1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

VÙNG ĐẤT AN GIANG TRONG CHÍNH SÁCH QUỐC PHÒNG CỦA CHÍNH QUYỀN CHÚA NGUYỄN VÀ VUA NGUYỄN THỜI KÌ 1757 - 1867

216 291 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 216
Dung lượng 2,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Việc nghiên cứu vấn đề “Vùng đất An Giang trong chính sách quốc phòng của chính quyền chúa Nguyễn và vua Nguyễn thời kì 1757 - 1867” nhằm làm rõ và đóng góp những nộ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trang 2

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trang 3

L ỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu do tôi thực hiện

Các số liệu và kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn chưa

từng công bố ở các công trình nghiên cứu khác

Tôi xin chịu trách nhiệm về đề tài nghiên cứu của mình

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Trang 4

Tôi cũng xin tỏ lòng tri ân ban Tuyên giáo Tỉnh ủy An Giang, Hội Sử học

tỉnh An Giang, Thư viện tỉnh An Giang đã tận tình giúp đỡ tôi về nguồn tư liệu

Tuy chỉ được nghiên cứu trong thời gian ngắn, nhưng với sự giúp đỡ tận tình của quý thầy cô, sự hỗ trợ của bạn bè, đồng nghiệp, gia đình, sự cố gắng hết

sức mình, tôi đã có điều kiện tiếp thu được kiến thức và phương pháp nghiên

cứu vô cùng quý báu để hoàn thành luận văn này

Một lần nữa xin chân thành cảm ơn!

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 9 năm 2014

Dương Thế Hiền

Trang 5

M ỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 2

3 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 2

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 6

5 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN 6

6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 7

7 BỐ CỤC LUẬN VĂN 8

Chương 1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ HOÀN CẢNH LỊCH SỬ CỦA CHÍNH SÁCH QUỐC PHÒNG TRÊN VÙNG ĐẤT AN GIANG 10

1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên An Giang 10

1.2 Đặc điểm hành chính - dân cư An Giang trước năm 1867 19

1.3 Vùng đất An Giang trong bối cảnh lịch sử trước năm 1757 35

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 50

Chương 2 AN GIANG TRONG CHÍNH SÁCH QUỐC PHÒNG CỦA CHÍNH QUYỀN CHÚA NGUYỄN THỜI KÌ 1757 – 1777 52

2.1 Vùng đất An Giang trong quá trình các chúa Nguyễn làm chủ, củng cố và bảo vệ vùng lãnh thổ từ Tầm Phong Long đến Hà Tiên và quan hệ đối ngoại Đàng Trong - Chân Lạp - Xiêm La 52

2.2 Thế trận quốc phòng của chính quyền chúa Nguyễn tại vùng đất An Giang trong quá trình xác lập chủ quyền và quan hệ đối ngoại với Xiêm La và Chân Lạp 73

2.2.1 Lực lượng quốc phòng – tổ chức và phiên chế của quân đội chúa Nguyễn trên vùng đất An Giang 73

2.2.2 Căn cứ quốc phòng - hệ thống phòng thủ trên vùng đất An Giang trước nguy cơ xâm lấn từ phía Xiêm La và Chân Lạp 90

ạt động quốc phòng – những đặc điểm của quá trình thực thi nhiệm vụ chiến

Trang 6

2.3 Vùng đất An Giang trong quá trình khôi phục lực lượng của Nguyễn Ánh

chống lại Tây Sơn từ 1777 đến trước khi nhà Nguyễn thành lập (1802) 101

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 107

Chương 3 AN GIANG TRONG CHÍNH SÁCH QUỐC PHÒNG CỦA NHÀ NGUY ỄN THỜI KÌ 1802 – 1867 110

3.1 Vùng đất An Giang trong thời kì đầu triều Nguyễn từ 1802 đến 1867 110

3.2 Chính sách quốc phòng và hoạt động thực thi trên vùng đất An Giang của vương triều Nguyễn trong thời kì 1802 - 1867 117

3.2.1 Mối quan hệ Việt Nam - Chân Lạp - Xiêm La từ cuối thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX và những chính sách quốc phòng mới trên vùng đất An Giang của chính quyền nhà Nguyễn 117

3.2.2 Tổ chức hoạt động của quân đội thời các vua Nguyễn trên vùng đất An Giang 133

3.2.3 Những hoạt động thực thi chính sách quốc phòng của chính quyền triều Nguyễn trên vùng đất An Giang giai đoạn 1802 đến 1867 154

3.3 Ý nghĩa chiến lược của vùng đất An Giang trong thế trận quốc phòng biên giới Tây Nam của chính quyền vua Nguyễn giai đoạn 1802 - 1867 180

TI ỂU KẾT CHƯƠNG 3 188

KẾT LUẬN 192

TÀI LIỆU THAM KHẢO 201

PH Ụ LỤC 207

Trang 7

M Ở ĐẦU

1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Lịch sử Việt Nam đã trải qua nhiều cuộc đấu tranh bảo vệ tổ quốc trước giặc ngoại xâm Tổ chức và hoạt động quốc phòng luôn được nhà nước Việt Nam đề cao, nhất là chính sách quốc phòng tại những vùng biên cương, quan yếu

Trong thời kì các chúa Nguyễn và vua Nguyễn, vấn đề quốc phòng trên vùng biên giới Tây Nam Bộ, trong đó có An Giang bao gồm cả yếu tố an ninh, trật tự Để thực chiến lược đó, lực lượng quân đội đồn trú trở thành nhân tố quan trọng nhất, vừa bảo vệ quốc gia trước các cuộc xâm lược từ phía Chân lạp và Xiêm La, vừa đảm nhiệm công tác giữ gìn an ninh, trật tự cho công cuộc khai phá của các lưu dân, di dân, góp phần to lớn vào sự hưng khởi của vùng đất này trong giai đoạn trước khi thực dân Pháp xâm lược (1867)

Trên vùng đất Nam Bộ, An Giang có vị trí khá quan trọng với đường biên giới

án ngữ phía Tây Nam của tổ quốc tiếp giáp với Chân Lạp (Campuchia) dài khoảng

100 km, lại là nơi thường xuyên xảy ra tình hình bất ổn về chính trị và quân sự với các nước láng giềng (Chân Lạp, Xiêm La) trong lịch sử Vì vậy, ngay từ khi thụ đắc vùng đất An Giang dưới tên gọi Tầm Phong Long, các chúa Nguyễn và sau này là triều Nguyễn đã ra sức củng cố quốc phòng, bảo vệ vùng đất này nhằm tạo ra sự che chắn cho cả vùng Nam Bộ ở phía sau Từ đó, chúng ta dễ dàng nhận ra sự thiết yếu của chính sách quốc phòng trên vùng đất này của các vương triều Việt Nam ngay từ khi tiếp nhận chủ quyền trong lịch sử

Với tình cảm của một người sinh ra và lớn lên trên vùng biên địa An Giang, lại vừa làm công tác giảng dạy lịch sử tại địa phương, tôi mong muốn được nghiên cứu lịch sử vùng đất quê hương trong tiến trình dựng nước và giữ nước vẻ vang của dân tộc, góp phần làm phong phú thêm những trang sử về vùng đất này

Từ những phân tích trên, chúng tôi quyết định chọn và nghiên cứu đề tài “Vùng

đất An Giang trong chính sách quốc phòng của chính quyền chúa Nguyễn và vua Nguyễn thời kì 1757 - 1867” với mong muốn góp phần bổ sung tư liệu và nhận định

Trang 8

riêng, cũng như mở rộng và nâng cao nhận thức cho người học trong quá trình giảng dạy về nội dung này ở bậc đại học, cao đẳng và các trường trung học phổ thông

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Việc nghiên cứu vấn đề “Vùng đất An Giang trong chính sách quốc phòng của chính quyền chúa Nguyễn và vua Nguyễn thời kì 1757 - 1867” nhằm làm rõ và đóng góp những nội dung sau:

- Phân tích đầy đủ những điều kiện tự nhiên và hoàn cảnh lịch sử của sự ra đời chính sách quốc phòng trên vùng đất An Giang

- Chính sách quốc phòng và những hoạt động thực thi của chính quyền chúa Nguyễn trên vùng đất An Giang từ 1757 đến 1777

- Đóng góp những tư liệu, phân tích về quá trình phục nghiệp của Nguyễn Ánh trên vùng đất An Giang từ 1777 – 1802

- Chính sách quốc phòng và những hoạt động thực thi của chính quyền triều

Nguyễn trên vùng đất An Giang từ 1802 đến 1867

- Góp thêm nhận định, đánh giá và kiến giải khoa học về vấn đề quốc phòng trên vùng đất An Giang của thời kì chúa Nguyễn, triều Nguyễn

- Kết quả nghiên cứu của đề tài đóng góp cơ sở khoa học cho việc nhận thức và hoạch định chính sách quốc phòng của nhà nước ta trên vùng đất An Giang giai đoạn hiện nay

Trang 9

Giang hiện nay Chính sách quốc phòng an ninh trên vùng đất An Giang được đề cập thông qua các tư liệu về sự kiện, địa danh, công trình trong tác phẩm nhưng chưa được hệ thống hóa

Bộ Đại Nam thực lục được vua Minh Mạng lệnh cho Quốc sử quán biên soạn vào năm 1821 Đây là bộ sử chính thống được viết theo lối biên niên, gồm hai phần Tiền biên và Chính biên Đại Nam thục lục Tiền biên ghi chép lại giai đoạn lịch sử từ năm 1558 (Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa) đến năm 1777 (đời chúa Nguyễn Phúc Thuần – Nguyễn Huệ dẫn quân chiếm Gia Định) Đại Nam thực lục Chính biên chép

sự kiện từ năm 1777 (Nguyễn Ánh tìm cách khôi phục quyền lực) đến 1889 (vua Đồng Khánh mất), sau này được soạn thêm đến năm 1925 (đời vua Khải Định) Bộ Đại Nam thực lục ghi chép khá tường tận về tất cả các lĩnh vực quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, ngoại giao, khí tượng, Trong các nguồn tư liệu trên, có thể tìm thấy những tư liệu về chính sách, hoạt động quốc phòng an ninh của chính quyền chúa Nguyễn và vua Nguyễn tại vùng đất An Giang ở giai đoạn này, nhưng ở dạng liệt kê

và lẻ tẻ, chưa có sự phân tích, đánh giá, tổng hợp để thấy rõ dưới góc độ một chiến lược hoàn chỉnh

Bộ Minh Mệnh chính yếu được Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn vào năm

1837, chủ yếu gồm những chỉ dụ của nhà vua và những sự kiện xảy ra trong triều Minh Mệnh (1820-1840) Qua bộ sách, tài liệu gốc về cuộc chiến đấu giữ nước chống lại quân Xiêm, cuộc đấu tranh chống cường quyền của nhân dân An Giang được viết lại ở quyển XX, từ năm Minh Mệnh thứ năm (1824) đến năm Minh Mệnh thứ mười tám (1837)

Địa bạ An Giang lần đầu tiên được lập vào ngày mùng 3 tháng 6 năm 1836 dưới triều Minh Mệnh thứ mười bảy (1836) Địa bạ An Giang có 43 tập, gồm địa bàn các tỉnh Đồng Tháp, Cần Thơ, An Giang ngày nay Đây là nguồn tư liệu quý báu để tác giả luận văn có thể so sánh, đối chiếu những vấn đề đặt ra trong quá trình nghiên cứu như địa giới, biên giới

Đại Nam nhất thống chí là bộ sách địa lý – lịch sử, được biên soạn vào năm Tự Đức thứ hai mươi chín (1875) và hoàn thành vào khoảng năm 1881 Tỉnh An Giang

Trang 10

ranh giới các huyện, phủ, các cơ quan tấn sở trong bộ máy hành chính, thành trì, khí hậu, núi sông, phong tục, hộ khẩu, thuế ruộng, nhà trạm, chợ quán, thổ sản, đê đập, chùa miễu, nhân vật lịch sử Đây là nguồn tư liệu quan trọng nhưng tỉnh An Giang ngày xưa địa giới không trùng khớp với ngày nay nên trong nội dung luận văn, người viết phải giải quyết những chi tiết phức tạp về địa danh, số liệu thống kê, xác định địa bàn đang tìm hiểu thuộc hay không thuộc địa phận tỉnh An Giang hiện nay

Các tài liệu cổ về vùng đất An Giang tuy phong phú song sự ghi chép còn quá rời rạc, nội dung cần khai thác được xen lẫn với nhiều sự kiện khác, đòi hỏi sự tỉ mỉ và công phu trong nghiên cứu vấn đề

Trong thời hiện đại, đã có nhiều công trình nghiên cứu về lịch sử vùng đất An Giang hoặc đề cập đến tỉnh An Giang đã được công bố

Thất Sơn mầu nhiệm của Nguyễn Văn Hầu, xuất bản năm 1955, đây là quyển địa phương chí viết về vùng đất An Giang trong đó đi sâu nghiên cứu về lịch sư vùng Thất Sơn (Bảy Núi), các tôn giáo như Bửu Sơn Kỳ Hương, Hòa Hảo, Tứ Ân Hiếu Nghĩa Hạn chế lớn nhất của tác phẩm này là mang màu sắc tôn giáo

