1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ảnh hưởng của cơ cấu sở hữu đến hành vi quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán tp hồ chí minh

162 344 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 162
Dung lượng 2,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu  Mục tiêu tổng quát Nghiên cứu các nhân tố liên quan đến bên cung cấp dịch vụ kiểm toán ảnh hưởng tới chất lượng KTĐL, đánh giá mức độ ảnh hưởng của mỗi nhân tố đế

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH



HUỲNH THỊ KIM THÙY

CÁC NHÂN TỐ LIÊN QUAN ĐẾN BÊN CUNG

CẤP DỊCH VỤ KIỂM TOÁN ẢNH HƯỞNG TỚI

CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP

TẠI TP HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh – 2017

Trang 2



HUỲNH THỊ KIM THÙY

CÁC NHÂN TỐ LIÊN QUAN ĐẾN BÊN CUNG CẤP DỊCH VỤ KIỂM TOÁN ẢNH HƯỞNG TỚI

CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP

TẠI TP HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN PHÚC SINH

TP Hồ Chí Minh – 201 7

Trang 3

tới chất lượng kiểm toán độc lập tại Thành phố Hồ Chí Minh”

- Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Phúc Sinh

- Tên học viên: Huỳnh Thị Kim Thùy

- Email liên lạc: kimthuy405A@gmail.com

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do chính tác giả thực hiện dưới sự hướng dẫn của Người hướng dẫn khoa học

Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được

ai công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác

Tất cả những nội dung được kế thừa, tham khảo từ nguồn tài liệu khác đều được Tác giả trích dẫn đầy đủ và ghi nguồn cụ thể trong Danh mục các tài liệu tham khảo

Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng năm

Học viên thực hiện

Huỳnh Thị Kim Thùy

Trang 4

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC HÌNH VẼ

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Câu hỏi nghiên cứu 2

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 3

6 Đóng góp của luận văn 3

7 Kết cấu luận văn 4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5

1.1 Một số nghiên cứu công bố ngoài nước 5

1.2 Một số nghiên cứu công bố trong nước 7

1.3 Tổng kết các nhân tố liên quan đến bên cung cấp dịch vụ kiểm toán 12

1.4 Khe hổng nghiên cứu 13

TÓM TẮT CHƯƠNG 1 13

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 14

2.1 Tìm hiểu về kiểm toán độc lập và chất lượng kiểm toán 14

2.1.1 Kiểm toán độc lập và hoạt động kiểm toán độc lập 14

2.1.2 Chất lượng kiểm toán 15

Trang 5

2.2.2 Nội dung chính của Khuôn mẫu do IAASB ban hành 17

2.3 Cơ sở lý thuyết nền các nhân tố tác động đến CLKT 20

2.3.1 Lý thuyết Ủy nhiệm 20

2.3.2 Lý thuyết Cung cầu 21

2.4 Các nhân tố liên quan đến bên cung cấp dịch vụ kiểm toán ảnh hưởng tới chất lượng KTĐL 22

2.4.1 Ảnh hưởng của Quy mô đến chất lượng KTĐL 23

2.4.2 Ảnh hưởng của Giá phí kiểm toán đến chất lượng KTĐL 24

2.4.3 Ảnh hưởng của Nhiệm kỳ kiểm toán đến chất lượng KTĐL 25

2.4.4 Ảnh hưởng của Phạm vi dịch vụ phi kiểm toán đến chất lượng KTĐL 27

2.4.5 Ảnh hưởng của Tính chuyên sâu trong các lĩnh vực kiểm toán đến chất lượng KTĐL 28

2.4.6 Ảnh hưởng của KSCL bên trong đến chất lượng KTĐL 29

2.4.7 Ảnh hưởng của Năng lực nghề nghiệp của KTV đến chất lượng KTĐL 29

2.4.8 Ảnh hưởng của Thuộc tính cá nhân đến chất lượng KTĐL 30

TÓM TẮT CHƯƠNG 2 31

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32

3.1 Quy trình nghiên cứu chung 32

3.2 Mô hình và giả thuyết nghiên cứu 34

3.2.1 Mô hình nghiên cứu 34

3.2.2 Giả thuyết nghiên cứu 35

3.3 Đối tượng và phương pháp khảo sát 37

Trang 6

3.4 Thiết kế thang đo và xây dựng bảng câu hỏi 38

3.4.1 Thiết kế thang đo 38

3.4.2Xây dựng bảng câu hỏi 48

3.5 Mẫu và phương pháp chọn mẫu 49

3.6 Phương pháp nghiên cứu 49

3.6.1 Phương pháp và kết quả trong nghiên cứu định tính 50

3.6.2 Quy trình và phương pháp phân tích dữ liệu trong nghiên cứu định lượng 51 TÓM TẮT CHƯƠNG 3 55

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 56

4.1 Mô tả mẫu nghiên cứu 56

4.1.1 Thống kê mô tả đặc điểm mẫu 56

4.1.2 Thống kê mô tả thang đo 57

4.2 Phân tích và đánh giá thang đo 58

4.2.1 Kiểm định bằng hệ số tin cậy Cronbach alpha 58

4.2.2 Phân tích nhân tố khám phá EFA 59

4.3 Kiểm định mô hình và giả thuyết nghiên cứu 61

4.3.1 Phân tích tương quan Pearson 61

4.3.2 Phân tích hồi quy tuyến tính bội 61

4.3.3 Kiểm định giả thuyết nghiên cứu 63

4.3.4 Dò tìm sự vi phạm các giả định cần thiết trong phân tích hồi quy 65

4.4 Kết quả nghiên cứu định lượng và bàn luận 67

4.5 Phân tích sự ảnh hưởng của đối tượng khảo sát đến chất lượng KTĐL 72

Trang 7

4.5.3 Phân tích ảnh hưởng thông qua Chức vụ của đối tượng khảo sát 73

4.5.4 Phân tích ảnh hưởng thông qua Số năm kinh nghiệm của đối tượng khảo sát 74

4.5.5 Phân tích ảnh hưởng thông qua Chứng chỉ nghề nghiệp liên quan của đối tượng khảo sát 74

TÓM TẮT CHƯƠNG 4 75

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 77

5.1 Kết luận 77

5.2 Các kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng kiểm toán 78

5.3 Giới hạn đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 86

TÓM TẮT CHƯƠNG 5 87

KẾT LUẬN 88 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

Từ viết tắt Từ gốc

2 Các từ viết tắt có nguồn gốc tiếng Anh

Từ viết tắt Từ gốc bằng tiếng Anh Từ gốc bằng tiếng Việt

DA Discretionary Accruals Các khoản dồn tích

IAASB The International Auditing and

Assurance Standards Board

Ủy ban Chuẩn mực kiểm toán Quốc tế

VACPA Vietnam Association of Certified

Trang 9

Bảng 3.2 Thang đo Quy mô DNKT 40

Bảng 3.3 Thang đo Giá phí kiểm toán 41

Bảng 3.4 Thang đo Nhiệm kỳ kiểm toán 42

Bảng 3.5 Thang đo Phạm vi dịch vụ phi kiểm toán 43

Bảng 3.6 Thang đo Tính chuyên sâu trong các lĩnh vực kiểm toán 44

Bảng 3.7 Thang đo Kiểm soát chất lượng bên trong 45

Bảng 3.8 Thang đo Năng lực nghề nghiệp của KTV 46

Bảng 3.9 Thang đo Thuộc tính cá nhân của KTV 47

Bảng 3.10 Tổng hợp các biến đo lường chất lượng KTĐL 48

Bảng 4.1 Cơ cấu mẫu khảo sát 56

Bảng 4.2 Tổng hợp các biến đưa vào phân tích nhân tố khám phá EFA 58

Bảng 4.3 Kiểm định KMO, Bartlett và tổng phương sai trích biến độc lập 59

Bảng 4.4 Kiểm định KMO, Bartlett và tổng phương sai trích biến phụ thuộc 60

Bảng 4.5 Tóm tắt các hệ số về mức độ phù hợp của mô hình 62

Bảng 4.6 Tổng hợp kết quả kiểm định các giả thuyết 65

Bảng 4.7 Mức độ tác động của các nhân tố đến CLKT 67

Trang 10

Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu chung của luận văn 33

Hình 3.2 Mô hình nghiên cứu các nhân tố liên quan đến bên cung cấp dịch vụ kiểm toán ảnh hưởng tới chất lượng KTĐL 35

Hình 4.1 Biểu đồ Histogram 66

Hình 4.2 Đồ thị Q-Q plot 66

Hình 4.3 Đồ thị phân tán Scatterplot 66

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, hoạt động kiểm toán độc lập (KTĐL) đã hình thành vào năm 1991, phát triển và ngày càng trở thành nhu cầu tất yếu đối với hoạt động kinh doanh và nâng cao chất lượng quản lý của doanh nghiệp Báo cáo tài chính (BCTC) đã được kiểm toán bởi các Kiểm toán viên (KTV) và Doanh nghiệp kiểm toán (DNKT) sẽ cung cấp thông tin trung thực, hợp lí, đáng tin cậy về tình hình tài chính của các doanh nghiệp đồng thời tiết kiệm chi phí kiểm tra cho người sử dụng Chính vì vậy, hoạt động KTĐL đã góp phần tạo lập môi trường đầu tư thông thoáng, thuận lợi, thúc đẩy đầu tư trong và ngoài nước, từ đó tạo điều kiện để tăng trưởng kinh tế và phát triển thị trường dịch vụ tài chính, tiền tệ mở cửa

và hội nhập

Bên cạnh đó, Việt Nam đã chính thức gia nhập WTO, là thành viên TPP, Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) và đang tiếp tục thực hiện lộ trình đã cam kết, theo đó,

từ năm 2015 sẽ mở cửa hoàn toàn các dịch vụ tài chính Trong xu thế toàn cầu hóa,

sự thành công của các DNKT Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng kiểm toán (CLKT) và khả năng cạnh tranh trên thị trường để có thể đạt được vị thế cạnh tranh bền vững Tuy nhiên, ngày 19/01/2017, theo báo cáo của Bộ Tài Chính, quyết định

có 03 DNKT bị chấm dứt kinh doanh dịch vụ kiểm toán do chưa tuân thủ đầy đủ các quy định của Luật Kiểm toán độc lập hiện hành trong quá trình cung cấp dịch vụ kiểm toán Báo cáo kiểm toán Sau đó, ngày 24/01/2017, có 3 DNKT bị cảnh cáo do không đảm bảo điều kiện hoạt động dịch vụ kiểm toán theo quy định về số lượng KTV hành nghề của Luật Kiểm toán độc lập

Cho đến nay, có rất nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước tập trung về chủ đề chất lượng kiểm toán và các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán Các nghiên cứu trước chia các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng KTĐL thành nhóm nhân tố thuộc

về KTV, nhóm nhân tố thuộc về DNKT và nhóm nhân tố bên ngoài Nghiên cứu làm nền tảng về vấn đề này là của DeAnglo (1981) Theo tác giả, Quy mô DNKT, Giá phí

Trang 12

kiểm toán và Tính độc lập ảnh hưởng đến CLKT Ở Việt Nam, Nghiên cứu của Trần Thị Giang Tân & Trần Khánh Lâm (2011) là những nghiên cứu đi tiên phong trong lĩnh vực kiểm soát CLKT cũng như các nhân tố ảnh hưởng tới CLKT Mặc dù có nhiều nghiên cứu trước đây, nhưng CLKT vẫn đang là chủ đề đang rất được quan tâm trong nền kinh tế hiện nay Chính vì vậy việc nghiên cứu để kiểm định sâu hơn và bổ sung bằng chứng thực nghiệm về các nhân tố tác động đến CLKT của hoạt động KTĐL tại TP.HCM là yêu cầu cần thiết

Do đó, tác giả đã lựa chọn đề tài “Các nhân tố liên quan đến bên cung cấp dịch vụ

kiểm toán ảnh hưởng tới chất lượng kiểm toán độc lập tại Tp Hồ Chí Minh” phản

ánh tính cấp thiết, góp phần phát triển và hoàn thiện hoạt động KTĐL, đồng thời là

cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng KTĐL

2 Mục tiêu nghiên cứu

 Mục tiêu tổng quát

Nghiên cứu các nhân tố liên quan đến bên cung cấp dịch vụ kiểm toán ảnh hưởng tới chất lượng KTĐL, đánh giá mức độ ảnh hưởng của mỗi nhân tố đến chất lượng KTĐL, từ đó kiến nghị để nâng cao chất lượng KTĐL của các DNKT tại thành phố

Hồ Chí Minh

 Mục tiêu cụ thể

- Xác định các nhân tố liên quan đến bên cung cấp dịch vụ kiểm toán ảnh hưởng tới chất lượng KTĐL;

- Đánh giá mức độ ảnh hưởng của mỗi nhân tố đến chất lượng KTĐL tại thành phố

Hồ Chí Minh thông qua khảo sát thực tế

3 Câu hỏi nghiên cứu

Câu hỏi nghiên cứu đặt ra để giải quyết các mục tiêu trên là:

Câu hỏi 1: Các nhân tố liên quan đến bên cung cấp dịch vụ kiểm toán ảnh hưởng tới

chất lượng KTĐL tại thành phố Hồ Chí Minh?

