TIỂU LUẬN CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ TIỂU LUẬN CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾTIỂU LUẬN CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾTIỂU LUẬN CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾTIỂU LUẬN CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾTIỂU LUẬN CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾTIỂU LUẬN CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CÁ TRA, CÁ BASA VÀ BẢO HỘ THƯƠNG MẠI MỸ CHÍNH SÁCH XUẤT NHẬP KHẨU CÁ BASA CÁ TRA BẢO HỘ THƯƠNG MẠI
Trang 1MỤC LỤC
A LỜI MỞ ĐẦU 2
B NỘI DUNG 3
Phần 1: Hoạt động xuất nhập khẩu cá tra, cá basa của Việt Nam sang Mỹ trước vụ kiện bán phá giá (1999 – 2009) 3
1 Hoạt động xuất khẩu cá tra, cá basa sang thị trường Mỹ 3
2 Hoạt động nhập khẩu cá tra, cá basa tại Mỹ và phần trăm kim ngạch nhập khẩu đối với hàng của Việt Nam 5
Phần 2: Vụ Mỹ kiện Việt Nam bán phá giá cá tra, cá basa vào thị trường Mỹ 8
1 Nguyên nhân dẫn đến vụ kiện: 8
2 Từng bước hành động và điều tra từ phía Mỹ : 10
3 Khởi kiện từ phía Mỹ 12
4 Quyết định của tòa án 15
Phần 3: Bài học kinh nghiệm rút ra từ vụ kiện đối với các doanh nghiệp Việt Nam và biện pháp phòng tránh và đối phó với các vụ kiện bán phá giá ở nước ngoài 16
1 Bài học đối với doanh nghiệp 16
2 Biện pháp phòng tránh và đối phó với các vụ kiện bán phá giá ở nước ngoài 18
D TÀI LIỆU THAM KHẢO 20
Trang 2A LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh toàn cầu hoá và quốc tế nền kinh tế, hội nhập và tham gia các tổchức kinh tế quốc tế là xu thế không thể nào đảo ngược đối với mỗi quốc gia trong quátrình phát triển kinh tế của mình Cùng với việc thực hiện đường lối chủ động hội nhậpkinh tế quốc tế, Việt Nam đã đạt được thành tựu khá ngoạn mục trong việc đẩy mạnhxuất khẩu hàng hóa Trong khi những mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam ngày càng có
uy tín trên thị trường thế giới, thì đã xuất hiện một số trường hợp hàng xuất khẩu củanước ta bị nước nhập khẩu điều tra và áp dụng thuế chống bán phá giá để tạo ra hàngrào bảo hộ, ngăn cản hàng hoá của ta không cho xuất khẩu vào thị trường của nước họ.Mặt hàng cá tra, cá basa là một ví dụ điển hình Bài tiểu luận dưới đây xin đề một sốvấn đề cơ bản về bán phá giá cá tra, cá basa Việt Nam vào các thị trường tiềm năng –
cụ thể ở đây là Mỹ và bài học rút ra sau vấn đề
Trang 3B NỘI DUNGPhần 1: Hoạt động xuất nhập khẩu cá tra, cá basa của Việt Nam sang Mỹ trước
vụ kiện bán phá giá (1999 – 2009)
1 Hoạt động xuất khẩu cá tra, cá basa sang thị trường Mỹ
Dựa trên những cơ hội của lệnh cấm vận nâng lên do Hoa Kỳ vào năm 1995 vàHiệp định đã ký kết, các nhà xuất khẩu Việt đẩy mạnh thâm nhập vào thị trường Hoa
Kỳ, đặc biệt là đối với philê cá tra đông lạnh với những lợi thế của chi phí sản xuấtthấp (Ví dụ như lao động) và giống giá rẻ Tăng trưởng của cá tra Việt Nam và ngànhcông nghiệp sản xuất cá basa,(được thể hiện qua Bảng 1) dẫn đến sự gia tăng khốilượng xuất khẩu cá tra philê đông lạnh vào thị trường Mỹ với mức tăng trưởng trungbình hàng năm là 157% từ năm 1996 đến 2002.Theo chương trình hài hòa thuế quancủa Mỹ, nhập khẩu cá tra philê đông lạnh từ các nước có quan hệ thương mại bìnhthường với Hoa Kỳ được hưởng mức thuế bằng không phần trăm Tuy nhiên, cá philêtrọng chuyển từ các nước không có quan hệ thương mại bình thường phải chịu mứcthuế là 4,4 cent cho mỗi kg Như vậy, tính đến ngày có hiệu lực của Hiệp định giữa VN
và Mỹ, thuế nhập khẩu là 4,4 cent / kg đã được áp dụng đối với cá tra, basa philê Qua
đó, với giá xuất khẩu trung bình 3,13 USD / kg, mức thuế này khoảng 1,4 phần trăm
1996 1997 1998 1999 2000 2001 20020
Trang 4trên giá trị nhập khẩu Tuy nhiên, từ tháng 12 năm 2001 trở đi,nó đã có không còn làthuế quan trên sản phẩm.