Tìm hiểu đất Hậu Giang của Sơn Nam xuất bản năm 1959, tác phẩm cung cấp cái nhìn tổng quát về địa lý, lịch sử, văn hóa, của vùng đất miền Hậu Giang trong đó

có An Giang từ thời Mạc Cửu khai phá đất Hà Tiên cuối thế kỉ XVII đến thời thực dân Pháp sang xâm lược và đô hộ cuối thế kỉ XIX Tuy nhiên, tác phẩm chưa trình bày rõ ràng và có hệ thống chiến lược quốc phòng an ninh trên vùng đất này nói chung và An Giang nói riêng

Tân Châu xưa của Nguyễn Văn Kiềm và Huỳnh Minh, xuất bản năm 1964 Tác phẩm đề cập đến vùng đất cù lao nổi tiếng Tân Châu, nơi định cư sớm của người Việt, nơi chúa Nguyễn đặt đạo Tân Châu để quản lí vùng đất mới tiếp quản này Tác phẩm trình bày diện mạo vùng đất Tân Châu qua các mặt lịch sử, kinh tế, văn hóa, từ năm

1757 đến 1963, tuy nhiên phần dành cho giai đoạn lịch sử 1757 đến 1867 rất ít

Việt sử xứ Đàng Trong 1558 – 1777 (Cuộc Nam tiến của dân tộc Việt Nam) của Phan Khoang, xuất bản năm 1967 Tác phẩm tập trung nghiên cứu quá trình Nam tiến của dân tộc từ thời các chúa Nguyễn, tiến trình xác lập chủ quyền trên vùng đất Nam Bộ trong đó có An Giang

Trang 11

Thoại Ngọc Hầu và công cuộc khẩn hoang miền Hậu Giang của Nguyễn văn Hầu được xuất bản năm 1973 Tác giả đã viết về cuộc đời và sự nghiệp của Thoại Ngọc Hầu, trong đó dành một phần khá lớn viết về những công trình đào kênh, mở đường, lập ấp ở An Giang của Thoại Ngọc Hầu vào giai đoạn cuối đời Gia Long đến đầu thời Minh Mệnh Qua tư liệu lịch sử này cho ta có cái nhìn chi tiết về những sự đột phá trong chiến lược quốc phòng của chính quyền nhà Nguyễn trong giai đoạn này

Lịch sử khẩn hoang miền Nam của Sơn Nam được xuất bản năm 1973, là tác phẩm nghiên cứu sâu về lịch sử Nam Bộ từ thời chúa Nguyễn thế kỉ XVII đến thực dân Pháp đô hộ những năm đầu thế kỉ XX, trong đó có những phần liên quan đến An Giang, cũng như chiến lược quốc phòng an ninh của các chính quyền chúa Nguyễn, triều Nguyễn trên vùng đất này

Lịch sử An Giang của Sơn Nam xuất bản năm 1988, đây là tác phẩm mang tính chất lịch sử địa phương trình bày lịch sử vùng đất An Giang từ khi mới sát nhập vào lãnh thổ nước ta cho đến thời kì kháng chiến chống Mỹ cứu nước Tác phẩm trình bày khá tốt về những hoạt động, chính sách quốc phòng an ninh của chính quyền chúa Nguyễn, triều Nguyễn trong giai đoạn 1757 đến 1867

Luận văn Vùng đất An Giang thời kì 1757 – 1867 của Nguyễn Ngọc Thủy năm

2004, tác phẩm trình bày tổng quát về lịch sử, kinh tế, xã hội, văn hóa, ở vùng đất

An Giang từ 1757 đến 1867 Trong đó, tác giả có trình bày khái quát về chính sách và công tác thực thi quốc phòng an ninh trên vùng đất này

Địa chí An Giang do Ủy ban Nhân dân tỉnh An Giang tổ chức biên soạn và xuất bản năm 2013, bộ sách đã thể hiện diện mạo của vùng đất An Giang một cách tổng quát trên tất cả các lĩnh vực từ quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội, Trong đó, những sử liệu về chiến lược quốc phòng an ninh của chính quyền chúa Nguyễn, triều Nguyễn cũng được thể hiện rải rác qua các sự kiện, nhân vật được đề cập trong tác phẩm

Vùng đất Nam Bộ dưới triều Minh Mạng của Choi Byung Wook được xuất bản năm 2011, tác giả đã trình bày khá sâu sắc về những hoạt động của chính quyền từ thời Nguyễn sơ đến thời Minh Mạng trên đất Nam Bộ trong đó có An Giang Trong đó, Choi Byung Wook đã đi sâu vào phân tích những chính sách cai trị của vua Minh

Trang 12

Mạng ở vùng đất Nam Bộ Ở phần I của tác phẩm có những chính sách mang tính liên đới đến vùng đất An Giang trong đó có lĩnh vực quốc phòng an ninh

Ngoài ra còn nhiều tác phẩm, công trình nghiên cứu về vùng đất Nam Bộ trong

đó có An Giang phải kể đến như: “Góp phần tìm hiểu vùng đất Nam Bộ thế kỉ XVII, XVIII, XIX” và “Lịch sử khai khẩn vùng đất Nam Bộ của giáo sư Huỳnh Lứu, Lược

sử vùng đất Nam Bộ của Hội khoa học lịch sử Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo khoa học danh nhân Thoại Ngọc Hầu – Nguyễn Văn Thoại của Hội khoa học lịch sử Việt Nam kết hợp với UBND thành phố Đà Nẵng và UBND tỉnh An Giang năm 2009, Hội thảo Lịch sử An Giang, Hội thảo Nam Bộ và Nam Trung bộ thế kỷ XVII-XIX của Trường Đại học Sư phạm

Xét quá trình nghiên cứu vấn đề qua các công trình kể trên, người viết nhận thấy chưa có một công trình nào đề cập trực tiếp đến lĩnh vực của đề tài hoặc nghiên cứu chuyên sâu về chính sách quốc phòng của chính quyền chúa Nguyễn, vua Nguyễn trên vùng đất An Giang từ 1757 đến 1867, như tên đề tài của luận văn này

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Như được chỉ rõ trong tên đề tài, đối tượng nghiên cứu của luận văn là vùng đất

An Giang trong chính sách quốc phòng của chính quyền chúa Nguyễn và vua Nguyễn thời kì 1757 - 1867

Trong thư tịch và duyên cách hành chính, vùng đất An Giang từ thời chúa Nguyễn đến thời thực dân Pháp đô hộ có diện tích rất rộng, bao trùm lên các tỉnh Cần Thơ, Sóc Trăng, An Giang và một phần tỉnh Đồng Tháp ngày nay (khoảng 15.000 km²) Phạm vi không gian của vấn đề nghiên cứu chỉ trong địa giới tỉnh An Giang ngày nay (khoảng 3.406 km²)

Khoảng thời gian nghiên cứu được giới hạn từ năm 1757 khi vùng đất An Giang chính thức trở thành một phần lãnh thổ nước ta đến năm 1867 khi thực dân Pháp chiếm được trọn Nam Kỳ trong đó có tỉnh An Giang

5 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN

Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ có những đóng góp mới sau:

1 Qua sự phân tích, đánh giá, tổng hợp các nguồn sử liệu, luận văn góp phần hệ thống hóa và làm sáng tỏ vị trí, vai trò chiến lược của vùng đất An Giang trong thế

Trang 13

trận quốc phòng biên giới Tây Nam, nội dung và hoạt động của chính quyền chúa Nguyễn, triều Nguyễn trong chiến lược quốc phòng an ninh trên vùng đất An Giang từ

1757 đến 1867

2 Luận văn góp phần bổ sung tư liệu, nhận định và kiến giải khoa học cho việc nhận thức những kinh nghiệm và bài học lịch sử về chiến lược quốc phòng an ninh của vùng đất phía nam nói chung và An Giang nói riêng, là nguồn tham khảo và là cơ sở khoa học cho công tác quốc phòng an ninh của chính quyền địa phương An Giang trong việc củng cố, bảo vệ biên giới Tây Nam của đất nước trong giai đoạn hiện nay

3 Việc so sánh, đối chiếu giữa địa danh An Giang xưa và nay cũng là một đóng góp của đề tài vào việc tìm hiểu quá trình lịch sử hình thành vùng đất An Giang, bổ sung cho địa phương chí An Giang

4 Luận văn là một tài liệu có ích phục vụ việc giảng dạy, học tập và nghiên cứu lịch sử địa phương An Giang cũng như lịch sử Nam Bộ trong giai đoạn hiện nay

6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để thực hiện đề tài này, tác giả luận văn sử dụng những phương pháp sau:

Phương pháp tiếp cận hệ thống được sử dụng từ khâu chọn đề tài, xây dựng đề cương và trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài, giúp tác giả tìm hiểu, tham khảo, nắm bắt trong những tài liệu được công bố những nội dung liên quan đến vấn đề của luận văn, xem xét vấn đề được đề cập, trình bày hoặc giải quyết đến đâu, để xác định “điểm mới” và “những đóng góp mới” của đề tài, viết phần tổng quan về vấn đề nghiên cứu, lịch sử vấn đề của luận văn

Phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp logic được tác giả luận văn sử dụng xuyên suốt trong quá trình nghiên cứu để có thể tìm hiểu các sự kiện, sự việc một cách chi tiết, cụ thể trong sự ra đời, phát triển và kết thúc, trong hoàn cảnh, không gian, thời gian xác định, làm cơ sở cho việc lựa chọn, xử lý, sắp xếp tư liệu theo tiến trình thời gian, không gian một cách khoa học, để nhận định và khái quát quá trình lịch

sử của vấn đề, làm sáng tỏ vị trí, vai trò chiến lược quan trọng của vùng đất An Giang, nội dung và hoạt động của chính quyền chúa Nguyễn, triều Nguyễn trong chiến lược quốc phòng an ninh trên vùng đất An Giang từ 1757 đến 1867

Trang 14

Phương pháp liên ngành được thực hiện trong quá trình khai thác nguồn tư liệu,

kế thừa kết quả nghiên cứu thuộc các ngành khoa học khác nhau như quân sự, địa lý học và địa lý học lịch sử, khu vực học trong quan hệ quốc tế và quan hệ đối ngoại…

Các phương pháp trên được tác giả cố gắng vận dụng hợp lí trong luận văn để đảm bảo được tính khoa học và góc độ nghiên cứu sử học của vấn đề

7 BỐ CỤC LUẬN VĂN

Luận văn ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Phụ Lục, có 3 chương:

Chương 1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ HOÀN CẢNH LỊCH SỬ CỦA CHÍNH

SÁCH QU ỐC PHÒNG TRÊN VÙNG ĐẤT AN GIANG

1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên An Giang

1.2 Đặc điểm hành chính - dân cư An Giang trước năm 1867

1.3 Vùng đất An Giang trong bối cảnh lịch sử trước năm 1757

Chương 2 AN GIANG TRONG CHÍNH SÁCH QUỐC PHÒNG CỦA CHÍNH

QUYỀN CHÚA NGUYỄN THỜI KÌ 1757 – 1777

2.1 Vùng đất An Giang trong quá trình các chúa Nguyễn làm chủ, củng cố và bảo vệ vùng lãnh thổ từ Tầm Phong Long đến Hà Tiên và quan hệ đối ngoại Đàng Trong - Chân Lạp - Xiêm La

2.2 Thế trận quốc phòng của chính quyền chúa Nguyễn tại vùng đất An Giang trong quá trình xác lập chủ quyền và quan hệ đối ngoại với Xiêm La và Chân Lạp

2.2.1 Lực lượng quốc phòng – tổ chức và phiên chế của quân đội chúa Nguyễn trên vùng đất An Giang

2.2.2 Căn cứ quốc phòng – hệ thống phòng thủ tại An Giang trước nguy cơ xâm lấn từ phía Xiêm La và Chân Lạp

2.2.3 Hoạt động quốc phòng – những đặc điểm của quá trình thực thi nhiệm

vụ chiến lược trên vùng đất An Giang 2.3 Vùng đất An Giang trong quá trình khôi phục lực lượng của Nguyễn Ánh chống lại Tây Sơn

Chương 3 AN GIANG TRONG CHÍNH SÁCH QUỐC PHÒNG CỦA NHÀ

NGUY ỄN THỜI KÌ 1802 – 1867

3.1 Vùng đất An Giang trong thời kì đầu triều Nguyễn từ 1802 đến 1867

Trang 15

3.2 Chính sách quốc phòng và hoạt động thực thi trên vùng đất An Giang của vương triều Nguyễn trong thời kì 1802-1867

3.2.1 Mối quan hệ Việt Nam - Chân Lạp - Xiêm La từ cuối thế kỉ XVIII đến

nửa đầu thế kỉ XIX và những chính sách quốc phòng mới trên vùng đất An Giang của chính quyền nhà Nguyễn

3.2.2 Tổ chức hoạt động của quân đội thời các vua Nguyễn trên vùng đất AnGiang

3.2.3 Những hoạt động thực thi của chính quyền triều Nguyễn từ Gia Long đến Tự Đức trên vùng đất An Giang giai đoạn 1802 đến 1867

3.3 Ý nghĩa chiến lược của vùng đất An Giang trong thế trận quốc phòng biên giới Tây Nam của chính quyền vua Nguyễn giai đoạn 1802 - 1867