Câu hỏi 2: Nhân tố nào có ảnh hưởng mạnh nhất, và mức độ ảnh hưởng của từng

nhân tố tới chất lượng KTĐL tại thành phố Hồ Chí Minh?

Trang 13

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

 Đối tượng nghiên cứu: là các nhân tố liên quan đến bên cung cấp dịch vụ kiểm toán ảnh hưởng tới chất lượng KTĐL tại thành phố Hồ Chí Minh

- Thời gian thực hiện nghiên cứu là từ tháng 07/2016 đến tháng 09/2016

5 Phương pháp nghiên cứu

 Phương pháp nghiên cứu định tính: tổng hợp các nghiên cứu trong và ngoài nước

có liên quan kết hợp với khảo sát chuyên gia để từ đó xác định các nhân tố liên

quan đến bên cung cấp dịch vụ ảnh hưởng tới chất lượng KTĐL

 Phương pháp nghiên cứu định lượng: khảo sát các đối tượng thông qua bảng câu

hỏi khảo sát trực tiếp, khảo sát trực tuyến Google Docs, gởi email trực tiếp Sau

đó, tác giả sử dụng các kỹ thuật phân tích thống kê như thống kê mô tả, đánh giá

độ tin cậy thang đo qua hệ số Cronbach alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA

để xác định tập hợp các biến cần thiết cho vấn đề nghiên cứu Cuối cùng, tác giả tiến hành phân tích tương quan Pearson và phân tích hồi quy tuyến tính bội để kiểm định mối tương quan giữa biến phụ thuộc với từng biến độc lập và giữa các

biến độc lập với nhau

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn có một số đóng góp khoa học cơ bản sau:

- Bổ sung bằng chứng thực nghiệm về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng KTĐL thông qua việc tìm hiểu các nhân tố liên quan đến bên cung cấp dịch vụ

kiểm toán;

- Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về chất lượng kiểm toán và các nhân tố liên quan đến bên cung cấp dịch vụ kiểm toán ảnh hưởng tới CLKT;

Trang 14

- Thông qua nghiên cứu, có một số phát hiện mới về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán độc lập tại TP.HCM, từ đó đưa ra một số chính sách nhằm

nâng cao CLKT;

- Cung cấp tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu, DNKT và các đối tượng

khác quan tâm tới chất lượng KTĐL

7 Kết cấu luận văn

Luận văn có kết cấu gồm 05 chương:

- Chương 1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

- Chương 2 Cơ sở lý thuyết

- Chương 3 Phương pháp nghiên cứu

- Chương 4 Kết quả và bàn luận

- Chương 5 Kết luận và kiến nghị

Trang 15

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng KTĐL luôn là vấn đề được sự quan tâm hàng đầu trong lĩnh vực kiểm toán cả về thực tế lẫn nghiên cứu trong và ngoài nước Chương này tác giả sẽ trình bày một số nghiên cứu có liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng KTĐL đã được các nhà nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam thực hiện Tác giả chia làm 02 nhóm: (i) Một số nghiên cứu công bố ngoài nước; (ii) Một số nghiên cứu công bố trong nước

1.1 Một số nghiên cứu công bố ngoài nước

Có rất nhiều nghiên cứu ngoài nước liên quan đến CLKT và các nhân tố ảnh hưởng đến CLKT với nhiều dòng nghiên cứu khác nhau Nhưng tác giả chỉ trình bày một số nghiên cứu tiêu biểu trong phạm vi của đề tài như sau:

 Nhóm nhân tố thuộc về DNKT và KTV

[1] Nghiên cứu của Suseno (2013)1 Nghiên cứu xem xét tác động của tính độc lập

và giá phí kiểm toán đến CLKT Trong đó, Tính độc lập được đo bằng tính chính trực

và khách quan; Giá phí được đo bằng kích thước, tính phức tạp và rủi ro của cuộc kiểm toán Đối tượng khảo sát là 73 DNKT, các doanh nghiệp thực hiện kiểm toán cho các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán tại Indonesia Kết quả nghiên cứu cho thấy hai yếu tố giá phí và tính độc lập của KTV có ảnh hưởng đáng

kể tới CLKT Qua đó, tác giả cũng đề xuất nên phát triển và duy trì tính độc lập cũng như xác định giá phí phù hợp để nâng cao CLKT

[2] Nghiên cứu của Wooten (2003)2 Dựa trên quan điểm về CLKT của DeAngelo (1981), tác giả xem xét và tổng kết các nghiên cứu trước để đưa ra các nhân tố tác động đến CLKT Kết quả nghiên cứu cho thấy các nhân tố tác động đến CLKT xuất phát từ hai khía cạnh có liên quan đến phát hiện sai sót và báo cáo sai sót Các yếu tố

1Suseno (2013) An empirical analysis of auditor independence and audit fees on audit quality International

Journal of Management and Business Studies Volume 3 (3), pp 082-087

2 Wooten, T C (2003) Research About Audit Quality The CPA Journal, 48-64

Trang 16

liên quan đến phát hiện sai sót bao gồm: Quy mô DNKT, Nguồn nhân lực, Kinh nghiệm chuyên ngành, Quy trình kiểm soát, Giám sát, Kế hoạch và thực hiện, Tính chuyên nghiệp, Kinh nghiệm đối với khách hàng Các yếu tố liên quan đến báo cáo sai sót là: Tính độc lập, Dịch vụ phi kiểm toán, Giá phí kiểm toán, Nhiệm kỳ của KTV Vì vậy, tác giả kết luận rằng việc phát hiện và báo cáo sai sót tốt sẽ nâng cao CLKT, từ đó được khách hàng đánh giá cao, sẽ thu được giá phí kiểm toán cao, giảm kiện tụng, danh tiếng tốt

[3] Nghiên cứu của DeAngelo (1981a)3 Nghiên cứu tập trung phân tích mối quan

hệ giữa giá phí kiểm toán với tính độc lập của KTV trong việc tác động tới CLKT Tác giả đã đưa ra mô hình phí kiểm toán năm đầu tiên (start-up cost) Theo mô hình này thì chi phí thực hiện kiểm toán năm đầu tiên bằng chi phí kiểm toán cộng với chi phí kiểm toán khởi động tại năm đầu tiên Do đó, tác giả cho rằng việc hạ thấp chi phí (đặc biệt giá phí của cuộc kiểm toán năm đầu tiên) sẽ ảnh hưởng đến CLKT, vì

hạ thấp chi phí có thể dẫn đến quỹ thời gian và chi phí dự trù cho cuộc kiểm toán bị giảm thiểu và điều này tạo nên áp lực và khó khăn cho KTV trong việc phát hiện các sai phạm trọng yếu Tác giả cũng đưa ra mối liên hệ giữa giá phí kiểm toán với quan

hệ kinh tế và khách hàng, từ đó kết luận rằng mối quan hệ kinh tế này có thể làm giảm tính độc lập của KTV, dẫn đến giảm CLKT

 Nhóm nhân tố thuộc về DNKT

[4] Hosseinniakani và cộng sự (2014)4 Mục đích của nghiên cứu là xem xét và tóm

tắt các nhân tố ảnh hưởng đến CLKT khác nhau, so sánh kết quả đạt được với các nghiên cứu liên quan gần nhất Bài viết đã đưa ra các biến độc lập bao gồm: Quy mô DNKT, Nhiệm kỳ kiểm toán, Phí kiểm toán, Dịch vụ phi kiểm toán, Danh tiếng DNKT, Tính chuyên sâu trong các lĩnh vực kiểm toán, Đặc điểm của KTV (tính độc lập, trách nhiệm, năng lực chuyên môn) Kết quả nghiên cứu cho thấy các nhân tố

3 DeAngelo, L E (1981a) Auditor independence, “low balling”, and disclosure regulation Journal of

accounting and Economics, 3(2), 113-127

4 Hosseinniakani, S.M, et al., (2014) A review on Audit Quality Factors International Journal of Acedemic

Research in Accounting, Finance and Management Sciences, Volume 4, Number 2, page 247-258

Trang 17

đều ảnh hưởng đáng kể đến CLKT Giả sử rằng CLKT đã đạt đến một mức độ xã hội mong muốn, một số hướng nghiên cứu trong tương lai quan trọng cần được xem xét

có thể là xem xét các mối quan hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng CLKT, quản trị doanh

nghiệp và việc ra quyết định

[5] Nghiên cứu của DeAngelo (1981b)5 Nghiên cứu đã tiến hành các phân tích về

sự ảnh hưởng của quy mô doanh nghiệp kiểm toán đến CLKT Tác giả cho rằng khi

phát triển, DNKT cần cân nhắc đến biên độ tăng thêm (quasi-rents, là áp lực kinh tế

khiến cho DNKT xem xét đến việc cân bằng chất lượng KTĐL) Cụ thể, DNKT phải xem xét đến việc: (1) có được một đơn vị biên độ tăng thêm từ một khách hàng cụ thể (do DNKT cố tình giảm chất lượng KTĐL để duy trì khách hàng); và (2) dòng các đơn vị biên độ tăng thêm từ nhiều khách hàng khác có thể bị mất khi những hành

vi cố tình làm giảm chất lượng KTĐL của DNKT bị công chúng phát hiện DNKT nào có càng nhiều khách hàng (số lượng khách hàng là một trong những tiêu chí đánh giá quy mô của DNKT) thì càng có khả năng bị mất nhiều biên độ tăng thêm trong trường hợp những sai phạm của KTV bị phát hiện Như vậy, DNKT càng nhiều khách hàng thì họ càng bị áp lực kinh tế buộc phải duy trì và nâng cao chất lượng KTĐL

Kết luận: Qua các phân tích trên ta thấy, các nghiên cứu ngoài nước khá đa dạng

với các nghiên cứu riêng lẻ từng nhân tố cũng như tổng hợp các nhóm nhân tố liên quan đến DNKT, KTV và nhân tố bên ngoài ảnh hưởng đến CLKT

1.2 Một số nghiên cứu công bố trong nước

 Nhóm nhân tố thuộc về KTV, DNKT và nhân tố bên ngoài

[1] Nghiên cứu của Phan Thanh Hai (2016)6 Nghiên cứu này đã xác định các yếu

tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động kiểm toán tại Việt Nam thông qua phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng (trong đó phương pháp nghiên cứu định lượng là chủ yếu) dựa trên đánh giá độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach

5 DeAngelo, L E (1981b) Auditor size and audit quality Journal of accounting and economics, 3(3),

183-199

6 Phan Thanh Hải (2016) The Research of Factors Affecting the Quality of Audit Activities: Empirical

Evidence in Vietnam International Journal of Business and Management, Volume 11, Number 3

