nước tạo hành lang pháp lý, môi trường thuận lợi, khuyến khích đào tạo,phát triển nghề Cụ thể ở đây là các chính sách đối với học viên học nghề, các chế
độ chính sách ưu đãi các cơ sở đào tạo nghề, các chính sách về sử dụng lao độngsau đào tạo như:
- Chính sách hỗ trợ dạy nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn
Để giải quyết nhanh và có hiệu quả, Thủ tướng Chính Phủ đã ra quyếtđịnh số: 81/2005/QĐ-TTg ra ngày 18 tháng 4 năm 2005 về chính sách hỗ trợdạy nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn
2007 của Thủ tướng Chính phủ về tín dụng đối với học sinh, sinh viên
Vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã ký phê duyệt Đề án "Hỗ trợ phụ nữ họcnghề, tạo việc làm giai đoạn 2010 - 2015" (số 295/QĐ-TTg, ngày 26/02/2010)
Quyết định số 1956/QĐ - TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chínhphủ phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”
Nhìn chung, trong thời gian qua những chính sách của Nhà nước tác
Trang 30động rất lớn đến môi trường đào tạo và dạy nghề Các chính sách đã tạo ra sựchuyển biến mạnh mẽ và tích cực về đào tạo nghề, người lao động được tạođiều kiện thuận lợi nhất để tham gia học nghề Tuy nhiên, các chính sách đàotạo nghề cũng còn rất nhiều hạn chế như: Một số chính sách, chế độ mangtính giải pháp, tình huống; thiếu tính khách quan, đồng bộ và không phù hợpvới từng vùng Thủ tục thực hiện các chính sách còn rườm rà, phức tạp, chưaphù hợp với trình độ và tâm lý của người học nghề, nhất là lao động nôngthôn nên chưa kích thích người dân tham gia Công tác phổ biến, tuyên truyền
tư vấn chưa sâu rộng nên rất ít người dân biết và tham gia các chương trình hỗtrợ đào tạo nghề
Hiện nay, nhiều chính sách đang chồng chéo với nhau, còn đào tạo theophong trào, theo chỉ tiêu (mà không quan tâm đến vấn đề việc làm sau khi đàotạo của người học nghề), gây lãng phí, hiệu quả không cao, chưa có sự hướngdẫn, phân định rạch ròi giữa các chính sách hỗ trợ đào tạo nghề của Nhà nướcgây khó khăn trong quá trình thực hiện Đây cũng là nguyên nhân dẫn đếnchất lượng và hiệu quả đào tạo nghề ở Trường Trung cấp Thương mại - Du lịch
- Dịch vụ tỉnh Nam Định chưa cao Do vậy Nhà nước cần rà soát, tháo gỡ nhữngchính sách không còn phù hợp và nâng cấp hoặc đưa ra những văn bản, chínhsách mới có tác dụng tích cực với xu thế và thời đại mới, nhằm nâng cao công tácđào tạo nghề, khuyến khích học nghề, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp pháttriển để thu hút nguồn nhân lực đã qua đào tạo; làm thúc đẩy nền kinh tế - xã hộivươn lên cùng với nền kinh tế của cả nước
* Tác động từ đội ngũ giáo viên đối với hoạt động đào tạo nghề
Trong những năm qua, cùng sự nghiệp phát triển đào tạo nghề, đội ngũgiáo viên dạy nghề của nhà trường tăng nhanh về số lượng, chất lượng, bảođảm cơ cấu, trình độ đào tạo nghề, kỹ năng nghề và năng lực sư phạm đượcnâng lên Đội ngũ giáo viên dạy nghề ngày càng được trẻ hóa, có khả năngtiếp cận nhanh với khoa học kỹ thuật hiện đại, có lòng nhiệt tình, yêu nghề,yêu công việc
