Tất cả những điều ấy đều tác động mạnh mẽ đến sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống của người lao động ở các doanh nghiệp bất động sản.. Hiện nay, ở Việt Nam chưa có nhiều cuộc khảo sá
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
-
Trần Hoàng Nguyên
SỰ CÂN BẰNG GIỮA CÔNG VIỆC VÀ CUỘC SỐNG CỦA NHÂN VIÊN KINH DOANH Ở DOANH NGHIỆP BẤT ĐỘNG SẢN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH
PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh - Năm 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
-
Trần Hoàng Nguyên
SỰ CÂN BẰNG GIỮA CÔNG VIỆC VÀ CUỘC SỐNG CỦA NHÂN VIÊN KINH DOANH Ở DOANH NGHIỆP BẤT ĐỘNG SẢN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH
PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Quản Trị Kinh Doanh
Mã số: 60340102
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS TRƯƠNG QUANG DŨNG
TP Hồ Chí Minh - Năm 2014
Trang 3Dũng
Để hoàn thiện bài viết này, tôi cũng đã nhận được sự hướng dẫn, giúp
đỡ nhiệt tình của nhiều cá nhân và tập thể Vì vậy, tiếp theo tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến tập thể Giảng viên trường Đại học Kinh tế Thành phố
Hồ Chí Minh đã giảng dạy cho tôi các kiến thức cơ bản và chuyên sâu về kinh tế Cuối cùng, tôi xin cảm ơn sự ủng hộ của gia đình đã tạo điều kiện cho tôi mọi mặt để tôi chuyên tâm nghiên cứu, cùng với sự giúp đỡ của bạn bè đã
bổ sung các kiến thức còn thiếu của tôi trong lĩnh vực nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện và trình bày kết quả bài nghiên cứu, do hạn chế về mặt thời gian, số liệu cũng như kiến thức và kinh nghiệm của chính tôi nên không thể tránh khỏi những sai sót Tôi rất mong nhận được sự hướng dẫn thêm từ Quý thầy cô, sự chia sẻ, đóng góp của người thân, bạn bè và các độc giả để tôi có thể nghiên cứu tốt hơn nữa
TP Hồ Chí Minh, ngày 18 tháng 10 năm 2014
TÁC GIẢ
Trang 4TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN – GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT
VỀ KINH DOANH BẤT ĐỘNG SẢN 1
1.1 Giới thiệu khái quát về kinh doanh bất động sản 1
1.2 Lý do chọn đề tài 8
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 9
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
1.5 Phương pháp nghiên cứu 9
1.6 Ý nghĩa của nghiên cứu 10
1.7 Kết cấu báo cáo nghiên cứu 11
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 12
2.1 Cơ sở lý thuyết về cân bằng công việc và cuộc sống 12
2.1.1 Khái niệm cân bằng công việc và cuộc sống 12
2.1.2 Quy tắc PERMA cân bằng công việc và cuộc sống 12
2.1.3 Tháp nhu cầu Maslow 15
2.1.4 Khái niệm về stress 16
2.1.5 Lợi ích của việc xây dựng một môi trường làm việc hướng đến sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống 18
Trang 5kinh doanh bất động sản 19
2.2.1 Khái niệm bất động sản 19
2.2.2 Giới thiệu về nhân viên kinh doanh bất động sản 19
2.3 Mô hình nghiên cứu 21
2.3.1 Một số nghiên cứu về cân bằng công việc và cuộc sống của các học giả nước ngoài 21
2.3.2 Mô hình nghiên cứu của đề tài này 23
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VỀ SỰ CÂN BẰNG CÔNG VIỆC – CUỘC SỐNG 32
3.1 Thời gian 32
3.2 Thu nhập 36
3.3 Mối quan hệ 38
3.4 Chính sách, quy định của công ty 41
3.5 Sự lãnh đạo, quản lý 43
CHƯƠNG 4: ĐỊNH HƯỚNG KINH DOANH BẤT ĐỘNG SẢN VÀ GIẢI PHÁP CẢI THIỆN SỰ CÂN BẰNG 51
4.1 Định hướng kinh doanh bất động sản 51
4.2 Đánh giá chung về sự cân bằng công việc-cuộc sống 56
4.3 Giải pháp cải thiện sự cân bằng công việc-cuộc sống 58
4.3.1 Về phía doanh nghiệp 58
4.3.2 Về phía người lao động 59
4.3.3 Về phía các cơ quan quản lý nhà nước 64
4.4 Đóng góp chính của nghiên cứu 67
4.5 Các hạn chế trong nghiên cứu 68
Trang 6DANH MỤC PHỤ LỤC
Trang 7Trang Bảng 3.1 Mức độ uống rượu bia trong ngày 39
Trang 8Đồ thị 3.1 Mức độ cân bằng giữa công việc và cuộc sống – Thời
gian làm việc 32
Đồ thị 3.2 Mức độ cân bằng giữa công việc và cuộc sống – Thời gian dành cho giải trí, gia đình, thể dục thể thao 33
Đồ thị 3.3 Thứ tự ảnh hưởng của thời gian làm việc đến sự cân bằng 35
Đồ thị 3.4 Thu nhập 36
Đồ thị 3.5 Mức độ cân bằng giữa công việc và cuộc sống - Thu nhập 36
Đồ thị 3.6 Thứ tự ảnh hưởng của thu nhập đến sự cân bằng 37
Đồ thị 3.7 Việc xây dựng mối quan hệ 38
Đồ thị 3.8 Mức độ cân bằng giữa công việc và cuộc sống – Việc xây dựng mối quan hệ 39
Đồ thị 3.9 Thứ tự ảnh hưởng của mối quan hệ và thời gian dành cho việc xây dựng mối quan hệ đến sự cân bằng 40
Đồ thị 3.10 Đào tạo kỹ năng; chính sách, quy định 41
Đồ thị 3.11 Mức độ cân bằng giữa công việc và cuộc sống – Chính sách, quy định, đào tạo kỹ năng 41
Đồ thị 3.12 Thứ tự ảnh hưởng của chính sách, quy định của công ty đến sự cân bằng 43
Đồ thị 3.13 Mâu thuẫn, xung đột trong môi trường làm việc 43
Đồ thị 3.14 Mức độ cân bằng giữa công việc và cuộc sống – Mâu thuẫn, xung đột trong môi trường làm việc 44
Đồ thị 3.15 Thứ tự ảnh hưởng của mâu thuẫn, xung đột trong môi trường làm việc đến sự cân bằng 45
Đồ thị 3.16 Phân công công việc 45
Trang 9Đồ thị 3.18 Thiết kế, trang trí không gian làm việc 46
Đồ thị 3.19 Thứ tự ảnh hưởng của thiết kế, trang trí nơi làm việc
Trang 10Hình 2.1 Tháp nhu cầu của Maslow 16 Hình 2.2 Mô hình nghiên cứu 30
Trang 11CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN – GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ
KINH DOANH BẤT ĐỘNG SẢN
1.1 Giới thiệu khái quát về kinh doanh bất động sản:
Theo Luật Kinh Doanh Bất động sản số 63/2006/QH11 do Quốc Hội ban hành ngày 29/6/2006 thì hoạt động kinh doanh bất động sản bao gồm kinh doanh bất động sản và kinh doanh dịch vụ bất động sản
Kinh doanh bất động sản là việc bỏ vốn đầu tư tạo lập, mua, nhận chuyển nhượng, thuê, thuê mua bất động sản để bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, cho thuê mua nhằm mục đích sinh lợi
Kinh doanh dịch vụ bất động sản là các hoạt động hỗ trợ kinh doanh bất động sản và thị trường bất động sản, bao gồm các dịch vụ môi giới bất động sản, định giá bất động sản, sàn giao dịch bất động sản, tư vấn bất động sản, đấu giá bất động sản, quảng cáo bất động sản, quản lý bất động sản
Giao dịch bất động sản có liên quan đến kinh doanh bất động sản là việc mua bán, chuyển nhượng, thuê, thuê mua bất động sản giữa tổ chức, cá nhân không kinh doanh bất động sản với tổ chức, cá nhân kinh doanh bất động sản
Sàn giao dịch bất động sản là nơi diễn ra các giao dịch bất động sản và cung cấp các dịch vụ cho kinh doanh bất động sản
Đấu giá bất động sản là việc bán, chuyển nhượng bất động sản công khai
để chọn người mua, nhận chuyển nhượng bất động sản trả giá cao nhất theo thủ tục đấu giá tài sản
Mua bán, chuyển nhượng bất động sản trả chậm, trả dần là việc mua bán, chuyển nhượng bất động sản mà bên mua, bên nhận chuyển nhượng được trả chậm hoặc trả dần tiền mua, tiền chuyển nhượng bất động sản trong thời hạn thỏa thuận trong hợp đồng
Mua bán nhà, công trình xây dựng hình thành trong tương lai là việc mua bán nhà, công trình xây dựng mà tại thời điểm ký hợp đồng, nhà, công trình xây dựng đó chưa hình thành hoặc đang hình thành theo hồ sơ dự án, thiết kế bản vẽ thi công và tiến độ cụ thể
Trang 12Định giá bất động sản là hoạt động tư vấn, xác định giá của một bất động sản cụ thể tại một thời điểm xác định
Chứng thư định giá bất động sản là văn bản thể hiện kết quả định giá bất động sản do tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ định giá bất động sản lập khi có yêu cầu của khách hàng
Dịch vụ quản lý bất động sản là hoạt động của tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ bất động sản được chủ sở hữu hoặc chủ sử dụng bất động sản uỷ quyền thực hiện việc bảo quản, giữ gìn, trông coi, vận hành và khai thác bất động sản theo hợp đồng quản lý bất động sản
Thuê mua nhà, công trình xây dựng là hình thức kinh doanh bất động sản, theo đó bên thuê mua trở thành chủ sở hữu nhà, công trình xây dựng đang thuê mua sau khi trả hết tiền thuê mua theo hợp đồng thuê mua
Các nguyên tắc của hoạt động kinh doanh bất động sản là:
- Tổ chức, cá nhân hoạt động kinh doanh bất động sản bình đẳng trước pháp luật; tự do thỏa thuận trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia hoạt động kinh doanh bất động sản thông qua hợp đồng, không trái với quy định của pháp luật
- Bất động sản đưa vào kinh doanh phải có đủ điều kiện theo quy định của Luật Kinh Doanh Bất Động Sản và các quy định khác của pháp luật có liên quan
- Hoạt động kinh doanh bất động sản phải công khai, minh bạch
Các loại bất động sản được đưa vào kinh doanh bao gồm:
- Các loại nhà, công trình xây dựng theo quy định của pháp luật về xây dựng
- Quyền sử dụng đất được tham gia thị trường bất động sản theo quy định của pháp luật về đất đai
- Các loại bất động sản khác theo quy định của pháp luật
Nhà, công trình xây dựng đưa vào kinh doanh phải có các điều kiện sau đây:
- Thuộc đối tượng được phép kinh doanh
Trang 13- Đối với nhà, công trình xây dựng mới phải bảo đảm chất lượng theo quy định của pháp luật về xây dựng; đối với nhà, công trình xây dựng đã qua sử dụng thì yêu cầu về chất lượng do các bên thỏa thuận trong hợp đồng
- Không có tranh chấp về quyền sở hữu
- Không bị kê biên để thi hành án hoặc để chấp hành quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
- Không nằm trong khu vực cấm xây dựng theo quy định của pháp luật về xây dựng
- Có hồ sơ bao gồm giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, công trình xây dựng và quyền sử dụng đất hoặc giấy tờ hợp pháp chứng minh quyền sở hữu, quyền sử dụng theo quy định của pháp luật đối với nhà, công trình xây dựng đã
có sẵn; giấy phép xây dựng hoặc hồ sơ dự án và thiết kế bản vẽ thi công đã được phê duyệt đối với nhà, công trình đang xây dựng; thiết kế bản vẽ thi công, hồ sơ hoàn công và biên bản nghiệm thu bàn giao đưa vào sử dụng đối với nhà, công trình xây dựng thuộc dự án khu đô thị mới, dự án khu nhà ở, dự án hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp chưa có giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng;
hồ sơ dự án, thiết kế bản vẽ thi công và tiến độ xây dựng nhà, công trình xây dựng đã được phê duyệt đối với nhà, công trình xây dựng hình thành trong tương lai
Quyền sử dụng đất đưa vào kinh doanh phải có các điều kiện sau đây:
- Thuộc đối tượng được phép kinh doanh
- Có giấy tờ hợp pháp chứng minh quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật
Trang 14có các công trình hạ tầng tương ứng với nội dung và tiến độ của dự án đã được phê duyệt
Điều kiện đối với tổ chức, cá nhân hoạt động kinh doanh bất động sản như sau:
- Tổ chức, cá nhân khi kinh doanh bất động sản phải thành lập doanh nghiệp hoặc hợp tác xã, phải có vốn pháp định và đăng ký kinh doanh bất động sản theo quy định của pháp luật
- Tổ chức, cá nhân khi kinh doanh dịch vụ bất động sản phải thành lập doanh nghiệp hoặc hợp tác xã, đăng ký kinh doanh dịch vụ bất động sản theo quy định của pháp luật Tổ chức, cá nhân khi kinh doanh dịch vụ môi giới bất động sản phải có ít nhất một người có chứng chỉ môi giới bất động sản; khi kinh doanh dịch vụ định giá bất động sản phải có ít nhất hai người có chứng chỉ định giá bất động sản; khi kinh doanh dịch vụ sàn giao dịch bất động sản phải có ít nhất hai người có chứng chỉ môi giới bất động sản, nếu có dịch vụ định giá bất động sản thì phải có ít nhất hai người có chứng chỉ định giá bất động sản
- Cá nhân kinh doanh dịch vụ môi giới bất động sản độc lập phải đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật và có chứng chỉ môi giới bất động sản
Tổ chức, cá nhân trong nước được kinh doanh bất động sản trong phạm vi sau đây:
- Đầu tư tạo lập nhà, công trình xây dựng để bán, cho thuê, cho thuê mua
- Mua nhà, công trình xây dựng để bán, cho thuê, cho thuê mua
- Thuê nhà, công trình xây dựng để cho thuê lại
- Đầu tư cải tạo đất và đầu tư các công trình hạ tầng trên đất thuê để cho thuê đất đã có hạ tầng
- Nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, đầu tư công trình hạ tầng để chuyển nhượng, cho thuê; thuê quyền sử dụng đất đã có hạ tầng để cho thuê lại
Tổ chức, cá nhân trong nước được kinh doanh dịch vụ bất động sản trong phạm vi sau đây:
- Dịch vụ môi giới bất động sản
- Dịch vụ định giá bất động sản
Trang 15- Đầu tư tạo lập nhà, công trình xây dựng để bán, cho thuê, cho thuê mua
- Đầu tư cải tạo đất và đầu tư các công trình hạ tầng trên đất thuê để cho thuê đất đã có hạ tầng
- Kinh doanh dịch vụ bất động sản theo quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật Kinh Doanh Bất Động Sản
Thị trường bất động sản có những đặc điểm sau đây:
- Thị trường bất động sản mang tính vùng, tính khu vực, tính sâu sắc và không tập trung, trải rộng trên các vùng của đất nước:
Bất động sản là một loại hàng hoá cố định và không thể di dời về mặt vị trí và nó chịu ảnh hưởng của các yếu tố tập quán, tâm lý, thị hiếu Trong khi đó, tâm lý, tập quán, thị hiếu của mỗi vùng, mỗi địa phương lại khác nhau Chính vì vậy, hoạt động của thị trường bất động sản mang tính địa phương sâu sắc Mặt khác, thị trường bất động sản mang tính không tập trung mà trải rộng ở mọi vùng trên đất nước Sản phẩm hàng hoá bất động sản có dư thừa ở vùng này cũng không thể đem bán ở vùng khác được Bên cạnh đó, mỗi thị trường mang bản chất địa phương với quy mô và trình độ khác nhau do có sự phát triển không đều giữa các vùng, các miền, do điều kiện tự nhiên và trình độ phát triển kinh tế-văn hoá-xã hội khác nhau dẫn đến quy mô và trình độ phát triển của thị trường bất động sản khác nhau Thị trường bất động sản ở các đô thị có quy mô và trình độ phát triển kinh tế cao thì hoạt động sôi động hơn thị trường bất động sản ở nông thôn, miền núi
- Cung của thị trường bất động sản phản ứng “trễ” so với cầu:
Trang 16Do đặc điểm đầu tư bất động sản thường có thời gian dài từ 2 – 3 năm mới
có sản phẩm, vì vậy khi nghiên cứu thị trường quyết định đầu tư thì 3 năm sau mới có sản phẩm tung ra thị trường Mặt khác, do tính không di rời được của hàng hóa bất động sản nên trên thị trường bất động sản, cầu luôn phản ứng trễ so với cung
- Thị trường bất động sản có tính chu kỳ:
Do đặc điểm không di dời được và đặc điểm “trễ” của cung so với cầu nên thị trường bất động sản luôn có tính chu kỳ Chu kỳ dao động của thị trường bất động sản gồm có 4 giai đoạn: phồn vinh (sôi động), suy thoái (có dấu hiệu chững lại), tiêu điều (đóng băng) và phục hồi (nóng dần lên có thể gây “sốt”) Chẳng hạn như thị trường bất động sản nước Mỹ trong khoảng 1 thế kỉ (1870-1973) trải qua 6 chu kỳ dao động, bình quân mỗi chu kỳ khoảng 18 năm; thị trường bất động sản nước Nhật từ 1956 đến nay trải qua 4 chu kỳ, mỗi chu kỳ khoảng 10 năm; thị trường bất động sản Hồng Kông từ sau chiến tranh thế giới thứ II đền nay đã có 8 chu kỳ dao động, chu kỳ ngắn hạn là từ 6-7 năm, dài là 9-10 năm, trung bình là 8-9 năm Thị trường bất động sản Trung Quốc tuy hình thành chưa lâu nhưng từ năm 1978 đến nay cũng đã có 4 chu kỳ dao động, trong đó đáng chú
ý có chu kỳ cực ngắn 1992-1994, tăng trưởng “phi mã” trong 2 năm 1992-1993 rồi suy sụp rất nhanh trong năm 1994
- Thị trường bất động sản có tính thanh khoản thấp:
Bất động sản có giá trị lớn, qua nhiều thủ tục công chứng, nộp thuế, làm trước bạ… đồng thời bất động sản mang nhiều yếu tố tâm lý, xã hội nên người mua rất cân nhắc Do vậy, việc mua bán bất động sản rất chậm, yếu tố này tạo nên tính thanh khoản thấp của bất động sản
- Thị trường bất động sản là thị trường khó thâm nhập, cạnh tranh không hoàn hảo, dễ nảy sinh tình trạng độc quyền:
Đặc điểm này xuất phát từ những đặc trưng riêng của mỗi vùng, chịu sự chi phối của điều kiện tự nhiên cũng như truyền thống và tập quán, thị hiếu, tâm
lý xã hội trong quá trình sử dụng bất động sản Thậm chí, ngay trong bản thân các thị trường địa phương, sự hiểu biết về các giao dịch cũng không hoàn hảo,
Trang 17người mua và người bán thường thiếu thông tin liên quan đến những giao dịch trước đó Sự tác động của nhà nước là một trong các yếu tố tạo nên tính không hoàn hảo của thị trường bất động sản Bất kỳ nhà nước nào đều có sự can thiệp vào thị trường bất động sản ở các mức độ khác nhau, trong đó chủ yếu là đất đai
để thực hiện các mục tiêu phát triển chung Bất động sản có tính dị biệt, tin tức thị trường hạn chế, đất đai trên thị trường sơ cấp phụ thuộc vào quyết định của Nhà nước nên thị trường bất động sản là thị trường cạnh tranh không đầy đủ Mặt khác, thị trường bất động sản không hoàn hảo còn do tính chất không tái tạo được của đất, nên thị trường bất động sản mang tính độc quyền, đầu cơ nhiều hơn các thị trường hàng hoá khác
- Thị trường bất động sản chịu sự chi phối của yếu tố pháp luật:
Bất động sản là tài sản lớn của mỗi quốc gia, là hàng hoá đặc biệt, các giao dịch về bất động sản tác động mạnh mẽ đến hầu hết các hoạt động kinh tế-
xã hội Do đó, các vấn đề về bất động sản đều chịu sự chi phối và điều chỉnh chặt chẽ của hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật riêng về bất động sản, đặc biệt
là hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về đất đai và nhà ở Đặc điểm này đặc biệt đúng ở nước ta do thị trường đất đai cấp I (thị trường sơ cấp-giao đất và cho thuê đất) là chịu tác động lớn nhất của các quyết định của nhà nước Chính phủ các nước trên thế giới đều quan tâm đến bất động sản và thị trường bất động sản, luôn điều chỉnh chính sách về bất động sản và thị trường bất động sản nhằm huy động các nguồn lực về bất động sản phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế-
Trang 18v.v , giải quyết vấn đề lưu thông tiền tệ, thu hồi vốn đầu tư và mang lại lợi nhuận cho các bên giao dịch Điều này chứng tỏ thị trường bất động sản là đầu ra quan trọng của thị trường vốn
Ngược lại, thị trường bất động sản hoạt động tốt là cơ sở để huy động được nguồn tài chính lớn cho phát triển kinh tế thông qua thế chấp và giải ngân Theo thống kê, ở các nước phát triển lượng tiền ngân hàng cho vay qua thế chấp bằng bất động sản chiếm trên 80% trong tổng lượng vốn cho vay
Ngoài ra, thị trường bất động sản còn có quan hệ trực tiếp với thị trường xây dựng và qua đó mà bắc cầu tới các thị trường vật liệu xây dựng và đồ nội thất, thị trường lao động v.v dao động của thị trường này có ảnh hưởng lan tỏa tới sự phát triển ổn định của nền kinh tế quốc dân
1.2 Lý do chọn đề tài
Qua phần giới thiệu khái quát về thị trường bất động sản và kinh doanh bất động sản ở trên, ta có thể thấy lĩnh vực kinh doanh bất động sản đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế Trong bối cảnh nền kinh tế đang trên đà tăng trưởng và phát triển mạnh, hoạt động của thị trường bất động sản ngày càng trở nên sôi động và có những biểu hiện vượt ra ngoài tầm kiểm soát của nhà nước Các quan hệ cung cầu và giao dịch về bất động sản chủ yếu diễn ra thông qua thị trường ngầm, phi chính thức Sự biến động bất thường về giá cả bất động sản, những cơn sốt đất đai cũng như tình trạng đóng băng của thị trường này cho đến nay vẫn chưa có giải pháp điều chỉnh hữu hiệu Trong bối cảnh ấy, người lao động ở các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản chịu nhiều tác động, áp lực, rủi ro trong môi trường làm việc, kinh doanh hơn nhiều ngành nghề khác Khi thị trường bất động sản tăng trưởng nóng, người lao động ở các doanh nghiệp bất động sản phải làm việc cả ngày đêm, làm việc ngoài giờ, làm việc vào những ngày cuối tuần, ngày lễ để đáp ứng yêu cầu của khách hàng Điều đó khiến cho
họ không có đủ thời gian dành cho bản thân và gia đình Ngược lại, khi thị trường bất động sản suy thoái, nhiều doanh nghiệp bất động sản phải thu hẹp quy
mô hoạt động hoặc giải thể khiến cho một bộ phận không nhỏ những người lao
Trang 19động ở các doanh nghiệp bất động sản bị mất việc làm, thu nhập của những người lao động còn lại ở các doanh nghiệp bất động sản cũng bị giảm sút khiến
họ phải làm thêm những công việc bán thời gian, làm thêm nghề tay trái để kiếm thêm thu nhập nhằm trang trải cho cuộc sống gia đình Tất cả những điều ấy đều tác động mạnh mẽ đến sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống của người lao động ở các doanh nghiệp bất động sản
Hiện nay, ở Việt Nam chưa có nhiều cuộc khảo sát, nghiên cứu về việc tạo lập sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống cho các cá nhân làm việc trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản Đó là lý do tác giả chọn đề tài nghiên cứu này
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài này là:
- Đo lường các yếu tố trong công việc, trong môi trường làm việc có ảnh hưởng đến sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống của các nhân viên kinh doanh (đã lập gia đình) làm việc tại các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản
- Đánh giá thực trạng cân bằng công việc-cuộc sống của các nhân viên kinh doanh (đã lập gia đình) làm việc tại các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản, từ đó nêu các giải pháp nhằm cải thiện sự cân bằng công việc-cuộc sống
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: là sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống của các nhân viên kinh doanh (đã lập gia đình) làm việc tại các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản
- Phạm vi và đám đông nghiên cứu: 100 nhân viên kinh doanh (đã lập gia đình) tại 50 doanh nghiệp kinh doanh bất động sản trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh (Phụ lục 3)
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện thông qua 2 bước chính: nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức
Trang 20- Nghiên cứu sơ bộ: được thực hiện thông qua nghiên cứu định tính và định lượng sơ bộ
+ Nghiên cứu định tính: nhằm tìm hiểu sơ bộ về các yếu tố trong công việc, trong môi trường làm việc có ảnh hưởng đến sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống của các nhân viên kinh doanh tại các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản bằng cách sử dụng kết quả nghiên cứu của các học giả nước ngoài, các
dữ liệu thứ cấp có sẵn trên báo chí, tivi, trên internet, … kết hợp với dữ liệu sơ cấp thu được qua các cuộc phỏng vấn với 10 nhân viên kinh doanh bất động sản (Phụ lục 4) để xây dựng mô hình nghiên cứu
+ Nghiên cứu định lượng sơ bộ: được thực hiện thông qua bảng câu hỏi định lượng sơ bộ do 100 nhân viên kinh doanh ở các doanh nghiệp bất động sản trả lời và kết quả được dùng để kiểm tra lại mô hình nghiên cứu
- Nghiên cứu chính thức: được thực hiện thông qua phương pháp nghiên cứu định lượng Số liệu thu thập thông qua bảng câu hỏi được 100 nhân viên kinh doanh ở 50 doanh nghiệp bất động sản trả lời Mục đích chính của nghiên cứu này là nhằm thống kê mô tả, giải thích ảnh hưởng của các yếu tố trong công việc, trong môi trường làm việc đến sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống của các nhân viên kinh doanh tại các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản Từ đó, đưa
ra các giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn sự cân bằng này
- Công cụ thu thập dữ liệu: sử dụng phương pháp phỏng vấn, khảo sát bằng bảng câu hỏi
- Công cụ phân tích dữ liệu: sử dụng phương pháp thống kê của phần mềm SPSS để phân tích
- Chọn mẫu theo phương pháp ngẫu nhiên thuận tiện
1.6 Ý nghĩa nghiên cứu
Giúp cho các tổ chức, cá nhân nắm bắt được ảnh hưởng của các yếu tố trong công việc, trong môi trường làm việc đến sự cân bằng trong công việc và cuộc sống để từ đó có những định hướng, thực hiện xây dựng một môi trường làm việc đáp ứng hài hòa mối quan tâm và lợi ích của các bên
Trang 211.7 Kết cấu báo cáo nghiên cứu
Báo cáo nghiên cứu bao gồm 4 chương:
- Chương 1: Tổng quan – Giới thệu khái quát về kinh doanh bất động sản
- Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu
- Chương 3: Thực trạng về sự cân bằng công việc-cuộc sống
- Chương 4: Định hướng kinh doanh bất động sản và giải pháp cải thiện sự cân bằng công việc-cuộc sống
Trang 22CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý thuyết về cân bằng công việc và cuộc sống
2.1.1 Khái niệm cân bằng công việc và cuộc sống
Cân bằng công việc và cuộc sống (work-life balance) được đề cập đến lần đầu tiên năm 1986, sau khi có rất nhiều người lao động chọn cách cống hiến hết mình cho công việc mà xao lãng hoàn toàn gia đình, bạn bè, thư giãn và chỉ chuyên tâm vào việc làm sao để đạt được những mục tiêu của công ty (theo nghiên cứu của Trung Tâm điều độ giữa công việc và cuộc sống (Work-Life Balance Centre) tại Newton Burgoland, Leicestershire, Anh)
Sự cân bằng công việc và cuộc sống được định nghĩa như là sự thỏa mãn
và thực hiện tốt các chức năng tại nơi làm việc và gia đình với sự xung đột về vai trò ở mức tối thiểu (Clark, 2000)
Sự cân bằng công việc và cuộc sống được định nghĩa như là sự không có các mức độ xung đột không thể chấp nhận được giữa công việc và các nhu cầu phi công việc (Greenblatt, 2002)
Sự cân bằng công việc và cuộc sống là phạm vi mà ở đó sự thỏa mãn và tính hiệu quả của cá nhân trong công việc và trong các vai trò ở gia đình phù hợp với những điều ưu tiên trong cuộc sống của cá nhân ấy (Greenhaus và Allen, 2006)
Sự cân bằng công việc và cuộc sống được định nghĩa là sự hoàn thành những vai trò trông đợi, cái mà được thỏa thuận và chia sẻ giữa cá nhân với các bên thực hiện vai trò liên quan trọng phạm vi công việc và gia đình (Grzywacs
và Carlson, 2007)
Xung đột giữa công việc và gia đình (work-life conflict) là hình thức xung đột về vai trò được mô tả như là một sự không phù hợp giữa các trách nhiệm đối với gia đình và nơi làm việc (Greenhaus và Beutelle, 1985)
2.1.2 Quy tắc PERMA cân bằng cuộc sống
Trang 23Quy tắc này được Martin Sligman, một nhà tâm lý học rất có uy tín công
bố rộng rãi trong quyển “Flourish” (Thành đạt) của ông – một quyển sách có tầm ảnh hưởng lớn xuất bản năm 2011 PERMA gồm 5 yếu tố sau:
- Những cảm xúc tích cực (P – Positive Emotions):
Những cảm xúc tích cực có thể kế đến như cảm giác hài lòng, hạnh phúc, thỏa mãn, bình yên, vui vẻ, tràn đầy hứng khởi… Những cảm xúc này mang đến cho bạn một nguồn năng lượng tràn trề cho công việc lẫn cuộc sống Vì vậy, nếu bạn thấy mình vẫn chưa nếm trải đủ những cảm xúc tích cực trong cuộc sống, hãy ngừng lại và tự hỏi tại sao
Trước tiên, xét về khía cạnh nghề nghiệp Bạn đã thực sự phát huy hết tài năng và thế mạnh của mình trong vai trò hiện tại chưa? Bạn chỉ có thể hài lòng
và hạnh phúc với công việc khi làm đúng việc yêu thích và phù hợp Đồng thời, hãy dành đôi chút thời gian để xác định ai hay điều gì có thể đem lại niềm vui cho bạn Ví dụ bạn thích được ở ngoài trời và hòa mình vào thiên nhiên Vậy sao bạn không thử mang một chút mảnh xanh vào văn phòng hay góc làm việc của mình để cảm nhận được sự bình yên? Đơn giản là để thổi vào nếp sống thường nhật của bạn những luồng cảm xúc tích cực và những nguồn vui mới Đừng trì hoãn những việc mang lại cho bạn khoảnh khắc hạnh phúc
- Sự gắn kết (E – Engagement):
Chỉ khi gắn kết thật sự với những việc đang làm, bạn mới đạt được kết quả tốt nhất Cách tốt nhất để thật sự gắn kết với công việc là hãy yêu thích công việc đó Hãy tìm những khía cạnh trong công việc mà bạn yêu thích như những
dự án phù hợp, những người đồng nghiệp thân thiện, môi trường làm việc hay những điều bạn có thể học hỏi được Nếu bạn không thể trả lời được câu hỏi
“Bạn thích gì ở công việc hiện tại?” thì đã đến lúc bạn tìm cho mình công việc mới thích hợp hơn
Tiếp đó, hãy gắn kết bản thân với những điều bạn yêu thích trong cuộc sống Chẳng hạn như đọc sách, xem phim, đi dạo, gặp gỡ bạn bè hay chơi thể thao… Chính những sở thích này sẽ giúp bạn giảm stress, lấy lại cân bằng
- Những mối quan hệ tích cực (R – Positive Relationships):
Trang 24Con người là “những thực thể xã hội”, và những mối quan hệ tốt chính là cốt lõi của sự thành công Thông thường, những người có mối quan hệ tích cực
và nhiều ý nghĩa thường hạnh phúc hơn những ai không có được điều đó Bạn có những mối quan hệ tích cực trong cuộc sống không? Đó có thể là mối quan hệ gia đình, bạn bè, hay đồng nghiệp Phần lớn thời gian của bạn tại nơi làm việc, mối quan hệ tốt với đồng nghiệp sẽ hỗ trợ bạn đắc lực trong công việc và giúp cân bằng cuộc sống nơi công sở
Tiếp đến, hãy nhìn lại cuộc sống cá nhân của bạn Đã bao lâu rồi bạn chưa gặp người bạn thân? Sinh nhật của cha/mẹ bạn là ngày nào và bạn đã chuẩn bị gì chưa? Đôi khi cuộc sống bận rộn làm bạn xao lãng những mối quan hệ gia đình, bạn bè, những người luôn ở bên bạn dù bạn thành công hay thất bại Hãy cam kết
sẽ dành nhiều thời gian hơn cho gia đình, bạn bè và duy trì điều này thật đều đặn Bạn không thể hạnh phúc khi không có họ trong cuộc đời này
- Ý nghĩa cuộc sống (M – Meaning):
Ý nghĩa cuộc sống đến từ việc phục vụ cho một mục đích lớn lao hơn chính bản thân mình Mỗi người sẽ có những cảm nhận khác nhau về ý nghĩa cuộc sống, đó có thể xuất phát từ tôn giáo hay từ mong muốn một cuộc sống tốt đẹp cho mọi người Hãy tìm kiếm ý nghĩa trong từng việc bạn làm để nuôi dưỡng cho mình cảm xúc vui sống Ví dụ, công việc bạn đang làm phục vụ cho ai, và mang lại cho họ những gì? Đây chính là động lực giúp bạn làm tốt công việc với niềm tự hào Ngoài ra, hãy dành thời gian bên gia đình, tham gia các hoạt động
từ thiện… tất cả điều này giúp bạn sống có ý nghĩa hơn, khi đó bạn sẽ cảm thấy thật sự hài lòng
- Thành tích (A – Accomplishments/Achievement):
Nhiều người trong chúng ta luôn phấn đấu để hoàn thiện bản thân theo một cách nào đó, có thể là phát triển một kỹ năng, thăng tiến trong công việc hay chiến thắng ở một cuộc thi Không lời nào có thể diễn tả được niềm vui và niềm
tự hào khi đạt được những thành tích trên
Thành tích chính là những mục tiêu bạn luôn cố hết sức để đạt được trong công việc lẫn cuộc sống Xác định điều bạn thực sự muốn và đạt được những
Trang 25điều này sẽ giúp cuộc sống thăng hoa Vậy đâu là những điều bạn muốn? Trả lời một số câu hỏi sau sẽ giúp bạn:
+ 5 giá trị quan trọng nhất trong cuộc sống của bạn là gì?
+ 3 mục tiêu quan trọng nhất trong đời bạn, ngay lúc này là gì?
+ Nếu hôm nay bạn biết rằng mình chỉ còn sống trong 6 tháng, bạn sẽ làm
gì với khoảng thời gian còn lại?
+ Bạn sẽ làm gì nếu ngày mai bạn trúng 1 triệu đô la tiền mặt?
+ Bạn đã luôn muốn làm gì, nhưng lại ngại thử sức?
+ Bạn thích làm gì nhất? Điều gì đem lại cho bạn cảm giác tự hào và hài lòng về bản thân nhất?
+ Giả sử bạn biết mình sẽ không thất bại, thì điều vĩ đại nhất bạn từng dám ước mơ là gì?
Tuy nhiên, nếu quá thúc ép bản thân đạt được nhiều thành tích hơn, bạn sẽ cảm thấy áp lực và mệt mỏi dẫn đến mất cân bằng trong công việc và cuộc sống Nếu bạn đang rơi vào trạng thái này thì đây có lẽ là thời điểm để nhìn lại và tập trung vào những yếu tố khác của quy tắc PERMA
2.1.3 Tháp nhu cầu của Maslow
Vào năm 1954, Abraham Maslow đã đưa ra đưa ra quan điểm về nhu cầu của con người và nhu cầu này được sắp xếp theo các thứ bậc khác nhau Học thuyết của ông được dựa trên những con người khoẻ mạnh, sáng tạo, những người sử dụng tất cả tài năng, tiềm năng và năng lực trong công việc Vào thời điểm đó, phương pháp này khác biệt với các công trình nghiên cứu tâm lý con người khác được dựa trên việc quan sát con người bị chi phối bởi các phiền muộn là chủ yếu Có hai nhóm nhu cầu chính của con người: Nhu cầu cơ bản (basic needs) và Nhu cầu bậc cao (meta needs) Nhu cầu cơ bản liên quan đến các yếu tố thể lý như thức ăn, nước uống, ngủ nghỉ và các yếu tố tâm lý như cảm xúc, cảm giác an toàn, lòng tự tôn Những nhu cầu cơ bản này cũng được gọi là các nhu cầu thiếu hụt (deficiency needs) vì nếu con người không có đủ những nhu cầu này, họ sẽ đấu tranh để có được nó, bù đắp bằng được sự thiếu hụt Nhu
Trang 26cầu bậc cao là các nhu cầu cao hơn hay nhu cầu hiện hành (nhu cầu phát triển) Những nhu cầu này bao gồm sự công bằng, lòng tốt, vẻ đẹp, thứ bậc, sự đồng lòng nhất trí, v.v…
Hình 2.1 Tháp nhu cầu của Maslow
2.1.4 Khái niệm về stress
Theo Y học hiện đại, thuật ngữ này được sử dụng lần đầu năm 1914 bởi Walter Cannon Có rất nhiều định nghĩa về stress theo các khía cạnh khác nhau
Theo định nghĩa của Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO), stress là sự phản ứng thông qua thể chất, tinh thần, hoặc tình cảm của cơ thể con người với các tác nhân gây ra căng thẳng từ bên ngoài Các tác nhân đó có thể là áp lực từ công việc và tài chính; sự đổ vỡ về mặt tình cảm; các vấn đề về sức khỏe như thiếu ngủ, bệnh tật; do sử dụng các chất kích thích kéo dài như bia, rượu, thuốc lá,…
Có thể chia tác nhân gây stress ra làm hai nhóm chính:
- Nguyên nhân bên ngoài: công việc, các vấn đề rắc rối, trong quan hệ cá nhân, tài chính, những thay đổi chính trong cuộc sống, gia đình và con cái…
- Nguyên nhân bên trong (chủ quan) thường gặp ở những người cầu toàn, thiếu quyết đoán, hay có những kỳ vọng, kém thực tế khi không đạt được dễ gây stress
Có tới 68% người bị stress là do công việc và 75% dân số đã từng trải qua
Trang 27ít nhất bị stress 2 tuần/1 lần Stress ở bà mẹ mang thai có thể suy thai và gây chậm phát triển trí tuệ và vận động cho trẻ sau này Stress có thể biểu hiện trên cả
3 mặt: thể chất, tình cảm hay tinh thần Và ở mỗi một cấp độ biểu hiện, stress đem đến cho con người những hậu quả khác nhau Về thể chất, các triệu chứng phổ biến nhất là đau đầu, vì stress gây nên tình trạng căng cơ vùng cổ, trán và vai Không chỉ như vậy, stress kéo dài có thể dẫn đến các vấn đề nghiêm trọng cho sức khỏe như: cơ thể mệt mỏi, mất ngủ, ra mồ hôi trộm, cao huyết áp, béo phì, bệnh tim mạch, đột quỵ hay thậm chí là rụng tóc Về tình cảm, những phản ứng thường gặp về mặt tình cảm bao gồm: lo lắng, giận dữ, trầm cảm, khó chịu, thất vọng với bản thân và xã hội, suy giảm trí nhớ và thiếu tập trung trong công việc Về tinh thần, trạng thái stress kéo dài có thể gây nên các vấn đề về mặt tinh thần trên một số cá nhân Các triệu chứng thường gặp là từ chối giao tiếp xã hội,
ám ảnh sợ hãi, rối loạn hành vi, rối loạn ăn uống,… Cùng với sự phát triển của y học hiện đại, ngày càng có nhiều mối dây liên hệ giữa stress và bệnh tật được chứng minh Những nghiên cứu mới nhất cho thấy gần như đa số bệnh tật có gốc
rễ ở stress Danh mục các bệnh do stress gây ra khá dài Tạo thành nhóm lớn nhất
là các bệnh về tim và hệ tuần hoàn máu
Stress là tác nhân gây bệnh tiểu đường Nguyên nhân của điều này là do stress gây ức chế quá trình sản xuất insulin tuyến tụy Stress có thể gây rút ngắn thai kỳ, dẫn đến tình trạng sinh non ở thai phụ Ngoài ra, stress còn ảnh hưởng tới
tỉ lệ sinh giữa bé trai và bé gái, và hậu quả là sự suy giảm số lượng nam giới Người mẹ bị stress trong quá trình mang thai có thể gia tăng nguy cơ mắc hen suyễn ở trẻ trong tương lai Stress cũng gây ra ung thư Một nghiên cứu gần đây cho thấy stress có khả năng gửi đi các tín hiệu biến các tế bào bình thường thành khối u ung thư thông qua một quá trình mang tên JNK Đồng thời, stress còn gây
ra hội chứng ruột kích thích (đại tràng co thắt), một thực thể bệnh lý nằm trong các rối loạn chức năng ống tiêu hóa
Trang 282.1.5 Lợi ích của việc xây dựng một môi trường làm việc hướng đến sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống
Việc xây dựng một môi trường làm việc mang tính hỗ trợ sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống sẽ mang lại những lợi ích như sau:
- Lợi ích đối với doanh nghiệp:
+ Tăng năng suất lao động, hiệu quả, kết quả công việc, lợi nhuận (Batt & Valcour, 2003; Glass & Finley, 2002; Kossek & Ozeki, 1999; Pasewark & Viator, 2006, Konrad & Mangel, 2000)
+ Làm tăng tính hài lòng, thỏa mãn của người lao động đối với môi trường làm việc (Aryee, Srinivas, & Tan, 2005; Eaton, 2003; Glass & Finley, 2002; Kossek & Ozeki, 1999; Macky & Boxall, 2007; Osterman, 1995; Rothbard, Phillips & Dumas, 2005; Scholarios & Marks, 2004; Sturges & Guest, 2004)
+ Làm giảm sự vắng mặt của nhân viên (Glass & Finley , 2002; Kim & Campagna, 1981; Kossek & Ozeki, 1999; Osterman, 1995)
+ Góp phần đảm bảo có sự gắn bó, trung thành, tận tâm với công việc của nhân viên (Aryee, Srinivas, & Tan, 2005; Breaugh, & Frye, 2007; Chacko , 1983; Ezra, & Deckman, 1996; Glass & Finley, 2002; Kinnunen, Geurts & Mauno,
2004, Macky & Boxall, 2007; Rothbard, Phillips & Dumas, 2005; Scholarios and Marks, 2004)
+ Làm nổi bật hình ảnh, uy tín của doanh nghiệp trên thị trường lao động ngày càng cạnh tranh
- Lợi ích đối với người lao động
+ Có một môi trường làm việc hài hòa, cân bằng giữa công việc và nhu cầu, lợi ích cá nhân, gia đình, tăng sự hài lòng với cuộc sống (Breaugh & Frye, 2007; Chacko, 1983)
+ Giảm stress, ổn định về tâm lý (Glass & Finley, 2002; Kinnunen, Geurts
& Mauno, 2004; Sturges & Guest, 2004)
+ Đảm bảo công ăn việc làm, thu nhập ổn định
Trang 292.2 Khái niệm bất động sản và giới thiệu về nhân viên kinh doanh bất động sản
- Các tài sản khác gắn liền với đất;
- Các tài sản khác do pháp luật qui định”
Thị trường bất động sản là tổng thể các giao dịch về bất động sản dựa trên các quan hệ hàng hóa, tiền tệ diễn ra trong một không gian và thời gian nhất định Trong cách diễn đạt thông thường, khái niệm thị trường thị trường bất động sản thường được nhắc đến là nơi diễn ra các quan hệ giao dịch về bất động sản, tại đó những người mua và người bán tác động qua lại lẫn nhau để xác định giá
cả và số lượng hàng hóa và dịch vụ bất động sản được giao dịch Trong cách diễn đạt này, khái niệm “nơi” không phải đơn thuần là chỉ địa điểm mà nó bao hàm các yếu tố không gian và thời gian khi các quan hệ giao dịch về bất động sản diễn
ra
2.2.2 Giới thiệu về nhân viên kinh doanh bất động sản
Tùy theo cách tổ chức và phân công công việc ở mỗi công ty mà nhân viên kinh doanh bất động sản có thể chuyên trách một loại công việc hoặc kiêm nhiệm một số công việc
Nhân viên kinh doanh bất động sản đảm nhiệm những công việc như:
- Chăm sóc khách hàng có nhu cầu giao dịch bất động sản do công ty giao Khai thác khách hàng cũ Tìm kiếm, quản lý nguồn khách hàng, phát triển khách hàng mới
Trang 30- Tư vấn, thuyết trình các sản phẩm dịch vụ của Công ty cho khách hàng Tiếp thị, tư vấn thông tin sản phẩm, dự án cho khách hàng Kết nối khách hàng đến với sản phẩm thông qua các kênh tiếp thị hiệu quả
- Thu thập, tổng hợp thông tin thị trường Lên kế hoạch kinh doanh chi tiết Triển khai bán hàng Hướng dẫn khách hàng tham quan bất động sản
- Theo dõi, đốc thúc, hỗ trợ trong quá trình thương lượng giá cả, hợp đồng… đến khi khách hàng ký kết thuê hoặc mua bán bất động sản
- Chịu trách nhiệm về các chỉ tiêu được giao về doanh số, số lượng khách hàng,…
- Tham gia phát triển mạng lưới khách hàng có nhu cầu giao dịch bất động sản
- Tạo dựng và phát triển mối quan hệ với đối tác và khách hàng tiềm năng
- Các công việc khác theo yêu cầu của công ty
- Báo cáo công việc với Trưởng bộ phận Kinh doanh
Công việc của nhân viên kinh doanh bất động sản có những đặc trưng và những yêu cầu đòi hỏi sau đây:
- Về thời gian làm việc: linh hoạt, có thể làm việc suốt tuần tùy theo yêu cầu của công việc và nhu cầu của khách hàng Nhân viên môi giới bất động sản cần dành nhiều thời gian cho việc chuẩn bị một hợp đồng nào đó, nghiên cứu kĩ
về các điều khoản liên quan cũng như bất động sản đang giao dịch
- Về địa điểm bất động sản: địa điểm của bất động sản có thể nằm ở những
vị trí cách xa văn phòng làm việc, có thể phải di chuyển trên những quãng đường dài khi đưa khách đi tham quan Cần có phương tiện đi lại riêng
- Về mối quan hệ: trong việc lập dự án, thực hiện các dự án xây dựng bất động sản, môi giới, kinh doanh bất động sản đòi hỏi phải thiết lập các mối quan
hệ rộng và tốt với nhiều đối tượng khác nhau như chính quyền, ngân hàng, khách hàng, nhà thầu xây dựng, khách hàng, phải biết lập kế hoạch đàm phán
- Về kiến thức pháp luật, xã hội, kinh doanh liên quan đến bất động sản: công việc kinh doanh bất động sản đòi hỏi am hiểu các quy định, chính sách pháp luật, am hiểu thị trường, phải tìm hiểu kỹ về bất động sản đang giao dịch để hoàn
Trang 31toàn tự tin đưa ra những câu trả lời nhanh và chính xác đối với những câu hỏi của khách hàng
- Về các kinh nghiệm, kỹ năng, bằng cấp: đòi hỏi có kỹ năng giao tiếp tốt,
kỹ năng thương lượng, đàm phán, kỹ năng chăm sóc khách hàng, kỹ năng bán hàng, kỹ năng quảng bá sản phẩm, kỹ năng thu thập xử lý thông tin,…, tốt nghiệp trung cấp, cao đẳng, đại học, có chứng chỉ hành nghề môi giới bất động sản Phải
là người năng động, siêng năng, kiên nhẫn, cầu thị, ham học hỏi, có khả năng làm việc độc lập và theo nhóm và đặc biệt là phải có kiến thức khá sâu rộng, đồng thời nắm bắt được mọi ngóc ngách và diễn biến của thị trường bất động sản để có thể sàng lọc, thu thập thông tin liên quan tới bất động sản Cần đặt mình vào vị trí khách hàng, phải biết rõ các nhu cầu của khách hàng trước một thương vụ giao dịch bất động sản, phải biết "làm lợi cho khách hàng” Cần có tính cách dễ chịu, trung thực, và một bề ngoài tin cậy Chín chắn, có đánh giá, nhận định đúng đắn,
và nhiệt tình trong công việc là yêu cầu hàng đầu Vì bất động sản là sản phẩm có giá trị rất cao nên người đại diện cần có biểu hiện thuyết phục nhất đối với khách hàng Các đại lý bất động sản thì cần có đầu óc tổ chức tốt, tỉ mỉ và trí nhớ tốt (họ cần nhớ không chỉ tên, mặt của khách hàng mà cả những đặc điểm thị hiếu của khách hàng)
2.3 Mô hình nghiên cứu
2.3.1 Một số nghiên cứu về cân bằng công việc và cuộc sống của các học giả nước ngoài
Nick Bloom, Tobias Kretschmer và John Van Reenen (2006) đã thực hiện nghiên cứu về sự tác động của thực tiễn chính sách, quy định và thực tiễn quản trị điều hành của doanh nghiệp đến cân bằng công việc và cuộc sống, năng suất/hiệu quả công việc Mô hình nghiên cứu như sau:
w = f (X, M, D) (1)
y = g(X, M, D) (2)
Trong đó:
w, y: các biến phụ thuộc
Trang 32w: kết quả cân bằng công việc-cuộc sống (work-life balance outcomes) y: năng suất/hiệu quả công việc (productivity outcomes)
X, M: các biến độc lập (biến tác động)
X: thực tiễn chính sách, quy định của doanh nghiệp liên quan đến cân bằng công việc và cuộc sống (work-life balance practices) X là một tập hợp nhiều chính sách, quy định của doanh nghiệp: X= x(X1, X2, X3,….)
M: thực tiễn quản trị điều hành của doanh nghiệp (management practices)
M là một tập hợp nhiều thực tiễn quản lý, quản trị điều hành của doanh nghiệp:
Kết quả nghiên cứu của họ cho thấy sự cân bằng công việc và cuộc sống, năng suất/hiệu quả công việc có mối liên hệ đáng kể với thực tiễn chính sách, quy định và thực tiễn quản trị điều hành của doanh nghiệp
Bên cạnh đấy, Lonnie Golden, Susan Lambert, Julia Henly và Barbara Wiens-Tuers (2010) nghiên cứu về sự tác động của công việc mang tính linh hoạt đến sự cân bằng công việc và cuộc sống Mô hình nghiên cứu như sau:
uj: giới hạn sai lệch (error term)
β1, β2, β3, β4: các hệ số
Trang 33Giả thuyết nghiên cứu được đặt ra trong mô hình trên là “Yếu tố linh hoạt trong công việc, sự thay đổi trong công việc, việc làm ngoài giờ, sự thu xếp công việc có tác động đến sự cân bằng công việc và cuộc sống” Kết quả nghiên cứu của họ cho thấy sự thiếu linh hoạt trong công việc, sự thay đổi ngoài dự đoán trong công việc, việc làm ngoài giờ nhiều, những trở ngại trong thu xếp công việc có tác động bất lợi, gây ra mất cân bằng công việc và cuộc sống
2.3.2 Mô hình nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở các lý thuyết và nghiên cứu đi trước cũng như qua kết quả nghiên cứu định tính trong nghiên cứu sơ bộ, tác giả rút ra 6 yếu tố trong môi trường làm việc tác động đến sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống như sau:
- Thời gian:
Thời gian dành cho công việc càng nhiều thì giúp đảm bảo tốt về mặt chất lượng công việc, có lợi cho doanh nghiệp nhưng lại làm giảm thời gian dành cho cuộc sống, các nhu cầu cá nhân và ngược lại Việc phân bố thời gian cho công việc và cuộc sống cá nhân không hợp lý sẽ gây mất cân bằng giữa công việc và cuộc sống Những khuôn mẫu, cách thức làm việc không theo quy chuẩn thông thường diễn ra trong thời gian dài có sự liên hệ với những hậu quả tiêu cực cho gia đình như sự gia tăng mức độ không thỏa mãn về hôn nhân, gây ra những khó khăn trong việc nuôi nấng con cái, làm suy giảm sức khỏe của cả bố mẹ và trẻ nhỏ (Allen, Herst, Bruck, & Sutton, 2000) Những gia đình có cả bố và mẹ phải làm việc ngoài giờ giấc thông thường (làm việc cuối tuần, làm việc buổi tối) có khuynh hướng gặp phải những vấn đề trong việc nuôi dạy con cái, gây xáo trộn chức năng gia đình cũng như gặp phải những vấn đề về sức khỏe tinh thần so với những người làm việc theo giờ giấc thông thường (Strazdins, Korda, Lim, Broom, & D’Souza, 2004)
Sự linh hoạt trong giờ giấc làm việc góp phần tác động tích cực đến sự cân bằng công việc-cuộc sống Mặc dù không còn là một điều xa lạ, song rất ít công
ty để ý đến việc tạo ra một thời gian làm việc linh hoạt cho nhân viên Trên thực
tế, người sử dụng lao động hoàn toàn có thể áp dụng hai cách sau để giảm bớt sự
Trang 34gò bó về thời gian cho nhân viên mà vẫn đảm bảo năng suất làm việc của họ, chẳng hạn như giữ nguyên thời gian làm việc 8h/ngày, nhưng thời gian bắt đầu
và kết thúc có thể thay đổi sao cho phù hợp với giờ giấc của cả nhân viên và công ty Hoặc người lao động có thể làm nhiều giờ hơn trong một ngày và ít ngày hơn trong một tuần, miễn sao họ đảm bảo làm việc đủ 40h/tuần Những cách sắp xếp này cho phép người lao động quản lý thời gian của mình dễ dàng hơn và họ
có thể dành nhiều thời gian hơn cho các nhu cầu khác của cuộc sống cá nhân Việc thiết kế thời gian làm việc linh hoạt cũng là một trong những cách để giữ chân nhân viên trong môi trường lao động đầy tính cạnh tranh (Hyland, Rowsome & Rowsome, 2005; Kropf, 1996; Olmsted & Smith, 1997)
Sự thiếu linh hoạt trong giờ giấc làm việc có thể gây ra sự gò bó, gây khó khăn cho nhân viên trong một số trường hợp khi cần giải quyết nhu cầu cá nhân đột xuất Australian Telework Advisory Committee (2006) xác định 70% các doanh nghiệp áp dụng cách thức làm việc từ xa đạt được những lợi ích tích cực như: gia tăng năng suất, giảm chi phí, cải thiện tính linh hoạt và cân bằng công việc-cuộc sống cho nhân viên, thu hút sự tham gia của lực lượng lao động và giảm các tác động đến môi trường, đồng thời cũng chỉ ra rằng rào cản chủ yếu đối với chế độ làm việc từ xa chính là văn hóa tổ chức, cách thức và phương pháp quản lý hơn là rào cản về mặt kỹ thuật
Trang 35Như vậy, thu nhập có tác động đến sự cân bằng công việc-cuộc sống Tausig & Fenwick (2001) với kết quả nghiên cứu trên 3.000 người lao động ở Mỹ cho thấy
sự làm thêm những công việc bán thời gian, những nghề phụ ngoài công việc chính thức nhằm cải thiện thu nhập đã làm gia tăng sự mất cân bằng giữa công việc và cuộc sống, nhất là đối với phụ nữ Warren (2004), Williams (2001) với kết quả nghiên cứu thực hiện ở Anh cho thấy việc làm thêm những công việc bán thời gian nhằm cải thiện thu nhập có ảnh hưởng đến mức độ hạnh phúc trong hôn nhân, có mối liên hệ với tình trạng ly hôn và làm giảm thời gian nghỉ ngơi, giải trí
- Chính sách, quy định của công ty:
Ngày nay, nhiều doanh nghiệp nhận ra rằng nhân viên của họ vắng mặt không phải với lý do ốm đau hay tai nạn mà một tỷ lệ đáng kể trong các ngày nghỉ của nhân viên được dành để giải quyết việc gia đình (con cái ốm đau hoặc những công việc cá nhân khác) Những chính sách, quy định của doanh nghiệp mang tính hỗ trợ sự cân bằng công việc và cuộc sống có tác động tích cực đến tinh thần của nhân viên, góp phần làm cho nhân viên cảm thấy an tâm, toàn tâm toàn ý hơn khi làm việc, làm tăng năng suất lao động và chất lượng công việc, giảm bớt chi phí cho doanh nghiệp, giảm bớt nỗi lo lắng về những vấn đề trong cuộc sống cá nhân của mình, ví dụ như: các chương trình hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho cả gia đình của nhân viên, cố vấn cách thức quản lý và giải quyết công việc gia đình… Điều ấy cũng góp phần giúp nhân viên yêu mến và gắn bó với doanh nghiệp hơn (Kossek & Ozeki, 1998; Whittard & Burgess, 2007; Brunton, 2006; Duxbury & Higgins, 2001; Joshi, Leichne, Melanson, Pruna, Sager, Story,
& Williams, 2002) Brough & O’Driscoll (2005) cung cấp các kết quả nghiên cứu cho thấy các chính sách, quy định của công ty mang tính hỗ trợ sự cân bằng công việc và cuộc sống làm gia tăng sự hài lòng của nhân viên, cải thiện sự cam kết tận tụy trong công việc, làm tăng năng suất lao động, làm giảm các xáo trộn
về thể chất và tinh thần do sự mất cân bằng giữa công việc và cuộc sống Eaton (2003) cung cấp các kết quả nghiên cứu cho thấy việc áp dụng các chính sách giúp cân bằng công việc và cuộc sống có mối liên hệ đáng kể đến cả năng suất
Trang 36lao động và mức độ cam kết của nhân viên trong công việc Perry-Smith & Blum (2000) cung cấp kết quả nghiên cứu trên 527 công ty ở Mỹ cho thấy những tổ chức có các chính sách mở rộng sự cân bằng giữa công việc và gia đình đạt được thành tích, kết quả công việc cao hơn, nhất là trong các tổ chức có tỷ lệ nữ nhân viên chiếm số đông Sheppard, Clifton, & Kruise (1996) cung cấp kết quả nghiên cứu trong ngành công nghiệp dược cho thấy việc áp dụng các chính sách làm việc linh hoạt có mối liên hệ với sự gia tăng thêm mức lợi nhuận khoảng 10% cho mỗi tổ chức Abbott, De Cieri và Iverson (1998) thu thập dữ liệu khảo sát trên một số lượng lớn các công ty dịch vụ nghề nghiệp ở Úc và ước tính chi phí thiệt hại khoảng 75.000 AUD cho tổ chức khi có 1 nữ quản lý nghỉ việc vì lý do môi trường làm việc không mang tính hỗ trợ sự cân bằng giữa công việc và gia đình
Ngược lại, sự thiếu vắng các chính sách, quy định của doanh nghiệp mang tính hỗ trợ sự cân bằng giữa công việc hoặc thậm chí một số chính sách, quy định của doanh nghiệp gây bất lợi cho sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống sẽ khiến nhân viên phải tự xoay sở một cách vất vả để vừa đáp ứng yêu cầu công việc và vừa giải quyết các nhu cầu cá nhân, gia đình của mình, khiến nhân viên mệt mỏi và mất nhiều thời gian hơn, tác động tiêu cực đến tinh thần làm việc và
sự yêu mến, gắn bó của nhân viên với doanh nghiệp (Aryee & Luk, 1996; Baltes, Briggs, Huff ,Wright, & Neuman, 1999; Bass, et al., 2008; Brough, O’Driscoll,
& Kalliath, 2005; Conway, 1978; Day, 2005; Dixon & Sagas, 2007; Duxbury & Higgins, 2001; Eikhof, Warhurst, & Haunschild, 2007; Ezra & Deckman, 1996; Frone, 2003; Haar, 2007; Harrington, 2007; Hochschild, 1997; Matthews & Rodin, 1989; Quick et al, 2006; Swody & Powell, 2007) Brennan (2007) cung cấp các kết quả nghiên cứu cho thấy những chính sách, quy định làm việc thiếu tính linh hoạt, không mang tính hỗ trợ cho người lao động trong việc giải quyết các nhu cầu của gia đình là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự nghỉ việc hoặc từ chối các cơ hội thăng tiến gây bất lợi cho việc chăm sóc gia đình Kết quả nghiên cứu của Whitehouse, Baird, Diamond, & Housking (2006), Equal Opportunities Commission (2005) cho thấy việc thiếu vắng các quy định làm
Trang 37việc linh hoạt, mang tính hỗ trợ cho cân bằng công việc-cuộc sống, thiếu các khoản trợ cấp hỗ trợ chăm sóc con cái khi ốm đau là nguyên nhân chính khiến nhiều bà mẹ Úc phải nghỉ việc sau khi sinh con
Các chương trình hỗ trợ cân bằng công việc và cuộc sống luôn có tác dụng cải thiện lòng trung thành của nhân viên đối với doanh nghiệp, giảm tỉ lệ vắng mặt cũng như duy trì nguồn trí lực cho doanh nghiệp, đặc biệt là trong những giai đoạn khó khăn Các doanh nghiệp cần phải hiểu được tầm quan trọng của việc tạo ra một môi trường làm việc mang tính hài hòa giữa công việc và cuộc sống cho người lao động, cũng như tác động tích cực của các chương trình hỗ trợ cho mục tiêu cân bằng này Như vậy, chính sách, quy định của doanh nghiệp có tác động đến sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống của người lao động
Việc thiết kế, xây dựng các chương trình đào tạo, huấn luyện kỹ năng mềm cho nhân viên giúp trang bị cho nhân viên những kỹ năng cần thiết trong công việc cũng như những kỹ năng giải quyết ổn thỏa các vấn đề trong cuộc sống
cá nhân nhằm toàn tâm toàn ý cho công việc Ví dụ: các chương trình huấn luyện
kỹ năng quản lý thời gian, kỹ năng giải quyết xung đột, kỹ năng giao tiếp,
chương trình tư vấn giải quyết các vấn đề cá nhân,…
- Mối quan hệ:
Con người được gắn kết với nhau bởi các mối quan hệ và những mối quan
hệ tốt đẹp chính là cốt lõi của sự thành công và hạnh phúc Thông thường, những người có mối quan hệ tích cực và nhiều ý nghĩa thường hạnh phúc hơn những ai không có được điều đó Trong công việc, các mối quan hệ với đồng nghiệp, với đối tác là tốt đẹp hay không tốt đẹp đều có tác động đến sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống Các mối quan hệ ấy là tốt đẹp sẽ không chỉ giúp hoàn thành tốt công việc mà còn tác động trực tiếp đến tinh thần của người lao động, khiến
họ cảm thấy vui vẻ, phấn chấn ngay cả khi họ ở ngoài môi trường làm việc Ngược lại, khi các mối quan hệ ấy không tốt đẹp sẽ dễ tạo ra bất hòa, mâu thuẫn, xung đột, tạo ra stress, tác động tiêu cực trực tiếp đến tinh thần của người lao động không chỉ trong môi trường làm việc mà cả khi ngoài môi trường làm việc Việc phải dành nhiều thời gian cho việc xây dựng, duy trì, phát triển các mối
Trang 38quan hệ trong công việc sẽ khiến chúng ta không có đủ thời gian dành cho bản thân và gia đình
- Sự lãnh đạo, quản lý:
Sự lãnh đạo, quản lý của người lãnh đạo ở các doanh nghiệp đóng vai trò rất quan trọng không chỉ đối với sự thành công trong kinh doanh của doanh nghiệp mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc thiết lập một môi trường làm việc mang tính cân bằng, hài hòa giữa công việc và cuộc sống cho người lao động Sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống của người lao động chịu sự tác động của các yếu tố thuộc về sự lãnh đạo, quản lý như:
+ Sự phân công công việc: Phân công công việc hợp lý hay bất hợp lý đều tác động đến sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống Ví dụ: phân công quá nhiều việc khiến cho nhân viên bị quá tải với công việc nên không có đủ thời gian dành cho bản thân và gia đình, gây stress vì áp lực nặng nề của công việc,… Kết quả nghiên cứu của O’Driscoll, Brough, & Kalliath (2005) cho thấy những hậu quả bất lợi cho tổ chức và cho sức khỏe cá nhân gây ra do stress xuất phát từ
sự quá tải trong công việc do phân công công việc không hợp lý, dẫn đến sự gia tăng mức độ nghỉ ốm của nhân viên cùng với sự gia tăng chi phí y tế mà tổ chức
ấy phải chi trả Sự quá tải trong công việc cũng dẫn đến sự gia tăng mức độ bất mãn với công việc, gia tăng xung đột giữa công việc và gia đình, làm suy giảm chất lượng thời gian dành cho cá nhân-gia đình, gia tăng sự ứng xử có tính chất bạo lực tại nơi làm việc do stress (Greenhaus & Beutell, 1985; Kossek & Ozeki, 1999; Lilly et al., 2006; Noor, 2002; Frone, 2003; Spector, et al., 2007)
+ Sự giải quyết mâu thuẫn, xung đột: như đã đề cập ở trên, mâu thuẫn, xung đột trong môi trường làm việc nếu không được giải quyết tốt rất dễ tạo ra stress, gây căng thẳng và xáo trộn tinh thần của người lao động không chỉ trong công việc mà còn cả trong đời sống tinh thần của họ ngoài môi trường làm việc Nhà lãnh đạo, quản lý cần biết cách hạn chế và giải quyết tốt các mâu thuẫn, xung đột trong môi trường làm việc Sự giải quyết mâu thuẫn, xung đột có tác động đến sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống
Trang 39+ Sự thiết kế, bài trí nơi làm việc: việc thiết kế, trang trí nơi làm việc có tác động đến kết quả làm việc, năng suất lao động, mức độ stress, tinh thần làm việc, sự hài lòng của nhân viên, giúp cân bằng trạng thái tinh thần nên có tác động đến sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống Thiết kế không gian làm việc thuận tiện, phù hợp, trang trí nơi làm việc đẹp, bắt mắt, sinh động sẽ tăng hiệu quả trong công việc, tăng năng suất, tạo hưng phấn, thoải mái tinh thần, đảm bảo tiện nghi trong quá trình làm việc, mang lại không gian làm việc thân thiện, gần gũi như ở nhà (Roelofsen, 2002; Wells, 2000) Brill (1992) cung cấp kết quả nghiên cứu cho thấy việc cải tiến thiết kế không gian làm việc làm tăng năng suất làm việc của nhân viên từ 5%-10% Việc cung cấp đầy đủ tiện nghi làm việc góp phần mang lại sự tận tâm trong công việc của nhân viên và gia tăng năng suất, lợi nhuận và chất lượng công việc (Uzee, 1999; Leaman & Bordass, 1993; Williams
et al., 1985; Mohr, 1996; Patterson et al., 2003; Huang, Robertson & Chang, 2004; Haynes, 2008) Gensler (2006) thực hiện khảo sát trên các công ty ở Mỹ cho thấy 89% số người được phỏng vấn xem việc thiết kế môi trường làm việc đóng vai trò từ quan trọng đến rất quan trọng, gần 90% cấp quản lý tiết lộ việc thiết kế môi trường làm việc hiệu quả giúp gia tăng năng suất làm việc của nhân viên và ước tính kết quả kinh doanh của công ty có thể được cải thiện đến 22% nếu môi trường làm việc được thiết kế tốt Tương tự, Springer Inc (1986), Leaman (1995), The American Society of Interior Designers (ASID, 1999) đã tiến hành các cuộc nghiên cứu độc lập về môi trường làm việc dựa trên các yếu tố: trang thiết bị, tính linh hoạt, sự thuận tiện, tiện nghi, độ ồn, ánh sáng, nhiệt độ, chất lượng không khí, truyền thông liên lạc và xác định rằng việc thiết kế môi trường làm việc là một trong 3 yếu tố hàng đầu ảnh hưởng đến kết quả công việc
và sự hài lòng trong công việc của nhân viên Ngược lại, việc không trang bị đủ các phương tiện làm việc cần thiết, thiết kế không gian làm việc bất tiện làm ảnh hưởng đến sự tận tâm trong công việc của nhân viên, ảnh hưởng đến ý định gắn
bó với doanh nghiệp của nhân viên, ảnh hưởng đến mức độ hài lòng trong công việc, gây ra stress, làm giảm năng suất lao động (Weiss, 1999; Wise, Darling-
Trang 40BIẾN TÁC ĐỘNG BIẾN NGHIÊN CỨU
(BIẾN PHỤ THUỘC)
Hammond & Berry, 1987; Bockerman & Ilmakunnas, 2006; Govindarajulu, 2004; Roelofsen, 2002)
- Kết quả kinh doanh:
Kết quả kinh doanh có khả năng tác động đến sự cân bằng công việc-cuộc sống của người lao động Nếu hoạt động kinh doanh bị thua lỗ sẽ ảnh hưởng đến công việc và cuộc sống của người lao động thể hiện ở chỗ thu nhập giảm sút, thất nghiệp do việc làm bị cắt giảm hoặc do công ty giải thể và như vậy đã ảnh hưởng đến sự cân bằng công việc-cuộc sống của người lao động
Dựa trên các yếu tố tác động đến sự cân bằng công việc và cuộc sống nêu trên, mô hình nghiên cứu được đề nghị như sau:
Mối quan hệ
Thu nhập
Sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống Thời gian
Chính sách, quy định
của công ty
Sự lãnh đạo, quản lý