ĐẶT VẤN ĐỀ Nhiễm khuẩn huyết (NKH) và sốc nhiễm khuẩn (SNK) là bệnh lý thường gặp trong hồi sức tích cực (HSTC) với tỷ lệ tử vong cao. Bù dịch đóng vai trò quan trọng trong ổn định huyết động cho bệnh nhân NKH/SNK. Tuy nhiên chỉ có khoảng một nửa bệnh nhân đáp ứng với bù dịch [56]. Với những bệnh nhân không đáp ứng bù dịch, việc bù dịch có thể làm tăng mức độ bệnh tật và tỷ lệ tử vong [14], [44]. Nghiệm pháp bù dịch nhanh kết hợp với theo dõi thể tích nhát bóp/cung lượng tim “thời gian thực” được xem như phương pháp chuẩn để đánh giá đáp ứng bù dịch, tuy nhiên hầu hết khoa hồi sức tích cực hiện nay chưa được trang bị các phương tiện theo dõi huyết động. Trong khi đó, các thông số huyết động tĩnh mặc dù được sử dụng rộng rãi nhưng lại chưa được nghiên cứu đầy đủ [4],[5]. Do đó, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu giá trị của các thông số huyết động tĩnh trong đánh giá đáp ứng bù dịch ở bệnh nhân nhiễm khuẩn nặng và sốc nhiễm khuẩn”. 1. Mục tiêu nghiên cứu. - Xác định tỷ lệ bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết nặng/sốc nhiễm khuẩn có đáp ứng với bù dịch. - Xác định giá trị tiên đoán đáp ứng bù dịch của các thông số huyết động tĩnh: tần số tim trước bù dịch, biến đổi tần số tim sau bù dịch, áp lực tĩnh mạch trung tâm trước bù dịch, biến đổi huyết áp trung bình sau bù dịch, biến đổi huyết áp tâm thu sau bù dịch, biến đổi áp lực mạch sau bù dịch. Tìm giá trị ngưỡng của các thông số này để tiên đoán đáp ứng bù dịch.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LÊ HỮU THIỆN BIÊN
NGHIÊN CỨU GIÁ TRỊ CÁC THÔNG SỐ
HUYẾT ĐỘNG TĨNH TRONG ĐÁNH GIÁ ĐÁP ỨNG BÙ DỊCH Ở BỆNH NHÂN NHIỄM KHUẨN HUYẾT NẶNG
Trang 2GIỚI THIỆU LUẬN ÁN ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhiễm khuẩn huyết (NKH) và sốc nhiễm khuẩn (SNK) là bệnh lý thường gặp trong hồi sức tích cực (HSTC) với tỷ lệ tử vong cao Bù dịch đóng vai trò quan trọng trong ổn định huyết động cho bệnh nhân NKH/SNK Tuy nhiên chỉ có khoảng một nửa bệnh nhân đáp ứng với
bù dịch [56] Với những bệnh nhân không đáp ứng bù dịch, việc bù dịch có thể làm tăng mức độ bệnh tật và tỷ lệ tử vong [14], [44] Nghiệm pháp bù dịch nhanh kết hợp với theo dõi thể tích nhát bóp/cung lượng tim “thời gian thực” được xem như phương pháp chuẩn để đánh giá đáp ứng bù dịch, tuy nhiên hầu hết khoa hồi sức tích cực hiện nay chưa được trang bị các phương tiện theo dõi huyết động Trong khi đó, các thông số huyết động tĩnh mặc dù được sử dụng rộng rãi nhưng lại chưa được nghiên cứu đầy đủ [4],[5] Do đó,
chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu giá trị của các thông số huyết động tĩnh trong đánh giá đáp ứng bù dịch ở bệnh nhân nhiễm khuẩn nặng và sốc nhiễm khuẩn”
1 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định tỷ lệ bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết nặng/sốc nhiễm khuẩn có đáp ứng với bù dịch