Trang 31Bên cạnh những kết quả và tiến bộ đã đạt được, công tác phát triển vàđổi mới cơ chế chính sách đối với đội ngũ giáo viên dạy nghề còn nhiều bấtcập kéo dài, rất chậm được khắc phục Mặc dù số lượng giáo viên dạy nghềcủa nhà trường những năm qua tăng đáng kể nhưng so với yêu cầu đổi mới vàphát triển dạy nghề, số lượng giáo viên vẫn còn thiếu Cơ cấu các chuyênngành nghề đào tạo chưa hợp lý, một số nghề chưa có giáo viên được đào tạo
cơ bản, kỹ năng nghề còn hạn chế, tỷ lệ giáo viên dạy tích hợp còn thấp so vớiyêu cầu của chương trình đào tạo Trình độ ngoại ngữ, tin học của giáo viêndạy nghề còn yếu, hạn chế khả năng cập nhật công nghệ mới, ứng dụng tinhọc và các phương pháp sư phạm hiện đại Khả năng phát triển chương trình,biên soạn giáo trình, tài liệu dạy nghề còn hạn chế
Về chế độ tiền lương, hoạt động của giáo viên dạy nghề mang tính đặcthù, một mặt, họ là nhà sư phạm, mặt khác là một “kỹ thuật viên”, chính sáchtiền lương chưa thể hiện sự ưu đãi mang tính đặc thù đó Đó là một trongnhững nguyên nhân dẫn đến tình trạng không thu hút được những người cótrình độ, có tay nghề giỏi, có kinh nghiệm trong sản xuất chuyển về làm giáoviên Ngược lại, nhiều giáo viên có trình độ tay nghề giỏi lại muốn chuyển rasản xuất tại các doanh nghiệp để có thu nhập cao hơn Ngoài ra, chưa có nhữngchính sách khuyến khích động viên đối với giáo viên tự phấn đấu nâng cao trìnhđộ; chưa có cơ chế, chính sách để doanh nghiệp và cơ sở dạy nghề tạo điều kiệncho giáo viên được đi nghiên cứu thực tế tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch
vụ hàng năm
Người học chưa mặn mà với việc học nghề, tâm lý của học viên chỉ coihọc nghề như giải pháp tạm thời, là chỗ trú chân sau khi không thi đỗ vào cáctrường cao đẳng, đại học Thêm vào đó, có những ngành nghề thì thừa giáoviên, trong khi đó nhiều ngành nghề khác lại thiếu giáo viên, nhất là giáo viêncác ngành kỹ thuật công nghiệp có năng lực thực hành
* Tác động từ chất lượng đầu vào của học viên học nghề
Chất lượng đầu vào cao hay thấp của học viên học nghề ảnh hưởng rấtlớn đến chất lượng đào tạo của nhà trường Chất lượng đầu vào học viên được
Trang 32thể hiện qua các khía cạnh như: trình độ văn hóa, sở thích, nguyện vọng, sứckhỏe, khả năng về kinh tế của họ Một học viên có điểm xuất phát cao về vănhóa, có sức khỏe tốt và khả năng kinh tế đảm bảo là điều kiện cần để tiếp cậnvới kiến thức nghề nghiệp Ngược lại, nếu học viên có điểm xuất phát thấp vềvăn hóa, sức khỏe sẽ ảnh hưởng phần nào đến khả năng tiếp cận kiến thức vàchất lượng đào tạo Tuy nhiên, để làm chủ và hình thành kỹ năng nghề nghiệpcòn phụ thuộc vào quá trình theo học, nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp có đúngvới nguyện vọng, sở thích hay không, từ đó người học nghề có thể phát huyhết khả năng, sở trường của mình.