Trang 18

alpha, thử nghiệm nhân tố khám phá (EFA) và phân tích hồi quy tuyến tính Dữ liệu được thu thập từ các KTV, các nhà quản lý tại các DNKT trong tất cả các thành phố khác nhau tại Việt Nam Kết quả khảo sát thu được là 387 mẫu hợp lệ trên 400 mẫu khảo sát, đủ để đảm bảo độ tin cậy của phân tích dữ liệu Dựa trên các kết quả nghiên cứu, tác giả đã đưa ra những yếu tố ảnh hưởng quan trọng đến chất lượng hoạt động kiểm toán theo thứ tự mức độ tác động giảm dần như sau: (1) Tổ chức và hoạt động của các DNKT, (2) Giá phí và năng lực kiểm toán của DNKT, (3) Phạm vi cung cấp dịch vụ kiểm toán, (4) Kiểm soát chất lượng từ bên ngoài, (5) Kiểm soát chất lượng bên trong và (6) Hình thức sở hữu của doanh nghiệp kiểm toán Phát hiện này rất quan trọng để đưa ra các giải pháp hợp lý từ đó nâng cao chất lượng hoạt động kiểm toán ở Việt Nam trong thời gian tới

[2] Nghiên cứu của Phan Văn Dũng (2015)7 Mục tiêu nghiên cứu của Luận án là

khám phá nhân tố chất lượng kiểm toán và đo lường tác động của các nhân tố đến chất lượng kiểm toán và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp kiểm toán Việt Nam Mô hình nghiên cứu ban đầu của tác giả về các nhân tố tác động đến CLKT gồm: Mức độ chuyên sâu trong lĩnh vực kiểm toán, Tính độc lập của KTV, Tác động của các khuôn khổ pháp lý, Tổ chức kiểm soát chất lượng từ bên trong, Nhận thức của KTV và Ban Giám Đốc của DNKT, Chất lượng đào tạo nhân lực Kế toán - Kiểm toán tại các trường Đại học, Quy mô, Mức độ chuyên ngành của DNKT, Phương pháp luận của KTV, Tổ chức KSCL từ bên ngoài, Chiến lược kinh doanh DNKT, Chi phí kiểm toán, Giá phí kiểm toán, Nhiệm kỳ KTV

Đề tài kết hợp cả phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng với đối tượng khảo sát là KTV, Ban Giám Đốc của DNKT, Cơ quan quản lý Nhà nước

về Kiểm toán, Hội nghề nghiệp Kiểm toán, Các doanh nghiệp khách hàng, Các đối tượng bên ngoài khác Với cỡ mẫu 506, tác giả dùng phương pháp phân tích dữ liệu chính là đánh giá độ tin cậy Cronbach alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA, phân

7 Phan Văn Dũng (2015) Các nhân tố tác động đến chất lượng kiểm toán của các doanh nghiệp kiểm toán Việt

Nam theo định hướng tăng cường năng lực cạnh tranh trong điều kiện hội nhập quốc tế Luận án Tiến sĩ

Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 19

tích tương quan Pearson và phân tích hồi quy đa biến Kết quả nghiên cứu về các nhân tố tác động đến CLKT theo thứ tự tác động giảm dần như sau: Phương pháp luận và nhận thức của KTV, Kiểm soát chất lượng từ bên ngoài và hệ thống pháp luật

về kiểm toán, Chiến lược kinh doanh, Chi phí kiểm toán, Giá phí kiểm toán, Tính độc lập

Ngoài ra Luận án còn nghiên cứu các nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh và tác động của chất lượng kiểm toán đến năng lực cạnh tranh

[3] Nghiên cứu của Bùi Thị Thủy (2013)8 Luận án tập trung nghiên cứu các nhân

tố ảnh hưởng đến CLKT BCTC của các Doanh nghiệp niêm yết (DNNY) trên thị trường chứng khoán Việt Nam Dựa trên Mô hình CLKT của Duff (2004), tác giả thực hiện phân tích và xử lý kết quả khảo sát từ 138 KTV thuộc các DNKT đủ điều kiện kiểm toán BCTC của các DNNY trên thị trường chứng khoán Việt Nam Qua kết quả nghiên cứu, tác giả đã xác định 14 nhân tố tác động đến chất lượng kiểm toán BCTC của DNNY trên thị trường chứng khoán Việt Nam và chia thành 3 nhóm nhân

tố theo thứ tự ảnh hưởng giảm dần gồm:

- Nhân tố thuộc về nhóm KTV: Kinh nghiệm chuyên sâu, Ý thức, Chuyên nghiệp,

Áp lực, Trình độ bằng cấp, Độc lập;

- Nhân tố thuộc về nhóm DNKT: Hệ thống KSCL, Điều kiện làm việc (chú trọng

Phương pháp và quy trình kiểm toán), Phí kiểm toán, Danh tiếng và Quy mô

DNKT;

- Nhân tố thuộc nhóm bên ngoài: Nhân tố liên quan đến DNNY, Môi trường pháp

lý, Kiểm soát bên ngoài

 Nhóm nhân tố thuộc về DNKT

[4] Nghiên cứu của Trương Vĩnh Thắng (2015)9 Luận văn này đã nghiên cứu các

nhân tố bên trong DNKT tác động đến chất lượng KTĐL thông qua mô hình với 07

8 Bùi Thị Thủy (2013) Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính các

doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Luận án Tiến sĩ Trường Đại học kinh tế quốc

dân Hà Nội

9 Trương Vĩnh Thắng (2015) Các nhân tố bên trong của công ty kiểm toán tác động đến chất lượng dịch vụ

kiểm toán độc lập tại Tp Hồ Chí Minh Luận văn Thạc sĩ Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 20

biến độc lập: Quy mô, Phí dịch vụ kiểm toán, Phạm vi và phí dịch vụ phi kiểm toán, Nhiệm kỳ kiểm toán, Mức độ am hiểu ngành nghề kinh doanh của khách hàng, KSCL bên trong và Phương pháp kiểm toán bằng phương pháp nghiên cứu chính là định lượng kết hợp với phương pháp nghiên cứu định tính Mẫu khảo sát của nghiên cứu

là 176 mẫu (hợp lệ) được lấy từ các trợ lý kiểm toán, trưởng nhóm kiểm toán và chủ nhiệm kiểm toán Phương pháp phân tích dữ liệu chính trong nghiên cứu là đánh giá

độ tin cậy Cronbach alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích tương quan Pearson và phân tích hồi quy tuyến tính bội Kết quả luận văn đã xác định rằng KSCL bên trong tác động mạnh nhất tới chất lượng KTĐL, tiếp theo là Mức độ am hiểu ngành nghề kinh doanh của khách hàng, kế tiếp là Dịch vụ kiểm toán và phi kiểm toán, sau đó là Nhiệm kỳ kiểm toán, và Quy mô là tác động yếu nhất

[5] Nghiên cứu của Lâm Huỳnh Phương (2013) 10 Luận văn xác định mối quan hệ

giữa việc luân chuyển KTV đến chất lượng kiểm toán BCTC thông qua việc tìm hiểu mối quan hệ giữa các khoản dồn tích (DA) và nhiệm kỳ kiểm toán Mẫu nghiên cứu được tác giả lấy từ BCTC của 39 công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội từ năm 2000 đến năm 2012 Nghiên cứu phân tích

dữ liệu bằng hồi quy tuyến tính bội Kết quả cho thấy nhiệm kỳ kiểm toán không có mối quan hệ với CLKT Ngoài ra, kết quả kiểm chứng về khoản thời gian luân chuyển kiểm toán 3 năm là không phù hợp Vì vậy, nghiên cứu đã đề xuất nhiệm kỳ kiểm toán ít nhất là 05 năm nhằm giúp KTV có nhiều am hiểu về khách hàng hơn, dễ dàng phát hiện và điều chỉnh những khoản dồn tích làm tăng việc khai khống lợi nhuận

[6] Nghiên cứu của Trần Thị Giang Tân và Cộng sự (2011)11 Đây là một trong

những nghiên cứu tiên phong trong lĩnh vực kiểm soát CLKT tại Việt Nam Đề tài nghiên cứu lý luận cơ bản về chất lượng và KSCL hoạt động KTĐL Tác giả khảo sát

và đúc kết kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới (như Hoa Kỳ, Pháp) trong xây

10 Lâm Huỳnh Phương (2013) Ảnh hưởng của việc luân chuyển kiểm toán viên đến chất lượng hoạt động kiểm

toán báo cáo tài chính tại Việt Nam Luận văn Thạc sĩ Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh

11 Trần Thị Giang Tân và Cộng sự (2011) Cơ sở lý luận và thực tiễn của kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm

toán độc lập ở Việt Nam Đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ cấp bộ Trường Đại học Kinh tế Thành phố

Hồ Chí Minh

Trang 21

dựng các quy định về KSCL đối với hoạt động KTĐL nhằm áp dụng cho các DNKT

ở Việt Nam Nguồn dữ liệu sử dụng là các báo cáo hoạt động thường niên của 55 DNKT qua hai năm 2009, 2010, cùng với báo cáo về KSCL của Vụ chế độ kế toán –

kiểm toán và VACPA Qua đó, tác giả đánh giá những mặt còn tồn tại trong KSCL

và bổ sung về cơ sở lý luận và thực tiễn của việc thiết lập các quy định về KSCL và

đề ra các kiến nghị mang tính định hướng đến các cơ quan chức năng cho việc thiết lập các quy định KSCL đối với hoạt động KTĐL tại Việt Nam

[7] Nghiên cứu của Trần Khánh Lâm (2011)12 Luận án nghiên cứu các quan điểm

cơ bản về KSCL hoạt động KTĐL, các yếu tố ảnh hưởng đến CLKT, cơ chế KSCL cũng như sự hình thành cơ chế KSCL tại Việt Nam Nghiên cứu kết hợp cả phương pháp định lượng và định tính Nguồn dữ liệu sử dụng cho phân tích định lượng, thống

kê là từ các báo cáo hoạt động thường niên của 100 DNKT qua các năm 2007, 2008

và 2009; 35 DNKT được kiểm tra chất lượng trong năm 2009 và dữ liệu khảo sát từ

69 DNKT có quy mô và hình thức sở hữu khác nhau của năm 2008 và 2009 Nghiên cứu đã đi sâu phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến CLKT gồm: Quy mô, Nhiệm kỳ kiểm toán, Giá phí kiểm toán, Mức độ chuyên sâu, Phạm vi dịch vụ phi kiểm toán, Phương pháp luận kiểm toán và tính cách của KTV Từ đó đưa ra các kết luận: (1) Các DNKT tại Việt Nam có quy mô càng lớn, nguồn lực tài chính càng dồi dào thì chỉ số CLKT càng cao; (2) Việc hạ thấp giá phí kiểm toán có ảnh hưởng nhất định đến CLKT và phần lớn các DNKT nhỏ do thiếu nguồn lực nên không thể duy trì hoặc thực hiện đều đặn các việc xây dựng hệ thống chính sách và thủ tục KSCL đạt hiệu quả; (3) DNKT có mức độ chuyên sâu và thực hiện việc luân chuyển KTV định kỳ thì luôn đạt được CLKT tốt; (4) Việc thực hiện KSCL từ bên trong của các DNKT tại Việt Nam còn chưa được quan tâm đúng mức Trên cơ sở đó tác giả đưa ra các quan điểm và giải pháp nhằm xây dựng cơ chế KSCL hoạt động KTĐL theo hướng nâng cao CLKT như điều chỉnh quy mô DNKT, tăng cường quản lý về giá phí kiểm toán, nâng cao trình độ KTV, xây dựng cơ chế KSCL từ bên trong và bên ngoài

12 Trần Khánh Lâm (2011) Xây dựng cơ chế kiểm soát chất lượng cho hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt

Nam Luận án Tiến sĩ Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 22

 Nhân tố thuộc về KTV

[8] Nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Mai (2013)13 Nghiên cứu này nhằm đánh

giá tầm quan trọng của các thuộc tính của KTV ảnh hưởng đến chất lượng KTĐL Nghiên cứu xây dựng bảng câu hỏi dựa trên nền 20 thuộc tính của KTV trong mô hình nghiên cứu của hai tác giả Mohammsad và James Shanteau (1992) và ba thuộc tính được tác giả thêm vào, gồm Cẩn thận, Đam mê nghề nghiệp, Tham vọng nghề nghiệp Đối tượng khảo sát của luận văn là các trợ lý kiểm toán, các KTV tại các DNKT tại Thành phố Hồ Chí Minh Qua phân tích thống kê mô tả của mẫu khảo sát

