Nghiên cứu đã góp phần giới thiệu, kết hợp đo lường, phân tích và kiểm định các yếu tố thuộc về năng lực nhà khởi nghiệp và môi trường khởi nghiệp tác động đến kết quả hoạt động của các
Trang 1_ _
SATTAKOUN VANNASINH
ẢNH HƯỞNG CỦA NĂNG LỰC NHÀ KHỞI NGHIỆP VÀ MÔI TRƯỜNG KHỞI NGHIỆP ĐẾN KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI LÀO
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2017
Trang 2_ _
SATTAKOUN VANNASINH
ẢNH HƯỞNG CỦA NĂNG LỰC NHÀ KHỞI NGHIỆP VÀ MÔI TRƯỜNG KHỞI NGHIỆP ĐẾN KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI LÀO
Chuyên ngành: Quản Trị Kinh Doanh
Mã số: 62340501
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 TS NGÔ QUANG HUÂN
2 TS NGÔ THỊ ÁNH
TP Hồ Chí Minh – Năm 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan luận án này do chính tác giả nghiên cứu và thực hiện Các kết quả nghiên cứu chưa được công bố bất kỳ ở đâu Các số liệu, các nguồn trích dẫn trong luận án được chú thích nguồn gốc rõ ràng, trung thực Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình
Nghiên cứu sinh
VANNASINH SATTAKOUN
Trang 4TÓM TẮT
Luận án “Ảnh hưởng của năng lực nhà khởi nghiệp và môi trường khởi
nghiệp đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Lào” nhằm phân
tích các yếu tố thuộc năng lực nhà khởi nghiệp và môi trường khởi nghiệp tác động đến kết quả hoạt động của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Lào Từ đó, đề xuất các kiến nghị nhằm nâng cao kết quả hoạt động của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Lào
Nghiên cứu được thực hiện qua hai giai đoạn: nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức Nghiên cứu sơ bộ được thực hiện thông qua phương pháp định tính
Kỹ thuật thảo luận nhóm được sử dụng trong nghiên cứu này nhằm giúp phát hiện các vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu, là căn cứ quan trọng để đưa ra mô hình nghiên cứu Nghiên cứu chính thức được thực hiện bằng phương pháp định lượng: phỏng vấn các nhà khởi nghiệp tại Lào bằng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản với kích thước mẫu hợp lệ là 524, dữ liệu thu thập được tiến hành phân tích thống kê mô tả và phân tích hồi quy tuyến tính
Nghiên cứu đã góp phần giới thiệu, kết hợp đo lường, phân tích và kiểm định các yếu tố thuộc về năng lực nhà khởi nghiệp và môi trường khởi nghiệp tác động đến kết quả hoạt động của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Lào
Thang đo năng lực nhà khởi nghiệp, môi trường khởi nghiệp được chia thành
9 nhóm với 67 biến quan sát Nghiên cứu cũng đã kiểm định được ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê và ảnh hưởng cùng chiều của 8 yếu tố: (1) năng lực khởi nghiệp, (2) năng lực quản trị và kinh doanh, (3) năng lực nhân sự, (4) năng lực nhận thức và mối quan hệ, (5) sự tiếp cận các nguồn lực tài chính, (6) chính sách hỗ trợ của Chính phủ, (7) sự tiếp cận các tổ chức về đào tạo và hỗ trợ khởi nghiệp, (8) việc tiếp cận thị trường Yếu tố văn hóa thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp bị bác bỏ do không
có ý nghĩa thống kê
Trang 5Nghiên cứu cũng chỉ ra sự khác biệt về kết quả hoạt động của doanh nghiệp giữa các nhóm: loại hình doanh nghiệp, trình độ học vấn và truyền thống kinh doanh của gia đình
Dựa trên kết quả khảo sát, tác giả đã đề xuất các kiến nghị cụ thể áp dụng nhằm gia tăng kết quả hoạt động của các doanh nghiệp khởi nghiệp vừa và nhỏ tại Lào
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ADB The Asian Development Bank Ngân hàng Phát triển châu Á ANOVA Analysis Of Variance Phương pháp phân tích phương sai
ASEAN Association of Southeast Asian Nations Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á
BE Business environment Môi trường kinh doanh
BMC Business Management capability Năng lực quản trị và kinh doanh BOT Built-Operation-Transfer Xây dựng-Vận hành-Chuyển giao
BP Business Perfoment Kết quả hoạt động kinh doanh CHDCND Cộng hòa dân chủ nhân dân
CRC Cognitive and relationship capacities Năng lực nhận thức và quan hệ
Cul.A Cultural Approach Các chuẩn mực về văn hoá thúc đẩy
hoạt động khởi nghiệp
EC Entrepreneurial competencies Năng lực khởi nghiệp
Edu.A Education Approach Việc tiếp cận các tổ chức đào tạo và
hỗ trợ khởi nghiệp CSTT Chính sách tiền tệ
EFA Exploratory Factor Analysis Phân tích nhân tố khám phá
EPS Earning Per Share Thu nhập trên mỗi cổ phần
FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trang 7Fin.A Finance Approach Tiếp cận tài chính
GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội
Gov.S Government support Sự hỗ trợ của chính phủ
GTGT Giá trị gia tăng
HRC Human resources capacity Năng lực nhân sự
KMO Kaiser - Mayer – Olkin Hệ số kiểm định sự phù hợp của mô
hình EFA
KPI Key Performance Indicator Chỉ số đánh giá thực hiện công việc
Mar.A Market access Việc tiếp cận thị trường
NHTW Ngân hàng Trung ương
OLS Ordinal Least Squares Phương pháp bình phương nhỏ nhất
thông thường
P/E Price to Earning Ratio Tỷ số lợi nhuận trên cổ phần
ROA Return On Assets Tỷ số lợi nhuận ròng trên tài sản
ROE Return on common equyty Tỷ số lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở
hữu
ROI Return On Investment Lợi tức đầu tư
Trang 8SE Startup Environment Môi trường khởi nghiệp
SME Small and medium enterprise Doanh nghiệp vừa và nhỏ
TNDN Thu nhập doanh nghiệp
VIF Variance Inflation Factor Nhân tử phóng đại phương sai
WB World Bank Ngân hàng thế giới
Trang 9MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
TÓM TẮT ii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iv
MỤC LỤC vii
DANH MỤC BẢNG xii
DANH MỤC HÌNH VẼ VÀ BIỂU ĐỒ xiv
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU 1
1.1 LÝ DO HÌNH THÀNH ĐỀ TÀI 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 6
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 7
1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 7
1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8
1.6 Ý NGHĨA CỦA NGHIÊN CỨU 9
1.7 KẾT CẤU CỦA NGHIÊN CỨU 10
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 11
2.1 LÝ THUYẾT VỀ NĂNG LỰC NHÀ KHỞI NGHIỆP 11
2.1.1 Nhà khởi nghiệp 11
2.1.2 Năng lực (Competencies) 13
2.1.3 Năng lực nhà khởi nghiệp (Entrepreneurial competencies - EC) 14
2.2 LÝ THUYẾT VỀ MÔI TRƯỜNG KINH DOANH VÀ MÔI TRƯỜNG KHỞI NGHIỆP 19
2.2.1 Môi trường kinh doanh (Business environment – BE) 19
2.2.2 Lý thuyết các yếu tố quyết định đầu tư ở khu vực tư nhân 21
2.2.3 Môi trường khởi nghiệp (Startup environment – SE) 23
2.3 KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 25
2.3.1 Định nghĩa kết quả hoạt động của doanh nghiệp (Business performance - BP) 25
2.3.2 Đo lường kết quả hoạt động của doanh nghiệp 27
Trang 102.3.3 Mối quan hệ giữa năng lực nhà khởi nghiệp và kết quả hoạt động của
doanh nghiệp 32
2.3.4 Mối quan hệ giữa môi trường khởi nghiệp và kết quả hoạt động của doanh nghiệp 34
2.4 TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC CÓ LIÊN QUAN 35
2.4.1 Nghiên cứu về năng lực nhà khởi nghiệp 35
2.4.2 Nghiên cứu về môi trường khởi nghiệp 39
2.4.3 Nghiên cứu về kết quả hoạt động của doanh nghiệp 41
2.5 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 45
2.5.1 Xác định khe hổng nghiên cứu 45
2.5.2 Mô hình nghiên cứu 47
2.5.2.1 Các yếu tố năng lực nhà khởi nghiệp 47
2.5.2.2 Các yếu tố môi trường khởi nghiệp 53
2.6 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH DOANH NGHIỆP KHỞI NGHIỆP TẠI NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO 61
2.6.1 Bối cảnh vĩ mô 61
2.6.2 Tổng quan môi trường đầu tư tại Lào 65
2.6.3 Các doanh nghiệp khởi nghiệp vừa và nhỏ tại Lào 72
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 79
3.1 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU 79
3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 81
3.2.1 Phương pháp thu thập dữ liệu 81
3.2.2 Kỹ thuật xử lý số liệu 82
3.3 THANG ĐO CÁC KHÁI NIỆM TRONG NGHIÊN CỨU 83
3.3.1 Nghiên cứu định tính cho thang đo của các khái niệm nghiên cứu 84
3.3.1.1 Thang đo Năng lực khởi nghiệp 84
3.3.1.2 Thang đo Năng lực quản trị và kinh doanh 85
3.3.1.3 Thang đo Năng lực nhân sự 87