Công tác tuyển, chọn học viên học nghề ở Trường Trung cấp Thươngmại - Du lịch - Dịch vụ tỉnh Nam Định có vai trò rất quan trọng và được quantâm đúng mức của các cấp lãnh đạo từ Tỉnh đến Huyện tạo sự đồng thuậntrong chỉ đạo và tổ chức thực hiện chương trình đào tạo nghề cho người laođộng tại địa phương Trong công tác tuyển sinh của nhà trường ngoài việcđảm bảo Quy chế còn phải đúng tinh thần chỉ đạo trong việc đảm bảo chấtlượng đào tạo nguồn nhân lực cho địa phương
* Tác động của nội dung, chương trình, giáo trình đào tạo nghề
Các chương trình khung của từng nghề ở trình độ Trung cấp nghề Bộ Laođộng - Thương binh và Xã hội (Bộ LĐ-TB&XH) mới ban hành nên các cơ sở dạynghề đang bắt đầu triển khai thực hiện
Dạy nghề ngắn hạn đã phát triển về số lượng: bước đầu có sự đầu tư vềđội ngũ cán bộ, cơ sở vật chất phương thức đào tạo nên đã thu hút được nhiềungười theo học
Nhà trường đã kết hợp với một số công ty, doanh nghiệp, nghệ nhân đểđào tạo nghề Nhiều người học xong, đã ký hợp đồng lao động với công ty
Mô hình đào tạo nghề kết hợp với sử dụng đang được các ngành khuyếnkhích mở rộng Song hoạt động đào tạo ở các công ty trên đều xuất phát từnhu cầu thiếu lao động nên thời gian đào tạo kết hợp với kết cấu nội dungchương trình đào tạo còn bất hợp lý, do đó mới chỉ hình thành được một số kỹnăng lao động cần thiết cho sản xuất nên hiệu quả lao động thấp
Trang 33Kế hoạch đào tạo đã hợp lý giữa lý thuyết và thực hành; kết cấuchương trình có sự liên kết chặt chẽ giữa các bậc đào tạo nghề và giữa cácmôn học Tuy nhiên điều kiện dạy và học như: Giáo trình, thiết bị, thói quennghề nghiệp và kinh nghiệm còn hạn chế nên kết quả còn thấp Hầu như nhàtrường chưa chủ động biên soạn được nội dung chương trình và giáo trình đàotạo Do không đủ đội ngũ giáo viên có trình độ chuyên môn và sư phạm cầnthiết nên chủ yếu sử dụng chương trình đào tạo của các trường khác có sựđiều chỉnh, cải tiến cho phù hợp với mục tiêu đối tượng và thời gian đào tạo.Giáo trình và các tài liệu tham khảo phục vụ cho dạy và học còn thiếu, chưađược cập nhật thường xuyên.
Mục tiêu, nội dung, chương trình, hình thức và phương pháp đào tạonghề chậm đổi mới Trong những năm gần đây, các cơ quan chức năng quản
lý đào tạo nghề của nhà trường đã có nhiều nỗ lực nhằm đổi mới các nội dungdạy nghề; bước đầu đã thu được những kết quả nhất định, song còn chưatương xứng với tiềm năng và yêu cầu đặt ra
* Tác động từ cơ sở vật chất, trang thiết bị đào tạo nghề của nhà trường
Thực hiện đổi mới phương pháp đào tạo của nhà trường hiện nay, vấn
đề lo nhất là cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học nghề Chất lượng của cáctrang thiết bị, cơ sở vật chất đòi hỏi phải theo kịp tốc độ đổi mới hiện đại hoácủa ngành nghề được đào tạo Đây là yếu tố hết sức quan trọng, nó tác độngtrực tiếp lên chất lượng đào tạo, đáp ứng với mỗi nghề dù đơn giản hay phứctạp cũng cần phải có các máy móc, trang thiết bị chuyên dùng phục vụ chogiảng dạy và học tập Trang thiết bị đào tạo nghề giúp cho người học nghề cóđiều kiện thực hành để hoàn thành kỹ năng sản xuất Điều kiện cơ sở vật chất,trang thiết bị dạy nghề càng tốt, càng hiện đại bao nhiêu, theo sát với máymóc phục vụ cho sản xuất tốt thì người học nghề có thể thích ứng, vận dụngnhanh chóng với sản xuất trong doanh nghiệp bấy nhiêu
Thiết bị đào tạo nghề của một số nghề chủ yếu thì phần lớn các trang