Kim ngạch xuất khẩu cá da trơn phile của Việt Nam sang Hoa Kỳ đạt giá trị lớn
và có mức độ tăng tưởng rất cao qua các năm từ 1996-2002
Năm Kim ngạch xuất khẩu (USD) Tỉ lệ tăng trưởng (%)
Trang 5Mặc dù Mỹ mở một rào cản thương mại đối với Việt Nam,nhưng điều này khôngthể giúp Mỹ đạt được một tình hình thị trường tốt hơn Ngược lại,thị trường cá tra filletđông lạnh của Mỹ trở nên tồi tệ, do chiến lược giá của các nhà xuất khẩu và nhà chếbiến Việt Nam giảm giá liên tục từ 4,65USD / kg trong 1996-2,99 USD / kg vào năm
2002 Giá Việt đã ở mức thấp nhất trong năm 2001 Đối phó với tình hình thị trườngsuy giảm, Mỹ dựng lên một rào cản thương mại đối với Việt Nam bằng cách áp đặtthuế chống bán phá giá Điều này gây ra sự sụt giảm thị phần xuất khẩu cá basa ViệtNam và cá tra trong năm 2002 từ 75% còn 67% Thị phần cho nhu cầu trong nướctăng từ 25% năm 2001 lên 33% vào năm 2002, do sự "Catfish chiến" giữa Việt Nam vàHoa Kỳ Rõ ràng rằng một số nhà xuất khẩu và nhà sản xuất đã đa dạng hóa và nhắmvào thị trường trong nước thông qua cao hơn các sản phẩm giá trị gia tăng Dưới đây là
cơ cấu kim ngạch xuất khẩu cá philê đông lạnh của Việt Nam năm 2000 theo doanhnghiệp
Theo số liệu thống kê của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA-ERS 2016), khối lượng cá
da trơn nhập khẩu vào Mỹ tăng "chóng mặt" trong những năm gần đây Năm 1999lượng cá da trơn nhập khẩu vào Mỹ chỉ ở mức 3,451 triệu pao, sau 10 năm đã tăng gần
10 lần, đạt 30,105 triệu pao Đến năm 2006 lượng cá da trơn nhập khẩu vào thị trườngnày lại tăng hơn gấp đôi năm 2005, đạt 74,964 triệu pao và năm 2007 đạt 84,605 triệupao Năm 2009, khối lượng cá da trơn nhập khẩu đã đạt mức đỉnh tính từ năm 1999 vớikhối lượng 129,38 triệu pao Lượng cá da trơn nhập khẩu nhiều nhất vào quí 4 với
38,358 triệu pao tiếp theo là quý 3 35,017 triệu pao, quý 2 với 30,717 triệu pao và ítnhất là quý 1 với 25,288 triệu pao vào năm 2009
Trang 6Số liệu nhập khẩu cá da trơn ở Mỹ từ 1999-2009 ( Số liệu từ USDA-ERS)
Năm Loại Nguồn Đơn vị Khoảng
1999 Catfish Nhập khẩu 1,000 Pounds 3451
2000 Catfish Nhập khẩu 1,000 Pounds 8236
2001 Catfish Nhập khẩu 1,000 Pounds 18079
2002 Catfish Nhập khẩu 1,000 Pounds 10201
2003 Catfish Nhập khẩu 1,000 Pounds 5430
2004 Catfish Nhập khẩu 1,000 Pounds 9224
2005 Catfish Nhập khẩu 1,000 Pounds 30105
2006 Catfish Nhập khẩu 1,000 Pounds 74964
2007 Catfish Nhập khẩu 1,000 Pounds 84605
2008 Catfish Nhập khẩu 1,000 Pounds 102428
2009 Catfish Nhập khẩu 1,000 Pounds 129380
Mặc dù, Mỹ nhập khẩu cá da trơn từ nhiều nước như Inđônêxia, Trung Quốc,Mêhicô, Thái Lan, Việt Nam nhưng cá da trơn từ Việt Nam vẫn chiếm ưu thế hơn cả.Năm 1998, khi gia nhập APEC, lượng xuất khẩu cá tra, basa vào thị trường Hoa Kỳ chỉ
