Khi nghiên cứu về các loài bướm ngày, ngoài việc nghiên cứu đặc điểm về hình thái, cần phải quan tâm đến đặc điểm của cả quần thể để quần thể đó đề xuất các giải pháp thích hợp làm cho c
Trang 1MỤC LỤC
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Côn trùng có mặt trên trái đất cách đây 370 triệu năm, chúng sinh sôi vàphát triển 1 cách nhanh chóng trong các khu rừng nguyên sinh và là giốngsinh vật đầu tiên biết bay Trong khoảng 1.200.000 loài động vật có mặt trêntrái đất thì côn trùng chiếm hơn 1.000.000 loài và hơn nữa có những loài côntrùng chưa được biết đến còn rất nhiều, phạm vi phân bố của chúng rất rộng Côn trùng có vai trò hết sức quan trọng trong hệ sinh thái tự nhiên, chúng
là mắt xích quan trọng trong chuỗi thức ăn góp phần vào quá trình tuần hoànvật chất, tham gia tích cực vào quá trình hình thành đất nhờ ăn và phân hủycác chất hữu cơ Bên cạnh đó côn trùng là người bạn của con người trong việcnâng cao năng suất cây trồng và tạo ra những dòng tiến hóa mới thông quaviệc thụ phấn cho các loài thực vật…
Trong lớp côn trùng, bộ Cánh vẩy (Lepidoptera) là một bộ rất đa dạng vàphong phú Các loài bướm hoạt động vào ban ngày (Rhopalocera) có vai tròquan trọng trong đời sống con người Chúng tham gia vào quá trình thụ phấncho hoa màu, tăng năng suất cho cây trồng Đây là nhóm côn trùng rất phongphú và đa dạng cả về nơi ở và số lượng của chúng, chúng có khả năng thíchứng cao với sự biến đổi của môi trường, chúng thường được dùng làm sinhvật chỉ thị để đánh giá chất lượng rừng, đánh giá hiệu quả của công tác bảotồn thông quá sự biến động của quần thể loài bướm theo thời gian
Khi nghiên cứu về các loài bướm ngày, ngoài việc nghiên cứu đặc điểm
về hình thái, cần phải quan tâm đến đặc điểm của cả quần thể để quần thể đó
đề xuất các giải pháp thích hợp làm cho chúng đa dạng về thành phần loài,phong phú về số lượng và có lợi cho sản xuất, phục vụ tham quan du lịch…Vườn Quốc Gia Pù Mát-Nghệ An có tính đa dạng sinh học ở đây cao, cónhiều loài quý hiếm được phát hiện và một số loài mới xuất hiện ở Việt Nam.Tại đây đã có nhiều nghiên cứu về đa dạng sinh học nói chung và đa dạng côntrùng cánh vảy nói riêng Theo kết quả điều tra chuyên đề của Vườn vềnghiên cứu có tổng cộng 1855 tiêu bản thuộc 305 loài và 11 họ đã được thuthập Trong đó có 7 loài bướm ngày và 4 loài bướm đêm là những loài mới ở
Trang 3Việt Nam Ngoài ra còn có 3 loài bướm ngày nằm trong sách đỏ Việt Nam(RBD 2007) được xếp hạng ở mức VU (Sẽ nguy cấp) Tuy nhiên, kết quảnghiên cứu này mới chỉ xác định thành phần loài mà chưa nghiên cứu các đặcđiểm khác của khu hệ Bướm ngày tại đây như: Phân bố, sinh cảnh, đặc điểmsinh học sinh thái học… Để bổ sung những thông tin này góp phần cung cấpmột cách hệ thống và đầy đủ về khu hệ Bướm ngày tại đây Tôi thực hiện đềtài: “Nghiên cứu tính đa dạng và đề xuất biện pháp quản lý các loài bướmngày (Rhopaloceera) tại vườn quốc gia Pù Mát”.
Trang 4Giai đoạn đầu những năm đầu thế kỉ 20, nghiên cứu về Bộ cánh vảy
(Lepidoptera) có công trình của J.de Joannis mang tên “Lepidopetes du
Tonkin” xuất bản ở Paris năm 1930 Tác giả đã thống kê được 1.798 loài
thuộc 746 giống và 45 họ
Theo Wilson (1988) tổng số loài sinh vật đã được biết đến trên Trái đất là1.413.000 loài, trong đó côn trùng có tổng số là 751.000 loài chiếm 53,15%các loài và chiếm 70,66% trên tổng số động vật Các nhà phân loài học dựđoán có thể từ 5 triệu đến 30 triệu loài sinh vật trên trái đất và chiếm phần lớn
là vi sinh vật và côn trùng Cho đến nay, người ta dự đoán còn khoảng 3-4triệu loài hoặc hơn nữa chưa được con người biết đến, chủ yếu là những loàicôn trùng ở vùng nhiệt đới
Năm 1920-1940 các nhà thu thập mẫu côn trùng nghiệp dư đã xuất bảnmột tập tài liệu phân loại bướm gồm 33 tập ở Niedejrland
Có rất nhiều nhà khoa học trên thế giới đã tiến hành nghiên cứu về côntrùng nói chung và bướm nói riêng Trong khu vực Châu Á phải kể đến cácnghiên cứu của Trung Quốc, Ấn Độ, Singapore, Indonesia, Myanma
Năm 1932 một tập thể tác giả ở Ấn Độ mà đại diện là W.H.Erans đã xuấtbản “Sự nhận biết các loài bướm ở Ấn Độ” trong đó có 19 họ bướm và cáckhóa phân loại của một số giống chủ yếu của họ
Manferd Koch, 1953, 1978 đã xuất bản “Phân loại bướm và ngài”
Gottfried Amann, 1959 có cuốn “Các loài côn trùng”
Trang 5Năm 1970 - 1978 Donal J.Borror và Richar D.E.White đã xuất bản cuốnsách “Hướng dẫn côn trùng” ở Bắc Mỹ thuộc Mexico trong đó cũng đề cậpđến phân loại bộ cánh vẩy Lepidoptera.