- Xác định giá trị tiên đoán đáp ứng bù dịch của các thông số huyết động tĩnh: tần số tim trước bù dịch, biến đổi tần số tim sau bù dịch, áp lực tĩnh mạch trung tâm trước bù dịch, biến đổi huyết áp trung bình sau bù dịch, biến đổi huyết áp tâm thu sau bù dịch, biến đổi áp lực mạch sau bù dịch Tìm giá trị ngưỡng của các thông số này để tiên đoán đáp ứng bù dịch
2 Tính cấp thiết đề tài
Nhiễm khuẩn huyết/sốc nhiễm khuẩn là bệnh lý rất thường gặp trong khoa HSTC Ổn định huyết động đóng vai trò then chốt trong điều trị Bên cạnh những hiệu quả tích cực, bù dịch cũng có thể gây ra những hậu quả bất lợi Do đó, việc đánh giá đáp ứng bù dịch để từ đó
Trang 3có quyết định có nên bù dịch cho bệnh nhân hay không rất quan trọng trong thực hành lâm sàng
Hiện nay các phương pháp theo dõi huyết động tiên tiến đã bước đầu được sử dụng nhưng chưa thể chỉ có ở một số bệnh viện tuyến trung ương Trong khi đó, các thông số huyết động tĩnh mặc dù được theo dõi thường quy trên bệnh nhân sốc, nhưng chưa được đánh giá tương quan với biến đổi thể tích nhát bóp/cung lượng tim, là phương pháp chuẩn dùng để đánh giá đáp ứng bù dịch Xác định được giá trị chẩn đoán đáp ứng bù dịch của các thông số này có thể đem lại hiệu quả ứng dụng rộng rãi trong việc theo dõi huyết động và đánh giá đáp ứng bù dịch ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết/sốc nhiễm khuẩn
3 Những đóng góp mới của luận án
Xác định được tỷ lệ đáp ứng bù dịch ở bệnh nhân nhiễm NKH/SNK vào khoa HSTC là 35,7% Tỷ lệ đáp ứng bù dịch này thậm chí còn thấp hơn nữa ở những bệnh nhân đã thất bại trong lần bù dịch trước đó (4,5%)
Xác định được giá trị tiên đoán đáp ứng bù dịch của các thông số huyết động tĩnh Trên bệnh nhân SNK, ALTMTT trước bù dịch 6 mmHg có giá trị tiên đoán đáp ứng bù dịch với độ nhạy 52,2%, độ đặc hiệu 85,3% Trên bệnh nhân NKH, tần số tim sau bù dịch giảm 4 lần/phút có giá trị chẩn đoán đáp ứng bù dịch với độ nhạy 85,7%, độ đặc hiệu 85,0% Nói chung cho cả nhóm NKH và SNK, áp lực mạch sau bù dịch tăng > 9% có giá trị chẩn đoán đáp ứng bù dịch với độ nhạy 93,3%, độ đặc hiệu 61,1%
4 Bố cục của luận án
Luận án gồm 105 trang, ngoài phần đặt vấn đề và kết luận, luận án gồm 4 phần: chương 1- Tổng quan 35 trang, chương 2- Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 11 trang, chương 3- Kết quả 32 trang, chương 4- Bàn luận 21 trang Luận án có 16 bảng, 13 hình, 18 biểu
đồ Luận án sử dụng 96 tài liệu tham khảo gồm 6 tài liệu tham khảo tiếng Việt và 90 tài liệu tham khảo tiếng Anh
Trang 4Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Các thông số đánh giá đáp ứng bù dịch
1.1.1 Các thông số huyết động “tĩnh”
Là những thông số cho biết tương quan giữa lượng máu trở về tim
và chức năng tim tại một thời điểm nhất định Các thông số tĩnh mặc dù được xem như kém chính xác trong tiên đoán đáp ứng bù dịch nhưng vẫn còn được sử dụng rộng rãi [16] Các thông số này bao gồm:
Là những thông số cho biết tương quan giữa lượng máu trở về tim
