Nhằm tìm kiếm bằng chứng thực nghiệm về vấn đề này, tập trung vào đặc trưng của ngành xây lắp, tác giả thực hiện luận văn nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn chính sách kế
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
TRẦN THỊ HOÀI THƯƠNG
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ LỰA CHỌN CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP.HỒ CHÍ MINH - NĂM 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
TRẦN THỊ HOÀI THƯƠNG
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ LỰA CHỌN CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Kế toán
Mã ngành: 60340301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS ĐẶNG THỊ NGOAN
TP.HỒ CHÍ MINH - NĂM 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Đặng Thị Ngoan Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong công trình nào khác
TP Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2016 Người thực hiện luận văn
TRẦN THỊ HOÀI THƯƠNG
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu 2
a Mục tiêu nghiên cứu 2
b Câu hỏi nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Đóng góp của nghiên cứu 4
6 Kết cấu của luận văn 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 5
1.1 Nghiên cứu mục tiêu của việc lựa chọn chính sách kế toán 5
1.2 Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn chính sách kế toán 6
1.2.1 Các nghiên cứu nước ngoài 6
1.2.2 Các nghiên cứu trong nước 11
1.3 Khe hổng nghiên cứu và định hướng nghiên cứu 16
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 17
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 18
2.1 Một số vấn đề về chính sách kế toán 18
2.1.1 Khái niệm chính sách kế toán 18
2.1.2 Đặc trưng của chính sách kế toán 18
2.1.3 Vai trò của chính sách kế toán 19
Trang 52.3 Lý thuyết nền 20
2.3.1 Lý thuyết ủy nhiệm (Agency theory) 20
2.3.2 Lý thuyết bất cân xứng thông tin (Asymetric information) 21
2.3.3 Lý thuyết tín hiệu (Signalling theory) 22
2.3.4 Lý thuyết hợp đồng (Contractual theory) 22
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 24
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
3.1 Thiết kế nghiên cứu 25
3.1.1 Nguồn dữ liệu 25
3.1.2 Phương pháp nghiên cứu 25
3.1.3 Quy trình nghiên cứu 25
3.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất và thang đo nháp 27
3.2.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất 27
3.2.2 Phát triển giả thuyết nghiên cứu 28
3.2.2.1 Thuế và chi phí khác của doanh nghiệp 29
3.2.2.2 Đòn bẩy tài chính 30
3.2.2.3 Mục đích cá nhân của nhà quản lý 31
3.2.2.4 Chỉ tiêu tài chính phục vụ công tác đấu thầu 32
3.2.2.5 Đặc điểm thị trường của doanh nghiệp 33
3.2.2.6 Thông tin trên báo cáo tài chính phản ánh trung thực và hợp lý 34
3.2.3 Xây dựng thang đo biến nghiên cứu 35
3.3 Nghiên cứu định tính 36
3.3.1 Mục tiêu của nghiên cứu định tính 36
3.3.2 Thực hiện nghiên cứu định tính 37
3.3.3 Kết quả nghiên cứu định tính 37
3.4 Mô hình nghiên cứu và thang đo chính thức 39
3.4.1 Mô hình nghiên cứu chính thức 40
3.4.2 Thang đo hiệu chỉnh sau nghiên cứu định tính 40
3.5 Nghiên cứu định lượng 42
Trang 63.5.1 Thiết kế bảng câu hỏi khảo sát 42
3.5.2 Mẫu và phương pháp chọn mẫu 43
3.5.3 Thu thập dữ liệu 43
3.5.4 Xử lý và phân tích dữ liệu 43
3.5.4.1 Phân tích thống kê mô tả 44
3.5.4.2 Kiểm định và đánh giá thang đo 44
3.5.4.3 Phân tích hồi quy bội 46
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 47
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 48
4.1 Thực trạng về lựa chọn chính sách kế toán để quản trị lợi nhuận trong các doanh nghiệp xây lắp 48
4.1.1 Đặc thù của doanh nghiệp xây lắp 48
4.1.2 Các lựa chọn chính sách kế toán để quản trị lợi nhuận trong doanh nghiệp xây lắp 49
4.2 Kết quả nghiên cứu định lượng 52
4.2.1 Kết quả thống kê mô tả 52
4.2.1.1 Mô tả đặc điểm mẫu 52
4.2.1.2 Mô tả thang đo 53
4.2.2 Kết quả kiểm định và đánh giá thang đo 55
4.2.2.1 Kết quả kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha 55
4.2.2.2 Kết quả phân tích nhân tố khám phá 56
4.2.3 Kết quả phân tích hồi quy bội 60
4.2.3.1 Phân tích tương quan 60
4.2.3.2 Kết quả phân tích hồi quy bội 61
4.2.3.3 Kiểm định giả thuyết nghiên cứu 63
4.2.3.4 Dò tìm các vi phạm giả định của mô hình 65
4.3 Thảo luận kết quả nghiên cứu 68
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 71
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 72
Trang 75.1 Kết luận 72
5.2 Kiến nghị 73
5.2.1 Kiến nghị về lựa chọn CSKT nhằm nâng cao chất lượng BCTC 73
5.2.1.1 Đối với DN 73
5.2.1.1 Đối với Bộ tài chính 74
5.2.1.3 Đối với công ty kiểm toán 74
5.2.2 Những vấn đề cần lưu ý đối với đối tượng sử dụng thông tin trên BCTC khi đưa ra quyết định kinh tế 75
5.2.2.1 Đối với cơ quan thuế 75
5.2.2.2 Đối với chủ đầu tư, nhà thầu chính 75
5.2.2.3 Đối với nhà đầu tư 76
5.3 Hướng nghiên cứu tiếp theo 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8TNDN Thu nhập doanh nghiệp
HOSE Sàn giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh HNX Sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Tổng hợp ý kiến chuyên gia
Bảng 3.2 Thang đo hiệu chỉnh sau nghiên cứu định tính Bảng 4.1 Thống kê thông tin mẫu khảo sát
Bảng 4.2 Thống kê mô tả thang đo
Bảng 4.3 Bảng kết quả kiểm định thang đo
Bảng 4.4 Kết quả kiểm định KMO and Bartlett's Test Bảng 4.5 Tổng phương sai được giải thích
Bảng 4.6 Ma trận nhân tố xoay
Bảng 4.7 Ma trận hệ số tương quan Pearson
Bảng 4.8 Kiểm định sự phù hợp cho mô hình hồi quy Bảng 4.9 Kết quả kiểm định ANOVA
Bảng 4.10 Kết quả phân tích hồi quy bội
Trang 10DANH MỤC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ
Hình 4.1 Đồ thị phân tán Scatterplot
Hình 4.2 Đồ thị Histogram và Q-Q Plot
Sơ đồ 3.1 Quy trình nghiên cứu
Sơ đồ 3.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Sơ đồ 3.3 Mô hình nghiên cứu chính thức
Sơ đồ 4.1 Mô hình hồi quy sau nghiên cứu định lượng
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Báo cáo tài chính (BCTC) của một doanh nghiệp (DN) là phương tiện trình bày khả năng sinh lời của DN đó BCTC phản ánh theo một cấu trúc chặt chẽ tình hình tài chính, kết quả kinh doanh của DN Mục đích của BCTC là cung cấp các thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và các luồng tiền của một DN, đáp ứng nhu cầu hữu ích cho số đông những người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế (Chuẩn mực kế toán số 21 - Trình bày BCTC) Các đối tượng quan tâm đến thông tin trình bày trên BCTC bao gồm chủ DN, nhà đầu tư, nhà cho vay, cơ quan thuế và các cơ quan chức năng,… Đặc biệt, trong lĩnh vực xây lắp, BCTC được sự quan tâm lớn từ phía chủ đầu tư các dự án, các nhà thầu chính (là khách hàng của DN) khi họ đánh giá năng lực để giao thầu cho các đơn vị thi công (là các DN) Việc lập và trình bày BCTC thường dựa trên cơ sở các chính sách kế toán (CSKT), bao gồm các nguyên tắc và phương pháp kế toán cụ thể Chuẩn mực
kế toán cho phép mỗi DN lựa chọn CSKT phù hợp với đặc điểm kinh doanh của
DN đó Việc áp dụng các CSKT khác nhau sẽ mang lại những thông tin khác nhau được trình bày trên BCTC, nên bên cạnh việc lựa chọn CSKT phù hợp theo chuẩn mực, DN còn lựa chọn CSKT có thể mang lại những thông tin có lợi nhất cho mình Trong các DN xây lắp, kế toán doanh thu và chi phí lại khá phức tạp Điều này càng tạo cơ hội cho các DN xây lắp sử dụng CSKT theo ý muốn chủ quan của nhà quản lý Vì vậy, việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT là rất cần thiết để giúp cho người sử dụng BCTC có thể dự đoán các chỉ tiêu trên BCTC được trình bày có xu hướng tăng hay giảm so với thực tế, từ đó đưa ra các quyết định phù hợp Nhằm tìm kiếm bằng chứng thực nghiệm về vấn đề này, tập
trung vào đặc trưng của ngành xây lắp, tác giả thực hiện luận văn nghiên cứu “Các
nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn chính sách kế toán của các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn TP Hồ Chí Minh”
Trang 122 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
a Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu nhằm tìm kiếm bằng chứng thực nghiệm về các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT của các DN xây lắp trên địa bàn TP Hồ Chí Minh hiện nay Từ đó đề xuất một số kiến nghị về lựa chọn CSKT nhằm nâng cao chất lượng BCTC của các DN xây lắp và những vấn đề cần lưu ý đối với đối tượng sử dụng thông tin trên BCTC khi đưa ra quyết định kinh tế
Mục tiêu cụ thể
Để đạt được mục tiêu trên, nghiên cứu thực hiện hướng đến 3 mục tiêu cụ thể: Thứ nhất: Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT của các DN xây lắp trên địa bàn TP Hồ Chí Minh
Thứ hai: Đo lường mức độ tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT của các DN xây lắp trên địa bàn TP Hồ Chí Minh hiện nay
Thứ ba: Đề xuất một số kiến nghị về lựa chọn CSKT nhằm nâng cao chất lượng BCTC của các DN xây lắp
b Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, bài nghiên cứu đặt ra 3 câu hỏi như sau:
- Câu hỏi thứ 1: Các nhân tố nào ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT của các
DN xây lắp trên địa bàn TP Hồ Chí Minh?
