TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ THI TRƯỜNG VỐN VIỆT NAMTIỂU LUẬN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ THI TRƯỜNG VỐN VIỆT NAMTIỂU LUẬN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ THI TRƯỜNG VỐN VIỆT NAMTIỂU LUẬN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ THI TRƯỜNG VỐN VIỆT NAM
Trang 1“Thực trạng thị trường vốn Việt Nam và giải pháp” M c l c ục lục ục lục PHẦN I LỜI MỞ ĐẦU 3
PHẦN II NỘI DUNG CHÍNH CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 4
Chương I: Lý luận về thị trường vốn 4
I, Khái niệm về vốn, phân loại 4
II, Khái niệm thị trường vốn, phân loại 8
III, Vai trò thị trường vốn 24
IV Các luồng di chuyển và tụ điểm vốn 28
Chương II Thực trạng thị trường vốn Việt Nam 30
I.Tình hình chung: 30
II Thực trạng các thành phần của thị trường vốn hiện tại ở Việt Nam 33
A.Thị trường vốn tín dụng ngân hàng: 33
B.Thị trường trái phiếu Việt Nam 36
C.Thị trường cổ phiếu Việt Nam 43
Chương III Những giải pháp đối với thị trường vốn ở Việt Nam 46
PHẦN III KẾT LUẬN 50
Trang 2PHẦN I LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp chính là những tế bào tham giavào các hoạt động sản xuất kinh doanh để duy trì sự sống cho toàn bộ thị trường Tuynhiên, để những tế bào ấy hoạt động, để việc sản xuất kinh doanh được tiến hành thìtrước tiên phải có vốn Vốn là một yếu tố đầu vào vô cùng quan trọng mà các doanhnghiệp cần phải tiếp cận và sử dụng hợp lý Cùng với sự phát triển của thị trường, thịtrường vốn cũng luôn song hành và ngày càng trở nên phong phú, đã dạng.Thực tế cho thấy rằng, những quốc gia có nền kinh tế phat triển mạnh mẽ đều cómột thị trường vốn là nền tảng vững trãi Các biến động trong nền kinh tế đều ảnhhưởng tới thị trường vốn, và thị trường vốn cũng có thể tác động ngược trở lại nềnkinh tế Có thể coi thị trường vốn là một nền kinh tế tượng trưng cho nền kinh tế thựcThật vậy, thị trường vốn là nơi cung cấp dưỡng chất cho doanh nghiệp Việcđiều tiết thị trường vốn sau cho ổn định và hiệu quả có thể coi là yếu tốt sống còn, vôcùng quan trọng tới sự phát triển của doanh nghiệp, suy rộng ra cả nền kinh tế Vớinền kinh tế còn non trẻ, lại đang trên đà phát triển như Việt Nam, nhu cầu về vốn lạicàng trở nên cấp thiết
Từ những lí do trên, chúng em thấy rõ được vai trò quan trọng của thị trườngvốn với nến kinh tế thị trường nói chung và nền kinh tế Việt nam nói riêng, cũng nhưnhận thức được tính cấp thiết của việc nghiên cứu thực trạng thị trường vốn tại ViệtNam từ đó đưa ra các giải pháp để khắc phục nhược điểm và hoàn thiện hơn nữa thịtrường vốn
Vì vậy chúng em đã chọn đề tài “Thực trạng thị trường vốn Việt Nam và giảipháp”, với kết cấu gồm ba chương:
Chương I:Lý luận về thị trường vốn.
Chương II:Thực trạng thị trường vốn Việt Nam.
Chương III:Những giải pháp đối với thị trường vốn ở Việt Nam.
Trang 3PHẦN II NỘI DUNG CHÍNH CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Chương I: Lý luận về thị trường vốn.
I, Khái niệm về vốn, phân loại
Cùng với sự phát triển chung của kinh tế, vốn là một trong những khái niệm khôngthể tách rời, chúng có lịch sử hình thành và phát triển cùng với chiều dài của sự phát triển chung giữa các nhóm ngành và thường xuyên được nhắc tới Vậy vốn là gì?Hiện nay có khá nhiều khái niệm về vốn, cụ thể cần chia vốn theo hai hướng: nghĩa rộng và nghĩa hẹp
Theo nghĩa hẹp: Vốn là tiềm lực tài chính của mỗi cá nhân, tổ chức, mỗi
doanh nghiệp hay mỗi quốc gia
Ví dụ: Bạn đang có 1 triệu trong tay đó là vốn, doanh nghiệp của bạn đang có 1 tỷ
đó là vốn, quốc gia bạn đang sinh sống có nguồn ngân sách 1 tỷ đô đó là vốn
Theo nghĩa rộng: Vốn bao gồm toàn bộ các yếu tố kinh tế được bố trí để sản
xuất hàng hóa, dịch vụ như tài sản hữu hình, tài sản vô hình và các kiến thức kinh tế,
kỹ thuật của doanh nghiệp được tích lũy, sự khéo léo về trình độ quản lý và tác nghiệp của các cán bộ điều hành, cùng đội ngũ cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp, uy tín của doanh nghiệp Quan điểm này có ý nghĩa quan trọng trong việc khai thác đầy đủ hiệu quả của vốn trong nền kinh tế thị trường Tuy nhiên, việc xác định vốn theo quan điểm này rất khó khan phức tạp nhất là khi nước ta trình độ quản
lý kinh tế còn chưa cao và pháp luật chưa hoàn chỉnh
Theo quan điểm của Mác: Vốn (tư bản) không phải là vật, là tư liệu sản xuất,
không phải là phạm trù vĩnh viễn Tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư bằng cách bóc lột lao động làm thuê Để tiến hành sản xuất, nhà tư bản ứng tiền ra mua tưliệu sản xuất và sức lao động, nghĩa là tạo ra các yếu tố của quá trình sản xuất Các yếu tố này có vai trò khác nhau trong việc tạo ra giá trị thặng dư Mác chia tư bản thành tư bản bất biến và tư bản khả biến Tư bản bất biến là bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thức tư liệu sản xuất( máy móc, thiết bị, nhà xưởng ) mà giá trị của nó được chuyển nguyên vẹn vào sản phẩm Còn tư bản khả biến là bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thức lao động, trong quá trình sản xuất thay đổi về lượng, tăng lên do sức lao động của hàng hóa tăng
Theo David Begg, Stenley Ficher, Rudiger Darubused: Vốn hiện vật là giá trị
của hàng hóa đã sản xuất được sử dụng để tạo ra hàng hóa và dịch vụ khác Ngoài racòn có vốn tài chính Bản thân vốn là một hàng hóa nhưng được trực tiếp sử dụng vào sản xuất kinh doanh tiếp theo Quan điểm này đã cho thấy nguồn gốc hình thànhvốn và trạng thái biểu hiện của vốn, nhưng hạn chế cơ bản là chưa cho thấy mục đích của việc sử dụng vốn
Trang 4-Vốn ở dạng khác (ngân phiếu, nhãn hiệu, thông tin…)
3 Theo tính chất hoạt động và nghĩa hẹp thì số vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng bao gồm hai bộ phận chính: vốn cố định và vốn lưu động
3.1 Vốn cố định:
Để hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp phải có vốn Với doanh nghiệp xây dựng, vốn dung vào sản xuất kinh doanh gọi là vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng Theo nghĩa rộng, vốn của doanh nghiệp bao gồm tất cả các yếu tố phục vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhờ vốn cố định, vốn lưu động, nhân lực, thông tin các bí quyết công nghệ Có thể nói , vốn là tài nguyên của doanh nghiệp Vốn trong doanh nghiệp được chia làm hai loại vốn cố định và vốn lưuđộng
Khái niệm vốn cố định :
Là một bộ phận của vốn sản xuất, là số vốn ứng trước để mua sắm, xây dựng các tài sản cố định nên quy mô vốn cố định lớn hay bé hoàn toàn phụ thuộc vào quy mô của tài sản cố định Ngược lại, quy mô của tài sản cố định doanh nghiệp xây dựng lại phụ thuộc đặc thì loại hình sản xuất, tính chất cảu dây truyền công nghệ và trình độ trang bị kỹ thuật của doanh nghiệp Trong ngành xây dựng, quy mô vốn cố định của các doanh nghiệp rất khác nhau nên trong nền kinh tế thị trường và trong điều kiện khoa học kỹ thuật phát triển thì doanh nghiệp nào có vốn cố định lớn thường có quy