và chức năng tim trong một quá trình động (quá trình hô hấp) Các thông số này cho phép tiên đoán đáp ứng bù dịch chính xác hơn nhưng đòi hỏi phương tiện theo dõi phức tạp và ít có giá trị ứng dụng [53] Các thông số này bao gồm:
- Biến thiên áp lực mạch
- Biến thiên thể tích nhát bóp
- Biến thiên lưu lượng động mạch chủ
- Biến thiên đường kính tĩnh mạch chủ dưới
1.2 Nghiệm pháp bù dịch nhanh
Nhằm đánh giá đáp ứng với bù dịch đồng thời hạn chế tác dụng bất lợi của quá tải tuần hoàn, nghiệm pháp bù dịch nhanh được thực hiện với một lượng dịch truyền ít trong thời gian ngắn Lượng dịch được sử dụng thông thường là 500-1000 ml dịch tinh thể hoặc 300-
500 ml dung dịch keo, truyền trong thời gian 30 phút Chuẩn đánh giá đáp ứng nghiệm pháp bù dịch nhanh là tăng thể tích nhát bóp hoặc cung lượng tim 10-15% sau bù dịch [17]
Trang 51.3 Một số nghiên cứu về các thông số tĩnh
Trong phân tích gộp của Marik, áp lực tĩnh mạch trung tâm (ALTMTT) không có tương quan với biến đổi thể tích nhát bóp (TTNB)[55] Nguyễn Văn Năm, nhận thấy ALTMTT có tương quan với một thông số huyết động như tần số tim (TST), áp lực mạch (ALM) nhưng tương quan này khá yếu [4] Trên bệnh nhân sốc do nhiều nguyên nhân khác nhau, Monnet nhận thấy biến đổi các thông
số huyết áp có tương quan vừa phải với biến đổi chỉ số tim sau bù dịch [67] Trong khi đó một nghiên cứu khác trên bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn lại ghi nhận không có tương quan này [75] Nguyễn Hữu Quân nhận thấy sau khi làm nghiệm pháp bù dịch nhanh thì huyết áp trung bình tăng từ 49 ± 7 lên 63 ± 12 mmHg đồng thời chỉ số tim tăng từ 4,0
± 1,1 lên 4,6 ± 1,3 lít/phút/m2, tuy nhiên tác giả không khảo sát tương quan giữa biến đổi huyết áp và chỉ số tim [5]
Tiêu chuẩn loại trừ: (1) có biểu hiện quá tải tuần hoàn, (2) có rối loạn nhịp tim, (3) có chống chỉ định đặt catheter tĩnh mạch trung tâm, catheter động mạch quay, (4) có thay đổi liều thuốc vận mạch hoặc thông số máy thở trong thời gian thực hiện nghiệm pháp bù dịch nhanh
Nghiên cứu được chấp thuận của Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu y sinh học của Đại học Y dược TP Hồ Chí Minh (số 64/ĐHYD-
Trang 6HĐ ngày 27/02/2014) Bệnh nhân/thân nhân được tư vấn và đồng ý tham gia nghiên cứu sau khi ký giấy Chấp thuận tham gia nghiên cứu
2.2 Phương tiện nghiên cứu
- Áp lực tĩnh mạch trung tâm được đo qua catheter tĩnh mạch cảnh trong với cảm biến Truwave Đơn vị tính mmHg
- Các thông số huyết áp động mạch được đo qua catheter động mạch quay với cảm biến Truwave Đơn vị tính mmHg
- Thể tích nhát bóp được đo qua catheter động mạch quay với cảm biến Flotrac Đơn vị tính ml
2.3 Phương pháp tiến hành
- Bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết nặng/sốc nhiễm khuẩn được tầm soát các chỉ định bù dịch Nếu bệnh nhân có ít nhất 1 trong 4 tiêu chuẩn để chỉ định nghiệm pháp truyền dịch nhanh và không có tiêu chuẩn loại trừ thì sẽ được đặt catheter tĩnh mạch trung tâm và catheter động mạch quay
- Bệnh nhân được gắn cảm biến Truwave để đo huyết áp động mạch và áp lực tĩnh mạch trung tâm, gắn cảm biến Flotrac và monitor EV1000 để đo thể tích nhát bóp