Trang 16

Chương 1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ HOÀN CẢNH LỊCH SỬ CỦA CHÍNH

SÁCH QU ỐC PHÒNG TRÊN VÙNG ĐẤT AN GIANG 1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên An Giang

* V ề vị trí địa lý:

An Giang có diện tích tự nhiên 3.424km2

Phía Bắc, Tây Bắc giáp Campuchia dài 104km(1), Tây Nam giáp tỉnh Kiên Giang 69km, phía Nam giáp tỉnh Cần Thơ 44km, phía Đông giáp tỉnh Đồng Tháp 107km [60, tr.25]

Điểm cực Bắc trên vĩ độ 10°57 (nay thuộc xã Khánh An, huyện An Phú), cực Nam trên vĩ độ 10°12 (nay thuộc xã Thoại Giang, huyện Thoại Sơn), cực Tây trên kinh độ 104°46 (nay thuộc xã Vĩnh Gia, huyện Tri Tôn), cực Đông trên kinh độ 105°35 (nay thuộc xã Bình Phước Xuân, huyện Chợ Mới) Chiều dài nhất theo hướng Bắc - Nam 86km và Đông - Tây 87,2km [60, tr.25]

Theo vị trí hiện nay, phía Đông tỉnh An Giang giáp với tỉnh Đồng Tháp, giới hạn bởi sông Tiền, kéo dài từ biên giới đến hết huyện Chợ Mới, theo sông Cái Tàu Thượng (xã Hội An) từ Vàm ở sông Tiền thông qua sông Hậu quanh co 113km Phía Nam và Đông Nam giáp tỉnh Cần Thơ theo đường ranh quận Thốt Nốt dọc theo kênh Cái Sắn dài 68km Phía Tây Nam tiếp giáp tỉnh Kiên Giang từ đoạn giữa kênh Vĩnh Tế

ở biên giới xuyên qua vùng Tứ giác Long Xuyên đến kênh Cái Sắn, dài trên 70km Phía Bắc và Tây Bắc tiếp giáp với Campuchia kéo dài từ đoạn giáp với Kiên Giang đến giáp giới tỉnh Đồng Tháp dài khoảng 100km, qua khu vực hành chính là Tri Tôn,

Tịnh Biên, Châu Đốc, An Phú và Tân Châu

Chính vì vị trí này cho nên trước TK XX, vùng đất An Giang là địa bàn có vai trò đặc biệt trong hoạt động giao thông vận chuyển và liên hệ nội vùng trong khắp khu

vực Nam Bộ cũng như trong lĩnh vực đối ngoại, quốc phòng liên quan đến các cửa ngõ thông suốt sang Chân Lạp, Xiêm La và Biển Tây

Trang 17

- Địa hình đồng bằng: có 2 loại chính là đồng bằng phù sa (chủ yếu là do sông Tiền và sông Hậu tạo nên) và đồng bằng ven núi (kiểu sườn tích và kiểu đồng bằng phù sa cổ)

- Địa hình đồi núi: gồm nhiều đỉnh có hình dạng, độ cao và độ dốc khác nhau phân bố theo vành đai cánh cung kéo dài gần 100km So với ngày nay thì dạng địa hình đồi núi này khởi đầu từ xã Phú Hữu (huyện An Phú) kéo dài qua xã Vĩnh Tế, phường Núi Sam (thành phố Châu Đốc), bao trùm lên gần hết diện tích hai huyện Tịnh Biên và Tri Tôn, về tận xã Vọng Thê, thị trấn Óc Eo và xã Vọng Đông rồi kết thúc ở

thị trấn Núi Sập (huyện Thoại sơn)

Núi ở An Giang có thể chia ra làm 6 cụm và 2 núi độc lập:

- Sáu cụm núi của An Giang bao gồm: Cụm núi Sập (bao gồm 4 núi là Núi Sập, núi Nhỏ, núi Bà và núi Cậu đều thuộc huyện Thoại Sơn ngày nay); cụm núi Ba Thê (bao gồm 4 núi là núi Ba Thê, núi Tượng, núi Trọi và núi Chóc cùng trên địa bàn huyện Thoại Sơn ngày nay); cụm núi Phú Cường (bao gồm 13 núi là núi Phú Cường, núi Dài Năm Giếng (hay núi Dài nhỏ), núi Két, núi Rô, núi Đất Nhỏ, núi Đất Lớn, núi

Mo Tấu, núi Chùa, núi Trà Sư, núi Bà Vải, núi Bà Đắt, núi Cậu và núi Tà Nung phân

bố trên địa bàn huyện Thoại Sơn ngày nay); cụm núi Cấm (bao gồm 7 núi là núi Cấm, núi Bà Đội, núi Nam Qui, núi Bà Khẹt, núi Tà Lọt, núi Ba Xoài và núi Cà Lanh phân

bố trên địa bàn 2 huyện Tịnh Biên và Tri Tôn ngày nay); cụm núi Dài (bao gồm 4 núi

là núi Dài, núi Tượng, núi Nước và núi Sà Lon đều thuộc huyện Tri Tôn ngày nay);

cụm núi Cô Tô (bao gồm 2 núi là núi Cô Tô và núi Tà Pạ đều thuộc huyện Tri Tôn ngày nay) [60, tr.111]

- Hai núi độc lập là núi Nổi (nằm độc lập thuộc thị xã Tân Châu với độ cao khoảng 10m và chu vi 320m) và núi Sam (đứng độc lập thuộc thành phố Châu Đốc với

độ cao 228m và chu vi 5.200m)

Ngoài đặc điểm trong mỗi cụm núi bao gồm nhiều núi liên kết hoặc đứng độc lập, còn thấy ngay mỗi núi có nhiều đỉnh với độ cao thấp khác nhau Núi Cấm là núi

có tới 6 đỉnh với độ cao từ 142m đến 705m, núi Dài là núi lớn thứ hai với 8 đỉnh cao

từ 134 đến 554m, núi Dài Năm Giếng có 5 đỉnh cao từ 135m đến 282m, núi Tượng có

Trang 18

Các cụm núi Cấm, núi Dài, núi Phú Cường, núi Cô Tô liên kết nhau thành một dãy liên tục trải dài trên 35km và rộng 17km với diện tích gần 600km2, tạo thành vùng

Thất Sơn (Bảy Núi) với 7 ngọn núi đã đi vào lịch sử và huyền thoại là:

- Núi Cấm (Thiên Cấm Sơn),

- Núi Dài Năm Giếng (Ngũ Hồ Sơn)

- Núi Cô Tô (Phụng Hoàng Sơn),

- Núi Dài (Ngọa Long Sơn),

- Núi Tượng (Liên Hoa Sơn)

- Núi Két (Anh Vũ Sơn)

- Núi Nước (Thủy Đài Sơn)(2)

Sự đa dạng bề mặt địa hình với những đồi núi khá hiểm trở xen giữa vùng đồng

bằng phù sa phì nhiêu màu mỡ đã tạo nên nét đặc thù của vùng đất An Giang như một vùng bán sơn địa với nhiều ưu thế trong thiết lập hệ thống phòng thủ, căn cứ quốc phòng, củng cố biên giới quốc gia

* V ề các con sông:

Trên lãnh thổ An Giang tương ứng với ngày nay có 5 con sông:

Sông Tiền và sông Hậu là hai nhánh sông lớn của hạ lưu sông Mê Kông được phân lưu khi vào lãnh thổ Việt Nam Sau Phnom Pênh về phía hạ lưu một ít, sông Mê Kông chia thành hai nhánh, nhánh phía Đông chảy qua lãnh thổ Campuchia rồi vào

Việt Nam gọi là sông Tiền, nhánh phía Tây gọi là sông Hậu

Sông Tiền chảy theo hướng tây bắc – đông nam, chảy qua các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Tiền Giang, Vĩnh Long, Trà Vinh và Bến Tre, đổ ra Biển Đông theo 6 cửa

là Cửa Tiểu, Cửa Đại, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên và Cung Hầu Đoạn chảy qua An Giang dài khoảng 80km Gia Định thành thông chí chép: “Sông Tiền (sông trước) ở phía tây trấn, nguồn sông nầy ở phía bắc từ Ai Lao xuống Cao Miên đến Nam Vang, theo hướng đông chảy đến Cầu Nôm, Tân Châu qua sông Đại Tuần trước trấn Vĩnh Thanh đến Ba Lai, Mỹ Tho rồi chảy về nam ra hai cửa biển Đại, Tiểu, ấy là dòng chính của sông lớn ban đầu Ở sông Đại Tuần chảy xuống bến bờ chia ra 3 nhánh: một nhánh qua phía đông trấn làm sông lớn Long Hồ, xuống phía nam ra cửa biển Cổ

(2)Theo Võ Thành Phương (1984), Những Trang Sử Về An Giang, Nxb Văn Nghệ An Giang, An Giang

Trang 19

Chiên; một nhánh là sông lớn Hàm Luông, về phía nam đến hai cửa biển Băng Côn và Ngao Châu; một nhánh qua sông dưới Ba Lai đến Tiên Thủy, xuống phía nam ra cửa

biển Ba Lai Thế nước ôm quanh cồn nọ, dựa vào bãi kia, có tới tám ngã ba sông, nhiều nhánh đan xuyên qua Hậu Giang, trông xuống trấn Vĩnh Thanh như là một biển sao, các ngôi sao đan xen nhau.” [4, tr.70] Sông Tiền là ranh giới tự nhiên giữa An Giang là tỉnh Đồng Tháp ngày nay, có độ uốn khúc lớn, được chia dòng rẽ nhánh ở nhiều vị trí bởi các cù lao Cái Vừng, Cồn Cỏ, cù lao Long Khánh, cù lao Tây, cù lao

Ma và cù lao Giêng Đối với An Giang, sông Tiền vừa là trục giao thông quan trọng, con đường thủy ngắn nhất sang Campuchia, Thái Lan, cũng như là ngõ thủy lộ trung tâm đến các vùng khác trong khu vực Nam Bộ, vừa là nguồn cung cấp nước và phù sa lớn nhất đồng bằng sông Cửu Long đảm bảo cho các hoạt động dân sinh và quân sự

nhất là trong buổi đầu mở và giữ đất, đồng thời cũng là con sông có chế độ dòng chảy

và diễn biến lòng sông phức tạp nhất [60, tr.121]

Sông Hậu có hướng chảy song song với sông Tiền, đi qua các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Hậu Giang, Vĩnh Long, Trà Vinh, Sóc Trăng, đổ ra biển theo 3 cửa là Định An, Ba Thắc và Tranh Đề Gia Định thành thông chí chép: “Hậu Giang (sông sau) ở phía tây nam trấn Thượng lưu sông từ phía đông thành Nam Vang (Cao Miên), chảy xuống Châu Đốc, qua Mạt Cần Đăng; đổ xuống đồn Cường Oai ở Lấp Vò rồi qua đồn thủ Trấn Giang, đến đạo Trấn Di, ra cửa biển Ba Thắc; nước dầm thấm

khắp cả ruộng vườn, bao hàm cả cồn bãi bờ bến, là nguồn thủy lợi rất lớn, lúa gạo cá tôm dùng ăn không hết.”[4, tr.71] Đoạn sông Hậu chảy qua trung tâm địa bàn tỉnh An Giang cũng có độ uốn khúc lớn, lòng sông rộng, phân dòng rẽ nhánh ở nhiều chỗ bởi các cù lao Vĩnh Trường, Khánh Hòa, Cồn Tiên, Bình Thủy, Bà Hòa, Mỹ Hòa Hưng và Phó Ba, điều này tạo ra rất nhiều ngõ thủy lộ có mối liên hệ nhau tạo ra sự linh hoạt trong di chuyển nội vùng Đối với An Giang, sông Hậu là trục giao thông thủy xuyên

suốt trung tâm của tỉnh từ thượng nguồn về hạ lưu, là nguồn cung cấp nước và phù sa chủ yếu cho vùng trũng Tứ giác Long Xuyên(3) [60, tr.121], vừa mang giá trị kinh tế

lớn, vừa thuận lợi cho công tác quốc phòng nơi biên giới với Chân Lạp

Trang 20

Sông Vàm Nao chảy ven thị trấn Phú Mỹ (huyện Phú Tân) và xã Kiến An (Chợ Mới) ngày nay, nối liền sông Tiền và sông Hậu Trong cuốn địa chí “Tân Châu xưa”,

có viết về Vàm Nao như sau: “Đúng theo cổ sử thì sông Vàm Nao xưa kia gọi “Hồi Oa

thủy” (nước xoáy tròn) Sở dĩ hiện trạng nầy mà có, thường khởi từ tháng 8 đến tháng

11 âm lịch, khi sông Cửu Long bắt đầu dâng lên, nước cuồn cuộn chảy như thác lũ;

những dòng nước xoáy to lớn nơi Vàm Nao ồ ạt đảo lộn liên tục làm cho sự lưu thông

trở nên khó khăn: người chưa từng kinh nghiệm trên dòng nước xoáy nguy hiểm lắm lúc bị đắm thuyền.”[13, tr.149 -150] Trải qua quá trình diễn biến đào xói để tự phát triển, ngày nay sông Vàm Nao nằm gọn trong địa phận tỉnh An Giang, chảy theo hướng đông bắc – tây nam, có chiều dài khoảng 6km, chiều rộng trung bình khoảng 700m với độ sâu trên 17m, có tác dụng cân bằng dòng chảy giữa sông Tiền và sông