mô và năng lực sản xuất lớn, kinh tế hiện đại Với một nguồn vốn xây dựng tìm ra cách sử dụng để đạt hiệu quả tối ưu là mục tiêu mà doanh nghiệp nào cũng tìm cách đạt đến
Trang 5Vốn cố định là biểu hiện bằng tiền của tài sản cố định Vì vậy, đặc điểm của vốn
cố định phụ thuộc đặc điểm của tài sản cố định Đó là vốn cố định tham gia vào nhiềuchu kỳ sản xuất kinh doanh
Khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh Về số lượng ( số tài sản cố định) không đổi, nhưng về mặt giá trị, vốn cố định được dịch duyển dần vào trong giá thành sản phẩm mà vốn cố định đó sản xuất ra Thông qua hình thức khấu hao mòn tài sản cố định, giá trị dịch chuyển dần đó tương ứng với mức độ hao mòn thực tế củatài sản cố định
Phân loại vốn cố định
Cách phân loại và nhận biết vốn cố định cũng là cách phân loại và nhận biết tài sản
cố định vì vốn cố định là biểu hiện bằng tiền của tài sản cố định
Phân loại theo tính chất tài sản cố định:
Tài sản cố định hữu hình: Là những tài sản có hình thái vật chất do
doanh nghiệp nắm giữ để sử dụng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận tài sản cố định do Bộ tài chính quy định Đó là loại tài sản tham gia nhiều lần vào quy trình sản xuất chuyển một phần giá trị vào sản phẩm và vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu như nhà cửa, vật kiến trúc, máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải…
Doanh nghiệp có thể thuê tài sản cố định theo hai hình thức:
-Thuê ngắn hạn
-Thuê dài hạn
Tài sản cố định vô hình: Là những tài sản không có hình thái vật chất
nhưng xác định được giá trị của nó và doanh nghiệp nắm giữ, sử dụng trong sản xuất, kinh doanh, cung cấp dịch vụ thể hiện một lượng giá trị đã được đầu
tư thỏa mãn các tiêu chuẩn của tài sản cố định vô hình, tham gia vào nhiều chu
kỳ kinh doanh, như một số chi phí liên quan trực tiếp tới đất sử dụng, chi phí
về quyền phát hành, bằng phát minh, bằng sáng chế, bản quyền tác giả,
Phân loại theo chức năng, tác dụng của tài sản cố định:
Tài sản cố định trực tiếp: sản xuất, thi công xây lắp ( nhà cửa, công
trình, phương tiện vận tải máy móc, thiết bị cơ giới, )
Tài sản cố định gián tiếp: tham gia vào quá trình thi công xây lắp:
không trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất mà chỉ có tác dụng phục vụ trong lĩnh vực gián tiếp nhưng không thể thiếu
3.2 Vốn lưu động
Là tiền ứng vào tài sản lưu động, là một bộ phận của vốn sản xuất của doanh
nghiệp xây dựng mà hình thái vật chất của nó chủ yếu thuộc đối tượng lao động Vốn lưu động của doanh nghiệp xây dựng là toàn bộ số vốn mà doanh nghiệp phải ứng ra nhằm thỏa mãn nhu cầu dự trữ nguyên vật liệu trong giai đoạn sản xuất và như cầu
Trang 6lưu thông Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn lưu động luôn biến đổi từ hình thái tiền tệ sang hình thái hiện vật rồi trở về hình thái tiền tệ thực hiện một vòng chu chuyển.
Sau mỗi vòng chu chuyển, vốn lưu động sẽ được thu hồi toàn bộ dưới hình thức tiền tệ
Vòng chu chuyển của vốn lưu động là khoảng thời gian cần thiết để vốn lưu động biến đổi từ hình thái tiền tệ sang hình thái hiện vật rồi trở lại hình thái tiền tệ Sự biếnđổi của vốn có tính chất tuần hoạn, như vậy gọi là chu chuyển của vốn
Vòng chu chuyển này gồm ba giai đoạn:
Doanh nghiệp dung tiền để mua sắm nguyên, nhiên vật liệu, phụ tùng thay thế…dự trữ trong kho cho quá trình sản xuất ( tiền tệ đến hiện vật)
Giai đoạn trực tiếp sản xuất Doanh nghiệp xuất các nguyên vật liệu trong kho dự trữ của đơn vị đẻ đưa vào sản xuất thi công xây lắp Quá trình sảnxuất dưới tác động của người lao động thông qua tư liệu lao động đã biến nguyên, nhiên vật liệu…thành các sản phẩm hoàn chỉnh Vốn lưu động trong giai đoạn này chính là giá trị các sản phẩm đã hoàn chỉnh và một số sản phẩm đang chế tạo dễ dàng, các bán thành phẩm Thời gian vốn lưu động dừng lại trong giai đoạn sản xuất gọi là thời gian sản xuất
Kết thúc quá trình sản xuất Doanh nghiệp tiến hành bàn giao, thanh toánkhối lượng sản phẩm để thu tiền về Trong giai đoạn này, vốn lưu động từ hình thái hàng hóa về hình thái tiền tệ Thời gian vốn lưu động dừng lại trong lưu thông gọi là thời gian lưu thông Tổng thời gian dự trữ sản xuất, thời gian sản xuất, thời gian lưu thông gọi là chu kỳ của vốn lưu động
Trang 7II, Khái niệm thị trường vốn, phân loại
1.Khái niệm thị trường vốn
Là một bộ phận của thị trường tài chính
Thị trường vốn là thị trường - nơi diễn ra giao dịch mua bán các loại tài sản tài chính hoặc công cụ nợ trung hoặc dài hạn(các chứng khoán nợ dài hạn (long-term debt securities), có thời hạn đến hạn trên một năm và các chứng khoán vốn (equity securities)) Do các chứng khoán mua bán trên thị trường vốn có thời hạn dài nên cácnhà phát hành có thể sử dụng vốn thu được để đầu tư vào sản xuất kinh doanh Vì vậythị trường vốn được coi là thị trường cung ứng vốn đầu tư cho nền kinh tế
Do thời gian luân chuyển vốn trên thị trường này dài hạn hơn so với thị trường tiền
tệ nên các công cụ trên thị trường vốn có độ rủi ro cao hơn và đi theo nó là lợi tức kì vọng cũng cao hơn
Chứng khoán của thị trường vốn có tính thanh khoản kém hơn so với các loại chứng khoán ngắn hạn và rủi ro lớn hơn so với chứng khoán ngắn hạn do thời gian dài hơn và giá cả của chúng biến động nhiều
2.Đặc điểm của thị trường vốn:
Thị trường vốn diễn ra quá trình chuyển dịch từ tư bản sở hữu sang tư bản kinh doanh
Đối tượng của thị trường vốn là quyền sử dụng các nguồn tài chính dài hạn sau đó đầu tư dài hạn vào sản xuất kinh doanh
Công cụ của thị trường vốn là các khoản vay hay các chứng khoán có thời hạn từ mộtnăm do đó tính thanh khoản thấp hơn và có nhiều rủi ro
3.Phân loại thị trường vốn:
Gồm 3 loại là : thị trường chứng khoán, thị trường cho vay thế chấp và thị trường tín dụng thuê mua
a)Thị trường chứng khoán: là nơi diễn ra các giao dịch mua bán, trao đổi các loại
chứng khoán
Chứng khoán được hiểu là các giấy tờ có giá xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với nhà phát hành Bao gồm:
Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ
Quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, đặc quyền mua cổ phiếu/đảm bảo, chứng khoán phái sinh
Phân loại thị trường chứng khoán:
Dựa vào cách phát hành
Thị trường sơ cấp: Thị trường này đảm bảo nguồn vốn được huy động thông qua phát hành chứng khoán ra công chúng.Thị trường sơ cấp thực sự là kênh huy động
Trang 8vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế.Ở Việt Nam, thị trường sơ cấp mới chỉ huy độngmột lượng vốn cũng rất nhỏ so với quy mô đầu tư.Khi nói đến thị trường sơ cấp, không thể không nói đến vai trò của các ngân hàng thương mại Các ngân hàng
thương mại đảm nhiệm vai trò trong việc bảo lãnh phát hành chứng khoán cho đơn vịphát hành
Thị trường thứ cấp: Là nơi thu hút các nhà đầu tư mua bán lại chứng khoán đó, từ
đó nâng cao tính thanh khoản cho các loại chứng khoán được giao dịch Ở Việt Nam, thị trường này hoạt động khá trầm lắng, kém sôi động, tình thanh khoản của thị
trường cũng không cao Tại đây thì việc buôn bán các công cụ tài chính hết sức linh hoạt và biến động một cách liên tục