- Câu hỏi thứ 2: Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến sự lựa chọn CSKT của các DN xây lắp trên địa bàn TP Hồ Chí Minh hiện nay như thế nào?
- Câu hỏi thứ 3: Các kiến nghị phù hợp cho sự lựa chọn CSKT giúp nâng cao chất lượng BCTC của các DN xây lắp?
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 13Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT của các DN xây lắp trên địa bàn TP Hồ Chí Minh
Phạm vi nghiên cứu của đề tài trên các khía cạnh:
- Phạm vi về nội dung: đề tài giới hạn nghiên cứu sự lựa chọn CSKT trong các
DN hoạt động xây lắp
- Phạm vi về không gian và thời gian: đề tài được thực hiện tại địa bàn TP Hồ Chí Minh trong khoảng thời gian từ tháng 7 đến tháng 10/2016
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng cách tiếp cận theo phương pháp nghiên cứu kết hợp định tính và định lượng để giải quyết vấn đề
Phương pháp nghiên cứu định tính: Phân tích kết quả của các nghiên cứu trước, dựa trên cơ sở lý thuyết nền kết hợp với việc xem xét đặc thù của ngành xây lắp để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT của các DN xây lắp trên địa bàn TP Hồ Chí Minh Từ đó lập mô hình nghiên cứu, xây dựng các thang đo và tham khảo ý kiến của các chuyên gia có kinh nghiệm về vấn đề nghiên cứu Cuối cùng là thảo luận kết quả đạt được nhằm khẳng định, giải thích sâu hơn kết quả và
đề xuất giải pháp phù hợp
Phương pháp nghiên cứu định lượng: Từ kết quả nghiên cứu định tính, tác giả xây dựng bảng câu hỏi khảo sát, chọn mẫu khảo sát theo phương pháp lấy mẫu thuận tiện phi xác suất kết hợp với phát triển mầm Bảng câu hỏi được gửi đến người được khảo sát dưới hai hình thức là gửi email hay gửi phiếu khảo sát bằng giấy trực tiếp cho các đối tượng khảo sát, là nhà quản lý của các DN xây lắp trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh Dữ liệu nghiên cứu sau khi được thu thập sẽ được xử lý, phân tích bằng phần mềm hỗ trợ SPSS 20 bao gồm các bước:
Thực hiện thống kê mô tả
Kiểm định, đánh giá thang đo bằng phương pháp phân tích độ tin cậy Cronbach’s alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA (exploratory factor analysis)
Trang 14 Kiểm định thông qua mô hình hồi quy tuyến tính (linear regression)
5 Đóng góp của nghiên cứu
Về mặt lý luận, nghiên cứu góp phần tổng kết các nghiên cứu có liên quan đến
đề tài các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT của DN, khái quát lý thuyết về CSKT hiện nay giúp người đọc có cái nhìn bao quát và hiểu sâu hơn về CSKT Dựa vào kết quả kiểm định mô hình, ngoài những nhân tố được khám phá ra từ các nghiên cứu trước đây, nhân tố “chỉ tiêu tài chính phục vụ công tác đấu thầu” được tác giả đưa thêm vào khi xem xét trong ngành hoạt động xây lắp Nghiên cứu góp phần bổ sung vào tổng quan nghiên cứu về CSKT ở Việt Nam, làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu sau này
Về mặt thực tiễn, kết quả của nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm
về các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT của các DN xây lắp trên địa bàn
TP Hồ Chí Minh hiện nay Từ đó, nghiên cứu đưa ra một số kiến nghị đối với các
DN về việc lựa chọn CSKT nhằm nâng cao chất lượng BCTC
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, tài liệu tham khảo và các phụ lục, nội dung chính của luận văn bao gồm 5 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu trước
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Trang 15CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC
1.1 Nghiên cứu mục tiêu của việc lựa chọn chính sách kế toán
Mariana Gurau (2014) tiến hành nghiên cứu “Three types of accounting
policies reflected in financial statements: case study for Romania” Tác giả đã lựa
chọn các phương pháp kế toán khác nhau cho ba nhóm chính sách và áp dụng cho cùng một bộ BCTC để so sánh và phân tích Nghiên cứu đã chứng minh rằng bức tranh tài chính của một DN được nhìn từ những người khác nhau thì khác nhau, không thể nói rằng ai đó bóp méo sự thật Kết quả nghiên cứu cho thấy ba nhóm CSKT mà DN lựa chọn trong từng trường hợp nhằm đạt được những mục tiêu khác nhau như sau:
- Thứ nhất, nhóm CSKT nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận Hầu hết các DN hoạt động đều mong muốn có lời, mục tiêu lớn nhất của họ đó là tạo ra lợi nhuận
Do đó, họ có động cơ mạnh mẽ để lựa chọn các CSKT nhằm tối thiểu hóa các loại chi phí phát sinh nhằm tăng lợi nhuận có thể đạt được đến mức tối đa nhất
- Thứ hai, nhóm CSKT nhằm mục tiêu bảo toàn vốn, đảm bảo lợi nhuận bền vững trong dài hạn Bằng cách ghi nhận chi phí theo giá trị hợp lý, mục tiêu đảm bảo hoạt động ổn định, san bằng lợi nhuận giữa các kỳ kế toán để tránh những lên xuống bất thường của thu nhập, tức là giảm lợi nhuận những năm lợi nhuận cao để
dự trữ cho những năm lợi nhuận thấp DN vừa phải duy trì khả năng hoạt động liên tục và phải đảm bảo sự phát triển của mình
- Thứ ba, nhóm CSKT được lựa chọn nhằm giảm thiểu thuế thu nhập nhưng vẫn đảm bảo phù hợp với quy định của luật thuế, thông qua độ trễ thời gian của thuế DN chọn cách ghi nhận chi phí nhiều hơn ở kỳ hiện tại và đẩy lợi nhuận sang các kỳ sau sao cho trong toàn chu kỳ sống của DN, số thuế thu nhập (của DN và cổ đông) phải đóng là thấp nhất
Trang 161.2 Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn chính sách kế toán
1.2.1 Các nghiên cứu nước ngoài
Watts và Zimmerman (1990) tiến hành nghiên cứu “Positive Accounting
Theory, A Ten Year Perspective” Nghiên cứu hướng đến ba mục tiêu: thứ nhất là
trình bày quan điểm về quá trình phát triển của kế toán thực chứng đến thời điểm hiện tại và tóm tắt những bằng chứng về lý thuyết thực hành kế toán; thứ hai là đánh giá các phương pháp nghiên cứu và phương pháp luận sử dụng để giải thích cho những quy luật và cuối cùng là định hướng tương lai cho nghiên cứu kế toán thực chứng Họ đã tổng hợp lại các nghiên cứu lý thuyết kế toán thực chứng trong những năm 1980 và đề xuất cách để cải thiện nghiên cứu thực chứng trong lựa chọn kế toán Điều quan trọng nhất của cải tiến là liên kết chặt chẽ giữa lý thuyết và thực nghiệm Nhóm tác giả chỉ trích những nghiên cứu chỉ tập trung vào một sự lựa chọn
kế toán tại một thời điểm trong khi hầu hết các nhà quản lý cung cấp thông tin đầu
ra có thể là do kết hợp ảnh hưởng của một số lựa chọn kế toán Ba giả thuyết nghiên cứu chính được đặt ra là: giả thuyết kế hoạch trả thưởng, giả thuyết nợ và giả thuyết chi phí chính trị (với giả thiết đặt ra là người quản lý là người theo chủ nghĩa cơ hội
và giả thiết hợp đồng hiệu quả) Giả thuyết kế hoạch trả thưởng cho rằng các DN có
kế hoạch trả thưởng theo lợi nhuận thì nhà quản lý có nhiều khả năng lựa chọn các phương pháp kế toán làm tăng lợi nhuận kỳ báo cáo để tăng khoản tiền thưởng của mình Giả thuyết nợ cho rằng tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu của DN càng cao thì nhà quản lý có nhiều khả năng lựa chọn các phương pháp kế toán làm tăng lợi nhuận kỳ báo cáo để tránh vi phạm những quy định trong hợp đồng vay vốn Giả thuyết chi phí chính trị cho rằng các DN càng lớn có nhiều khả năng lựa chọn các phương pháp kế toán làm giảm lợi nhuận kỳ báo cáo để giảm thiểu chi phí chính trị Kết quả thử nghiệm ban đầu của giả thuyết kế hoạch trả thưởng cho thấy nó không thích hợp trong nhiều trường hợp, ví dụ khi lợi nhuận trong kỳ nhỏ hơn mức tối thiểu để được thưởng thì nhà quản lý có động cơ lựa chọn phương pháp kế toán làm giảm lợi nhuận kỳ báo cáo để chuyển qua năm sau Bằng chứng thực nghiệm thu được của giả thuyết nợ và giả thuyết chi phí chính trị nhìn chung là phù hợp Giai đoạn tiếp