- Đo các thông số huyết động trước bù dịch: tần số tim, áp lực tĩnh mạch trung tâm, huyết áp trung bình, huyết áp tâm thu, áp lực mạch, thể tích nhát bóp
- Bù dịch được thực hiện bằng nghiệm pháp bù dịch nhanh với Lactate Ringer 500 ml trong 30 phút Tốc độ truyền dịch được kiểm soát bằng máy Infusomat đặt ở tốc độ 999 ml/giờ Liều thuốc vận mạch và các thông số máy thở (thể tích khí lưu thông,
áp suất đường thở dương cuối thì thở ra) được giữ không thay đổi trong thời gian thực hiện nghiệm pháp bù dịch nhanh Nếu bệnh nhân có giảm oxy máu thì xử trí bằng tăng nồng độ oxy trong khí thở vào Nếu bệnh nhân có giảm oxy máu nặng cần phải điều chỉnh áp lực dương cuối thì thở ra hoặc tụt huyết áp cần điều chỉnh liều thuốc vận mạch thì sẽ bị loại ra khỏi nghiên cứu
- Ngay sau khi hoàn tất nghiệm pháp bù dịch nhanh, tiến hành đo lại các thông số huyết động sau bù dịch: tần số tim, áp lực tĩnh mạch trung tâm, huyết áp trung bình, huyết áp tâm thu, áp lực mạch, thể tích nhát bóp, sức cản hệ thống Bệnh nhân được xem
Trang 7như có đáp ứng với bù dịch nếu thể tích nhát bóp tăng 15% [17] Nếu thể tích nhát bóp tăng < 15% nhưng áp lực tĩnh mạch trung tâm vẫn còn thấp (< 12 mmHg/tự thở hoặc < 15 mmHg/thở máy) thì làm lại nghiệm pháp bù dịch nhanh Sau khi làm nghiệm pháp
bù dịch nhanh lần thứ hai, đo lại thể tích nhát bóp Nếu thể tích nhát bóp tăng 15% thì xem như có đáp ứng với bù dịch, nếu thể tích nhát bóp tăng < 15% thì xem như không có đáp ứng với bù dịch
- Tất cả các biện pháp điều trị khác (kháng sinh, thuốc vận mạch…)
do bác sĩ điều trị quyết định dựa theo phác đồ điều trị nhiễm khuẩn huyết của bệnh viện Chợ rẫy và bệnh viện Đại học Y dược
- Phương pháp tiến hành nghiên cứu được tóm tắt trong sơ đồ:
Nghiệm pháp truyền dịch nhanh:
Lactate ringer 500 ml/30 ph
Thay đổi TTNB
≥ 15%
Loại khỏi nghiên cứu
Bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết nặng/sốc nhiễm khuẩn
Không
Trang 82.4 Thống kê
2.4.1 Cỡ mẫu
Cỡ mẫu được tính theo công thức so sánh giá trị chẩn đoán đáp ứng bù dịch của ALTMTT và thể tích nhát bóp đo bằng phương pháp thân tích biểu đồ sóng huyết áp [40]:
V1: hàm sai số chuẩn AUC1
V2: hàm sai số chuẩn AUC2
Với độ mạnh là 0,90; AUC1 của áp lực tĩnh mạch trung tâm là 0,71 [71] và AUC2 của thể tích nhát bóp đo bằng phương pháp phân tích biểu đồ sóng huyết áp là 0,89 [65], cỡ mẫu cho mỗi nhóm nghiên cứu là n = 49 bệnh nhân
Cỡ mẫu hiệu chỉnh cho nghiên cứu bắt cặp:
Np = (1-r) n Với r là hệ số tương quan giữa áp lực tĩnh mạch trung tâm và thể tích nhát bóp (r = 0,28) [53],
Ta có: Np = (1-r) n = (1-0.28) 49 = 35,28 Hiệu chỉnh cỡ mẫu theo tỷ lệ đáp ứng theo công thức N = Np (1 +k), trong đó k là tỷ lệ đáp ứng với bù dịch là khoảng 50% [53]
Như vậy cỡ mẫu cho nghiên cứu = 35,282 = 71
khoảng tứ vị Sau đó so sánh các số liệu bằng phép kiểm t hoặc
phép kiểm Mann-Whitney khi cần
Trang 9- Các biến định tính (tỷ lê ̣ dùng thuốc vận mạch, thở máy) đươ ̣c mô
tả bằng tần số và tỷ lệ phần trăm Sau đó được so sánh bằng phép kiểm Chi bình phương hoă ̣c phép kiểm chính xác Fisher
- Tương quan giữa thể tích nhát bóp và các thông số tĩnh được đánh giá bằng tương quan Pearson
- Giá tri ̣ ngưỡng của các thông số tĩnh đươ ̣c đánh giá bằng phương pháp đánh giá diện tích dưới đường cong ROC, từ đó tính ra độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán dương tính, giá trị tiên đoán
âm tính
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
84 bệnh nhân NKH/SNK được thực hiện nghiệm pháp bù dịch nhanh, không có bệnh nhân nào bị loại khỏi nghiên cứu
3.1 Đặc điểm lâm sàng và huyết động
Bảng 3.1 Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân trong nghiên cứu Tuổi – năm (trung vị/tứ phân vị) 65,3 ± 14,7
Đường vào nhiễm khuẩn huyết – (case/tỷ lệ)
Độ nặng nhiễm khuẩn huyết – case (tỷ lệ)
Nhiễm khuẩn huyết
Tử vong – case (tỷ lệ)
Tử vong tại hồi sức tich cực
Tử vong tại bệnh viện
39 (46,4)
47 (55,9)
Trang 10Đa số bệnh nhân vào hồi sức tích cực trong giai đoạn muộn (1,6 ± 0,9 ngày) trong bệnh cảnh sốc Đường tiêu hóa là đường vào thường gặp nhất (45,2%), sau đó là đường hô hấp (29,8%) Tử vong tại hồi sức tích cực và tại bệnh viện còn khá cao, lần lượt là 46,4% và 55,9% Bảng 3.2 Đặc điểm huyết động của bệnh nhân trong nghiên cứu
Tần số tim (lần/phút) 114,5 ± 22,3
Áp lực tĩnh mạch trung tâm (mmHg) 8,5 ± 3,7 Huyết áp trung bình (mmHg) 74,2 ± 13,4 Huyết áp tâm thu (mmHg) 111,5 ± 19,9
Thể tích nhát bóp (ml) 46 (36;62) Cung lượng tim (lít/phút) 5.1 (3,9;6,6) Sức cản hệ thống (dyn.s/cm5) 1056,3 ± 434,9 Hầu hết bệnh nhân đã được bù dịch trước đó nên áp lực tĩnh mạch trung tâm và cung lượng tim không quá thấp Ngoài ra, đa số bệnh nhân cũng được dùng thuốc vận mạch nên huyết áp trung bình và sức cản hệ thống cũng không thấp
3.2 Kết quả nghiệm pháp bù dịch nhanh
30 bệnh nhân đáp ứng với nghiệm pháp bù dịch nhanh, trong đó 29 bệnh nhân đáp ứng với lần bù dịch thứ nhất Trong 22 bệnh nhân được thực hiện nghiệm pháp bù dịch lần thứ hai, chỉ có 1 bệnh nhân đáp ứng (4,5%)
Bảng 3.3 Tỷ lệ đáp ứng bù dịch
Có đáp ứng
số ca (%)
Không đáp ứng
Trang 113.3 So sánh các thông số huyết động tĩnh giữa nhóm đáp ứng và nhóm không đáp ứng bù dịch
Bảng 3.4 So sánh các thông số huyết động giữa nhóm đáp ứng và
nhóm không đáp ứng bù dịch
Có đáp ứng (n = 30)
Không đáp ứng (n = 54)
112,1 ± 22,5 109,9 ± 23,4
0,222* 0,375* ALTMTT trước bù dịch
(mmHg)
7,3 ± 3,4 9,2 ± 3,6 0,018* HATB (mmHg)
- Trước bù dịch
- Sau bù dịch
75,1 ± 14,2 88,2 ± 12,9
73,7 ± 12,9 77,2 ± 14,0
0,641*
<0,001* HATT (mmHg)
- Trước bù dịch
- Sau bù dịch
111,1 ± 18,3 137,3 ± 20,0
111,7 ± 20,9 116,9 ± 22,4
0,723**
<0,001* ALM (mmHg)
- Trước bù dịch
- Sau bù dịch
51,3 ± 15,1 71,3 ± 19,5
55,8 ± 16,8 58,8 ± 18,6
0,229* 0,005* TTNB (ml)
- Trước bù dịch
- Sau bù dịch
45,2 ± 15,7 59,3 ± 19,6
52,5 ± 20,9 52,6 ± 20,0
0,315** 0,138** SVR (dyn.s/cm 5 )
- Trước bù dịch
- Sau bù dịch
1129,6 ± 525,2 1038,9 ± 498,2