3.3.1.4 Thang đo Nhận thức và quan hệ 88
Trang 113.3.1.5 Thang đo Sự tiếp cận các nguồn lực tài chính 89
3.3.1.6 Thang đo Các chính sách hỗ trợ của Chính phủ 89
3.3.1.7 Thang đo sự tiếp cận các tổ chức đào tạo và hỗ trợ về khởi nghiệp 90 3.3.1.8 Thang đo Việc tiếp cận thị trường 91
3.3.1.9 Thang đo Văn hóa thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp 92
3.3.1.10 Thang đo kết quả hoạt động của doanh nghiệp 92
3.3.2 Thang đo các khái niệm trong mô hình nghiên cứu sau điều chỉnh 94
3.3.2.1 Năng lực của nhà khởi nghiệp 94
3.3.2.2 Môi trường khởi nghiệp 96
3.3.2.3 Kết quả hoạt động của doanh nghiệp 98
3.4 THIẾT KẾ BẢNG CÂU HỎI 100
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 102
4.1 NGHIÊN CỨU SƠ BỘ 102
4.1.1 Kiểm định độ tin cậy thang đo năng lực khởi nghiệp (EC) 103
4.1.2 Kiểm định độ tin cậy thang đo năng lực quản trị và kinh doanh (BMC)103 4.1.3 Kiểm định độ tin cậy thang đo năng lực nhân sự (HRC) 103
4.1.4 Kiểm định độ tin cậy thang đo năng lực nhận thức và quan hệ (CRC) 103 4.1.5 Kiểm định độ tin cậy thang đo sự tiếp cận các nguồn lực tài chính (Fi.A)103 4.1.6 Kiểm định độ tin cậy thang đo sự hỗ trợ của chính phủ (Go.S) 104
4.1.7 Kiểm định độ tin cậy thang đo sự tiếp cận các tổ chức đào tạo và hỗ trợ về khởi nghiệp (Edu.A) 104
4.1.8 Kiểm định độ tin cậy thang đo việc tiếp cận thị trường (Mar.A) 104
4.1.9 Kiểm định độ tin cậy thang đo văn hóa thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp (Cul.A) 104
4.1.10 Kiểm định độ tin cậy thang đo kết quả hoạt động của doanh nghiệp (BP) 104
4.2 NGHIÊN CỨU CHÍNH THỨC 105
4.2.1 Đối tượng khảo sát 105
4.2.2 Đặc điểm mẫu 106
Trang 124.2.3 Kiểm định độ tin cậy của thang đo 111
4.2.4 Phân tích nhân tố khám phá (EFA) 112
4.3 KIỂM ĐỊNH MÔ HÌNH HỒI QUY 116
4.3.1 Phân tích tương quan giữa các biến 118
4.3.2 Phân tích mô hình hồi quy 120
4.3.3 Kiểm tra các giả định của mô hình 121
4.3.4 Kiểm định giả thuyết của mô hình 124
4.3.5 Phân tích sự khác biệt giữa các nhóm theo phương thức phân loại 126
4.4 THẢO LUẬN KẾT QUẢ 131
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ 140
5.1 KẾT LUẬN 140
5.1.1 Kết quả mô hình đo lường 140
5.1.2 Kết quả kiểm định mô hình lý thuyết 141
5.2 HÀM Ý QUẢN TRỊ 142
5.2.1 Quan điểm đề xuất hàm ý 142
5.2.2 Quan điểm định hướng phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ 145
5.2.3 Hàm ý quản trị về năng lực các nhà khởi nghiệp tại Lào 147
5.2.3.1 Hàm ý quản trị đối với năng lực quản trị và kinh doanh 147
5.2.3.2 Hàm ý quản trị đối với năng lực nhân sự 151
5.2.3.3 Hàm ý quản trị đối với năng lực khởi nghiệp 154
5.2.3.4 Hàm ý quản trị đối với năng lực nhận thức và quan hệ 158
5.2.4 Hàm ý chính sách về môi trường khởi nghiệp 165
5.2.4.1 Sự tiếp cận các nguồn lực tài chính 165
5.2.4.2 Các chính sách hỗ trợ của Nhà nước 167
5.2.4.3 Việc tiếp cận thị trường 170
5.2.4.4 Việc tiếp cận các tổ chức đào tạo và hỗ trợ về khởi nghiệp 171
5.3 HẠN CHẾ VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 174
5.3.1 Hạn chế của nghiên cứu 174
5.3.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo 174
Trang 13TÀI LIỆU THAM KHẢO1
PHỤ LỤC 1: DÀN BÀI THẢO LUẬN NHÓM
PHỤ LỤC 2: BIÊN BẢN THẢO LUẬN TỔNG HỢP PHỤ LỤC 3: BẢNG CÂU HỎI KHẢO SÁT
PHỤ LỤC 4: BẢNG KHẢO SÁT BẰNG TIẾNG LÀO PHỤ LỤC 5: KẾT QUẢ PHÂN TÍCH HỒI QUI
Trang 14DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Tóm tắt các nghiên cứu năng lực nhà khởi nghiệp 37
Bảng 2.2 Tóm tắt các nghiên cứu về môi trường khởi nghiệp 40
Bảng 2.3 Tóm tắt các nghiên cứu trước 43
Bảng 2.4: Mối quan hệ giữa các khái niệm lý thuyết và các khái niệm nghiên cứu 59 Bảng 2.5 Phân loại doanh nghiệp tại Lào 73
Bảng 2.6: Những khó khăn của doanh nghiệp 76
Bảng 2.7: Các SME cần Chính phủ hỗ trợ 77
Bảng 2.8 Tóm tắt các giả thuyết 78
Bảng 3.1: Đo lường khái niệm năng lực của nhà khởi nghiệp 79
Bảng 3.2: Đo lường khái niệm năng lực của nhà khởi nghiệp 95
Bảng 3.3: Đo lường khái niệm “Môi trường khởi nghiệp” 96
Bảng 4.1: Thống kê kiểm định sơ bộ độ tin cậy Cronbach’s Alpha 102
Bảng 4.2: Thống kê theo giới tính 107
Bảng 4.3: Thống kê theo độ tuổi 107
Bảng 4.4: Thống kê theo truyền thống kinh doanh của gia đình 108
Bảng 4.5: Thống kê theo kinh nghiệm trước khi khởi nghiệp 108
Bảng 4.6: Thống kê theo quy mô doanh nghiệp 109
Bảng 4.7: Thống kê theo dân tộc 109
Bảng 4.8: Thống kê theo trình độ học vấn 110
Bảng 4.9: Thống kê theo trình độ chuyên môn 110
Bảng 4.10: Thống kê theo thời gian hoạt động 110
Bảng 4.11: Thống kê theo loại hình doanh nghiệp 111
Bảng 4.12: Thống kê theo lĩnh vực kinh doanh 111
Bảng 4.13: Thống kê kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha 112
Bảng 4.14: Kết quả phân tích nhân tố các biến độc lập 113
Bảng 4.15: Kết quả phân tích nhân tố biến phụ thuộc 116
Bảng 4.16: Kiểm định tương quan giữa các biến 119
Trang 15Bảng 4.17: Kết quả của mô hình hồi qui 121
Bảng 4.18: Tương quan hạng Spearman giữa 123
các biến độc lập với phần dư 123
Bảng 4.19: Kết quả phân tích ANOVA theo loại hình doanh nghiệp 127
Bảng 4.20: Kết quả phân tích ANOVA theo trình độ học vấn 129
Bảng 4.21: Kết quả phân tích ANOVA theo truyền thống kinh doanh của gia đình 129
Bảng 4.22: Kết luận về giả thuyết nghiên cứu 131
Bảng 5.1: Khung năng lực cần có của nhà quản lý 160
Trang 16DANH MỤC HÌNH VẼ VÀ BIỂU ĐỒ
Hình 2.1: Mô hình nghiên cứu mối quan hệ giữa năng lực của nhà khởi nghiệp, môi
trường khởi nghiệp và kết quả hoạt động sau khi hình thành doanh nghiệp 60Hình 2.2: Biểu đồ tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ lạm phát và tăng trưởng GDP đầu người
tại Lào giai đoạn 2000 - 2013 61Hình 2.3: Biểu đồ xuất khẩu, nhập khẩu, cán cân thương mại và cán cân vãng lai
của Lào giai đoạn 2002 - 2012 (triệu USD) 62Hình 2.4: Biểu đồ đầu tư trực tiếp, gián tiếp và đầu tư khác vào Lào giai đoạn 2002
- 2012 (triệu USD) 63Hình 2.5: Biểu đồ các chương trình đào tạo cử nhân năm học 2011 -2012 71Hình 2.6 : Thống kê số lượng doanh nghiệp đăng ký mới tại các vùng tiêu biểu 74Hình 2.7: Phân loại quy mô các doanh nghiệp tại các vùng tiêu biểu của Lào từ
năm 2005 - 2011 75Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu 80Hình 4.1: Biểu đồ phân tán phần dư và giá trị dự đoán kết quả hoạt động của doanh
nghiệp 122Hình 4.2: Biểu đồ Histogram 124Hình 5.1: Đồ thị biểu diễn giá trị trung bình của thang đo trong nghiên cứu 147Hình 5.2: Đồ thị biểu diễn giá trị trung bình của thang đo năng lực quản trị và kinh
doanh 148Hình 5.3: Đồ thị biểu diễn giá trị trung bình của thang đo năng lực nhân sự 151Hình 5.4: Đồ thị biểu diễn giá trị trung bình của thang đo năng lực khởi nghiệp 155Hình 5.5: Đồ thị biểu diễn giá trị trung bình của thang đo năng lực nhận thức và
quan hệ 159Hình 5.6: Đồ thị biểu diễn giá trị trung bình của thang đo sự tiếp cận các nguồn lực
tài chính 166
Trang 17Hình 5.7: Đồ thị biểu diễn giá trị trung bình của thang đo các chính sách hỗ trợ của
Nhà nước 168
Hình 5.8: Đồ thị biểu diễn giá trị trung bình của thang đo 171
việc tiếp cận thị trường 171
Hình 5.9: Đồ thị biểu diễn giá trị trung bình của thang đo 172
việc tiếp cận các tổ chức đào tạo và hỗ trợ về khởi nghiệp 172
Trang 18CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU
Nội dung chương 1 sẽ giới thiệu tổng quan về lý do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu, đồng thời kết cấu luận án sẽ được trình bày ở phần cuối chương này
1.1 LÝ DO HÌNH THÀNH ĐỀ TÀI
Khởi nghiệp kinh doanh qua việc tạo lập các doanh nghiệp mới là động lực cho phát triển kinh tế Một nền kinh tế phát triển được là nhờ sự phát triển về cả số lượng và chất lượng của các doanh nghiệp Các nghiên cứu trên thế giới của Radas
và Bozic (2009), Zain và Kassim (2012) chỉ ra rằng có mối quan hệ chặt chẽ giữa việc khởi nghiệp kinh doanh với tăng trưởng kinh tế vùng và địa phương Những nơi có tỷ lệ thành lập doanh nghiệp cao thường có tốc độ phát triển kinh tế cao Các doanh nghiệp mới thành lập ngoài việc đóng góp vào GDP của nền kinh tế còn tạo
ra nhiều việc làm cho xã hội và làm giàu cho bản thân chủ doanh nghiệp Chính vì