Dựa vào các hình thức tổ chức thị trường
Thị trường tập trung: còn gọi là Sở giao dịch chứng khoán
Thị trường phi tập trung (OTC): Được tổ chức không dựa vào một mặt bằng giao dịch cố định nào mà chỉ dựa vào một hệ thống vận hành theo cơ chế cạnh tranh và thương lượng giữa các công ty chứng khoán với nhau thông qua một sự trợ giúp, quyết định nhiều đến hiệu quả hoạt động
Dựa vào hàng hóa trên thị trường:
sự tăng trưởng kinh tế của Việt Nam Được các chuyên gia nước ngoài đánh giá rất cao và được coi là thị trường đầy tiềm năng Trên thị trường không chính thức, các hoạt động mua bán cổ phiếu diễn ra hết sức sôi động với hơn 100 loại cổ phiếu được giao dịch khá thường xuyên, mạnh tiến trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước
và được khích lệ Làn song tăng vốn điều lệ của các ngân hàng thương mại cổ phần Vấn đề tăng cường nội lực tài chính Sức mạnh từ nội lực sẽ là nguồn gốc để tăng trưởng một cách bền vững chứ không dựa vào nguồn lực từ bên ngoài Quá trình nhảy vào của các ngân hàng nước ngoài vào thị trường vốn ở Việt Nam Tăng khả năng huy động vốn từ đầu tư gián tiếp của nước ngoài thông qua thị trường chứng khoán Cổ phiếu là giấy chứng nhận cấp cho cổ đông để chứng nhận số cổ phần mà
cổ đông đó đã mua ở một Công ty cổ phần, chứng thực về việc đóng góp vào Công ty
cổ phần, đem lại cho người chủ của nó quyền chiếm hữu một phần lợi nhuận dưới hình thức lợi tức cổ phần và được quyền tham gia quản lý công ty Theo Luật Chứng Khoán Việt Nam, cổ phiếu là lọai chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành
Đặc điểm của cổ phiếu : là có khả năng chuyển hóa thành tiền mặt dễ dàng Tuy
nhiên tính thanh khoản của cổ phiếu phụ thuộc vào các yếu tố sau:
Trang 9Cổ phiếu là chứng khoán vốn do đó không có kỳ hạn và không hoàn vốn
Cổ tức không được xác định trước mà phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của tổ chức phát hành (công ty có cổ phiếu niêm yết) Nếu tổ chức phát hành hoạt động kinhdoanh có hiệu quả, trả cổ tức cao, cổ phiếu của công ty sẽ thu hút nhà đầu tư và cổ phiếu thực sự dễ mua bán trên thị trường Ngược lại nếu công ty làm ăn kém hiệu quảkhông trả cổ tức hoặc cổ tức thấp, cổ phiếu của công ty sẽ giảm giá và khó bán
Cổ phiếu có mối quan hệ cung cầu trên thị trường chứng khoán: Thị trường cổ phiếu cũng như các loại thị trường khác đều chịu sự chi phối của qui luật cung cầu Giá cổ phiếu trên thị trường không chỉ phụ thuộc vào chất lượng công ty mà còn phụ thuộc rất lớn vào nhu cầu của nhà đầu tư Tuy một loại cổ phiếu rất tốt nhưng thị trường đang bão hòa nguồn cung (nhiều hàng bán) thì cổ phiếu đó cũng khó tăng giá Ngược lại khi thị trường khan hiếm hàng hóa thì ngay cả những cổ phiếu chất lượng kém hơn cũng có thể bán dễ dàng
Tính lưu thông khiến cổ phiếu có giá trị như một loại tài sản thực sư, nếu như tính thanh khoản giúp cho chủ sở hữu cổ phiếu chuyển cổ phiếu thành tiền mặt khi cần thiết thì tính lưu thông giúp chủ sở hữu cổ phiếu thực hiện được nhiều hoạt động như thừa kế, tặng cho để thục hiện nghĩa vụ tài sản của mình
Cổ phiếu có tính tư bản giả tức là cổ phiếu có giá trị như tiền Tuy nhiên cổ phiếu không phải là tiền và nó chỉ có giá trị khi được đảm bảo bằng tiền Mệnh giá của cổ phiếu không phản ánh đúng giá trị của cổ phiếu
Cổ phiếu có tính rủi ro cao phụ thuộc vào thông tin và tình hình phát triển của Công ty cổ phần Giá trị cổ phiếu luôn biến động theo các yếu tố này
Phân loại cổ phiếu
Một Công ty cổ phần có thể phát hành 2 loại cổ phiếu:
Cổ phiếu thường: Giấy chứng nhận cổ phần, thể hiện quyền lợi sở hữu của cổ đôngtrong công ty, quyền sở hữu được bỏ phiếu của công ty và những cổ phiếu này vĩnh viễn tồn tại cùng với những quãng đời hoạt động của công ty
Đặc điểm của cổ phiếu thường là không có kỳ hạn và không hoàn vốn Cổ tức phụthuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh và chính sách chia cổ tức trong từng thời kỳ
Cổ đông thường là người cuối cùng được hưởng giá trị còn lại của tài sản thanh lý khicông ty phá sản Giá cả biến động
Trách nhi ệm và quyền lợi của cổ đông: Về trách nhiệm phần vốn góp xem như góp vĩnh viễn, không được rút lại Cổ đông phổ thong chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn theo phần vốn góp.Về quyền lợi: Quyền có thu nhập: cổ đông thường được hưởng phần lợi nhuận tương ứng với số cổ phần sở hữu gọi là cổ tức Quyền được chia tài sản thanh lý: trường hợp công ty bị giải thể, cổ đông thường cũng được chia phần những giá trị tài sản thanh lý Quyền bỏ phiếu: Cổ đông thường có quyền bỏ phiếu bầu và ứng cử vào các chức vụ quản lý trong công ty, có quyền tham gia đại hội cổ đông Quyền mua cổ phiếu mới: Cổ đông thường có quyền được mua trước cổ phiếu mới khi công ty phát hành thêm để tăng vốn
Trang 10 Các giá trị của cổ phiếu:
Mệnh giá (Parvalue): là giá trị ghi trên giấy chứng nhận cổ phiếu
Mệnh giá cổ phiếu mới phát hành là tỷ lệ giữa VĐL của công ty cổ phần/ Tổng
Trang 11Cổ tức là tiền chia lời cho cổ đông trên mỗi cổ phiếu thường, căn cứ vào kết quả cóthu nhập từ họat động SXKD của công ty Cổ tức thường được trả sau khi đã trả cổ tức cố định cho cổ phiếu ưu đãi Cổ tức được công bố theo năm và trả theo Quý Cácchỉ tiêu đánh giá chính sách cổ tức:
Chính sách chia cổ tức của công ty phụ thuộc vào:
-Kết quả họat động SXKD của công ty trong năm, căn cứ là thu nhập ròng của công ty sau khi trừ lãi và thuế
-Số cổ phiếu ưu đãi chiếm trong tổng số vốn cổ phần
-Chính sách tài chính trong năm tới
-Hạn mức của quỹ tích lũy dành cho đầu tư
-Giá trị thị trường của cổ phiếu công ty
Lợi tức và rủi ro:
Về phần lợi tức của cổ phiếu
-Cổ tức: Phụ thuộc vào KQKD và chính sách chia cổ tức của công ty và công ty cóthể trả bằng tiền hoặc bằng cổ phiếu
-Lợi tức do chênh lệch giá
Về phần rủi ro của cổ phiếu:
-Rủi ro sức mua: tác động của lạm phát đối với khoản đầu tư
-Rủi ro không hệ thống: khả năng quản lý, thị hiếu tiêu dùng dẫn đến sự thay đổi trong thu nhập từ cổ phiếu công ty gây nên sự không chắc chắn trong khả năng thanh toán của công ty
Các nhân tố ảnh hưởng giá cổ phiếu:
-Tác động quan hệ cung – cầu
-Nhân tố khác: yếu tố tâm lý đầu tư theo phong trào, hành vi tiêu cực trên TTCK
Cổ phiếu ưu đãi: Thể hiện quyền lợi sở hữu trong một công ty, tuy nhiên những cổ đông nắm loại cổ phiếu này được hưởng một số ưu đãi hơn so với những cô đông thường
Trang 12Đặc điểm: giống cổ phiếu thường
Cũng là chứng khoán vốn, không kỳ hạn, không hoàn vốn
Người nắm giữ cổ phiếu ưu đãi cũng là cổ đông đồng sở hữu của công ty
Đặc điểm giống trái phiếu
Cổ tức của cổ phiếu ưu đãi được ấn định một tỷ lệ lãi cố định tính trên mệnh giá Phân loại:
-Cổ phiếu ưu đãi có lũy kế lãi (cumulative preferred stocks): Trường hợp công ty làm ăn không có lợi nhuận để trả cổ tức, thì phần còn lại thiếu năm nay sẽ được tích lũy sang năm sau hay vài năm sau khi công ty có đủ lợi nhuận để trả
