Học thuyết hình thái kinh tế xã hội – Giá trị khoa học và cách mạng của nó đối với sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay Học thuyết hình thái kinh tế xã hội là một nội dung cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử và cũng là một trong những nội dung quan trọng của chủ nghĩa Mác; nó là sự thể hiện tập trung nhất quan niệm duy vật về lịch sử một trong hai phát minh vĩ đại của C.Mác. Kế thừa thành tựu của những người đi trước trong việc nghiên cứu lịch sử xã hội loài người, đặc biệt là xã hội tư bản, C.Mác đã hình thành nên học thuyết hình thái kinh tếxã hội
Trang 1Đề tài: Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội – Giá trị khoa học và cách
mạng của nó đối với sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay
Lời mở đầu
Trải qua rất nhiều thăng trầm của lịch sử từ khi đất nước được hình thành nước ta đã qua nhiều cuộc cải cách, nhưng cuộc cải cách năm 1986 đã đánh dấu một bước ngoặt lớn trong lịch sử phát triển kinh tế xã hội của nước ta Đại hội đảng toàn quốc lần thứ VIII đã đề ra mục tiêu là: Xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp hoá- hiện đại hoá, đời sống vật chất tinh thần cao, quốc phòng
an ninh vững chắc, dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh Mục tiêu
đó là sự cụ thể hoá học thuyết hình thái kinh tế-xã hội Hình thái kinh tế-xã hội
là lý luận cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử do C.Mác xây dựng lên Nhờ có
lý luận đó, lần đầu tiên trong lịch sử loài người, Mác đã chỉ rõ nguồn gốc, nội tại của sự phát triển xã hội, chỉ rõ được bản chất của từng chế độ xã hội Lý luận đó giúp chúng ta nghiên cứu một cách đúng đắn và khoa học sự vận hành của xã hội trong giai đoạn phát triển nhất định cũng như tiến trình vận động lịch sử nói chung của xã hội loài người Hiện nay, nước ta đang tiếp tục tiến hành công cuộc xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Công cuộc đó đang đặt ra hàng loạt vấn đề đòi hỏi các nhà khoa học trên các lĩnh vực khác nhau phải tập chung nghiên cứu giải quyết Trên cơ sở làm rõ giá trị khoa học và cách mạng của nó đối với sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay, lý luận hình thái kinh tế-xã hội, việc vận dụng lý luận đó vào điều kiện Việt Nam; vạch ra những mối liên hệ hợp quy luật và đề ra các giải pháp nhằm đảm bảo thực hiện thắng lợi công cuộc xây dựng đất nước Việt Nam thành một nước giàu, mạnh, xã hội công bằng văn minh cũng là một nhiệm vụ thực tiễn đang đặt ra
Với chuyên đề tiểu luận “học thuyết hình thái kinh tế - xã hội – Giá trị khoa học và cách mạng của nó đối với sự nghệp đổi mới ở nước ta hiện nay” cần phải nắm được một số mục tiêu sau:
Trang 2+ Về kiến thức: Nắm vững bản chất của học thuyết hình thái kinh tế - xã hội, từ đó liên hệ đến sự phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
+ Về kỹ nawg: Góp phần nâng cao kỹ năng vận dụng học thuyết hình thái kinh tế - xã hội để phân tích sự phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Na;
+ Về tư tưởng: Góp phần củng cố niềm tin vào giá trị trường tồn của học thuyết hình thái kinh tế - xã hội ở học viên
NỘI DUNG
1 HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KINH TẾ-XÃ HỘI
Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội là một nội dung cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử và cũng là một trong những nội dung quan trọng của chủ nghĩa Mác; nó là sự thể hiện tập trung nhất quan niệm duy vật về lịch sử- một trong hai phát minh vĩ đại của C.Mác Kế thừa thành tựu của những người đi trước trong việc nghiên cứu lịch sử xã hội loài người, đặc biệt là xã hội tư bản, C.Mác