Trang 34thiết bị đào tạo của nhà trường không phải là các trang thiết bị phục vụ chocông tác đào tạo, máy móc thiết bị được thu lại từ nhiều nguồn khác nhau (hầuhết là các trang thiết bị cũ đã được thanh lý của các nhà máy, xí nghiệp) Do
đó, không có tính đồng bộ về hệ thống, tính sư phạm thấp, điều này ảnh hưởngtới chất lượng của đào tạo Để đáp ứng nhu cầu đào tạo với quy mô lớn tronghiện tại và tương lai đòi hỏi nhà trường phải cố gắng, nỗ lực đầu tư hơn nữa đểnâng cao chất lượng, tương xứng với quy mô đào tạo
*
* *Quản lý hoạt động đào tạo nghề ở trường Trung cấp Thương mại - Dulịch - Dịch vụ tỉnh Nam Định giữ một vị trí đặc biệt quan trọng trong quá trìnhđào tạo Qua phân tích làm rõ các khái niệm cơ bản về chất lượng đào tạonghề, nội dung quản lí chất lượng đào tạo nghề, các nhân tố tác động đến quản lýchất lượng đào tạo ở Trường trung cấp nghề, đó là những vấn đề có tính chất cốtlõi làm cơ sở lý luận cho việc quản lý chất lượng đào tạo nghề ở Trường Trungcấp nghề nói chung và Trường Trung cấp Thương mại - Du lịch - Dịch vụ tỉnhNam Định nói riêng, những vấn đề có tính chất lý luận trên đây là tiền đề lý luận
để khẳng định quản lý hoạt động đào tạo nghề ở Trường Trung cấp Thương mại
- Du lịch - Dịch vụ tỉnh Nam Định đó là tổng thể cách thức, biện pháp của chủthể quản lý đến toàn bộ quá trình đào tạo trong nhà trường, đồng thời quản lýmức độ phù hợp và thích ứng của người tốt nghiệp với thị trường lao động để tỷ
lệ có việc làm sau tốt nghiệp, năng lực hành nghề tại các vị trí làm việc cụ thể ởcác doanh nghiệp, các tổ chức cá nhân sản xuất, dịch vụ và khả năng phát triểnnghề nghiệp đảm bảo đạt mục tiêu đã đề ra
Những vấn đề có tính chất lý luận trên đây còn là cơ sở cho việc khảosát, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động đào tạo nghề ở Trường Trung cấpThương mại - Du lịch - Dịch vụ tỉnh Nam Định, từ đó xác định những biện pháp
Trang 35khả thi góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nghề ở Trường Trung Thươngmại - Du lịch - Dịch vụ tỉnh Nam Định hiện nay.
Trường trung cấp Thương mại - Du lịch - Dịch vụ tỉnh Nam Định là đơn vị
sự nghiệp trực thuộc Sở lao động thương binh xã hội là cơ quan chủ quản, đượcthành lập theo Quyết định số 2269/QĐ-UBND ngày 09 tháng 10 năm 2009 của
Ủy ban Nhân dân tỉnh Nam Định trên cơ sở hợp nhất giữa Trường Dạy nghềThương mại - Du lịch - Dịch vụ Nam Định và Trung tâm Dạy nghề huyện GiaoThuỷ Trường là cơ sở dạy nghề công lập thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, hoạtđộng theo quy định của pháp luật và điều lệ đã được UBND tỉnh phê duyệt theoquyết định số 738/QĐ-UBND của UBND tỉnh Nam định
Năm 2012 Nhà trường chuyển trụ sở làm việc từ số 140, đường Giảiphóng, thành phố Nam định về địa điểm mới tại Xã Nam Vân, ngoại thànhNam định, được tiếp quản lại cơ sở của Trung tâm chữa bệnh - giáo dục - laođộng xã hội tỉnh Nam Định
* Ban giám hiệu nhà trường: gồm 03 đồng chí:
- Hiệu trưởng: Cao Chí Nguyện
- Phó Hiệu trưởng: Lã Duy Tuấn
- Phó Hiệu trưởng: Nguyễn Thị Thanh
Tổng số cán bộ viên chức và hợp đồng lao động thường xuyên có đóngBHXH tại đơn vị hiện nay là 51 đ/c HTCT nhà trường gồm có chi bộ đảngtrực thuộc Đảng ủy khối các cơ quan tỉnh Nam định, có 23 đảng viên, tổ chức
Trang 36công đoàn trường trực thuộc Công đoàn viên chức tỉnh Nam định, tổ chứcĐoàn TNCSHCM và Hội cựu chiến binh trực thuộc khối các cơ quan tỉnhNam định.