-Cổ phiếu ưu đãi không có lũy kế lãi: Trường hợp công ty làm ăn không có lợi nhuận để trả cổ tức, thì khoản cổ tức đó sẽ bị mất luôn Qua kỳ hoạt động tiếp theo,
dù công ty làm ăn có hiệu quả, có lời cao khoản cổ tức chưa chi trả của kỳ trước cũngkhông được truy lĩnh chỉ chi trả khoản cổ tức của kỳ hiện hành
-Cổ phiếu ưu đãi dự phần (participating preferred stocks) Người chủ sở hữu loại cổphiếu này ngoài việc nhận cổ tức đã công bố có thể nhận thêm khoản cổ tức đặc biệt, nếu cổ tức của cổ phiếu thường vượt quá một lượng tiền nhất định
-Cổ phiếu ưu đãi không dự phần (participating preferred stocks) Người chủ sở hữu không được hưởng thêm phần lợi tức nào vào những năm công ty làm ăn phát đạt vượt mức
Phát hành cổ phiếu : Phát hành cổ phiếu là việc chào bán cổ phiếu lần đầu tiên của công ty cổ phần trên thị trường sơ cấp
Phân loại phát hành cổ phiếu:
-Căn cứ vào đợt phát hành: phát hành lần đầu và phát hành bổ sung
-Căn cứ vào tính chất đợt phát hành: phát hành trực tiếp hoặc gián tiếp
-Căn cứ vào phương thức phát hành: phát hành chào bán toàn phần và phát hành chào bán từng phần
-Căn cứ vào phạm vi phân phối: phát hành nội bộ (riêng lẻ)
-Phát hành ra công chúng: Phát hành lần đầu ra công chúng (IPO) và phát hành cổ phiếu bổ sung ra công chúng
Các phương thức phát hành cổ phiếu: có 2 phương thức phát hành cổ phiếu trên thịtrường sơ cấp bao gồm
Phát hành riêng lẻ: là việc công ty phát hành chào bán cổ phiếu của mình trong phạm vi một số người nhất định (thông thường là cho các nhà đầu tư có tố chức có ý định nắm giữ cổ phiếu một cách lâu dài) công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí…với những hạn chế chứ không phát hành rộng rãi ra công chúng
Phát hành cổ phiếu ra công chúng: là việc phát hành trong đó cổ phiếu có thể chuyển nhượng được bán rộng rãi ra công chúng cho một số lượng lớn người đầu tư nhất định (trong đó phải dành một tỷ lệ cho các nhà đầu tư nhỏ) và khối lượng phát hành phải đạt một mức nhất định Có 2 phương thức phát hành cổ phiếu ra công chúng:
Trang 13Phát hành lần đầu ra công chúng (IPO): cổ phiếu của công ty lần đầu tiên được bánrộng rãi cho công chúng đầu tư Bao gồm:
-IPO sơ cấp: cổ phần được bán đầu tiên ra công chúng nhằm tăng vốn
-IPO thứ cấp: cổ phần được bán từ số cổ phần hiện hữu
Phát hành cổ phiếu bổ sung của công ty ra công chúng
Tổng quan về thị trường cổ phiếu
Khái niệm: Thị trường cổ phiếu là thị trường mà hàng hóa được giao dịch trao đổi, mua bán tại đó là các cổ phiếu
Lịch sử hình thành và phát triển của thị trường cổ phiếu: Lịch sử hình thành và phát triển của thị trường cổ phiếu gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán Những dấu hiệu của một thị trường chứng khoán đã xuất hiện ngay từ thời Trung cổ xa xưa Vào khoảng thế kỷ thứ XV, ở các thành phố lớn của các nước phương Tây, trong cácc phiên chợ hay hội chợ, các thương gia thường gặp
gỡ tiếp xúc với nhau để thương lượng mua bán, trao đổi hàng hóa Đặc điểm của hoạtđộng này là các thương gia chỉ trao đổi bằng lời nói với nhau về các hợp đồng mua bán mà không có sự xuất hiện của bất kỳ hàng hóa, giấy tờ nào Đến cuối thế kỷ XV,
“khu chợ riêng” đã trở thành thị trường hoạt động thường xuyên với những quy ước xác định cho các cuộc thương lượng Những quy ước này dần dần trở thành các quy tắc có tính chất bắt buộc đối với các thành viên tham gia Năm 1453, ở thành phố Bruges (Bỉ), buổi họp đầu tiên đã diễn ra tại một lữ quán của gia đình Vanber Trước
lữ quán có một bảng hiệu vẽ hình 3 túi da tượng trưng cho 3 loại giao dịch: giao dịch hàng hóa, giao dịch ngoại tệ và giao dịch chứng khoán động sản Vào năm 1457, thành phố ở Burges (Bỉ) mất đi sự phồn vịnh do eo biển Even bị lấp cát nên mậu dịchthị trường ở đây bị sụp đổ và được chuyển qua thị trấn Auvers (Bỉ)
Ở đây, thị trường phát triển rất nhanh chóng, các thị trường như vậy cũng được thành lập ở Anh, Pháp, Đức, Mỹ Sau một thời gian hoạt động, thị trường không chứng tỏ khả năng đáp ứng được yếu cầu của 3 loại giao dịch khác nhau nên đã phân
ra thành nhiều thị trường khác nhau: thị trường hàng hóa, thị trường hối đoái, trị trường chứng khoán,…với đặc tính riêng của từng thị trường thuận lợi cho giao dịch của người tham gia trong đó Như vậy, thị trường chứng khoán được hình thành cùng với thị trường hàng hóa và thị trường hối đoái Quá trình phát triển của thị trường chứng khoán đã trải qua nhiều bước thăng trầm Thời kỳ khủng hoảng nhất là vào năm 1875 – 1913, thị trường chứng khoán phát triển mạnh cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế Nhưng đến ngày 29/10/1929, ngày được gọi là “ngày thứ năm đen tối”, đây là ngày mở đầu của cuộc khủng hoảng thị trường chứng khoán New York,
và sau đó lan rộng ra các thị trường chứng khoán Tây Âu, Bắc Âu, Nhật Bản Sau thếchiến thứ hai, các thị trường chứng khoán phục hồi, phát triển mạnh Nhưng rồi cuộc khủng hoảng tài chính năm 1987, một lần nữa đã làm cho các thị trường chứng khoánthế giới suy sụp, kiệt quệ Lần này, hậu quả của nó rất lớn và nặng nề hơn cuộc khủnghoảng năm 1929, nhưng chỉ 2 năm sau, thị trường chứng khoán thế giới lại đi vào ổn định, phát triển và trở thành một định chế tài chính không thể thiếu được trong đời sống kinh tế của những quốc gia có nền kinh tế phát triển theo cơ chế thị trường
Trang 14Vai trò của thị trường cổ phiếu Thị trường cổ phiếu là một định chế tài chính tất yếu của nền kinh tế thị trường phát triển Thị trường cổ phiếu là chiếc cầu vô hình nốiliền giữa cung và cầu vốn trong nền kinh tế Một thị trường cổ phiếu lành mạnh và hoạt động có hiệu quả sẽ tạo điều kiện khai thác tốt các tiềm năng của nền kinh tế, tạo
sự lành mạnh trong việc thu hút và phân phối vốn trong nền kinh tế một cách có hiệu quả nhất
Thị trường cổ phiếu góp phần thúc đẩy sự phát tri ển nhanh chóng nền kinh tế: Chức năng cơ bản của thị trường cổ phiếu là công cụ huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế và tăng tiết kiệm quốc gia thông qua việc phát hành và luân chuyển cổ phiếu giá Việc mua đi bán lại cổ phiếu trên thị trường cổ phiếu đã tạo điều kiện di chuyển vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu vốn, tạo điều kiện chuyển hướng đầu tư từ ngành này sang ngành khác, từ đó góp phần điều hòa vốn giữa các ngành kinh tế, phá vỡ “tính ỳ” trong đầu tư sản xuất, tạo ra những động năng cho sản xuất kinh doanh, góp phần tạo nên sự phát triển nhanh và đồng đều của nền kinh tế Thị trường cổ phiếu là một định chế rất cơ bản trong hệ thống thị trường tài chính, là chất xúc tác quan trọng trong huy động vốn cho đầu tư phát triển và thúc đẩy hoạt động kinh tế
Thị trường cổ phiếu góp phần thực hiện tái phân phối công bằng hơn thông qua vi
ệc buộc các công ty phát hành cổ phiếu ra công chúng theo một tỷ lệ nhất định Điều này giúp giải tỏa sự tập trung quyền lực kinh tế vào một nhóm nhỏ, song vẫn tập trung cho phát triển kinh tế Từ đó tạo sự cạnh tranh công bằng hơn, góp phần tăng tính hiệu quả và góp phần thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế Bên cạnh đó, giúp cho việc tăng cường tầng lớp trung lưu trong xã hội, tăng cường sự giám sát của xã hội đối với hoạt động của công ty