Trang 17theo có rất nhiều nghiên cứu xây dựng dựa trên giả thuyết này và được phát triển thêm để dự đoán những quy luật thực nghiệm mới
Steven Young (1998) tiến hành nghiên cứu “The Determinants of Managerial
Accounting Policy Choice: Further Evidence for the UK” Tác giả nghiên cứu các
nhân tố quyết định sự lựa chọn CSKT của các công ty thuộc ngành công nghiệp và thương mại tại nước Anh Dựa vào nghiên cứu của Watts và Zimmerman (1990), trên cơ sở lý thuyết chi phí hợp đồng, lý thuyết ổn định lợi nhuận và lý thuyết tín hiệu Lý thuyết chi phí hợp đồng đặt ra giả thuyết nợ, giả thuyết kế hoạch trả thưởng, cho rằng tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu và kế hoạch trả thưởng trên lợi nhuận trong kỳ có mối tương quan thuận với sự lựa chọn CSKT Lý thuyết ổn định lợi nhuận đặt ra giả thuyết DN lựa chọn CSKT làm tăng lợi nhuận nếu lợi nhuận đạt được dưới mức mục tiêu và ngược lại nhằm giảm thiểu biến động trong báo cáo thu nhập Lý thuyết tín hiệu đưa ra giả thuyết rằng nhà quản lý lựa chọn CSKT phù hợp với dòng tiền kỳ vọng của DN trong tương lai Nghiên cứu tiến hành phân tích chỉ
số tài chính từ mẫu báo cáo của 533 công ty ngành công nghiệp và thương mại tại Anh trong khoảng thời gian khác nhau từ năm 1988 đến 1991 Kết quả nghiên cứu giải thích được sự lựa chọn CSKT chịu ảnh hưởng của mức vay nợ, mục tiêu ổn định lợi nhuận và dấu hiệu dòng tiền mong muốn trong tương lai của DN
Frank (2004) tiến hành nghiên cứu “Economic Determinants of Multiple
Accounting Method Choices in a Swiss Context” Tác giả nghiên cứu các nhân tố
kinh tế có thể ảnh hưởng đến sự lựa chọn các phương pháp kế toán của các công ty niêm yết tại Thụy Sĩ Các DN tại Thụy Sĩ được cho phép lựa chọn CSKT trong phạm vi rộng hơn tại Mỹ Trong bối cảnh môi trường kinh tế trị trường được đặc trưng bởi mức độ truy đòi nợ, các công ty chủ yếu sử dụng nợ là nguồn tài chính chủ yếu và hầu hết được cung cấp bởi ngân hàng Các nhân tố tác giả dự đoán có ảnh hưởng đến sự lựa chọn phương pháp kế toán là đòn bẩy tài chính, bản chất của tài sản, chi phí chính trị và mức độ pha loãng cổ phần Các giả thuyết đặt ra đối với nhân tố đòn bẩy tài chính là công ty dựa trên nợ tài chính nhiều, các khoản vay ngân hàng và cá nhân, tỷ lệ nợ ngắn hạn trên tổng nợ tài chính càng cao thì DN có động
Trang 18cơ để tăng thu nhập và giảm tỷ lệ đòn bẩy (tỷ lệ nợ trên tổng tài sản) Đối với nhân
tố bản chất của tài sản, các công ty có chỉ số Tobin’s Q (giá trị thị trường/giá trị sổ sách của DN) cao, chi tiêu cho hoạt động nghiên cứu và phát triển nhiều thì DN có động cơ để tăng thu nhập và giảm tỷ lệ đòn bẩy Khi xem xét ảnh hưởng bởi nhân tố chi phí chính trị, các công ty có quy mô lớn, lực lượng lao động nhiều thường có động cơ giảm lợi nhuận để hạn chế chi phí phí chính trị này Nghiên cứu cũng xem xét đến mức độ pha loãng cổ phần, các công ty có độ pha loãng quyền sở hữu càng cao, cổ phần bị chia nhỏ cho càng nhiều cổ đông nắm giữ sẽ tạo điều kiện dễ dàng hơn cho nhà quản lý sử dụng các CSKT để làm tăng lợi nhuận Mẫu được chọn để tiến hành nghiên cứu các chỉ số trên BCTC là 106 công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Thụy Sĩ Kết quả của nghiên cứu cho thấy các nhà quản lý của các công ty Thụy Sĩ có nhiều khả năng lựa chọn CSKT để điều chỉnh lợi nhuận và tỷ lệ đòn bẩy tài chính khi độ pha loãng quyền sở hữu cao và lực lượng lao động nhiều Ngoài ra, mức vay nợ, quy mô công ty và chính sách thưởng cho nhà quản lý có ảnh hưởng đáng kể
Christos Tzovas (2006) tiến hành nghiên cứu “Factors influencing a firm’s
accounting policy decisions when tax accounting and financial accounting coincide” Tác giả nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT của
các DN khi kế toán thuế và kế toán tài chính trùng nhau Bảng câu hỏi khảo sát được gửi đến nhà quản lý của 200 DN lớn nhất tại Hy Lạp, 63 phản hồi hoàn thành đáp ứng yêu cầu đưa vào phân tích Các nhân tố ảnh hưởng là nhận thức của các bên liên quan, mục tiêu lợi nhuận, mục tiêu tối thiểu hóa nghĩa vụ thuế mà các mục tiêu này có thể không đồng nhất hoặc mâu thuẫn nhau Chẳng hạn, khi mục tiêu của
DN là giảm nghĩa vụ thuế tức là phải giảm mức lợi nhuận, khi đó DN sẽ bị ảnh hưởng xấu đến đánh giá từ bên ngoài DN về tình hình tài chính, năng lực hoạt động dẫn đến chi phí tiếp cận vốn vay tăng và các vấn đề khác liên quan,… Nghiên cứu
đã đưa ra bằng chứng về mức độ mà DN muốn báo cáo lợi nhuận giảm để giảm nghĩa vụ thuế và mức độ DN muốn báo cáo lợi nhuận tăng để tác động tích cực đến quyết định cho vay của ngân hàng, tránh vi phạm các cam kết vay vốn hay tăng giá
Trang 19trị cổ phiếu của DN, từ đó để giải thích sự lựa chọn CSKT trên cơ sở hiệu quả kinh
tế Kết quả nghiên cứu này cũng có thể áp dụng cho các DN hoạt động trong môi trường tương tự Hy Lạp (ví dụ như các nước châu Âu) Ngoài ra, những phát hiện của nghiên cứu này có thể tạo điều kiện cho các chuyên gia tiến hành phân tích tài chính quốc tế, đồng thời góp phần vào việc giải thích các hành vi kế toán của các
DN tại Hy Lạp
Colin R.Dey và cộng sự (2007) tiến hành nghiên cứu “Determinants of
Accouning Choices in Egypt” Nhóm tác giả nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến
sự lựa chọn CSKT tại Ai Cập trong thời kỳ Ai Cập nhanh chóng từ một nước Xã hội chủ nghĩa chuyển sang nền kinh tế phát triển đầy đủ và có sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền kiểm soát Từ nghiên cứu của Watts và Zimmerman (1990), tác giả bổ sung thêm giả thuyết mới là nhân tố thuế vào ba giả thuyết lý thuyết kế toán thực chứng đã có Dữ liệu có sẵn được lấy từ 96 công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Cairo và khảo sát thông qua bảng câu hỏi gửi đến 320 DN lớn nhất tại Ai Cập, trong đó tỷ lệ phản hồi là 29%, tương đương với 93 DN, đem vào phân tích định lượng Kết quả nghiên cứu thu được phù hợp với giả thuyết kế hoạch trả thưởng, giả thuyết nợ và giả thuyết thuế đó là sự tồn tại của kế hoạch trả thưởng khuyến khích nhà quản lý sử dụng các phương pháp kế toán khấu hao, phương pháp xác định giá trị hàng tồn kho làm tăng lợi nhuận mà không làm tăng nghĩa vụ thuế Kết luận cũng phù hợp với các nghiên cứu thực nghiệm gần giai đoạn này của sự thay đổi văn hóa, kinh tế xã hội và sự lựa chọn CSKT ở Ai Cập Tuy nhiên, nghiên cứu cũng còn có những hạn chế do dữ liệu thu thập chỉ xin ý kiến về lý do lựa chọn phương pháp khấu hao và phương pháp xác định giá trị hàng tồn kho Ngoài ra còn
có cũng nhân tố khác có sự ảnh hưởng mà nghiên cứu chưa đề cập đến
Szilveszter Fekete và cộng sự (2010) tiến hành nghiên cứu “Explaining
Accounting Policy Choices of SME’s: An Empirical Research on the Evaluation Methods” Nhóm tác giả nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn
CSKT (các phương pháp kế toán) của các DN vừa và nhỏ tại Rumani Nhóm tác giả dựa trên bảng tổng hợp nhân tố của Bosnyák (2003) nghiên cứu các DN vừa và nhỏ
Trang 20tại Hungary có sự điều chỉnh, sau đó khảo sát để xác định nhân tố và mức độ ảnh hưởng của mỗi nhân tố Đỗi tượng được khảo sát được lựa chọn bằng cách lấy mẫu phân tầng, đảm bảo mẫu đại diện cho các DN vừa và nhỏ tại Rumani Trong tổng số
562 bảng câu hỏi được gửi đi, tác giả thu về 51 câu hỏi hợp lệ để đưa vào thực hiện phân tích Kết quả phân tích nhân tố khám phá, có sáu nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT là thông tin, thuế, hình ảnh bên ngoài, hình ảnh bên trong, kinh tế, trung thực và hợp lý Trong đó, nhân tố thông tin (chủ yếu là nhu cầu thông tin của nhà quản lý, cổ đông, ) có ảnh hưởng mạnh nhất, tiếp theo là nhân tố thuế, các nhân
tố còn lại ảnh hưởng ít Tuy nhiên, kết quả này không như mong đợi của nhóm tác giả rằng DN lựa chọn CSKT để lập BCTC phản ánh trung thực và hợp lý tình hình tài chính, kết quả hoạt động của DN theo như lý thuyết kết toán tài chính Trái lại, kết quả nhân tố này lại giải thích yếu nhất theo giả thuyết đã đặt ra Có thể thấy, nghiên cứu này đã tập hợp khá đầy đủ các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT đã được khám phá trước đó
Trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT của DN Mỗi công trình nghiên cứu đưa ra các nhân tố không hoàn toàn giống nhau có thể do quan điểm của từng tác giả, mục tiêu nghiên cứu khác nhau và đặc điểm nền kinh tế của từng địa phương, quốc gia nơi thực hiện nghiên cứu Có rất nhiều nhân tố đã được khám phá từ các nghiên cứu trên thế giới Trong phạm vi nghiên cứu này, tác giả tổng hợp các nghiên cứu, phân tích và lựa chọn các nhân tố phù hợp để làm nền tảng thực hiện nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam Từ nghiên cứu của Watts và Zimmerman (1990) tác giả lựa chọn sử dụng giả thuyết nợ và giả thuyết kế hoạch trả thưởng Nghiên cứu của Steven Young (1998) tác giả lựa chọn sử dụng nhân tố mức vay nợ, mục tiêu ổn định lợi nhuận Nghiên cứu của Frank (2004) tác giả lựa chọn sử dụng nhân tố đòn bẩy tài chính, độ pha loãng quyền sở hữu, quy mô DN Nghiên cứu của Christos Tzovas (2006) tác giả sử dụng nhân tố thuế, điều khoản hạn chế trong hợp đồng vay, tăng giá trị cổ phiếu của DN (chi phối bởi đặc điểm thị trường) Nghiên cứu của Colin R.Dey và cộng sự (2007) tác giả sử dụng nhân tố thuế, mức vay nợ, mục đích cá
Trang 21nhân của nhà quản lý Nghiên cứu của Szilveszter Fekete và cộng sự (2010) tác giả lựa chọn sử dụng nhân tố thuế và các chi phí khác của DN, mục đích cá nhân của nhà quản lý, hình ảnh bên ngoài và hình ảnh bên trong DN, thông tin trên BCTC phản ánh trung thực và hợp lý
1.2.2 Các nghiên cứu trong nước
Nguyễn Thị Minh Trang (2010) tiến hành nghiên cứu “Lựa chọn CSKT trong
bối cảnh thay đổi thuế suất thuế TNDN” Tác giả nghiên cứu có hay không việc
điều chỉnh lợi nhuận, lựa chọn CSKT nào có thể để điều chỉnh theo mục đích của
DN Trong bối cảnh thay đổi thuế suất thuế TNDN cũng như sự bùng nổ của thị trường chứng khoán thời điểm 2008-2009, hầu hết các DN tùy theo ý muốn chủ quan của nhà quản lý có thể thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận theo chiều hướng tăng hoặc giảm hơn so với thực tế Phần cơ sở lý thuyết, nghiên cứu đã trình bày sự khác biệt trong việc ghi nhận giữa kế toán và thuế, các CSKT mà DN có thể áp dụng trong các trường hợp khác nhau nhằm phục vụ cho mục đích chủ quan của nhà quản lý Để tiến hành nghiên cứu thực nghiệm, tác giả sử dụng phương pháp chọn mẫu xác suất để lấy số liệu BCTC của 20 DN trong 2 năm 2007-2008 và được lựa chọn ngẫu nhiên tương ứng với bốn loại hình DN là DN nhà nước, công ty cổ phần,
DN tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn Để nhận biết các DN có điều chỉnh lợi nhuận hay không, mức độ điều chỉnh như thế nào và lợi nhuận điều chỉnh theo chiều hướng tăng hay giảm, nghiên cứu kiểm nghiệm bằng 2 mô hình: mô hình DeAngelo (1986) và mô hình Friedlan (1994) Các mô hình này kiểm tra lợi nhuận điều chỉnh thông qua biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh (discretionary accruals) Kết quả nghiên cứu cho thấy, ứng với mỗi loại hình DN sẽ có các nguyên nhân điều chỉnh lợi nhuận khác nhau Thường đối với các công ty cổ phần, động cơ điều chỉnh giảm lợi nhuận nhằm tiết kiệm chi phí thuế TNDN không phải lúc nào cũng được ưu tiên lựa chọn mà có thể có động cơ điều chỉnh tăng lợi nhuận để thu hút vốn đầu tư bên ngoài chiếm ưu thế hơn Các loại hình DN còn lại vì không bán chứng khoán trên thị trường nên ít quan tâm đến việc thu hút vốn đầu tư mà ưu tiên lựa chọn điều chỉnh giảm lợi nhuận nhằm tiết kiệm chi phí thuế TNDN phải nộp
Trang 22Phạm Thị Bích Vân (2012) tiến hành nghiên cứu “Nghiên cứu ảnh hưởng của
thuế TNDN đến sự lựa chọn CSKT của các DN trên địa bàn TP Đà Nẵng” Tác giả
chỉ đi sâu phân tích ảnh hưởng của nhân tố thuế TNDN đến sự lựa chọn CSKT của các DN trên địa bàn TP Đà Nẵng Khảo sát được tiến hành trên 190 DN trên địa bàn TP Đà Nẵng bao gồm các loại hình DN có vốn nhà nước chi phối, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, DN tư nhân thông qua bảng câu hỏi điều tra Kết quả nghiên cứu cho thấy sự lựa chọn CSKT trong việc lập BCTC và báo cáo thuế ở các DN cùng quy mô trên địa bàn TP Đà Nẵng đa phần giống nhau, nói cách khác, thuế là nhân tố có ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT của các DN Nhưng sự ảnh hưởng này là do các nhân tố khách quan như quy mô của DN, trình độ chuyên môn của chủ DN, quy định về cho vay của các ngân hàng và các tổ chức tín dụng, quy định của pháp luật DN lập BCTC ưu tiên cung cấp thông tin cho cơ quan thuế
và chính DN hơn là ngân hàng, các tổ chức tín dụng Hơn thế nữa, sự ưu tiên cung cấp thông tin kế toán có sự khác nhau giữ các DN có quy mô khác nhau Nghiên cứu đã cung cấp bằng chứng thực nghiệm về sự ảnh hưởng của nhân tố thuế TNDN, tuy nhiên hạn chế của nghiên cứu là chỉ xem xét nhân tố thuế nhưng đây không phải
là nhân tố duy nhất ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT của DN
Phạm Thị Bích Vân (2013) tiến hành nghiên cứu “Các cách đo lường sự trung
thực của chỉ tiêu lợi nhuận” Tác giả thực hiện nghiên cứu các cách đo lường sự
trung thực của chỉ tiêu lợi nhuận làm cơ sở cho các nhà đầu tư lựa chọn danh mục
cổ phiếu đầu tư nhằm tránh nguy cơ mất vốn và tối đa hóa lợi ích của mình Đồng thời, nghiên cứu này cũng giúp các nhà hoạch định chính sách nắm bắt tình hình quản trị lợi nhuận của các DN niêm yết để ban hành các giải pháp nhằm bảo vệ nhà đầu tư đầu tư vào thị trường chứng khoán Việt Nam Trong phạm vi bài viết, tác giả
đã trình bày bốn cách tiếp cận để đo lường sự trung thực của chỉ tiêu lợi nhuận trên BCTC của các DN niêm yết và thực hiện đánh giá thông qua thu thập dữ liệu BCTC của 111 DN niêm yết trên sàn chứng khoán TP Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2009-
2011 Trong nghiên cứu của mình, tác giả đi vào phân tích các động cơ quản trị lợi nhuận, cũng là động cơ lựa chọn CSKT của nhà quản lý DN, bao gồm: hợp đồng