đã hình thành nên học thuyết hình thái kinh tế-xã hội
Hình thái kinh tế - xã hội là khái niệm dùng để chỉ xã hội ở một giai đoạn lịch sử cụ thể với một kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng (phù hợp) với một trình
độ nhất định của lực lượng sản xuất và với một kiến trúc thượng tầng tương ứng được xây dựng trên những quan hệ sản xuất đó
Hình thái kinh tế - xã hội bao gồm lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, kiến trúc thượng tầng
1.1 Biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
Theo C.Mác và Ph Ăngghen, để tồn tại, để sống, trước hết con người cần phải có ăn, mặc, ở; rồi sau đó mới nói đến làm chính trị, khoa học, nghệ thuật Muốn có ăn, mặc, ở thì con người buộc phải tiến hành lao động, đặc biệt là lao động sản xuất ra của cải vật chất Muốn sản xuất ra của cải vật chất, một mặt,
Trang 3con người phải kết hợp với tư liệu sản xuất, dùng công cụ lao động, bằng sức lực của mình tác động vào đối tượng sản xuất, đối tượng lao động nhằm cải tạo, biến đổi giới tự nhiên phục vụ cuộc sống của con người; sự kết hợp đó tạo nên lực lượng sản xuất; mặt khác, con người phải kết hợp với nhau, bởi lẽ, riêng lẻ từng cá nhân thì không thể sản xuất được, không thắng nổi tự nhiên; và sự kết hợp thứ hai này hình thành nên quan hệ sản xuất
Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất nằm trong mối liên hệ mật thiết, khăng khít với nhau, không tách rời nhau và thống nhất với nhau trong phương thức sản xuất Đó là một sự thật hiển nhiên, và chừng nào sự thật hiển nhiên đó còn tồn tại thì quan niệm duy vật về lịch sử của C.Mác còn tồn tại
Trong Hệ tư tưởng Đức, theo C.Mác, phương thức sản xuất vật chất
không chỉ đơn thuần là tái sản xuất sự tồn tại thể xác của cá nhân, mà nó còn là phương thức họat động nhất định của những cá nhân ấy, một phương thức sống nhất định của họ Với các phương thức trên thì phương thức mà con người tiến hành trong quá trình sản xuất là quan trọng nhất Như vậy, thực chất, phương thức sản xuất biểu thị cách thức, phương thức mà con người thực hiện, tiến hành trong quá trình sản xuất ở những giai đoạn nhất định của lịch sử xã hội; nó qui định tính chất, kết cấu, đặc điểm của xã hội Về điều này, C.Mác cho rằng những thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì mà
là ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào, với những tư liệu lao động nào
1.1.1 Lực lượng sản xuất
Lực lượng sản xuất biểu thị mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, nó thể hiện năng lực của con người trong việc chinh phục giới tự nhiên, là nội dung của phương thức sản xuất Lực lượng sản xuất bao gồm người sản xuất, tư liệu sản xuất Trong lực lượng sản xuất, người sản xuất là yếu tố quan trọng nhất Nhưng người sản xuất không phải là cái gì đó nhất thành bất biến mà trong mỗi thời đại kinh tế, với tư cách là yếu tố quan trọng nhất trong lực lượng sản xuất
nó cũng luôn thay đổi Chẳng hạn, trong thời kỳ công trường thủ công, sức lực
cơ bắp (lao động chân tay) thể hiện rõ nhất ở người sản xuất; trong thời kỳ cơ khí máy móc thì khía cạnh năng lực, kỹ năng, kinh nghiệm điều hành máy móc
Trang 4lại nổi trội hơn (lao động chân tay kết hợp với lao động trí óc); còn trong thời đại kinh tế tri thức hiện nay (hàm lượng tri thức trong sản phẩm chiếm đến 70%) thì khía cạnh tri thức lại nổi trội Như vậy, cái quan trọng có tính chất quyết định trong lực lượng sản xuất hiện nay không phải là sức lực cơ bắp, không phải là kỹ năng, kinh nghiệm sử dụng, vận hành máy móc, mà là tri thức của người sản xuất (lao động trí óc) Từ đó, đối với các nước trên thế giới hiện nay, đầu tư cho giáo dục là đầu tư có tính chất chiến lược, vô cùng quan trọng Ở nước ta hiện nay, Đảng ta chủ trương giáo dục, khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Một yếu tố nữa của lực lượng sản xuất là tư liệu sản xuất bao gồm công
cụ sản xuất (công cụ lao động), đối tượng sản xuất (đối tượng lao động), phương tiện sản xuất (phương tiện lao động) Trong lực lượng sản xuất, nếu người sản xuất là yếu tố quan trọng nhất thì công cụ sản xuất (công cụ lao động) là yếu tố động nhất Trình độ phát triển của công cụ sản xuất, công cụ lao động thể hiện trình độ hay thước đo việc chinh phục giới tự nhiên của con người Sự thay đổi một cách căn bản công cụ lao động theo nghĩa nào kéo theo sự thay đổi của các thời đại kinh tế Theo nghĩa này, C.Mác cho rằng cái cối xay quay bằng tay đưa lại xã hội có lãnh chúa, cái cối xay chạy bằng hơi nước đưa lại xã hội có nhà tư bản công nghiệp Chính vì quan trọng như vậy, nên người ta còn phân thời đại theo công cụ lao động như thời đại đồ đá, thời đại đồ đồng, thời đại đồ sắt, … Trong lịch sử, trình độ của công cụ sản xuất, công cụ lao động nhìn chung đã trải qua ba giai đoạn chủ yếu: thủ công, cơ khí máy móc và tự động hóa Cái cối xay hiện nay không phải quay bằng tay, không phải chạy băng hơi nước mà là tự động hóa
Ngay đối tượng sản xuất hiện nay cũng khác trước rất xa Nếu trong nền văn minh nông nghiệp, đối tượng sản xuất chủ yếu là ruộng đất; trong nền văn minh cơ khí, đối tượng sản xuất lại được mở rộng ra, ngoài ruộng đất thì đối tượng sản xuất chủ yếu của thời kỳ này là các nguyên vật liệu như than đá, chất đốt, dầu khí, các nguyên liệu hóa thạch, các hầm mỏ, sắt, thép, sợi, … nói chung
là các nguyên vật liệu cần cho các ngành công nghiệp, các nhà máy, công
Trang 5xưởng; thì đối tượng sản xuất trong thời đại ngày nay ngoài những đối tượng trên, chủ yếu lại là thông tin Hiện nay thông tin cũng là của cải
Trong tư liệu sản xuất còn bao gồm cả phương tiện sản xuất như đường
xá, cầu cống, xe cộ, bến cảng, kho chứa, …
Hiện nay khoa học, đặc biệt là khoa học kỹ thuật và công nghệ cũng trở thành lực lượng sản xuất vì nó là nguyên nhân trực tiếp của nhiều biến đổi trong sản xuất và trở thành một nhân tố không thể thiếu được của quá trình sản xuất;
nó thâm nhập vào các yếu tố của lực lượng sản xuất và đem lại sự thay đổi về chất của lực lượng sản xuất; nó ngày càng được áp dụng rộng rãi trong sản xuất,
nó làm cho quá trình sản xuất chính là quá trình ứng dụng, áp dụng khoa học kỹ thuật; do đó, nó có ý nghĩa sống còn đối với nhiều quá trình sản xuất
Nếu người sản xuất là yếu tố quan trọng nhất xuyên suốt trong lịch sử của lực lượng sản xuất thì khoa học kỹ thuật, theo Đặng Tiểu Bình, hiện là lực lượng sản xuất số một, còn theo Giang Trạch Dân, là biểu hiện tập trung, tiêu chí chủ yếu của lực lượng sản xuất tiên tiến (đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến)
Theo đà phát triển của sản xuất, khối lượng và chất lượng của cải xã hội
sẽ được quyết định bởi ứng dụng khoa học vào sản xuất Từ đó một số học thuyết của các nhà tư tưởng tư sản đã đi đến chỗ tuyệt đối hóa, thổi phồng, khuyếch đại vai trò của khoa học kỹ thuật, chẳng hạn như học thuyết các nền văn minh, học thuyết xã hội hậu công nghiệp, xã hội thông tin, học thuyết kỹ trị, nhằm mục đích thay thế học thuyết hình thái kinh tế-xã hội của C.Mác Nhưng như chúng ta đã biết, dù có trở thành lực lượng sản xuất quan trọng, khoa học kỹ thuật cũng chỉ là một bộ phận của lực lượng sản xuất Trong lực lượng sản xuất, yếu tố quyết định vẫn là người sản xuất, mặc dù khoa học kỹ thuật nâng cao địa vị, vị thế, vai trò, sức mạnh của người sản xuất Những máy vi tính