Năm 1987, một số nghiên cứu của các chuyên gia Trung Quốc như TháiBàng Hoa, Cao Thu Lâm đã công bố công trình phân loại côn trùng rừng VânNam Năm 1999, Lichunlong đã đề cập đến tính đa dạng sinh học của các loàiBướm ngày của Vân Nam Tài liệu dùng để phân loại bướm ngày có quyển “Bướm đảo Hải Nam” của Cố Mậu Thìn và Trần Phượng Trân giới thiệu trên
500 loài bướm ngày khác nhau
Theo Bei Brienko (1966) bộ Cánh vẩy (Lepidoptera) có từ 150.000 200.000 loài Đối với loài Bướm ngày (Rhopalocera) đến cuối thế kỷ XX cácnhà nghiên cứu mới quan tâm nhiều và đưa đến một số kết quả như công trìnhcủa A.L.Linki (1962), M.A.Ionescn (1962), Manfred Koch (1955),
-1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Những nghiên cứu về bướm đầu tiên của nước ta chủ yếu là do cácchuyên gia nước ngoài, các công trình của nhà Bách khoa toàn thư nhưLinnaeus, Fabricius, Latreil các công trình phân loại chủ yếu xuất bản choThái Lan (Pinratana, 1979-1922 ), Malaysia (Corbert và Fendlebury, 1992) vàkhu Phương Đông (D Abrare, 1982-1986) Các nghiên cứu khoa học như :Evas ( 1932, 1949), Lee (1982,1984, Satyridea), Aoki và Yamaguchi (1984;Satyridea), Shirozu và Yata (1973, Pieridea) cũng đã có một số báo cáo chitiết về côn trùng Cánh vẩy
Công tác nghiên cứu các loài bướm ở Việt Nam cũng đã bước đầu đạtđược một số thành tựu nhất định Trong những cố gắng ban đầu lập ra mộtdanh sách tổng hợp về các loài trong họ Lepidoptera được xuất bản năm 1919(Dubois và Vatalis de Salvaza, 1919) bao gồm 579 loài bướm thu nhập ở Bắc
Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ Việc thu thập này chủ yếu vào giữa thế kỷ XX vàmột danh sách kiểm kê của 455 loài bướm ở Việt Nam được xuất bản năm1957
Trang 6Năm 1930 có công trình J.de Joanis xuất bản ở Paris đã thống kê được
1788 loài thuộc 75 giống trong 45 họ, trong đó có 9 giống và 142 loài mới.Năm 1954 đến nay các nhà khoa học đã nghiên cứu để phân loại côntrùng nói chung và bộ Cánh vẩy nói riêng được thể hiện trong giáo trình “Côntrùng Lâm nghiệp” 1965 của Phạm Ngọc Anh, “Côn trùng rừng” của TrầnCông Loanh và Nguyễn Thế Nhã
Năm 1988, nhà côn trùng học người Nga - V.I.Kuznhetxov - thuộc Việnhàn lâm khoa học Liên Xô cũ, đã công bố khu hệ bướm ở miền Bắc Việt Namtại các địa điểm Hà Nội, Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Thái nguyên,
Các cuộc nghiên cứu toàn miền Bắc Việt Nam do một số người khác tiếnhành như : Monastyrkii, Đặng Thị Đáp, Lê Văn Triển, 1995; Monastyrkii vàĐặng Thị Đáp, 1996; Hill và Monastyrkii in prep; Devyatkin, 1996, 1997,
1998, 2000, 2001, 2002, 2003 đã xác định được thành phần loài côn trùngCánh vẩy và một số đặc điểm sinh thái của chúng
Trong những năm gần đây có một số công trình của các tác giả quốc tế vàViệt Nam đã đi sâu nghiên cứu đặc điểm và giá trị thẩm mĩ của côn trùngCánh vẩy như: Trung tâm nhiệt đới Việt - Nga tại sinh cảnh núi đá vôi PhongNha - Kẻ Bàng, A.L.Monastyrkii, Vũ Văn Liên, Bùi Xuân Phương (2000) khu
hệ Bướm Vườn quốc gia Tam Đảo, Trung tâm nhiệt đới Việt - Nga KhuấtĐăng Long (1999) nghiên cứu đa dạng sinh học của một số nhóm côn trùng
và giải pháp bảo tồn chúng ở VQG Tam Đảo (Viện sinh thái và tài nguyênsinh vật ) Bùi Công Hiến, Nguyễn Anh Diệp (1999) kết quả nghiên cứu bướcđầu về đa dạng sinh học côn trùng của VQG Tam Đảo Một số công trìnhnghiên cứu của TS.Đặng Thị Đáp ở VQG Tam Đảo Nghiên cứu của TrầnCông Loanh (1999) xác định thành phần loài ở VQG Cát Bà - Hải Phòng.Những kết quả nghiên cứu về Bướm ở nước ta cho thấy nơi có nhiềubướm quý nhất là Bảo Lộc - Lâm Đồng và VQG Tam Đảo - Vĩnh Phúc Cáccông trình nghiên cứu về bướm còn hạn chế nhưng ngày nay con người đã
Trang 7phần nào hiểu được giá trị thẩm mỹ và lợi ích kinh tế của chúng; trong nước
đã có một số hộ gia đình nuôi bướm hay dùng bướm
1.3 Tình hình nghiên cứu bướm ngày ở vườn quốc gia Pù Mát
Theo tình hình nghiên cứu có tổng cộng có 1855 tiêu bản thuộc 305 loài
và 11 họ đã được thu thập (Bảng 1) Việc giám định đã được thực hiện chohầu hết tất cả các tiêu bản mặc dù còn có một số tiêu bản yêu cầu cần có thêmgiám định khác Danh lục tổng kết và bản phân tích trình bày trong bản báocáo này được dựa trên những thông tin có sẵn hiện nay Số loài của từng họthuộc vào từng loại vùng địa lí được trình bày trong Bảng 2
Bảng 1: Bướm ngày thu thập theo họ và loài
Trang 8Bảng 2: Bướm ngày được thu thập theo vùng địa lý
họ Palaearctic phân bố rộng tận vùng Indo-Malay (5b) Không có loài nàothuộc phần thế giới được trình bày trong những thu thập nay, mặc dù chỉ códuy nhất một loài như thế (Vanessa cardui) được tìm thấy ở các khu vực khác
ở Việt Nam
Hầu hết những loài đặc hữu (Loại 1) là thành phần của họ Satyridae,Amathusiidae và Riodinidae
Chương 2.