Thị trường cổ phiếu tạo điều kiện thu hút và kiểm soát vốn đầu tư nước ngoài Việc đầu tư vốn từ nước ngoài có thể thực hiện bằng nhiều biện pháp khác nhau, trong đó
có đầu tư vốn thông qua thị trường cổ phiếu Đây là hình thức đầu tư dễ dàng và hữu hiệu Với nguyên tắc công khai, thị trường cổ phiếu là nơi mà các nhà đầu tư có thể theo dõi và nhận định một cách dễ dàng hoạt động của các ngành, các doanh nghiệp trong nước Hơn nữa, thị trường cổ phiếu thu hút vốn thông qua mua bán cổ phiếu, từ
đó tạo môi tường đầu tư thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài
Thị trường cổ phiếu là công cụ đánh giá hoạt động kinh doanh và là phong vũ biểu của nền kinh tế
Trang 15Thị trường trái phiếu: Thị trường trái phiếu của Việt Nam trong giai đoạn hiện
nay mới chỉ là giai đoạn đầu với sự tồn tại sơ khai của trái phiếu chính phủ Phát hành trái phiếu chính quyền địa phương cũng có nhiều khởi sắc Khái niệm về trái phiếu: Trái phiếu là một loại chứng khoán quy định nghĩa vụ của người phát hành trái phiếu (người vay tiền) phải có nghĩa vụ trả lãi trái phiếu và hoàn trả vốn gốc củatrái phiếu cho chủ sở hữu của trái phiếu (trái chủ) khi đáo hạn
Về khái niệm trái phiếu
Các khái niệm đặc trưng của trái phiếu:
- Mệnh giá: hay còn gọi là giá trị danh nghĩa của trái phiếu là giá trị ghi trên trái phiếu Giá trị này được coi là số vốn gốc Mệnh giá trái phiếu là căn cứ để xác định
số lợi tức tiền vay mà người phát hành phải trả Mệnh giá cũng thể hiện số tiền người phát hành phải hoàn trả khi trái phiếu đến hạn Ở Việt Nam, mệnh giá của trái phiếu được ấn định là 100.000 đ và các mệnh giá khác là bội số của 100.000 đ Mệnh giá của trái phiếu được xác định phụ thuộc vào số tiền huy động trong kỳ và số trái phiếuphát hành MG: Mệnh giá trái phiếu MG = VHD/ SPH VHD: Số vốn huy động SPH:
Số trái phiếu phát hành
- Lãi suất định kỳ (coupon): Lãi suất trái phiếu thường được ghi trên trái phiếu hoặc người phát hành công bố Lãi suất này được xác định theo tỷ lệ phần trăm so vớimệnh giá trái phiếu và cũng là căn cứ để xác định lợi tức trái phiếu
- Thời hạn: là khoảng thời gian từ ngày phát hành đến ngày người phát hành hoàn trả vốn lần cuối Trái phiếu có thời hạn khác nhau, trái phiếu trung hạn có thời gian từ
1 năm đến 5 năm Trái phiếu dài hạn, có thời gian từ 5 năm trở lên
- Kỳ trả lãi: Là khoảng thời gian người phát hành trả lãi cho người nắm giữ trái phiếu Lãi suất trái phiếu được xác định theo năm, nhưng việc thanh toán lãi suất trái phiếu thường được thực hiện vào một ngày xác định hoặc theo định kỳ Thông
thường có 2 phương thức trả lãi: 6 tháng/lần và 1 năm/lần
- Giá phát hành: Là giá bán ra của trái phiếu vào thời điểm phát hành Thông
thường giá phát hành được xác định theo tỷ lệ phần trăm (%) của mệnh giá Tùy theo tình hình của thị trường và của người phát hành để xác định giá phát hành một cách thích hợp Có thể phân biệt 3 trường hợp:
Giá phát hành bằng mệnh giá (ngang giá);
Giá phát hành dưới mệnh giá (giá chiết khấu);
Giá phát hành trên mệnh giá (giá gia tăng) Dù trái phiếu được bán với giá nào (ngang giá, giá chiết khấu hay giá gia tăng), thì lợi tức luôn được xác định theo mệnh giá của trái phiếu và khi đáo hạn, người có trái phiếu sẽ được thanh toán theo mệnh giá của trái phiếu
Trang 16Các đặc điểm của trái phiếu:
- Trái phiếu là chứng khoán nợ hay một loại giấy nợ, thể hiện các quyền lợi của chủ nợ hay trái chủ đối với tổ chức phát hành Người mua trái phiếu chỉ là người cho chủ thể phát hành vay tiền và là chủ nợ của chủ thể phát hành trái phiếu Khác với người mua cổ phiếu là người Chủ sở hữu Công ty
- Chủ thể phát hành trái phiếu không chỉ có Công ty, mà còn có Chính phủ Trung ương và Chính phủ địa phương
- Thu nhập của trái phiếu là tiền lãi, trái chủ được hưởng lãi cố định và không phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của công ty
- Tiền lãi trả cho trái chủ được tính vào chi phí tài chính của tổ chức phát hành, do
đó được khấu trự khi tính thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp
- Người nắm giữ trái phiếu là chủ nợ, có quyền đòi các khoản thanh toán theo cam kết về giá trị và thời hạn nhưng không có quyền tham gia vào các vấn đề của bên pháthành
- Trái phiếu là chứng khoán nợ, vì vậy khi công ty bị giải thể hoặc phá sản thì trái chủ được ưu tiên trả nợ trước cổ đông Với những đặc điểm trên, trái phiếu có tính ổnđịnh và chứa đựng ít rủi ro hơn cổ phiếu Vì vậy, trái phiếu là loại chứng khoán được các nhà đầu tư ưa chuộng
Các yếu tố ảnh hưởng đến giá cả và lãi suất của trái phiếu:
Các yếu tố ảnh hưởng đến giá trái phiếu:
- Biến động lãi suất thị trường: Lãi suất thị trường là một yếu tố quan trọng trong việc định giá chứng khoán nói chung và trái phiếu nói riêng Nếu lãi suất tăng thì lợi tức của trái phiếu cũng sẽ thay đổi và ảnh hưởng đến giá trái phiếu
- Cấu trúc kỳ hạn của lãi suất: Cấu trúc kỳ hạn của lãi suất biểu hiện vận động lãi suất thị trường của thị trường vốn của một quốc gia Trên thị trường, trái phiếu rất đa dạng về lãi suất và kỳ hạn, vì vậy, căn cứ vào cấu trúc kỳ hạn của lãi suất mà giá và
kỳ hạn của trái phiếu có tương quan thuận chiều hoặc nghịch chiều với nhau
- Quyền mua lại, bán lại trái phiếu trước hạn: trái phiếu kèm theo quyền mua lại thường có lợi cho người phát hành và bất lợi đối với người đầu tư nên có thể có lãi suất cao hơn những trái phiếu khác có cùng thời hạn Và ngược lại, trái phiếu kèm theo quyền bán lại tạo cho trái chủ quyền chủ động hơn, vì vậy loại trái phiếu này có lãi suất hấp dẫn và thấp hơn so với các loại trái phiếu khác cùng thời hạn
- Khả năng chuyển đổi thành cổ phiếu: trái phiếu có khả năng chuyển đổi thành cổ phiếu trong tương lai sẽ có giá trị cao hơn so với các loại trái phiếu không có khả năng chuyển đổi
Trang 17- Cung cầu thị trường: trái phiếu cũng bị ảnh hưởng bởi cung và cầu thị trường Nếu loại bỏ các yếu tố khác thì cung lớn hơn cầu giá trái phiếu sẽ giảm và ngược lại
- Lạm phát: nếu lạm phát dự kiến trong tương lai có khả năng tăng thì tiền lãi theo lãi suất danh nghĩa sẽ bị giảm Do đó giá trái phiếu sẽ giảm và ngược lại
Các yếu tố ảnh hưởng đến lãi suất trái phiếu:
- Cung cầu vốn trên thị trường tín dụng: Lượng cung cầu vốn đó lại tuỳ thuộc vào chu kỳ kinh tế, động thái chính sách của ngân hàng trung ương, mức độ thâm hụt ngân sách của chính phủ và phương thức tài trợ thâm hụt đó
- Mức rủi ro của mỗi nhà phát hành và của từng đợt phát hành: Cấu trúc rủi ro của lãi suất sẽ quy định lãi suất của mỗi trái phiếu Rủi ro càng lớn, lãi suất càng cao
- Thời gian đáo hạn của trái phiếu: Nếu các trái phiếu có mức rủi ro như nhau, nhìnchung thời gian đáo hạn càng dài thì lãi suất càng cao
Phân loại trái phiếu:
Phân loại theo hình thức trái phiếu:
- Trái phiếu vô danh: là trái phiếu không mang tên trái chủ, cả trên chứng chỉ cũng như trên sổ sách của người phát hành Những phiếu trả lãi đính theo tờ chứng chỉ, và khi đến hạn trả lãi, người giữ trái phiếu chỉ việc xé ra và mang tới ngân hàng nhận lãi.Khi trái phiếu đáo hạn, người nắm giữ nó mang chứng chỉ tới ngân hàng để nhận lại khoản cho vay
- Trái phiếu ghi danh: là loại trái phiếu có ghi tên và địa chỉ của trái chủ, trên chứng chỉ và trên sổ của người phát hành Hình thức ghi danh có thể chỉ thực hiện cho phần vốn gốc, cũng có thể là ghi danh toàn bộ, cả gốc lẫn lãi Dạng ghi danh toàn
bộ mà đang ngày càng phổ biến là hình thức ghi sổ Trái phiếu ghi sổ hoàn toàn không có dạng vật chất, quyền sở hữu được xác nhận bằng việc lưu giữ tên và địa chỉ của chủ sở hữu trên máy tính
Phân loại theo đối tượng phát hành trái phiếu:
- Trái phiếu chính phủ: là những trái phiếu do chính phủ phát hành nhằm mục đích
bù đắp thâm hụt ngân sách, tài trợ cho các công trình công ích, hoặc làm công cụ điềutiết tiền tệ.Trái phiếu chính phủ là loại chứng khoán không có rủi ro thanh toán và cũng là loại trái phiếu có tính thanh khoản cao Do đặc điểm đó, lãi suất của trái phiếu chính phủ được xem là lãi suất chuẩn để làm căn cứ ấn định lãi suất của các công cụ nợ khác có cùng kỳ hạn
- Trái phiếu công trình: là loại trái phiếu được phát hành để huy động vốn cho những mục đích cụ thể, thường là để xây dung những công trình cơ sở hạ tầng hay công trình phúc lợi công cộng Trái phiếu này có thể do chính phủ trung ương hoặc chính quyền địa phương phát hành
Trang 18- Trái phiếu công ty: là các trái phiếu do các công ty phát hành để vay vốn dài hạn Trái phiếu công ty bao gồm những loại sau:
Trái phiếu có đảm bảo: là trái phiếu được đảm bảo bằng những tài sản thế chấp cụ thể, thường là bất động sản và các thiết bị Người nắm giữ trái phiếunày được bảo vệ ở một mức độ cao trong trường hợp công ty phá sản, vì họ
có quyền đòi nợ đối với một tài sản cụ thể
Trái phiếu không bảo đảm: Trái phiếu tín chấp không được đảm bảo bằng tàisản mà được đảm bảo bằng tín chấp của công ty Nếu công ty bị phá sản, những trái chủ của trái phiếu này được giải quyết quyền lợi sau các trái chủ
có bảo đảm, nhưng trước cổ đông Các trái phiếu tín chấp có thể chuyển đổi cho phép trái chủ được quyền chuyển trái phiếu thành cổ phiếu thường của công ty phát hành Tuỳ theo quy định, việc chuyển đổi có thể được tiến hànhvào bất cứ thời điểm nào, hoặc chỉ vào những thời điểm cụ thể xác định
Trái phiếu có thể mua lại: cho phép người phát hành mua lại chứng khoán trước khi đáo hạn khi thấy cần thiết Đặc tính này có lợi cho người phát hànhsong lại bất lợi cho người đầu tư, nên loại trái phiếu này có thể có lãi suất cao hơn so với những trái phiếu khác có cùng thời hạn
Trái phiếu có thể bán lại: cho phép người nắm giữ trái phiếu được quyền bánlại trái phiếu cho bên phát hành trước khi trái phiếu đáo hạn Quyền chủ động trong trường hợp này thuộc về nhà đầu tư, do đó lãi suất của trái phiếu này có thể thấp hơn so với những trái phiếu khác có cùng thời hạn
Trái phiếu có thể chuyển đổi: cho phép người nắm giữ nó có thể chuyển đổi trái phiếu thành cổ phiếu thường, tức là thay đổi tư cách từ người chủ nợ trở thành người chủ sở hữu của công ty
Phân loại theo lợi tức của trái phiếu:
- Trái phiếu có lãi suất cố định: Là loại trái phiếu mà lợi tức được xác định theo một tỷ lệ phần trăm (%) cố định tính theo mệnh giá
- Trái phiếu có lãi suất biến đổi (lãi suất thả nổi): Là loại trái phiếu mà lợi tức đượctrả trong các kỳ có sự khác nhau và được tính theo một lãi suất có sự biến đổi theo một lãi suất tham chiếu
- Trái phiếu có lãi suất bằng không: Là loại trái phiếu mà người mua không nhận được lãi, nhưng được mua với giá thấp hơn mệnh giá (mua chiết khấu) và được hoàn trả bằng mệnh giá khi trái phiếu đó đáo hạn
Về khái niệm thị trường trái phiếu (TTTP):
Là nơi giao dịch mua bán các loại trái phiếu đã phát hành, các loại trái phiếu này
do Chính phủ hoặc Chính quyền địa phương và các công ty phát hành TTTP đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế, đối với các doanh nghiệp cũng như các nhà đầu tư Các chủ thể tham gia thị trường gồm có:
- Chính phủ, chính quyền địa phương
Trang 19- Ngân hàng
- Tổ chức tài chính: công ty bảo hiểm, quỹ đầu tư
- Doanh nghiệp
- Cá nhân, hộ gia đình
Đặc điểm của thị trường trái phiếu:
- TTTP là nơi mua bán, trao đổi và giao dịch các công cụ nợ trung và dài hạn Tại thị trường này nguồn vốn huy động có chi phí rẻ hơn thị trường cổ phiếu Trái phiếu
có độ an toàn khá cao TTTP thường gắn với thị trường giao dịch do trái phiếu
thường có thời hạn xác định Tuy nhiên quy mô của thị trường là khá lớn song hàng hoá trên thị trường thường thay đổi liên tục TP mới phát hành thay thế cho trái phiếu đáo hạn và quá trình đó diễn ra liên tục
- Thị trường trái phiếu thường có quy mô rất lớn gấp nhiều lần thị trường cổ phiếu,thị trường trái phiếu thường xuyên giao dịch với khối lượng và giá trị lớn Đây là đặc điểm quan trọng khi các thành viên tham gia thị trường chủ yếu là các trung gian tài chính Do đó thị trường thường được tổ chức theo mô hình OTC
- Phương thức giao dịch chủ yếu là thỏa thuận, cách thức và thời gian giao dịch rấtlinh hoạt
Phân loại thị trường trái phiếu:
Thị trường trái phiếu bao gồm thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp
Thị trường sơ cấp là thị trường thực hiện giao dịch, mua bán các loại trái phiếu do
Chính phủ hoặc công ty phát hành Thị trư ờng thực hiện giao dịch, mua bán trái phiếu mới phát hành gọi là thị trường sơ cấp Thị trư ờng thực hiện giao dịch, mu a b
án trái phiếu đã phát hành gọi là thị trường thứ cấp Mục đích của thị trư ờng sơ cấp
là phục vụ cho nhu cầu huy động vốn dài hạn cho Chính phủ hoặc công ty trong khi
m ục đích của thị trường thứ cấp là cung cấp khả năng t hanh khoản cho trái phiếu đã
đư ợc phát hành trên thị trường sơ cấp Mặc dù không trự c t iếp huy động vốn dài hạn nhưng thị trường thứ cấp đóng vai trò rất quan trọng Không có thị trường thứ cấp phát triển, thị trường sơ cấp khó thu hút được nhà đ ầu tư vì nhà đầu tư lo ngại không thể chuy ển đổi trái phiếu thành tiền mặt khi cần thiết.Thị trư ờng sơ cấp là thị trư ờng mua bán các trái phiếu mới phát hành Trên thị trư ờng này vốn từ nhà đ ầu tư
sẽ được chuyển sang nhà phát hành thông qua việc nhà đầu mua các trái phiếu m ới phát hành Mục đích của thị trường sơ cấp là phục vụ cho nhu cầu huy động vốn dài hạn cho Chính phủ hoặc công ty
Đặc điểm:
+ Thị trư ờng sơ cấp là nơi duy nhất mà các trái phiếu đem lại vốn cho ngư ời phát hành Là thị trường tạo vốn cho đơn vị phát hành và đồng thời cũng tạo ra hàng hóa cho thị trường giao dịch Trên bình diện toàn bộ nền kinh tế, thị trường sơ cấp làm tăng vốn đầu tư
Trang 20+ Những người bán trái phiếu trên thị trường sơ cấp đư ợc xác định thư ờng là Khobạc, N gân hàng Nhà nước, công ty phát hành, tập đoàn bảo lãnh phát hành
+ Thị trư ờng sơ cấp chỉ được tổ chứ c một lần cho một loại chứng khoán nhất định, trong thời gian hạn định