lẽ đó, Chính phủ các nước phát triển cũng như đang phát triển đều dành nhiều chính sách hỗ trợ và nỗ lực để thúc đẩy việc khởi nghiệp kinh doanh trong giới trẻ, đặc biệt trong giới sinh viên, khuyến khích họ không đi làm thuê mà hãy tự tạo việc làm, gia tăng số lượng doanh nghiệp cho phát triển kinh tế Lý do có sự quan tâm đặc biệt đến thúc đẩy tinh thần doanh nhân bởi vì các nhà nghiên cứu hy vọng rằng những doanh nhân được đào tạo tốt sẽ tạo ra các doanh nghiệp tăng trưởng nhanh và mạnh hơn doanh nghiệp của những người có trình độ thấp Ở Châu Âu và Mỹ, thúc đẩy tinh thần doanh nhân được coi là hạt nhân cho tăng trưởng kinh tế
Nhiều nhà nghiên cứu đã cho rằng khởi nghiệp kinh doanh là một loại hành
vi có kế hoạch Krueger và Brazeal (1994) trên cơ sở này cho rằng một cá nhân trước khi đi tới hành vi khởi nghiệp kinh doanh cần phải có tiềm năng khởi nghiệp, tức là phải có thái độ tích cực và sự tự tin về khả năng khởi nghiệp kinh doanh của mình; tiềm năng sẽ dẫn tới dự định và hành vi khởi nghiệp kinh doanh tương lai Các nghiên cứu theo lý thuyết khởi nghiệp kinh doanh với nhiều góc nhìn khác
Trang 19nhau như Hood và Young (1993), Chandler và Hanks (1994), Lerner và Almor (2002), Năng lực khởi nghiệp được thực hiện bởi các cá nhân (nhà khởi nghiệp) là người bắt đầu hay thực hiện sự chuyển hóa tổ chức, là người tạo nên giá trị gia tăng cho tổ chức Bird (1995) cho rằng năng lực khởi nghiệp được định nghĩa như là những đặc trưng cơ bản như các kiến thức cụ thể, các đặc điểm, khả năng nhận thức
về bản thân, vai trò xã hội và những kỹ năng giúp cho một người hình thành, duy trì
sự tồn tại và tạo sự tăng trưởng cho một doanh nghiệp
Tuy nhiên, các nghiên cứu này (a) chủ yếu tập trung tại quốc gia đang phát triển; (b) thiếu nghiên cứu kết hợp tác động của các yếu tố môi trường với trải nghiệm cá nhân và trải nghiệm qua hoạt động kinh doanh (c) tác động của các hoạt động đào tạo khởi nghiệp và (d) chưa có nghiên cứu định lượng nào kiểm định tác động của các yếu tố môi trường và năng lực kinh doanh của cá nhân
Trong quá trình phát triển kinh tế của các quốc gia đang phát triển, khu vực kinh tế tư nhân ngày càng có vai trò quan trọng không những trong việc gia tăng tỷ
lệ đóng góp vào GDP của quốc gia vào nguồn thu ngân sách của Chính phủ mà còn
có vai trò quan trọng trong việc giải quyết công ăn việc làm cho lực lượng lao động lớn trong xã hội, góp phần giải quyết áp lực thất nghiệp đang đè nặng lên các nền kinh tế của các quốc gia này Tại Lào, trong những năm gần đây, mặc dù có nhiều tập đoàn và các công ty lớn trong khu vực kinh tế tư nhân đã hình thành và phát triển mạnh mẽ và có nhiều đóng góp lớn vào sự tăng trưởng cũng như việc phát triển kinh tế quốc gia, những vai trò của các doanh nghiệp khởi nghiệp trong khu vực kinh tế này cũng rất quan trọng Sự phát triển của các doanh nghiệp khởi nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ có đặc trưng rất cơ bản đó là sự bùng nổ nhanh chóng trong giai đoạn nào đó khi nền kinh tế đang tăng trưởng và mọi yếu tố từ môi trường kinh doanh đang thuận lợi trong giai đoạn đó Tuy nhiên, khi nền kinh tế suy thoái hay đứng trước những bất ổn lớn thì một số lượng lớn các doanh nghiệp quy
mô nhỏ này lại phá sản và rút lui ra khỏi thị trường
Hiện tượng này cho thấy sự dễ tổn thương của các doanh nghiệp vừa mới khởi nghiệp, nhưng nguyên nhân cốt lõi gây ra vấn đề này đang nằm ở đâu? Rất
Trang 20nhiều nghiên cứu đã chỉ ra sự thất bại của các doanh nghiệp khởi nghiệp xuất phát
từ việc khó tiếp cận nguồn vốn, khó khăn về nguồn lực tài chính để có thể dự trữ bảo hiểm vật tư nguyên liệu nhằm hạn chế rủi ro tài chính hay tỷ giá hối đoái, việc thiếu các chính sách hỗ trợ thiết thực từ Chính phủ và nhiều nguyên nhân khác tương tự như thế (Bird, 1995; Dawes, 1999; Capaldo và cộng sự 2004; Doris và cộng sự, 2013,…) Tuy nhiên, một số trong những nguyên nhân chính là việc thiếu các điều kiện hỗ trợ cho việc phát triển bền vững của các doanh nghiệp và từ bản thân doanh nghiệp quy mô nhỏ và vừa xuất phát từ các yếu tố thuộc về môi trường khởi nghiệp và từ bản thân năng lực của nhà doanh nghiệp, đặc biệt trong những năm đầu sau khi doanh nghiệp vừa hình thành Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã xác định năng lực cần thiết của các nhà khởi nghiệp, các yếu tố về môi trường khởi nghiệp ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp khởi nghiệp vừa và nhỏ Bird (1988) cho rằng cả hai đặc điểm: cá nhân và yếu tố môi trường ảnh hưởng đến việc khởi nghiệp Aldrich và Wiedenmaver (1993) tin rằng các đặc điểm cá nhân của nhà khởi nghiệp có tầm quan trọng thứ hai và chỉ đóng góp một phần vào sự hiểu biết và quá trình thành lập của công ty, trong khi đó môi trường khởi nghiệp có tác động mạnh đến quá trình hình thành và phát triển của doanh nghiệp Xuất phát
từ đó việc nghiên cứu về ảnh hưởng của năng lực nhà khởi nghiệp và môi trường khởi nghiệp đến kết quả hoạt động doanh nghiệp khởi nghiệp tại Lào là một yêu cầu bức thiết hiện nay
Về mặt lý thuyết, nghiên cứu về khởi nghiệp kinh doanh là đề tài đang nổi
lên trong thập kỷ vừa qua với số lượng bài nghiên cứu ngày càng gia tăng Tầm quan trọng của doanh nghiệp khởi nghiệp trong tăng trưởng kinh tế và thay đổi công nghệ được tranh cãi sôi nổi trên các diễn đàn học thuật Các doanh nghiệp lớn thường có lợi thế hơn so với các doanh nghiệp nhỏ vì họ có được tính kinh tế do quy mô, có năng lực cạnh tranh quốc tế và khả năng tồn tại lớn hơn Còn các doanh nghiệp nhỏ thường bị lu mờ bởi qui mô và khó có được những lợi thế như các doanh nghiệp lớn Trong những năm gần đây, nhiều nghiên cứu chứng minh rằng các doanh nghiệp nhỏ đóng vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế và hoạt
Trang 21động khởi nghiệp kinh doanh trong nền kinh tế, tạo động lực cho phát triển kinh tế
xã hội của nhiều nước trên thế giới (Verzat và Bachelet, 2002) Khởi nghiệp kinh doanh được xem như là biến thứ tư trong “lý thuyết về phát triển” được gọi là biến
“vốn khởi sự - entrepreneurship capital” bên cạnh ba biến truyền thống là vốn vật
chất, nhân lực và tri thức (Audretsch và Keilbach, 2004) Theo Carree và Thurik (2003) hoạt động khởi nghiệp kinh doanh tạo động lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, những nơi có tỷ lệ thành lập doanh nghiệp cao thường có tốc độ tăng trưởng cao Khởi nghiệp kinh doanh góp phần tăng trưởng kinh tế theo ba phương diện: tăng cường đổi mới và chuyển giao tri thức, tăng cạnh tranh và mức độ đa dạng hóa
Các nghiên cứu về khởi sự kinh doanh rất đa dạng và có thể chia thành bốn (4) lĩnh vực khác nhau: (i) nghiên cứu về quá trình khai thác và phát triển các cơ hội kinh doanh, (ii) nghiên cứu về đặc điểm cá nhân và nhóm, quá trình hình thành vốn tri thức và vốn con người cho khởi sự, (iii) nghiên cứu về các phương thức khởi sự kinh doanh và (iv) nghiên cứu về các yếu tố văn hóa, thể chế và môi trường tạo thuận lợi hay cản trở sự kinh doanh (Lowell, 2003) Thời gian gần đây, mối quan tâm về năng lực khởi nghiệp bắt nguồn từ mối quan hệ giữa năng lực và sự hình thành, tồn tại và tăng trưởng của một doanh nghiệp (Bird, 1995 và Baun, 1994) Một số nhà nghiên cứu đã cố gắng phân biệt giữa năng lực bẩm sinh và năng lực tích lũy thông qua học tập và kinh nghiệm (Muzychenko và Saee, 2004) Theo cách tiếp cận này, các yếu tố thuộc về năng lực bẩm sinh (hay các yếu tố bên trong) bao gồm phẩm chất cá nhân, động lực, hình tượng, các vai trò xã hội; trong khi đó các
kỹ năng, kiến thức và kinh nghiệm thuộc về năng lực tích lũy được (hay còn gọi là yếu tố bên ngoài) Các yếu tố nội tại của năng lực hầu như khó thay đổi, nhưng sự thay đổi của các yếu tố bên ngoài là khả thi nhờ vào các chương trình đào tạo thích hợp và từ những trải nghiệm trong công việc
Bên cạnh đó, hình thành một công ty mới đòi hỏi phải có một số nguồn lực bên ngoài và những thông tin có liên quan từ thị trường, những yếu tố đó đến từ môi trường Môi trường là nơi tập hợp các nguồn lực và mức độ dồi dào của chúng sẽ tác động đến quy trình khởi nghiệp Có nhiều cách tiếp cận về môi trường như xem
Trang 22xét tác động của môi trường kinh doanh đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp (Covin và Slevin, 1989; Naman & Slevin, 1993) Kết quả nghiên cứu từ các tác giả này đã chỉ ra sự tác động của năng lực của nhà khởi nghiệp vào kết quả hoạt động của doanh nghiệp không bao giờ tách rời với yếu tố môi trường kinh doanh
Bên cạnh đó, khởi nghiệp tại các nước phát triển và nước đang phát triển có nhiều điểm khác nhau Tại các nước phát triển, các doanh nghiệp mới thường hưởng lợi thế từ sự hỗ trợ của Chính phủ về thuế, xuất khẩu, cùng nhiều hỗ trợ khác Còn tại các nước đang phát triển, môi trường vĩ mô thường có nhiều cản trở cho hoạt động sản xuất kinh doanh và khởi nghiệp Các vấn đề thường gặp là sự thiếu phát triển của hệ thống tài chính, hay thay đổi chính sách, lạm phát cao, tỷ lệ thất nghiệp cao, cạnh tranh không công bằng, nạn hàng giả, hàng nhái,… (Estrin và Bytchkova, 2009) Chính phủ cũng thường can thiệp vào hoạt động kinh doanh, ưu ái hơn cho doanh nghiệp có vốn Nhà nước, mặt khác sự phát triển nhanh của các doanh nghiệp
tư nhân mới thành lập, cùng với sự tự do hóa kinh doanh dẫn đến sự hạn chế và thiếu thốn các dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp
Về mặt thực tiễn, trong nhiều năm qua, khởi nghiệp đóng một vai trò quan
trọng trong việc tăng trưởng kinh tế, giảm tỷ lệ thất nghiệp, phát triển xã hội (Sesen, 2013) Các doanh nghiệp có quy mô nhỏ có vai trò quan trọng trong việc tạo ra những cải tiến, môi trường cạnh tranh và việc làm trong nền kinh tế Ngay cả tại Hoa Kỳ - một quốc gia với nhiều công ty đa quốc gia có quy mô lớn và lợi thế cạnh tranh cao thì sự phát triển của các doanh nghiệp nhỏ cũng đóng góp đáng kể cho nền kinh tế nước này trên nhiều phương diện: chúng đóng góp rất lớn và những đổi mới như tạo ra số lượng các bằng phát minh sáng chế tính trên một lao động cao gấp 13 lần so với các doanh nghiệp có quy môn lớn; những doanh nghiệp có tuổi đời từ 5 năm trở lại đã tạo ra khoảng 40 triệu công việc trong gần 25 năm vừa qua
và chiến 20% trong tổng số lao động được tạo ra tại Hoa Kỳ trong khoảng thời gian nêu trên (Lewis và Molnar, 2011)
Nhưng sự phát triển của các SME, đặc biệt là doanh nhiệp nhỏ có một đặc trưng rất cơ bản đó là sự dễ tổn thương, trong nhiều nghiên cứu quốc tế, nguyên
Trang 23nhân cốt lõi gây ra vấn đề này đang nằm ở bản thân năng lực của nhà khởi nghiệp, đặc biệt trong những năm đầu sau khi doanh nghiệp vừa hình thành Ngày càng nhiều hoạt động của các doanh nhân khởi nghiệp có ảnh hưởng tích cực đối với sự phát triển của Lào cũng như vai trò và sự tham gia của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ngày càng tăng lên thì các nghiên cứu về tinh thần khởi nghiệp vẫn chưa được phát triển Các doanh nghiệp vừa và nhỏ Lào cũng có nhiều đặc điểm tương đồng, tuy nhiên do các điều kiện đặc thù: xuất phát điểm từ trình độ phát triển thấp, nền kinh
tế chuyển đổi, hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới,… nên kết quả nghiên cứu có thể có khác biệt
Khởi nghiệp không có nghĩa là chắc chắn sẽ thành công và thịnh vượng, nghiên cứu của Stephen và cộng sự (2005) đã chỉ ra rằng, hơn 50% doanh nghiệp phải đóng cửa trong thời gian từ 0-3 năm sau khi khởi nghiệp và 33% doanh nghiệp
đóng cửa trong thời gian 3 năm tiếp theo Chính vì lý do trên đề tài: “Ảnh hưởng
của năng lực nhà khởi nghiệp và môi trường khởi nghiệp đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Lào” được chọn để nghiên cứu Kết quả nghiên
cứu sẽ giúp các nhà khởi nghiệp hiểu rõ hơn các yếu tố thuộc năng lực nhà khởi nghiệp và các yếu tố môi trường khởi nghiệp tác động đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp Từ đó, tác giả đề xuất các hàm ý quản trị nhằm nâng cao năng lực nhà khởi nghiệp, cải thiện môi trường khởi nghiệp giúp gia tăng kết quả hoạt động của các doanh nghiệp khởi nghiệp
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Đề tài nghiên cứu được thực hiện nhằm các mục tiêu sau:
1 Xác định các yếu tố thuộc năng lực nhà khởi nghiệp và các yếu tố thuộc môi trường khởi nghiệp có ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp
2 Xác định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố thuộc năng lực nhà khởi nghiệp và các yếu tố thuộc môi trường khởi nghiệp đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp
Trang 243 Đề xuất hàm ý quản trị nhằm nâng cao năng lực của nhà khởi nghiệp, cải thiện môi trường khởi nghiệp từ đó gia tăng kết quả hoạt động của các doanh
nghiệp khởi nghiệp
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Quan tâm đến tầm quan trọng của môi trường kinh doanh và năng lực của nhà khởi nghiệp đối với kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp khởi nghiệp tại Lào, đề tài được nghiên cứu để trả lời các câu hỏi sau:
1 Các yếu tố nào thuộc năng lực nhà khởi nghiệp và các yếu tố thuộc môi trường khởi nghiệp có ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp?
2 Các yếu tố thuộc năng lực nhà khởi nghiệp và các yếu tố thuộc môi trường khởi nghiệp ảnh hưởng như thế nào đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp?
3 Hàm ý quản trị giúp nâng cao năng lực của nhà khởi nghiệp, cải thiện môi trường khởi nghiệp từ đó gia tăng kết quả hoạt động của các doanh nghiệp khởi nghiệp là gì?
1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu: là môi trường khởi nghiệp, năng lực của nhà khởi
nghiệp và kết quả hoạt động của doanh nghiệp
Đối tượng khảo sát: là những nhà khởi nghiệp tại Lào (chủ doanh nghiệp,
nhà điều hành và thành viên sáng lập) Việc lấy mẫu sẽ được tiến hành trên cơ sở chọn lựa một số khu vực địa lý có tầm quan trọng và mang đủ các đặc trưng của đám đông để đảm bảo sự khái quát hóa kết quả nghiên cứu có độ tin cậy cao Các phần tử của đám đông là nhà khởi nghiệp được chọn từ một số khu vực địa lý như:
thủ đô Viêng Chăn, tỉnh Savanhnakhet và tỉnh Champasack
Phạm vi nghiên cứu: tác giả chỉ tập trung khảo sát những nhà khởi nghiệp
từ doanh nghiệp có thời gian hoạt động từ 1 năm đến 5 năm trong thời gian từ tháng
03 đến tháng 05 năm 2015 Việc giới hạn tuổi đời của những doanh nghiệp trong phạm vi từ 5 năm trở lại vì mục tiêu của nghiên cứu này muốn nhắm đến những
Trang 25doanh nghiệp vừa trải qua giai đoạn hình thành và đang trong giai đoạn phát triển,
là giai đoạn có nhiều khó khăn xuất hiện
1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu này về cơ bản được tiến hành theo phương pháp định lượng và là một nghiên cứu giải thích nhằm kiểm định các giả thuyết đã nêu trong chương 2 (mô hình và các giả thuyết nghiên cứu) Tuy nhiên, cách tiếp cận định tính vẫn được
sử dụng ở đây
Nghiên cứu định tính sử dụng kỹ thuật phỏng vấn nhóm tập trung để thực hiện việc điều chỉnh và kiểm định độ tin cậy và giá trị của thang đo Vì các yếu tố thành phần dùng đo lường các khái niệm nghiên cứu được sử dụng từ các nghiên cứu ở nước ngoài cho nên mức độ phù hợp của nó là một vấn đề còn đang nghi vấn, cho nên việc sử dụng kỹ thuật phỏng vấn nhóm tập trung nhằm điều chỉnh lại thang
đo Việc phỏng vấn các nhóm tập trung sẽ được thực hiện tại Thủ đô Viêng Chăn
trong một nghiên cứu thử nghiệm (Pilot study) với quy mô 16 nhà khởi nghiệp có thời gian khởi nghiệp từ 1 đến 5 năm tại Lào (phụ lục 1 Dàn bài thảo luận nhóm)
Kết quả từ nghiên cứu thử nghiệm này cho phép tác giả điều chỉnh thang đo và bảng câu hỏi để triển khai khảo sát đại trà
Phương pháp khảo sát là trực tiếp lấy ý kiến của các nhà khởi nghiệp với phương pháp chọn mẫu sẽ được trình bày trong phần sau Dữ liệu thu được sẽ được kiểm tra và hiệu chỉnh sơ bộ tại hiện trường và chính thức sau khi kết thúc khảo sát
Sử dụng phần mềm SPSS 18.0 để nhập và phân tích dữ liệu
Quá trình phân tích dữ liệu được thực hiện như sau:
Bước 1: Kiểm tra sơ bộ mức độ tin cậy của thang đo, qua việc xem xét mức
độ tương quan giữa các biến quan sát trong bảng câu hỏi khảo sát, sử dụng phân tích Độ tin cậy của thang đo Cronbach’s Alpha
Bước 2: Phân tích nhân tố khám phá EFA để xác định những nhân tố rút gọn được từ bộ dữ liệu, đảm bảo phù hợp với mục tiêu đặt ra của đề tài nghiên cứu, làm
cơ sở cho những bước phân tích tiếp theo Có thể tiến hành hiệu chỉnh nếu cần thiết
Trang 26Bước 3: Kiểm tra lại độ tin cậy thang đo của những nhân tố thu được trong Bước 2, sử dụng hệ số Cronbach’s Alpha để đánh giá
Bước 4: Xây dựng phương trình hồi quy tuyến tính và tiến hành phân tích hồi quy để kiểm định các giả thuyết đặt ra đảm bảo ý nghĩa thống kê
Sau khi tiến hành nghiên cứu với các tiếp cận định lượng, tác giả tiến hành
thực hiện phỏng vấn sau nghiên cứu (follow- up study) để giải thích các kết quả
nghiên cứu cũng như những phát hiện đi chệch với những phát hiện đã đi tìm ra trước đây hoặc đi chệch khỏi những kết quả đã được phát hiện từ các nghiên cứu ở các nước khác
1.6 Ý NGHĨA CỦA NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu về mối quan hệ giữa môi trường khởi nghiệp và năng lực nhà khởi nghiệp đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sau khi hình thành
là một yêu cầu bức thiết hiện nay tại Lào Mối quan hệ, mức độ ảnh hưởng của các thành phần trong mô hình được nghiên cứu kỹ lưỡng, giúp cho nhà quản trị doanh nghiệp có thêm tài liệu tham khảo, để nâng cao kỹ năng quản lý và ứng phó với sự thay đổi của môi trường Đóng góp quan trọng nhất của nghiên cứu này là việc xây dựng và kiểm định mô hình ảnh hưởng của yếu tố năng lực nhà khởi nghiệp và môi trường khởi nghiệp đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp vừa và nhỏ Khi kiểm định có xét đến mối quan hệ đồng thời của ba thành phần trong mô hình, nhằm giúp cho các doanh nghiệp nắm bắt được các yếu tố nào ảnh hưởng nhiều nhất đến kết quả hoạt động của tổ chức, để từ đó có chính sách quản trị phù hợp
Đóng góp thứ hai là xây dựng và kiểm định thang đo kết quả hoạt động của
doanh nghiệp tại Lào theo bốn thành phần: Tài chính, khách hàng, quy trình nội bộ
và học tập phát triển Từ dữ liệu thực nghiệm, các giá trị hội tụ, giá trị phân biệt, độ tin cậy tổng hợp, phương sai trích của thang đo được tiến hành đánh giá trong mối quan hệ đồng thời của các thành phần
Ngoài ra, kết quả nghiên cứu còn cung cấp thêm thông tin, hàm ý đề xuất để các nhà lãnh đạo doanh nghiệp xem xét ứng dụng, ra quyết định và xây dựng các chính sách quản trị hiệu quả trong doanh nghiệp của mình
Trang 271.7 KẾT CẤU CỦA NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được chia làm 5 chương với thứ tự và nội dung cụ thể của từng chương được trình bày như sau:
Chương 1 – Tổng quan về nghiên cứu Chương này cho thấy cơ sở hình
thành đề tài và những vấn đề chung nhất của nghiên cứu: câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu, đối tượng, phạm vi, phương pháp và ý nghĩa đóng góp của nghiên cứu
Chương 2 – Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Nội dung của chương 2
giới thiệu các lý thuyết làm nền tảng cho nghiên cứu, nêu lên các khái niệm dùng trong nghiên cứu và tổng kết các nghiên cứu thực tiễn về mối quan hệ giữa môi trường kinh doanh, năng lực của nhà lãnh đạo và kết quả hoạt động kinh doanh để cho thấy khoảng trống nghiên cứu Trên cơ sở đó, trình bày các giả thuyết cần kiểm định của nghiên cứu cũng như đề xuất mô hình nghiên cứu phù hợp Chương này cũng giới thiệu tổng quan về tình hình kinh tế vĩ mô, tiền tệ - hệ thống ngân hàng, môi trường kinh doanh, các doanh nghiệp khởi nghiệp tại Lào Từ đó, giúp người đọc hiểu rõ hơn về môi trường đầu tư tại Lào
Chương 3 – Phương pháp nghiên cứu Tập trung trình bày về thang đo, sự
hiệu chỉnh và kiểm định các thang đo này cũng như thiết kế nghiên cứu: cách chọn mẫu và quá trình tiến hành thu thập thông tin Đồng thời, chương này cũng tiến hành đánh giá sơ bộ thang đo
Chương 4 – Kết quả nghiên cứu Trình bày kết quả nghiên cứu định lượng,
kiểm định thang đo và mô hình lý thuyết trong nghiên cứu Từ đó, đưa ra các so
sánh, thảo luận cần thiết cho việc kiểm định các giả thuyết của nghiên cứu
Chương 5 – Kết luận và hàm ý quản trị Những kết luận chính về kết quả của
nghiên cứu được thảo luận và nêu lên những đóng góp về mặt lý thuyết và thực tiễn Mặt khác, chương này cũng trình bày hàm ý quản trị cũng như những hạn chế và hướng tiếp theo cho các nghiên cứu tương lai
Trang 28CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH
NGHIÊN CỨU
Nội dung của chương 2 sẽ đề cập đến tổng quan cơ sở lý thuyết về năng lực của nhà khởi nghiệp, môi trường khởi nghiệp, kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp vừa và nhỏ Chương này cũng sẽ cho thấy khoảng trống nghiên cứu thông qua việc tóm lược các nghiên cứu trước, đồng thời đưa ra các giả thuyết nghiên cứu và mô hình đề xuất
2.1 LÝ THUYẾT VỀ NĂNG LỰC NHÀ KHỞI NGHIỆP
2.1.1 Nhà khởi nghiệp
Khái niệm khởi nghiệp có thể được hiểu như là một quá trình sáng tạo kinh
doanh (Kuratko, 2005), hay việc mở một doanh nghiệp mới (start a new business,
new venture creation) (Krueger và Brazeal, 1994; Lowell, 2003) hoặc tinh thần
doanh nhân (entrepreuership) và tự làm chủ, tự kinh doanh (sefl employment)
(Laviolette và Lefbrve, 2012)
Kovereid (1996a) cho rằng khởi nghiệp là sự lựa chọn nghề nghiệp khi cá nhân quyết định đánh đổi điều kiện làm việc của mình cho những khả năng khác để đảm bảo việc tồn tại và phát triển, hay tạo ra cơ hội kinh doanh Theo định nghĩa này thì nhà khởi nghiệp tự tạo công việc làm theo nghĩa trái với đi làm thuê, tự làm chủ và thuê người khác làm việc cho mình
Tinh thần doanh nhân có nhiều cách định nghĩa khác nhau Hiểu theo nghĩa hẹp, tinh thần doanh nhân là cá nhân bắt đầu khởi sự kinh doanh của riêng mình (Begley, 2001) Hay là việc cá nhân chấp nhận rủi ro để tạo một doanh nghiệp mới
và tự chủ nhằm mục đích làm giàu, bắt đầu tạo một doanh nghiệp mới bằng đầu tư vốn kinh doanh, hay mở cửa hàng kinh doanh (MacMilan, 1993) Hiểu theo nghĩa rộng thì tinh thần doanh nhân là thái độ làm việc đề cao tính tự chủ, sáng tạo, đổi mới và chấp nhận rủi ro, tạo ra các giá trị mới trong doanh nghiệp hiện đại (Bird, 1988), sự đổi mới, phong cách nhận thức và suy nghĩ, dự định phát triển nhanh
Trang 29(Lowell, 2003) Tự tạo việc làm nhấn mạnh đến khía cạnh tự làm chủ chính mình, không đi làm thuê, trong khi hiểu theo nghĩa tinh thần doanh nhân, nhà khởi nghiệp còn có thể bao gồm cả những người thành lập doanh nghiệp mới để tận dụng cơ hội thị trường nhưng lại không trực tiếp quản trị doanh nghiệp mà thuê người khác nên vẫn có thể đi làm tại các doanh nghiệp khác (Smallbone và Welter, 2006)
Tinh thần khởi nghiệp là một hiện tượng được quan tâm trong những năm gần đây và đang có xu hướng phát triển mạnh trong những năm tới Các nhà khởi nghiệp đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong xã hội, các doanh nghiệp đóng góp vào
sự tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân, tạo công ăn việc làm, tạo ra sản phẩm, dịch vụ, cải thiện đời sống Tại Lào, nhà khởi nghiệp đã phát triển từ năm 1945, khi Lào trở thành quốc gia độc lập, tiếp theo đó là sự sáng tạo và phát triển nhanh
chóng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ (Small and Medium Enterprise – SME) đã
giúp cải thiện tình hình kinh tế khó khăn và giảm thiểu tình trạng thất nghiệp
Gartner (1988) cho rằng khởi nghiệp kinh doanh là quá trình tạo ra doanh nghiệp mới và khởi nghiệp kinh doanh là quá trình nhận dạng, đánh giá và khai thác
cơ hội kinh doanh (Shane và Venkataraman, 2000) Hai cách tiếp cận này xem xét đến những bước ban đầu của quy trình khởi nghiệp chứ chưa nhìn toàn diện đời sống của doanh nghiệp sau khi khởi sự Khi bắt đầu khởi nghiệp, các cá nhân dành nhiều thời gian và nỗ lực để lập kế hoạch, đo lường và giả định các rủi ro tài chính, tâm lý và xã hội Điều gì thúc đẩy các doanh nhân đầu tư nhiều công sức cho một hành trình dài tìm đến thành công? Mặc dù, nhiều người thích kinh doanh, hay có
sự hỗ trợ, tài trợ, nhưng chỉ có một số người bắt tay vào khởi nghiệp thực sự Các đặc tính cá nhân, hành vi của cá nhân, bản chất, loại hình kinh doanh mới thành lập
và đặc điểm của môi trường kinh doanh là những yếu tố quyết định đối với hoạt động của doanh nghiệp (Gartner, 1988)
Khái niệm nhà khởi nghiệp, doanh nhân và chủ doanh nghiệp có nhiều cách định nghĩa khác nhau, nhưng theo tác giả các khái niệm này có nhiều điểm tương đồng Theo Anderson và Bushman (2002), doanh nhân là người thực hiện quá trình tạo nên những nhóm doanh nghiệp mới và thực hiện những nhiệm vụ này Doanh
Trang 30nhân là người tham gia vào các quá trình kinh doanh với mục đích tạo ra nhiều giá trị càng tốt, họ xác định và khai thác cơ hội để tạo ra sản phẩm, dịch vụ, quy trình
và tổ chức mới với khát vọng cao để đạt được thành công, đó là tối đa sáng tạo ra giá trị Với tư cách là một doanh nhân, họ tự làm chủ, tạo dựng, tổ chức, quản lý và
tự chịu trách nhiệm một doanh nghiệp; họ muốn đối đầu với những thử thách hơn là một nhân viên làm việc cho người khác Quyết định khởi nghiệp với tư cách một doanh nhân được xem như là một lựa chọn nghề nghiệp cho chính họ Quy trình
khởi nghiệp (start-up) một đơn vị kinh doanh thường bao gồm bốn bước: hình
thành ý định khởi nghiệp, nhận dạng cơ hội kinh doanh, quyết định khai thác cơ hội
và hình thành dự án kinh doanh (Kelley và Herrington, 2011) Doanh nhân, nhà khởi nghiệp hay chủ doanh nghiệp chấp nhận những rủi ro tài chính của cá nhân với việc sở hữu doanh nghiệp, nhưng cũng được hưởng lợi từ những thành công của doanh nghiệp, như là những tưởng thưởng cho việc mạo hiểm của họ
Nhà khởi nghiệp có quyền lực và ảnh hưởng nhiều nhất trong các công ty của họ, họ đóng vai trò chủ đạo và quan trọng trong quá trình phát triển của nó Các yếu tố như thay đổi trong lối sống, các quyết định cho việc bắt đầu một doanh nghiệp, mong muốn thành công, thay đổi để cải thiện điều kiện làm việc hiện tại, hay mong muốn đi theo mô hình kinh doanh truyền thống Bird (1988) cho rằng cả hai đặc điểm: cá nhân và yếu tố môi trường ảnh hưởng đến việc khởi nghiệp Aldrich và Zimmer (1986) tin rằng các đặc điểm nhân cách kinh doanh có tầm quan trọng thứ hai và chỉ đóng góp một phần vào sự hiểu biết và quá trình thành lập của công ty và môi trường có tác động mạnh đến quá trình hình thành và phát triển của công ty Có nhiều mô hình đã được phát triển theo hai hướng chính:
- Các yếu tố cá nhân (đặc điểm và phẩm chất của nhà khởi nghiệp);
- Ảnh hưởng của môi trường (xã hội, văn hóa, chính trị, kinh tế và hoàn cảnh)
2.1.2 Năng lực (Competencies)
Năng lực là một khái niệm được xem xét với nhiều góc độ và có nhiều ứng dụng trong thực tiễn và có liên quan mật thiết với sự thành công của doanh nghiệp
Trang 31(Spencer, 1993) Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về năng lực về phương diện lý thuyết Theo trường phái nghiên cứu của Hoa Kỳ, năng lực được định nghĩa như là một tập hợp những đặc trưng cơ bản, kỹ năng, kiến thức và động lực của một con người và những điều này giúp cho họ có những hành động có hiệu quả hay có kết quả thực thiện vượt trội trong công việc (Boyatzis, 1982) Trong khi đó, trường phái
nghiên cứu của người Anh lại nhấn mạnh đến tất cả khả năng (competence) Khả
năng được xem là một bản mô tả tất cả những điều trong lĩnh vực nghề nghiệp mà một con người cần phải thực hiện Theo hai cách tiếp cận này thì năng lực chính là
sự đánh giá việc thực hiện trong một chuỗi các hoạt động cụ thể trong khi năng lực
là tập hợp những gì được sử dụng để mô tả các đặc trưng và hành vi cá nhân
Nhiều nhà nghiên cứu dùng các thuật ngữ thay thế lẫn nhau như kỹ năng
(skill), kiến thức (knowledge) và khả năng (ability) bên cạnh khái niệm năng lực (compentecies) Điều tạo nên sự khác biệt của khái niệm về năng lực (competencies)
đó là khái niệm này là cấu trúc có tính tương tác và nó được cấu thành bởi ba bộ phận: sự khác biệt giữa các cá nhân, hành vi được định nghĩa theo tình huống và các tiêu chuẩn cho việc thực hiện Trong khi đó khái niệm và năng lực không chỉ gắn liền với từng cá nhân mà còn lệ thuộc vào bối cảnh tình huống xã hội Trong nghiên cứu này, tác giả tiếp cận khái niệm năng lực theo trường phái nghiên cứu của Hoa
Kỳ
2.1.3 Năng lực nhà khởi nghiệp (Entrepreneurial competencies - EC)
Năng lực khởi nghiệp được xem là một nhóm các năng lực cụ thể liên quan đến việc triển khai hoạt động khởi nghiệp thành công, những hoạt động khởi nghiệp này thường song hành với sự phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa (Colombo
và Grilli, 2005, Nuthall, 2006) Các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực khởi nghiệp (Lerner và Almor, 2002) thường phân biệt hai khái niệm “năng lực quản trị” và
“năng lực khởi nghiệp” Một số nhà nghiên cứu cho rằng năng lực khởi nghiệp thì cần thiết cho việc hình thành một doanh nghiệp trong khi đó năng lực quản trị thì quan trọng để tạo sự tăng trưởng của doanh nghiệp Tuy nhiên, có nhà nghiên cứu lại cho rằng năng lực trong quá trình khởi nghiệp kinh doanh bao gồm cả hai khái
Trang 32niệm nêu trên (Man và cộng sự 2002) Mối quan tâm về năng lực khởi nghiệp bắt nguồn từ mối quan hệ giữa năng lực và sự hình thành, tồn tại và tăng trưởng của một doanh nghiệp (Bird, 1995 và Baun, 1994) Nhiều nghiên cứu trong thực tiễn đã phát hiện ra rằng việc thông hiểu các năng lực cần thiết và sự thay đổi vai trò của nhà khởi nghiệp trong các giai đoạn trong đời sống của một doanh nghiệp sẽ hỗ trợ
và phát triển năng lực của nhà khởi nghiệp và việc đó, đến lượt nó, sẽ tạo nên một
sự tăng trưởng thành công cho doanh nghiệp (Churchill và Lewis, 1983)
Các năng lực khởi nghiệp đóng vai trò rất quan trọng cho sự tăng trưởng và thành công của doanh nghiệp, tuy nhiên việc nghiên cứu về năng lực khởi nghiệp chỉ đang trong giai đoạn sơ khai (Brinckman, 2008) Năng lực khởi nghiệp được thực hiện bởi các cá nhân (nhà khởi nghiệp) là người bắt đầu hay thực hiện sự chuyển hóa tổ chức, là người tạo nên giá trị gia tăng cho tổ chức Bird (1995) cho rằng năng lực khởi nghiệp được định nghĩa như là những đặc trưng cơ bản như các kiến thức cụ thể, các đặc điểm, khả năng nhận thức về bản thân, vai trò xã hội và những kỹ năng giúp cho một người hình thành, duy trì sự tồn tại và tạo sự tăng trưởng cho một doanh nghiệp
Mặt khác, lý thuyết về năng lực, dựa trên việc nghiên cứu các nhà lãnh đạo thành công, đã phân nhỏ các hành vi thái độ và kỹ năng của nhà quản trị thành những yếu tố có thể đo lường được và tìm kiếm cách thức tập hợp các yếu tố này lại
để tạo ra những cá nhân có năng lực thực hiện công việc vượt trội Những kỹ năng cần thiết cho hoạt động khởi nghiệp thành công thường bao gồm kỹ năng thuyết trình, tương tác cá nhân, trình bày được kế hoạch kinh doanh (Ronstadt, 1988, Vesper và Mc Millan, 1988) Một khía cạnh then chốt của các nghiên cứu về năng lực chính là việc tìm kiếm những đặc trưng cá nhân mang tính chất lâu dài dẫn đến
sự thành công hay thực hiện một cách vượt trội cho một công việc hoặc toàn bộ tổ chức Các đặc trưng cá nhân này được Barlett và Ghoshal (1997) phân thành ba nhóm năng lực: Thái độ/ các đặc điểm cá nhân, kiến thức/ kinh nghiệm và kỹ năng/ khả năng Nghiên cứu Stuart và Lindsay (1997) cũng tìm ra ba nhóm năng lực như
Trang 33nghiên cứu của hai tác giả nêu trên và chúng bao gồm: các kỹ năng cá nhân, kiến thức và các đặc trưng cá nhân
Lerner và Almor (2002) khảo sát 220 kỹ năng nữ doanh nhân của Israel trên năm điểm thang đo Likert 5 điểm Thông qua phân tích nhân tố, họ thấy rằng kỹ năng quản lý (tài chính, quản lý nguồn nhân lực, hoạt động và quản lý chiến lược và
kỹ năng kinh doanh (đổi mới và tiếp thị) là những yếu tố riêng biệt
Chandler và Hanks (1994) trong nghiên cứu của họ về các doanh nghiệp sản xuất ở Tây Bắc Pennsylvania đã nêu rõ ràng hơn về sự khác biệt giữa các nhóm đối tượng; họ đã thiết kế một bảng câu hỏi để đo lường một cách riêng biệt của hai biến: các nhà khởi nghiệp cần phải giỏi về nhận định, nắm bắt cơ hội kinh doanh và năng lực quản lý (mua và sử dụng các nguồn lực để phối hợp giữa lợi ích và hoạt động kinh doanh)
Shane và Venkataraman (2000) cho rằng khả năng nhìn thấy cơ hội và khai thác nó là những khái niệm trọng tâm trong kinh doanh mà phân biệt tinh thần kinh doanh với việc quản lý Bird (1988) ghi nhận các năng lực khởi nghiệp quan trọng
là kiên trì, kiên trì như là một đặc điểm quan trọng cho việc phát triển một doanh nghiệp mới
Nghiên cứu năng lực khởi nghiệp (Chandler và Jansen, 1992) đã phát triển các nhóm kỹ năng/ năng lực mà là tương tự như trong quản lý lý thuyết/ lãnh đạo là nhìn thấy cơ hội và tự quản lý Chandler và Jansen (1992) đã nghiên cứu một mẫu của công ty ở bang Utah cho rằng hoạt động hiệu quả trong vai trò kinh doanh đòi hỏi người sáng lập phải có khả năng nhận ra các cơ hội kinh doanh và thiết lập được các quy trình kinh doanh hiệu quả Để có thẩm quyền trong vai trò kỹ thuật họ nói rằng người sáng lập phải có khả năng sử dụng các công cụ hoặc các thủ tục cần thiết trong lĩnh vực chuyên môn của họ
Năng lực chính khác nhau có liên quan đến vai trò kinh doanh và bao gồm nhận biết và tận dụng cơ hội và sau đó chọn các cơ hội có chất lượng cao để theo đuổi Năng lực chủ chốt khác được đề cập bao gồm sở hữu quy trình, sẵn sàng làm việc, làm việc chăm chỉ và nỗ lực cường độ Mitton (1989) cho rằng các vấn đề kinh
Trang 34doanh được đánh dấu bằng việc khái niệm cụ thể của một cái nhìn sâu sắc kinh doanh hoặc cơ hội, sự chấp nhận về tính khả thi của việc theo đuổi kinh doanh như một cơ hội và phối hợp các nguồn lực nhằm đạt được các mục tiêu đó Nhà khởi nghiệp thể khái quát hóa một cách chính xác là một cơ hội và sau đó cam kết các nguồn lực cần thiết để giải quyết một vấn đề như vậy là ở một vị trí để có hiệu quả điền vào vai trò kinh doanh
Trong cái nhìn tổng quan về năng lực của nhà khởi nghiệp, Mitton (1989) cho rằng có hai chủ đề lớn trong năng lực quản lý, năng lực chức năng như: marketing, tài chính và năng lực tổ chức như các kỹ năng liên quan đến tổ chức và động cơ thúc đẩy, kỹ năng cá nhân và lãnh đạo Shane và Venkataraman, 2000 đề nghị 16 lĩnh vực chuyên môn bao gồm cả quản lý tổng hợp, lập kế hoạch chiến lược
và tiếp thị Trong một tiếp cận chức năng tương tự, Man và cộng sự (2002) trong quá trình tiếp cận hành vi của họ dựa trên việc xem xét các nghiên cứu thực nghiệm trước đó xác định sáu năng lực khu vực thuộc năng lực kinh doanh; đây là những cơ hội, các mối quan hệ, khái niệm, tổ chức, năng lực chiến lược và cam kết
Baun (1994) (dựa trên nghiên cứu của Chandler và Jansen, 1992; Herron và Robinson, 1993) đã lập một danh sách 9 năng lực nhà khởi nghiệp; đó là: kiến thức, khả năng nhận thức, tự quản lý, hành chính, nguồn nhân lực, kỹ năng ra quyết định, lãnh đạo, công nhận cơ hội và phát triển cơ hội Họ cũng đóng góp một thể loại khác, trong đó bao gồm kỹ năng tổ chức các mối quan hệ con người và thực hành quản lý Những người được phỏng vấn đã thảo luận khả năng kiến thức, khả năng
cụ thể hoặc kỹ năng, về mặt kỹ thuật và kinh nghiệm trong ngành Các kết quả của nghiên cứu của mình rằng tự hiệu quả, kỹ năng kỹ thuật, tiếp thị cá nhân, tập trung đổi mới/ sản xuất và niềm đam mê đối với công việc có mối quan hệ tích cực trực tiếp mạnh nhất với mức tăng trưởng doanh Tầm nhìn, kỹ năng tổ chức, mục tiêu tăng trưởng, kỹ năng cơ hội, kinh nghiệm và kích thước người tham gia có mối quan hệ quan trọng, nhưng chưa tích cực
Một nghiên cứu của Hood và Young (1993) để phát triển một khung lý thuyết về năng lực của doanh nhân thành công đã phỏng vấn 100 doanh nhân hàng
Trang 35đầu và các nhà khởi nghiệp của các công ty kinh doanh phát triển nhanh nhất của
Mỹ Một danh sách các kiến thức về kỹ năng nội dung và tinh thần đã được phát triển Đối với các loại kỹ năng từ 92 câu trả lời đã được phân thành 12 loại khác nhau Các kỹ năng thường xuyên nhắc đến nhiều nhất và được cho là quan trọng nhất là kỹ năng lãnh đạo, theo dõi chặt chẽ bởi các kỹ năng quan hệ con người, kỹ năng giao tiếp nói và viết kỹ năng giao tiếp Tám kỹ năng được xếp hạng tầm quan trọng tiếp theo là: kỹ năng quản lý, kỹ năng đối phó - định hướng, tư duy logic, kỹ năng phân tích, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng thiết lập mục tiêu, kỹ năng tuyển dụng và chuẩn bị kế hoạch kinh doanh
Các lý thuyết này cho rằng các đặc trưng về nhân khẩu học, tâm lý và hành
vi của nhà khởi nghiệp cũng như các kỹ năng và kiến thức chuyên môn của họ là những yếu tố quan trọng nhất tác động đến kết quả hoạt động của tổ chức thông qua
ba cơ chế tác động: (i) các nhà khởi nghiệp có năng lực càng cao thì càng có khả năng khai thác các cơ hội kinh doanh tốt hơn và có chất lượng hơn; (ii) các nhà khởi nghiệp có năng lực càng cao có khả năng thiết lập các chiến lược thích ứng hơn cho hoạt động kinh doanh của họ; (iii) Theo lý thuyết định hướng vào nền tảng nguồn lực, các nhà khởi nghiệp và năng lực của họ là những nguồn lực thiết yếu và có giá trị của một doanh nghiệp
Tóm lại, trong hai thập niên gần đây nhiều kết quả nghiên cứu đã chỉ ra mối quan hệ giữa các kỹ năng, kiến thức và kinh nghiệm với sự thành công của hoạt động khởi nghiệp, cụ thể như sau:
+ Murray (1996) cho rằng các kiến thức nền tảng và kinh nghiệm cá nhân có tác động đến sự thành công của hoạt động khởi nghiệp: kinh nghiệm kinh doanh, lịch sử đổi mới, kinh nghiệm về sản xuất và marketing, địa vị, kinh nghiệm khởi nghiệp và mối quan hệ trong quá khứ với các nhà cung cấp tín dụng cho dự án kinh doanh
+ Basu và Goswami (1999) xem xét sự tác động của các yếu tố kinh tế xã hội đến kết quả khởi nghiệp: trình độ giáo dục, kinh nghiệm kinh doanh của bản
Trang 36thân hay gia đình, sự tín nhiệm về tín dụng với ngân hàng và các nhà cung cấp tín dụng phi chính thức khi khởi nghiệp kinh doanh
+ Martin và Staines (1994) đề xuất các yếu tố: các phẩm chất cá nhân vượt trội, năng lực lãnh đạo, sự tự tin, sự đổi mới và khả năng chấp nhận rủi ro
+ Mitton (1989) đề xuất các đặc trưng về hành vi như: tầm nhìn tổng thể, phát hiện các cơ hội đặc thù, thực hiện sự cam kết, tìm kiếm nhu cầu kiểm soát, có quan điểm vị lợi, chấp nhận sự bất ổn, sử dụng các liên kết cá nhân, duy trì năng lực
+ Man và các cộng sự (2002) chỉ ra 10 năng lực khởi nghiệp: cơ hội, mối quan hệ, năng lực phân tích, khả năng đổi mới, năng lực điều hành, năng lực thiết lập mối quan hệ con người, tầm nhìn chiến lược, thực hiện sự cam kết, học tập không ngừng và các thế mạnh về năng lực cá nhân tạo nên kết quả hoạt động kinh doanh tốt hơn
Tác giả đồng ý rằng những năng lực quan trọng đối với một nhà khởi nghiệp cần có: kỹ năng quản lý, bao gồm cả khả năng để phát triển hệ thống quản lý và kỹ năng tổ chức và điều phối; hệ tư tưởng; năng lực khái quát và phân tích, bao gồm khả năng phối hợp hoạt động; kỹ năng quản lý khách hàng; tạo động lực, phát triển
kỹ năng nhân viên; khả năng nhận ra và tận dụng các cơ hội, khả năng xây dựng chiến lược cho việc tận dụng các cơ hội; kỹ năng tuyển dụng; ra quyết định kỹ năng; kỹ năng lãnh đạo; và cam kết
2.2 LÝ THUYẾT VỀ MÔI TRƯỜNG KINH DOANH VÀ MÔI TRƯỜNG KHỞI NGHIỆP
Việc thiết lập một doanh nghiệp mới đòi hỏi phải có những nguồn lực bên ngoài hỗ trợ Các yếu tố thuộc về môi trường bao gồm một tập hợp các nguồn lực
và sự dồi dào của chúng và các yếu tố này có sự tác động quan trọng trong quy trình khởi nghiệp kinh doanh
2.2.1 Môi trường kinh doanh (Business environment – BE)
Việc xây dựng môi trường kinh doanh chủ yếu được thực hiện ở một quốc gia, tuy nhiên trách nhiệm thực hiện lại thuộc về các địa phương Các địa phương
Trang 37đặc biệt tập trung vào các vấn đề cần phải đối mặt với các công ty đang hoạt động tại địa phương, trong chính sách điều hành kinh tế của mình Môi trường kinh doanh yếu kém (trong đó bao gồm: quy định đầu tư không hiệu quả, tham nhũng, những yếu kém về cơ sở hạ tầng và các dịch vụ tài chính) sẽ tạo lực cản đối với các công ty muốn gia nhập vào thị trường (Collier và Dollar, 2002) Môi trường kinh doanh bao gồm cả đầu tư trực tiếp nước ngoài cụ thể là: những quy định quản lý đầu
tư và ưu đãi cụ thể cho các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài Môi trường kinh doanh nói chung trong đó bao gồm những cân nhắc khác nhau tác động đến quyết định tâm lý của nhà đầu tư như: ổn định chính trị, môi trường kinh tế vĩ mô và thái độ của Chính phủ đối với doanh nghiệp nước ngoài khi tham gia đầu tư
Theo Dollar và cộng sự (2005) cho rằng, môi trường kinh doanh là: thể chế, chính sách và các quy định liên quan đến hoạt động của công ty từ khi công ty mới bắt đầu thành lập cho đến khi kết thúc quá trình kinh doanh Dollar và cộng sự (2005) nhấn mạnh nếu chính quyền địa phương quan liêu, tham nhũng, hoặc địa phương cung cấp cơ sở hạ tầng và các dịch vụ tài chính không hiệu quả thì các doanh nghiệp thì khó có được sự tin cậy vào những quy định và dịch vụ mà địa phương cung cấp Từ đó, các khoản đầu tư tiềm năng kỳ vọng sẽ thấp và không ổn định, làm cho việc tích lũy vốn đầu tư mong muốn thấp tác động xấu đến tăng trưởng kinh tế Các địa phương cần nâng cao năng lực quản lý để có thể hưởng lợi
từ việc tích lũy vốn đầu tư
Để đánh giá môi trường kinh doanh ở một quốc gia World Bank (2012), phân tích các quy định áp dụng cho các doanh nghiệp trong một nền kinh tế thông qua vòng đời hoạt động của doanh nghiệp Các quy định này bao gồm: thành lập và hoạt động của doanh nghiệp, thương mại quốc tế, nộp thuế, bảo vệ nhà đầu tư, Thứ hạng chung về mức độ thuận lợi kinh doanh được đánh giá dựa trên 10 chỉ số của 185 nền kinh tế Báo cáo môi trường kinh doanh không đánh giá toàn bộ các lĩnh vực của môi trường đầu tư có ảnh hưởng đến doanh nghiệp và nhà đầu tư Tuy vậy, các kết quả trong báo cáo đã thúc đẩy quá trình thảo luận về chính sách trên
Trang 38toàn thế giới và tạo điều kiện tăng cường nghiên cứu về ảnh hưởng của các quy định
ở cấp doanh nghiệp tới kết quả hoạt động chung của các nền kinh tế
Dẫn theo một nghiên cứu của Nguyễn Thị Tuệ Anh và cộng sự (2006) cho rằng: “môi trường kinh doanh thường được sử dụng để mô tả những khía cạnh thể chế có thể ảnh hưởng tới việc ra quyết định đầu tư và quá trình thực hiện đầu tư của doanh nghiệp Để đánh giá môi trường kinh doanh, thường các chỉ số sau đây hay được lựa chọn: qui định luật pháp, mức độ tham nhũng, quyền sở hữu, cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, dịch vụ tài chính Ngoài ra, các yếu tố khác như quan liêu, bất ổn định về xã hội và chính trị, xử lý vi phạm hợp đồng, cũng được sử dụng như là các chỉ số để đánh giá” Môi trường kinh doanh bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, bao gồm: nghèo đói, tội phạm, cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực, an ninh quốc gia, ổn định chính trị, chế độ không chắc chắn, thuế, quy định của pháp luật, quyền sở hữu, quy định của Chính phủ, Chính phủ minh bạch và trách nhiệm giải trình của Chính phủ
Triết lý đầu tư giải thích môi trường kinh doanh: Một môi trường kinh doanh không thuận lợi là một trong những trở ngại phải đối mặt ở các quốc gia kém phát triển Cải cách pháp lý thường là một thành phần quan trọng của việc loại bỏ các rào cản đối với đầu tư Một số tổ chức phi lợi nhuận được thành lập với mục đích cải thiện môi trường kinh doanh và thúc đẩy phát triển kinh tế ở các quốc gia này Ngoài ra, một số nhà đầu tư sẵn sàng chấp nhận mức rủi ro cao và biến động liên quan đến đầu tư trong một môi trường không thuận lợi vì những tiềm năng mà có nguy cơ cao sẽ được khen thưởng với lợi nhuận cao
2.2.2 Lý thuyết các yếu tố quyết định đầu tư ở khu vực tư nhân
Các lý thuyết đầu tư tư nhân là khá phong phú và đa dạng Không có lý thuyết rõ ràng về các yếu tố quyết định đầu tư cho từng nghiên cứu (Yin, 2011) Thông thường có 05 nhóm lý thuyết được đề cập đến là: lý thuyết gia tốc giản đơn,
lý thuyết tính thanh khoản, lý thuyết lợi nhuận dự kiến, lý thuyết Q của Tobin và lý thuyết gia tốc linh hoạt của trường phái tân cổ điển Lý thuyết gia tốc linh hoạt dường như là phổ biến nhất của những lý thuyết được sử dụng trong các nghiên cứu ứng dụng Tuy nhiên, trong bối cảnh các nước đang phát triển, do dữ liệu hạn chế
Trang 39và những hạn chế về cơ cấu, một biến thể của mô hình gia tốc linh hoạt thường được sử dụng trong nghiên cứu thực nghiệm, đó là lý thuyết về các yếu tố quyết định của tư nhân đầu tư vào các quốc gia này (Ouattara, 2004)
Hành vi đầu tư tư nhân chủ yếu bị ảnh hưởng bởi động cơ lợi nhuận Có một vài yếu tố khác cũng tác động đến hành vi đầu tư tư nhân như tiền lương và chi phí nguyên liệu, tuy nhiên các yếu tố này có thể được dự báo và nằm trong sự kiểm soát của các nhà đầu tư (Duncan và các cộng sự, 1999; Greene và Villanueva, 1991) Ở các nước đang phát triển, đầu tư tư nhân được xác định chủ yếu bởi mức sản lượng trong nước, lãi suất thực, công khai trong các dự án đầu tư, nguồn vốn tín dụng cho đầu tư, nợ nước ngoài, tốc độ trao đổi và sự ổn định nền kinh tế vĩ mô Ngoài ra, nguồn nhân lực, tính sẵn có và chất lượng cơ sở hạ tầng là những ảnh hưởng quan trọng đến đầu tư tư nhân trong khi đó sự không chắc chắn trong môi trường đầu tư tác động tiêu cực đến đầu tư tư nhân (Thomas, 1997)
Everhart và Sumlinski (2001) cung cấp bằng chứng cho thấy rằng, tham nhũng sẽ làm giảm chất lượng của đầu tư công; giảm chất lượng đầu tư công làm cho đầu tư tư nhân giảm Những phát hiện này có ý nghĩa quan trọng đối với hoạch định chính sách và các nhà đầu tư tư nhân Hoạch định chính sách có thêm bằng chứng để biện minh cho chiến dịch chống tham nhũng tại các quốc gia Còn đối với các nhà đầu tư tư nhân có thể sử dụng những phát hiện này để xác định vị trí, các cơ hội kinh doanh tốt nhất hiện nay khi môi trường kinh doanh trong thị trường mới nổi đang thay đổi
Agénor và các cộng sự (2005), khảo sát tác động của cơ sở hạ tầng hình thành vốn đầu tư tư nhân ở Trung Đông và Bắc Phi gồm 03 quốc gia là: Ai Cập, Jordan và Tunisia Nghiên cứu cho thấy rằng cơ sở hạ tầng có thể ảnh hưởng đến đầu tư tư nhân qua các kênh khác nhau Tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư tư nhân hoạt động rất quan trọng để kích thích tăng trưởng và tạo việc làm trong khu vực
Le (2004) cho rằng, khi tìm hiểu về xu hướng đầu tư tư nhân trong các nước đang phát triển không chỉ đòi hỏi xem xét các mối quan hệ giữa rủi ro chính trị và
Trang 40đầu tư tư nhân, mà còn là một sự hiểu biết về các loại rủi ro chính trị và phải được phân tích bởi những đặc trưng riêng tại các nước đang phát triển Từ đó, cung cấp một môi trường đầu tư vững mạnh để thu hút các nhà đầu tư trong nước và duy trì một dòng chảy ổn định của đầu tư tư nhân trong nền kinh tế Chính phủ ở các nước đang phát triển nên phân biệt các loại rủi ro chính trị để thiết kế và thực hiện các chính sách phù hợp để ứng phó với vấn đề hiện tại
2.2.3 Môi trường khởi nghiệp (Startup environment – SE)
Môi trường là nơi tập hợp các nguồn lực và mức độ dồi dào của chúng sẽ tác động đến quy trình khởi nghiệp Có nhiều cách tiếp cận về môi trường như xem xét tác động của môi trường kinh doanh đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp (Covin & Slevin, 1997; Naman & Slevin, 1993) Kết quả nghiên cứu từ các tác giả này đã chỉ ra sự tác động của năng lực của nhà khởi nghiệp vào kết quả hoạt động của doanh nghiệp không bao giờ tách rời với yếu tố môi trường kinh doanh Thật vậy, các quyết định và hành động của người chủ doanh nghiệp sẽ được đưa ra dựa trên sự cảm nhận của họ về môi trường kinh doanh (Begley, 2001) Cách tiếp cận về
sự tác động của yếu tố môi trường dựa trên quan điểm về lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp (Porter, 1985) đề cập đến môi trường kinh doanh Môi trường này được chia ra thành hai nhóm đối kháng nhau: thuận lợi - bất lợi hay ổn định - bất
ổn Môi trường thuận lợi được đặc trưng bởi tỷ suất lợi nhuận trong ngành cao, mức
độ cạnh tranh thấp và khách hàng rất trung thành; trong khi đó môi trường bất lợi có các đặc trưng ngược lại Các nghiên theo hướng tiếp cận này đã phát hiện môi trường đặc trưng cho các doanh nghiệp nhỏ thường mang tính bất ổn cao và sự thuận lợi hay bất lợi cũng đều song hành với nhau trong môi trường kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ Trong nghiên cứu của mình, Lagace và Bourgal (2003) cũng như Zain và Kassim (2012) cũng chỉ ra mức độ tự do cạnh tranh trong ngành kinh doanh
sẽ tác động đến sự cạnh tranh của doanh nghiệp qua đó sẽ ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp
Bên cạnh khái niệm về môi trường kinh doanh và sự tương tác của chúng đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp nhỏ, khái niệm về môi trường khởi nghiệp