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN ,KINH TẾ, XÃ HỘI
1 Một số đặc điểm tự nhiên - xã hội khu vực nghiên cứu
2.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1 Vị trí địa lý
Trang 9Vườn quốc gia Pù Mát nằm về phía Tây Nam tỉnh Nghệ An, cách thànhphố Vinh khoảng 160 km đường bộ Toạ độ địa lý của Vườn:
- Huyện Anh Sơn gồm 5 xã: Phúc Sơn, Hội Sơn, Tường Sơn, Cẩm Sơn vàĐỉnh Sơn
- Huyện Con Cuông gồm 7 xã: Môn Sơn, Lục Dạ, Yên Khê, Bồng Khê,Châu Khê, Chi Khê và Lạng Khê
- Huyện Tương Dương gồm 4 xã: Tam Quang, Tam Đình, Tam Hợp, TamThái
2.1.3 Địa hình địa mạo
Sông suối chính trong khu vực khe Thơi, khe Choăng và khe Khặng.Các đỉnh dông phụ có độ dốc lớn, độ cao trung bình từ 800 - 1500m, địahình hiểm trở Phía Tây Nam của VQG là nơi có địa hình tương đối bằng,thấp và là nơi sinh sống trước đây cũng như hiện nay của một số cộng đồngngười dân tộc Ở đó, nhiều hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp đã và đangdiễn ra
Trang 10Nằm trong khu vực có khoảng 7.057 ha núi đá vôi và phần lớn diện tíchnằm ở vùng đệm của VQG, chỉ có khoảng 150 ha nằm trong vùng lõi.
Trang 122.1.4 Khí hậu thuỷ văn
VQG Pù Mát nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa Do chịu ảnh hưởng củađịa hình dãy Trường Sơn đến hoàn lưu khí quyển nên khí hậu ở đây có sựphân hoá và khác biệt lớn trong khu vực Số liệu của trạm khí tượng TươngDương, Con Cuông, Anh Sơn và Vinh được ghi trong bảng 4.1
Bảng 4.1: Số liệu khí hậu của 4 trạm trong vùng
Dương
Con Cuông
Anh
1 Nhiệt độ trung bình năm (0C) 2306 2305 2307 2309
2 Nhiệt độ không khí cao nhất tuyệt
4 Tổng lượng mưa năm (mm) 1268,3 1791,1 1706,6 1944,3
6 Lượng mưa ngày lớn nhất (mm) 192/8 449,5/9 788/9 484/9
9 Độ ẩm không khí bình quân năm
Số liệu bảng trên cho thấy:
- Chế độ nhiệt:
+ Nhiệt độ trung bình năm 23 - 240C, tổng nhiệt năng 8500 - 87000C
+ Mùa đông từ tháng 12 đến tháng 2, do chịu ảnh hưởng của gió mùaĐông Bắc nên nhiệt độ trung bình trong các tháng này xuống dưới 200C vànhiệt độ trung bình tháng thấp nhất xuống dưới 180C (tháng giêng)
+ Ngược lại trong mùa hè, do có sự hoạt động của gió Tây nên thời tiết rấtkhô nóng, kéo dài tới 3 tháng (từ tháng 4 đến tháng 7) Nhiệt độ trung bình
Trang 13mùa hè lên trên 250C, nóng nhất là tháng 6 và 7, nhiệt độ trung bình là 290C.Nhiệt độ tối cao lên tới 420C ở Con Cuông và 42,70C ở Tương Dương vàotháng 4 và 5, độ ẩm trong các tháng này có nhiều ngày xuống dưới 30%.
- Chế độ mưa ẩm:
+ Vùng nghiên cứu có lượng mưa từ ít tới trung bình, 90% lượng nướctập trung trong mùa mưa Lượng mưa lớn nhất là tháng 9,10 và thường kèmtheo lũ lụt Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Các tháng 2,3,4 cómưa phùn do chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc Tháng 5,6,7 là nhữngtháng nóng nhất và lượng bốc hơi cũng cao nhất
+ Độ ẩm không khí trong vùng đạt 85 - 86%, mùa mưa lên tới 90% Tuyvậy, những giá trị cực thấp về độ ẩm vẫn thường đo được trong thời kỳ khônóng kéo dài
- Một số hiện tượng thời tiết đáng lưu ý:
+ Gió Tây khô nóng: Đây là vùng chịu ảnh hưởng của gió Tây khô nóng(gió Lào) Gió Tây thường gây nên hạn hán trong thời kỳ đầu và giữa mùa hè(tháng 5-7) Trong những ngày này, nhiệt độ tối cao có thể vượt quá 400C và
độ ẩm tối thấp cũng xuống dưới 30%
+ Mưa bão: Vùng này ít chịu ảnh hưởng của mưa bão, hai tháng nhiềubão nhất là tháng 9 và tháng 10 Bão thường kèm theo mưa lớn và lụt lội + Trạm Tương Dương đặc trưng cho chế độ khí hậu phía bắc VQG (KheThơi), nơi đây lượng mưa khá thấp (1268 mm/năm), số ngày mưa chỉ có 133ngày Nhưng lên các đai cao hơn lùi về Con Cuông thì chế độ mưa ẩm tăngdần (số ngày mưa lên tới 153 ngày và lượng mưa là 1791mm/năm)
Trang 14- Thủy văn:
Trong khu vực có hệ thống sông Cả chảy theo hướng Tây Bắc-ĐôngNam Các chi lưu phía hữu ngạn như Khe Thơi, Khe Choang, Khe Khặng lạichảy theo hướng Tây Nam lên Đông Bắc và đổ nước vào sông Cả
+ Dưới góc độ giao thông thuỷ lợi thì cả 3 con sông trên đều có thể dùng
bè mảng đi qua một số đoạn nhất định, riêng Khe Choang và Khe Khặng cóthể dùng thuyền máy ngược dòng ở phía hạ lưu
+ Nhìn chung, mạng lưới sông suối khá dày đặc Với lượng mưa trungbình năm từ 1300 -1400 mm, nguồn nước mặt trên diện tích của VQG lên tớihơn 3 tỷ m3 Do lượng nước đó phân bố không đều giữa các mùa và các khuvực nên tình trạng lũ lụt và hạn hán thường xuyên xảy ra