Thị trường thứ cấp là nơi giao dịch các trái phiếu đã đư ợc phát hành trên thị
trường sơ cấp Là thị trư ờng chuyển nhượng quyền sở hữ u trái phiếu Thị trường thứcấp đảm b ảo t ính thanh khoản cho các trái phiếu đã phát hành Mục đích của thị trư ờng t hứ cấp là cung cấp khả năng thanh khoản cho trái phiếu đã được phát hành trên thị trường sơ cấp
Đặc điểm:
+ Trên thị trường thứ cấp, các khoản tiền thu được từ việc bán trái phiếu thuộc về các nhà đầu tư và các nh à kinh doanh trái phiếu chứ không th uộc v ề nhà phát hành Nói cách khác, các luồng vốn không chảy vào những người phát hành trái phiếu mà vận chuyển giữ a những người đầu tư trái phiếu trên thị trường Thị trường thứ cấp là
m ột bộ phận quan trọng của thị trường trái phiếu, gắn bó chặt chẽ với thị trường sơ cấp
+ Giao dịch trên thị trư ờng thứ cấp phản ảnh nguyên tắc cạnh tranh tự do, giá trái phiếu trên thị trư ờng thứ cấp do cung và cầu Quyết định
+ Thị trư ờng thứ cấp là một thị trường hoạt động liên tục, các nhà đầu tư có thể mua và bán các chứng khoán nhiều lần trên thị trư ờng thứ cấp
Mối liên hệ giữa thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp
- Thị trư ờng sơ cấp là cơ sở, là tiền đề cho sự hình thành và p hát triển của thị trường thứ cấp vì đó là nơi cung cấp hàng hóa trái phiếu trên thị trường thứ cấp Không có thị trường sơ cấp thì không thể có sự xuất hiện của thị trường thứ cấp Thị trường thứ cấp là một loại thị trư ờng đặc biệt, nó không thể ra đời chừng nào vẫn chư a có một thị trường sơ cấp rộng rãi, vững chắc v ới nhiều loại trái phiếu đa dạng, phong phú, hấp dẫn nhiều nhà đầu và công chúng đến bỏ vốn ra để đầu tư trái phiếu
- Ngư ợc lại, thị trường thứ cấp đến lượt nó là động lực, là điều kiện cho sự phát triển của t hị trư ờng sơ cấp, vì một khi trái phiếu đã được phát hành ra trên thị trư ờng, nếu không có một thị trường thứ cấp để lư u hành, mua bán, trao đổi t ạo ra tính thanh khoản cho trái phiếu thì thật khó có thể thuyết phục nhà đầu tư bỏ t iền ra mua trái phiếu
Trang 21- Chính việc mua bán giao dịch trái phiếu trên thị trường thứ cấp làm cho lưu động hóa vốn đầu tư, các nhà đầu tư có thể chuyển từ trái phiếu thành tiền m ặt - Vốn khả dụng thanh khoản cao của trái phiếu mà tính chất năng động của thị trường thứ cấp đãhấp dẫn các nhà đầu tư bỏ tiền ra m ua trái phiếu Điều này chính là điều kiện cơ bản
để các nhà phát hành trái phiếu có t hể bán đư ợc trái phiếu trên thị trường sơ cấp và huy động được nguồn vốn lớn theo nhu cầu
2.2, Thị trường cho vay thế chấp( Mortgage market): Vay thế chấp là khoản vay
dài hạn được đảm bảo bằng bất động sản
Đặc điểm của khoản vay thế chấp:
Lãi suất của khoản vay được quyết định bởi 3 yếu tố: thứ nhất là lãi suất dài hạn trên thị trường, thứ hai là kỳ hạn của khoản vay và thứ ba là số điểm chiết khấu đã trả
Là kỳ hạn vay dài
Yêu cầu tài sản bảo đảm, thường là bất động sản được hình thành từ tiền vay
Thanh toán trước một phần(down payments) đề nhận được một khoản vay thế chấp
Có một loại thi trường cho vay thế chấp khác xuất hiện sau cuộc Đại suy thoái thì chính phủ Mỹ đã thành lập một vài tổ chức để mua các khoản vay thế chấp Hiệp hội vay thế chấp liên bang quốc gia (Fannie Mae) được thành lập để mua các khoản vay thế chấp của các quỹ tiết kiệm để các quỹ này không cho vay thêm nữa Tổ chức này
sẽ tài trợ các vụ mua bán đó bằng cách bán trái phiếu ra ngoài công chúng Từ đó thị trường cho vay thế chấp thứ cấp ra đời
Chứng khoán hóa các khoản cho vay thế chấp: đó là việc phát hành các trái phiếu được đảm bảo bằng các khoản vay thế chấp Nguyên nhân của việc phát hành là do các khoản vay thế chấp thường quá nhỏ để là công cụ bán buôn, thứ hai là việc bán khoản vay thế chấp trên thị trường thứ cấp đó là không chuẩn hóa Thường thì các khoản vay thế chấp có dịch vụ rất tốn kém và không biết rõ về rủi ro thanh toán
2.3, Thị trường tín dụng thuê mua( thuê tài chính): Tín dụng thuê mua hay còn
được gọi là hoạt động cho thuê tài chính hoặc có thể được gọi là thuê vốn Đây là hình thức tín dụng trung và dài hạn, trong đó người cho thuê cam kết mua tài sản, thiết bị theo yêu cầu của người thuê và là người nắm giữ quyền sở hữu tài sản đó Người thuê là người sử dụng tài sản và phải thanh toán tiền thuê cho người cho thuê tài sản trong một khoảng thời gian đã được thỏa thuận trước Trong suốt thời gian thuê, người thuê có thể chuyển quyền sở hữu, mua lại hoặc tiếp tục thuê không được quyền hủy bỏ hợp đồng thuê trước kỳ hạn Khi kết thúc hợp đồng, người thuê có thể chuyển quyền sở hữu, mua lại hoặc tiếp tục thuê như đã thỏa thuận trong hợp đồng Thông thường hoạt động tín dụng thuê mua được cung cấp bởi các ngân hàng lớn hoặc các công ty tài chính, cho nên thị trường tín dụng thuê mua là một nơi hoạt độngcủa ngan hàng và công ty tài chính
Trang 22Phân loại hợp đồng tín dụng thuê mua: Tùy theo tính chất của giao dịch thuê mua
có các loại hợp đồng sau:
Hợp đồng cho thuê liên kết là hợp đồng gồm nhiều bên bán tài trợ cho một người thuê Sự liên kết này có thể xảy ra theo chiều ngang hoặc chiều dọc tùy theo tính chấtcủa loại tài sản hoặc khả năng tài chính của các nhà tài trợ
Hợp đồng cho thuê bắc cầu là hình thức cho thuê mà người cho thuê đi vay để muatài sản cho thuê một hay nhóm người nào đó
Hợp đồng bán và tái thuê là một thỏa thuận tài trợ tín dụng trong đó công ty
A( người thuê) bán một tài sản của chính họ cho công ty B( người cho thuê), đồng thời sau đó một hợp đồng thuê mua được soạn thảo với một nội dung công ty B đồng
ý cho công ty A thuê lại chính tài sản mà họ vừa bán
Hợp đồng thuê mua trả góp là một hình thức thuê mua trả góp tài sản trong một khoảng thời gian từ 1 đến 5 năm, được áp dụng đối với trường hợp người mua có thế chấp và cả không có thế chấp Hình thức tài trợ này có nguồn gốc từ những biện phápkhuyến mại của các công ty chế tạo lớn nhằm đẩy mạnh việc bán sản phẩm của họ Trong giai đoạn đầu, người bán thường giao quyền sở hữu đối với thiết bị, thay vì nhận vật thế chấp của người mua và hình thức bán trả góp trở thành khá tương đồng với thuê mua tài chính
Tài sản trong thuê tài chính phổ biến là bất động sản, có thời hạn sử dụng gồm: máy móc thiêt bị, phương tiện đơn chiếc hoạt động độc lập; dây chuyên sản xuất; thiết bị lẻ trong dây chuyền sản xuất đồng bộ; thiết bị văn phòng, thiết bị điện tử điện toán, viễn thông, y tế và các hoạt động khác
Trang 23III, Vai trò thị trường vốn
Thị trường vốn đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế chủ yếu thể hiện ở việc khuyến khích đầu tư bằng cách cung cấp phương tiện và cách thức để người mua và người bán thực hiện giao dịch Các khoản đầu tư này sẽ cho phép doanh nghiệp huy đông được vốn để phát triển kinh doanh Việc huy động vốn của các doanh nghiệp được thực hiện trên thị trường sơ cấp, còn thị trường thứ cấp chủ yếu cung cấp tính thanh khoản cho các loại chứng khoán