Trang 23thù lao, san bằng lợi nhuận giữa các kỳ kế toán để đảm bảo xu hướng lợi nhuận bền vững trong dài hạn, tránh vi phạm hợp đồng đi vay, để phát hành cổ phiếu ra công chúng, đáp ứng sự kỳ vọng của giới phân tích thị trường, thay đổi nhà quản trị Nghiên cứu cũng đề cập đến một số thủ thuật dùng để quản trị lợi nhuận như lựa chọn phương pháp kế toán, vận dụng các phương pháp kế toán, lựa chọn thời điểm vận dụng các phương pháp kế toán và các ước tính các khoản chi phí, doanh thu, lựa chọn thời điểm đầu tư hay thanh lý tài sản cố định, dàn xếp các giao dịch thực Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ đi sâu nghiên cứu các nhân tố gây nên tình trạng bất cân xứng thông tin tạo cơ hội cho nhà quản lý quản trị lợi nhuận mà chưa xem xét đến các nhân tố nhằm giảm thiểu vấn đề này như yêu cầu thông tin trên BCTC phản ánh trung thực hợp lý
Nguyễn Thị Phương Hồng và Nguyễn Thị Kim Oanh (2014) tiến hành nghiên
cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn CSKT tại các DN Việt Nam hiện
nay” Nhóm tác giả nghiên cứu nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT dựa trên
ảnh hưởng kinh tế từ những CSKT đã chọn Với mỗi CSKT khác nhau thì cách thức tính toán và ghi nhận sẽ khác nhau, ảnh hưởng đến các chỉ tiêu kinh tế của DN như phân phối dòng tiền hay quyền lợi của các bên sử dụng thông tin để ra quyết định Dựa theo các công trình nghiên cứu của Watts và Zimmerman (1990), Cloyd et al (1996), Steven Young (1998), Steven và Laurie S Swinney (2004), Christos Tzovas (2006), nhóm tác giả xác định sơ bộ các nhân tố ảnh hưởng là chi phí thuế TNDN, mức vay nợ, khả năng vi phạm hợp đồng vay, chính sách thưởng dành cho nhà quản trị, tình trạng niêm yết, sự ổn định giữa các mức lợi nhuận, mức độ sử dụng các hợp đồng liên quan đến các chỉ tiêu kế toán Phương pháp định lượng được sử dụng trong nghiên cứu này Để kiểm định mô hình, nhóm tác giả xây dựng bảng câu hỏi nhằm khảo sát mức độ đồng ý hai nhóm đối tượng kế toán và kiểm toán viên đối với từng nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn CSKT và sau đó tiến hành phân tích
dữ liệu Cụ thể, nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê mô tả để tìm ra nhân tố
có giá trị trung bình cao (có ảnh hưởng đáng kể), sau đó sử dụng T-test để kiểm định sự khác biệt Kết quả có 4 nhân tố có ảnh hưởng đáng kể là chi phí thuế TNDN,
Trang 24mức vay nợ, tình trạng niêm yết, sự ổn định giữa các mức lợi nhuận và có sự thống nhất khá cao trong quan điểm của kế toán và kiểm toán viên Nghiên cứu này đã tổng hợp được nhiều nhân tố từ các nghiên cứu trước đó
Nguyễn Hồng Hà (2015) tiến hành nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến
sự lựa chọn CSKT của DN vừa và nhỏ trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh hiện nay” Tác
giả nhận thấy sự ảnh hưởng của sắc thuế là nét chủ đạo chính trong thực tiễn Việt Nam hiện nay và dường như yêu cầu phản ánh trung thực và hợp lý của BCTC ít được nhắc đến hoặc có tác động yếu đến sự lựa chọn CSKT Do đó, tác giả thực hiện nghiên cứu để tìm kiếm bằng chứng thực nghiệm cho vấn đề này Dựa trên mô hình nghiên cứu của Szilveszter Fekete và cộng sự (2010) (đã nêu ở phần nghiên cứu nước ngoài) không điều chỉnh, tác giả sử dụng thang đo để đo lường cho biến độc lập và dựa trên nghiên cứu của Mariana Gurau (2014) về mục tiêu lựa chọn CSKT để thiết kế thang đo cho biến phụ thuộc Sau khi phỏng vấn xin chuyên gia
về mức độ đồng ý đối với các thang đo, tác giả xây dựng bảng câu hỏi chính thức, tiến hành khảo sát tại các DN vừa và nhỏ tại TP Hồ Chí Minh và thu về được 162 phiếu trả lời đạt yêu cầu để đưa vào phân tích định lượng Kết quả sau khi đánh giá
độ tin cậy của thang đo, phân tích nhân tố khám phá và hồi quy bội, chỉ có nhân tố duy nhất là nhân tố thuế ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT Trái với kỳ vọng ban đầu của tác giả, nhân tố trung thực hợp lý (việc cung cấp thông tin trên BCTC phù hợp với nguyên tắc trung thực và hợp lý) cùng các nhân tố khác đều bị loại bỏ khỏi
mô hình Từ đó có thể thấy độ vênh giữa CSKT và chính sách thuế hiện nay khi mà
sự lựa chọn CSKT của DN phụ thuộc nhiều vào nhân tố thuế dẫn đến đánh mất vai trò của CSKT Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ xem xét các DN vừa và nhỏ, chưa đi sâu vào từng lĩnh vực kinh tế, trong đó ngành xây dựng là ngành có nhiều sự lựa chọn trong CSKT đặc biệt là sự ước tính, ghi nhận doanh thu và chi phí công trình
Huỳnh Thị Cẩm Nhung (2015) tiến hành nghiên cứu “Nghiên cứu các nhân tố
ảnh hưởng đến lựa chọn CSKT của các DN xây lắp trên địa bàn TP.Đà Nẵng”
Nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng các DN xây lắp trên địa bàn TP Đà Nẵng, nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của các yếu tố có liên quan đến sự lựa chọn CSKT
Trang 25của các DN xây lắp tại Đà Nẵng và đưa ra các khuyến nghị nhằm nâng cao tính hiệu quả trong việc lựa chọn CSKT của các DN xây lắp trên địa bàn TP Đà Nẵng Phương pháp định tính được tác giả sử dụng để xây dựng mô hình bao gồm tổng quan các nghiên cứu trước ở trong và ngoài nước, dựa trên cơ sở lý thuyết kết hợp với phương pháp thảo luận nhóm gồm 20 người đang làm công tác kế toán tại TP
Đà Nẵng Một số câu hỏi mở mang tính chất khám phá được sử dụng trong thảo luận, sau đó tác giả tổng hợp và xin ý kiến đánh giá của họ bằng thang đo mức độ
về các yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT của các DN xây lắp tại TP Đà Nẵng Kết quả nghiên cứu định tính, mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT bao gồm chi phí thuế, mức vay nợ, khả năng vi phạm hợp đồng vay, chính sách thưởng dành cho nhà quản trị, tình trạng niêm yết, mức độ sử dụng hợp đồng liên quan các chỉ tiêu kế toán, quy mô của DN, trình độ kế toán viên Tác giả thực hiện thu thập thông tin thông qua bảng câu hỏi gửi đến các DN xây lắp tại TP
Đà Nẵng và thu về được 100 phiếu trả lời để đưa vào phân tích định lượng Kết quả
có 4 nhân tố ảnh hưởng, đó là chi phí thuế, mức vay nợ, tình trạng niêm yết và trình
độ kế toán viên Tuy nhiên, nghiên cứu này chưa chỉ ra được sự khác biệt giữa đặc thù ngành xây lắp so với những ngành khác trong việc lựa chọn CSKT
Từ khi thị trường chứng khoán Việt Nam phát triển giai đoạn 2008 – 2009, các nhà nghiên cứu tại Việt Nam cũng bắt đầu quan tâm đến việc nghiên cứu về sự lựa chọn CSKT của DN để điều chỉnh lợi nhuận Các nghiên cứu chủ yếu tham khảo các mô hình nghiên cứu trước đây của nước ngoài và áp dụng điều tra tại Việt Nam thông qua các mô hình nghiên cứu khác nhau và khảo sát với các đối tượng và khu vực khác nhau Đối với nghiên cứu sự lựa chọn CSKT trong lĩnh lực xây lắp, đã có nghiên cứu của Huỳnh Thị Cẩm Nhung (2015) dựa trên mô hình các nhân tố tác động trên góc độ quản trị tài chính, thực hiện khảo sát trên địa bàn Tp.Đà Nẵng Tuy nhiên, nghiên cứu này chưa chỉ ra sự khác biệt của ngành xây lắp so với các ngành khác như đã nói ở trên
Trang 261.3 Khe hổng nghiên cứu và định hướng nghiên cứu
Qua tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước, vấn đề về sự lựa chọn CSKT của các DN được rất nhiều sự quan tâm và đã có rất nhiều nghiên cứu về vấn
đề này trong nhiều giai đoạn thời gian, các lĩnh vực và quốc gia khác nhau Trong lĩnh vực xây lắp tại Việt Nam, nghiên cứu của Huỳnh Thị Cẩm Nhung (2015) nhìn
từ góc độ quản trị tài chính để xem xét các nhân tố và thực hiện trên địa bàn Tp Đà Nẵng Đây là địa bàn mới phát triển kinh tế nhanh trong giai đoạn gần đây và đạt
tổng giá trị sản xuất ngành xây dựng năm 2015 khoảng 15.225 tỷ đồng (Theo số liệu
Tình hình kinh tế-xã hội TP Đà Nẵng tháng 12 năm 2015 ngày 23/12/2015 của Cục thống kê Đà Nẵng) Trong khi đó, với nền kinh tế lâu đời của TP Hồ Chí Minh, giá
trị sản xuất xây dựng cả năm 2015 khoảng 190.840 tỷ đồng (Theo số liệu Tình hình
kinh tế-xã hội tháng 12 và năm 2015 của Cục thống kê TP.Hồ Chí Minh), gấp hàng
chục lần so với Đà Nẵng và TP Hồ Chí Minh cũng là đại diện trong cả nước về lĩnh
vực này Do đó, dưới góc nhìn kế toán, tổng quát hơn về các loại nhân tố ảnh hưởng,
tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu đánh giá mức độ tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT của DN xây lắp trên địa bàn TP Hồ Chí Minh Ngoài việc dựa trên các nhân tố được nêu trong các nghiên cứu trước để phân tích, tổng hợp lại các nhân tố có ảnh hưởng, tác giả còn bổ sung thêm nhân tố mới cho mô hình nghiên cứu này theo đặc thù của các DN xây lắp tại Việt Nam (cụ thể là TP.Hồ Chí Minh)
Trang 27KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương này trình bày tổng quan các nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam
có liên quan đến vấn đề các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT Từ tổng quan các nghiên cứu chúng ta thấy được từ khi phát triển lý thuyết kế toán thực chứng, chủ đề này đã được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm và thực hiện, mỗi nghiên cứu tập trung vào một vài nhóm nhân tố hay lĩnh vực, khu vực tùy theo mục tiêu của từng nhà nghiên cứu Đối với Việt Nam, các nhà nghiên cứu cũng bắt đầu quan tâm đến vấn đề này trong những năm gần đây, tuy nhiên chưa có nhiều nghiên cứu đi sâu vào trong từng lĩnh vực hoạt động kinh tế và khu vực địa lý trong
nước Từ việc phân tích khe hổng nghiên cứu, tác giả thực hiện nghiên cứu “Các
nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT của các DN xây lắp trên địa bàn TP Hồ Chí Minh” để xây dựng mô hình tổng hợp các nhân tố phù hợp với đặc điểm của đối
tượng nghiên cứu đặt ra
Chương 2 sẽ trình bày một số vấn đề về CSKT và cơ sở lý thuyết nền để xây dựng mô hình và các giả thuyết nghiên cứu
Trang 28CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1 Một số vấn đề về chính sách kế toán
2.1.1 Khái niệm chính sách kế toán
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 21 về “Trình bày báo cáo tài chính”, chính sách kế toán là nguyên tắc, cơ sở và phương pháp kế toán cụ thể được DN áp dụng trong việc lập và trình bày BCTC
Chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành cho phép DN lựa chọn CSKT phù hợp, tùy thuộc vào quy mô, đặc điểm và tính chất hoạt động của từng DN DN phải lựa chọn và áp dụng các CSKT cho việc lập và trình bày BCTC phù hợp với quy định của từng chuẩn mực kế toán Trường hợp chưa có quy định ở chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán hiện hành, thì DN phải căn cứ vào chuẩn mực chung để xây dựng các phương pháp kế toán hợp lý nhằm đảm bảo BCTC cung cấp thông tin thích hợp với nhu cầu ra các quyết định kinh tế của người sử dụng và đáng tin cậy khi: trình bày trung thực, hợp lý tình hình tài chính, tình hình và kết quả kinh doanh của DN; phản ánh đúng bản chất kinh tế của các giao dịch và sự kiện không chỉ đơn thuần phản ánh hình thức hợp pháp của chúng; trình bày khách quan, không thiên vị; tuân thủ nguyên tắc thận trọng; và trình bày đầy đủ trên mọi khía cạnh trọng yếu
2.1.2 Đặc trưng của chính sách kế toán
CSKT bao gồm những nguyên tắc: Nguyên tắc kế toán được hiểu là các quy định, các thủ tục cho việc ghi nhận, đo lường các yếu tố của BCTC để việc lập BCTC đạt được mục tiêu trung thực, hợp lý, đáng tin cậy và có thể hiểu, so sánh được như cơ sở dồn tích, nguyên tắc thận trọng, phù hợp, giá gốc,…
Phương pháp kế toán: Do thực tiễn luôn đa dạng nên các chuẩn mực kế toán luôn cho phép một không gian mở mà mỗi đơn vị có thể lựa chọn một cách thức đo lường phù hợp với đặc thù của DN mình hay tự xây dựng và phát triển chính sách riêng Việc lựa chọn và áp dụng các phương pháp khác nhau sẽ làm thay đổi thông
Trang 29tin trình bày trên BCTC hay thông tin cung cấp ra bên ngoài nhằm hướng đến mục đích thuế, lợi tức cho cổ đông hay những mục đích khác của nhà quản lý
Các ước tính kế toán: Theo hệ thống chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam hiện hành, các ước tính kế toán phổ biến bao gồm hai loại Một là, ước tính liên quan đến các khoản mục đã phát sinh như khấu hao tài sản cố định, phân bổ chi phí trả trước, ước tính doanh thu được ghi nhận theo hợp đồng xây dựng, các khoản dự phòng tổn thất tài sản (dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng đầu tư tài chính,
dự phòng nợ phải thu khó đòi ) Hai là, ước tính liên quan đến các khoản mục chưa phát sinh như: các khoản dự phòng phải trả về bảo hành công trình xây dựng, dự phòng tái cơ cấu DN
Có thể thấy, những nguyên tắc thể hiện tính bắt buộc nhưng việc bao gồm sự lựa chọn những phương pháp kế toán, ước tính kế toán khác nhau thể hiện tính linh hoạt và phụ thuộc vào quyết định của từng DN Do đó, đề tài này chỉ đi vào nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT là những phương pháp kế toán
mà thôi
2.1.3 Vai trò của chính sách kế toán
Đối với đối tượng bên trong DN, CSKT là cơ sở để kế toán viên thực hiện các công việc đo lường và ghi nhận, xử lý thông tin khi phát sinh các nghiệp vụ kinh tế
và công bố thông tin kế toán phù hợp với đặc điểm của từng DN và quy định pháp luật Đồng thời, CSKT cũng là phương tiện giúp cho nhà quản lý kiểm soát hoạt động kinh doanh và nguồn lực tài chính của DN Từ đó có thể đưa ra định hướng, các phương thức nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh, chính sách tài trợ cho phù hợp, lập kế hoạch cho hoạt động của DN hay điều chỉnh lợi nhuận, nhằm đạt được các chỉ tiêu theo ý muốn
Đối với đối tượng bên ngoài DN, bao gồm cơ quan thuế, các đơn vị kiểm toán
và các đối tượng sử dụng thông tin trên BCTC Thông qua CSKT mà DN công bố,
là cơ sở để cơ quan thuế kiểm tra tính hợp pháp, hợp lý trong các quy định kế toán; đối chiếu với các quy định của thuế để có những điều chỉnh, kiểm tra việc chấp
Trang 30hành các chế độ tài chính và xác định đúng đắn các khoản nghĩa vụ phải trả cho nhà nước Khi các đơn vị kiểm toán BCTC của DN, họ thường phải tìm hiểu về đặc điểm thị trường và các sự kiện có ảnh hưởng đến DN để xem xét tính thích hợp của CSKT mà DN đang áp dụng, kết hợp với phân tích số liệu kế toán tài chính, từ đó đưa ra ý kiến nhận xét về tính trung thực, hợp lý của thông tin trên BCTC Đối với đối tượng sử dụng thông tin trên BCTC, CSKT còn là công cụ để phân tích, so sánh, đảm bảo độ tin cậy của thông tin mà DN cung cấp giúp cho cổ đông tiềm năng, ngân hàng, tổ chức tín dụng và các chủ đầu tư hay nhà thầu chính có thể ra quyết định ký kết các hợp đồng kinh tế
2.3 Lý thuyết nền
Để có cơ sở cho việc phát triển giả thuyết trong mô hình nghiên cứu này, tác giả thực hiện phân tích các lý thuyết nền tảng có liên quan, bao gồm lý thuyết ủy nhiệm, lý thuyết bất cân xứng thông tin, lý thuyết tín hiệu và lý thuyết hợp đồng
2.3.1 Lý thuyết ủy nhiệm (Agency theory)
Một trong những lý thuyết cơ bản nhất giải thích cho sự lựa chọn CSKT của nhà quản lý là lý thuyết ủy nhiệm Lý thuyết ủy nhiệm được phát triển bởi Jensen và Meckling trong một công bố năm 1976 Lý thuyết này nghiên cứu mối quan hệ giữa bên ủy nhiệm và bên được ủy nhiệm thông qua hợp đồng Theo đó, bên được ủy nhiệm sẽ thực hiện một số công việc đại diện cho bên ủy nhiệm, bao gồm cả việc ủy quyền ra quyết định kinh tế cho bên được ủy nhiệm Lý thuyết ủy nhiệm cho rằng
cả hai bên (bên ủy nhiệm và bên được ủy nhiệm) đều muốn tối đa hóa lợi ích của mình, và tồn tại một khả năng là bên được ủy nhiệm hành xử không hoàn toàn vì lợi ích bên ủy nhiệm Điều này làm phát sinh chi phí ủy nhiệm, được chia thành hai loại: chi phí cho hệ thống kiểm soát cần thiết để giảm thiểu việc thiếu thông tin của bên ủy nhiệm và chi phí chia sẻ rủi ro giữa hai bên dựa trên kết quả hoạt động của
DN được thỏa thuận thông qua hợp đồng Mối quan hệ ủy nhiệm thể hiện rõ trong hai trường hợp là giữa cổ đông với nhà quản lý (người trực tiếp điều hành DN) và giữa chủ nợ và cổ đông
Trang 31- Quan hệ cổ đông với nhà quản lý: Các giải pháp để giảm chi phí ủy nhiệm là thông qua hợp đồng giữa các cổ đông và nhà quản lý theo hướng khuyến khích nhà quản lý tối đa hóa giá trị thị trường của công ty và tối đa hóa lợi nhuận công ty Phần lớn các kế hoạch khen thưởng này dựa trên các chỉ tiêu kế toán, do đó nhà quản lý sẽ tìm cách tác động vào BCTC thông qua vận dụng CSKT để đạt được mục đích được hưởng lợi cá nhân
- Quan hệ chủ nợ với cổ đông: Để giảm chi phí ủy nhiệm, chủ nợ có thể đưa vào hợp đồng các điều khoản hạn chế như: kiểm soát việc chia cổ tức, kiểm soát hoạt động đầu tư, yêu cầu thông tin để giám sát tình hình hoạt động DN Việc sử dụng các điều khoản hạn chế nói trên phải dựa trên số liệu kế toán của DN Do đó, các nhà quản lý sẽ tìm cách vận dụng CSKT khi lập BCTC có lợi nhất cho DN khi
DN gần đến tình trạng vi phạm hợp đồng vay
Áp dụng lý thuyết vào nghiên cứu, tác giả kỳ vọng nhân tố mục đích cá nhân của nhà quản lý, đòn bẩy tài chính có ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT của các DN xây lắp trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh
2.3.2 Lý thuyết bất cân xứng thông tin (Asymetric information)
Lý thuyết bất cân xứng thông tin lần đầu tiên xuất hiện vào những năm 1970 bởi George Akerlo Ngoài ra, trong một nghiên cứu của Myers và Majluf vào năm
1984, đã chỉ ra rằng việc bất cân xứng thông tin ảnh hưởng lên quyết định đầu tư và tài trợ của DN Theo đó, so với các nhà đầu tư bên ngoài, các cổ đông tiềm năng thì nhà quản lý thường có thông tin đầy đủ hơn về tình hình hoạt động hiện tại và triển vọng tương lai của DN Vì vậy, nhà quản lý có thể xây dựng các CSKT theo hướng làm tăng lợi nhuận để tăng giá cổ phiếu hay tạo điều kiện thuận lợi cho việc huy động vốn, trong khi thực sự kết quả kinh doanh của DN không như vậy Sự bất cân xứng thông tin còn là bất cân xứng thông tin giữa DN và cơ quan thuế, giữa DN và chủ đầu tư, nhà thầu chính Bởi vì họ là những đối tượng bên ngoài DN, tiếp cận thông tin chủ yếu dựa vào phía DN cung cấp
Trang 32Áp dụng lý thuyết vào nghiên cứu, tác giả kỳ vọng thuế TNDN, đòn bẩy tài chính, mục đích cá nhân của nhà quản lý, chỉ tiêu tài chính phục vụ công tác đấu thầu có ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT của các DN xây lắp trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh
2.3.3 Lý thuyết tín hiệu (Signalling theory)
Lý thuyết tín hiệu dựa trên 2 nghiên cứu của Arrow (1972) và Schipper (1981)
Lý thuyết tín hiệu giải quyết vấn đề bất cân xứng thông tin giữa DN và các nhà đầu
tư Theo lý thuyết này, các công ty phải công bố thông tin ra thị trường một cách tự nguyện và đưa tín hiệu tới các nhà đầu tư để tạo sự khác biệt so với các công ty khác Lý thuyết tín hiệu góp phần giải thích rằng các DN có chất lượng tốt sẽ lựa chọn CSKT cho phép chất lượng vượt trội của họ được thể hiện còn các DN có chất lượng thấp hơn sẽ lựa chọn CSKT để che giấu những khuyết điểm của họ Từ động
cơ để ra tín hiệu cho thấy việc lựa chọn CSKT sẽ lớn nhất ở những nơi có thông tin bất cân xứng nhất, thường là những DN có số lượng cổ đông lớn và dàn trải (tức là
độ pha loãng quyền sở hữu DN cao) Ngoài việc đưa ra tín hiệu tốt tới nhà đầu tư, đối với DN sử dụng đòn bẩy tài chính nhiều, DN sẽ chú trọng chứng tỏ tình hình khả quan của DN nhằm hỗ trợ cho việc huy động vốn Đặc biệt đối với DN xây lắp
là chứng minh năng lực vượt trội của mình với chủ đầu tư, nhà thầu chính so với các đối thủ cạnh tranh
Áp dụng lý thuyết vào nghiên cứu, tác giả kỳ vọng nhân tố đòn bẩy tài chính, chỉ tiêu tài chính phục vụ công tác đấu thầu, đặc điểm thị trường của DN có ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT của các DN xây lắp trên địa bàn TP Hồ Chí Minh
2.3.4 Lý thuyết hợp đồng (Contractual theory)
Lý thuyết hợp đồng đầu tiên được nêu ra bởi Jensen và Meckling (1976) Lý thuyết hợp đồng nhấn mạnh kế toán là một phần không thể thiếu trong các hợp đồng trong DN Các chỉ tiêu kế toán thường xuyên được sử dụng trong các hợp đồng Do
đó, các chỉ tiêu này thường có xu hướng được điều chỉnh để đạt được mục đích của một bên (bên được ủy nhiệm) trong hợp đồng Trong phạm vi nghiên cứu, các loại
Trang 33hợp đồng được quan tâm là hợp đồng giữa cổ đông với nhà quản lý, hợp đồng giữa
DN với ngân hàng và hợp đồng giữa DN với chủ thầu xây dựng
Áp dụng lý thuyết vào nghiên cứu, tác giả kỳ vọng nhân tố đòn bẩy tài chính, mục đích cá nhân của nhà quản lý, chỉ tiêu tài chính phục vụ công tác đấu thầu có ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT của các DN xây lắp trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh
Trang 34KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Trong chương này, tác giả đã giới thiệu khái niệm và một số vấn đề về khái niệm, đặc trưng và vai trò của CSKT Tiếp theo, tác giả phân tích 4 lý thuyết nền tảng quan trọng liên quan đến vấn đề nghiên cứu là lý thuyết ủy nhiệm, lý thuyết bất cân xứng thông tin, lý thuyết tín hiệu và lý thuyết hợp đồng Qua việc phân tích các
lý thuyết nền giúp tác giả có cơ sở xây dựng mô hình đề xuất và thang đo cho biến nghiên cứu ở chương sau
Chương tiếp theo sẽ trình bày một nội dung khá quan trọng đó là phương pháp nghiên cứu của luận văn
Trang 35CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thiết kế nghiên cứu
3.1.2 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu tiến hành theo hai bước chính là nghiên cứu sơ bộ được thực hiện bằng phương pháp định tính và nghiên cứu chính thức được thực hiện bằng phương pháp định lượng
Nghiên cứu định tính tổng quan nội dung của các nghiên cứu trước, các lý thuyết liên quan đến việc giải thích các nhân tố ảnh hưởng đến CSKT trong nghiên cứu, kết hợp với việc phỏng vấn xin ý kiến chuyên gia Thông qua nghiên cứu định tính để xây dựng mô hình và các thang đo dùng để đo lường khái niệm nghiên cứu Nghiên cứu định lượng được thực hiện với dữ liệu được thu thập thông qua bảng câu hỏi khảo sát chính thức Dữ liệu được thống kê phân tích qua phần mềm SPSS 20 nhằm kiểm định thang đo và mô hình nghiên cứu
3.1.3 Quy trình nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu của đề tài, quy trình nghiên cứu được thực hiện cơ bản
như Sơ đồ 3.1 dưới đây:
Trang 36Sơ đồ 3.1 Quy trình nghiên cứu
Nguồn: Tác giả tự xây dựng
Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý thuyết
Mô hình nghiên cứu đề xuất và thang đo nháp
Phỏng vấn chuyên gia
Mô hình nghiên cứu và thang đo chính thức
Nghiên cứu định lượng
Kết quả nghiên cứu định lượng:
- Đánh giá độ tin cậy của thang đo
- Phân tích nhân tố khám phá EFA
Thang đo hiệu chỉnh
Kết quả nghiên cứu định lượng (tt):
- Phân tích hồi quy tuyến tính
- Kiểm định giả thuyết của mô hình hồi quy
Mô hình hiệu chỉnh
Phân tích và thảo luận kết quả
Kết luận và kiến nghịMục tiêu nghiên cứu
Trang 373.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất và thang đo nháp
3.2.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Từ việc tổng hợp và phân tích từ các nghiên cứu trong và ngoài nước về vấn
đề các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn CSKT, chủ yếu dựa vào kết quả nghiên cứu của Watts và Zimmerman (1990), Frank (2004) và Szilveszter Fekete và cộng
sự (2010), tác giả đề xuất một mô hình nghiên cứu cho luận văn của mình Tổng hợp nhiều giả thuyết khác nhau được tìm ra từ các nghiên cứu trước, tác giả gom nhóm nhân tố theo ý kiến cá nhân mà tác giả cho là phù hợp với đối tượng đang tiến hành nghiên cứu, từ đó đưa vào mô hình các nhân tố “thuế và chi phí khác của DN”; “đòn bẩy tài chính”; “mục đích cá nhân của nhà quản lý”; “đặc điểm thị trường của DN”; “thông tin trên BCTC phản ánh trung thực và hợp lý” Tiếp theo,
do nét đặc thù của các DN, để được thi công các công trình, DN phải nộp hồ sơ tham gia đấu thầu, bao gồm trong đó một số yêu cầu về vấn đề tài chính Tác giả dựa vào lý thuyết nền về bất cân xứng thông tin giữa chủ đầu tư, nhà thầu chính với
DN và việc ký kết hợp đồng xây dựng được xem xét bao gồm các chỉ tiêu tài chính
để đề xuất nhân tố “chỉ tiêu tài chính phục vụ công tác đấu thầu” theo đặc thù riêng của ngành này
Mô hình nghiên cứu tác giả đề xuất như sau:
Trang 38Sơ đồ 3.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Nguồn: Tác giả tự xây dựng
3.2.2 Phát triển giả thuyết nghiên cứu
Việc lựa chọn CSKT bị chi phối bởi nhiều nhân tố và nhìn chung được xem xét dựa trên các ảnh hưởng kinh tế mà các chính sách này mang lại (Dhaliwal et al., 1982) (trích trong Nguyễn Thị Phương Hồng và Nguyễn Thị Kim Oanh, 2014) Trong trường hợp tác động của các ảnh hưởng kinh tế lên DN khác nhau, dẫn đến các mục tiêu của DN có thể không đồng nhất hoặc mâu thuẫn Do đó, sự lựa chọn CSKT để điều chỉnh lợi nhuận tăng hay giảm hay nhằm mục đích phản ánh trung thực hợp lý còn tùy thuộc vào mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố lên lợi ích của
Trang 39DN Các nhân tố kỳ vọng có ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT của các DN xây lắp trên địa bàn TP Hồ Chí Minh được phân tích dưới đây:
3.2.2.1 Thuế và chi phí khác của doanh nghiệp
Do nghĩa vụ thuế có ảnh hưởng trực tiếp đến dòng tiền của DN nên DN thường ưu tiên lựa chọn CSKT sao cho số thuế TNDN phải nộp là hợp lý và thấp nhất Báo cáo giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế có sự khác biệt Sự khác biệt này do quy định về đo lường, ghi nhận doanh thu, thu nhập và chi phí trong kế toán và thuế có khác nhau Theo PGS.TS Nguyễn Công Phương (2010), ở nước ta tồn tại một mối liên hệ chặt chẽ giữa kế toán và thuế, luật thuế can thiệp mạnh mẽ vào kế toán, quy định các nguyên tắc đánh giá, nguyên tắc lập và trình bày BCTC
Do đó, các CSKT được sử dụng để xác định lợi nhuận chịu thuế TNDN DN sẽ lựa chọn CSKT để giảm thiểu thuế thu nhập mà vẫn đảm bảo phù hợp với quy định của luật thuế thông qua độ trễ thời gian của thuế DN chọn cách ghi nhận chi phí nhiều hơn ở kỳ hiện tại và đẩy lợi nhuận sang các kỳ sau sao cho trong toàn chu kỳ sống của DN, số thuế thu nhập phải đóng là thấp nhất Từ lý thuyết bất cân xứng thông tin, có thể thấy nhà quản lý có thông tin đầy đủ hơn sẽ có động cơ và khả năng để điều chỉnh lợi nhuận nhằm tối thiểu hóa chi phí thuế TNDN phải nộp Một số nghiên cứu liên quan đến nhân tố này là: nghiên cứu nước ngoài gồm Christos Tzovas (2006), Colin R.Dey và cộng sự (2007), Szilveszter Fekete và cộng sự (2010),… nghiên cứu trong nước gồm Nguyễn Thị Minh Trang (2010), Phạm Thị Bích Vân (2012), Nguyễn Thị Phương Hồng và Nguyễn Thị Kim Oanh (2014), Nguyễn Hồng Hà (2015), Huỳnh Thị Cẩm Nhung (2015),…
Bên cạnh đó, theo nghiên cứu của Szilveszter Fekete và cộng sự (2010), việc tối thiểu hóa các loại thuế, phí khác phải đóng, tối thiểu hóa chi phí tài chính, tối thiểu hóa chi phí hoạt động kế toán cho việc đo lường và ghi nhận cũng tạo động cơ cho nhà quản lý lựa chọn các CSKT khác nhau để đạt được mục đích của mình Trong DN xây lắp, các loại phí được quan tâm nhất đó là phí bảo hiểm và bảo hành công trình, bởi vì số tiền chi cho khoản phí này không phải là một con số nhỏ Nhà
Trang 40quản lý sẽ phải cân nhắc về vấn đề mức chi hợp lý và thời gian phân bổ phù hợp
DN cũng có thể tối thiểu hóa chi phí tài chính thông qua việc tính toán khoản phải lập dự phòng giảm giá cho các khoản đầu tư ngắn hạn, dài hạn căn cứ vào tình hình giảm giá của các loại chứng khoán, các khoản đầu tư ngắn hạn, dài hạn hiện có DN
có thể lựa chọn thời điểm và mức dự phòng cần lập, thời điểm các khoản dự phòng này được hoàn nhập hay xóa sổ và mức hoàn nhập Cuối cùng là chi phí hoạt động
kế toán cho việc đo lường và ghi nhận DN sẽ phải cân nhắc giữa chi phí bỏ ra và lợi ích thu lại như chi phí bỏ ra khi lựa chọn phương pháp kiểm kê thường xuyên hay định kỳ, chi phí định giá tài sản để ghi nhận theo giá trị hợp lý,…
Giả thuyết H1 được đặt ra: Thuế và chi phí khác của DN ảnh hưởng đến sự
lựa chọn CSKT của các DN xây lắp trên địa bàn TP Hồ Chí Minh
3.2.2.2 Đòn bẩy tài chính
Hầu hết các DN hoạt động đều sử dụng đòn bẩy tài chính, tức là sử dụng nợ (và cổ phần ưu đãi) để tài trợ cho hoạt động kinh doanh của mình Vì các cổ đông chỉ nhận được những gì còn lại sau khi chi trả cho chủ nợ, nợ vay được xem như tạo
ra đòn bẩy Trong thời kỳ khó khăn, các DN có đòn bẩy tài chính cao có khả năng không trả được nợ Khi DN muốn vay tiền, chủ nợ sẽ đánh giá xem DN có vay quá nhiều hay không, có duy trì nợ vay trong hạn mức cho phép hay không? Ngoài ra, các nhà cung cấp tín dụng căn cứ vào tỷ số đòn bẩy tài chính (nợ / tài sản) để ấn định mức lãi suất cho vay đối với DN (vì DN càng có nhiều nợ vay, rủi ro về mặt tài chính càng lớn) Điều này tạo động cơ cho nhà quản lý các DN lựa chọn CSKT điều chỉnh chỉ tiêu về lợi nhuận giúp DN chứng minh năng lực hoạt động và với một tỷ
lệ đòn bẩy thấp nhằm tạo các chủ nợ một cái nhìn lạc quan hơn về tình hình của DN, tạo điều kiện thuận lợi cho việc huy động vốn kinh doanh Cả bốn lý thuyết nền nêu
ở phần trên đều giải thích cho nhân tố đòn bẩy tài chính trong mối liên hệ với sự lựa chọn CSKT của DN Theo nghiên cứu của Frank (2004), các DN dựa trên nợ tài chính càng nhiều càng có động cơ lựa chọn CSKT điều chỉnh tăng lợi nhuận và giảm tỷ lệ đòn bẩy Các khoản vay ngân hàng và cá nhân có liên quan đến việc điều