2.1.5 Địa chất
Vườn quốc gia Pù Mát nằm trên dãy Trường Sơn Bắc Quá trình kiến tạođịa chất được hình thành qua các kỷ Palêzôi, Đềvôn, Cácbon -Pecmi, Triat,Hexini… đến Miroxen cho đến ngày nay Trong suốt quá trình phát triển củadãy Trường Sơn thì chu kỳ tạo núi Hecxini, địa hình luôn bị ngoại lực tácđộng mạnh mẽ tạo nên 4 dạng địa mạo chủ yếu
+ Núi cao trung bình: Uốn nếp khối nâng lên mạnh, tạo nên một dải cao
và hẹp nằm ngay biên giới Việt Lào với vài đỉnh cao trên 2000m (Pulaileng2711m, Rào cỏ 2286m) Địa hình vùng này rất hiểm trở, đi lại cực kỳ khókhăn
+ Kiểu địa hình núi thấp và đồi cao: Kiểu này chiếm phần lớn diện tíchcủa miền và có độ cao từ 1000m trở xuống Tuy cấu trúc tương đối phức tạp,được cấu tạo bởi các trầm tích, biến chất, địa hình có phần mềm mại và ít dốchơn
+ Thung lũng kiến tạo, xâm thực: Kiểu này tuy chiếm một diện tích nhỏnhưng lại thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, độ cao nhỏ hơn 300m và baogồm thung lũng các sông suối Khe Thơi, Khe Choang, Khe Khặng (SôngGiăng) và bờ phải sông Cả Vùng này được cấu tạo từ các trầm tích bở rời, dễ
Trang 15bị xâm thực trong đó phổ biến là các dạng địa hình đồi khá bằng phẳng, bãibồi và thềm sông khá phát triển.
+ Các khối đá vôi nhỏ: Kiểu này phân tán dạng khối, uốn nếp có quá trìnhKarst trẻ và phân bố hữu ngạn sông Cả ở độ cao 200-300m Cấu tạo phânphiến dầy, màu xám đồng nhất và tinh khiết
2.2 Những đặc điểm kinh tế xã hội
2.2.1 Dân tộc
Có 3 dân tộc chính hiện đang sống trong 3 huyện thuộc khu vực VQG làThái, Khơ mú và Kinh Ngoài ra còn có một số dân tộc khác như H’Mông,Đan Lai, Poọng, Ơ Đu, Tày nhưng số lượng không lớn
Trang 16Bảng 4.3 Các loại đất đai trong khu vực
nghiệp
Đất lâm nghiệp
Đất cây công nghiệp
Đất khác
* Sản xuất nông nghiệp
Sản xuất nông nghiệp là một ngành kinh tế chủ đạo của 3 huyện, nhưngvới diện tích gieo trồng còn ít, năng suất cây trồng thấp nên đời sống củangười dân nơi đây còn gặp nhiều khó khăn Vẫn còn 23% số hộ thiếu lươngthực trong những tháng giáp hạt
Cây trồng nông nghiệp chủ yếu là lúa nước, lúa nương, khoai và sắn.Ngoài các cây trồng chính nêu trên, trong khu vực còn có một số loài câytrồng khác như rau, đậu và một số loài cây công nghiệp như vừng, lạc, mía…nhưng diện tích không đáng kể
Trang 17* Chăn nuôi, Thuỷ sản
Do có điều kiện thuận lợi về diện tích rừng núi rộng lớn, thích hợp vớichăn nuôi đại gia súc nên chăn nuôi trâu, bò và lợn khá phát triển trong vùng.Phần lớn vật nuôi được thả rông gần như quanh năm, khi cần dùng đến thìngười nuôi mới đi tìm về Bình quân mỗi hộ gia đình nuôi từ 1-2 con lợn, 1-2con trâu hoặc bò, mỗi xã có từ 150 đến 200 đàn dê Các gia đình còn chănnuôi gà, vịt
Chăn nuôi đóng một vai trò đáng kể đối với cuộc sống của đồng bàovùng đệm VQG Chăn nuôi không những giải quyết thực phẩm tại chỗ màcòn cung cấp sức kéo cũng như phân bón phục vụ cho sản xuất nông nghiệp,góp phần làm tăng năng suất cây trồng cũng như việc cải tạo đồng ruộng Điểm bất cập trong chăn nuôi ở đây là tỷ lệ thả trâu bò vào VQG hiệnvẫn còn phổ biến ở một số xã cận kề ranh giới và đã gây những tổn thất nhấtđịnh đối với đa dạng sinh học của VQG
* Thuỷ lợi
Phân bố trên địa bàn VQG Pù Mát có rất nhiều khe suối, nhưng diện tíchđất được tưới chiếm một tỷ lệ rất nhỏ (huyện Con Cuông là 3,72% diện tíchđất chuyên dùng) và thường chủ yếu tập trung ở những nơi đất có địa hìnhbằng Một số hồ đập lớn chứa nước như hồ Đông Quan tưới nước 300ha, hồKhe Chung, hồ Khe Mậy tưới được 180ha và một số trạm bơm điện như trạm
Đò Rồng tưới được 148 ha, Trạm Thạch Sơn tưới được 82 ha
Hệ thống thuỷ lợi còn nghèo nàn, lạc hậu và thô sơ, với số đập hiện cóthì chưa đảm bảo đủ lượng nước tưới cho diện tích gieo trồng và nước sinhhoạt cho người dân
* Sản xuất công nghiệp
Trong các xã vùng đệm không có một cơ sở công nghiệp lớn nào, ngoạitrừ một số cơ sở sản xuất thủ công, quy mô nhỏ như khai thác đá, nung gạch,sản xuất công cụ cầm tay Tổng giá trị sản xuất công nghiệp được thống kê
Trang 18theo cấp huyện của 3 huyện Anh Sơn, Con Cuông, Tương Dương năm 1999
là 17.281,5 triệu đồng
* Giao thông vận tải
Trong vùng đệm VQG Pù Mát có quốc lộ 7, tuyến đường huyết mạchquan trọng nối miền xuôi với miền núi và đi sang nước Cộng hoà dân chủnhân dân Lào Quốc lộ 7 góp phần tạo điều kiện rất thuận lợi để phát triển nềnkinh tế vùng Bên cạnh tuyến quốc lộ còn có một hệ thống đường do tỉnh,huyện, xã, quản lý Tuy nhiên các tuyến đường nội huyện nhỏ, hẹp, độ dốclớn nên đi lại khó khăn
- Về đường thuỷ: Các con sông lớn như sông Giăng, sông Cả là những
hệ thống giao thông đường thủy quan trọng Tuy nhiên, do địa hình phức tạpnên các con sông này thường chảy quanh co uốn khúc và độ dốc lớn nêndòng chảy mạnh, nhiều thác ghềnh Việc vận chuyển đường thủy cũng gặpnhiều khó khăn, chỉ áp dụng cho phương tiện cỡ nhỏ trên một số tuyến vàomùa nhất định
* Đường điện
Với các đường dây tải điện và các trạm biến thế đã đến được với hầu hếtcác xã trong vùng VQG và trong quy hoạch sẽ xây dựng một nhà máy thuỷđiện nằm ở huyện Tương Dương
* Y tế - Giáo dục
- Y tế: Cơ sở vật chất y tế trong khu vực còn khó khăn và thiếu thốn Đa
số các xã đều chưa có trạm xá kiên cố hoàn chỉnh, chưa có bác sỹ, chỉ có các
y sỹ, y tá là người có tay nghề, khả năng và kỹ thuật cao nhất
- Giáo dục: Là miền núi nhưng tình hình giáo dục ở khu vực tương đối
tốt Năm học 1995 -1996, huyện Anh Sơn đã được tỉnh công nhận là mộthuyện miền núi điển hình đạt tiêu chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học HuyệnCon Cuông cũng đã hoàn thành chương trình phổ cập tiểu học và xoá mù chữđược nhà nước tặng Huân chương Lao động hạng III Tuy nhiên, trong thực tếvẫn còn rất nhiều trở ngại, một số người trong độ tuổi từ 15 -35 còn mù chữ
Trang 19(30% số dân mù chữ trong 3 bản người Đan Lai thuộc vùng bảo vệ nghiêmngặt) Một số bản ở vùng sâu vùng xa vẫn tiếp tục xuất hiện nạn tái mù chữ.
* Sản xuất Lâm nghiệp
Các chương trình lâm nghiệp được thực hiện như Chương trình 327, 661.Hiện nay huyện Anh Sơn đã giao cho các hộ, các tập thể khoanh nuôi tu bổ,chăm sóc bảo vệ và trồng được 2217 ha rừng, huyện Tương Dương được8306ha, huyện Con Cuông được 30280ha
Công tác trồng rừng cũng được chú trọng Cho đến thời điểm hiệnnay, diện tích rừng đã được trồng của huyện Anh Sơn là 2853 ha, Con Cuông
là 3350 ha và Tương Dương là 206 ha Ngoài diện tích rừng trồng tập trung,các huyện còn trồng được hàng triệu cây phân tán
Trong phạm vi vùng đệm VQG có 3 lâm trường quốc doanh: Lâmtrường Con Cuông, Lâm trường Anh Sơn và Lâm trường Tương Dương Hoạtđộng chủ yếu của các lâm trường này là bảo vệ, tu bổ làm giàu rừng và khaithác
Bảng 4.4 Quy mô và hoạt động các lâm trường năm 2003
tích
Quân số (người)
Diện tích trồng rừng (ha)
Diện tích rừng phòng hộ (ha)
Diện tích rừng sản xuất (ha)
Lượng khai thác bình quân/ năm
* Các Dự án phát triển kinh tế trong vùng
Đối với các xã vùng đệm thì chương trình lớn nhất về lâm nghiệp (của chínhphủ) là Dự án 327, 661 Dự án 327, định canh định cư được thực hiện ở 3 bản Cò
Trang 20Phạt, Khe Cồn, Bản Bủng thuộc xã Môn Sơn nhằm ổn định dân cư, quy hoạchnương rẫy, xoá bỏ trồng cây thuốc phiện Ngoài ra còn các dự án khác nữa như
Dự án về giao khoán đất rừng, quản lý bảo vệ nguồn tài nguyên rừng, giãn dân;
Dự án đầu nguồn sông Cả, Sông Giăng do chính phủ Thụy Điển tài trợ; Dự ántrồng rừng của lâm trường như Dự án trồng cây mét; Dự án khai thác nguyên vậtliệu giấy sợi; Dự án trồng cây ăn quả như cây Cam, Nhãn, Vải; Dự án bảo vệ rừngđầu nguồn, hỗ trợ lương thực; Dự án hỗ trợ vốn chăn nuôi, giống cây trồng (Lúa,ngô…); Dự án trồng cây công nghiệp (Tiêu) huyện Anh Sơn; Dự án “LNXH vàBTTN tỉnh Nghệ An; Dự án khả thi đầu tư xây dựng VQG Pù Mát
*Các hoạt động ảnh hưởng đến VQG
Từ lâu đời, cuộc sống của đồng bào các dân tộc ở đây chủ yếu dựa vàotài nguyên thiên nhiên Rừng là nơi cung cấp lương thực, thực phẩm, nguyênvật liệu, cây thuốc, cho dân trong vùng Từ khi KBT được thành lập, cáchoạt động phát rẫy trái phép không còn nhưng khai thác lâm sản, săn bắt thúrừng vẫn còn phổ biến Các hoạt động của người dân ảnh hưởng tới tàinguyên rừng và cảnh quan gồm:
- Phát rẫy làm nương, gây cháy rừng
- Khai thác gỗ, củi trái phép
- Săn bắt động vật hoang dã
- Đánh bắt Cá bằng mìn, điện, chất độc trên sông suối phá huỷ môitrường, huỷ diệt hệ động vật thuỷ sinh
- Chăn thả gia súc quá mức dưới tán
- Các hoạt động khai thác lâm sản khác như trầm hương, măng, cây thuốc,mật ong, lấy nứa, cây cảnh
Chương 3.
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Trang 21- Xác định được thành phần và một số đặc điểm của các loài bướm ngàytại khu vực nghiên cứu.
- Đưa ra biện pháp quản lý các loài bướm ngày tại khu vực nghiên cứu
3.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Các loài bướm ngày thuộc bộ Cánh vẩy (Lepidotera)
- Địa điểm: Tại vườn quốc gia Pù Mát, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 3/2017 đến tháng 5/2017
3.3 Nội dung nghiên cứu
a Xác định thành phần loài bướm ngày trong khu vực nghiên cứu
b Xác định một số đặc điểm sinh học, sinh thái học của một số loài bướmngày tại khu vực nghiên cứu
c Đề xuất biện pháp quản lý các loài bướm ngày tại khu vực nghiên cứu
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp thu thập và kế thừa số liệu
- Thu thập và kế thừa các tài liệu, báo cáo, tình hình nghiên cứu về côntrùng rừng tự nhiên trong VQG Pù Mát
- Ngoài thu thập và kế thừa một số tài liệu, kết quả liên quan, tiến hànhphỏng vấn người dân bản địa về giá trị kinh tế và công dụng một số loài côntrùng được sử dụng tại địa phương
3.4.2 Phương pháp điều tra thực địa
Tiến hành điều tra sơ thám khu vực cần nghiên cứu để xác định ranhgiới khu vực điều tra, xác định các dạng sinh cảnh chính
3.4.2.1 Điều tra sơ thám
Tiến hành điều tra sơ thám khu vực cần nghiên cứu để xác định ranhgiới khu vực điều tra, xác định các dạng sinh cảnh chính có trong khu vực
3.4.2.2 Bố trí tuyến điều tra và hệ thống các điểm điều tra
- Điều tra theo tuyến: Bố trí các tuyến điều tra trong khu vực, đi dọctheo tuyến quan sát các đặc điểm độ dốc, địa hình, loài cây, thảm tươi
Trang 22+ Tuyến phải đi qua các dạng địa hình khác nhau và phải mang tính đạidiện cho khu vực nghiên cứu có thể lập tuyến song song, tuyến zic zắc, tuyếnnan quạt… tùy thuộc vào địa hình nghiên cứu.
+ Trong một khu vực điều tra không nên bố trí quá nhiều tuyến vì việcxác định tuyến ngoài thực địa cần phải thật đơn giản Nếu có thể được chỉ nên
bố trí một tuyến điều tra dài xuyên suốt khu vực điều tra Dùng vợt bắt cácloài bướm bắt gặp, kết hợp với ghi chép, quan sát
- Điều tra trên các điểm điều tra: trên các tuyến điều tra lập các điểmđiều tra, mỗi điểm điều tra có sinh cảnh, thực bì, hướng phơi, phải đại diệncho khu vực Điểm điều tra có dạng hình tròn với bán kính 10m hoặc hìnhchữ nhật với kích thước tùy chọn sao cho đủ điều kiện để ước tính về mật độcôn trùng, tần suất bắt gặp 1 loài (số cá thể quan sát thấy trong một thời giannhất định, thường là 30 phút) Hai điểm điều tra liền kề phải khác nhau vềdạng sinh cảnh, dạng địa hình hoặc cách nhau ít nhất 100m Tiến hành dùngvợt bắt bướm tại các điểm điều tra
- Quá trình điều tra được thực hiện: Bắt đầu từ ngày 17 tháng 03 đến ngày
19 tháng 04 năm 2016
Bảng 3: Đặc điểm các dạng sinh cảnh trong khu vực nghiên cứu
SC01 Sinh cảnh dân cư, canh tác nông nghiệp: Là khu làng bản sinh
sống và đất canh tác nông nghiệp chủ yếu là lúa, ngô
SC02 Sinh cảnh tràng cỏ cây gỗ rải rác (Ib, Ic): Là khu vực đất
trống chủ yếu là cây bụi cây cỏ tranh cây gỗ mọc rải rác thựcvật chủ yếu là các loài cây ưa sáng mọc nhanh như Thôichanh… tầng cây bụi thì có Bùm bụp, Cỏ lào, Cỏ tranh…
SC03 Sinh cảnh rừng tre nứa: là kiểu phụ thứ sinh nhân tác Trước
đây là kiểu phụ rừng phục hồi sau khai thác hoặc sau nươngrẫy nhưng tầng cây gỗ không tái sinh, phát triển được do bị cácloài tre nứa xâm lấn Đến nay các loài tre nứa đã chiếm ưu thế.Rừng tre nứa thuần loài mọc khép tán nhanh che hết ánh sángcủa thảm cây bụi bên dưới nên thực bì rất ít chủ yếu là thảmmục và một số ít loài cỏ như Cỏ lào…
SC04 Sinh cảnh rừng tự nhiên trên núi đá vôi: Phân bố ở một vài
đỉnh núi thuộc khu vực huyện Anh Sơn, Con Cuông và Tương
Trang 23SC05 Sinh cảnh rừng phục hồi sau nương rẫy: Kiểu phụ thứ sinh
nhân tác Kiểu phụ này phân bố gần các khu dân cư, trước đây
là nương rẫy nhưng đã được khoanh nuôi bảo vệ Bao gồm cáctrạng thái rừng: IIA, IIB