100 đối tượng, kết quả nghiên cứu cho thấy các thuộc tính Khả năng chịu áp lực, Tinh thần trách nhiệm, Kiến thức, Tính cẩn thận và Làm việc có phương pháp là những

thuộc tính quan trọng nhất đối với một KTV trong vấn đề ra quyết định

Kết luận: Như vậy qua các phân tích ở trên, ta thấy các tác giả trong nước tập

trung nghiên cứu một cách riêng lẻ các yếu tố tác động đến chất lượng KTĐL tại Việt Nam Một số các nghiên cứu khác thì phân tích và đánh giá ảnh hưởng của KSCL bên trong, KSCL bên ngoài đến chất lượng KTĐL Tuy nhiên, chưa có đề tài nghiên cứu sâu về các nhân tố liên quan đến bên cung cấp dịch vụ kiểm toán ảnh hưởng đến chất lượng KTĐL tại TP.HCM

1.3 Tổng kết các nhân tố liên quan đến bên cung cấp dịch vụ kiểm toán

Thông qua việc tìm hiểu các nghiên cứu trong và ngoài nước, các nhân tố liên qua đến bên cung cấp dịch vụ kiểm toán gồm: Quy mô DNKT, Nhiệm kỳ kiểm toán, Phạm vi dịch vụ phi kiểm toán, Tính chuyên sâu trong các lĩnh vực kiểm toán, Kiểm soát chất lượng bên trong, Hình thức sở hữu của DNKT, Tổ chức và hoạt động của DNKT, năng lực nghề nghiệp của KTV, các nhân tố liên quan đến thuộc tính cá nhân của KTV như đam mê, cẩn thận, tính độc lập,….Đó chính là cơ sở cho việc thành lập

mô hình nghiên cứu sẽ được trình bày kĩ ở chương 2 và chương 3

13 Nguyễn Thị Ngọc Mai (2013) Đánh giá tầm quan trọng của một số thuộc tính cá nhân của kiểm toán viên

đối với chất lượng kiểm toán các công ty kiểm toán độc lập ở Việt Nam Luận văn Thạc sĩ Trường Đại học

Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh.

Trang 23

1.4 Khe hổng nghiên cứu

Có rất nhiều nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng KTĐL như: các nhân tố bên trong DNKT (Quy mô, danh tiếng, mô hình tổ chức…); hay nhóm nhân

tố thuộc về đặc điểm, tính cách KTV; hoặc các nhân tố thuộc về KSCL bên ngoài (môi trường pháp lý…), nhưng đến nay vẫn chưa có sự đồng thuận hoàn toàn về định nghĩa cũng như các nhân tố tác động đến CLKT Vì vậy việc tiếp tục nghiên cứu sâu hơn nhằm kiểm định và bổ sung bằng chứng thực nghiệm về các nhân tố liên quan đến bên cung cấp dịch vụ kiểm toán tại TP.HCM là điều cần thiết Do đó, tác giả

khẳng định tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu về: “Các nhân tố liên quan đến bên

cung cấp dịch vụ kiểm toán ảnh hưởng tới chất lượng kiểm toán độc lập tại Tp Hồ Chí Minh”

TÓM TẮT CHƯƠNG 1

Chương 1 trình bày tóm tắt các nghiên cứu liên quan đến đề tài nghiên cứu về chất lượng KTĐL và các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng KTĐL được công bố trong và ngoài nước Các nghiên cứu được tổng hợp nhiều khía cạnh như: các biến đưa vào

mô hình, phương pháp nghiên cứu, số lượng mẫu, đối tượng khảo sát, cũng như kết quả của mô hình nghiên cứu Qua đó, tác giả xác định lỗ hổng nghiên cứu để làm cơ

sở chứng minh cho tính cấp thiết khi lựa chọn đề tài Luận văn

Chương tiếp theo sẽ trình bày các khái niệm liên quan đến KTĐL và chất lượng KTĐL, cơ sở lý thuyết nền và chọn lọc các biến độc lập đại diện cho các nhân tố liên quan đến bên cung cấp dịch vụ kiểm toán ảnh hưởng đến chất lượng KTĐL tại thành phố Hồ Chí Minh

Trang 24

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Chương 2 sẽ trình bày một số vấn đề chung về KTĐL và CLKT, Khuôn mẫu của

Ủy ban Chuẩn mực kiểm toán Quốc tế (IAASB) về CLKT Tiếp đến, sẽ giới thiệu các cơ sở lý thuyết có liên quan đến các nhân tố tác động đến CLKT như: Lý thuyết

Ủy nhiệm, Lý thuyết Cung cầu Cuối cùng, đánh giá các nhân tố liên quan đến bên cung cấp dịch vụ kiểm toán ảnh hưởng tới chất lượng KTĐL để đưa vào mô hình

nghiên cứu

2.1 Tìm hiểu về kiểm toán độc lập và chất lượng kiểm toán

2.1.1 Kiểm toán độc lập và hoạt động kiểm toán độc lập

Theo Điều 5, Luật Kiểm toán độc lập (2011): “Kiểm toán độc lập là việc kiểm toán

viên hành nghề, doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam kiểm tra, đưa ra ý kiến độc lập của mình về báo cáo tài chính và công việc kiểm toán khác theo hợp đồng kiểm toán”

Hoạt động KTĐL là hoạt động kiểm toán rất phổ biến và gắn liền với quá trình phát triển kinh tế Hoạt động KTĐL nhằm mục đích góp phần công khai, minh bạch thông tin kinh tế, tài chính của đơn vị được kiểm toán và doanh nghiệp, tổ chức khác; làm lành mạnh môi trường đầu tư; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, phòng, chống tham nhũng; phát hiện và ngăn chặn vi phạm pháp luật; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành kinh tế, tài chính của Nhà nước và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp (Luật Kiểm toán độc lập, năm 2011, Điều 4)

Để thực hiện được mục tiêu của KTĐL, theo Điều 8, Luật Kiểm toán độc lập, năm

2011 cho rằng nguyên tắc hoạt động KTĐL là: (1) Tuân thủ pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động nghề nghiệp và báo cáo kiểm toán; (2) Tuân thủ chuẩn mực kiểm toán và chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán Việt Nam; đối với công việc kiểm toán theo hợp đồng kiểm toán mà yêu cầu áp dụng chuẩn mực kiểm toán khác thì phải tuân thủ chuẩn mực kiểm toán đó; (3) Độc lập, trung thực, khách quan; (4) Bảo mật thông tin

Trang 25

Vì vậy, KTĐL là hoạt động dịch vụ của các DNKT và thu phí từ khách hàng Do

đó, chất lượng kiểm toán luôn là vấn đề quan tâm của nhiều phía từ DNKT đến khách hàng và người sử dụng BCTC Hơn nữa, kiểm toán là ngành nghề đặc thù, mang tính chuyên môn cao, nên chất lượng dịch vụ không dễ dàng quan sát hay kiểm tra, đánh giá Từ đó có thể thấy, nhân tố nào tác động tới CLKT, làm sao để tác động tới các nhân tố đó, và giải pháp ra sao là vấn đề cần được bàn tới

2.1.2 Chất lượng kiểm toán

Thông tin tài chính phải đáp ứng yêu cầu đáng tin cậy, đầy đủ, kịp thời và đáng tin cậy nhằm đáp ứng các nhu cầu của Người sử dụng Trên cơ sở đó, các quy định pháp luật và chuẩn mực ban hành bởi các tổ chức nghề nghiệp đặt ra yêu cầu KTV phải đảm bảo sự tin cậy đối với các thông tin tài chính đã được kiểm toán Điều này đặt ra đòi hỏi các DNKT và KTV phải thực hiện cuộc kiểm toán phù hợp với các tiêu chuẩn phù hợp nhằm đảm bảo rằng “một cuộc kiểm toán chất lượng đã được thực hiện” (Ủy ban Chuẩn mực Kiểm toán Quốc tế (IAASB), 2014) Qua đó, ta có thể thấy CLKT sẽ được nhìn nhận và đánh giá dưới các góc nhìn khác nhau của đối tượng sử dụng dịch

vụ và các DNKT:

- Đối tượng sử dụng, gồm khách hàng và Người sử dụng BCTC khác (nhà đầu tư, đối tác, hội nghề nghiệp, công chúng ): CLKT là mức độ thỏa mãn về thông tin đáng tin cậy để phục vụ lợi ích của họ;

- Các DNKT: CLKT là đáp ứng được yêu cầu, quy định Chuẩn mực kiểm toán (CMKiT), chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp và các quy định pháp luật có liên quan Theo DeAngelo (1981), CLKT là sự đánh giá của thị trường về khả năng một KTV phát hiện sai sót trọng yếu và báo cáo sai sót trọng yếu Bên cạnh đó, Copley & Doucet (1993) cho rằng CLKT là mức độ phù hợp với CMKiT

Theo các nghiên cứu được đề cập ở Chương 1, CLKT hình thành do sự tác động của nhiều nhóm nhân tố: KTV, DNKT, các yếu tố bên ngoài và sự tương tác của nhiều đối tượng tham gia quá trình kiểm toán CLKT là một thành phần của chất lượng BCTC, bởi vì CLKT cao sẽ tăng độ tin cậy của BCTC CLKT còn phụ thuộc

Trang 26

vào mức độ tuân thủ CMKiT và khả năng của KTV trong việc phát hiện và đưa ra ý kiến về những sai sót trọng yếu trong BCTC

Do tính đặc thù của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam, KTĐL được xem như một công cụ quản lý kinh tế và chịu sự quản lý trực tiếp của Bộ Tài chính là cơ quan quản lý Nhà nước về kế toán – kiểm toán Theo nguyên tắc của hoạt động KTĐL (đã đề cập ở mục 2.1) thì một cuộc kiểm toán được đánh giá

là có chất lượng, phải đảm bảo tuân thủ các CMKiT, Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp

và các quy định pháp luật có liên quan được Bộ Tài chính ban hành Năng lực của KTV, DNKT thể hiện qua trình độ, kinh nghiệm, quy mô và sự hỗ trợ các công cụ và quá trình kiểm soát, giám sát và sự điều hành hiệu quả của BGĐ DNKT sẽ làm tăng khả năng phát hiện và báo cáo sai sót trọng yếu trên BCTC

2.2 Khuôn mẫu về chất lượng do IAASB ban hành

2.2.1 Tìm hiểu chung về IAASB

Ngày 03/01/2011, Ủy ban Chuẩn mực Kiểm toán Quốc tế (IAASB) phát hành ấn phẩm “Chất lượng kiểm toán – Một quan điểm của IAASB” (Audit Quality – An IAASB perspective) mô tả các nhân tố đầu vào, nhân tố quá trình, nhân tố đầu ra, nhằm góp phần thực hiện kiểm toán có chất lượng, với sự cam kết trong ngành kiểm toán nói chung và tại các quốc gia nói riêng, cho các cuộc kiểm toán BCTC Khuôn mẫu cũng đã thể hiện tầm quan trọng của sự tương tác thích hợp cho các bên liên quan cũng như vai trò của nhân tố ngữ cảnh đối với CLKT

Ngày 15/01/2013, IAASB phát hành bản dự thảo về Khuôn mẫu CLKT và thu thập

ý kiến phản hồi đến ngày 15/05/2013 Ngày 18/02/2014, IAASB đã phát hành bản chính thức mang tên “Khuôn mẫu chất lượng kiểm toán: Những yếu tố chính tạo nên môi trường cho chất lượng kiểm toán” (A framework Audit Quality Key elements that create an environment for Audit Quality) Đây là tài liệu mang tính tư vấn nhằm tạo môi trường thảo luận, trao đổi để đạt được sự cải tiến liên tục của CLKT, và không được dùng thay thế cho các CMKiT, chuẩn mực KSCL và các quy định khác

Trang 27

2.2.2 Nội dung chính của Khuôn mẫu do IAASB ban hành

Theo Khuôn khổ CLKT (IAASB, 2014), các nhân tố của CLKT bao gồm: Nhân tố đầu vào, Nhân tố quá trình, Nhân tố đầu ra, Nhân tố tương tác, Nhân tố ngữ cảnh Khuôn mẫu được áp dụng cho 03 cấp độ khác nhau: Cấp độ Nhóm kiểm toán, Cấp