ít ỏi với hơn 200 tấn Nhưng đến năm 2002, số lượng xuất khẩu cá tra, basa vào thịtrường Hoa Kỳ đã lên đến gần 20.000 tấn sau khi Hoa Kỳ bỏ cấm vận Việt Nam và kýHiệp định thương mại song phương vào tháng 12/2001
Việc gia tăng nhanh chóng này ngoài lý do hàng rào thuế quan đối với sản phẩmthủy sản gần như đã được bãi bỏ (khi thuế nhập khẩu chỉ là 0%) còn có lý do nguồncung cấp cá tra, basa tăng nhanh chóng sau khi Việt nam đã thành công trong việc ứngdụng kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo trên cả hai đối tượng cá tra, cá basa và kỹ thuậtnuôi cá tra thịt trắng
Tuy nhiên đến năm 2003, khi cá tra đông lạnh Việt Nam bị Hoa Kỳ áp thuế chốngphá giá, lượng cá da trơn nhập khẩu vào Mỹ lập tức giảm rõ rệt, sản lượng nhập khẩuchỉ còn 5,43 triệu pao
Trang 7Hình I.2.1 Các quốc gia nhập khẩu cá tra cá basa và tỉ trọng qua các năm
Cũng theo số liệu của Bộ Nông nghiệp Mỹ ( USDA-ERS 2016), sản lượng cá datrơn nuôi chế biến tăng dần đều qua các năm từ 1999 đến 2003 Sản lượng đạt mứcđỉnh vào năm 2002 và 2003 với 630,601 triệu pao và 661,504 triệu pao Tuy nhiên, giá
cá trả cho người nuôi lại đạt thấp nhất, lần lượt là 56,8 xen/pao và 58,1 xen/pao Trongkhi đó, giá cá trung bình trả cho người nuôi đạt cao nhất là 78,4 xen/pao vào năm 1994nhưng sản lượng cá da trơn nuôi chế biến lại ở mức thấp nhất
Sản lượng cá trơn nuôi chế biến ở Mỹ từ 1999-2009 ( Số liệu từ USDA-ERS)
1999 Catfish Nuôi chế biến ở Mỹ 1,000 Pounds 596628
2000 Catfish Nuôi chế biến ở Mỹ 1,000 Pounds 593603
2001 Catfish Nuôi chế biến ở Mỹ 1,000 Pounds 597108
2002 Catfish Nuôi chế biến ở Mỹ 1,000 Pounds 630601
2003 Catfish Nuôi chế biến ở Mỹ 1,000 Pounds 661504
2004 Catfish Nuôi chế biến ở Mỹ 1,000 Pounds 630450
2005 Catfish Nuôi chế biến ở Mỹ 1,000 Pounds 600670
2006 Catfish Nuôi chế biến ở Mỹ 1,000 Pounds 566131
2007 Catfish Nuôi chế biến ở Mỹ 1,000 Pounds 496246
2008 Catfish Nuôi chế biến ở Mỹ 1,000 Pounds 509597
2009 Catfish Nuôi chế biến ở Mỹ 1,000 Pounds 466100
Từ năm 2004 đến cuối năm 2009 sản lượng có dấu hiệu giảm dần, trong đó năm
2008 sản lượng cá da trơn nuôi chế biến tại Mỹ chỉ còn 509,597 triệu pao, thấp hơn sovới sản lượng của các năm từ 1999 đến 2006 Đến năm 2009 thì sản lượng cá da trơnnuôi chế biển chỉ còn 466,1 triệu pao
Trang 8Việc gia tăng nhập khẩu các loại cá da trơn và những lại cá như basa tra khiếncho sản lượng cá da trơn nuôi chế biến tại các trang trại ở Mỹ bị giảm sút Sức ảnhhưởng của việc nhập khẩu là rất lớn, ảnh hưởng nhiều đến thị trường cá da trơn trongtoàn nước Mỹ.Năm 2009 nhập khẩu đạt mức 129,38 triệu pao trong đó Việt Namchiếm đến 66%, Thái Lan 11% và Trung Quốc là 18%.
Phần 2: Vụ Mỹ kiện Việt Nam bán phá giá cá tra, cá basa vào thị trường Mỹ
1 Nguyên nhân dẫn đến vụ kiện:
Thông qua các vòng đàm phán GATT/WTO, các rào cản thuế quan đã bị cắt giảmđáng kể trên toàn thế giới, nhưng biện pháp chống phá giá, như là một rào cản phi thuếquan, đang đóng một vai trò ngày càng quan trọng Do được cho phép bởi WTO, công
cụ chống phá giá đang được sử dụng ngày càng nhiều ở các quốc gia trên thế giớinhắm đến nhiều sản phẩm khác nhau Kể từ năm 1980, để đối phó với sự cạnh tranhgay gắt từ các sản phẩm nhập khẩu, các nhà sản xuất Mỹ liên tục tìm kiếm các biệnpháp bảo hộ thương mại Với điều luật bổ sung Byrd cho phép người đi kiện của Mỹtrong các vụ kiện bán phá giá được lãnh tiền bồi thường cho những tổn thất mà họ phảigánh chịu, biện pháp chống phá giá ngày càng được sử dụng nhiều ở quốc gia này Nghề nuôi cá nheo là một trong những ngành sản xuất thủy sản lớn nhất của Mỹ
và sản phẩm cá phi lê đông lạnh là sản phẩm chủ yếu của các doanh nghiệp chế biến cá
da trơn Mỹ Việt Nam bắt đầu xuất khẩu cá tra, cá basa sang thị trường Mỹ vào năm
1996 Năm 1998, lượng cá lát catfish không xương đông lạnh của Việt Nam xuất sangđây mới chỉ có 260 tấn Nhưng đến cuối năm 2001, con số ấy đã vọt lên 7.746 tấn Vớigiá thành rẻ hơn từ 0,08 đến 1USD/pound và chất lượng không thua kém catfish Mỹ,
cá Việt Nam đã gây ảnh hưởng không nhỏ tới việc tiêu thụ catfish của Mỹ, bằng chứng
là tổng giá trị catfish bán ra của Hiệp hội các nhà nuôi cá nheo Mỹ(CFA) giảm mạnh,
từ 446 triệu USD năm 2000 xuống còn 385 triệu USD năm 2001 Dưới sự cạnh tranhngày càng mạnh mẽ từ các sản phẩm cá của Việt Nam, CFA đã phải hành động nhằmđánh bật con cá của Việt Nam ra khỏi thị trường Mỹ Họ cho rằng:
Trang 9+ Cá Việt Nam nuôi trong môi trường nước bị ô nhiễm, không đảm bảo chấtlượng và an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng Phía CFA yêu cầu sản phẩm
cá da trơn không được gọi là catfish, vì như vậy là vô hình chung ăn theo uy tíncủa cá nheo Mỹ, cái uy tín mà họ mất nhiều năm trời và đổ bao tiền của mới tạodựng được
+ Phó chủ tịch điều hành CFA Hugh Warren quy chụp cho những lô cá xuấtkhẩu của Việt Nam là những sản phẩm rẻ tiền, kém chất lượng mà người takhông thể tìm thấy ở một xưởng sản xuất cỡ gia đình như các trại cá của Mỹ.Ông này cho rằng, mặc dù sản phẩm rẻ tiền của Việt Nam đang chiếm tới 20%thị phần và hấp dẫn những nhà hàng, khách sạn, nhưng “ những nhà hàng, kháchsạn này chỉ quan tâm tới giá cả chứ chẳng để ý đến chất lượng của sản phẩm”.Phóng viên Timothy nhận xét một cách khách quan rằng, những người nuôI cácatfish Mỹ không thể chạy đua về giá với sản phẩm nhập khẩu từ Việt Nam bởichi phí đầu vào (đặc biệt là về nhân công và thuế ) quá cao Trước sức ép của cá