* Các Phòng (2 phòng)
- Phòng Hành chính: Trưởng phòng Phạm Văn Thắng
- Phòng Đào tạo: Trưởng phòng Trần Thị Phương Lan
* Các khoa (4 khoa)
- Khoa Khách sạn nhà hàng: Trưởng khoa - Trần Văn Duy
- Khoa Thương mại - Du lịch: Trưởng khoa - Nguyễn Thị Hà
- Khoa Cơ bản: Trưởng khoa - Phạm Thị Hoài Thu
- Khoa May - Thiết kế thời trang: Trưởng khoa - Nguyễn Thị Minh Thùy
* Các ngành nghề đào tạo (10 chuyên ngành)
Bao gồm: Quản trị khách sạn; Kĩ thuật chế biến món ăn; Kế toán doanhnghiệp; May thời trang; Nuôi trồng thủy sản; Chăn nuôi gia súc, gia cầm; Kĩthuật chế biến món ăn; May công nghiệp; Hàn; Móc sợi
* Hệ đào tạo: Nhà trường đạo tạo hệ Trung cấp và hệ Sơ cấp;
- Đối với hệ Trung cấp gồm: Hệ trung cấp học 02 năm đối với học sinh
đã tốt nghiệp THPT
- Hệ Trung cấp học 03 năm đối với học sinh tốt nghiệp Trung học cơ sởvừa học nghề và vừa học văn hóa khi tốt nghiệp được cấp 02 bằng là bằngnghề và bằng tốt nghiệp THPT
2.2.1 Đội ngũ giáo viên dạy nghề i ng giáo viên d y ngh ũ giáo viên dạy nghề ạy nghề ề
CBQL TS Tuổi đời Học vị Thâm niêncông tác Thâm niênquản lý quaĐã
Trang 37ĐT về QL
* Đánh việc thực hiện mục tiêu đào tạo nghề:
Những năm gần đây số lượng học viên so với những năm trước giảmnhiều do hiệu ứng của vấn đề dân số, giải quyết việc làm gặp nhiều khó khăn,tâm lý chung của xã hội chưa thực sự quan tâm đến học nghề, chỉ chấp nhậnhọc nghề khi không còn con đường nào khác tình trạng “thừa thầy thiếu thợ”đang phổ biến trong xã hội hiện nay Mặc dù vậy trong đào tạo dạy nghề nhàtrường luôn gắn liền với thực tế, có kế hoạch tổ chức cho học sinh các lớp đi họcthực hành tại doanh nghiệp nhằm nâng cao kỹ năng nghề, đảm bảo sau khi ra trường
có thể lao động và làm việc được ngay Bên cạnh việc tập trung đào tạo các nghề đangđược ưa chuộng và có nhiều cơ hội làm việc như nấu ăn, nhà hàng, dịch vụ kháchsạn,…trường còn tổ chức đào tạo nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn
* Đánh giá việc thực hiện nội dung chương trình kế hoạch dạy nghề:
Nhà trường xây dựng kế hoạch và tổ chức đào tạo cho học viên các lớptheo đúng tiến độ Tổ chức thi học kỳ, thi tốt nghiệp theo đúng quy chế.Phương châm của nhà trường là tiến hành quy trình đào tạo khép kín, từ khâutuyển sinh, đào tạo dạy nghề đến khâu liên hệ giải quyết việc làm ngay từ khi học
Trang 38sinh còn đang học nhà trường, liên kết với các tổ chức xuất khẩu lao động tại nướcngoài Nhà trường coi trọng thực hành, rèn luyện tay nghề cho học viên đồng thời
đa dạng hóa hình thức đào tạo đáp ứng nhu cầu học nghề của xã hội
* Đánh giá hoạt động dạy nghề của giáo viên:
Công tác quản lý học viên được coi trọng, bước đầu xây dựng được kỷcương, nền nếp dạy và học của giáo viên, học viên Nhà trường tổ chức bồi dưỡnggiáo viên, nâng cao năng lực sư phạm cho giáo viên thông qua dự giờ, hộigiảng cấp khoa, cấp trường; tích cực đổi mới tư duy và phương thức dạy nghềđối với từng chuyên ngành đào tạo
Đến nay đội ngũ CBQL, GV đang dần chuẩn hóa về kiến thức, kỹnăng, giảng dạy đúng chuyên môn đào tạo, có phẩm chất chính trị, đạo đứcnhà giáo, tâm huyết với nghề nghiệp Một số đồng chí đang theo học đào tạothạc sỹ, một số đồng chí đang tiếp tục học liên thông lên Đại học
Công tác quản lý tập trung chỉ đạo các khoa, phòng xây dựng kế hoạch hoạtđộng và phân công công tác cho từng cán bộ nhân viên, giúp học viên hoàn thànhtốt nhiệm vụ học nghề
* Đánh giá hoạt động học nghề của học viên:
Do đặc điểm số học viên vào học tại trường đa số học sinh học hết phổthông trung học, học lực văn hóa yếu, ý thức rèn luyện chưa cao, qua các nămhọc trong nhà trường các em học sinh đã có nhiều tiến bộ, b ước đầu xây dựngđược kỷ cương, nền nếp dạy và học của giáo viên và học viên Trong đào tạo nghềnhà trường luôn gắn liền với thực tế, có kế hoạch tổ chức cho học viên các lớp đihọc thực hành tại doanh nghiệp nhằm nâng cao kỹ năng nghề, đảm bảo sau khi ratrường học viên có thể lao động và làm việc được ngay Ngoài ra học viên được nhàtrường giới thiệu, khuyến khích đi làm thêm tại các nhà hàng, khách sạn để vừa cóthêm thu nhập trang trải cuộc sống vừa rèn luyện tay nghề
* Đánh giá kết quả đào tạo nghề của nhà trường:
Với sự quan tâm của các cấp ủy Đảng, chính quyền và Đoàn thể các
Trang 39cấp, cùng với sự phối hợp chặt chẽ và hiệu quả của hệ thống chính trị, sự cốgắng, phấn đấu của học viên những năm qua chất lượng đào tạo nghề của nhàtrường ngày càng được nâng cao, hiệu quả thiết thực Nhà trường lấy hiệu quảthực tiễn để khẳng định thương hiệu như cam kết khi tuyển sinh, đó là họcsinh ra trường có việc làm và thu nhập ổn định Học viên trong nhà trườngchăm ngoan, tích cực rèn nghề và hứng thú khi tham gia các hoạt động phongtrào do nhà trường tổ chức
Tuy nhiên, chất lượng đội ngũ lao động xuất khẩu của ta mặc dù đượccải thiện nhưng nhìn chung còn hạn chế Yếu nhất là khâu ngoại ngữ, taynghề chưa đáp ứng được nhu cầu của công nghệ sản xuất hiện đại, nhận thức
về chủ thợ chưa rõ ràng, ý thức kỷ luật và chấp hành hợp đồng đã ký kết của một
số bộ phận lao động còn kém, Không ít người lao động quan niệm đi làm việc ởnước ngoài là để kiếm tiền nhiều, khi không đạt được thì vô kỷ luật, bỏ hợp đồng
đi làm việc khác, gây ảnh hưởng đến uy tín lao động Việt Nam
Nguyên nhân của sự giảm sút đó là:
- Trang thiết bị hiện nay ở các cơ sở dạy nghề thiếu thốn, lạc hậu
- Đội ngũ giáo viên dạy nghề chuyên nghiệp bị phân tán, giảm về sốlượng Trình độ không được nâng cao cho phù hợp với sự phát triển nhanhchóng của khoa học - công nghệ Trình độ sư phạm và quản lý nhiều năm qua