độ DNKT, Cấp độ Quốc gia và được mô tả qua hình 2.1 như sau:

Hình 2.1 Khung các nhóm nhân tố tác động đến CLKT

Nguồn: IAASB, 2014

Nội dung chính của các nhóm nhân tố gồm:

[1] Nhân tố đầu vào

Các nhân tố đầu vào của CLKT chia làm hai nhóm nhân tố và các thuộc tính chủ yếu đối với mỗi cấp độ như sau:

 Giá trị, đạo đức và thái độ

- Cấp độ nhóm kiểm toán: Cuộc kiểm toán được thực hiện đa số lợi ích công chúng

và tầm quan trọng của việc tuân thủ Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp; Thể hiện sự khách quan và trung thực; Tuân thủ các quy định về tính độc lập; Luôn thể hiện thái độ hoài nghi nghề nghiệp

- Cấp độ DNKT: Thiết lập hệ thống chất lượng và KSCL kiểm toán hợp lý nhằm

đảm bảo tính độc lập của DNKT; Các tố chất cá nhân cần thiết được khuyến khích thông qua hệ thống đánh giá và khen thưởng; Yếu tố tài chính được xem xét để

Trang 28

không làm suy giảm CLKT; Cung cấp cơ hội phát triển nghề nghiệp và tiếp cận với sự hỗ trợ kỹ thuật cao; Khuyến khích tham khảo ý kiến tư vấn đối với các vấn

đề phức tạp; Hệ thống vững chắc cho việc ra quyết định về việc chấp nhận và duy trì khách hàng

- Cấp độ Quốc gia: Các yêu cầu đạo đức được ban hành nhằm làm rõ hai khía cạnh

về nguyên tắc đạo đức cơ bản và các yêu cầu cụ thể được áp dụng; Đảm bảo rằng các nguyên tắc đạo đức được hiểu rõ và được áp dụng một cách nhất quán; Các thông tin liên quan đến việc chấp nhận khách hàng được chia sẻ giữa các DNKT

 Kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm và thời gian để thực hiện kiểm toán

- Cấp độ nhóm kiểm toán: Có trình độ chuyên môn và năng lực cần thiết; Có hiểu

biết về hoạt động kinh doanh các khách hàng; Đưa ra ý kiến kiểm toán phù hợp; Tích cực thực hiện các đánh giá rủi ro, lập kế hoạch, giám sát và soát xét các công việc kiểm toán; Thực hiện kiểm toán một cách kỹ lưỡng và được hướng dẫn chi tiết, giám sát và kiểm tra; Có đủ thời gian để thực hiện kiểm toán hiệu quả; Các nhân viên có kinh nghiệm có thể tiếp cận để quản lý và chịu trách nhiệm với BGĐ

- Cấp độ DNKT: Có đủ thời gian để giải quyết các vấn đề phức tạp; Phân công công

việc kiểm toán thích hợp; Có đánh giá kịp thời, đào tạo và hướng dẫn đúng việc cho các trợ lý ít kinh nghiệm kiểm toán; Được đào tạo đầy đủ về kế toán, kiểm toán và các lĩnh vực chuyên môn khác

- Cấp độ Quốc gia: Điều chỉnh thiết thực từ việc cấp phép cho DNKT/KTV; Đào

tạo nguồn nhân lực đầy đủ và hiệu quả; Cập nhật kiến thức KTV và tổ chức các khóa đào tạo về các chính sách kế toán, kiểm toán; Thu hút và giữ lại những cá nhân có năng lực và trình độ phù hợp

Như vậy, nhân tố đầu vào được KSCL với mức độ khác nhau ở mỗi cấp độ nhằm đảm bảo hai nhóm trên thực hiện đầy đủ, tuân thủ CMKiT và các quy định của pháp luật có liên quan

[2] Nhân tố quá trình

Nhân tố quá trình của CLKT gồm Quy trình kiểm toán và Thủ tục KSCL được thể hiện ở các cấp độ như sau:

Trang 29

Nhóm kiểm toán DNKT Quốc gia

- Khuyến khích sự hoài nghi nghề nghiệp và đánh giá chuyên môn thích hợp;

- Công việc kiểm toán có tài liệu kiểm toán phù hợp, có sự giám sát

và đánh giá hiệu quả;

- Thủ tục KSCL chặt chẽ, CLKT được giám sát và biện pháp thích hợp được thực hiện

- Các CMKT và các Chuẩn mực khác được ban hành làm

rõ các mục tiêu cơ bản cũng như các yêu cầu cụ thể được

áp dụng;

- Cơ quan chịu trách nhiệm kiểm tra kiểm toán bên ngoài xem xét các yếu tố liên quan của CLKT, trong DNKT và thực hiện hợp đồng KTĐL;

- Hệ thống có hiệu lực để điều tra về sự không tuân thủ kiểm toán và bị kỷ luật khi cần thiết

Như vậy, tính hợp lý của quy trình kiểm toán và các thủ tục KSCL có khả năng ảnh hưởng đến CLKT

[3] Nhân tố đầu ra

Nhân tố đầu ra bao gồm Báo cáo kiểm toán, BCTC đã kiểm toán, Báo cáo minh bạch và Báo cáo KSCL kiểm toán Các nhân tố đầu ra chịu ảnh hưởng bởi các bên như sau:

- Cấp độ Nhóm kiểm toán: Kiểm toán viên

- Cấp độ DNKT: Khách hàng, Cơ quan quản lý kiểm toán và DNKT

- Cấp độ Quốc gia: Cơ quan quản lý kiểm toán

Vì vậy, nhân tố đầu ra cần hữu ích, kịp thời và đáp ứng được nhu cầu của người sử dụng

[4] Nhân tố tương tác

Sự tương tác giữa các bên liên quan trong việc cung cấp BCTC sẽ góp phần nâng cao CLKT và tạo ra mối quan hệ mật thiết giữa đầu vào và đầu ra Sự tương tác gồm:

Trang 30

- Sự tương tác của KTV với: Nhà quản lý, Ban quản trị, Người sử dụng BCTC,

Cơ quan Nhà nước;

- Sự tương tác của Nhà quản lý với: Ban quản trị, Cơ quan Nhà nước, Người sử dụng BCTC;

- Sự tương tác của Ban quản trị với: Cơ quan Nhà nước, Người sử dụng BCTC;

- Sự tương tác của Cơ quan Nhà nước với Người sử dụng BCTC

Như vậy, với sự ban hành các khuôn khổ CLKT này, IAASB tin tưởng rằng sẽ mang lại những lợi ích sau:

- Nâng cao mức độ nhận thức và sự hiểu biết giữa các bên liên quan đối với các yếu tố quan trọng của CLKT;

- Cho phép các bên liên quan nhận diện được vai trò, mức độ tác động của các yếu tố để có biện pháp thích hợp;

- Hỗ trợ việc thiết lập, điều chỉnh, cải tiến các CMkiT, Chuẩn mực Đạo đức nghề nghiệp, chương trình đào tạo trong cả phạm vi quốc tế và quốc gia…

2.3 Cơ sở lý thuyết nền các nhân tố tác động đến CLKT

2.3.1 Lý thuyết Ủy nhiệm

Lý thuyết ủy nhiệm có nguồn gốc từ lý thuyết kinh tế, được phát triển bởi Alchial

và Demsetz năm 1972 và được Jensen và Meckling phát triển thêm vào năm 1976

Lý thuyết này nhấn mạnh rằng, người ủy nhiệm (người chủ) quyết định lựa chọn người đại diện (người thừa hành) thay mặt họ thực hiện một số nhiệm vụ và người đại diện phải cung cấp lựa chọn tốt hơn cho người ủy nhiệm Kết quả thực hiện nhiệm

vụ của người đại diện sẽ được xem xét bởi một bên thứ ba độc lập thực hiện vai trò giám sát, đánh giá một cách khách quan thay mặt cho người ủy nhiệm Thuyết ủy

Trang 31

nhiệm chính là tiền đề giải thích cho sự tồn tại hợp pháp của kiểm toán nói chung và KTĐL nói riêng nhằm đảm bảo trách nhiệm giải trình giữa các bên

Trong một doanh nghiệp thường sẽ có sự tách biệt giữa quyền sở hữu và sự kiểm soát, từ đó có thể xảy ra sự mâu thuẫn lợi ích và thông tin bất cân xứng thì kiểm toán

sẽ thực hiện vai trò giám sát các mối quan hệ ủy nhiệm và công bố thông tin phát sinh

từ sự bất cân xứng thông tin và xung đột lợi ích giữa Người chủ và Người đại diện Xuất phát từ sự bất đồng trong việc ủy nhiệm, mâu thuẫn của sự ủy nhiệm càng cao càng làm tăng nhu cầu về mức độ đảm bảo đối với bên thứ ba (kiểm toán), theo đó yêu cầu về CLKT cũng sẽ cao hơn Từ đó, nhu cầu của khách hàng về CLKT là lựa chọn các DNKT quy mô lớn có uy tín, KTV có năng lực, kinh nghiệm và chuyên ngành cao Francis & Wilson (1988) cho rằng chi phí ủy nhiệm ảnh hưởng đến sự lựa chọn một thương hiệu kiểm toán chất lượng cao (theo nghiên cứu của Phan Văn Dũng, 2015) Trong việc đáp ứng nhu cầu này, phí kiểm toán còn có tác động đến việc lựa chọn KTV có năng lực, thiết lập thủ tục kiểm toán để phát hiện BCTC có sai sót trọng yếu và ảnh hưởng đến tính độc lập trong việc báo cáo sai sót (Wooten, 2003) Vậy qua các nhận định trên cho thấy Lý thuyết Ủy nhiệm bên cạnh việc giải thích

về sự cần thiết của kiểm toán, còn làm cơ sở cho việc giải thích nhu cầu về CLKT cũng như nghiên cứu về các nhân tố có tác động đến CLKT

2.3.2 Lý thuyết Cung cầu

Lý thuyết cung - cầu trong kinh tế học vi mô được James Denham Steuart khởi xướng lần đầu tiên trong cuốn sách “Tìm hiểu nguyên lý kinh tế chính trị” (Inquiry into the Principles of Political Economy) xuất bản năm 1767 Sau đó, năm 1776, Adam Smith phát triển tiếp lý thuyết này trong cuốn sách “Của cải của các dân tộc” (The Wealth of Nations) và áp dụng phổ biến trong lý thuyết kinh tế cho đến nay Trong Luận văn, lý thuyết cung - cầu được sử dụng để giải thích sự hình thành và phát triển của KTĐL dựa trên mối quan hệ giữa bên cung (DNKT, KTV) và bên cầu (Khách hàng, Người sử dụng BCTC) cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến mối quan

hệ cung cầu giữa DNKT, KTV và khách hàng

Trang 32

Thứ nhất, về bên cầu, Nhu cầu về CLKT của khách hàng là do: (1) Phát sinh từ

nhu cầu giải quyết thông tin bất cân xứng trong lý thuyết Ủy nhiệm, quan hệ giữa Người chủ và Người đại diện càng thấp càng làm tăng nhu cầu về sự đảm bảo CLKT; (2) Năng lực của khách hàng trong hệ thống kiểm soát nội bộ, cũng đòi hỏi một CLKT cao nhằm hỗ trợ các hoạt động kiểm soát còn hạn chế của các bộ phận này; (3) Xuất phát từ mong muốn nâng cao chất lượng BCTC của Nhà quản lý

Thứ hai, về bên cung, khả năng cung cấp CLKT xuất phát từ động lực của KTV

và DNKT, như danh tiếng, tránh kiện tụng và quy định pháp luật Những khả năng này được thể hiện qua các yếu tố đầu vào: Quy mô DNKT, Nhiệm kỳ kiểm toán, Năng lực của KTV, Tính chuyên sâu trong các lĩnh vực kiểm toán, Phạm vi dịch vụ phi kiểm toán, Kiểm soát chất lượng bên trong, Thuộc tính cá nhân của KTV