Thị trường vốn cũng khuyến khích đầu tư thông qua một kênh khác Thông qua các qui định bảo vệ các nhà đầu tư và khuyến khích áp dụng công nghệ hiện đại, thị trường giúp các nhà đầu tư giao dịch chứng khoán hiệu quả và đảm bảo rằng họ đượcđối xử công bằng và có được mức lợi tức phù hợp với rủi ro mà họ phai gánh chịu
Sự phát triển của thị trường vốn , cùng với thị trường tài chính nói chung, đóng vaitrò quan trọng trong hệ thống tài chính và tăng trưởng kinh tế
Thứ nhất, thị trường vốn cung cấp thêm một kênh đầu tư cho các nhà tiết kiệm
( bao gồm cả các nhân và tổ chức, doanh nghiệp hoặc các trung gian tài chính) Bên cạnh việc gửi tiền tại các ngân hàng hoặc các tổ chức nhận tiền gửi, người tiết kiệm
có thể mua các loại chứng khoán (bao gồm cổ phiếu, trái phiếu các loại) Tất nhiên đây là các khoản đầu tư rủi ro, tuy vậy, các nhà đầu tư có xu hướng chấp nhận rủi ro khác nhau và sẵn sàng chấp nhập rủi ro với mực lợi tức phù hợp Thị trường vốn sẽ rất quan trọng đối với các nhà đầu tư khi mà các khoản đầu tư thay thế là tiền gửi tiết kiệm hoặc tín phiếu kho bạc có lãi suất thấp Do vậy, thị trường vốn sẽ thúc đẩy việc tiết kiệm và huy động vốn Nếu thị trường thứ cấp hoạt động tốt, các nhà đầu tư sẽ cóđược khoản đầu tư có tính thanh khoản cao và tốt hơn so với viêc đầu tư vào vàng hay bất động sản
Một khía cạnh khác mà thị trường vốn có thể thúc đẩy tiết kiệm và đầu tư là khả năng chuyển đổi kỳ hạn các khoản đầu tư Các công ty cần huy động vốn dài hạn để
mở rộng sản xuất, còn các nhà đầu tư thì cần có tính thanh khoản và các công cụ tài chính có kỳ hạn khác nhau Thị trường vốn có thể đáp ứng được đầy đủ các nhu cầu đối nghịch nhau này, và như vậy thúc đẩy việc tich lũy và huy động vốn nhiều hơn
Thứ hai, thị trường vốn thúc đẩy việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, nâng cao
hiệu quả quản lý và kiểm soát công ty Thị trường vốn thúc đẩy hiệu quả quản lý thông qua việc thiết lập các sức ép từ bên ngoài đối với hoạt động của công ty Nếu như ban giám đốc công ty điều hành kém năng lực, họ sẽ bị thay thế bởi những nhóm
có năng lực hơn Các công ty hoạt động yếu kém có thể bị phá sản hoặc bị thôn tính, hoặc bị sáp nhập vào các công ty khác lớn mạnh hơn Thêm vào đó, quyền lợi của ban giám đốc trong các công ty được gắn với kết quả kinh doanh của công ty đồng thời với biến động giá cổ phiếu trên thị trường Ban giám đốc thường được quyền mua cổ phiếu với giá ưu đãi Do vậy, ban giám đốc công ty sẽ có động lực thúc đẩy
để làm việc tốt vì nêu công ty hoạt động tốt, giá cả phiếu trên thị trường tăng lên và lợi ích của ban giám đốc cũng tăng lên
Trang 24Biến động giá cổ phiếu trên thị trường phản ánh các thông tin liên quan tới chất lượng hoạt động, tiềm năng phát triển, mức độ khan hiếm và giá trị của cổ phiếu, do vậy giúp cho các nhà đầu tư quyết định phân bổ vốn tới những nơi có khả năng sử dụng vốn tốt nhất và tạo nên hiệu quả phân bổ nguồn lực.
Thị trường vốn cũng cung cấp khả năng san sẻ và quản lý rủi ro tốt Thị trường vốncho phép các nhà đầu tư chia sẻ rủi ro của những dự án có mức độ rủi ro, lợi nhuận cao và cho phép các dự án có lợi nhuận cao, rủi ro cao sẽ không được thực hiện và như vậy sẽ không tạo thêm các giá trị mới cho nền kinh tế Thị trường vốn do vậy thúc đẩy nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
Thứ ba, thị trường vốn là một kênh huy động vốn quan trọng của chính phủ Thị
trường vốn cho phép chính phủ, các cơ quan của chính phủ phát hành các loại trái phiếu để vay nợ nhằm tài trợ cho thâm hụt ngân sách hoặc các hoạt động của chính phủ Thị trường vốn sẽ là một kênh để chính phủ vay nợ tài trợ cho thâm hụt ngân sách, thay vì tài trợ thông qua vay nợ ngân hàng trung ương hoặc vay nợ từ nước ngoài Hoạt động của thị trường trái phiếu chính phủ cũng giúp cải thiện việc thực thichính sách tiền tệ thông qua việc đạt được các mục tiêu về kiểm soát tiền tệ hay kiểm soát làm phát đồng thời cho phép thực hiện các công cụ gián tiếp của chính sách tiền
tệ Sự tồn tại của thị trường vốn cho phép chính phủ có thể điều tiết được các chi phí đầu tư cũng như chi thường xuyên để tránh các cú sốc về chi tiêu, đồng thời giảm chi phí vay nợ của chính phủ và giảm các rủi ro khác liên quan tới vay nợ như rủi ro về lãi suất, tỷ giá
Thứ tư, thị trường vốn là một kênh thu hút vốn đầu tư gián tiếp từ các nhà đầu tư
nước ngoài muốn đa dạng hóa danh mục đầu tư của họ Nguồn vốn đầu tư từ nược ngoài cho phép các công ty trong nước huy động vốn với chi phí rẻ hơn, đồng thời làm tăng tính thanh khoản cho thị trường vốn trong nước
Trang 25Tầm quan trọng của nguồn vốn đầu tư tác động tới sự tăng trưởng kinh tế
Ở trên là bốn yếu tố cho thấy tầm quan trọng của thị trường vốn đối với nền kinh tếđược thừa nhận rộng rãi Thị trường vốn hoạt động hiệu quả là yếu tố quan trọng thúcđẩy quá trình công nghiệp hóa Huy động vốn qua phát hành cổ phiếu cho phép nâng cao việc huy động vốn từ bên ngoài, đồng thời cho phép thực hiện các dự án đầu tư
có mức sinh lợi cao, và như vậy sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Điều này có ý nghĩa quan trọng đối với các nhà hoạch định chính sách ở các nước đang phát triển, nghĩa làcác chương trình phát triển thị trường vốn phải nhận được sự ưu tiên trong chương trình cải cách của chính phủ Nghiên cứu của Atje và Jovanovic đối với một nhóm hơn 40 nước trong các năm thập kỷ 1980 cho thấy có một mối liên hệ mạnh giữa giaodịch trên thị trường chứng khoán với tăng trưởng kinh tế Sử dụng mô hình của Atje
và Jovanovic, Murinde tìm thấy mối liên hệ tích cực giữa phát triển thị trường vốn với tốc độ tăng trưởng kinh tế ở các nước châu Á Thái bình dương Gần đây hơn, mộtnghiên cứu chuyên sâu của Levine và Zervos cho thấy thị trường chứng khoán đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế Thêm vào đó, các tác giả này không tìm thấy bằng chứng tiêu cực của biến động thị trường chứng khoán hoặc sự hội nhập thị trường chứng khoán tới tăng trưởng kinh tế Các nghiên cứu thực nghiệm khác cũng cho thấy thị trường tài chính phát triển trong đó thị trường vốn có đóng góp tích cực tới hiệu quả hoạt động của các công ty
Một vấn đề tương đối quan trọng đối với các thị trường vốn ở các nước đang
chuyển đổi là tác động của việc tự do hóa việc kiểm soát vốn tới sự phát triển của thị trường vốn Thông thường, các nhà đầu tư nước ngoài chỉ được phép nắm giữ một phần các loại chứng khoán trên thị trường , ví dụ như trường hợp cổ phiếu loại A và
B như trên thị trường chứng khoán Trung Quốc Nghiên cứu của Levine và Zervos cho thấy tự do hóa việc kiểm soát vốn có thể làm tăng cường sự phát triển của thị trường vốn Sự tự do hóa kiểm soát vốn sẽ dẫn tới một thị trường vốn có tính thanh khoản tốt hơn, qui mô lớn hơn và cũng biến động nhiều hơn Thêm vào đó, các nhà nghiên cứu này cũng nhận thấy thị trường vốn lớn hơn và thanh khoản tốt hơn sẽ có đóng góp tích cực tới tăng trưởng kinh tế dài hạn, do vậy họ ủng hộ việc tự do hóa kiểm soát vốn
Tăng
trưởng
kinh tế
Vốn đầu tư