1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập tại việt nam khảo sát trên địa bàn TPHCM

117 807 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết cấu luận văn Luận văn có độ dài 88 trang và có kết cấu gồm 5 chương: - Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập - Chư

Trang 1

ĐINH THANH MAI

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP TẠI VIỆT NAM

- KHẢO SÁT TRÊN ĐỊA BÀN

TP.HCM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Tp Hồ Chí Minh – Năm 2014

Trang 2

ĐINH THANH MAI

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP TẠI VIỆT NAM

- KHẢO SÁT TRÊN ĐỊA BÀN

TP.HCM

Chuyên ngành: Kế toán

Mã số: 60340301

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRẦN THỊ GIANG TÂN

Tp Hồ Chí Minh – Năm 2014

Trang 3

Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ kinh tế “Các nhân tố ảnh hưởng đến chất

lượng hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam – Khảo sát trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh” là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công

bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả

Đinh Thanh Mai

Trang 4

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 2

3 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu 2

4 Đóng góp mới của luận văn 3

5 Kết cấu của luận văn 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP 4

1.1 Các nghiên cứu công bố ở ngoài nước 4

1.2 Các nghiên cứu công bố ở trong nước 6

Tóm tắt chương 1 9

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 10

2.1 Khái niệm chất lượng 10

2.2 Khái niệm về chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập 11

2.2.1 Chất lượng kiểm toán dưới góc nhìn của khách hàng 12

2.2.2 Chất lượng kiểm toán dưới góc nhìn của doanh nghiệp kiểm toán 13

2.2.3 Chất lượng kiểm toán dưới góc nhìn của người sử dụng báo cáo kiểm toán (nhà đầu tư, đối tác, hội nghề nghiệp, công chúng…) 14

2.3 Các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập 16

2.3.1 Nhân tố bên trong 17

Trang 5

2.3.2.1 Mục tiêu kiểm toán của khách hàng 26

2.3.2.2 Các chuẩn mực, quy định pháp lý 27

2.3.2.3 Sự cạnh tranh trên thị trường 27

2.3.2.4 Kiểm soát chất lượng từ bên ngoài 27

2.4 Khuôn mẫu chất lượng kiểm toán theo Ủy ban quốc tế về chuẩn mực kiểm toán và dịch vụ đảm bảo (IAASB) 28

2.4.1 Lịch sử phát triển của Khuôn mẫu chất lượng kiểm toán 28

2.4.2 Nội dung chính của Khuôn mẫu chất lượng kiểm toán 29

2.5 Mô hình nghiên cứu 32

Tóm tắt chương 2 34

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35

3.1 Quy trình nghiên cứu chung 35

3.2 Mục tiêu khảo sát 36

3.3 Phương pháp khảo sát 36

3.4 Thiết kế thang đo và xây dựng bảng câu hỏi 37

3.4.1 Thiết kế thang đo 37

3.4.2 Xây dựng bảng câu hỏi 43

3.5 Mẫu khảo sát 44

3.6 Phương pháp phân tích dữ liệu 45

Tóm tắt chương 3 48

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 49

4.1 Phân tích thống kê tần số 49

4.1.1 Đặc điểm của mẫu khảo sát 49

4.1.2 Thống kê tần số thang đo CLKT và các nhân tố ảnh hưởng đến CLKT 51

4.2 Phân tích và đánh giá thang đo 58

4.2.1 Đánh giá độ tin cậy của thang đo 58

Trang 6

4.3.2 Phân tích hồi quy tuyến tính bội 64

4.4 Tình hình chung về chất lượng hoạt động KTĐL tại Việt Nam 68

4.4.1 Nguồn tài liệu 68

4.4.2 Mẫu 68

4.4.3 Kết quả đánh giá chất lượng hoạt động KTĐL qua kết quả KSCL 69

Tóm tắt chương 4 71

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN, GIẢI PHÁP VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TRONG TƯƠNG LAI 72

5.1 Kết luận 72

5.2 Giải pháp 73

5.2.1 Quan điểm của giải pháp 73

5.2.1.1 Hội nhập với quốc tế và phù hợp với đặc điểm, điều kiện của VN 73

5.2.1.2 Hướng đến nâng cao chất lượng hoạt động KTĐL 74

5.2.1.3 Tác động vào các nhân tố ảnh hưởng đến CLKT 74

5.2.2 Giải pháp cụ thể 75

5.2.2.1 Tăng cường các DNKT có quy mô lớn, giảm thiểu các DNKT có quy mô nhỏ 75

5.2.2.2 Tác động vào nhân tố KSCL từ bên ngoài 80

5.2.2.3 Tác động vào nhân tố đạo đức nghề nghiệp của KTV 83

5.3 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài 85

Tóm tắt chương 5 86

KẾT LUẬN 87 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

1 Các chữ viết tắt có nguồn gốc tiếng Việt

Từ viết

BCKT Báo cáo kiểm toán

BCTC Báo cáo tài chính

BTC Bộ tài chính

CL Chất lượng

CLKT Chất lượng kiểm toán

CMKiT Chuẩn mực kiểm toán

HoSE Sàn chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh

KSCL Kiểm soát chất lượng

KSCLBN Kiểm soát chất lượng từ bên ngoài

KSCLBT Kiểm soát chất lượng từ bên trong

KSNB Kiểm soát nội bộ

Trang 8

AMEX American Stock Exchange Sàn chứng khoán Mỹ

CAR

Commission on Auditors' Responsibilities

Ủy ban trách nhiệm của kiểm toán viên

DA Discretionary accruals

Các khoản dồn tích có thể điều chỉnh

EFA Exploratory Factor Analysis Phân tích nhân tố khám phá EQC

European Organization for Quality Control

Tổ chức kiểm tra chất lượng Châu Âu

ERC

Earnings response coefficients Hệ số phản ứng thu nhập GAAP

Generally Accepted Accounting Principles

Các CMKiT được chấp nhận chung

IAPC

International Auditing Practice Committee

Ủy ban Thực hành Kiểm toán quốc tế

IFAC

International Federation of Accountants

Liên đoàn các nhà kế toán quốc tế

ISO

The International Organization for Standardization

Tổ chức Quốc tế về Tiêu chuẩn hóa

NASDAQ

National Association of Securities Dealers Automated Quotation System Stock Exchange Sàn chứng khoán NASDAQ NYSE New York Stock Exchange Sàn chứng khoán New York PCAOB

Public Company accounting oversight board

Hội đồng giám sát kế toán các công ty đại chúng Mỹ SERVQUAL Service quality Chất lượng dịch vụ

SOX Sarbanes-Oxley Luật Sarbanes-Oxley

Trang 9

Bảng 2.1: Giả thuyết nghiên cứu 1 34

Bảng 3.1: Thang đo chất lượng kiểm toán 38

Bảng 3.2: Thang đo quy mô của DNKT 38

Bảng 3.3: Thang đo giá phí kiểm toán 39

Bảng 3.4: Thang đo nhiệm kỳ kiểm toán 40

Bảng 3.5: Thang đo KSCL từ bên trong 41

Bảng 3.6: Thang đo KSCL từ bên ngoài 41

Bảng 3.7: Thang đo năng lực chuyên môn của KTV 42

Bảng 3.8: Thang đo đạo đức nghề nghiệp của KTV 43

Bảng 3.9: Cấu trúc bảng câu hỏi và thang đo 44

Bảng 4.1: Vị trí công tác và kinh nghiệm làm việc của KTV tham gia khảo sát 49

Bảng 4.2: Cơ cấu và doanh thu trung bình của các DNKT trong mẫu khảo sát 50

Bảng 4.3: Số lượng nhân viên chuyên nghiệp và KTV tại DNKT 50

Bảng 4.4: Thống kê tần số thang đo “Chất lượng kiểm toán” 51

Bảng 4.5: Thống kê tần số thang đo “Quy mô của DNKT” 52

Bảng 4.6: Thống kê tần số thang đo “Giá phí kiểm toán” 53

Bảng 4.7: Thống kê tần số thang đo “Nhiệm kỳ kiểm toán” 54

Bảng 4.8: Thống kê tần số thang đo “KSCL từ bên trong” 55

Bảng 4.9: Thống kê tần số thang đo “KSCL từ bên ngoài” 55

Bảng 4.10: Thống kê tần số thang đo “Năng lực chuyên môn của KTV” 56

Bảng 4.11: Thống kê tần số thang đo “ Đạo đức nghề nghiệp của KTV” 57

Bảng 4.12: Kiểm định KMO và Bartlett các biến độc lập 59

Trang 10

Bảng 4.15: Kiểm định KMO và Bartlett biến phụ thuộc 61

Bảng 4.16: Tổng phương sai trích biến phụ thuộc 62

Bảng 4.17: Ma trận nhân tố trước khi xoay 62

Bảng 4.18: Hệ số tương quan Pearson 63

Bảng 4.19: Giả thuyết nghiên cứu 2 65

Bảng 4.20: Tóm tắt mô hình (Model Summary b ) 65

Bảng 4.21: Bảng ANOVA 66

Bảng 4.22: Hệ số phương trình hồi quy (Coefficients a ) 66

Bảng 4.23: Số lượng công ty kiểm toán được kiểm tra theo quy mô 69

Bảng 5.1: Số lượng nhân viên chuyên nghiệp và KTV đăng kí hành nghề 76

Trang 11

Hình 2.1: Mô hình nghiên cứu 1 33

Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu chung 35

Hình 4.1: Mô hình nghiên cứu 2 65

Hình 4.2: Mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến CLKT 1 68

Hình 5.1: Mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến CLKT 2 73

Đồ thị 4.1: Kết quả xếp loại chất lượng qua 3 năm 2010, 2011, 2012 70

Trang 12

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hoạt động kiểm toán đã có lịch sử phát triển lâu dài và gắn liền với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của loài người Để phục vụ cho nhu cầu đa dạng của xã hội, những lĩnh vực và loại hình kiểm toán khác nhau đã lần lượt hình thành, trong

đó hoạt động KTĐL là một trong những hoạt động rất phát triển trong nền kinh tế thị trường

Vai trò của hoạt động KTĐL cũng ngày càng quan trọng, trước hết đối với DN được kiểm toán, ngoài việc nhận được ý kiến kiểm toán về tính trung thực và hợp lý của BCTC, DN còn được KTV đưa ra những kiến nghị giúp hoàn thiện hệ thống kiểm soát, nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý tài chính nói riêng cũng như hoạt động kinh doanh nói chung Đối với DNKT thì việc cung cấp dịch vụ kiểm toán có chất lượng, làm hài lòng khách hàng sẽ làm gia tăng tính cạnh tranh trên thị trường kiểm toán Với vai trò đó, hoạt động KTĐL đã dần gây dựng được lòng tin của xã hội đối với nghề nghiệp kiểm toán

Tuy nhiên, sau hàng loạt các vụ phá sản của các tập đoàn, các vụ bê bối tài chính và những thất bại kiểm toán tại các nước phát triển như tập đoàn Enron, Tyco International, WorldCom, Global Crossing, Arthur Anderson… thì vấn đề CLKT đã trở thành một chủ đề được quan tâm lớn trên toàn thế giới Tại VN, các vụ bê bối tài chính liên quan đến kiểm toán như Vinashin, Bông Bạch Tuyết, Dược Viễn Đông…cũng ảnh hưởng lớn đến sự tín nhiệm của xã hội đối với nghề nghiệp kiểm toán Trước tình hình đó, việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến CLKT và đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố này đến CLKT để từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao CLKT là hết sức cần thiết

Do vậy, tác giả đã lựa chọn đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng

hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam – Khảo sát trên địa bàn TP.HCM” để

góp phần phát triển và hoàn thiện hoạt động KTĐL tại VN trong tiến trình đổi mới hội nhập kinh tế thế giới

Trang 13

2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

Mục tiêu chung của luận văn là nhằm nâng cao chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam Từ đó, mục tiêu nghiên cứu cụ thể được đưa ra như sau:

- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến CLKT tại VN

- Đánh giá tình hình chung của chất lượng hoạt động KTĐL tại VN hiện nay

- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động KTĐL tại VN

Nhằm hướng đến mục tiêu nghiên cứu, các câu hỏi nghiên cứu được đưa ra như sau:

Q1: Những nhân tố nào đang ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động KTĐL tại VN

và xác định mức độ ảnh hưởng của chúng đến CLKT?

Q2: Chất lượng hoạt động KTĐL tại VN hiện nay như thế nào?

Q3: Làm thế nào để tác động đến các nhân tố ảnh hưởng đến CLKT nhằm nâng cao chất lượng hoạt động KTĐL tại VN?

3 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là CLKT và các nhân tố ảnh hưởng đến CLKT Với

đối tượng khảo sát chính là các nhân viên chuyên nghiệp đang làm ở các vị trí khác nhau như chủ phần hùn, chủ nhiệm kiểm toán, trưởng nhóm kiểm toán và trợ lý kiểm toán trong các DNKT tại TP.HCM

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là chỉ thực hiện khảo sát trong phạm vi

TP.HCM và tập trung vào hoạt động KTĐL, không nghiên cứu các loại kiểm toán khác như kiểm toán nội bộ và kiểm toán nhà nước

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là phương pháp định tính kết hợp với

phương pháp định lượng Trong đó, tác giả tổng hợp kết quả của các nghiên cứu có liên quan để từ đó xác định các nhân tố ảnh hưởng đến CLKT, sau đó sử dụng công

cụ khảo sát là bảng câu hỏi được gửi trực tiếp hoặc qua email hoặc khảo sát trực tuyến qua công cụ Google Docs đến các đối tượng khảo sát Các kỹ thuật phân tích

Trang 14

thống kê với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS 20.0 được sử dụng để đưa ra được kết quả nghiên cứu bao gồm: thống kê tần số, đánh giá độ tin cậy Cronbach’s alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích tương quan, phân tích hồi quy tuyến tính bội

4 Đóng góp mới của luận văn

Luận văn là một công trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc của tác giả với một số đóng góp khoa học cơ bản sau:

- Một là, hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về chất lượng, CLKT và các nhân tố ảnh hưởng đến CLKT

- Hai là, giới thiệu về khuôn mẫu CLKT được ban hành bởi IAASB vào năm 2014

- Ba là, đưa ra được mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến CLKT tại VN gồm 3 nhân

tố ảnh hưởng: (1) quy mô của DNKT, (2) KSCL từ bên ngoài và (3) đạo đức nghề nghiệp của KTV

- Bốn là, đề xuất các giải pháp khả thi nhằm tác động lên các nhân tố ảnh hưởng đến CLKT nhằm nâng cao chất lượng hoạt động KTĐL tại VN

5 Kết cấu luận văn

Luận văn có độ dài 88 trang và có kết cấu gồm 5 chương:

- Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến chất

lượng hoạt động kiểm toán độc lập

- Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu

- Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

- Chương 4: Kết quả nghiên cứu

- Chương 5: Kết luận, giải pháp và hướng nghiên cứu trong tương lai

Trang 15

1.1 Các nghiên cứu công bố ở ngoài nước

Một số dòng nghiên cứu chính bao gồm:

a Nghiên cứu về ảnh hưởng của quy mô của DNKT, giá phí kiểm toán đến CLKT

Tiêu biểu cho dòng nghiên cứu này là:

Nghiên cứu của Jong Hag Choi và cộng sự (2010), “Audit Office Size, Audit Quality, and Audit Pricing” (A Journal of Practice & Theory, Vol 29, No.1, May, pp 73-79) Nghiên cứu này điều tra về mối quan hệ của quy mô của DNKT và giá phí kiểm toán đến CLKT Tác giả đã sử dụng dữ liệu khảo sát được thu thập từ một mẫu lớn khách hàng của các DNKT từ năm 2000-2005 Kết quả khảo sát cho thấy quy mô của DNKT có ảnh hưởng đáng kể đến CLKT và giá phí kiểm toán Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng cho rằng giá phí kiểm toán phụ thuộc vào quy mô công ty khách hàng, tính phức tạp và rủi ro của quá trình kiểm toán

b Nghiên cứu về ảnh hưởng của tính độc lập và giá phí kiểm toán đến CLKT Tiêu

biểu cho dòng nghiên cứu này là:

Nghiên cứu của Novie Susanti Suseno (2013), “An empirical analysis of auditor independence and audit fees on audit quality”, (International Journal of Management

and Business Studies, ISSN: 2167-0439 Vol 3 (3), pp 082-087, March)

Trang 16

Nghiên cứu xem xét tác động của tính độc lập và giá phí kiểm toán đến CLKT Đối tượng khảo sát của nghiên cứu là 73 DNKT là các công ty thực hiện kiểm toán cho các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán tại Indonesia Kết quả nghiên cứu cho thấy 2 nhân tố này có ảnh hưởng đáng kể đến CLKT Qua đó, tác giả đưa ra giải pháp nâng cao CLKT bằng cách phát triển và duy trì tính độc lập của KTV và xác định giá phí kiểm toán phù hợp

c Nghiên cứu về ảnh hưởng của dịch vụ phi kiểm toán đến CLKT Tiêu biểu cho

dòng nghiên cứu này là:

Nghiên cứu của Myungsoo Son (2005), “Do non-services influence audit quality?” (A dissertation, the University of Nebraska) Nghiên cứu xem xét ảnh hưởng của dịch vụ phi kiểm toán đến CLKT bằng cách sử dụng hai phương pháp đo lường chất lượng BCTC là các khoản dồn tích có thể điều chỉnh (Discretionary accruals – DA) và hệ số phản ứng thu nhập (Earnings response coefficients – ERC), trong đó DA được sử dụng để phản ánh CLKT thực tế và ERC phản ánh nhận thức của nhà đầu tư về chất lượng BCTC Ngoài ra, nghiên cứu kiểm tra tác động của dịch

vụ phi kiểm toán đến CLKT bằng cách so sánh CLKT trước và sau khi Đạo luật Sarbanes-Oxley (SOX) ra đời Mẫu khảo sát là BCTC của 1.865 công ty niêm yết trên sàn NYSE, NASDAQ, AMEX tại Mỹ Kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy tác động tiêu cực của dịch vụ phi kiểm toán lên CLKT và CLKT được cải thiện sau khi thực hiện yêu cầu của đạo luật SOX đối với những DN sử dụng dịch vụ phi kiểm toán lớn

d Nghiên cứu tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến CLKT Tiêu biểu cho dòng

nghiên cứu này là:

Nghiên cứu của Husam Al-Khaddash và cộng sự (2013), “Factors effecting the quality of Auditing: The case of Jordanian Commercial Banks” (International Journal of Business and Social Science, Vol.4, No.11, September) Nghiên cứu này xem xét 7 nhân tố ảnh hưởng đến CLKT bao gồm: Quy mô của DNKT, giá phí kiểm toán, tính độc lập của KTV, danh tiếng của DNKT, năng lực chuyên môn và

Trang 17

hệ thống KSNB của khách hàng Bằng cách sử dụng bảng câu hỏi gửi đến các KTV đang làm việc tại các DNKT thực hiện kiểm toán cho các ngân hàng tại Jordan, tác giả tìm ra bằng chứng thực nghiệm cho mối tương quan tích cực của 4 nhân tố đến CLKT bao gồm: Danh tiếng của DNKT, giá phí kiểm toán, trình độ của KTV và quy mô của DNKT

Nghiên cứu của Hosseinniakani và cộng sự (2014), “A review on Audit Quality Factors” (International Journal of Academic Research in Accounting, Finance and Management Sciences, Vol.4, No.2, April, pp 247-258) Nghiên cứu này tổng hợp cơ sở lý thuyết về CLKT và các nhân tố ảnh hưởng đến CLKT, bao gồm: quy mô của DNKT, năng lực chuyên môn, nhiệm kỳ kiểm toán, giá phí kiểm toán, dịch vụ phi kiểm toán, danh tiếng của DNKT, tính độc lập của KTV, trách nhiệm giải trình của KTV Qua đó, nghiên cứu chỉ ra phương hướng nghiên cứu trong tương lai

1.2 Các nghiên cứu công bố ở trong nước

[1] Trần Khánh Lâm (2011), “Xây dựng cơ chế kiểm soát chất lượng cho hoạt động KTĐL tại VN”, luận án tiến sĩ, Trường Đại học Kinh tế TP.HCM

Luận án nghiên cứu các quan điểm cơ bản về KSCL hoạt động KTĐL, các yếu

tố ảnh hưởng đến CLKT, cơ chế KSCL, các chuẩn mực kiểm toán liên quan đến chất lượng của hoạt động KTĐL, quá trình hình thành và phát triển hoạt động KTĐL, sự hình thành cơ chế KSCL tại VN Về tình hình chung của chất lượng hoạt động KTĐL và các nhân tố ảnh hưởng đến CLKT, luận án nghiên cứu thông qua hồ

sơ kiểm tra hoạt động của các DNKT năm 2009 do BTC và VACPA thực hiện tại

35 công ty kiểm toán Về tình hình KSCL từ bên trong và bên ngoài, nghiên cứu gửi

110 bảng câu hỏi khảo sát đến 110 công ty kiểm toán và nhận về 69 bảng trả lời (tỷ

lệ phản hồi 52%) và sử dụng phương pháp thống kê mô tả bằng phần mềm phân tích dữ liệu SPSS 16.0 Kết quả nghiên cứu cho thấy đa số các DNKT tại VN còn chưa quan tâm nhiều đến việc KSCL từ bên trong, bên cạnh đó thì vấn đề KSCL từ

Trang 18

bên ngoài vẫn đang còn nhiều bất cập Từ đó nêu lên quan điểm và giải pháp để cải thiện cơ chế KSCL hoạt động KTĐL tại VN

[2] Trần Thị Giang Tân (2011), “Cơ sở lý luận và thực tiễn của KSCL hoạt động KTĐL ở VN”, đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ cấp bộ, Trường Đại học Kinh tế TP.HCM

Đề tài nghiên cứu lý luận cơ bản về chất lượng và KSCL hoạt động kiểm toán Khảo sát và đúc kết kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới trong xây dựng các quy định về KSCL đối với hoạt động KTĐL Đồng thời tiến hành khảo sát thực trạng KSCL đối với hoạt động KTĐL tại VN Nguồn dữ liệu sử dụng là các báo cáo hoạt động thường niên của 55 DNKT qua 2 năm 2009 và 2010; cùng với báo cáo về KSCL của Vụ chế độ Kế toán – Kiểm toán và VACPA Từ đó bổ sung về cơ sở lý luận và thực tiễn của việc thiết lập các quy định về KSCL và đề ra các giải pháp mang tính định hướng cho việc thiết lập các quy định KSCL đối với hoạt động KTĐL tại VN

[3] Nguyễn Thị Thảo Nguyên (2013), “Nghiên cứu ảnh hưởng của việc tuân thủ đạo đức nghề nghiệp đến CLKT và đề xuất giải pháp”, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế TP.HCM

Luận văn nghiên cứu mối quan hệ giữa CLKT và đạo đức nghề nghiệp Trong

đó, mức độ ảnh hưởng của nhân tố đạo đức nghề nghiệp được xem xét dựa trên sự tác động của tính độc lập, năng lực chuyên môn và việc tuân thủ chuẩn mực chuyên môn đến CLKT Dữ liệu khảo sát được tổng hợp từ Báo cáo kết quả kiểm tra tình hình hoạt động năm 2010 và 2011 Kết quả cho thấy đa số các công ty đạt điểm chất lượng thấp là do không thực hiện đầy đủ các yếu tố về tính độc lập, năng lực chuyên môn và tuân thủ chuẩn mực chuyên môn Qua đó, tác giả khẳng định, tính độc lập

và tuân thủ các chuẩn mực chuyên môn có ảnh hưởng đáng kể đến CLKT và năng lực chuyên môn có ảnh hưởng nhưng không nhiều đến CLKT

Trang 19

[4] Nguyễn Thị Ngọc Mai (2013), “Đánh giá tầm quan trọng của một số thuộc tính

cá nhân của KTV đối với CLKT của các công ty KTĐL ở VN”, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế TP.HCM

Luận văn nghiên cứu các thuộc tính cá nhân cần có của một KTV chuyên nghiệp nhằm nâng cao CLKT Bảng câu hỏi khảo sát về 23 thuộc tính cá nhân cần

có của một KTV chuyên nghiệp đã được gửi đến các nhân viên đang làm ở các vị trí khác nhau trong các DNKT tại TP.HCM Kết quả cho thấy nhóm thuộc tính như khả năng chịu đựng áp lực, tinh thần trách nhiệm, kiến thức, tính cẩn thận, làm việc

có phương pháp được cho là những thuộc tính quan trọng nhất đối với một KTV

[5] Lâm Huỳnh Phương (2013), “Ảnh hưởng của việc luân chuyển KTV đến chất lượng hoạt động kiểm toán BCTC tại VN”, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh

Tóm lại, sau khi tìm hiểu một cách tương đối về các nghiên cứu liên quan đến

đề tài luận văn dự kiến thực hiện, tác giả nhận định được một số tồn tại và khe hở nghiên cứu như sau:

Trang 20

- Các nghiên cứu chủ yếu tập trung nghiên cứu về hoạt động KTĐL, còn các hoạt động kiểm toán khác như kiểm toán nhà nước hay kiểm toán nội bộ tại VN chưa được khai thác để nghiên cứu

- Đối với các nghiên cứu ngoài nước, thì chưa có nghiên cứu nào có bằng chứng thực nghiệm tại VN

- Đối với các nghiên cứu trong nước thì chưa có nghiên cứu nào xây dựng mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến CLKT và kiểm định sự phù hợp của mô hình tại

VN Bên cạnh đó, các nghiên cứu thường chỉ lựa chọn nghiên cứu sự tác động của một hay hai nhân tố đến CLKT Đây là khe hở nghiên cứu quan trọng dẫn đến lý do lựa chọn đề tài của luận văn này

Như vậy, trên cơ sở tiếp cận những nghiên cứu có liên quan đồng thời dựa vào những tồn tại và khe hở nghiên cứu đã xác định ở trên, tác giả lựa chọn đề tài

nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập

tại Việt Nam – Khảo sát trên địa bàn TP.HCM” với mục tiêu góp phần nâng cao

chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập tại VN

TÓM TẮT CHƯƠNG 1

Chương 1 trình bày về một số các nghiên cứu có liên quan đến đề tài nghiên cứu được công bố ở ngoài nước và trong nước Từ đó, xác định các khe hở nghiên cứu để làm cơ sở chứng minh tính cần thiết khi lựa chọn đề tài nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu được lựa chọn với mục tiêu góp phần nâng cao chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập tại VN Đây là nghiên cứu đầu tiên tại VN tập trung nghiên cứu nhiều nhân tố ảnh hưởng đến CLKT bằng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng Bên cạnh đó, nghiên cứu hướng đến xây dựng mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến CLKT và kiểm định sự phù hợp của mô hình tại VN

Trang 21

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ

MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

2.1 Khái niệm chất lƣợng

Chất lượng được xem là chìa khóa quyết định cho sự sống còn của các tổ chức trong nền kinh tế toàn cầu (Mohammad M.R và cộng sự, 2011) Vì vậy đã có rất nhiều nghiên cứu nỗ lực trong việc đưa ra định nghĩa và đo lường chất lượng Chất lượng là một khái niệm phức tạp, phụ thuộc vào trình độ của nền kinh tế và tùy vào góc độ của người quan sát hay người sử dụng Sau đây là một số định nghĩa về chất lượng theo quan điểm của các tổ chức và nhà nghiên cứu khác nhau:

(1)”Chất lượng là mức phù hợp của sản phẩm đối với yêu cầu của người tiêu dùng”

(Tổ chức kiểm tra chất lượng Châu Âu - EQC)

(2) “Chất lượng là sự phù hợp với yêu cầu” (Philip B Crosby, theo Tạp chí Quality

Progress, 2011)

(3) "Chất lượng là tập hợp tất cả đặc tính của sản phẩm và dịch vụ từ tiếp cận thị

trường, kỹ thuật, sản xuất và bảo hành mà thông qua đó sản phẩm và dịch vụ được

sử dụng sẽ đáp ứng được mong đợi của khách hàng” (Armand V Feigenbaum, theo

Tạp chí Quality Progress, 2011)

(4) “Chất lượng là sự thỏa mãn nhu cầu thị trường với chi phí thấp nhất” (Kaoru

Ishikawa, theo Tạp chí Quality Progress, 2011)

(5) “Chất lượng là mức độ của một tập hợp các đặc tính vốn có đáp ứng các yêu

cầu" (Bộ Tiêu chuẩn ISO 9000:2005 “Hệ thống quản lý chất lượng: Cở sở và từ

vựng” của Tổ chức Quốc tế về Tiêu chuẩn hóa - ISO)

(6) “Chất lượng là một phạm trù triết học biểu thị những thuộc tính bản chất của sự

vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn định tương đối của sự vật, để phân biệt nó với các sự vật khác…” (Từ điển Bách khoa toàn thư VN, 2005)

Trang 22

Từ những định nghĩa về chất lượng được nêu ở trên cho thấy hầu hết các định nghĩa đều gắn chất lượng với sự thỏa mãn nhu cầu của thị trường (người tiêu dùng hoặc các quy định pháp lý) bằng những đặc tính vốn có của sản phẩm hoặc dịch vụ Bởi khi thỏa mãn được thị trường thì DN không những giữ được người tiêu dùng,

mà còn thu hút được các đối tượng tiêu dùng mới, từ đó mang lại lợi nhuận, nâng cao uy tín và ngày càng phát triển Ngoài ra, chất lượng ở đây không chỉ là của sản phẩm hay dịch vụ mà còn có thể là chất lượng của một hệ thống, một quy trình

Tóm lại, chất lượng có thể được định nghĩa là mức độ tập hợp tất cả các đặc

tính vốn có của sản phẩm và dịch vụ từ tiếp cận thị trường, kỹ thuật, sản xuất và bảo hành mà thông qua đó sản phẩm và dịch vụ được sử dụng sẽ đáp ứng được những yêu cầu trong những điều kiện xác định

Theo đó, có ba nội dung cơ bản khi xem xét yếu tố chất lượng của sản phẩm

và dịch vụ:

Thứ nhất, trên quan niệm xuất phát từ bản thân sản phẩm/dịch vụ: chất lượng

được phản ánh qua tất cả các đặc tính vốn có, thể hiện tính năng kỹ thuật hay tính hữu dụng của sản phẩm/dịch vụ đó, làm cho sản phẩm/dịch vụ này khác biệt với các sản phẩm/dịch vụ khác;

Thứ hai, trên quan niệm của các nhà sản xuất: chất lượng là sự phù hợp của

một sản phẩm/dịch vụ với các yêu cầu hoặc tiêu chuẩn kỹ thuật, quy trình sản xuất

và bảo hành được xác định dựa trên thị trường;

Cuối cùng, trên quan niệm từ người tiêu dùng: chất lượng là đáp ứng được

những yêu cầu của người tiêu dùng (sự hoàn thiện của sản phẩm, giá cả, sự kịp thời…) trong những điều kiện tiêu dùng cụ thể của từng người, từng khu vực khác nhau

2.2 Khái niệm về chất lƣợng hoạt động kiểm toán độc lập

Hoạt động KTĐL đã có lịch sử phát triển lâu dài và gắn liền với quá trình phát triển kinh tế Dịch vụ kiểm toán là loại hình dịch vụ đặc thù, mang tính chuyên môn

Trang 23

cao Do vậy, khác với dịch vụ của các nghề nghiệp khác, chất lượng của dịch vụ KTĐL không dễ dàng quan sát hay kiểm tra, đánh giá

Chất lượng kiểm toán, về bản chất, là một khái niệm phức tạp và đa dạng (IAASB, 2011) Vì vậy, nhiều nghiên cứu trên thế giới đã nỗ lực trong việc đưa ra một định nghĩa rõ ràng về CLKT Tuy nhiên, tùy thuộc vào góc nhìn của từng đối tượng khác nhau, từng mục đích sử dụng kết quả kiểm toán khác nhau mà nhận thức

về CLKT cũng khác nhau Dưới đây là một số định nghĩa CLKT dưới các góc nhìn khác nhau:

2.2.1 Chất lượng kiểm toán dưới góc nhìn của khách hàng

Dưới góc nhìn của khách hàng, hoạt động kiểm toán là một dịch vụ được cung cấp bởi DNKT Do đó, chất lượng dịch vụ được đánh giá dựa trên sự thỏa mãn của khách hàng Theo Parasuraman và cộng sự (1985), cần dựa vào năm yếu tố để đánh giá chất lượng dịch vụ (thang đo sử dụng là SERVQUAL) bao gồm:

(1) Sự tin cậy (Reliability): khả năng cung ứng dịch vụ đúng như đã hứa với khách hàng

(2) Sự đáp ứng (Responsiveness): sự mong muốn và sẵn sàng của nhân viên trong việc cung ứng dịch vụ nhanh chóng

(3) Năng lực phục vụ (Assurance): thể hiện qua trình độ chuyên môn và thái độ lịch sự, niềm nở với khách hàng

(4) Sự đồng cảm (Empathy): sự phục vụ chu đáo, sự quan tâm đặc biệt đối với khách hàng và khả năng am hiểu những nhu cầu riêng biệt của khách hàng (5) Yếu tố hữu hình (Tangibles): các phương tiện vật chất, trang thiết bị, tài liệu quảng cáo… và bề ngoài của nhân viên bán hàng

Lehtinen và Lehtinen (1982) lại cho rằng chất lượng dịch vụ phải được đánh giá trên hai khía cạnh: (1) quá trình cung cấp dịch vụ và (2) kết quả dịch vụ Gronroos (1984) cũng đề nghị hai thành phần của chất lượng dịch vụ, đó là (1) chất lượng kỹ thuật, đó là những gì mà khách hàng nhận được và (2) chất lượng chức

Trang 24

năng, diễn giải dịch vụ được cung cấp như thế nào (theo nghiên cứu của Parasuraman và cộng sự, 1985)

Theo Watts & Zimmerman (1983) và DeAngelo (1981) thì CLKT dưới góc độ khách hàng là xác suất KTV (1) phát hiện ra các sai sót trọng yếu trên BCTC (khả năng kỹ thuật); và (2) báo cáo các sai sót này với nhà quản lý (tính độc lập) Li Dang (2004) lại cho rằng CLKT là xác suất mà BCTC không chứa sai sót trọng yếu CLKT theo CMKiT VN số 220 “KSCL hoạt động kiểm toán” ban hành theo quyết định số 28/2003/QĐ-BTC ngày 14/03/2003 (có hiệu lực thi hành từ

01/04/2003) là “mức độ thoả mãn của các đối tượng sử dụng kết quả kiểm toán về

tính khách quan và độ tin cậy vào ý kiến kiểm toán của KTV; đồng thời thoả mãn mong muốn của đơn vị được kiểm toán về những ý kiến đóng góp của KTV, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, trong thời gian định trước với giá phí hợp lý”

Tóm lại, CLKT dưới góc nhìn của khách hàng là mức độ thỏa mãn về các lợi ích mà khách hàng nhận được thông qua dịch vụ kiểm toán mà họ được cung cấp

2.2.2 Chất lượng kiểm toán dưới góc nhìn của DNKT

Dưới góc nhìn của DNKT, dịch vụ kiểm toán là một hoạt động kinh doanh, đem lại lợi nhuận cho DN Tuy nhiên, dịch vụ kiểm toán là một loại hình dịch vụ đặc thù, với đặc điểm nghề nghiệp luôn coi trọng trách nhiệm đối với xã hội, bên cạnh trình độ chuyên môn, tiêu chuẩn hành nghề và niềm tin của công chúng

Theo Taylor (1911), dưới góc nhìn của DNKT, CLKT là (1) việc tuân thủ đầy

đủ chuẩn mực, các quy định nghề nghiệp, kiểm soát rủi ro; (2) việc lựa chọn các thủ tục kiểm toán luôn cần được cân đối giữa chi phí và lợi ích tức là chi phí dịch vụ kiểm toán phù hợp với mức độ rủi ro kiểm toán (giảm thiểu các vụ kiện tụng, tăng cường uy tín) (theo nghiên cứu của Trần Thị Giang Tân, 2011)

Ngoài ra, DNKT là người cung cấp dịch vụ, nên chất lượng dưới góc độ nhà cung cấp là chất lượng mang tính chủ quan Chất lượng này không bị quyết định bởi

kỳ vọng của khách hàng mà được xác định bởi DNKT Các DNKT thường xây

Trang 25

dựng một quy trình kiểm toán và KSCL nhằm giúp KTV có thể đưa ra ý kiến trung thực và hợp lý Như vậy, một cuộc kiểm toán có chất lượng là khi KTV và DNKT tuân thủ đầy đủ chuẩn mực chuyên môn, tuân thủ các quy trình, các thủ tục do DNKT thiết lập (Trần Thị Giang Tân, 2011) Bên cạnh đó, mục tiêu lợi nhuận cũng cần được cân đối với chi phí bỏ ra bởi lợi nhuận là mục tiêu chính của hoạt động kinh doanh

Như vậy, CLKT dưới góc nhìn của DNKT là đáp ứng được những yêu cầu, qui định theo chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, CMKiT và các qui định của pháp luật có liên quan Bên cạnh đó, đáp ứng được yêu cầu của khách hàng trong sự cân đối giữa lợi ích và chi phí để mang lại lợi nhuận cho công ty

2.2.3 Chất lượng kiểm toán dưới góc nhìn của người sử dụng BCKT (nhà đầu

tư, đối tác, hội nghề nghiệp, công chúng…)

Đối tượng sử dụng BCKT có thể chia thành hai nhóm chính là (1) nhóm có mối liên hệ trực tiếp như chủ sở hữu, cổ đông, trái chủ, nhà đầu tư, người cho vay, các chủ nợ khác và (2) nhóm có mối liên hệ gián tiếp như xã hội, hội nghề nghiệp, công chúng

Mối liên hệ trực tiếp hay gián tiếp về lợi ích hoặc rủi ro kinh tế này đã ảnh hưởng đến nhận thức của từng nhóm về CLKT, cụ thể như sau:

(1) Chủ sở hữu, cổ đông, trái chủ, nhà đầu tư, người cho vay, các chủ nợ khác

Chủ sở hữu, cổ đông, trái chủ, nhà đầu tư, người cho vay và các chủ nợ khác

là đối tượng chính sử dụng kết quả kiểm toán để ra các quyết định kinh doanh Vì vậy, BCKT có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích hoặc rủi ro kinh tế của các đối tượng này Phần lớn các nghiên cứu chỉ ra rằng những người sử dụng đều kỳ vọng vượt quá những gì mà KTV tin rằng đó là trách nhiệm của họ về việc (Porter, 1993; Baron và cộng sự, 1977) (theo nghiên cứu của Mahdi Salehi, 2011):

- đưa ra ý kiến về tính trung thực và hợp lý của BCTC;

- đưa ra ý kiến về khả năng hoạt động liên tục của công ty;

- đưa ra ý kiến về hệ thống KSNB của công ty;

Trang 26

- đưa ra ý kiến về gian lận phát sinh;

- đưa ra ý kiến về các hành vi không tuân thủ;

Sự kỳ vọng không hợp lý trên dẫn đến nhưng yêu cầu thiếu thực tế của họ về chất lượng dịch vụ của nghề nghiệp kiểm toán Theo Hội đồng giám sát kế toán các công ty đại chúng Mỹ (PCAOB), CLKT dưới góc nhìn của nhà đầu tư là nhu cầu về tính độc lập và đáng tin cậy của kiểm toán về (1) BCTC và những thuyết minh liên quan; (2) đảm bảo về hệ thống KSNB và (3) cảnh báo về khả năng hoạt động liên tục

Một số nghiên cứu thì chỉ ra rằng CLKT dưới góc nhìn của nhóm này là khả năng cung cấp thông tin chính xác cho nhà đầu tư (Titman và Trueman, 1986); hoặc khả năng KTV không phát hành báo cáo chấp nhận toàn phần cho các BCTC có chứa đựng những sai sót trọng yếu (Lee và các cộng sự, 1998); hoặc tính trung thực của thông tin tài chính được trình bày trên BCTC sau khi được kiểm toán (Beatty, 1989; Krinsky và Rotenberg, 1989; Davidson và Neu, 1993); hoặc khả năng KTV

có thể phát hiện và phòng ngừa các gian lận trên BCTC (Wallace, 1987) (theo nghiên cứu của Li Dang, 2004; Phan Thanh Hải, 2014)

Tóm lại, dưới góc nhìn của nhóm này, một cuộc kiểm toán có chất lượng khi kết quả của cuộc kiểm toán làm họ cảm thấy thỏa mãn về độ tin cậy, tính trung thực

và hợp lý của các BCTC được kiểm toán, về hệ thống KSNB, đồng thời xác định về khả năng hoạt động liên tục và đảm bảo phát hiện và phòng ngừa các gian lận trên BCTC Qua đó, họ có thể đưa ra các quyết định kinh tế đúng đắn (đầu tư, hợp tác)

(2) Xã hội, hội nghề nghiệp, công chúng

Xã hội, hội nghề nghiệp, công chúng là những đối tượng sử dụng không dựa trên kết quả kiểm toán để ra các quyết định kinh tế, nhưng lại là bị ảnh hưởng một cách gián tiếp đến lợi ích hoặc rủi ro kinh tế Ví dụ như trường hợp DN đang gặp khó khăn, đứng trên bờ vực phá sản, nhưng BCKT vẫn "đẹp" và hậu quả là gây ra thiệt hại rất lớn cho nhà đầu tư, cho nền kinh tế đất nước, qua đó gián tiếp ảnh

Trang 27

hưởng đến lợi ích của xã hội, uy tín của Hội nghề nghiệp, gây sụt giảm lòng tin của công chúng

Theo Văn phòng Kiểm toán Chính phủ của Mỹ (GAO) (2003) “Một cuộc kiểm

toán có chất lượng là cuộc kiểm toán được thực hiện tuân thủ với các CMKiT được chấp nhận chung (GAAP) nhằm cung cấp sự đảm bảo tin cậy rằng BCTC được kiểm toán và các thông tin có liên quan sẽ (1) được trình bày phù hợp với các CMKiT được chấp nhận chung (GAAP); và (2) không có những sai phạm trọng yếu

(sai sót, gian lận)”

Còn theo Khuôn mẫu CLKT được ban hành bởi IAASB (2014) thì một cuộc kiểm toán có chất lượng là khả năng KTV đưa ra ý kiến về BCTC dựa trên những bằng chứng kiểm toán đầy đủ và thích hợp có được bởi một đội ngũ tham gia có:

- Đạo đức nghề nghiệp

- Có đầy đủ hiểu biết, kinh nghiệm, và thời gian để thực hiện công tác kiểm toán

- Áp dụng một quy trình kiểm toán chặt chẽ và thủ tục KSCL

- Cung cấp báo cáo có giá trị và kịp thời

- Tương tác phù hợp với các bên liên quan

Tóm lại, từ những định nghĩa nêu trên, chất lượng hoạt động kiểm toán được

hiểu là mức độ thoả mãn của các đối tượng sử dụng kết quả kiểm toán về tính khách quan và độ tin cậy vào ý kiến kiểm toán của KTV; đồng thời đáp ứng các yêu cầu của đạo đức nghề nghiệp và chuẩn mực chuyên môn cũng như thoả mãn mong muốn của đơn vị được kiểm toán về những ý kiến đóng góp của KTV, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, trong thời gian định trước với giá phí hợp lý

2.3 Các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động KTĐL

Việc phát hiện các nhân tố ảnh hưởng đến CLKT sẽ giúp đưa ra các biện pháp nâng cao chất lượng dịch vụ kiểm toán, do vậy đã được khá nhiều các nghiên cứu

Trang 28

thực hiện Các nghiên cứu tập trung vào hai nhóm nhân tố: (1) nhân tố bên trong DNKT và (2) nhân tố bên ngoài DNKT

2.3.1 Nhân tố bên trong

Nhân tố bên trong gồm các nhân tố liên quan đến bản thân DNKT và các nhân

tố liên quan đến KTV, cụ thể như sau:

2.3.1.1 Nhân tố liên quan đến bản thân DNKT

(a) Quy mô của doanh nghiệp kiểm toán

Quy mô của DNKT được coi là chỉ số hiệu quả nhất trong xác định CLKT (Lennox, 1999) Theo đó, DNKT có quy mô càng lớn thì càng có khuynh hướng cung cấp dịch vụ kiểm toán được tốt hơn (Francis, 2004)

Nhiều nghiên cứu đã điều tra về mối quan hệ giữa CLKT và quy mô DNKT Hầu hết trong số đó khẳng định rằng quy mô DNKT có mối quan hệ tỉ lệ thuận với CLKT (ví dụ, Colbert & Murray, 1995; DeAngelo, 1981; O'Keefe & Westort, 1992) Tuy nhiên, một số nghiên cứu lại cho rằng không có sự khác biệt giữa các DNKT lớn và DNKT vừa và nhỏ về CLKT, cả hai đều có khả năng đạt được một mức CLKT chấp nhận được (ví dụ, Bauwhede & Willekens, 2004; Jackson và cộng

sự, 2008; Larn & Chang, 1994) Và các DNKT có quy mô vừa và nhỏ vẫn có khả năng đạt được CLKT cao khi họ đáp ứng được các yêu cầu của các CMKiT (Bauwhede & Willekens, 2004; Larn & Chang, 1994) (theo nghiên cứu của Hosseinniakani S.M và cộng sự, 2014)

Tuy nhiên, nhìn chung các nghiên cứu cho rằng DNKT lớn có nhiều điều kiện

và cam kết để đạt được một CLKT cao hơn do có thể ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại, nguồn nhân lực trình độ chuyên môn cao cũng như do những chương trình đào tạo chuyên môn thường xuyên cho nhân viên và xây dựng được chương trình kiểm toán chuẩn (Shu, 2000) Bên cạnh đó, những nỗ lực trong duy trì danh tiếng của DNKT lớn qua việc phát hành những BCKT phù hợp với hoàn cảnh cụ thể, qua

đó làm giảm thiểu khả năng xảy ra các vụ kiện tụng và đảm bảo việc duy trì chất lượng dịch vụ kiểm toán ở mức cao (Hosseinniakani S.M và cộng sự, 2014;

Trang 29

Lennox, 1999) Thêm vào đó, Deis và Giroux (1992) khảo sát hồ sơ kiểm toán và thấy rằng các DNKT lớn hơn có hồ sơ làm việc đầy đủ và tốt hơn các DNKT nhỏ Ngoài ra nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra rằng quy mô khách hàng càng lớn thì thường ít ký kết hợp đồng kiểm toán với DNKT có quy mô nhỏ (Mansi và cộng sự, 2004) Họ có xu hướng lựa chọn các DNKT có quy mô lớn và có danh tiếng Đó có thể là do những khách hàng lớn tin rằng những DNKT lớn, có danh tiếng sẽ cung cấp một CLKT cao hơn nhằm giữ gìn danh tiếng của họ Bởi bất cứ sự suy giảm danh tiếng nào cũng có thể dẫn đến khả năng thu hút khách hàng ít hơn và có thể làm giảm giá phí kiểm toán

Công trình nghiên cứu của Chia-Chi Lee (2008) ở Trường Kinh doanh Quốc tế Đài Loan về sự ảnh hưởng của quy mô đến hiệu quả hoạt động của các công ty KTĐL Nghiên cứu được thực hiện trong khoảng thời gian từ năm 1988-

2002 thông qua việc phân tích kết quả khảo sát đối với 370 công ty KTĐL tại Đài Loan Kết quả nghiên cứu cho rằng quy mô của DNKT có ảnh hưởng rõ rệt đến hiệu quả hoạt động đặc biệt là trong mối quan hệ so sánh giữa loại hình các DNKT đa quốc gia (international audit firms), DNKT lớn (large-size audit firms), DNKT có quy mô vừa (medium-size audit firms); tuy nhiên lại chỉ ra rằng sự ảnh hưởng này là không đáng kể trong mối quan hệ so sánh giữa loại hình DNKT có quy mô vừa với loại hình DNKT có quy mô nhỏ (small-size audit firms) (theo nghiên cứu của Phan Thanh Hải, 2014)

Tóm lại, dù có một số nghiên cứu cho kết quả khác biệt nhưng phần lớn các nghiên cứu đều chứng minh rằng nhân tố quy mô của DNKT là một trong những nhân tố rất cơ bản, tiêu biểu để đo lường, đánh giá về CLKT Vì thế, tác giả sử dụng nhân tố quy mô của DNKT là một trong những nhân tố ảnh hưởng trong

mô hình

(b) Giá phí kiểm toán

Sự ảnh hưởng của giá phí kiểm toán đến CLKT cũng được nhiều nghiên cứu thực hiện Tuy có nhiều quan điểm khác nhau song về cơ bản ý kiến cho rằng việc giảm giá phí kiểm toán thường dẫn đến giảm CLKT nhận được sự đồng tình của nhiều nhà nghiên cứu Giải thích cho điều này là do việc hạ thấp chi phí có thể tác

Trang 30

động đến quỹ thời gian và chi phí dự phòng cho cuộc kiểm toán cũng sẽ bị hạ thấp

từ đó gây ra áp lực và khó khăn cho KTV trong việc phát hiện ra các sai phạm trọng yếu

Nghiên cứu của DeAngelo (1981) đã đưa ra mô hình phí và chi phí kiểm toán góp phần chỉ rõ mối liên hệ giữa chi phí kiểm toán và mối quan hệ với khách hàng

Cụ thể đó là các DNKT thường có xu hướng ấn định mức giá phí kiểm toán ở năm đầu tiên dưới mức chi phí thực tế mà công ty bỏ ra để thu được lợi nhuận tăng thêm trong tương lai từ việc thực hiện các hợp đồng này Điều này cũng tạo ra mối quan hệ kinh tế chặt chẽ với khách hàng qua đó làm suy giảm tính độc lập của KTV và dẫn đến giảm CLKT

Ngoài ra, một DNKT nếu có doanh thu từ một hay một số khách hàng chiếm

tỷ lệ cao trong tổng doanh thu (hay nói cách khác là chịu áp lực về mặt tài chính) thì

sẽ có ảnh hưởng lớn đến tính độc lập của các KTV Điều này có thể ảnh hưởng đến CLKT do các KTV sẽ tránh báo cáo hết những sai phạm của khách hàng vì sợ mất khách hàng

Novie Susanti Suseno (2013) đã tiến hành khảo sát 73 DNKT tại Indonesia cũng chỉ ra rằng giá phí kiểm toán có ảnh hưởng đáng kể đến CLKT Nghiên cứu cũng cho rằng giá phí kiểm toán phụ thuộc vào quy mô công ty khách hàng, tính phức tạp và rủi ro của quá trình kiểm toán (Jong Hag Choi và cộng sự, 2010) Tuy nhiên đối với một số các DNKT nhỏ thì việc xác định giá phí kiểm toán đôi khi không dựa trên 3 yếu tố trên mà dựa vào các yếu tố kinh tế như giá thị trường hoặc giá phí mà các DNKT khác đã áp dụng trước đây Tình trạng này sẽ ảnh hưởng đến CLKT khi KTV có thể bỏ đi các thủ tục kiểm toán cần thiết để phù hợp với giá phí kiểm toán Kết quả này được hỗ trợ bởi các nghiên cứu Elitzur & Falk (1999), Carcello & Nagy (2004), Choi et al (2009) và Ghosh & Pawlewicz (2008) (theo nghiên cứu của Novie Susanti Suseno, 2013)

Nghiên cứu của Basioudis & Fifi (2004) cũng chỉ ra mối liên hệ tỉ lệ thuận giữa giá phí kiểm toán và quy mô DNKT Ông chỉ ra rằng các công ty quy mô lớn thường

sẽ có giá phí kiểm toán cao hơn Điều này là do họ cần phải bảo vệ danh tiếng bằng

Trang 31

cách yêu cầu một giá phí cao hơn nhằm có thể thực hiện cuộc kiểm toán được chất lượng hơn (theo nghiên cứu của Jong Hag Choi và cộng sự , 2010)

Tóm lại, có thể thấy nhìn chung các nghiên cứu đều chỉ ra rằng giá phí kiểm toán có mối quan hệ tỉ lệ thuận với CLKT Do vậy, tác giả lựa chọn nhân tố giá phí

kiểm toán là một trong những nhân tố ảnh hưởng trong mô hình

(c) Dịch vụ phi kiểm toán mà DNKT cung cấp

Ảnh hưởng của dịch vụ phi kiểm toán đến CLKT luôn là mối quan tâm lớn của các nhà đầu tư, nhà quản lý và các chuyên gia trong lĩnh vực kế toán kiểm toán Tuy nhiên, không giống như các nhân tố khác, kết quả từ nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy dịch vụ phi kiểm toán không tác động đến CLKT theo một chiều nhất định mà có thể có tác động tiêu cực, tích cực hoặc không có tác động đến CLKT, cụ thể như sau:

- Về tác động tiêu cực: Các nghiên cứu của DeAngelo (1981), Sisumic (1984), Beck

và cộng sự (1988), Firth (2002) đều chỉ ra rằng việc cung cấp dịch vụ phi kiểm toán

có thể làm gia tăng mối quan hệ kinh tế giữa KTV và khách hàng Mối quan hệ này càng chặt chẽ thì tính khách quan của DNKT càng bị tổn hại do đó dẫn đến CLKT sẽ bị ảnh hưởng một cách tiêu cực Coffee (2004) cũng lưu ý rằng tỷ lệ giá phí dịch vụ phi kiểm toán so với giá phí kiểm toán cao có thể làm gia tăng sự thỏa hiệp của KTV với khách hàng do sự lo ngại về nguy cơ đánh mất khách hàng (theo nghiên cứu của Myungsoo Son, 2005)

Nghiên cứu thực nghiệm qua điều tra 1.500 KTV của Lindberg & Beck (2002) sau sự kiện Enron cho thấy phần lớn KTV đều đưa ra nhận định dịch vụ phi kiểm toán sẽ làm tổn hại đến tính độc lập của KTV Xét về phương diện đạo đức nghề nghiệp một khi tính độc lập bị suy giảm thì CLKT cũng suy giảm theo Các nghiên cứu trước đó của Mautz & Sharaf (1961) có đề cập đến việc dịch vụ tư vấn quản lý và tư vấn thuế của DNKT cung cấp sẽ ảnh hưởng đến tính độc lập của DNKT Ngoài ra, theo Simunic (1984) thì mối quan hệ kinh tế giữa khách hàng và DNKT có thể gia tăng do sự kết hợp việc cung cấp dịch vụ phi kiểm toán và dịch

vụ kiểm toán Chính lý do này đã làm cho DNKT có xu hướng nhượng bộ với khách hàng khi có sự bất đồng ý kiến trong quá trình thực hiện kiểm toán nhằm mục

Trang 32

đích giữ được khách hàng Phát hiện này phù hợp với các nghiên cứu DeFond và cộng sự (2002), Frankel và cộng sự (2002), Dee và cộng sự (2002) (theo nghiên cứu của Myungsoo Son, 2005).

- Về tác động tích cực: DeAngelo (1981) chỉ ra rằng CLKT phụ thuộc vào tính độc

lập và năng lực của KTV Vì vậy, dịch vụ phi kiểm toán góp phần làm tăng kiến thức của KTV về khách hàng, qua đó làm tăng khả năng phát hiện sai sót trong BCTC (Ashton, 1991) Điều này được cho là do hiệu quả của việc “lan tỏa tri thức”

từ việc thực hiện dịch vụ phi kiểm toán đến dịch vụ kiểm toán (Simunic, 1984) Phát hiện này phù hợp với kết quả các nghiên cứu của Antle và cộng sự (2002), Kinney và cộng sự (2004), Lennox (1999) Mặt khác, các nghiên cứu này cũng chỉ

ra rằng bên cạnh tác động tích cực đó thì dịch vụ phi kiểm toán đồng thời cũng làm giảm tính độc lập của KTV dẫn đến làm giảm CLKT (theo nghiên cứu của Myungsoo Son, 2005)

- Dịch vụ phi kiểm toán không có tác động đến CLKT: Ashbaugh và cộng sự (2003),

Chung và Kallapur (2003) đã nỗ lực trong việc chứng minh tác động tiêu cực của dịch vụ phi kiểm toán đến CLKT Tuy nhiên kết quả nghiên cứu thực nghiệm của

họ lại cho thấy hầu như không có một mối quan hệ nào giữa dịch vụ phi kiểm toán

và CLKT Reynolds và cộng sự (2004) cũng cho rằng tồn tại rất ít bằng chứng chứng minh cho tác động tiêu cực của dịch vụ phi kiểm toán đến tính khách quan của KTV Reynolds và Francis (2001) cũng đã nghiên cứu về mối quan hệ kinh tế giữa KTV và khách hàng Họ đặt ra giả thuyết rằng mức độ thỏa hiệp của KTV phụ thuộc vào tầm quan trọng của khách hàng (tỷ lệ doanh thu cung cấp dịch vụ cho khách hàng đó trên tổng doanh thu của DNKT), tuy nhiên kết quả thống kê lại cho thấy mối quan hệ kinh tế không làm ảnh hưởng đến ý kiến kiểm toán Điều này được giải thích là do nhưng nguy cơ bị kiện tụng và làm giảm danh tiếng đã áp đảo

sự phụ thuộc về kinh tế (theo nghiên cứu của Myungsoo Son, 2005)

Tóm lại, các nghiên cứu cho thấy dịch vụ phi kiểm toán có những tác động khác nhau như tích cực, tiêu cực hoặc không ảnh hưởng đến CLKT Tuy nhiên, hiện nay theo quy định tại VN cũng như trên thế giới, phần lớn dịch vụ phi kiểm toán đã

bị cấm cung cấp đồng thời với dịch vụ kiểm toán, nhằm tránh các nguy cơ dẫn đến

Trang 33

suy giảm CLKT Do đó, trong điều kiện hiện nay, tác giả không lựa chọn nhân tố này vào mô hình

(d) Nhiệm kỳ kiểm toán

CLKT cũng bị ảnh hưởng bởi nhiệm kỳ kiểm toán Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng nhiệm kỳ kiểm toán ngắn, KTV sẽ ít am hiểu hơn về khách hàng, dẫn đến CLKT thấp hơn dự kiến Và nhiệm kỳ kiểm toán dài hơn sẽ làm tăng khả năng phát hiện ra các sai sót nhờ có sự am hiểu về khách hàng, nhưng mối quan hệ lâu dài với khách hàng lại có thể làm giảm tính độc lập khi báo cáo các sai sót phát hiện được Bên cạnh đó, KTV cũng sẽ có xu hướng phát hành BCKT phù hợp với ý muốn của khách hàng trong năm đầu tiên kiểm toán hoặc trong thời gian khách hàng có khả năng đang muốn chuyển sang một DNKT khác, nhằm giữ khách hàng (Vanstraelen, 2000) Vì vậy, nếu không có sự xoay vòng kiểm toán nhất định, KTV

có nhiều khả năng muốn bảo vệ nhiệm kỳ lâu hơn bằng cách thỏa thuận với khách hàng Do đó, nhiệm kỳ kiểm toán dài có thể sẽ làm giảm CLKT (Adenuyi & Mieseigha, 2013; C.-Y Chen, Lin, 2008; F.A Gul và cộng sự, 2009; Johnson và cộng sự, 2002) (theo nghiên cứu của Hosseinniakani S.M và cộng sự, 2014)

Ngoài ra mối quan hệ lâu dài giữa KTV và khách hàng có thể gây ra sự quen thuộc giữa KTV và khách hàng, làm giảm tính độc lập, và giảm CLKT (Carey & Simnett, 2006) Vì vậy, luân chuyển KTV bắt buộc đã được khuyến cáo, để tăng tính độc lập của KTV và để ngăn chặn gian lận về việc ban hành báo cáo (Barbara

và cộng sự, 2006)

Tóm lại, hầu hết các nghiên cứu đều cho rằng nhiệm kỳ kiểm toán có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với CLKT Vì vậy, tác giả lựa chọn nhân tố nhiệm kỳ kiểm

toán là một trong những nhân tố ảnh hưởng trong mô hình

(e) Kiểm soát chất lượng từ bên trong

Nhìn chung các nghiên cứu chỉ ra rằng soát xét chất lượng từ bên trong tốt sẽ làm cải thiện đáng kể CLKT Theo báo cáo của Ủy ban trách nhiệm kiểm toán viên (CAR) năm 1978 tại Mỹ thì “nguy cơ bị phát hiện bởi người soát xét” là mối quan tâm lớn nhất khiến các KTV giảm thiểu các hành vi đe dọa CLKT Alderman và Deitrick (1982) đã phát hiện ra rằng 78% KTV đồng ý rằng các thủ tục soát xét

Trang 34

công việc giúp phát hiện ra các hành vi gây giảm CLKT Theo đó, hoạt động soát xét công việc của KTV nhiều kinh nghiệm hơn đối với KTV ít kinh nghiệm hơn trong nhóm kiểm toán và của các chủ phần hùn đối với các chủ nhiệm kiểm toán phụ trách nhóm kiểm toán được xem là cách hiệu quả để KSCL kiểm toán tại DNKT (Otley và Pierce, 1996)

Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng soát xét chất lượng hợp đồng dịch vụ kiểm toán giúp cải thiện các xét đoán của KTV về đánh giá rủi ro kiểm toán (Ayers và Kaplan, 2003) và giúp tìm ra các khiếm khuyết để từ đó lập kế hoạch kiểm tra tốt hơn (Matsumura và Tucker 1995) Nghiên cứu của Owhoso et al (2002) cũng chỉ ra rằng việc bổ nhiệm người soát xét có năng lực và nhiều kinh nghiệm trong ngành sẽ làm tăng khả năng phát hiện các vi phạm Bởi người soát xét có năng lực hạn chế thường có xu hướng bị ảnh hưởng quá mức bởi nhận thức về chất lượng của người

bị kiểm tra (Tan và Jamal 2001) Asare et al (2005) cũng tìm thấy xu hướng người soát xét có nhiều nỗ lực hơn trong việc phát hiện rủi ro, vi phạm khi thực hiện soát xét hợp đồng dịch vụ của khách hàng có rủi ro kiểm toán cao Bên cạnh đó, việc soát xét bằng cách phỏng vấn trực tiếp cũng được chứng minh là hiệu quả hơn việc đưa các bảng câu hỏi (Brazel và cộng sự, 2004; Agoglia và cộng sự, 2005) FavereMarchesi và Emby (2005) qua nghiên cứu thực nghiệm cũng đã phát hiện ra rằng việc soát xét chất lượng hợp đồng của khách hàng mới thường mang lại kết quả tốt hơn so với khách hàng cũ Phát hiện này hỗ trợ yêu cầu luân chuyển bắt buộc đối với khách hàng cũ của CMKiT ISQC 1 (theo nghiên cứu của Jean C Bedard và cộng sự, 2008)

Nghiên cứu của Malone và Roberts (1996) về mối quan hệ giữa sự tác động của hành vi làm giảm CLKT và áp lực thời gian đối với nhiệm vụ được giao đã chỉ

rõ sự cảm nhận áp lực của mỗi KTV về thủ tục quản lý và soát xét CLKT của công

ty mà họ đang làm việc có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với hành vi làm giảm CLKT Đồng thời Wooten (2003) cũng cho rằng, việc kiểm soát của chủ phần hùn

và chủ nhiệm kiểm toán, kinh nghiệm của từng KTV về ngành nghề và hoạt động kinh doanh của khách hàng, tính chuyên nghiệp của KTV, sự kiên trì và thái độ hoài nghi nghề nghiệp có ảnh hưởng đến CLKT (theo nghiên cứu của Phan Thanh Trúc, 2013)

Trang 35

Tóm lại, KSCL từ bên trong tốt sẽ thúc đẩy việc tuân thủ của KTV trong quá trình kiểm toán, góp phần nâng cao CLKT Vì vậy, tác giả lựa chọn nhân tố KSCL từ bên

trong là một trong những nhân tố ảnh hưởng trong mô hình

2.3.1.2 Nhân tố liên quan đến KTV

(a) Năng lực chuyên môn

Hầu hết các nghiên cứu đều chỉ ra rằng năng lực chuyên môn của KTV đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao CLKT Năng lực chuyên môn ở đây không chỉ là năng lực trong lĩnh vực kiểm toán và còn là những am hiểu trong những lĩnh vực hoạt động của khách hàng Những am hiểu này sẽ làm tăng cường khả năng phát hiện ra các sai sót, qua đó ảnh hưởng đến khả năng báo cáo các sai sót và làm gia tăng CLKT (Hammersley, 2006)

Sự phát triển nhanh chóng của các công ty hoạt động đa ngành nghề đã đặt ra những yêu cầu mới, đòi hỏi KTV tham gia kiểm toán có kiến thức trong nhiều lĩnh vực hoạt động Điều này đem lại ưu thế cho các DNKT có quy mô lớn khi họ có nhiều điều kiện để tuyển chọn những KTV có năng lực cùng với những kỹ thuật công nghệ hiện đại được áp dụng và những chương trình đạo tạo thường xuyên Bên cạnh đó, kiến thức của từng chuyên ngành cụ thể được tích lũy thông qua khách hàng, nhiệm vụ được giao và kinh nghiệm nghề nghiệp về ngành nghề liên quan (Bonner,1990) Nhờ vậy, khách hàng sẽ nhận được nhiều lợi ích hơn từ cuộc kiểm toán ngay cả trong nhiệm kỳ kiểm toán đầu tiên (Stanley & Todd DeZoort, 2007) Qua đó làm gia tăng CLKT, gia tăng sự tín nhiệm của thị trường và gián tiếp tác động đến giá phí kiểm toán Nghiên cứu của Wang & Iqbal (2009) đã chỉ ra rằng những DNKT có quy trình tuyển dụng chặt chẽ, chú trọng đến năng lực của nhân viên và có sự đầu tư cho việc đào tạo và cập nhật kiến thức thường xuyên thì luôn

có được chất lượng nhân viên tốt hơn, nhận được sự hài lòng từ phía khách hàng nhiều hơn qua đó sẽ tác động tích cực đến giá phí kiểm toán, làm gia tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường và nâng cao CLKT (theo nghiên cứu của Eko Suyono, 2012)

Nhiều nghiên cứu khác cũng chỉ rõ kiến thức và chuyên môn của KTV đóng vai trò rất quan trọng trong việc phát hiện ra những sai sót trong quá trình kiểm

Trang 36

toán (Owhoso và cộng sự, 2002), và có ý nghĩa quyết định đến kết quả của việc thực hiện các thủ tục phân tích (Wright và Wright, 1997) hay đánh giá các thành phần của rủi ro kiểm toán (Low, 2004; Hammersley, 2006; Maroney và Simnett, 2009) (theo nghiên cứu của Husam Al-Khaddash và cộng sự, 2013)

Tóm lại, kinh nghiệm, năng lực chuyên môn kiểm toán và sự am hiểu trong nhiều lĩnh vực hoạt động làm gia tăng CLKT cũng như giá phí kiểm toán Do đó, tác giả lựa chọn nhân tố năng lực chuyên môn của KTV là một trong những nhân

tố ảnh hưởng trong mô hình

(b) Đạo đức nghề nghiệp

Sự tiến bộ của xã hội đòi hỏi người hành nghề trong bất cứ lĩnh vực nào cũng phải tuân thủ đạo đức nghề nghiệp cơ bản Những người hành nghề đều dựa vào đặc thù và nguyên tắc chuẩn mực cơ bản có ảnh hưởng trọng yếu đến nghề nghiệp để làm nền tảng xây dựng đạo đức nhằm đảm bảo cho nghề nghiệp và sản phẩm của ngành nghề được xã hội trọng dụng, tôn vinh Người hành nghề kiểm toán cũng vậy, việc luôn giữ được đạo đức nghề nghiệp trong quá trình làm việc sẽ góp phần nâng cao CLKT và gây dựng được lòng tin của xã hội

Nhiều nghiên cứu đã chứng minh được mối quan hệ giữa tính độc lập và thái

độ hoài nghi nghề nghiệp của KTV với CLKT Baotham (2009) nghiên cứu tác động của tính độc lập, chất lượng, độ tin cậy dựa trên danh tiếng và thành công bền vững của các KTV công chứng (CPAs) ở Thái Lan Kết quả cho thấy rằng tính độc lập trong kiểm toán có mối quan hệ đồng biến với chất lượng và uy tín kiểm toán,

và một cuộc kiểm toán có chất lượng có sự liên kết tích cực với độ tin cậy của thông tin được kiểm toán

Nghiên cứu của Chen và cộng sự (2009) đã ghi nhận một mối quan hệ tích cực giữa thái độ hoài nghi nghề nghiệp và CLKT Cụ thể, KTV thực hiện mức độ cao hơn của sự hoài nghi nghề nghiệp nếu nhận thấy có nhiều khả năng đối đầu với một khách hàng hoặc thực hiện các thủ tục bổ sung khi bất thường (Shaub và Lawrence, 1996), hoặc nhận thấy có nhiều khả năng để phát hiện gian lận, ít tin tưởng vào khách hàng, và nhiều khả năng phải đầu tư ở mức độ cao đối với các nỗ lực trong quá trình kiểm toán (theo nghiên cứu của Phan Thanh Hải, 2014)

Trang 37

Tóm lại, đạo đức nghề nghiệp của người hành nghề kiểm toán có mối quan hệ

tỉ lệ thuận với CLKT Do vậy, tác giả lựa chọn nhân tố đạo đức nghề nghiệp của

KTV là một trong những nhân tố ảnh hưởng trong mô hình

(c) Tính cách của kiểm toán viên

Các nghiên cứu về tâm lý học của Jensen và Von Glinow (1985) và quản lý của Treviso (1986) cho rằng hành vi của từng cá nhân phản ánh tính cách của con người và được bộc lộ khi mà họ quyết định thực hiện một hành động nào đó (theo nghiên cứu của Phan Thanh Hải, 2014)

Hướng nghiên cứu về tính cách của KTV có ảnh hưởng đến CLKT hay không cũng được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Raghunathan và cộng sự (2001) đều cho rằng CLKT không phải khi nào cũng đạt được thông qua phân tích tính cách của các KTV trong cùng một DNKT Kelley và Margheim (1990) cũng cho rằng nếu một KTV có xu hướng thực hiện hành vi làm giảm CLKT thì đó có thể là do tính cách cá nhân của KTV Ngoài ra, nếu KTV có xu hướng bỏ sót các thủ tục kiểm toán thì chắc chắn CLKT sẽ bị ảnh hưởng theo chiều hướng tiêu cực Các tác giả này nhận định hành vi làm giảm CLKT được định nghĩa là hành động của KTV thực hiện trong cuộc kiểm toán mà hậu quả của nó là làm giảm tính hiệu lực

và tính thích hợp của các bằng chứng kiểm toán thu thập được

Như vậy, có thể thấy tính cách của KTV cũng có những ảnh hưởng nhất định đến chất lượng của cuộc kiểm toán Tuy nhiên, tác giả không lựa chọn nhân tố này vào mô hình vì nhân tố này mang tính xét đoán cao, khó đo lường trong thực tế

2.3.2 Nhân tố bên ngoài

2.3.2.1 Mục tiêu kiểm toán của khách hàng

Khách hàng là người sử dụng đầu tiên kết quả của kiểm toán, đồng thời họ cũng chính là người tạo điều kiện, phối hợp, cung cấp thông tin để kiểm toán thực hiện Mục đích kiểm toán của các khách hàng thường cũng rất khác nhau Đối với một số khách hàng mà mục tiêu kiểm toán BCTC chỉ nhằm đáp ứng yêu cầu luật định thì họ sẽ không đặt nặng vấn đề chất lượng Nhưng ngược lại đối với khách hàng khác, họ sử dụng dịch vụ kiểm toán ngoài mục đích như trên, họ còn mong muốn kiểm toán đóng góp ý kiến để họ hoàn thiện hệ thống KSNB Chính yêu cầu

Trang 38

này sẽ tạo áp lực buộc DNKT phải cải thiện hoạt động để nâng cao CLKT (Trần Thị Giang Tân, 2011)

2.3.2.2 Các chuẩn mực, quy định pháp lý

Việc công bố đầy đủ và thích hợp các quy định pháp lý, các chuẩn mực kế toán, kiểm toán và các quy định khác ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng hoạt động kiểm toán, vì nó chính là cơ sở để buộc các KTV và DNKT hoàn thiện CLKT, đáp ứng yêu cầu pháp lý (Trần Thị Giang Tân, 2011)

2.3.2.3 Sự cạnh tranh trên thị trường

Kallapur et al cho rằng nếu mức độ cạnh tranh giữa các công ty quá lớn sẽ làm giảm CLKT Khi có sự cạnh tranh cao, các công ty buộc phải giảm giá phí, buộc phải thỏa hiệp với khách hàng để giữ khách hàng Chính điều này có thể sẽ làm giảm CLKT (Trần Thị Giang Tân, 2011)

2.3.2.4 Kiểm soát chất lượng từ bên ngoài

Đạt được CLKT là quá trình lâu dài và phức tạp Muốn nâng cao chất lượng, không thể chỉ có vai trò của DNKT mà cần có sự kiểm soát từ bên ngoài KSCL từ bên ngoài chặt chẽ sẽ thúc đẩy các DNKT nâng cao chất lượng, giảm thiểu các bất cập, giúp hài hòa lợi ích của công chúng và giúp phát triển hoạt động kiểm toán Cơ chế KSCL hữu hiệu sẽ đảm bảo cho hoạt động kiểm toán phát triển KSCL từ bên ngoài không chỉ do Hội nghề nghiệp đảm nhận, mà còn có cả các cơ quan chức năng và toàn xã hội (Trần Thị Giang Tân, 2011)

Nghiên cứu của Colbert và O'Keefe (1995) đã xem xét gần 1.700 hồ sơ kiểm tra được thực hiện trong khoảng thời gian mười năm (1978-1987) của Ủy ban kế toán Bang Oregon của Mỹ Họ nhận thấy rằng chất lượng BCKT được cải thiện theo thời gian, đặc biệt là sau khi Ủy ban bắt đầu sử dụng các biện pháp trừng phạt cứng rắn hơn đối với báo cáo không đạt tiêu chuẩn Họ cũng tìm thấy rằng các DNKT nhỏ có nhiều khả năng vi phạm các CMKiT và phát hành BCKT không phù hợp (theo nghiên cứu của Jean C Bedard và cộng sự, 2008)

Nghiên cứu của O'Keefe et al (1994) sử dụng dữ liệu từ gần 1.000 hồ sơ kiểm tra của Văn phòng Ler của Tiểu bang California ở Mỹ, đã chỉ ra rằng trình độ chuyên môn cao về từng lĩnh vực của thành viên trong đoàn kiểm tra có liên quan

Trang 39

mật thiết đến việc phát hiện các vi phạm của DNKT và chất lượng của cuộc kiểm tra Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Deis và Giroux (1992)

Như vậy, nhân tố KSCL từ bên ngoài có ảnh hưởng đáng kể đến CLKT Do vậy, tác giả tác giả lựa chọn nhân tố KSCL từ bên ngoài là một trong những nhân

tố ảnh hưởng trong mô hình

2.4 Khuôn mẫu chất lƣợng kiểm toán theo Ủy ban quốc tế về chuẩn mực kiểm toán và dịch vụ đảm bảo (IAASB)

2.4.1 Lịch sử phát triển của Khuôn mẫu chất lƣợng kiểm toán

Nhằm thúc đẩy sự phát triển của nghề nghiệp kế toán và kiểm toán trên toàn thế giới vào năm 1977 Liên đoàn các nhà kế toán quốc tế (IFAC) được thành lập Đến năm 1980, IFAC ủy nhiệm cho Ủy ban Thực hành Kiểm toán quốc tế (IAPC) ban hành hệ thống chuẩn mực quốc tế về kiểm toán Các chuẩn mực ban đầu được ban hành dưới dạng các nguyên tắc chỉ đạo kiểm toán Trong các nguyên tắc chỉ đạo kiểm toán quốc tế, có nguyên tắc số 7 đề cập đến việc kiểm tra CLKT (nguyên tắc này được IAPC phê chuẩn vào tháng 7/1981 và ban hành vào tháng 9/1981) Nguyên tắc này đưa ra hướng dẫn về những phương pháp mà DNKT áp dụng nhằm kiểm soát việc ủy thác công việc cho các trợ lý trong một cuộc kiểm toán (Trần Thị Giang Tân, 2011)

Cuối thế kỷ 20, quá trình toàn cầu hóa và sự phát triển thị trường tài chính quốc tế đã làm tăng nhu cầu thông tin phục vụ cho các nhà đầu tư Sự phát triển của công nghệ thông tin đòi hỏi việc kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ các hệ thống và quy trình liên quan đến thông tin Các thay đổi này dẫn đến sự hình thành hàng loạt nhu cầu xã hội đối với việc nâng cao chất lượng thông tin Cũng trong thời gian này, sự sụp đổ hàng loạt các công ty hàng đầu trên thế giới như Enron, Wordcom… trong

đó có lỗi của các DNKT Sự sụp đổ và thất bại trong các cuộc kiểm toán buộc IFAC phải xem xét lại các chuẩn mực đã được ban hành nhằm nâng cao CLKT

Bên cạnh đó, vào năm 2002, IFAC ban hành chuẩn mực về dịch vụ đảm bảo

có tên là ISAE 100 Tầm quan trọng của dịch vụ đảm bảo được thể hiện thông qua việc Ủy ban Thực hành Kiểm toán quốc tế (IAPC) đổi tên thành Ủy ban quốc tế về CMKiT và dịch vụ đảm bảo (IAASB) Gần đây nhất, vào năm 2009, IAASB đã

Trang 40

hoàn thành kế hoạch (có tên gọi là “ Clarity Project”) nhằm hiệu đính và ban hành lại những CMKiT quốc tế (ISAs) để nâng cao sự hiểu biết về những CMKiT quốc tế

và làm cho những chuẩn mực này trở nên thích hợp hơn với luật lệ hiện hành

Ngày 03/01/2011, IAASB phát hành ấn phẩm “Chất lượng kiểm toán – Một quan điểm của IAASB” (Audit Quality – An IAASB perspective) mở đầu cho dự án

về Khuôn mẫu CLKT Ngày 15/01/2013, IAASB phát hành bản dự thảo về Khuôn mẫu CLKT và thu thập ý kiến phản hồi đến ngày 15/05/2013 Ngày 18/02/2014, IAASB đã phát hành bản chính thức mang tên “Khuôn mẫu chất lượng kiểm toán: Những yếu tố chính tạo nên một môi trường cho chất lượng kiểm toán” (A framework Audit Quality: Key elements that create an environment for Audit Quality) Đây là tài liệu mang tính tư vấn nhằm tạo môi trường thảo luận, trao đổi trong chuỗi cung ứng BCTC để đạt được sự cải tiến liên tục của CLKT, và không được dùng để thay thế cho các CMKiT, chuẩn mực KSCL, các yêu cầu về đạo đức nghề nghiệp và các quy định khác

2.4.2 Nội dung chính của Khuôn mẫu chất lƣợng kiểm toán

Khuôn mẫu CLKT được xây dựng nhằm mục tiêu (1) nâng cao nhận thức về các yếu tố chính của CLKT; (2) khuyến khích các bên liên quan chính tìm ra giải pháp để nâng cao CLKT; và (3) tạo điều kiện đối thoại tốt hơn giữa các bên liên quan chính về chủ đề này

Khuôn mẫu CLKT bao gồm năm yếu tố chính để tạo ra một môi trường có thể tối đa hóa khả năng nâng cao CLKT, đó là:

(1) Đầu vào

(2) Quy trình

(3) Kết quả đầu ra

(4) Sự tương tác trong chuỗi cung ứng BCTC

(5) Các yếu tố môi trường

Khuôn mẫu được áp dụng cho các cấp độ: nhóm kiểm toán, công ty kiểm toán, công

ty kiểm toán quốc gia và được mô tả qua bảng các yếu tố chính của khuôn mẫu

CLKT trong Phụ lục 1 Tóm tắt nội dung của các yếu tố như sau:

Ngày đăng: 04/06/2017, 21:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ tài chính, 2003. Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 220 “Kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán”, Quyết định số 28/2003/QĐ-BTC ngày 14/03/2003 2. Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008. Phân tích dữ liệu nghiên cứuvới SPSS, Tập 1, 2, Trường Đại học Kinh tế TP.HCM, NXB Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 220 “Kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán”," Quyết định số 28/2003/QĐ-BTC ngày 14/03/2003 2. Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008. "Phân tích dữ liệu nghiên cứu "với SPSS
Nhà XB: NXB Hồng Đức
3. Lâm Huỳnh Phương, 2013. Ảnh hưởng của việc luân chuyển KTV đến CL hoạt động kiểm toán BCTC tại VN, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của việc luân chuyển KTV đến CL hoạt động kiểm toán BCTC tại VN
4. Nhà xuất bản Từ điển bách khoa Việt Nam, 2005. Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, Nhà xuất bản Từ điển Bách Khoa Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Từ điển bách khoa Việt Nam
5. Nguyễn Bích Liên, 2012. Xác định và kiểm soát các nhân tố ảnh hưởng chất lượng thông tin kế toán trong môi trường ứng dụng hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp (ERP) tại các doanh nghiệp VN, luận án tiến sĩ, Trường Đại học Kinh tế TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định và kiểm soát các nhân tố ảnh hưởng chất lượng thông tin kế toán trong môi trường ứng dụng hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp (ERP) tại các doanh nghiệp VN
6. Nguyễn Đình Thọ, 2011. Phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh – thiết kế và thực hiện, TP. Hồ Chí Minh, NXB Lao động xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh –thiết kế và thực hiện
Nhà XB: NXB Lao động xã hội
7. Nguyễn Thị Ngọc Mai, 2013. Đánh giá tầm quan trọng của một số thuộc tính cá nhân của KTV đối với CLKT của các công ty KTĐL ở VN, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tầm quan trọng của một số thuộc tính cá nhân của KTV đối với CLKT của các công ty KTĐL ở VN
8. Nguyễn Thị Thảo Nguyên, 2013. Nghiên cứu ảnh hưởng của việc tuân thủ đạo đức nghề nghiệp đến CLKT và đề xuất giải pháp, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ảnh hưởng của việc tuân thủ đạo đức nghề nghiệp đến CLKT và đề xuất giải pháp
9. Phan Thanh Hải, 2014. Xác lập mô hình tổ chức cho hoạt động KTĐL ở VN để nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trong xu thế hội nhập, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Kinh tế TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác lập mô hình tổ chức cho hoạt động KTĐL ở VN để nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trong xu thế hội nhập
10. Phan Thanh Trúc, 2013. Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập nhằm thu hẹp khoảng cách mong đợi của xã hội về chất lượng kiểm toán tại Việt Nam, luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập nhằm thu hẹp khoảng cách mong đợi của xã hội về chất lượng kiểm toán tại Việt Nam
11. Tạp chí Quality Progress của Hội chất lượng Mỹ (ASQ), 2011. Những người làm thay đổi diện mạo khoa học chất lượng thế giới, Phan Chí Anh dịch, Viện năng suất Việt Nam, số 175-2011, [online] http://www.vnpi.vn/Desktop.aspx/Luandam175/Nhung nguoi lam thay doi dien mao khoa hoc chat luong the gioi/, ngày truy cập 15/8/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viện năng suất Việt Nam
12. Trần Khánh Lâm, 2011. Xây dựng cơ chế kiểm toán CL cho hoạt động KTĐL tại VN, luận án tiến sĩ, Trường Đại học Kinh tế TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng cơ chế kiểm toán CL cho hoạt động KTĐL tại VN
13. Trần Thị Giang Tân, 2011. Cơ sở lý luận và thực tiễn của kiểm soát CL hoạt động KTĐL ở VN, đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ cấp bộ, Trường Đại học Kinh tế TP.HCMTài liệu tham khảo tiếng anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận và thực tiễn của kiểm soát CL hoạt động KTĐL ở VN
14. Alderman, C.W and Deitrick, J.W., 1982. Auditors' perception of time budget pressures and premature sign-offs: A replication and extension, Auditing: A Journal of Practice & Theory 1, (Winter): 54-68 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Auditing: A Journal of Practice & Theory 1
15. Baotham, S. et al., 2009. Audit Independence, Quality, and Credibility: Effects on Reputation and “Sustainable Success of CPAs in Thailand, International Journal of Business Research, Vol.9, No.1, pp. 1-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sustainable Success of CPAs in Thailand, "International Journal of Business Research
16. Barbaba,A., Richard, B., and Kurt, P., 2006. Findings on the Effects of Audit Firm Rotation on the Audit Process under Varying Strengths of Corporate Governance, Advances in Accouting, 22(6), 1-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Advances in Accouting
17. Carey, P., and Simnett, R.., 2006. Audit partner tenure and audit quality, The Accounting Review, 81(3), 653-676 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Accounting Review
18. Commission on Auditors' Responsibilities (CAR), 1978. Report, Conclusions and Recommendations, New York: AICPA Sách, tạp chí
Tiêu đề: Report, Conclusions and Recommendations
20. Deis, D.R., and G.A.Giroux., 1992. Determinants of audit quality in the public sector, The Accounting Review, 67 (3): 462-479 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Accounting Review
21. Eko Suyono., 2012. Determinant Factors Affecting The Audit Quality: An Indonesian Perspective, Global review of Accounting and Finance, Vol.3, No.2, September 2012, pp. 42-57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Global review of Accounting and Finance
22. European Organization for Quality Control (EQC), 2012. Training Courses 23. Francis, J., 2004. What do we know about Audit Quality, British AccountingReview, 36, 345-368 Sách, tạp chí
Tiêu đề: British Accounting "Review

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Mô hình nghiên cứu 1 - Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập tại việt nam   khảo sát trên địa bàn TPHCM
Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu 1 (Trang 44)
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu - Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập tại việt nam   khảo sát trên địa bàn TPHCM
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu (Trang 46)
Bảng 3.9: Cấu trúc bảng câu hỏi và thang đo - Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập tại việt nam   khảo sát trên địa bàn TPHCM
Bảng 3.9 Cấu trúc bảng câu hỏi và thang đo (Trang 55)
Bảng 4.4: Thống kê tần số thang đo “Chất lượng kiểm toán” - Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập tại việt nam   khảo sát trên địa bàn TPHCM
Bảng 4.4 Thống kê tần số thang đo “Chất lượng kiểm toán” (Trang 62)
Bảng 4.6: Thống kê tần số thang đo “Giá phí kiểm toán” - Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập tại việt nam   khảo sát trên địa bàn TPHCM
Bảng 4.6 Thống kê tần số thang đo “Giá phí kiểm toán” (Trang 64)
Bảng 4.7: Thống kê tần số thang đo “Nhiệm kỳ kiểm toán” - Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập tại việt nam   khảo sát trên địa bàn TPHCM
Bảng 4.7 Thống kê tần số thang đo “Nhiệm kỳ kiểm toán” (Trang 65)
Bảng 4.8: Thống kê tần số thang đo “KSCL từ bên trong” - Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập tại việt nam   khảo sát trên địa bàn TPHCM
Bảng 4.8 Thống kê tần số thang đo “KSCL từ bên trong” (Trang 66)
Bảng 4.9 cho thấy, đối với nhân tố KSCL từ bên ngoài, các KTV đồng ý nhất  với  nhận  định  “Trình  độ  chuyên  môn  và  tính  chính  trực  của  các  thành  viên  trong  đoàn kiểm tra có liên quan mật thiết đến việc phát hiện các vi phạm của DNKT” với  88 - Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập tại việt nam   khảo sát trên địa bàn TPHCM
Bảng 4.9 cho thấy, đối với nhân tố KSCL từ bên ngoài, các KTV đồng ý nhất với nhận định “Trình độ chuyên môn và tính chính trực của các thành viên trong đoàn kiểm tra có liên quan mật thiết đến việc phát hiện các vi phạm của DNKT” với 88 (Trang 67)
Bảng 4.11: Thống kê tần số thang đo “ Đạo đức nghề nghiệp” - Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập tại việt nam   khảo sát trên địa bàn TPHCM
Bảng 4.11 Thống kê tần số thang đo “ Đạo đức nghề nghiệp” (Trang 68)
Bảng 4.13: Tổng phương sai trích (Total Variance Explained) - Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập tại việt nam   khảo sát trên địa bàn TPHCM
Bảng 4.13 Tổng phương sai trích (Total Variance Explained) (Trang 71)
Bảng 4.14: Ma trận nhân tố sau khi xoay (Rotated Component Matrix) - Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập tại việt nam   khảo sát trên địa bàn TPHCM
Bảng 4.14 Ma trận nhân tố sau khi xoay (Rotated Component Matrix) (Trang 72)
Hình 4.1: Mô hình nghiên cứu 2 - Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập tại việt nam   khảo sát trên địa bàn TPHCM
Hình 4.1 Mô hình nghiên cứu 2 (Trang 76)
Hình 4.2: Mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến CLKT 1 - Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập tại việt nam   khảo sát trên địa bàn TPHCM
Hình 4.2 Mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến CLKT 1 (Trang 79)
Đồ thị 4.1: Kết quả xếp loại chất lượng qua 3 năm - Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập tại việt nam   khảo sát trên địa bàn TPHCM
th ị 4.1: Kết quả xếp loại chất lượng qua 3 năm (Trang 81)
Hình 5.1: Mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến CLKT 2 - Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập tại việt nam   khảo sát trên địa bàn TPHCM
Hình 5.1 Mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến CLKT 2 (Trang 84)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w