có thể tính nhanh và chính xác gấp triệu lần con người; những rôbốt người máy
có thể làm được những việc mà con người không thể làm nổi Nhưng những cái
đó suy cho cùng đều do người sản xuất chế tạo ra, nếu thiếu người sản xuất, thì
tự bản thân chúng cũng không thể phát huy tác dụng, cũng không thể làm gì
Trang 6được Khoa học kỹ thuật muốn phát huy tác động phải thông qua người sản xuất, chịu sự chi phối của người sản xuất
Lực lượng sản xuất tồn tại một cách khách quan, bởi lẽ, theo C.Mác, người ta không được tư do lựa chọn lực lượng sản xuất cho mình, vì mọi lực lượng sản xuất là lực lượng đã đạt được, tức là một sản phẩm của một hoạt động
đã qua, không phải do họ tạo ra, mà do thế hệ trước tạo ra (chẳng hạn như đối tượng sản xuất, phương tiện sản xuất) Mỗi thế hệ sau đã có sẵn những lực lượng sản xuất do những thế hệ trước xây dựng lên và được thế hệ mới dùng làm nguyên liệu cho sự sản xuất mới (Thư C.Mác gửi P.V.Annencốp 28.1.1846) Do đó lực lượng sản xuất là vật chất dưới dạng xã hội
Lực lượng sản xuất trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế hiện nay, nó không chỉ được xã hội hóa như trước kia, mà nó ngày càng được toàn cầu hoá, quốc tế hoá Toàn cầu hóa, trước hết là toàn cầu hóa lực lượng sản xuất, toàn cầu hóa công cụ, phương tiện sản xuất
Trình độ của lực lượng sản xuất thể hiện ở trình độ của những yếu tố cấu thành nó như trình độ của công cụ lao động, trình độ khoa học kỹ thuật, trình
độ của người lao động (kinh nghiệm, kỹ năng, tri thức, trình độ tổ chức, quản
lý, phân công, trình độ ứng dụng khoa học kỹ thuật, cách thức mà con người tiến hành trong quá trình sản xuất).
1.1.2.Quan hệ sản xuất
Quan hệ sản xuất là khái niệm dùng để chỉ quan hệ giữa con người và con người trong quá trình sản xuất vật chất; nó là hình thức của phương thức sản xuất, là cơ sở kinh tế, cơ sở sâu xa của đời sống tinh thần
Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác, xã hội là sản phẩm của sự tác động qua lại lẫn nhau giữa người với người Quan hệ giữa người với người tạo nên cái gọi là quan hệ xã hội, trong đó quan hệ sản xuất là cơ sở, nền tảng và có
ý nghĩa quyết định V.I.Lênin viết: “Trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống
xã hội, ông (C.Mác) đã làm nổi bật riêng lĩnh vực kinh tế, bằng cách là trong tất
Trang 7cả mọi quan hệ xã hội, ông đã làm nổi bật riêng những quan hệ sản xuất, coi đó
là những quan hệ cơ bản, ban đầu và quyết định tất cả mọi quan hệ khác"1
Quan hệ sản xuất bao gồm quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất, quan
hệ tổ chức quản lý và quan hệ phân phối sản phẩm Ba quan hệ đó liên hệ khăng khít với nhau, thống nhất với nhau tạo nên một hệ thống mang tính ổn định tương đối so với lực lượng sản xuất, trong đó yếu tố thứ nhất đóng vai trò quyết định, nó qui định hai yếu tố sau Quan hệ sản xuất, mặc dù là quan hệ giữa con người với con người trong quá trình sản xuất vật chất, nhưng nó không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của họ, bởi lẽ như trên đã nói, riêng lẻ từng cá nhân thì không thắng nổi tự nhiên; và như vậy, muốn sản xuất ra của cải vật chất, buộc người ta phải kết hợp với nhau dù muốn hay không Do đó quan hệ sản xuất cũng là vật chất dưới dạng xã hội, cái mà trước kia các nhà tư tưởng không phát hiện ra
1.1.3 Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
- Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất liên hệ mật thiết với nhau,
không tách rời nhau thể hiện ở chỗ mọi lực lượng sản xuất (người sản xuất, công