ít được chú ý, bổ sung, bồi dưỡng, đào tạo lại
- Chương trình nội dung đào tạo, hệ thống giáo trình vẫn trong tìnhtrạng lạc hậu, thiếu thống nhất, không theo một chuẩn mực nào, vì vậy khôngtheo kịp sự tiến bộ của khoa học - công nghệ mới
Tổng hợp những ý kiến trên, dẫn đến chất lượng đào tạo đặc biệt là đàotạo kỹ năng nghề của người học nghề chưa đáp ứng được yêu cầu của thịtrường lao động, nên rất khó tìm việc làm; thiếu công nhân lành nghề, côngnhân bậc cao, không đáp ứng được yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đạihóa Có thể nói rằng, bắt đầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
Trang 40nước là quá trình phát triển theo chiều sâu, trong đó chất lượng lao động có ýnghĩa quyết định Cùng với việc mở rộng qui mô đào tạo, nâng cao chất lượngdạy nghề là một đòi hỏi khách quan, cấp bách nhằm thực hiện thắng lợi sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một tất yếu khách quan đối với nước
ta nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội cao hơn cả haimặt: trình độ kỹ thuật và cơ cấu sản xuất gắn liền với thành tựu của cáchmạng khoa học - công nghệ hiện đại
Công nghiệp hóa - hiện đại hóa còn đòi hỏi phải có một cơ cấu laođộng hợp lý, phải có một tỉ lệ phù hợp của nguồn lực lao động có chất lượng.Phải chú ý đến công nhân lao động lành nghề, nâng cao năng lực thực hành
và tăng hàm lượng chất xám cho đội ngũ công nhân lành nghề và các kỹ nghệgia, kỹ thuật gia phải chiếm tỉ trọng chủ yếu Đây là một tiêu chí đòi hỏi sựphấn đấu không ngừng của cả nước, toàn xã hội, ngành Giáo dục, giáo dụcchuyên nghiệp và dạy nghề nói riêng trong giai đoạn trước mắt cũng như lâudài Trên thực tế, trong nhiều năm qua chúng ta mới đầu tư chú ý đến pháttriển giáo dục phổ thông và giáo dục đại học chưa coi trọng giáo dục nghềnghiệp, dẫn đến giáo dục chuyên nghiệp, nhất là đào tạo công nhân có trình
độ cao bị mất cân đối Qui mô đào tạo nghề hiện nay vẫn quá nhỏ bé, manhmún, thiết bị đào tạo lạc hậu, không đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hóa -hiện đại hóa Chính những vấn đề nêu trên đòi hỏi phải không ngừng đẩymạnh công tác đào tạo nghề, không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo nghề
Đội ngũ giáo viên dạy nghề chuyên nghiệp bị phân tán, giảm về sốlượng Trình độ không được nâng cao cho phù hợp với sự phát triển nhanhcủa khoa học - công nghệ Trình độ sư phạm của giáo viên dạy nghề và trình
độ, năng lực tổ chức, chỉ đạo, lãnh đạo và kiểm tra kiểm soát còn nhiều hạnchế, ít được chú ý, bổ sung, bồi dưỡng, đào tạo và đào tạo lại
Chương trình nội dung đào tạo, hệ thống giáo trình vẫn trong tình trạnglạc hậu, chưa thống nhất, không theo một chuẩn mực nào, do đó chương trình,