da trơn đến từ Việt Nam, giá catfish Mỹ đã rớt thê thảm, từ 0.74 USD/ poundnăm 2000 xuống còn 0.58 USD, thậm chí có lúc chỉ khoảng 0.2 USD/ pound.Theo Phó chủ tịch Warren: “ Mức giá như vậy không đủ bù cho chi phí sảnxuất ít nhất phải bán được 65-70 cent/ pound, may ra người nuôi cá mới có thểhoà vốn”
Bên Việt Nam cũng đưa ra rất nhiều dẫn chứng ủng hộ việc giá thành cá basaxuất khẩu sang bên Mỹ không cao:
+ Nhờ "không ngừng cải tiến, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sảnxuất giống, nuôi, phòng và chữa bệnh cũng như chế biến" Tại vùng Đồng bằngsông Cửu Long (ĐBSCL), cá tra, basa chủ yếu được nuôi trong lồng bè hoặcđăng quầng trên sông Cá cũng được nuôi trong ao, nhưng năng suất và chấtlượng không cao Mỗi nhà bè nuôi cá, cũng đồng thời là nơi sinh hoạt của một
hộ gia đình với đầy đủ tiện nghi Bè cũng là nơi chứa nguyên liệu và là nơi chếbiến thức ăn cho cá Nhờ vậy, người nuôi cá không mất tiền thuê ao để nuôi cá,
Trang 10không cần thuê nhà ở Tuy nhiên, vốn đầu tư để đóng 1 lồng bè 50-60 tấn mấtkhoảng 200 triệu đồng (5m x15m x5m) cũng khá lớn Song bù lại có thể khấuhao 6 -10 năm và chỉ cần lãi vài năm là hoàn vốn Cá biệt có những bè lớn chosản l ượng 150-200 tấn, trị giá cả tỷ đồng Từ 2 tỉnh đầu nguồn sông Cửu Long
là An Giang và Đồng Tháp, nghề nuôi 2 loài cá da trơn này đã lan rộng sang cáctỉnh Cần Thơ, Vĩnh Long, Tiền Giang, Bến Tre và cả Thành phố Hồ Chí Minh.Điều đó cho thấy hiệu quả mang lại từ nghề nuôi cá tra, basa rất lớn
+ Một lợi thế khác mà nghề nuôi cá nheo ở đồng bằng sông Mississippi khó cóthể sánh được là khí hậu ở ĐBSCL rất thích hợp cho sự sinh trưởng quanh nămcủa cá không như ở Mỹ cá rất chậm lớn về mùa đông Cá nheo Mỹ sau 18 thángnuôi mới đạt 1,5 pao (680 g) Cùng sử dụng thức ăn tự chế biến giàu đạm, cá trachỉ cần 8-10 tháng đạt 1 kg và cá basa là 12-14 tháng đạt 1,5 kg Gần đây, cácdoanh nghiệp Việt Nam đã liên tục đổi mới dây chuyền sản xuất không thuakém gì Mỹ Họ luôn tìm mọi cách tiết kiệm, hạ chi phí sản xuất + Ngoài các sản phẩm philê cá đông lạnh, các doanh nghiệp liên tục đưa ra thịtrường các mặt hàng mới như chà bông (ruốc) cá, khô cá, xúc xích cá, cá kho tộ,
cá hun khói Xương cá được chế biến thành dược liệu có giá trị kinh tế cao.Bao tử cá và da cá được chế biến thành món đặc sản Nhờ vậy đã giúp các nhàchế biến giảm 5- 10% giá thành sản phẩm Ngoài ra, với nguồn cung cấpnguyên liệu quanh năm, nên các nhà chế biến phát huy tối đa công suất dâychuyền sản xuất tới 300 ngày sản xuất/năm và khấu hao nhanh
=>Những lý do thực tế trên đã chứng minh hết sức rõ ràng tại sao giá cá xuất khẩucủa Việt Nam lại rẻ hơn giá cá nheo của Mỹ Mặc dù vậy, CFA vẫn kiên quyết khởi kiện
2 Từng bước hành động và điều tra từ phía Mỹ :
Ban đầu, vào cuối năm 2000, CFA tung lên báo chí Mỹ những thông tin thất thiệt,bôi xấu hình ảnh cá tra, cá basa của Việt Nam Đến tháng 2/2001, lúc này ở Mỹ khanhiếm cá nheo, cá Việt Nam nhập khẩu tăng, cuộc chiến lại rộ lên
Trang 11Tháng 6/2001, Chủ tịch CFA gửi thư yêu cầu đến Tổng thống Bush đề nghịChính phủ Mỹ đàm phán với Việt Nam một hiệp định riêng về vấn đề cá catfish., đồngthời thuê mướn luật sư, thu thập thông tin, đẩy mạnh tuyên truyền hạ thấp uy tín cáViệt Nam Không chỉ dừng lại ở đó, CFA tìm mọi cách thu hút nghị sỹ Quốc hội, nhất
là ở những bang có nghề nuôi cá nheo để cung cấp thông tin một chiều, tạo nên mộthình ảnh chung rất xấu cho sản phẩm cá Việt Nam cùng những nguy cơ mà người nuôi
cá nheo Mỹ có thể phải gánh chịu nếu không siết chặt các quy định nhập khẩu
Sau khi bắt đầu cuộc công kích sản phẩm cá của Việt Nam nhưng không mang lạimấy hiệu quả, CFA đã quyết định tấn công mạnh mẽ hơn bằng một loạt "đòn hiểm ác"
Mở đầu, một số Thượng và Hạ nghị sỹ đại diện cho những bang có nuôi cá nheo cùng
ký tên vào một bức thư gửi Đại diện thương mại Mỹ Robert Zoellick, cho rằng cá tra,
cá basa từ Việt Nam đang gây thiệt hại cho nghề nuôi cá nheo Mỹ, đề nghị chính phủ
Mỹ phải sớm ra tay can thiệp
Ngày 11/7/2001, một số thượng nghị sỹ bang Mississippi và Arkansas lên tiếngkêu gọi Quốc hội thông qua một dự luật về ghi nhãn đối với nguồn gốc xuất xứ của cánuôi nhập khẩu trong khi bán lẻ, song không được ủng hộ
Ngày 5/10/2001, Hạ viện Mỹ thông qua dự luật HR 2964 chỉ cho phép sử dụngtên cá "catfish" cho riêng các loài thuộc họ Ictaluridae (họ cá Nheo Mỹ)
Ngày 25/10/2001, Thượng viện Mỹ tiếp tục biểu quyết miệng, thông qua 35 điềuluật bổ sung cho dự án số HR 2330 về phân bổ ngân sách nông nghiệp năm tài chính
2002, không cho phép FDA sử dụng ngân sách được cấp để làm thủ tục cho phép nhậpkhẩu các loài cá da trơn mang tên "catfish" trừ khi chúng thuộc họ cá nheo Mỹ
Quốc hội Mỹ thông qua Đạo luật An ninh trang trại và Đầu tư nông thôn HR
2646 cấm hoàn toàn việc dùng tên "catfish" cho cá tra, cá basa Việt Nam, áp dụngtrong tất cả các khâu từ nhập khẩu, bán buôn, bán lẻ, nhà hàng, quảng cáo, thông tin trong vòng 5 năm và có khả năng sẽ kéo dài vĩnh viễn CFA không chỉ dừng ở đó màlại vin tiếp vào điều khoản 10806 của Đạo luật An ninh nông trại và Đầu tư nông thôn