cụ sản xuất, đối tượng sản xuất, phương tiện sản xuất) đều nằm trong những quan hệ nhất định nào đó của quan hệ sản xuất (đều nằm trong một tổ chức sản xuất, dưới sự quản lý của một đơn vị sản xuất nào đó); ngược lại, mọi quan hệ sản xuất đều là những quan hệ nhất định của một lực lượng sản xuất nào đó, nó phải chứa đựng một nội dung nào đó
- Lực lượng sản xuất suy cho cùng quyết định quan hệ sản xuất Điều này
được thể hiện trên những khía cạnh sau:
Thứ nhất, lực lượng sản xuất thay đổi, sớm muộn cũng kéo theo sự thay đổi của quan hệ sản xuất, vì lực lượng sản xuất là nội dung, quan hệ sản xuất là hình thức, nội dung quyết định hình thức Phân tích sâu thêm, ta thấy mối quan
hệ giữa con người với tự nhiên, tức lực lượng sản xuất, xét đến cùng, qui định mối quan hệ giữa con người với con người trong sản xuất vật chất, tức quan hệ
1 V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1974, T1, Tr.159
Trang 8sản xuất Điều đó có nghĩa là mức độ chinh phục của con người đối với giới tự nhiên (rộng hay hẹp, ít hay nhiều) qui định mức độ quan hệ giữa con người với con người (rộng hay hẹp, ít hay nhiều) Quan hệ giữa con người với con người trong thời đại tự động hóa, khác quan hệ giữa con người với con người trong thời đại thủ công Nói cách khác, thời đại kinh tế khác nhau thì quan hệ giữa con người với con người trong sản xuất vật chất cũng khác nhau Đó là bí mật mà C.Mác đã phát hiện ra
Thứ hai, tư liệu sản xuất đặc biệt là công cụ lao động, nó qui định cách thức tổ chức quản lý sản xuất Đối với cái cối xay chạy bằng hơi nước có cách tổ chức quản lý khác với đối với cái cối xay chạy bằng tay Điều này còn thể hiện
rõ nét trong lĩnh vực quân sự, khi xuất hiện vũ khí mới thì cách thức tổ chức quân đội cũng sẽ khác trước
Thứ ba, trình độ khoa học kỹ thuật khác nhau cũng sẽ đưa lại cách thức tổ chức quản lý khác nhau
- Quan hệ sản xuất cũng có tính độc lập tương đối và tác động trở lại lực
lượng sản xuất
Thứ nhất, tính độc lập tương đối của quan hệ sản xuất thể hiện ở chỗ nó
có đời sống riêng của nó; nó có thể thay đổi nhanh, chậm, hoặc đi song hành với
sự phát triển của lực lượng sản xuất; nhưng nhìn chung, nó thường thay đổi chậm so với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
Thứ hai, quan hệ sản xuất qui định trực tiếp mục đích xã hội của nền sản xuất; qui mô, tốc độ, hiệu quả, xu hướng, nhịp điệu của sản xuất; qui định khuynh hướng phát triển của công nghệ Chẳng hạn, ai, giai cấp nào nắm quyền
sở hữu tư liệu sản xuất thì họ đề ra mục tiêu, qui mô, tốc độ sản xuất có lợi cho người đó, giai cấp đó
Thứ ba, nếu phân phối hợp lý theo đúng mức lao động mà người ta bỏ ra thì có thể kích thích sự hăng say làm việc, kích thích sáng chế phát minh, cải tiến công cụ, cải tiến kỹ thuật, khiến cho lực lượng sản xuất phát triển
- Từ mối quan hệ biện chứng trên ta rút ra qui luật quan hệ sản xuất phải
phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
Trang 9Trước hết ta phải thấy rằng trong lịch sử không phải lúc nào quan hệ sản xuất cũng phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất (những lúc xã hội đi xuống, chế độ xã hội quá già nua, bảo thủ); nhưng muốn sản xuất phát triển (mà sản xuất phát triển, nhìn chung, sẽ kéo theo xã hội phát triển) thì quan
hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Nhưng thế nào là quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất? Quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất,
đó là một trạng thái trong đó quan hệ sản xuất là hình thức phát triển tất yếu của lực lượng sản xuất, tức trong đó, các yếu tố cấu thành của quan hệ sản xuất tạo địa bàn đầy đủ, tạo điều kiện thuận lợi cho lực lượng sản xuất phát triển, tạo điều kiện tối ưu cho việc kết hợp giữa con người, tư liệu sản xuất và khoa học
kỹ thuật, làm cho lực lượng sản xuất phát triển hết khả năng của nó
Nhưng mặt khác, lực lượng sản xuất lại luôn luôn thay đổi, biến đổi, đặc biệt là công cụ sản xuất, công cụ lao động, bởi vậy, đến một giai đọan nào đó, trình độ của nó chuyển sang giai đoạn mới cao hơn, lúc đó tình trạng phù hợp sẽ
bị phá vỡ Mâu thuẫn này ngày càng trở nên gay gắt và đến một lúc nào đó quan
hệ sản xuất trở thành xiềng xích của lực lượng sản xuất Yêu cầu khách quan của
sự phát triển của lực lượng sản xuất đòi hỏi xã hội bằng cách này hay cách khác phải xóa bỏ quan hệ sản xuất cũ (mà xã hội cũ gắn liền với giai cấp bảo thủ muốn duy trì) và thay bằng quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất đã thay đổi, mở đường cho lực lượng sản xuất mới phát triển Giai cấp mới đại diện cho lực lượng sản xuất mới này phải phá bỏ quan hệ sản xuất cũ bằng cách tiến hành cuộc cách mạng xã hội Điều đó cũng có nghĩa là sự diệt vong của một phương thức sản xuất lỗi thời và ra đời một phương thức sản xuất mới
Sự không phù hợp của quan hệ sản xuất đối với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất thể hiện ở những điểm sau:
Thứ nhất, quan hệ sản xuất lạc hậu so với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất như ta đã phân tích ở trên Sự không phù hợp thể hiện ở hình thức sở
Trang 10hữu, quan hệ tổ chức quản lý, quan hệ phân phối sản phẩm không theo kịp trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất
Thứ hai, quan hệ sản xuất phát triển không đồng bộ, có những yếu tố đi quá xa so với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, chẳng hạn như ở Việt Nam trước kia (1975-1986) muốn xây dựng quan hệ sản xuất tiên tiến đi trước
mở đường (chỉ còn sở hữu toàn dân và tập thể), bất chấp trình độ thấp kém và không đồng đều của lực lượng sản xuất
Con người hoặc không phát hiện được mâu thuẫn này, hoặc phát hiện được nhưng lại giải quyết một cách sai lầm chủ quan, duy ý chí thì quan hệ sản xuất trở thành nhân tố phá họai lực lượng sản xuất
Trong xã hội có giai cấp, mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất thường biểu hiện thành mâu thuẫn giai cấp, giữa giai cấp bảo thủ muốn duy trì quan hệ sản xuất lạc hậu với giai cấp tiến bộ đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến Phân tích sự phát triển của lịch sử xã hội loài người ta sẽ càng thấy rõ điều này
1.2 Biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
Cơ sở hạ tầng là tổng hợp các quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của một xã hội nhất định Nó bao gồm các quan hệ sản xuất thống trị đặc trưng cho phương thức sản xuất, các quan hệ sản xuất đan xen cũng như các quan hệ sản xuất tàn dư và các quan hệ sản xuất tương lại dưới dạng mầm mống đang tồn tại trong xã hội đó Cơ sở hạ tầng ở phương Đông rất phức tạp, nó bao gồm nhiều những dấu vết, tàn tích của các xã hội, cơ sở hạ tầng trước đó, tạo nên những lớp ngói chồng chéo lên nhau, nhưng lớp sau không hề che khuất lớp trước
Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những quan điểm chính trị, pháp luật, triết học, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật cùng với những thiết chế tương ứng như nhà nước, đảng phái, giáo hội và các đoàn thể được hình thành trên một cơ sở hạ tầng nhất định Nó khác ý thức xã hội ở các thiết chế tương ứng Trong xã hội có giai cấp, kiến trúc thượng tầng cũng mang tính giai cấp, trong đó, nhà nước là công cụ quyền lực của giai cấp thống trị về kinh tế