Hậu [60, tr.122] Chính những diễn biến phức tạp của dòng chảy trên sông Vàm Nao

đã tạo ưu thế rõ nét trong tác chiến của thủy quân trong các thời kì giữ nước đã qua

Sông Bình Di và sông Châu Đốc: Tại xã Khánh Bình, huyện An Phú ngày nay, sông Hậu chia dòng, nhánh hữu ngạn hẹp có độ rộng khoảng ¼ dòng chính gọi là sông Bình Di Sau một đoạn dài trên 10km, sông Bình Di chảy đến Vĩnh Hội Đông ngày nay thì gặp sông Tà Keo và sông Châu Đốc Bắc đầu từ ngã ba sông này, sông Châu Đốc chảy đến địa phận thành phố Châu Đốc ngày nay thì nhập lưu trở lại sông Hậu, dài 18km [60, tr.122] Đây là đặc điểm khá đặc biệt tạo ra sự đặc trưng của hai con sông, rất thích hợp cho công tác bố trí, tập kích quân giặc khi mới vừa vào lãnh thổ nước ta trên tuyến sông Hậu

Hệ thống sông ngòi trên vùng đất An Giang với hai nhánh chính là Tiền Giang

và Hậu Giang đã trở thành những thủy lộ huyết mạch kết nối An Giang với những vùng đất khác của đất Nam Bộ cũng như thông tuyến dễ dàng đến vùng đất Chân Lạp

ở ngoài cương giới quốc gia, chính đặc điểm nổi bật ấy đã tạo ra ý thức phòng thủ và hình thành nên những chiến lược quốc phòng trên vùng đất này góp phần quan trọng trong chính sách quốc phòng của các chính quyền trước thế kỉ XX trên vùng biên giới Tây Nam

* Về các con rạch:

Trang 21

An Giang có hệ thống các con rạch tự nhiên rãi rác khắp địa bàn tỉnh với độ dài

từ vài km đến 30km Các rạch trong khu vực giữa sông Tiền và sông Hậu thường lấy nước từ sông Tiền chuyển sang sông Hậu Các rạch nằm trong khu vực hữu ngạn sông

Hậu thì lấy nước từ sông Hậu chuyển vào sâu nội đồng vùng Tứ giác Long Xuyên

Trong quá khứ, rạch tự nhiên ở An Giang khá nhiều Nhưng trải qua thời gian dài, số bị phù sa sông Tiền và sông Hậu chảy vào bồi lấp lâu thành đồng ruộng, số thì được cải tạo lại thành dạng kinh đào, vì vậy, đến nay số còn lại không nhiều Những rạch lớn ở An Giang gồm rạch Mương Khai, rạch Cái Đầm, rạch Cái Tắc, rạch Ông Chưởng (còn gọi là sông Lễ Công), rạch Cái Tàu Thượng, rạch Long Xuyên, rạch

Chắc Cà Đao, rạch Mặc Cần Dưng, rạch Cần Thảo Trong số các rạch này thì rạch Ông Chưởng và rạch Long Xuyên là hai rạch quan trọng vì khá dài, rộng và sâu hơn các rạch còn lại, cũng như vị trí chiến lược của nó [60, tr.122]

* Về kênh đào:

Trong giai đoạn 1757 đến trước năm 1817, chúng ta hoàn toàn chưa thấy có tài

liệu nào nói về việc đào kênh của chính quyền hay dân cư ở An Giang Nhưng đến giai đoạn từ 1818 đến 1867, trên vùng đất An Giang chính quyền các vua Nguyễn đã lần lượt cho đào đến 3 con kênh bao gồm: kênh Thoại Hà (1818), kênh Vĩnh Tế (1819 – 1824), kênh Vĩnh An (1843) Kênh Trà Sư cũng được cho là đào vào thời kì này nhưng chưa tìm thấy nguồn tu liệu nào nói đến

Hệ thống kênh đào trên vùng đất An Giang trước thế kỉ XX đã góp phần quan

trọng trong công cuộc bảo vệ tổ quốc cũng như trong sự phát triển vùng đất biên viễn này trong buổi đầu khai phá

* V ề khí hậu:

- Mây: Ở An Giang lượng mây tương đối ít Trong mùa khô do độ ẩm không khí thấp nên có khi trời có mây nhưng vẫn rất nắng Trong mùa mưa do độ ẩm cao nên lượng mây thường nhiều hơn

- Nắng: An Giang có mùa nắng chói chang, trở thành địa phương có số giờ

nắng trong năm lớn kỷ lục của cả nước

- Nhiệt độ: Ở An Giang nhiệt độ trung bình hàng tháng không những cao mà

Trang 22

khoảng 1,5° đến 3°; còn trong các tháng mùa mưa chỉ vào khoảng trên dưới 1° [60, tr.134]

- Gió: Ở An Giang trong mùa khô, gió thịnh hành là Đông Bắc, còn vào mùa mưa là gió Tây Nam – gió Tây Nam là gió có tần suất xuất hiện lớn nhất

- Mưa: Ở An Giang mùa mưa thường bắt đầu vào tháng 5 và kết thúc vào tháng

11 Lượng mưa lớn lại trùng vào mùa nước lũ của sông Mê Kông nên đã gây ra tình

trạng úng tổ hợp với ngập lụt, chi phối đến nhiều hoạt động sản xuất và đời sống người dân, cũng như hoạt động quốc phòng

- Độ ẩm: Ở An Giang mùa có độ ẩm thấp thường bắt đầu từ tháng 12 và kéo dài đến tháng 4 năm sau, nghĩa là mùa có độ ẩm thấp trùng với mùa khô trung bình 78%, mùa mưa thật sự là một mùa ẩm ướt với độ ẩm trung bình 84% [60, tr.138]

Ngoài các yếu tố khí tượng nói trên, An Giang còn có các hiện tượng thời tiết

cần lưu ý như: lốc xoáy vòi rồng mưa đá, hạn Bà Chằn, ảnh hưởng của hiện tượng Elnino và Lanina

Khí hậu ở An Giang nằm trong dạng khí hậu chung của vùng đất Nam Bộ, tuy nhiên vẫn mang những nét đặc trưng vốn có tạo nên sự khác biệt cho vùng đất này, điều này tác động khá lớn đến đời sống của cư dân, lưu dân cũng như chế độ đóng quân, đồn trú, hành quân của quân đội trong suốt chiều dài lịch sử

* Về thủy văn:

- Dòng chảy mùa lũ:

Lũ đầu mùa: Bước sang tháng 7 và tháng 8 hàng năm thường có mưa to và dài ngày, làm xuất hiện những trận lũ đầu mùa ở cả trung và hạ lưu sông Mê Kông

Lũ lớn nhất trong năm: Khu vực phía trên Vàm Nao đa số lũ lớn nhất năm xảy

ra vào tháng 9 và 10, còn khu vực phía dưới Vàm Nao do ảnh hưởng của sự phân chia nước và thủy triều nên lũ lớn nhất năm xảy ra muộn hơn khoảng từ 10 ngày đến 1 tháng

Độ dốc lũ và cường suất lũ: Trên địa bàn An Giang, nhìn chung là vào đầu mùa mưa nước sông lên nhanh, độ dốc lũ và cường suất lũ lớn nhất năm thường xuất hiện vào thời kì này

Trang 23

Thời gian lũ: Thời gian lũ lên và xuống ở An Giang khá dài Những năm lũ lớn, thời gian lũ lên từ 3 đến 4 tháng và lũ xuống gần 3 tháng Năm lũ nhỏ có thời gian lũ lên và xuống cũng tới gần 4 tháng

- Dòng chảy mùa kiệt:

Mực nước thấp nhất hàng năm: Ở An Giang, mực nước thấp nhất năm có thể

xuất hiện vào tháng 4 hoặc đầu tháng 5 Do ảnh hưởng mạnh của thủy triều, nên mực nước thấp nhất của năm cực kiệt cũng không chênh lệch nhiều so với năm kiệt ít

Lưu lượng dòng chảy nhỏ nhất hàng năm: Ở An Giang, lưu lượng kiệt nhất năm

xuất hiện vào tháng 3 hoặc tháng 4 Tùy thuộc vào độ lớn lũ năm trước và cường độ

thủy triều năm sau, mà lưu lượng kiệt nhất hàng năm của sông Tiền và sông Hậu bị dao động theo

- Dòng chảy phù sa:

Cấp phối hạt: Phù sa sông Cửu Long qua hai mặt cắt Châu Đốc (sông Hậu) và Tân Châu (sông Tiền) không chứa hạt to và vừa Phù sa sông Tiền có độ đều mịn hơn sông Hậu Nhưng trong phù sa sông Hậu thành phần sét chiếm 34%, trong khi đó sông Tiền chỉ có 16% [60, tr.152]

Thành phần hóa học: Thành phần hữu cơ của phù sa sông Cửu Long có nhiều

chất mùn, rất có lợi cho cây trồng và thành phần Silicat vẫn chiếm tỷ lệ cao nhất (36%) trong phù sa sông Cửu Long [60, tr.152]

- Hàm lượng và tổng lượng: Tổng lượng phù sa hàng năm của sông Tiền và sông Hậu chảy qua hai mặt cắt Tân Châu và Châu Đốc tương đối lớn

Chế độ thủy văn trên vùng đất An Giang mang tính đặc trưng rõ nét so với các vùng đất khác ở Nam Bộ Với diện tích ngập nước gần như toàn bộ bề mặt trừ vùng (Thất Sơn) đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự đi lại của lưu dân, cư dân bằng những phương tiện thủy truyền thống trên vùng đất An Giang trong buổi đầu khai phá, đặc

biệt điều này phát huy khá tốt sự cơ động của thủy binh Chúa Nguyễn và triều Nguyễn trong giai đoạn trước thế kỉ XX trong quá trình thực thi chiến lược quốc phòng trên vùng biên địa Tây Nam của tổ quốc

Trang 24

tổng diện tích khoảng 30.136 ha, trong đó Tri Tôn chiếm 67% [60, tr.175]

- Nhóm đất phù sa: Ở An Giang, nhóm đất phù sa chiếm 44,27% tổng diện tích đất toàn tỉnh với khoảng 156.507 ha, chủ yếu phân bố ở các huyện Châu Thành, Châu Phú, Phú Tân, An Phú, Tân Châu, Thoại Sơn, Chợ Mới và một phần của thành phố Long Xuyên, thị xã Châu Đốc ngày nay [60, tr.180]

- Nhóm đất đồi núi: Đất đồi núi chủ yếu phân bố tại 2 huyện Tri Tôn và Tịnh Biên, một phần nhỏ ở huyện Thoại Sơn (vùng Ba Thê) Tổng diện tích đất đồi núi ở

An Giang khoảng 29.320 ha, chiếm 8,6% tổng diện tích đất của tỉnh [60, tr.185]

Theo Nguyễn Đình Đầu thì tình hình ruộng đất ở An Giang năm 1836 ghi nhận được như sau [60, tr.404]:

Toàn tỉnh An Giang đo đạt được 47.674ha trong đó diện tích sử dụng được là 47.409ha gồm đất dùng để canh tác 47.264ha và đất thổ cư 145ha, còn lại 265ha là đất

Cơ cấu ruộng đất thời bấy giờ ở An Giang chủ yếu có hai loại [60, tr.405]:

- Loại ruộng gò, ruộng cao, ruộng không tốt (gọi là sơn điền) chiếm tỉ lệ 96,35%

- Loại ruộng cỏ, ruộng sâu, ruộng tốt (gọi là thảo điền) chỉ chiếm có 3,6%

Sự đa dạng về các loại hình đất đai trên vùng đất An Giang tạo điều kiện thuận

lợi cho quá trình khẩn hoang lập làng, lập đồn điền trên những khu vực dễ khai phá rồi

tiến đến các vùng khó khai phá hơn của lưu dân, di dân cũng như chính quyền chúa

Trang 25

Nguyễn, triều Nguyễn trong sự nghiệp an dân giữ nước, phát triển vùng đất mới giai đoạn trước thế kỉ XX

Như vậy, về điều kiện tự nhiên, vùng đất An Giang có vị trí khá quan trọng, án

ngữ mặt biên giới phía Tây Nam của tổ quốc với nhiều dạng địa hình Trong đó, đồi núi chiếm diện tích tương đối lớn so với các vùng đất khác trong khu vực tạo ra thế

hiểm trở chiến lược trong công tác quốc phòng bảo vệ quốc gia An Giang với hệ

thống sông, rạch, kênh đào chằn chịt tạo nhiều thuận lợi trong các mặt giao thông, kinh

tế, đặc biệt trong lĩnh vực quân sự, Ngoài ra, An Giang có khí hậu và chế độ thủy văn rất đặc trưng của vùng đồng bằng sông Cửu Long, điều này ảnh hưởng khá lớn đến những người ở nơi khác đến, cần thời gian để họ thích nghi trong điều kiện tự nhiên khó khăn của thời kì này

1.2 Đặc điểm hành chính - dân cư An Giang trước năm 1867

*Về tổ chức hành chính – địa lý dân cư

An Giang là vùng đất biên địa rất quan yếu, luôn luôn đòi hỏi việc tổ chức quản

lý của chính quyền nhằm giữ nước và an dân Qua các giai đoạn lịch sử, tổ chức và duyên cách hành chính của An Giang liên tục thay đổi, tác động to lớn đến đời sống xã

hội và dân cư trên vùng đất này

Tầm Phong Long trước thế kỷ XVIII là vùng đất rộng lớn từ biên giới Đại Việt- Chân Lạp (Campuchia), chạy dọc theo sông Tiền và sông Hậu xuống tới Trà Vang (Trà Vinh) và Ba Thắc (Sóc Trăng và Bạc Liêu) Bề ngang từ Hà Tiên sang đến đất

Tầm Bôn (Tân An) và từ Ba Thắc đến Tầm Bào (Vĩnh Long), Trấn Giang (Cần Thơ) Sách Đại Nam nhất thống chí viết về An Giang như sau: “Xưa là đất Tầm Phong Long, năm Đinh Sửu thứ 19 (1757) đời Thế Tông, quốc vương Chân Lạp Nặc Tôn dâng đất này, đặt làm đạo Châu Đốc, vì đất ấy có nhiều chỗ bỏ hoang, đầu đời Gia Long mộ dân đến ở gọi là Châu Đốc Tân Cương, đặt quản đạo, lệ vào tỉnh Vĩnh Long”[47, tr.184]

Khi đất Tầm Phong Long thuộc quyền quản lý của chính quyền Đàng Trong,

việc tổ chức và quản lý vùng đất mới được Chúa Nguyễn lập tức thực hiện bằng cách

cất cử quan lại cai quản Theo đó Nguyễn Cư Trinh và Trương Phước Du lập thành 3

Trang 26

và được xác nhập vào châu Định Viễn, thuộc dinh Long Hồ (trấn lỵ đặt ở Vĩnh Long) Các đạo Châu Đốc, Tân Châu, Đông Khẩu được tổ chức như một khu quân sự

Thời Chúa Nguyễn đặt chức Quản đạo để trông coi mọi việc Dưới đạo là các

thủ có một Đạo thủ cai quản

Từ năm 1757 đến chính quyền chúa Nguyễn bị lật đổ năm 1777, sử sách không

thấy có ghi chép nào về sự thay đổi trong quản lý hành chính của vùng đất An Giang

Từ năm 1777 đến 1802 là giai đoạn chiến tranh giữa thế lực họ Nguyễn Ánh với Tây Sơn, vùng Nam Bộ bấy giờ thuộc phủ Gia Định Từ năm 1789, Nguyễn Ánh tổ chức

lại việc cai trị đất Gia Định, chia ra làm 3 trấn: Biên Trấn (vùng Biên Hòa), Phiên Trấn (Gia Định và Định Tường), Long Hồ (Vĩnh Long và An Giang) Năm 1800, Nguyễn Ánh đổi phủ Gia Định thành trấn Gia Định Về phía triều Tây Sơn (1786 – 1802), không thấy sử ghi lại bất kỳ sự đo đạc hoặc thay đổi nào về quản lý hành chính của vùng đất này [54, tr.59]

Dưới thời Gia Long (1802 – 1820), vùng đất An Giang được quản lý chặt chẽ hơn Năm 1808, vua Gia Long đổi Gia Định trấn thành Gia Định thành Gia Định thành thống quản 5 trấn: Phiên An, Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Thanh và Hà Tiên Vùng đất An Giang lúc bấy giờ thuộc trấn Vĩnh Thanh, trấn thủ là Lưu Phước Tường,

Đến thời vua Minh Mạng (1820 – 1840), trong các năm 1831-1832, vua Minh Mạng tiến hành tổ chức lại bộ máy quản lý chặt chẽ hơn trong cả nước mà ta hay gọi

là “cải cách Minh Mạng” Về mặt hành chính, Minh Mạng bỏ các tổng trấn, đổi các dinh, trấn thành tỉnh và đây là lần đầu tiên đơn vị hành chính tỉnh xuất hiện ở Việt Nam [1, tr.210]

Trang 27

Theo đó, năm 1832, tỉnh An Giang được thành lập Lúc bấy giờ, An Giang là một tỉnh lớn, có vị trí chiến lược quan trọng trong quốc phòng nên đặt chức Tổng đốc đứng đầu Quan Tổng đốc giữ việc cai trị quân và dân, trong coi cả quan văn lẫn quan

võ, khảo hạch các quan lại Chức Tổng đốc ở An Giang kiêm quản cả tỉnh Hà Tiên nên gọi là Tổng đốc An Hà Đại Nam thực lục chép: “đặc chức An Hà Tổng đốc, thống lĩnh 2 tỉnh An Giang và Hà Tiên” [47, tr.184] Dưới Tổng đốc An Hà có Tuần phủ An Giang giữ việc tuyên bố ân đức của nhà vua, phủ dụ yên dân, trông coi việc hành chính, giáo dục, chấn hưng việc có lợi và trừ bỏ hủ tục Dưới quyền của Tuần phủ An Giang có hai ty [37, tr.438- 440]:

- Ty Bố chánh sứ (hay Phiên ty) phụ trách việc thuế, đinh điền và hộ tịch do một viên Bố chánh sứ (gọi tắt là Bố chánh) điều khiển, có một thông phán, một kinh

lịch giúp việc

- Ty Án sát sứ (hay Niết ty) coi việc hình án, do một viên án sát sứ (thường gọi

là quan Án sát) phụ trách, có một thông phán, kinh lịch phụ tá

Bên cạnh đó, triều Nguyễn còn đặt chức Lãnh binh An Giang với chức trách cai quản việc binh lính theo lệnh quan Tổng đốc An Hà

Dưới tỉnh là phủ do Tri phủ đứng đầu, bấy giờ tỉnh An Giang có 2 phủ là Tuy Biên và Tân Thành Dưới phủ là huyện do Tri huyện đứng đầu, cả tỉnh có 4 huyện là Tây Xuyên và Đông Xuyên (thuộc phủ Tuy Biên), Vĩnh An và Vĩnh Định (thuộc phủ Tân Thành) Dưới huyện là tổng (gồm vài làng hợp lại), về tổ chức chính quyền sẽ do

Hội đồng kỳ dịch của làng xã chọn ra một Cai tổng và một Phó tổng để quản lý tổng

đó Hội đồng kỳ dịch làng xã thời kì này ở An Giang là những người đứng ra lập làng,

có tên trong sổ bộ, chịu đóng thuế, giải quyết các việc của làng xã [54, tr.56] Những nhóm dân cư dần phát triển theo thời gian, hình thành nên các đơn vị hành chính là lân, thôn, phường, làng, hoặc những ấp đông gọi là giáp (tương đương với làng) Các

vị trí then chốt về an ninh gọi là Điếm Đối với dân mới đến chưa vào sổ bộ hoặc cư ngụ tạm thời thì gom lại lập đơn vị mới gọi là tứ chiếng thôn, tứ chiếng điếm [60, tr.223]

Nói về việc cách tổ chức hành chính trên của nhà Nguyễn, Đại Nam nhất thống

Trang 28

Vĩnh Long đặt làm phủ Tuy Biên và Tân Thành; đặt bốn huyện là Tây Xuyên, Phong Phú, Đông Xuyên và Vĩnh An lập tỉnh An Giang, đặc chức An Hà Tổng đốc, thống lĩnh 2 tỉnh An Giang và Hà Tiên, lại đặt hai ty Bố chánh, Án sát” [47, tr.184] Vì lý do

an ninh quốc phòng lỵ sở của tỉnh An Giang được đặt tại Châu Đốc là nơi quan yếu để Tổng đốc An Hà trông quản 2 tỉnh An Giang và Hà Tiên Địa bàn tỉnh An Giang ngày nay gần khớp với địa bàn hai huyện Đông Xuyên và Tây Xuyên xưa (tức phủ Tuy Biên) [25, tr.162]

Đến năm 1835, Minh Mạng lại cho lấy đất Ba Thắc đặt thêm phủ Ba Xuyên,

với hai huyện là Phong Nhiêu và Phong Thạnh, tiếp đó lấy huyện Vĩnh Định của tỉnh Vĩnh Long nhập vào tỉnh An Giang Vậy tỉnh An Giang thời kì này có 3 phủ với 7 huyện [11, tr.67] Năm 1840, phủ Tân Thành thêm huyện An Xuyên

Năm Thiệu Trị thứ 2 (1842), tỉnh An Giang có thêm một phủ với một huyện

nữa là phủ Tĩnh Biên với huyện Hà Dương lấy từ tỉnh Hà Tiên Năm 1844, phủ Tĩnh Biên có thêm một huyện là Hà Âm cũng lấy từ tỉnh Hà Tiên

Năm Tự Đức thứ 3 (1850), tỉnh An Giang bỏ đi phủ Tĩnh Biên, cho hai huyện

Hà Dương và Hà Âm của phủ này lệ vào phủ Tuy Biên Bấy giờ, tỉnh An Giang có 3

phủ với 10 huyện Bao gồm:

- Phủ Tuy Biên, ở phía Tây sông Hậu, từ biên giới xuống đến Cần Thơ ngày nay, gồm 4 huyện là Tây Xuyên, Phong Phú, Hà Dương và Hà Âm

- Phủ Tân Thành, ở giữa sông Tiền và sông Hậu, giáp tỉnh Vĩnh Long, gồm có 3 huyện là Đông Xuyên (trước thuộc phủ Tuy Biên), Vĩnh An và An Xuyên

- Phủ Ba Xuyên, vùng Sóc Trăng kéo dài đến bờ Biển Đông, gồm có 3 huyện là Phong Nhiêu, Phong Thịnh và Vĩnh Định

Nói về những sự thay đổi trên, sách Đại Nam nhất thống chí viết: “Năm Minh Mạng thứ 16 lại lấy đất Ba Thắc đặt thêm phủ Ba Xuyên, đặt thêm huyện Phong Nhiêu và Phong Thịnh và lấy huyện Vĩnh Định tỉnh Vĩnh Long; năm thứ 20 lại lấy huyện An Xuyên lệ vào phủ Tân Thành Năm Thiệu Trị thứ 2 trích phủ Tĩnh Biên cùng huyện Hà Dương thuộc huyện Hà Tiên đổi lệ thuộc vào tỉnh; năm thứ 4 lại đem huyện Hà Âm đổi vào lệ thuộc phủ Tĩnh Biên Năm Tự Đức thứ 3 bỏ phủ Tĩnh Biên,

Trang 29

lấy hai huyện Hà Âm, Hà Dương lệ vào phủ Tuy Biên Nay lãnh 3 phủ, 10 huyện ” [47, tr.184]

Đây là giai đoạn ranh giới hành chính tỉnh An Giang rộng lớn nhất Theo Đại Nam nhất thống chí, viết vào thời vua Tự Đức (1875) ranh giới tỉnh An Giang được quy định “Đông – Tây cách nhau 94 dặm, Nam – Bắc cách nhau 150 dặm, phía Đông đến sông Tiền Giang giáp địa giới huyện Kiến phong, tỉnh Định Tường 48 dặm, phía Tây đến địa giới 3 huyện Hà Châu, Long Xuyên, và Kiên Giang, tỉnh Hà Tiên 46 dặm, phía Nam đến biển 108 dặm, phía Đông Nam đến địa giới 2 huyện Vĩnh Bình, Tuân Nghĩa, tỉnh Vĩnh Long 196 dặm, phía Tây Nam đến địa giới tỉnh Hà Tiên 75 dặm, phía Đông Bắc đến địa giới tỉnh Định Tường 26 dặm, phía Tây Bắc đến địa giới Cao Miên

44 dặm, từ tỉnh lỵ đến kinh 2.300 dặm”[47, tr.183] Có thể hình dung tỉnh An Giang

thời kì này có vị trí phía Đông giáp hai tỉnh Vĩnh Long, Định Tường Phía Tây giáp

tỉnh Hà Tiên, phía Nam giáp Biển Đông, phía Bắc Giáp Chân Lạp (Campuchia ngày nay)

Đến năm 1849, Nguyễn Tri Phương tâu bày về việc thành tỉnh và các phủ thuộc tỉnh An Giang nên dời đặt đi chỗ khác Cụ thể, xin dời thành tỉnh đến thôn Long Sơn, huyện Đông Xuyên, còn thành cũ để làm phủ lỵ Tuy Biên Phủ lỵ An Biên thì dời

dựng ở bờ bên hữu sông Vĩnh Tế ở Giang Thành, liệu lượng đắp một con đường cái [45, tr.132] Tự Đức thấy được sự cần thiết của việc này với công cuộc quốc phòng Tây Nam và phát triển vùng biên giới nên cho y theo lời, duy việc dời dựng thành tỉnh, thành phủ, chuẩn cho thong thả hãy bàn đến [45, tr.132]

Trong suốt thời Nguyễn vùng đất An Giang đã trải qua các đời Tổng đốc An Hà

và Tuần phủ sau:

*Các Tổng đốc An Hà thời nhà Nguyễn:

- Trương Minh Giảng nhiệm kỳ: 1832 - 1836

- Lê Đại Cương nhiệm kỳ: 1836 - 1838 (bị cách chức)

- Trương Minh Giảng nhiệm kỳ: 1838 - 1840

- Dương Văn Phong nhiệm kỳ: 1840 - 1841 (bị cách chức)

Trang 30

- Nguyễn Văn Chương (tức Nguyễn Tri Phương) tuần phủ kiêm quyền hộ lý tổng đốc

1841

- Phạm Văn Điển nhiệm kỳ: 1841 - 1842 (bị bệnh rồi mất)

- Nguyễn Công Nhàn nhiệm kỳ: 1842 - 1844 (bị cách chức)

- Nguyễn Tri Phương(tứcNguyễn Văn Chương) nhiệm kỳ: 1844 - 1845

- Tôn Thất Bạch nhiệm kỳ: 1845 - 1847

- Doãn Uẩn nhiệm kỳ 1847-1850 (bị bệnh rồi mất)

- Cao Hữu Bằng (Cao Hữu Dực) nhiệm kỳ: 1850 - 1859 (bị bệnh rồi mất)

- Nguyễn Công Nhàn nhiệm kỳ: 1859 - 1861 (bị cách chức)

- Phan Khắc Thậnnhiệm kỳ: 1861 - 1867 (khi Pháp chiếm An Giang)

*Các Tuần phủ An Giang thời nhà Nguyễn:

- Lê Đại Cương nhiệm kỳ: 1832 - 1836

- Dương Văn Phong nhiệm kỳ: 1838 - 1840

- Nguyễn Tri Phương nhiệm kỳ năm 1841

- Nguyễn Công Trứ nhiệm kỳ: 1842 - 1844

- Doãn Uẩn nhiệm kỳ: 1844 - 1847

- Cao Hữu Dực nhiệm kỳ: 1847 - 1850

- Phan Khắc Thận nhiệm kỳ: 1859 - 1861

Sự tổ chức và duyên cách hành chính cũng như cất cử quan lại của các chính quyền chúa Nguyễn, vua Nguyễn trên vùng đất An Giang suốt thời kì 1757 – 1867 có ảnh hưởng to lớn đến những biến chuyển kinh tế xã hội, dân cư đặc biệt là công cuộc quốc phòng trên vùng đất bán sơn địa này

*V ề thành phần cư dân

Cộng đồng dân cư trên vùng đất An Giang trước thế kỉ XX gồm nhiều dân tộc,

mỗi dân tộc đều có quá trình lịch sử tồn tại khác nhau trên mảnh đất này Trải qua nhiều biến cố lịch sử, các dân tộc đã cùng khai phá, quần tụ và đứng cùng nhau nơi

Trang 31

biên địa Tây Nam với tư cách người dân Việt Nam trong việc bảo vệ và giữ vững chủ quyền quốc gia

Sinh sống trên vùng đất An Giang thời kì này chủ yếu là những di dân, lưu dân người Việt Thời điểm người Việt đến vùng đất An Giang chưa được sử sách ghi lại một cách rõ ràng Với những phương tiện đường thủy chủ yếu là thuyền buồm, ghe

bầu, những lưu dân người Việt từ miền ngoài Gia Định, kẻ trước người sau lần lượt

tiến vào vùng đất mới [19, tr.44] trong đó có An Giang Người Việt đến An Giang định cư, khai phá xuất thân từ nhiều nguồn gốc, thành phần khác nhau trong xã hội

Việt Nam bấy giờ Theo các giai thoại, truyền thuyết dân gian và những vết tích còn để

lại, đã có một số nhóm người Việt phần lớn là những người nghèo khổ gốc miền Trung nhất là vùng Ngũ Quảng vào đây từ rất lâu đển khai phá, sinh cơ lập nghiệp Mặc dù

cuộc sống ban đầu gặp rất nhiều khó khăn, nguy hiểm nhưng họ vẫn kiên trì tìm đất

sống Họ cư trú rải rác dọc theo bờ sông Tiền và sông Hậu

Chiến lược mở cõi về phương Nam của các chúa Nguyễn với chính sách cưỡng

bức di dân của chúa Nguyễn Phúc Tần và chính sách chiêu mộ di dân của chúa Nguyễn Phúc Chu từ thế kỉ XVII đến đầu thế kỉ XVIII trên quy mô ngày càng lớn

Nhờ các chính sách của Chúa Nguyễn mà công cuộc khai hoang mở mang bờ cõi phương Nam của dân Việt ngày càng diễn ra nhanh chóng [60, tr.222]

Ở cù lao Giêng, có một địa danh xưa là bến đò Phủ Thờ Phủ Thờ này là của họ Nguyễn từ Bình Định vào, con cháu ngày nay ở vào đời thứ 7, thứ 8, cư ngụ kề nhau đông đúc Người Việt đi vào phương Nam lập nghiệp với cả gia đình cha mẹ, vợ con,

và khi đã đến thì không thể về vì quá xa, mặc khác, trên quê hương cũ điều kiện rất khó khăn, đói khổ

Ở vùng Châu Đốc, ông Lê Công Thoàn gốc Thanh Hóa đã vào khai hoang lập

ra ấp Châu Long (thành phố Châu Đốc ngày nay) vào thế kỉ XVIII Gia tộc Lê Công

là một trong những nhóm di dân đến khai phá vùng Châu Đốc khoảng năm 1785 -

1837 Hiện con cháu đời thứ 7 còn sống và cư ngụ ở đây Một gia tộc thứ 2 cũng đã có công khai phá vùng Châu Đốc hoang sơ buổi ban đầu là dòng Nguyễn Khắc, thuộc dòng con cháu của Nguyễn Văn Thoại Hiện nay, gia đình cháu đời thứ 7 của ông vẫn

Trang 32

còn cư ngụ tại thị xã Châu Đốc Năm 1783, ông Dương Văn Hóa lập ấp Bình Lâm (xã Bình Thủy, huyện Châu Phú ngày nay) [60, tr.224]

Lưu dân ở vùng cù lao Ông Chưởng được gọi là dân “Hai huyện” (Phước Long

và Tân Bình) di cư từ vùng Đồng Nai – Gia Định vào đất An Giang Họ được xem là mẫu mực về thuần phong mỹ tục, giữ vững được nếp ăn, nếp nghĩ của người Việt Từ

Chợ Mới đến Cái Hố theo lòng rạch Ông Chưởng, có một số gia đình cố cư, ông bà

của họ đến đây cư ngụ từ trước đời Gia Long, Minh Mạng hoặc lâu hơn (6 đời) [60, tr.221]

Bên cạnh đó, chính quyền cũng khuyến khích những người có vật lực, tài lực chiêu mộ dân đi khai phá đất hoang, góp phần tạo nên diện mạo mới cho vùng đất An Giang trong thời kì này

Một lực lượng khác, khá quan trọng được nói đến trong thành phần người Việt khai phá đất An Giang là binh lính đồn trú và binh lính đồn điền Từ thời chúa Nguyễn Phúc Chu, khi Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lược đã cho phép một số binh lính được ở lại theo ven sông vùng Châu Phú, Châu Đốc, Tân Châu, Chợ Mới cùng với dân

ở đó cày cấy làm ăn, góp phần tạo nên bộ mặt hưng khởi của những vùng đất này cũng như tạo nền tảng cho công tác quốc phòng của đất nước [60, tr.221]

Nguyễn Văn Hầu cũng cho biết ở đất An Giang buổi ban đầu “đã có một ít xóm người Việt phần lớn là gia binh khai thác hoa màu quanh đó rồi dần về sau mới có dân thường lập nghiệp” [8, tr.11] Việc khai khẩn chung quanh các đồn, bảo của quân đội Chúa Nguyễn nhằm tự túc lượng thực cho binh lính, giảm bớt một phần gánh nặng cho chính quyền, tạo điều kiện cho các thôn ấp lẻ tẻ đó đây bấy giờ được lập nên xung quanh các doanh trại

Đến thời nhà Nguyễn, với chính sách lập đồn điền chiến lược ở vùng biên giới Châu Đốc và Vĩnh Tế của tỉnh An Giang, binh lính được xem là lực lượng được dùng đến đầu tiên vì “đây là nơi xa xôi thường bị chiến tranh đe dọa vì nằm trên đường tiến của quân Xiêm khi chúng sang cướp nước ta” [19, tr.104] nhằm “đặt cơ sở bước đầu cho việc khai phá đất đai dọc miền biên giới, nhất là góp phần vào công cuộc quốc phòng” [19, tr.104] Như lời tâu của Tôn Thất Phan: “Nay nên cho đóng quân đồn

Trang 33

điền, dựng kho thóc ở địa hạt tỉnh ấy (An Giang), một là để dự trù quân lương cho đủ, hai là để giữ việc biên phòng ”(4)

Từ năm 1817, việc di dân lập ấp ở An Giang có công đóng góp rất lớn của quan

trấn thủ Thoại Ngọc Hầu Lúc bấy giờ nhiều nhà cửa của nông dân đã được dựng lên, các đình chùa cũng bắt đầu xây cất Năm 1818, theo lệnh triều đình, Nguyễn Văn Thoại đốc suất đào kinh Đông Xuyên ra đến Rạch Giá, tạo điều kiện canh tác thuận lợi cho dân khẩn hoang 2 bên bờ kênh Sau đó, ông lại phụng lệnh vua đào tiếp kênh Vĩnh

Tế (1819 – 1824), tạo điều kiện vô cùng thuận lợi, phục vụ đắc lực cho chiến lược

quốc phòng cũng như công cuộc khẩn hoang và phát triển vùng biên địa An Giang thời

kì này

Đào kênh Vĩnh Tế xong, Nguyễn Văn Thoại cho đắp con đường từ Châu Đốc đến núi Sam, gọi là “Châu Đốc tân lộ kiều lương” nhờ đó mà dân từ Châu Đốc vào núi Sam khẩn ruộng, lần hồi tiến đến khai phá vùng Tịnh Biên, Tri Tôn và các vùng lân cận

Có thể nói, khu vực quanh các đồn bảo, cũng như quanh các công trình quân sự trong suốt từ thời chúa Nguyễn đến thời nhà Nguyễn nhất là vùng Châu Đốc, Vĩnh Tế, binh lính trở thành một bộ phận quan trọng góp phần vào sự nghiệp khẩn hoang của cư dân Việt trên vùng đất An Giang

Trong số cư dân Việt đến khai phá trên đất An Giang trước thế kỉ XX, không

thể không kể đến những người tù phạm Dưới thời Minh Mạng, Thiệu Trị, tội phạm lưu đày phần lớn gom về vùng Châu Đốc, Vĩnh Tế để lập các xóm dọc bờ kênh, dần dần hình thành nên các vùng dân cư [47, tr.194] Đến thời Tự Đức, Nguyễn Tri phương tiếp tục đề xuất cho tù phạm ở lục tỉnh Nam Kỳ về khai phá đất hoang thuộc

tỉnh An Giang trong các đồn điền chiến lược ở vùng Châu Đốc và ven bờ Vĩnh Tế nhằm tạo ra nguồn lương thực cho quân đội vừa bám đất giữ biên cương, vừa ổn định vùng biên viễn “những tù tội chính quán, ngụ quán ở 6 tỉnh (từ tội xử sung quân trở xuống), không kể quan hay dân bị phạm tội, nếu có người nào ra sức tình nguyện triệu

mộ dân, lập làm 1 đội, hoặc 1 thôn đều đủ 50 người, thì cho phép làng, họ bảo nhận

Trang 34

cam kết, sẽ được tạm tha, cho đi chiêu mộ đủ số thì tha tội ”[45, tr.264] Bên cạnh đó, Nguyễn Tri Phương tiếp tục đề xuất “xin từ nay trở đi, phàm những tên can tội trộm, cướp vặt và các tên du côn không rõ lai lịch ở 6 tỉnh Nam Kỳ mà tội chỉ mãn đồ (3 năm) trở xuống đều phát cho các đồn bảo tỉnh An Giang sai phái Tên nào xin không muốn lãnh thì lựu lại đồn điền làm lính, tùy tiện để khai khẩn cày cấy Đợi số ruộng khai khẩn được bao nhiêu, cho giữ làm sản nghiệp đời đời.”[54, tr.90] Nhờ đó, những làng xóm mới tiếp tục được hình thành

Năm 1854, Nguyễn Tri Phương lại tấu xin: “Sai bộ Hình xét các tù tội sung quân và tội lưu đã phát vãng đi từ Quảng Nam trở vào Nam, lấy 200 tên chia ghép vào

bảo Giang Thành ở Hà Tiên và 300 tên chia ghép vào 2 phủ Tĩnh Biên, Ba Xuyên thuộc An Giang, để phòng giữ và khai khẩn ruộng, đất, nhưng đều cấp vốn cho chúng

nhận để làm việc khai khẩn Đấy là theo lời tâu xin của Nguyễn Tri Phương” [45, tr.306] Tù phạm là lực lượng khá quan trọng dưới sự quản lý của quan binh đã góp phần to lớn vào công cuộc khẩn hoang lập đồn điền, lập ấp ở An Giang trong giai đoạn này Như vậy, những vùng giáp giới như Châu Đốc, ven bờ Vĩnh Tế, phủ Tĩnh Biên thuộc tỉnh An Giang là những nơi chủ yếu được chính quyền nhà Nguyễn đưa tù phạm đến khai phá và sinh cơ lập nghiệp về sau, góp phần tạo ra bộ phận dân cư mới trên vùng đất này