Thứ ba, trong cơ chế thị trường, khi KTV tiến hành kiểm toán sai dẫn đến tranh

chấp thì DNKT phải bồi thường và vấn đề nghiêm trọng là DNKT sẽ bị ảnh hưởng đến danh tiếng thương mại của họ Do đó, để tạo danh tiếng, trước tiên giá bán (phí kiểm toán) phải vượt quá biên tế và khách hàng (Nhà quản lý, Người sử dụng) phải nhận ra chất lượng của Nhà cung cấp (KTV) thông qua danh tiếng của doanh nghiệp nên có thể tin tưởng họ Giá phí kiểm toán đại diện cho CLKT vì dùng để đo lường mức độ nỗ lực của KTV, là yếu tố đầu vào cho quá trình kiểm toán có ảnh hưởng trực tiếp đến CLKT, phí kiểm toán là kết quả của các yếu tố cung và cầu kiểm toán Như vậy, tác động quan hệ cung cầu về CLKT giữa khách hàng và DNKT đã đặt

ra một yêu cầu đối với DNKT trong việc nâng cao CLKT nhằm thỏa mãn nhu cầu khách hàng và khả năng cung cấp của KTV, DNKT

2.4 Các nhân tố liên quan đến bên cung cấp dịch vụ kiểm toán ảnh hưởng tới chất lượng KTĐL

Tác giả tiến hành nghiên cứu các nhân tố liên quan đến bên cung cấp dịch vụ kiểm toán ảnh hưởng tới chất lượng KTĐL, thông qua đánh giá của nhân viên DNKT nhằm giúp xác định phương hướng nâng cao CLKT, bảo đảm khả năng phát hiện, báo cáo các sai sót trọng yếu của KTV và đáp ứng yêu cầu xã hội, bởi đây là mối quan tâm hàng đầu không chỉ của chính các DNKT mà đặc biệt là của các nhà đầu tư, cũng như

Trang 33

các nhà quản lý Từ quan điểm về CLKT nói chung và đặc trưng của KTĐL, tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước và khuôn mẫu IAASB, chủ yếu là các nhân

tố đầu vào và nhân tố quá trình, tác giả hệ thống lại các nhân tố liên quan đến bên cung cấp dịch vụ kiểm toán ảnh hưởng tới chất lượng KTĐL như sau:

2.4.1 Ảnh hưởng của Quy mô đến chất lượng KTĐL

Nghiên cứu của DeAngelo (1981a) đi đến kết luận rằng các DNKT có quy mô lớn thường có chất lượng được đánh giá bởi thị trường cao hơn các DNKT có quy mô nhỏ Đồng thời tác giả còn cho rằng DNKT càng nhiều khách hàng thì họ càng bị áp lực kinh tế buộc phải duy trì và nâng cao chất lượng kiểm toán Ngoài ra nghiên cứu của Dye (1993) và Lennox (1999) đều cho rằng CLKT có mối quan hệ với nguồn tài chính của DNKT Quy mô DNKT càng lớn với nguồn tài chính dồi dào sẽ có điều kiện duy trì chất lượng dịch vụ ở mức cao và sẽ làm giảm tối thiểu khả năng xảy ra

các vụ kiện tụng

Nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra rằng quy mô khách hàng càng lớn thì thường ít kí hợp đồng với DNKT có quy mô nhỏ (Mansi và cộng sự, 2004) Họ thường có xu hướng chọn các DNKT có quy mô lớn và có danh tiếng, vì có thể những khách hàng lớn tin tưởng rằng những DNKT lớn sẽ cung cấp một CLKT cao hơn và vì vậy giữ gìn danh tiếng của họ Do đó, các DNKT lớn lo sợ thiệt hại về danh tiếng nên có xu

hướng cung cấp chất lượng KTĐL cao hơn

Một nghiên cứu cho rằng DNKT lớn có nhiều điều kiện và cam kết để đạt được một CLKT cao hơn vì có thể áp dụng công nghệ thông tin hiện đại, nguồn nhân lực trình độ chuyên môn cao cũng như có chương trình đào tạo thường xuyên và xây dựng được chương trình kiểm toán chuẩn (Shu, 2000)

Tại Việt Nam, luận án của Bùi Thị Thủy (2013) cho rằng quy mô DNKT thể hiện qua vốn điều lệ, số lượng kiểm toán viên và nhân viên, số lượng khách hàng và lịch

sử hoạt động của DNKT Quy mô càng lớn càng tác động tốt đến CLKT

Như vậy, từ những nghiên cứu kể trên, chỉ tiêu quy mô là một trong những chỉ tiêu tiêu biểu để đo lường và đánh giá về CLKT Do đó, Quy mô được đưa vào mô hình

Trang 34

2.4.2 Ảnh hưởng của Giá phí kiểm toán đến chất lượng KTĐL

Một số nhà nghiên cứu cho rằng việc giảm giá phí kiểm toán thường dẫn đến giảm CLKT Giải thích cho điều này đó là việc hạ thấp chi phí có thể tác động đến quỹ thời gian và chi phí dự phòng cho cuộc kiểm toán cũng sẽ bị hạ thấp từ đó gây ra áp lực

và khó khăn cho KTV trong việc phát hiện ra các sai phạm trọng yếu

Đầu tiên là nghiên cứu của DeAngelo (1981b) với việc đưa ra mô hình giá phí và chi phí kiểm toán Mô hình này đã góp phần chỉ rõ mối liên hệ giữa chi phí kiểm toán

và mối quan hệ với khách hàng Cụ thể đó là DNKT thường có xu hướng ấn định mức giá phí kiểm toán ở năm đầu tiên dưới mức chi phí thực tế mà công ty bỏ ra để thu được lợi nhuận tăng thêm trong tương lai từ việc thực hiện các hợp đồng này Điều này cũng tạo ra mối quan hệ kinh tế chặt chẽ với khách hàng qua đó làm suy giảm tính độc lập của KTV và dẫn đến giảm chất lượng kiểm toán Theo Defond & Zhang (2014), giá phí kiểm toán được dùng làm đại diện cho CLKT vì được sử dụng

để đo lường mức độ nỗ lực của KTV là một yếu tố đầu vào của quá trình kiểm toán

và có liên quan trực tiếp đến CLKT Ngoài ra, giá phí kiểm toán có nhiều lợi thế trong việc đo lường CLKT do liên tục biến đổi và đa dạng, giá phí kiểm toán cao sẽ tạo điều kiện để có thể phân công các KTV có trình độ và có thêm thời gian cần thiết để KTV phát hiện các lỗi và sai phạm trong BCTC Suseno (2013) cho rằng do áp lực cạnh tranh của thị trường dịch vụ nên một số DNKT nhỏ đã giảm giá phí thấp xuống nhằm giữ chân khách hàng, làm cho các KTV có thể bỏ qua thủ tục kiểm toán cần thiết để phù hợp với giá phí

Nghiên cứu của Choi và cộng sự (2010), chỉ ra mối quan hệ tỉ lệ thuận giữa giá phí kiểm toán và quy mô của DNKT Ông chỉ ra rằng các doanh nghiệp quy mô lớn thường sẽ có giá phí kiểm toán cao hơn Đó là vì họ cần phải bảo vệ danh tiếng bằng cách yêu cầu một giá phí cao hơn nhằm thực hiện được cuộc kiểm toán chất lượng hơn (theo nghiên cứu của Đinh Thanh Mai, 2014)

Tại Việt Nam, theo như đoạn 290.219 thông tư 70/2015/TT-BTC quy định về Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán quy định nếu doanh thu DNKT trong hai năm liên tiếp từ khách hàng là đơn vị có lợi ích công chúng chiếm hơn 15%

Trang 35

tổng doanh thu của DNKT thì phải công bố với Ban quản trị của khách hàng rằng tổng phí dịch vụ đó chiếm hơn mức 15% tổng doanh thu của doanh nghiệp, và trao đổi về biện pháp bảo vệ nhằm giảm nguy cơ tự lợi hay nguy cơ bị đe dọa sẽ ảnh hưởng đến ý kiến của KTV, cũng như chất lượng KTĐL Bên cạnh đó, theo Phan Văn Dũng (2015) cho rằng giá phí kiểm toán được đo lường trên cơ sở đảm bảo thời gian, nhân sự thực hiện cuộc kiểm toán dựa trên khối lượng công việc và mức độ phức tạp của công việc kiểm toán

Dựa trên các phân tích trên, nhìn chung các nghiên cứu đều cho rằng giá phí kiểm toán tác động thuận hướng đến CLKT Vì vậy, tác giả xác định nhân tố giá phí kiểm toán là nhân tố thứ hai tác động đến chất lượng KTĐL, và là biến độc lập trong mô hình

2.4.3 Ảnh hưởng của Nhiệm kỳ kiểm toán đến chất lượng KTĐL

Với các vụ gian lận lớn và phá sản của các doanh nghiệp thì mối quan hệ giữa khách hàng và KTV, DNKT ngày càng được quan tâm hơn Việc bắt buô ̣c luân phiên KTV là mô ̣t biê ̣n pháp để nâng cao tính độc lập của KTV - cũng chính là nâng cao CLKT Quy định về thời hạn thay đổi KTV nhằm giới hạn nhiê ̣m kỳ KTV vì sự gia tăng mối quan hê ̣ thân thiết giữa KTV và khách hàng sẽ làm ảnh hưởng xấu đến CLKT

Trên thực tế ở các quốc gia, quy định về luân phiên KTV với chất lượng kiểm toán

về cơ bản có 2 ý kiến như sau:

 Ủng hộ luân chuyển KTV: Phần lớn ý kiến cho rằng, nhiê ̣m kỳ KTV càng dài thì

càng có thể làm giảm CLKT bởi vì điều này làm gia tăng sự phu ̣ thuô ̣c của KTV

vào ban lãnh đa ̣o của doanh nghiê ̣p được kiểm toán Một khách hàng quá quen thuộc

sẽ không gây nên sự chú ý, tác động giúp KTV có cách nhìn nhận, đánh giá mới và cũng không còn khả năng tư vấn, đề xuất các biện pháp cải cách mới mẻ (Mautz và Sharaf, 1961) Một nghiên cứu sau đó của Shockley (1981) cho rằng nhiệm kỳ kiểm toán dài thì KTV có thể quá thân mâ ̣t với ban lãnh đa ̣o khách hàng và không có thái

đô ̣ hoài nghi nghề nghiê ̣p đúng mức và tính khách quan của KTV sẽ bi ̣ giảm dần theo thờ i gian Khi DNKT có sự tin tưởng với khách hàng do mối quan hê ̣ lâu dài

Trang 36

thì sự tin tưởng này có thể khiến cho KTV và DNKT sử du ̣ng các thủ tu ̣c kiểm toán

kém hữu hiệu và không sáng ta ̣o Cùng với thời gian, KTV có thể chỉ tập trung vào việc duy trì, thu được lợi nhuận từ khách hàng và ít quan tâm đến các vụ kiê ̣n tu ̣ng, tranh chấp có thể xảy ra từ phía khách hàng Do vâ ̣y, KTV có thể thiếu khách quan

và kém nỗ lực trong viê ̣c phát hiê ̣n các sai sót tro ̣ng yếu và có khuynh hướng dễ đồng ý với ban lãnh đa ̣o doanh nghiê ̣p về các quyết đi ̣nh quan tro ̣ng Chính vì vâ ̣y, việc quy đi ̣nh về giới ha ̣n nhiê ̣m kỳ KTV được xem là biê ̣n pháp cải thiê ̣n CLKT

bằng cách giảm sự ảnh hưởng của khách hàng đối với KTV và DNKT

 Phản đối luân chuyển KTV: Chi phí cho việc thực hiê ̣n kiểm toán năm đầu tiên bao

giờ cũng đều gây tốn kém về thời gian và sức lực nhiều nhất cho cả khách hàng và DNKT Ban lãnh đạo của doanh nghiê ̣p cho rằng KTV cũ có kinh nghiệm và hiểu biết sâu hơn tình hình hoa ̣t đô ̣ng đă ̣c thù của doanh nghiê ̣p và họ lo lắng liê ̣u rằng KTV mớ i có đủ kiến thức chuyên ngành hoặc có đủ năng lực để kiểm toán mô ̣t khách hàng mới hay không (Davis và cộng sự, 2008) Việc thay đổi KTV thường xuyên sẽ có thể dẫn đến lý do KTV mới giảm thủ tục kiểm tra, giám sát của họ trong giai đoa ̣n đầu của nhiệm kỳ kiểm toán vì ho ̣ phải cố gắng bù đắp các khoản lỗ từ việc ca ̣nh tranh ha ̣ thấp phí kiểm toán Cùng với thời gian, KTV có thể thu thâ ̣p được kinh nghiệm và hiểu biết cần thiết cho mô ̣t cuô ̣c kiểm toán đầy đủ thủ tu ̣c và cho phép ho ̣ giảm thiểu việc dựa vào các đánh giá của ban lãnh đa ̣o doanh nghiê ̣p Ngoài ra, việc kéo dài nhiệm kỳ làm tăng hiểu biết về lĩnh vực hoạt động của khách hàng sẽ giúp KTV điều chỉnh các thủ tục, quy trình kiểm toán cho phù hợp để phát hiện các sai sót (Phan Thanh Trúc, 2013)