1024,2 ± 401,2
1061 ± 444,5
0,860** 0,586**
*: t test, **: Mann-Whitney test
Ngoại trừ ALTMTT của nhóm đáp ứng bù dịch thấp hơn, không có sự khác biệt nào về các thông số huyết động giữa nhóm đáp ứng và nhóm không đáp ứng bù dịch Bù dịch làm giảm tần số tim và tăng tất cả các thông số huyết áp, trong đó nhóm đáp ứng bù dịch có sự gia tăng đáng
kể các thông số huyết áp so với nhóm không đáp ứng bù dịch
3.4 Giá trị tiên đoán đáp ứng bù dịch của các thông số huyết động tĩnh
Trang 12Bảng 3.5 Giá trị tiên đoán đáp ứng bù dịch của các thông số huyết động tĩnh
huyết áp
tâm thu
(%)
Cả nhóm 0,806 > 13 70,0 79,6 65,6 82,7 NKH 0,646 > 11 71,4 75,0 50,0 88,2 SNK 0,873 > 13 82,6 79,4 73,1 87,1 Biến đổi
áp lực
mạch (%)
Cả nhóm 0,821 > 9 93,3 61,1 57,1 94,3 NKH 0,607 > 6 85,7 50,0 37,5 90,9 SNK 0,891 > 10 100 64,7 65,7 100
Trang 13Ở nhóm bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn, ALTMTT trước bù dịch có giá trị tiên đoán đáp ứng bù dịch trung bình với AUC 0,703 (khoảng tin cậy 95% 0,567-0,816), điểm cắt 6 mmHg có giá trị tiên đoán dương tính 70,6% và giá trị tiên đoán âm tính 72,5% Ở nhóm bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết, biến đổi tần số tim sau bù dịch có giá trị tiên đoán đáp ứng bù dịch tốt với AUC 0,804 (khoảng tin cậy 95% 0,606-0,930), tần số tim giảm 4 lần/phút có giá trị tiên đoán âm tính 85,7%
và giá trị tiên đoán dương tính 85,0% Nói chung, ở cả hai nhóm nhiễm khuẩn huyết và sốc nhiễm khuẩn, biến đổi áp lực mạch sau bù dịch có giá trị tiên đoán đáp ứng bù dịch tốt với AUC 0,821 (khoảng tin cậy 95% 0,722-0,896), áp lực mạch tăng > 9% sau bù dịch có giá trị tiên đoán dương tính 57,1% và giá trị tiên đoán âm tính 94,3%
Chương 4: BÀN LUẬN
Mục tiêu của nghiên cứu này là đánh giá khả năng tiên đoán đáp ứng bù dịch trên bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết nặng/sốc nhiễm khuẩn của các thông số huyết động tĩnh Nghiên cứu được thực hiện bằng cách thực hiện nghiệm pháp truyền dịch nhanh và theo dõi sự biến đổi của các thông số huyết động trước và sau bù dịch Nghiên cứu được thiết kế theo kiểu “thử nghiệm chẩn đoán” nhằm đánh giá giá trị chẩn đoán của một thông số mới so với phương pháp chuẩn Trong nghiên cứu này các thông số được kiểm định giá trị là các thông số huyết động tĩnh Trong khi đó, phương pháp chuẩn dùng để đánh giá đáp ứng bù dịch là biến đổi thể tích nhát bóp sau bù dịch Tương quan giữa các thông số huyết động tĩnh và thể tích nhát bóp được đánh giá bằng tương quan Pearson dùng cho các biến liên tục Giá trị chẩn đoán của các thông số huyết động tĩnh được đánh giá bằng điện tích dưới đường cong ROC Điểm cắt cho giá trị tiên đoán đáp ứng bù dịch tốt nhất được tính bằng chỉ số Youden
4.1 Tỷ lệ đáp ứng bù dịch
Trong nghiên cứu này chúng tôi ghi nhận tỷ lệ đáp ứng với bù dịch là 35,7% trên bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết nặng/sốc nhiễm khuẩn Tỷ lệ đáp ứng với bù dịch trong nghiên cứu này hơi thấp so với