Bên cạnh những lưu dân, di dân, binh lính và tù phạm đến khai phá lập làng,

một bộ phận không nhỏ những họ đạo Thiên Chúa giáo và các tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương từ các vùng miền khác của đất nước cũng lần lượt đến vùng đất An Giang Dưới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát, nhiều chỉ dụ cấm truyền bá đạo Thiên Chúa được ban hành Một số giáo dân, giáo sĩ từ miền Trung vào vùng đất An Giang lánh nạn và

khẩn hoang tại Cái Đôi (xã Hòa Bình, huyện Chợ Mới ngày nay); cù lao Giêng (xã Tấn Mỹ, huyện Chợ Mới ngày nay) [60, tr.222] Từ năm 1778, người theo đạo Thiên Chúa lánh nạn kỳ thị tôn giáo của vua quan nhà Nguyễn từ miền ngoài đến định cư khá sớm ở cù lao Giêng (1778), Bò Ót (1779) và Năng Gù (1845) đã làm tăng dân số vùng đất An Giang ngay từ buổi đầu Tại cù lao Giêng, từ đời Gia Long, lưu dân lập được 4 thôn thuộc Toàn Đức, Phú Hưng, Mỹ Hưng, Toàn Đức Đông ngày nay [25, tr.216]

Trang 35

Năm 1851, nhân cơ hội Kinh lược sứ Nam kỳ là Nguyễn Tri Phương khuyến khích việc chiêu mộ dân đến khai hoang vùng biên giới, giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương đưa người đến khẩn hoang vùng Thất Sơn, Láng Linh, Cái dầu và bên bờ sông Tiền Ông Đoàn Minh Huyên (giáo chủ) đã chia nhiều đoàn tín đồ đi khai khẩn: [8, tr.16-17]

- Đoàn thứ nhất vào Thất Sơn, bên chân núi Két, một nơi còn hoang vu Đoàn chia làm hai nhánh, một do cụ Bùi Văn Thân, tức tăng chủ Bùi Thiền Sư hướng dẫn;

và một đoàn do cụ Bùi Văn Tây, tức Đình Tây chỉ huy, cùng nhau góp sức lập nên các trại ruộng Hưng Sơn và Xuân Sơn, sau này hợp thành xã Thới Sơn (Tịnh Biên) ngày nay

- Đoàn thứ hai do cụ Quản cơ Trần Văn Thành dẫn dắt Đoàn này đến Láng Linh, một vùng đầm lầy, thuộc huyện Châu Phú ngày nay để khai phá lập nên trại

sự đa dạng trong nguồn gốc xuất thân, thành phần xã hội của những nhóm người Việt đến khai phá, sinh cơ lập nghiệp trên vùng đất biên viễn An Giang trong suốt thời kì từ

1757 – 1867

*V ề các dân tộc bên cạnh người Việt suốt thời kì 1757 - 1867

Cư dân trên vùng đất An Giang bao gồm nhiều cộng đồng tộc người khác bên cạnh người Việt trong suốt thời kì lịch sử 1757 – 1867 Một số tư liệu trước đây ghi

nhận như sau :

- Người Khmer: hầu hết đều sinh ra và lớn lên ở Việt Nam nên gọi là người

Việt gốc Khmer An Giang là vùng đất được thụ đắc từ Chân Lạp nên người Khmer sinh sống khá đông, tập trung nhiều ở các vùng tương đối cao và đồi núi, tương ứng

Trang 36

Châu Phú ngày nay Người Khmer theo tín ngưỡng của hệ Phật giáo Nam Tông, sùng bái đạo Phật, tôn kính sư sãi và sẵn sàng dâng cúng cho chùa những huê lợi do họ cực

nhọc làm ra để mong được phước cho kiếp sau Người Khmer được xem là nhóm cư dân đến trước người Việt Họ đã di cư nhiều đợt đến vùng đất An Giang xưa Từ thế kỉ XII, những nông dân Khmer nghèo khổ, bỏ trốn sự bóc lột hà khắc cùng các loại thuế khóa nặng nề của chính quyền phong kiến Chân Lạp đã tìm đến nơi đây Tại đây họ

tập trung sinh sống trên các giồng đất cao, tổ chức thành khu vực cư trú có mối quan

hệ theo kết cấu dòng họ, gia đình Đến năm 1431, quân Xiêm tấn công cướp phá Ang Kor, để tránh khỏi sự cướp bóc tàn khốc của quân thù, nhiều nhóm người Khmer tiếp

tục di cư đến An Giang và các khu vực khác thuộc miền Tây Nam Bộ ngày nay [56, tr.226]

Từ thế kỉ XV trở đi, vương quốc Chân Lạp bước vào giai đoạn suy yếu Năm

1594, quân Xiêm đánh chiếm thủ đô Lovek (La Bích) của Chân Lạp Đất nước bị khống chế, hàng loạt người Khmer tiếp tục di cư về phía Nam Bộ trong đó có An Giang Tại đây, họ hòa nhập với người Khmer đến trước, tiếp tục khai phá đất hoang thành đồng ruộng để tồn tại [56, tr.226]

Đến đất An Giang cũng như Nam Bộ để sinh sống, các nhóm Khmer đã sống độc lập và không có quan hệ hành chính với bất kỳ một quốc gia nào thời kì đó Do sống tách biệt với người Khmer ở Chân Lạp trong thời gian dài, và chịu sự chi phối

mạnh của điều kiện tự nhiên và con người trên vùng đất này họ đã tạo nên một cộng đồng người Khmer An Giang nói riêng và Nam Bộ nói chung có những đặc trưng về

cư trú, kinh tế, văn hóa - xã hội Cộng đồng người Khmer đã có đóng góp không nhỏ cho sự phát triển của vùng đất An Giang và công cuộc bảo vệ biên giới Tây Nam trong

thời kì này

- Người Chăm và người Mã Lai: Từ năm 1756, sau khi cứu người Côn Man (người Chăm) ở Chân Lạp bị Nặc Nguyên ức hiếp, Nguyễn Cư Trinh chiêu dụ họ về với Đàng Trong, một phần đến Châu Giang định cư, một bộ phận đến đóng ở Tây Ninh(5) Tiếp đến, năm 1819, Thoại Ngọc Hầu trong quá trình huy động nhân lực để đào kênh Vĩnh Tế từ Châu Đốc đến Hà Tiên đã chiêu mộ những người Chăm từ Chân

(5)Theo Nguyễn Văn Hầu, Sự thôn thuộc đất Tầm Phong Long, sđd, tr 10

Trang 37

Lạp đến đào kênh Trong những quãng nghỉ (1820) và sau khi con kênh được đào xong (1824), họ được thưởng công và cấp đất sinh sống tại vùng Châu Giang nên còn được gọi là Chăm Châu Giang [25, tr.71] Năm 1820, quan thống đốc người Chăm ở Cao Miên là Saet A Bubaca bị tố cáo là phiến loạn, bị vua Chân Lạp xử tử ở Ou dong Con ông và một số người khác nhờ sự che chở của người Chăm gốc Mã Lai ở đây, đã

trốn về trú ngụ tại Châu Đốc và được chính quyền Nguyễn cho về định cư tại Châu Giang và Khánh Hòa(6) Trong nhóm người Chăm này có một thành phần là người gốc Malaysia, được gọi Chăm Chà-và (liên hệ tới đảo Java, do không phân biệt được người Java tới từ Indonesia và người Mã Lai nên hai nhóm này được gọi chung là Java) Người Chăm ở An Giang theo Hồi giáo chính thống nên còn được gọi là Chăm Islam Người Chăm Châu Giang rất siêng năng, tiết kiệm Nhà cửa thường cất tương tự kiểu Cao Miên, sàn cao, cách mặt đất từ 1,5m đến 2m Họ đoàn kết với nhau rất chặt chẽ, nên ít khi bị bọn trộm cướp dám quấy phá Năm 1840, một bộ phận người Chăm giải ngũ đã đến cư ngụ tại khu vực thuộc xã Khánh Hòa huyện Châu Phú ngày nay(7)

Khoảng thời gian Nguyễn Tri Phương vào kinh lược Nam Kỳ, người Chăm ở ngang chợ Châu Đốc (Đa Phước, Châu Phong ngày nay) cũng gom lại từng đội, do 1 viên

Hiệp quản người Chăm đứng đầu [25, tr.71] Từ bên Chân Lạp, người Chăm rút về, nương náu trong lãnh thổ Việt Nam để tránh loạn lạc do nội chiến bên Chân Lạp, rồi định cư luôn trên vùng đất An Giang (Châu Ðốc, Tân Châu, An Phú ngày nay) Cộng đồng người Chăm đã có sự đóng góp to lớn trong sự nghiệp quốc phòng biên giới cũng như khai hoang mở đất phát triển vùng đất An Giang trong thời kì này

- Người Hoa cũng có mặt ở An Giang trong thời kì đầu khai phá Họ vốn có nguồn gốc từ người Minh Hương ở khu vực Nông Nại, Chợ Lớn, Mỹ Tho theo chân những quan binh triều đình, hoặc tự bỏ tiền đến khai phá những chỗ hoang vu mà triều đình khuyến dụ, hoặc đến làm ăn buôn bán ở những nơi thương mại có điều kiện phát triển như phía cù lao Tiêu Mộc, vùng Chợ Mới, Long Xuyên, Long Sơn (thuộc Tân Châu), Châu Đốc Ở nông thôn, những người Hoa bỏ tiền khai phá ruộng đất đã bị

Việt hóa, do sống cách biệt với cộng đồng của họ và cộng cư với người Việt trong

Trang 38

cùng làng xóm Còn phần lớn người Hoa kinh doanh, buôn bán nơi thị tứ thường sống thành cộng đồng nhỏ giữa cộng đồng Việt nên vẫn giữ được ít nhiều những giá trị văn hóa riêng Trong thời kì này, công đồng người Hoa đã góp phần tạo nên sự hưng khởi

của các vùng thị tứ trên vùng đất An Giang, làm tăng thêm nguồn lực cho công cuộc quốc phòng biên giới trên vùng đất này

Như vậy, trong quá trình khai phá đất đai, quần tụ, sinh sống của các lưu dân, di dân trên vùng đất An Giang, nhiều cá nhân, tổ chức (quân đội, binh lính), gia tộc, họ đạo (Thiên Chúa), tín đồ (Bửu Sơn Kỳ Hương), đến từ nhiều vùng miền của đất nước

đã để lại dấu ấn đậm nét trong khu vực mà họ dựng nghiệp Trong quá trình khai khá vùng đất An Giang, bên cạnh người Việt, người Khmer, Hoa, Chăm cũng đã đóng góp đáng kể cho sự phát triển của vùng đất này, đã tạo ra một diện mạo mới trong sự phân

bố dân cư trên vùng đất An giang suốt từ thời kì 1757 - 1867

*Về sự phân bố dân cư trong quản lý hành chính

Vào thế kỷ XVII, XVIII, phía sông Hậu từ Châu Đốc xuống Năng Gù, dân cư thưa thớt Chỉ có vài khu vực tương đối cao như chợ Châu Đốc, Mỹ Đức, Cái Dầu dân đến ở khá đông Họ cất nhà sàn để ở, mùa nước nổi khai thác cá linh, làm lúa mùa, cuộc sống còn nghèo khổ Từ xa xưa, vùng Chợ Thủ (nay thuộc huyện Chợ

Mới) là một điểm dân cư tập trung bên cạnh cù lao Giêng Dân cư đông đảo, nhà cửa khang trang Chùa miếu được xây dựng làm nơi thờ tự, lễ bái của dân trong vùng Từ đây, từng lớp lưu dân đã ổn định và bắt đầu phân tán đi khai phá các vùng đất mới khác như: Long Xuyên, Châu Đốc, Tân Châu, [60, tr.222]

Trong bước đầu đến khai hoang vùng đất An Giang, sự phân bố dân cư diễn ra

một cách tự phát theo điều kiện sống Ngoài ra, một số người có trình độ và tiền của đứng ra chiêu mộ dân lập làng, để khai phá thêm các vùng đất còn hoang vu Các vùng đất mới khai phá dân cư quần tụ lại cất nhà quay mặt ra hướng sông, sau nhà là vườn, sau vườn là ruộng đồng Ở những nơi giáp nước hoặc ngã ba, ngã tư sông dân cư thường tập trung đông đúc, dần dần hình thành nên các quán xá, hiệu buôn, chợ búa để trao đổi mua bán, trên bến dưới thuyền

Thời Gia Long, Minh Mạng, dân cư vùng An Giang còn ít, nhiều đất hoang chưa có người khai thác Dân xã, thôn được ghi vào sổ đinh là đàn ông, không ghi đàn

Trang 39

bà, trẻ con Để thành lập một xã, chỉ cần vài người dân đinh đứng đơn, bảo đảm với triều đình về nghĩa vụ thuế đinh, thuế điền Người xin lập làng được quan phủ cấp cho con dấu nhỏ, bằng gỗ (dân quen gọi là con mộc) Những người đi khai phá đến sau,

phần lớn là dân nghèo, dân lậu, xin khai khẩn vùng đất gọi là “hoang nhân chi địa” (đất chưa khai phá) Năm Minh Mạng thứ 11 (1830), quan Tổng trấn Gia Định tâu:

“Đồn Châu Đốc mới lập được 41 làng, dân đinh chỉ hơn 800 người” [41, tr.88] Như

vậy, nếu kể cả dân lậu, phụ nữ và trẻ em trong làng thì dân cư Châu Đốc lúc đó có thể lên đến vài ngàn Năm Minh Mạng thứ 13 (1832), ngạch hộ đinh ở An Giang là 25.645 người [47, tr.194]

Khi tỉnh An Giang mới thành lập năm 1832, dọc theo hữu ngạn sông Tiền, dân

cư khá đông, tập trung ở cù lao Ông Chưởng Một số thôn, xã được thành lập Riêng

cù lao Giêng tuy không rộng lắm, nhưng sanh kế dễ dàng, nên qui tụ được 4 thôn [25, tr.216] Phía hữu ngạn sông Hậu, dân cư thưa thớt Từ biên giới Việt – Miên xuống Long Xuyên chỉ có các làng Bình Thạnh Tây (đối diện Bình Thạnh Đông bây giờ), Bình Đức, Mỹ Phước Hai làng Bình Đức và Mỹ Phước gần kề nhau chỉ cách con rạch Long Xuyên [60, tr.222]

Vùng An Giang gồm 2 khu vực mới và cũ riêng biệt:

- Phía Tân Châu, Ông Chưởng, Chợ Mới dễ canh tác, dân đến sinh sống từ lâu nên rất đông đúc

- Phía hữu ngạn sông Hậu, là vùng rừng núi hoang vu, đất khó canh tác, dân thưa thớt, thường là làng mới lập

Vùng đất cũ với vai trò hạt nhân về văn hóa, kinh tế là bệ phóng để dân tiến đến khai phá vùng đất mới [25, tr.198]

Thời kì này, cánh đồng An Giang rộng lớn và hoang vu, hàng năm đều ngập trong nước lũ nhiều tháng, cùng với mạng lưới sông rạch tự nhiên khá nhiều, việc đi

lại chủ yếu là bằng đường thủy trừ vùng Thất Sơn Cho nên việc dân cư sinh sống dọc theo các con sông, kênh, rạch là điều tự nhiên Đây cũng là các tuyến tiếp nhận di dân

Đầu thế kỷ XIX đã nhiều lần quân Xiêm xâm lấn nước ta Hà Tiên, Châu Đốc

là những vùng bị thiệt hại trước tiên và nặng nề nhất Năm 1833, giặc Xiêm tàn phá

Trang 40

cư đã quy tụ trở lại, thành lập hàng chục thôn rải rác từ núi Sam dọc theo 2 bờ kênh Vĩnh Tế về phía Hà Tiên [60, tr.224]

Vùng Châu Đốc là biên địa hiểm trở, mỗi người dân khẩn hoang là một lính thú nơi biên cương vừa sản xuất vừa phải đối phó với giặc từ bên ngoài Trong Gia Định thành thông chí, mục thôn xã không ghi lại làng nào ở vùng “Châu Đốc Tân Cương”,

chỉ xác nhận từ biên giới tới biển Ba Thắc thành lập vẻn vẹn được một huyện là huyện Vĩnh Định với 37 thôn xóm, chạy suốt theo hữu ngạn sông Hậu, với lời giải thích

“Huyện Vĩnh Định địa giới tuy rộng nhưng dân cư chưa đông nên chưa chia ra thành

tổng” [4, tr.455] Một huyện mà chỉ có 37 thôn xóm là quá ít, nếu so với các huyện đương thời như huyện Tân An (135 thôn), huyện Kiến Hoà (151 thôn)

Để củng cố công tác quản lý hành chính, kiểm tra và khuyến khích dân cư đến

lập nghiệp vùng hoang địa, nhà Nguyễn cho tiến hành lập làng, nhất là vùng biên cương như Châu Đốc Thủ tục xin lập làng tương đối dễ Do đó, trước năm 1831, lưu dân đã thành lập làng An Nông Đến tháng 3 năm 1831, làng An Nông từ núi Chân

Tầm Lon tới núi Tà Béc còn nhiều đất hoang, một nhóm dân cư xin lập làng Phú Cường tách ra từ làng An Nông, gồm 15 người đến ở (chỉ tính đàn ông) [25, tr.87-88]

Năm 1836, nhiều thôn hình thành ở vùng núi Sập (thuộc huyện Thoại Sơn ngày nay) như Phú Hòa, Vĩnh Chánh, Vĩnh Phú, Vĩnh Thuận [59, tr.36]

Nguyễn Tri Phương khi làm kinh lược sứ ở miền Nam, đã có sáng kiến lập đồn điền biên giới nhằm ngăn giặc, yên dân, tập trung vùng Châu Đốc và Hà Tiên, đặc biệt

là ở vùng Vĩnh Tế

Trịnh Hoài Đức trong Gia Định Thành thông chí ghi nhận sự hiện diện của

những người Việt đến sinh sống vùng Bảy Núi để tu hành, khai thác nguồn lợi thiên nhiên, không làm giàu nhưng có thể sống qua ngày Họ lập vườn cây ăn trái, trồng hoa màu, tìm dược thảo, làm ruộng ở chân núi, bắt cá vào mùa hạn ở các ao đìa, sống hoà nhập với người Khmer Sau khi thành lập địa bộ, dân cư trong vùng đã lập được nhiều thôn theo bờ kênh Vĩnh Tế như Vĩnh Tế Sơn thôn, Nhơn Hoà, An Qui, Thân Nhơn, Vĩnh Bảo, Long Thạnh, Toàn Thạnh, Vĩnh Gia, Vĩnh Lạc Phần lớn diện tích được trồng khoai, trồng đậu, trong bộ điền gọi là vu đậu thổ (đất trồng hoa màu) Từ các

Ngày đăng: 03/06/2017, 16:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2002), Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỉ XIX, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà N ội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỉ XIX
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2002
2. Đỗ Bang (1996), Kinh tế thương nghiệp Việt Nam dưới triều Nguyễn, Nxb Thu ận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế thương nghiệp Việt Nam dưới triều Nguyễn
Tác giả: Đỗ Bang
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
Năm: 1996
3. Nguy ễn Đình Đầu (1995), Nghiên c ứu địa bạ triều Nguyễn – An Giang , Nxb Thành Ph ố Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn – An Giang
Tác giả: Nguy ễn Đình Đầu
Nhà XB: Nxb Thành Phố Hồ Chí Minh
Năm: 1995
4. Trịnh Hoài Đức (2006), Gia Định thành thông chí, Nxb Tổng hợp Đồng Nai, Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia Định thành thông chí
Tác giả: Trịnh Hoài Đức
Nhà XB: Nxb Tổng hợp Đồng Nai
Năm: 2006
5. Vũ Minh Giang (2006), Lược sử vùng đất Nam Bộ Việt Nam, Nxb Th ế giới, Hà N ội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lược sử vùng đất Nam Bộ Việt Nam
Tác giả: Vũ Minh Giang
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2006
6. Nguy ễn Văn Hầu (1999), Thoại Ngọc Hầu và những cuộc khai phá vùng Hậu Giang, Nxb Trẻ, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thoại Ngọc Hầu và những cuộc khai phá vùng Hậu Giang
Tác giả: Nguyễn Văn Hầu
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 1999
7. Nguy ễn Văn Hầu (1965), Th ất Sơn mầu nhiệm , Nxb Sài Gòn, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thất Sơn mầu nhiệm
Tác giả: Nguy ễn Văn Hầu
Nhà XB: Nxb Sài Gòn
Năm: 1965
8. Nguy ễn Văn Hầu (1970), Sự thôn thuộc và khai thác đất Tầm Phong Long (chặng cuối cùng của cuộc Nam tiến). Tạp san Sử-Địa, số 20-1970, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự thôn thuộc và khai thác đất Tầm Phong Long (chặng cuối cùng của cuộc Nam tiến)
Tác giả: Nguy ễn Văn Hầu
Năm: 1970
9. Như Hiên Nguyễn Ngọc Hiền (1993), L ễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh với công cuộc khai sáng miền Nam nước Việt cuối thế kỉ XVII, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh với công cuộc khai sáng miền Nam nước Việt cuối thế kỉ XVII
Tác giả: Như Hiên Nguyễn Ngọc Hiền
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 1993
10. Nguy ễn Hữu Hiệp (2010), An Giang đôi nét văn hóa đặc trưng vùng đất bán sơn địa, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: An Giang đôi nét văn hóa đặc trưng vùng đất bán sơn địa
Tác giả: Nguyễn Hữu Hiệp
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2010
11. Nguyễn Hữu Hiệp (2012), Địa danh chí An Giang xưa và nay, Nxb Thời đại, Hà N ội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa danh chí An Giang xưa và nay
Tác giả: Nguyễn Hữu Hiệp
Nhà XB: Nxb Thời đại
Năm: 2012
12. Lê Hương (1970), Sử Cao Miên, Nxb Khai Trí, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử Cao Miên
Tác giả: Lê Hương
Nhà XB: Nxb Khai Trí
Năm: 1970
15. Phan Khoang (1966), Vi ệt Sử xứ Đàng Trong 1557 – 1777 Cuộc Nam tiến của dân tộc Việt Nam, Nxb Sài Gòn,Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Sử xứ Đàng Trong 1557 – 1777 Cuộc Nam tiến của dân tộc Việt Nam
Tác giả: Phan Khoang
Nhà XB: Nxb Sài Gòn
Năm: 1966
16. Nguy ễn Thế Long (2005), Bang giao Đại Việt - tập 1, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bang giao Đại Việt - tập 1
Tác giả: Nguy ễn Thế Long
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2005
17. Nguy ễn Thế Long (2005), Bang giao Đại Việt - tập 4, Nxb Văn hóa thông tin, Hà N ội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bang giao Đại Việt - tập 4
Tác giả: Nguy ễn Thế Long
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2005
18. Lưu Văn Lợi (2000), Ngoại giao Đại Việt, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngoại giao Đại Việt
Tác giả: Lưu Văn Lợi
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2000
19. Hu ỳnh Lứa (1987), L ịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ , Nxb TP. H ồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ
Tác giả: Hu ỳnh Lứa
Nhà XB: Nxb TP. Hồ Chí Minh
Năm: 1987
20. Hu ỳnh Lứa (2000), Góp phần tìm hiểu vùng đất Nam Bộ các thế kỉ XVII, XVIII, XIX, Nxb Khoa học xa hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần tìm hiểu vùng đất Nam Bộ các thế kỉ XVII, XVIII, XIX
Tác giả: Hu ỳnh Lứa
Nhà XB: Nxb Khoa học xa hội
Năm: 2000
21. Tr ần Thị Mai (1997), L ịch sử bang giao Việt Nam - Đông Nam Á, Đại học Mở - Bán công TP. H ồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử bang giao Việt Nam - Đông Nam Á
Tác giả: Tr ần Thị Mai
Năm: 1997
22. Trần Thị Mai (2008), Vai trò của cộng đồng người Việt trong công cuộc khai phá Đồng bằng sông Cửu Long, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh - Trường Đại h ọc Khoa học Xã hội và Nhân văn, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của cộng đồng người Việt trong công cuộc khai phá Đồng bằng sông Cửu Long
Tác giả: Trần Thị Mai
Năm: 2008

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Lược đồ thể hiện vị trí vùng Thất Sơn – Vĩnh Tế trên địa bàn An Giang. [Ảnh - VÙNG ĐẤT AN GIANG TRONG CHÍNH SÁCH QUỐC PHÒNG CỦA CHÍNH QUYỀN CHÚA NGUYỄN VÀ VUA NGUYỄN THỜI KÌ 1757 - 1867
Hình 1 Lược đồ thể hiện vị trí vùng Thất Sơn – Vĩnh Tế trên địa bàn An Giang. [Ảnh (Trang 213)
Hình 2: Lược đồ thể hiện những vị trí phòng thủ chủ yếu trên khu vực Tây Nam thời - VÙNG ĐẤT AN GIANG TRONG CHÍNH SÁCH QUỐC PHÒNG CỦA CHÍNH QUYỀN CHÚA NGUYỄN VÀ VUA NGUYỄN THỜI KÌ 1757 - 1867
Hình 2 Lược đồ thể hiện những vị trí phòng thủ chủ yếu trên khu vực Tây Nam thời (Trang 214)
Hình 3: Lược đồ Tầm Phong Long thụ đắc năm 1757. [8, tr.4] - VÙNG ĐẤT AN GIANG TRONG CHÍNH SÁCH QUỐC PHÒNG CỦA CHÍNH QUYỀN CHÚA NGUYỄN VÀ VUA NGUYỄN THỜI KÌ 1757 - 1867
Hình 3 Lược đồ Tầm Phong Long thụ đắc năm 1757. [8, tr.4] (Trang 215)
Hình 4: Tỉnh An Giang thời Nam Kỳ lục tỉnh (1841 – 1867) [69] - VÙNG ĐẤT AN GIANG TRONG CHÍNH SÁCH QUỐC PHÒNG CỦA CHÍNH QUYỀN CHÚA NGUYỄN VÀ VUA NGUYỄN THỜI KÌ 1757 - 1867
Hình 4 Tỉnh An Giang thời Nam Kỳ lục tỉnh (1841 – 1867) [69] (Trang 216)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w