SC06 Sinh cảnh rừng tự nhiên ven sông, suối: Phân bố đều ở cả 3
huyện Anh Sơn, Con Cuông và Tương Dương nơi có con sôngGiăng chảy qua Kiểu rừng này mọc phần lớn ở các sườn núi
đá vôi trong khu vực ven các dòng suối dòng thác (Thác Kèm)
… chảy từ trên núi xuống, chúng ít bị tàn phá hơn nhiều so vớicác kiểu rừng khác vì những địa điểm này tập trung phát triển
- Tổng có 17 điểm điều tra
- Đặc điểm các tuyến điều tra:
+ Tuyến 1 có 6 điểm điều tra đi qua: Sinh cảnh rừng tre nứa, sinh cảnhrừng tự nhiên ven sông suối, sinh cảnh rừng phục hồi sau nương rẫy,sinh cảnh tràng cỏ cây gỗ rải rác (Ib, Ic)
+ Tuyến 2 có 5 điểm điều tra đi qua: Sinh cảnh dân cư canh tác nôngnghiệp, sinh cảnh tràng cỏ cây gỗ rải rác (Ib, Ic), sinh cảnh rừng tựnhiên trên núi đá vôi, sinh cảnh rừng tự nhiên ven sông suối
+ Tuyến 3 có 6 điểm điều tra đi qua: Sinh cảnh tràng cỏ cây gỗ rải rác(Ib, Ic), sinh cảnh rừng tự nhiên ven sông suối, sinh cảnh rừng tre nứa,sinh cảnh rừng phục hồi sau nương rẫy, sinh cảnh dân cư canh tácnông nghiệp
Trang 24Bản đồ thể hiện các tuyến điều ta các loài bướm ngày 3.4.2.3 Phương pháp thu thập mẫu
- Thu thập mẫu chủ yếu bằng vợt, dụng cụ sử dụng là:
+ Vợt bắt bướm: Làm bằng vải màn, miệng vợt tròn có đường kính30cm được gắn vào cán gỗ dài 1,5m
Hình 1: Vợt bắt bướm
Trang 25+ Bao giữ mẫu: Làm bằng giấy không bị nát và giúp mẫu vẫn giữ đượctrạng thái ban đầu.
Hình 2: Bao giữ mẫu + Trên bao giữ mẫu có ghi các thông số: tuyến điều tra, ngày điều tra, ôtiêu chuẩn, đặc điểm thời tiết, người điều tra
+ Hộp đựng mẫu: Làm bằng gỗ hoặc nhựa hình chữ nhật có nắp đậy kín.Tất cả bao bì giữ mẫu đều đặt trong hộp đựng mẫu
Hình 3: Hộp đựng mẫu
- Cách thu thập mẫu:
Trang 26Dùng vợt để thu bắt mẫu, nếu bướm đậu có thể dùng vợt, vợt nhẹ Cònkhi bướm bay cần chọn hướng bay để vợt chặn đầu hướng bay của chúng Khibướm đã bay vào vợt ta xoay cán để gập kín miệng vợt, bóp nhẹ vào phầnngực cho bướm ngất rồi đưa vào bao giấy.
Các loài sau khi thu được bảo quản tạm thời trong bao mẫu: Để cánhkhép, đặt mặt bụng của bướm tiếp xúc với đường chéo của bao giữ mẫu vàcho vào hộp đựng mẫu
Tiến hành đi theo dọc tuyến điều tra và thu bắt toàn bộ các loài bướm đãgặp, ở mỗi điểm thu bắt trong thời gian 30 phút
3.4.3 Phương pháp xử lý kết quả điều tra
3.4.3.1 Phương pháp bảo quản giám định mẫu
- Làm mẫu: Mẫu thu thập được về căng ra tấm vào miếng xốp, xốp phảinhẵn mịn để khi trải cánh không bị xước Miếng xốp cần khía rãnh đủ để đặtthân bướm
Có thể đặt bướm nằm ngửa hoặc nằm úp, dùng kim cắm xuyên qua đốtngực trước để cố định mẫu Cần điều chỉnh để thân bướm không bị lệch.Dang cánh mẫu vật sang 2 bên sao cho mép cánh trước thẳng và vuông gócvới thân mẫu vật và dùng kim cắm vào 2 đầu Sau đó, dùng băng giấy cố địnhhai râu đầu sao cho râu đầu cân với thân bướm và dùng hai kim cắm sát vàohai râu đầu Các kim cắm giữa mẫu có tác dụng giữ cho mẫu vật không bị hưhỏng, sau đó chuyển ký hiệu của mẫu vật từ bao giữ mẫu lên băng giấy căngmẫu cho từng loài bướm Khi ghim cố định mẫu vật xong ta đem phơi khô đểmẫu vật không bị mốc Khi mẫu vật đã khô (sau 4-5 ngày phơi) dùng kimcắm qua lưng côn trùng từ phía lưng xuyên qua ngực giữa trước sao cho kimvuông góc với trục cơ thể ở mọi hướng và 1/3 chiều dài kim thò lên phía trênlưng, 2/3 chiều dài kim nằm phía dưới bụng là được
Trên các băng giấy ghi số thứ tự để thuận lợi cho việc giám định mẫu
- Giám định mẫu:
Trang 27Đưa mẫu về phòng Bộ môn Bảo vệ thực vật và dựa vào đặc điểm hìnhthái, kích thước cơ thể, màu sắc của cánh và một số đặc điểm khác của cơ thể.Đồng thời dùng các tài liệu: “Sổ tay quan sát bướm ngày Trung Quốc, 2008,NXB Công nghiệp hóa học”, “Bảo tàng côn trùng, Lý Tương Tào, 2006, NXBThời sự”, “Bộ mẫu ảnh sinh thái 600 loài côn trùng Trung Quốc, Triệu MaiQuân, 2004, NXB Khoa học Thượng Hải” để giám định tên loài côn trùng.