Tại Việt Nam, hoạt động KTĐL những năm gần đây đang nỗ lực hòa nhập với sự phát triển chung của nghề nghiệp trên thế giới Việc ra đời Luật kiểm toán độc lập vào năm 2011, có hiệu lực thi hành vào năm 2012 đã nâng tầm chuyên nghiệp của nghề kiểm toán ở một vị trí quan trọng nhất định Theo Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán Việt Nam quy định về thời gian luân chuyển KTV tối đa

là ba năm một lần

Trang 37

Tóm lại, các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam đều cho rằng nhiệm kỳ kiểm toán có ảnh hưởng đến chất lượng KTĐL thông qua tính độc lập của DNKT và KTV Qua khảo sát ý kiến của chuyên gia, tất cả đều đồng ý với quan điểm nhiệm kỳ kiểm toán có mối quan hệ tỉ lệ nghịch với chất lượng kiểm toán Vì vậy, tác giả lựa chọn nhân tố nhiệm kỳ kiểm toán theo hướng tác động ngược hướng tới mô hình nghiên cứu

2.4.4 Ảnh hưởng của Phạm vi dịch vụ phi kiểm toán đến chất lượng KTĐL

Không giống như các nhân tố khác, kết quả từ nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy dịch vụ phi kiểm toán không tác động đến chất lượng KTĐL theo một chiều cố định mà có thể có lúc tác động ngược hướng, thuận hướng hoặc không có tác động đến CLKT:

 Về tác động ngược hướng: Nghiên cứu của Beck và cộng sự (1988) chỉ ra rằng việc

cung cấp dịch vụ phi kiểm toán có thể gia tăng mối quan hệ kinh tế giữa KTV và khách hàng Mối quan hệ này càng chặt chẽ thì tính khách quan của DNKT càng bị

tổn hại do đó dẫn đến CLKT sẽ bị ảnh hưởng một cách ngược hướng Các nghiên

cứu trước đó của Mautz & Sharaf (1961) có đề cập đến việc dịch vụ tư vấn quản lý

và tư vấn thuế của DNKT cung cấp sẽ ảnh hưởng đến tính độc lập của DNKT Lý

do này đã làm cho DNKT có xu hướng nhượng bộ với khách hàng khi có sự bất đồng ý kiến trong quá trình thực hiện kiểm toán nhằm mục đích giữ được khách

hàng

 Về tác động thuận hướng: DeAngelo (1981b) chỉ ra rằng chất lượng KTĐL phụ

thuộc vào tính độc lập và năng lực của KTV Vì vậy, dịch vụ phi kiểm toán góp phần giúp KTV có một sự hiểu biết tốt hơn về khách hàng và làm tăng kiến thức của KTV về các quá trình kinh doanh, qua đó làm tăng khả năng phát hiện sai sót trên BCTC

 Không tác động: Reynolds và Francis (2004) đã nghiên cứu về mối quan hệ kinh tế

giữa KTV, DNKT và khách hàng Họ đặt ra giả thuyết rằng mức độ thỏa hiệp của KTV, DNKT phụ thuộc vào tầm quan trọng của khách hàng Tuy nhiên, kết quả lại cho thấy mối quan hệ kinh tế không làm ảnh hưởng đến chất lượng KTĐL Điều

Trang 38

này được giải thích là do những nguy cơ bị kiện tụng làm giảm danh tiếng đã lấn át

sự phụ thuộc về kinh tế Một nghiên cứu khác của Ashbaugh và cộng sự (2003) cũng

đã cho rằng không có mối quan hệ nào giữa dịch vụ phi kiểm toán và CLKT Tại Việt Nam, theo Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán và kiểm toán được ban hành và công bố của Thông tư 70/2015/TT-BTC34 ngày 05/05/2015 về việc ban hành Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán – Đoạn 290.32 cho rằng DNKT không được vừa cung cấp dịch vụ phi kiểm toán và kiểm toán cho cùng một khách hàng nếu không có biện pháp đảm bảo tính độc lập bằng cách tách biệt hai nhóm cung cấp dịch vụ phi kiểm toán và dịch vụ kiểm toán

Vì vậy, qua phân tích trên và dựa vào ý kiến của chuyên gia, tác giả lựa chọn nhân

tố Phạm vi dịch vụ phi kiểm toán đưa vào mô hình theo hướng tác động thuận hướng

2.4.5 Ảnh hưởng của Tính chuyên sâu trong các lĩnh vực kiểm toán đến chất lượng KTĐL

Các KTV am hiểu sâu lĩnh vực chuyên ngành sẽ có khả năng đánh giá được tính hợp lý trong ước tính kế toán và việc trình bày, công bố thông tin tài chính và do vậy,

sẽ làm tăng áp lực lên khách hàng phải tuân thủ nguyên tắc kế toán (Kwon, 1996) Deis và Giroux (1992) cũng đã tiến hành chọn mẫu để kiểm tra thị phần của các Non-Big 6 (các DNKT không thuộc nhóm Big 6 lúc bấy giờ và cả Big 4 hiện nay) Kết quả cho thấy rằng thi ̣ phần của các DNKT chuyên ngành tỷ lê ̣ thuâ ̣n với việc kiểm soát chất lượng Bằng chứng này chứng minh cho giả thuyết tính chuyên môn hóa tỷ lê ̣ thuận với CLKT Balsam và các cộng sự (2003) cũng tiến hành điều tra tương tự và rút ra kết luận rằng khách hàng của những DNKT chuyên ngành thường

có ít các khoản trích trước kế toán tùy tiện hơn so với những khách hàng sử dụng DNKT không chuyên ngành (theo nghiên cứu của Trần Khánh Lâm, 2011)

Nghiên cứu của Maletta & Wright (1996) cho rằng trong từng ngành sản xuất, kinh doanh hay dịch vụ khác nhau luôn tiềm ẩn những vấn đề rủi ro kiểm toán đặc trưng, DNKT có mức độ chuyên ngành cao sẽ thuận tiện trong việc nắm bắt và có kinh nghiệm đánh giá và xử lý những rủi ro này bằng các phương pháp và thủ tục kiểm toán phù hợp

Trang 39

Do vậy, từ những nghiên cứu trên cho thấy, chỉ tiêu tính chuyên ngành có thể được xem là yếu tố tác động đến CLKT và được đưa vào mô hình nghiên cứu

2.4.6 Ảnh hưởng của KSCL bên trong đến chất lượng KTĐL

Một DNKT với hệ thống KSCL bên trong nghiêm ngặt và có quy trình kiểm toán vận hành hiệu quả thì sẽ ít có khả năng các sai sót trọng yếu mà không bị phát hiện bởi các thủ tục kiểm toán của họ Điển hình là nghiên cứu của Cushing (1989), tác giả cho rằng các sai lệch trọng yếu trên BCTC có thể dễ dàng được phát hiện hơn đối với các DNKT có hệ thống KSCL bên trong tốt Và KSCL bên trong giúp các KTV tuân thủ quy trình kiểm toán, làm gia tăng CLKT Theo Matsumura and Tuker (1995) cho rằng KSCL bên trong giúp tìm ra các khiếm khuyết đề từ đó lập kế hoạch kiểm toán tốt hơn

Tại Việt Nam, nghiên cứu của Phan Văn Dũng (2015) cho rằng công tác xem xét

và đánh giá hệ thống KSCL bên trong được thực hiện thường xuyên liên tục, làm tăng khả năng hoạt động hữu hiệu của hệ thống và góp phần nâng cao chất lượng kiểm toán Ngoài ra, theo Bùi Thị Thủy (2013) thì phải thực hiện kiểm soát chất lượng đối với từng hợp đồng kiểm toán, thể hiện: trợ lí KTV và KTV phải áp dụng những chính sách và thủ tục kiểm soát chất lượng của DNKT cho từng hợp đồng kiểm toán một cách thích hợp, bao gồm hướng dẫn, giám sát và kiểm tra

Vì vậy, nếu DNKT có hệ thống KSCL bên trong tốt sẽ giúp tăng ý thức, trách nhiệm của KTV, qua đó làm tăng CLKT KSCL bên trong được đưa vào mô hình

2.4.7 Ảnh hưởng của Năng lực nghề nghiệp của KTV đến chất lượng KTĐL

Theo Boon & cộng (2008), năng lực nghề nghiệp được đánh giá là nhân tố quan

trọng ảnh hưởng tới CLKT, cũng như sự hài lòng của đối tượng sử dụng kết quả kiểm toán Năng lực nghề nghiệp thể hiện trình độ của KTV, qua đó thể hiện sự hiểu biết

và kiến thức cá nhân của KTV (Richard, 2006) Thành viên nhóm kiểm toán có năng lực thường là các KTV có chất lượng, nắm vững các nguyên tắc, CMKiT trên cơ sở

đó đủ khả năng phát hiện các sai sót trên BCTC (theo nghiên cứu của Phan Văn Dũng, 2015) Nghiên cứu của Suyono (2012) chỉ ra rằng các DNKT có quy trình tuyển dụng chặt chẽ, chú trọng đến năng lực của nhân viên và có sự đầu tư cho việc đào tạo và

Trang 40

cập nhật kiến thức thường xuyên thì luôn có được chất lượng nhân viên tốt hơn, nhận được sự hài lòng từ phía khách hàng nhiều hơn vì cung cấp dịch vụ có chất lượng

(theo nghiên cứu của Đinh Thanh Mai, 2014)

Tại Việt Nam, Bùi Thị Thủy (2013) còn cho rằng việc duy trì trình độ chuyên môn yêu cầu quá trình nhận thức liên tục, để KTV thực hiện công việc một cách thành thạo trong môi trường chuyên nghiệp KTV có được sự chuyên sâu nhờ vào nỗ lực của bản thân, tự trau dồi kiến thức về ngành nghề của khách hàng là rất quan trọng,

vì lĩnh vực kinh doanh của các doanh nghiệp đa dạng, gồm những giao dịch, khoản mục phức tạp

Qua những nghiên cứu trên, ta thấy kiến thức và chuyên môn của KTV là yếu tố liên quan và ảnh hưởng trực tiếp đến CLKT Do đó, tác giả lựa chọn nhân tố năng lực nghề nghiệp của KTV là một trong những nhân tố ảnh hưởng trong mô hình

2.4.8 Ảnh hưởng của Thuộc tính cá nhân đến chất lượng KTĐL

Thuộc tính cá nhân là các đặc điểm thuộc về một cá nhân để phân biệt cá nhân đó với một cá nhân khác Thuộc tính thể hiện suy nghĩ, thái độ, cảm xúc và hành vi cùng với các cơ chế tâm lí đằng sau những đặc tính đó Các thuộc tính có thể thay đổi hoặc

cố định và khác nhau tùy theo đối tượng cá nhân khác nhau

Các đặc điểm cá nhân của KTV là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến CLKT Theo nghiên cứu của Baotham (2009), việc ký cam kết về tính độc lập cho từng khách hàng trước khi tiến hành kiểm toán làm cho KTV chấp hành tốt hơn về tính độc lập để không ảnh hưởng đến CLKT Tính độc lập trong kiểm toán có mối quan hệ đồng biến với chất lượng và uy tín kiểm toán Chen và cộng sự (2009) đã ghi nhận một mối quan hệ tích cực giữa thái độ hoài nghi nghề nghiệp, thận trọng đúng mức của KTV với CLKT (theo nghiên cứu của Phan Thanh Hải, 2016)