3.4.3.2 Giám định mẫu lập bảng danh lục
Sau khi giám định xong mẫu tiến hành lập bảng xác định thành phần loàitrong khu vực nghiên cứu, địa điểm bắt gặp, mật độ tương đối và độ bắt gặpcác loài
3.4.3.3 Phương pháp xử lý số liệu điều tra
- Tần suất xuất hiện được tính theo công thức:
P% = × 100
Trong đó:
n: là số điểm điều tra có loài i xuất hiện
N: tổng số điểm điều tra
- Độ bắt gặp các loài được đánh giá theo các cấp:
Loài ngẫu nhiên gặp (+): Pi ≤ 25%
Loài ít gặp (++): 25% < Pi ≤ 50%
Loài thường gặp (+++): Pi ≥ 50%
- Mô tả đặc điểm hình thái, tập tính của một số loài chủ yếu:
Căn cứ vào mẫu giám định, chọn mẫu đạt tiêu chuẩn để mô tả
Cần quan sát các đặc điểm hình thái quan trọng như: kích thước, màu sắc,hình dạng, kiểu râu đầu và các đặc điểm về cánh bướm
Mô tả về kích thước cần chú ý các bộ phận như thân, cánh, râu đầu, mắt,chân chiều dài thân được tính từ đỉnh đầu cho đến cuối bụng, chiều dài cánhtrước là khoảng cách từ gốc cánh đến đỉnh cánh, chiều dài râu được tính từchân râu đến điểm mút đầu râu
Mô tả về hình dạng, kiểu cánh căn cứ vào đặc điểm chung của côntrùng
Trang 28Mô tả màu sắc trên cánh xác định hình dạng vân (gân song song, hình chữnhật).
Mô tả tập tính các loài bướm, đặc điểm bướm bay lượn, khi đậu thườngkéo theo đàn hay đơn lẻ Từ đó đề xuất các biện pháp bảo tồn nhằm tăng tính
đa dạng của côn trùng thuộc bộ Cánh vẩy trong khu vực nghiên cứu
Bảng 4.1: Thành phần và mức độ bắt gặp theo sinh cảnh của các loài
bướm ngày tại vườn quốc gia Pù Mát.
Trang 32Chú giải: 01: SC Dân cư canh tác nông nghiệp
02: SC Tràng cỏ cây gỗ rải rác (Ib,Ic)
03: SC Rừng tre nứa
04: SC Rừng tự nhiên trên núi đá vôi
05: SC Rừng phục hồi sau nương rẫy
06: SC Rừng tự nhiên ven sông, suối
Kết quả bảng 4.1 cho thấy có 79 loài bướm ngày thuộc 11 họ với 48 giốngtại khu vực nghiên cứu, so với các nghiên cứu trước đây đã điều tra ở vườnquốc gia Pù Mát, kết quả đã bổ sung cho vườn quốc gia Pù Mát thêm loài
Bướm phượng cánh đuôi nheo Lamproptera curius F.(họ Papilionidae), tình
trạng đánh giá loài này được đánh giá là T (Threatened-bị đe dọa) Tuy nhiên,
số loài thu thập được lại ít hơn so kết quả đã làm trước đây tại khu vựcnghiên cứu, điều này có thể giải thích là do thời gian nghiên cứu từ tháng 2đến tháng 5, đây loài khoảng thời gian ngắn nên chưa thể hiện được tất cả cácloài và cũng có thể đây là khoảng thời gian không thuận lợi cho các loàibướm ngày sinh trưởng và phát triển
Trong các loài bướm ngày đã điều tra phát hiện tại khu vực nghiên cứu, họBướm giáp (Nymphalidae) có số lượng nhiều nhất 12 loài chiếm 15,19%, tiếptheo là họ Bướm rừng (Amathusiidae) (11 loài chiếm 13,92%), họ Bướm mắtrắn (Satyridae) (11 loài chiếm 13,92%), họ Bướm phượng (Papilionnidae) (9loài chiếm 11,39%), họ Bướm phấn (Pieridae) (8 loài chiếm 10,12%), họBướm đốm (Danaidae) (8 loài chiếm 10,12%), họ Bướm ngao (Riodinidae) (6loài chiếm 7,60%), họ Bướm nhảy (Hesperiidae) (5 loài chiếm 6,33%), họBướm xanh (Lycaenidae) (4 loài chiếm 5,07%), họ Bướm giáp (Libytheidae)(3 loài chiếm 3,80%), họ Bướm ngọc (Acraeidae) (2 loài chiếm 2,54%) Dựavào kết quả nghiên cứu của các tác giả trước đây và kết quả điều tra bổ sunglàm cơ sở cho việc xây dựng thông tin và mẫu tiêu bản Bướm ngày cho khuvực vườn quốc gia Pù Mát
Trang 334.2 Đa dạng loài theo bậc taxon họ, giống
Số lượng giống (chi) hoặc loài của các loài bướm ngày điều tra được tạivườn quốc gia Pù Mát được trình bày ở bảng 4.2
Bảng 4.2: Số lượng loài, giống của các họ bướm ngày
ít nhất là Acraeidae (2 loài chiếm 2,54%)
Qua bảng ta thấy ba họ có số loài nhiều nhất là Nymphalidae (12 loài),Amathusiidae (11 loài), Satyridae (11 loài), họ Acraeidae chỉ có 2 loài Kếtquả thu được cho thấy cấu trúc thành phần các loài bướm ngày đã điều trađược phù hợp với cấu trúc của chúng trong tự nhiên Thông qua kết quả điềutra ta nhìn rõ sự chênh lệch về số loài bướm ngày ở vườn quốc gia Pù Mát
Trang 344.3 Mức độ bắt gặp của các loài bướm ngày tại vườn quốc gia Pù Mát
Kết quả điều tra các loài bướm ngày tại khu vực nghiên cứu chủ yếuthuộc nhóm thường gặp là (52 loài chiếm 65,83%) trong khi đó số lượng cácloài ít gặp chiếm (9 loài chiếm 11,39%), số loài bắt gặp ngẫu nhiên là (18 loàichiếm 22,78%)
Hình 4: Độ bắt gặp các loài Bướm ngày tại khu vực nhiên cứu
Những loài thường gặp có số lượng cá thể lớn, phân bố rộng, có nguy
cơ gây hại cao Cần có các biện pháp quản lý và phương hướng khắc phụcchặt chẽ
Bảng 4.3 Phân bố của bướm ngày theo sinh cảnh
STT Họ Bướm Ngày SC1 SC2 SC3Các dạng sinh cảnhSC4 SC5 SC6