Nghiên cứu trước đó của Treadway (1987) đã phân tích tính cách của KTV và đưa

ra kết luận nếu KTV có xu hướng bỏ sót các thủ tục kiểm toán thì CLKT sẽ bị ảnh hưởng theo chiều hướng ngược lại Hành vi làm giảm CLKT được định nghĩa là hành động của KTV thực hiện trong cuộc kiểm toán mà hậu quả của nó là làm giảm tính

Ngày đăng: 04/06/2017, 09:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Lê Nguyễn Thế Cường. (2013). Giải pháp nâng cao trách nhiệm của kiểm toán viên độc lập đối với việc phát hiện gian lận và sai sót trong kiểm toán báo cáo tài chính các công ty niêm yết Việt Nam. Luận văn Thạc sĩ. Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp nâng cao trách nhiệm của kiểm toán viên độc lập đối với việc phát hiện gian lận và sai sót trong kiểm toán báo cáo tài chính các công ty niêm yết Việt Nam
Tác giả: Lê Nguyễn Thế Cường
Năm: 2013
13. Mai Thị Hoàng Minh và cộng sự. (2012). Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập trong điều kiện Luật kiểm toán độc lập đã được ban hành và áp dụng. Đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ cấp trường. Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập trong điều kiện Luật kiểm toán độc lập đã được ban hành và áp dụng
Tác giả: Mai Thị Hoàng Minh và cộng sự
Năm: 2012
14. Nguyễn Đình Thọ. (2012). Phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh. TP. Hồ Chí Minh. NXB Lao động xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh
Tác giả: Nguyễn Đình Thọ
Nhà XB: NXB Lao động xã hội
Năm: 2012
15. Nguyễn Thị Ngọc Mai. (2013). Đánh giá tầm quan trọng của một số thuộc tính cá nhân của kiểm toán viên đối với chất lượng kiểm toán các công ty kiểm toán độc lập ở Việt Nam. Luận văn Thạc sĩ. Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tầm quan trọng của một số thuộc tính cá nhân của kiểm toán viên đối với chất lượng kiểm toán các công ty kiểm toán độc lập ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Mai
Năm: 2013
16. Phan Văn Dũng. (2015). Các nhân tố tác động đến chất lượng kiểm toán của các doanh nghiệp kiểm toán Việt Nam theo định hướng tăng cường năng lực cạnh tranh trong điều kiện hội nhập quốc tế. Luận án Tiến sĩ. Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhân tố tác động đến chất lượng kiểm toán của các doanh nghiệp kiểm toán Việt Nam theo định hướng tăng cường năng lực cạnh tranh trong điều kiện hội nhập quốc tế
Tác giả: Phan Văn Dũng
Năm: 2015
17. Phan Thanh Hải. (2014). Xác lập mô hình tổ chức cho hoạt động kiểm toán độc lập ở Việt Nam để nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trong xu thế hội nhập. Luận án tiến sĩ. Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác lập mô hình tổ chức cho hoạt động kiểm toán độc lập ở Việt Nam để nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trong xu thế hội nhập
Tác giả: Phan Thanh Hải
Năm: 2014
18. Phan Thanh Trúc. (2013). Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập nhằm thu hẹp khoảng cách mong đợi của xã hội về chất lượng kiểm toán tại Việt Nam. Luận văn Thạc sĩ. Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập nhằm thu hẹp khoảng cách mong đợi của xã hội về chất lượng kiểm toán tại Việt Nam
Tác giả: Phan Thanh Trúc
Năm: 2013
20. Trần Khánh Lâm. (2011). Xây dựng cơ chế kiểm soát chất lượng cho hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam. Luận án Tiến sĩ. Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng cơ chế kiểm soát chất lượng cho hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam
Tác giả: Trần Khánh Lâm
Năm: 2011
21. Trương Vĩnh Thắng. (2015). Các nhân tố bên trong của công ty kiểm toán tác động đến chất lượng dịch vụ kiểm toán độc lập tại Tp. Hồ Chí Minh. Luận văn Thạc sĩ. Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhân tố bên trong của công ty kiểm toán tác động đến chất lượng dịch vụ kiểm toán độc lập tại Tp. Hồ Chí Minh
Tác giả: Trương Vĩnh Thắng
Năm: 2015
24. Arel, B., Brody, R. G., & Pany, K. (2005). Audit firm rotation and audit quality. The CPA Journal, 75(1), 36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The CPA Journal
Tác giả: Arel, B., Brody, R. G., & Pany, K
Năm: 2005
25. Ashbaugh, H., LaFond, R., & Mayhew, B. W. (2003). Do nonaudit services compromise auditor independence? Further evidence. The Accounting Review, 78(3), 611-639 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Accounting Review
Tác giả: Ashbaugh, H., LaFond, R., & Mayhew, B. W
Năm: 2003
26. Balsam, Krishnan, J., S., & Yang, J. S. (2003). Auditor industry specialization and earnings. Auditing: A Journal of Practice and Theory, 71-97 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Auditing: A Journal of Practice and Theory
Tác giả: Balsam, Krishnan, J., S., & Yang, J. S
Năm: 2003
27. Baotham, S., &Ussahawanitchakit, P. (2009). Audit independence, quality, and credibility: effects on reputation and sustainable success of CPAs in Thailand. International Journal of Business Research, 9(1), 1-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Journal of Business Research
Tác giả: Baotham, S., &Ussahawanitchakit, P
Năm: 2009
28. Beck, P. J., Frecka, T. J., & Solomon, I. (1988). A model of the market for MAS and audit services: Knowledge spillovers and auditor-auditee bonding. Journal of Accounting Literature, 7(1), 50-64 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Accounting Literature
Tác giả: Beck, P. J., Frecka, T. J., & Solomon, I
Năm: 1988
30. Chen, C. J., Chen, S., & Su, X. (2001). Profitability regulation, earnings management and modified audit opinions: Evidence from China. Auditing: A Journal of Practice and Theory, 9-30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A Journal of Practice and Theory
Tác giả: Chen, C. J., Chen, S., & Su, X
Năm: 2001
31. Choi J. H., F.K, J.K & Y.Z (2010). Audit Office Size, Audit Quality, and Audit Pricing. A Journal of Practice & Theory, Vol.29, No.1, pp 73-79 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A Journal of Practice & Theory
Tác giả: Choi J. H., F.K, J.K & Y.Z
Năm: 2010
32. Copley, P., & Doucet, M. (1993). Auditor Tenure, Fixed Fee Contracts, and the Supply of Substandard Single Audits. Public Budgeting & Finance, 23–35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Public Budgeting & Finance
Tác giả: Copley, P., & Doucet, M
Năm: 1993
33. Craswell, A., Francis, J., & Taylor, S. (1995). Auditor brand name reputation and industry specializations. Journal of Accounting and Economics, 297-322 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Accounting and Economics
Tác giả: Craswell, A., Francis, J., & Taylor, S
Năm: 1995
34. Cushing, B. E. (1989). The association between audit technology and audit delay-discussion. Auditing a journal of practice & theory, 8, 38-47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Auditing a journal of practice & theory
Tác giả: Cushing, B. E
Năm: 1989
35. Davis, L. R., Soo, B. S., & Trompeter, G. M. (2008). Auditor tenure and the ability to meet or beatvearnings forecasts. Contemporary Accounting Research, Forthcoming Sách, tạp chí
Tiêu đề: Davis, L. R., Soo, B. S., & Trompeter, G. M. (2008). Auditor tenure and the ability to meet or beatvearnings forecasts
Tác giả: Davis, L. R., Soo, B. S., & Trompeter, G. M
Năm: 2008

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1 Khung các nhóm nhân tố tác động đến CLKT - Ảnh hưởng của cơ cấu sở hữu đến hành vi quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán tp  hồ chí minh
Hình 2.1 Khung các nhóm nhân tố tác động đến CLKT (Trang 27)
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu chung của luận văn - Ảnh hưởng của cơ cấu sở hữu đến hành vi quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán tp  hồ chí minh
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu chung của luận văn (Trang 43)
Hình 3.2 Mô hình nghiên cứu các nhân tố liên quan đến bên cung cấp dịch vụ - Ảnh hưởng của cơ cấu sở hữu đến hành vi quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán tp  hồ chí minh
Hình 3.2 Mô hình nghiên cứu các nhân tố liên quan đến bên cung cấp dịch vụ (Trang 45)
Bảng 3.1 Thang đo Chất lượng kiểm toán - Ảnh hưởng của cơ cấu sở hữu đến hành vi quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán tp  hồ chí minh
Bảng 3.1 Thang đo Chất lượng kiểm toán (Trang 49)
Bảng 3.2 Thang đo Quy mô DNKT - Ảnh hưởng của cơ cấu sở hữu đến hành vi quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán tp  hồ chí minh
Bảng 3.2 Thang đo Quy mô DNKT (Trang 50)
Bảng 3.3 Thang đo Giá phí kiểm toán - Ảnh hưởng của cơ cấu sở hữu đến hành vi quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán tp  hồ chí minh
Bảng 3.3 Thang đo Giá phí kiểm toán (Trang 51)
Bảng 3.4 Thang đo Nhiệm kỳ kiểm toán - Ảnh hưởng của cơ cấu sở hữu đến hành vi quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán tp  hồ chí minh
Bảng 3.4 Thang đo Nhiệm kỳ kiểm toán (Trang 52)
Bảng 3.5 Thang đo Phạm vi dịch vụ phi kiểm toán - Ảnh hưởng của cơ cấu sở hữu đến hành vi quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán tp  hồ chí minh
Bảng 3.5 Thang đo Phạm vi dịch vụ phi kiểm toán (Trang 53)
Bảng 3.6 Thang đo Tính chuyên sâu trong các lĩnh vực kiểm toán - Ảnh hưởng của cơ cấu sở hữu đến hành vi quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán tp  hồ chí minh
Bảng 3.6 Thang đo Tính chuyên sâu trong các lĩnh vực kiểm toán (Trang 54)
Bảng 3.7 Thang đo Kiểm soát chất lượng bên trong - Ảnh hưởng của cơ cấu sở hữu đến hành vi quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán tp  hồ chí minh
Bảng 3.7 Thang đo Kiểm soát chất lượng bên trong (Trang 55)
Bảng 3.8 Thang đo Năng lực nghề nghiệp của KTV - Ảnh hưởng của cơ cấu sở hữu đến hành vi quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán tp  hồ chí minh
Bảng 3.8 Thang đo Năng lực nghề nghiệp của KTV (Trang 56)
Bảng 3.9 Thang đo Thuộc tính cá nhân của KTV - Ảnh hưởng của cơ cấu sở hữu đến hành vi quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán tp  hồ chí minh
Bảng 3.9 Thang đo Thuộc tính cá nhân của KTV (Trang 57)
Bảng 3.10 Tổng hợp các biến đo lường chất lượng KTĐL - Ảnh hưởng của cơ cấu sở hữu đến hành vi quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán tp  hồ chí minh
Bảng 3.10 Tổng hợp các biến đo lường chất lượng KTĐL (Trang 58)
Bảng 4.1 được tổng hợp từ kết quả chạy thống kê mô tả (Xem phụ lục 8 – A. Thống - Ảnh hưởng của cơ cấu sở hữu đến hành vi quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán tp  hồ chí minh
Bảng 4.1 được tổng hợp từ kết quả chạy thống kê mô tả (Xem phụ lục 8 – A. Thống (Trang 66)
Bảng 4.6 Tổng hợp kết quả kiểm định các giả thuyết - Ảnh hưởng của cơ cấu sở hữu đến hành vi quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán tp  hồ chí minh
Bảng 4.6 Tổng hợp kết quả kiểm định các giả thuyết (Trang 75)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm