Thứ hai, các công trình nghiên cứu đề cập tới kế toán CP, DT và KQKD trong doanh nghiệp sản xuất Đề cập đến phương pháp ghi nhận và đo lường DT của Jonathan C.Glover and Yuji Ijiri 2000
Trang 1LƯƠNG KHÁNH CHI
HOÀN THIỆN KẾ TOÁN CHI PHÍ, DOANH THU VÀ KẾT QUẢ KINH DOANH TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT XI MĂNG THUỘC TỔNG CÔNG TY
CÔNG NGHIỆP XI MĂNG VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2017
Trang 2LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: 1.PGS.TS Nguyễn Bá Minh
2.TS Thái Bá Công
HÀ NỘI - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận án là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các
số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng Những kết quả trong luận án chưa từng được công bố trong bất cứ một công trình nào khác
Tác giả luận án
Lương Khánh Chi
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin trân trọng cảm ơn tập thể lãnh đạo và các Thầy Cô giáo Khoa
Kế toán, tập thể lãnh đạo và cán bộ Khoa Sau Đại học của Học viện
Tác giả đặc biệt gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến người hướng dẫn khoa học PGS.TS Nguyễn Bá Minh và TS Thái Bá Công đã tận tình hướng dẫn và động viên tác giả trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành Luận
án
Tác giả xin trân trọng cám ơn tập thể lãnh đạo và cán bộ của Tổng Công
ty công nghiệp xi măng Việt Nam và các đơn vị thành viên đã nhiệt tình trả lời phỏng vấn cũng như trả lời các phiếu điều tra, cung cấp thông tin giúp tác giả hoàn thành Luận án
Tác giả xin cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và những người thân trong gia đình đã tạo mọi điều kiện, chia sẻ khó khăn và luôn động viên tác giả trong quá trình học tập và hoàn thành Luận án
Xin trân trọng cảm ơn
Tác giả luận án
Lương Khánh Chi
Trang 51.2.1.Bản chất, phân loại CP, DT và KQKD trong DNSX 19 1.2.2.Nội dung kế toán CP, DT và KQKD trong DNSX trên
DNSX ở Việt Nam
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
64
67
CHƯƠNG 2:THỰC TRẠNG KẾ TOÁN CP, DT và KQKD TRONG CÁC
DNSX XI MĂNG THUỘC TCT CÔNG NGHIỆP XI MĂNG VIỆT NAM
68
2.1.Đặc điểm tổ chức quản lý, hoạt động sản xuất kinh doanh ảnh hưởng 68
Trang 6đến kế toán CP, DT và KQKD trong các DNSX xi măng thuộc TCT
công nghiệp xi măng Việt Nam
2.1.1.Tổng quan sự hình thành và phát triển ngành Công nghiệp
xi măng Việt Nam và TCT công nghiệp xi măng Việt Nam
68
2.1.2 Đặc điểm tổ chức quản lý, hoạt động sản xuất kinh doanh
ảnh hưởng đến kế toán CP, DT và KQKD trong các DNSX xi măng
thuộc TCT công nghiệp xi măng Việt Nam
72
2.2.Thực trạng kế toán CP, DT và KQKD trong các DNSX xi măng
thuộc TCT công nghiệp xi măng Việt Nam
85
2.2.1 Những thuận lợi và khó khăn khi vận dụng hệ thống kế
toán Việt Nam về kế toán CP, DT và KQKD trong các DNSX xi măng
thuộc TCT công nghiệp xi măng Việt Nam
85
2.2.2 Thực trạng kế toán CP, DT và KQKD trong các DNSX xi
măng thuộc TCT công nghiệp xi măng Việt Nam
97
2.3.Đánh giá thực trạng kế toán CP, DT và KQKD trong các DNSX xi
măng thuộc TCT công nghiệp xi măng Việt Nam
127
2.3.1.Đánh giá thực trạng phân loại CP, DT và KQKD trong các
DNSX xi măng thuộc TCT công nghiệp xi măng Việt Nam
128
2.3.2.Đánh giá thực trạng kế toán CP, DT và KQKD trong các
DNSX xi măng thuộc TCT công nghiệp xi măng Việt Nam trên phương
diện KTTC
128
2.3.3.Đánh giá thực trạng kế toán CP, DT và KQKD trong các
DNSX xi măng thuộc TCT công nghiệp xi măng Việt Nam trên phương
CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN KẾ TOÁN CP, DT và KQKD TRONG CÁC
DNSX XI MĂNG THUỘC TCT CÔNG NGHIỆP XI MĂNG VIỆT NAM
134
3.1.Định hướng phát triển và yêu cầu hoàn thiện kế toán CP, DT và 134
Trang 7KQKD trong các DNSX xi măng thuộc TCT công nghiệp xi măng Việt
Nam
3.1.1.Định hướng phát triển của ngành công nghiệp xi măng Việt
Nam và TCT công nghiệp xi măng Việt Nam
134
3.1.2.Các yêu cầu hoàn thiện kế toán CP, DT và KQKD trong các
DNSX xi măng thuộc TCT công nghiệp xi măng Việt Nam
135
3.2.Hoàn thiện kế toán CP, DT và KQKD trong các DNSX xi măng
thuộc TCT công nghiệp xi măng Việt Nam
3.2.3.Hoàn thiện kế toán CP, DT và KQKD trong các DNSX xi
măng thuộc TCT công nghiệp xi măng Việt Nam trên phương diện
KTQT
158
3.3.Điều kiện thực hiện các giải pháp hoàn thiện kế toán CP, DT và
KQKD trong các DNSX xi măng thuộc TCT công nghiệp xi măng Việt
Nam
177
3.3.1.Về phía Nhà nước và các cơ quan chức năng 177 3.3.2.Về phía TCT công nghiệp xi măng Việt Nam 177 3.3.3.Về phía các DNSX xi măng thuộc TCT công nghiệp xi
măng Việt Nam
178
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3
KẾT LUẬN
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TIẾNG VIỆT
BCTC Báo cáo tài chính
BHXH Bảo hiểm xã hội
BHYT Bảo hiểm y tế
CP Chi phí
CTCP Công ty cổ phần
DNSX Doanh nghiệp sản xuất
KPCĐ Kinh phí công đoàn
KQKD Kết quả kinh doanh
FASB Hội đồng chuẩn mực kế toán tài chính của Mỹ
Financial Accounting Standards Board IASB Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế
International Accounting Standards Board IAS Chuẩn mực kế toán quốc tế
International Accounting Standards IFRS Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế
International Financial Reporting Standards VAS Chuẩn mực kế toán Việt Nam
Vietnamese Accounting Standards
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Số hiệu
bảng,
biểu
2.1 Bảng tổng hợp sự khác biệt trong phân loại CP theo cách
ứng xử CP
99
2.2 Giá trị thương hiệu phân bổ vào CP bán hàng 111 2.3 Bảng tổng hợp dự phòng giảm giá hàng tồn kho 114 2.4 Bảng tổng hợp DT bán hàng và các khoản giảm trừ DT 115 2.5 Bảng kết quả tiêu thụ sản phẩm xi măng và clinker năm
2013, 2014, 2015 của TCT công nghiệp xi măng Việt
Nam
116
3.2 Phân loại CP theo chức năng và cách ứng xử của CP 140
Trang 10DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, HÌNH
1.1 Mối quan hệ giữa quy trình thực hiện KTQT với các chức
năng quản trị
46
2.1 Mô hình tổ chức quản lý CTCP xi măng Hà Tiên 1 75 2.2 Mô hình tổ chức quản lý Công ty xi măng VICEM
3.3 Quy trình kế toán bán hàng tại đơn vị trực thuộc hạch toán
phụ thuộc khi đƣợc phân cấp hạch toán đến KQKD
158
2.1 Sản lƣợng xi măng sản xuất và tiêu thụ của TCT công
nghiệp xi măng Việt Nam giai đoạn 2006 – 2016
Tiêu thụ sản phẩm xi măng năm 2013 – 2014 của các
DNSX xi măng thuộc TCT công nghiệp xi măng Việt Nam
Cơ cấu tổ chức bộ máy kế toán
82
83 2.5 Cơ cấu CP sản xuất xi măng tại Công ty xi măng VICEM
Hải Phòng, Công ty xi măng VICEM Hoàng Thạch, CTCP
xi măng Hà Tiên 1 năm 2015
103
2.6 Cơ cấu CP tài chính tại một số DNSX xi măng thuộc TCT
công nghiệp xi măng Việt Nam năm 2015
113
3.1 Hệ thống báo cáo trách nhiệm trong các DNSX xi măng
thuộc TCT công nghiệp xi măng Việt Nam
174
Trang 11MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Xi măng là một trong những cơ sở công nghiệp được hình thành và phát triển sớm nhất ở Việt Nam Trong những năm qua, ngành công nghiệp xi măng Việt Nam đã đóng góp một phần quan trọng vào sự tăng trưởng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Theo báo cáo của ngành xi măng, tính đến năm 2015, trên cả nước có 77 dây chuyền lò quay với công suất thiết kế 81,15 triệu tấn, tổng sản lượng sản xuất toàn ngành xi măng 76,28 triệu tấn đạt mức hiệu suất huy động chung 94%, trong đó sản lượng tiêu thụ xi măng nội địa đạt 55,1 triệu tấn, xuất khẩu 17,86 triệu tấn [59] Thị phần của các doanh nghiệp sản xuất xi măng trên cả nước được chia làm 3 nhóm chính: các doanh nghiệp thuộc TCT công nghiệp xi măng Việt Nam, các doanh nghiệp liên doanh và các doanh nghiệp được các tập đoàn, công ty tư nhân tự đầu tư, xây dựng Mục tiêu phát triển công nghiệp xi măng Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 và định hướng đến
năm 2030 "Phát triển ngành công nghiệp xi măng theo hướng công nghiệp hoá,
hiện địa hoá và bền vững, có công nghệ tiên tiến, sản phẩm đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng, đáp ứng nhu cầu thị trường" trong đó TCT công nghiệp xi măng
Việt Nam giữ vai trò chính trong việc ổn định sản xuất, tiêu thụ và bình ổn thị trường tiêu thụ xi măng trong cả nước [16] Năm 2016, sản lượng tiêu thụ xi măng nội địa của TCT công nghiệp xi măng Việt Nam có mức tăng trưởng cao đạt 21,3 triệu tấn (tăng 11% so với năm 2015) và chiếm gần 36% thị phần tiêu thụ xi măng nội địa trong cả nước [53] Tuy nhiên, thị trường xi măng nội địa luôn đứng trước tình trạng cung vượt so với cầu nên mức độ cạnh tranh trong ngành khốc liệt, thị trường xi măng xuất khẩu gặp nhiều khó khăn do CP sản xuất lớn so với các đối thủ cạnh tranh như Thái Lan, Trung Quốc
Để đạt được mục tiêu phát triển của TCT công nghiệp xi măng Việt Nam, với vai trò cung cấp thông tin làm cơ sở cho việc ra các quyết định, chất lượng của thông tin kế toán trong các DNSX xi măng đòi hỏi ngày càng cao Thông tin
kế toán được đo lường, ghi chép và phản ánh đầy đủ qua hệ thống KTTC và
Trang 12KTQT trong đó các thông tin về kế toán CP, DT và KQKD là thông tin cơ bản
và quan trọng
Các nghiên cứu về kế toán trong ngành xi măng hiện nay về phạm vi nghiên cứu được thực hiện nghiên cứu, khảo sát ở các DNSX xi măng Việt Nam với nội dung nghiên cứu tập trung vào tổ chức kế toán, KTQT CP, kế toán
CP giá thành chưa có một nghiên cứu tổng thể về kế toán CP, DT và KQKD trong mối quan hệ tác động qua lại, cung cấp thông tin lẫn nhau giữa hệ thống KTTC và KTQT Vì vậy, tác giả quyết định lựa chọn đề tài nghiên cứu "Hoàn thiện kế toán CP, DT và KQKD trong các DNSX xi măng thuộc TCT công nghiệp xi măng Việt Nam "
2.Tổng quan tình hình nghiên cứu
Trong tổng quan tình hình nghiên cứu, tác giả đề cập đến những công trình nghiên cứu khoa học có tính lý luận và thực tiễn ảnh hưởng đến đề tài nghiên cứu từ đó chỉ ra những điểm tác giả có sự kế thừa và những khoảng trống tri thức làm cơ sở cho đề tài nghiên cứu của tác giả
2.1.Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu đề cập đến vai trò và sự tồn tại song song của KTTC và KTQT trong hệ thống kế toán của doanh nghiệp
(1) Tác giả Donal W.Romney (1986) với nghiên cứu “Management
Information System” cho thấy vai trò quan trọng của hệ thống thông tin KTQT
với công tác quản trị doanh nghiệp và sự cần thiết thiết lập song song hệ thống thông tin KTQT với hệ thống thông tin KTTC trong một tổ chức Nghiên cứu cho rằng hệ thống thông tin KTQT là một phần kết nối của lập kế hoạch và kiểm soát trong tổ chức Một công ty thành lập hệ thống kế hoạch và kiểm soát để giúp đạt được các mục tiêu của tổ chức trong một môi trường ngoại cảnh cho trước Sự bất ổn định trong môi trường ngày càng cao và công ty càng có nhiều thay đổi thì việc thiết lập hệ thống thông tin KTQT càng coi trọng Tuy nhiên nghiên cứu chưa chỉ ra các nhân tố tác động đến việc thiết lập hai hệ thống này, đặc biệt là những nhân tố bản chất, chi phối với hệ thống
Trang 13(2) Tác giả Barfield, Raiborn & Kinney (1998) với nghiên cứu “Cost
accounting: Traditions and innovation” chỉ ra mục tiêu và bản chất của KTTC
và KTQT là khác nhau nhưng đều dựa trên một hệ thống dữ liệu cơ bản được thiết lập qua các tài khoản kế toán Trong trường hợp KTTC và KTQT được thiết lập trên cùng một hệ thống thường dẫn đến tập trung vào việc cung cấp các thông tin cho mục đích của KTTC, nhưng các thông tin đầu ra có thể được điều chỉnh để đáp ứng yêu cầu quản lý nội bộ
Thứ hai, các công trình nghiên cứu đề cập tới kế toán CP, DT và KQKD trong doanh nghiệp sản xuất
Đề cập đến phương pháp ghi nhận và đo lường DT của Jonathan C.Glover
and Yuji Ijiri (2000) trong nghiên cứu “Revenue accounting in the age of
E-Commerce: Exploring its conceptual and analytical frameworks” chỉ ra điểm
hạn chế của phương pháp DT truyền thống đó là chưa thiết lập được các điểm mốc, các khoản DT chính khi cung cấp thông tin cho các đối tượng sử dụng để đánh giá sự tiến triển trong quá trình tạo DT và chưa có phương pháp đo lường bền vững của DT từ đó nghiên cứu đề xuất một cách tiếp cận mới về kế toán DT bao gồm: đưa ra việc thiết lập các điểm mốc, các khoản DT quan trọng và đo lường sự gia tăng DT bằng phương pháp tuyến tính theo cấp số nhân để xem xét
các thông tin về tính bền vững của DT
Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài chủ yếu đề cập đến KTQT CP như các nghiên cứu về vận dụng các phương pháp CP hiện đại để xác định chính xác CP phân bổ cho đối tượng chịu CP:
(1) Monden, Y.VµHamada, K (1991) với nghiên cứu “Target Costing
and Kaizen Costing in Japanese Automobille Companies” về phương pháp kế
toán quản trị CP hiện đại CP mục tiêu được áp dụng có hiệu quả trong các doanh nghiệp sản xuất ô tô ở Nhật Bản
(2) Thomas W.Lin, Kenneth A Merchant, Yi’Ou Yang, Zengbiao Yu
(2005) với nghiên cứu “Target costing and incentive compensation” đã đánh giá
trong ngành sản xuất thép, áp dụng phương pháp chi phí mục tiêu mang tính
Trang 14hiệu quả kinh tế cao, phương pháp chi phí mục tiêu trong các doanh nghiệp sản xuất thép tại Trung Quốc hướng tới mục tiêu cắt giảm chi phí bền vững
(3) Majid Nili Ahmadabadi, Ali Soleimani (2013) với nghiên cứu
“Feasibility Study for Implemention of an Activity – Based Costing System in Alloy Steel Indutries” đã chỉ ra có 8 nhân tố ảnh hưởng đến khả năng áp dụng
phương pháp chi phí theo hoạt động vào các ngành sản xuất thép tại Iran bao gồm CP sản xuất chiếm tỷ trọng lớn, quy trình sản xuất phức tạp, các sản phẩm
có tính chất khác biệt, chủng loại, kích thước sản phẩm đa dạng phong phú, sử dụng nhiều nguyên vật liệu đầu vào, thành phẩm và bán thành phẩm tồn kho lớn, chi phí lưu kho và CP sản xuất cần đánh giá
Nghiên cứu về áp dụng các phương pháp CP truyền thống như Adler,
Everett và Waldron (2000) với nghiên cứu “Advanced management accounting
techniques in manufacturing: Utilisation, benefits, and barriers to implementation” dựa trên cơ sở khảo sát và phỏng vấn đã đưa ra kết quả cho
thấy các phương pháp chi phí truyền thống như chi phí định mức, chi phí toàn bộ… được áp dụng phổ biến và rộng rãi hơn so với các kỹ thuật kế toán quản trị hiện đại trong các doanh nghiệp sản xuất ở New Zealand
2.2.Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu về kế toán, tổ chức kế toán CP, DT
và KQKD trong DNSX
Nghiên cứu của Nghiêm Thị Thà (2007) với luận án "Hoàn thiện tổ chức
kế toán CP, DT, KQKD trong các DNSX gốm sứ xây dựng" và Đỗ Thị Hồng
Hạnh (2015) với luận án“Hoàn thiện kế toán CP, DT, KQKD trong các DNSX
thép thuộc TCT thép Việt Nam” xem xét và đề cập đến các vấn đề về kế toán, tổ
chức kế toán CP, DT và KQKD trên hai phương diện KTTC và KTQT theo các nội dung:
Về khung lý thuyết cơ bản của kế toán CP, DT và KQKD trong DNSX, tác
giả Nghiêm Thị Thà (2007) trong luận án của mình đã khái quát lý luận tổ chức KTTC CP, DT, KQKD theo các quy định của chuẩn mực kế toán quốc tế, tổ
Trang 15chức KTQT CP, DT, KQKD với nội dung nghiên cứu chủ yếu là phản ánh, phân tích thông tin quá khứ Tuy nhiên, nghiên cứu chưa đề cập đến các nhân tố ảnh hưởng đến kế toán CP, DT, KQKD trong DNSX; nghiên cứu chỉ đề cập đến các quy định của chuẩn mực kế toán quốc tế trong ghi nhận CP, DT và KQKD, các nội dung như chứng từ, tài khoản, sổ kế toán theo các nguyên tắc, thông lệ kế toán quốc tế, các vấn đề về lập dự toán, phân tích so sánh thông tin thực hiện với
dự toán chưa được nghiên cứu
Tác giả Đỗ Thị Hồng Hạnh (2015) trong luận án của mình đã hệ thống hóa lý luận về KTTC CP, DT, KQKD theo quy định của chuẩn mực, chế độ kế toán Việt Nam, KTQT theo quy trình từ xây dựng định mức, lập dự toán, tổ chức thu thập thông tin quá khứ, tương lai, phân tích thông tin phục vụ cho việc
ra quyết định Tuy nhiên, trong luận án của tác giả chưa nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến kế toán CP, DT, KQKD trong DNSX; nghiên cứu kế toán CP,
DT và kết quả dựa trên các quy định của chuẩn mực, chế độ kế toán Việt Nam chưa có sự đối chiếu, so sánh với các chuẩn mực, thông lệ kế toán quốc tế; bài học kinh nghiệm rút ra cho các DNSX Việt Nam qua nghiên cứu khái quát các chuẩn mực kế toán quốc tế và kinh nghiệm của một số nước trên thế giới Mỹ, Pháp chỉ dừng lại ở mô hình tổ chức kế toán; nghiên cứu KTQT theo quy trình nhưng chưa chỉ ra sự gắn kết với các chức năng của nhà quản trị trong doanh nghiệp
Về phạm vi nghiên cứu trong luận án của tác giả Nghiêm Thị Thà (2007)
và Đỗ Thị Hồng Hạnh (2015) được ứng dụng trong các lĩnh vực sản xuất gốm
sứ xây dựng và sản xuất thép với các đặc điểm, quy trình công nghệ, tổ chức sản xuất, phân cấp quản lý … khác biệt với các DNSX xi măng
Thứ hai, các công trình nghiên cứu về kế toán trong ngành xi măng
Ngành công nghiệp xi măng là một trong những ngành quan trọng hàng đầu trong nền kinh tế quốc gia Trải qua hơn một thế kỷ hình thành và phát triển, ngành công nghiệp xi măng Việt Nam đã đánh dấu sự đổi mới và phát triển mạnh mẽ cả về quy mô đầu tư, phương thức đầu tư và trình độ công nghệ sản
Trang 16xuất Hiện nay, ngành xi măng Việt Nam đóng góp một phần không nhỏ vào tốc
độ tăng trưởng nền kinh tế xã hội
Các nghiên cứu về kế toán trong các DNSX xi măng được nghiên cứu, bàn luận trên cả hai phương diện KTTC và KTQT được thực hiện trong nghiên
cứu của Lưu Đức Tuyên (2002) với đề tài "Hoàn thiện công tác kế toán CP sản
xuất và tính giá thành sản phẩm xi măng trong các doanh nghiệp nhà nước" và
Ngô Thị Thu Hương (2012) với đề tài “Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán
trong các CTCP sản xuất xi măng” Các nghiên cứu đã đề cập đến các vấn đề:
Về mô hình tổ chức công tác kế toán áp dụng, trong nghiên cứu của mình,
hai tác giả đều đề xuất và khẳng định việc áp dụng mô hình kết hợp giữa KTTC
và KTQT trên cùng một bộ máy kế toán là phù hợp với đặc thù, yêu cầu quản lý của các doanh nghiệp sản xuất xi măng Nghiên cứu của Lưu Đức Tuyên (2002) chủ yếu bàn luận tập trung vào kế toán CP sản xuất trên phương diện KTTC, trên phương diện KTQT tác giả đề cập đến một số nội dung như phân loại CP, lập dự toán, tuy nhiên sự kết hợp chặt chẽ về thông tin cung cấp giữa KTTC và KTQT để đảm bảo tính gắn kết cao giữa hai hệ thống kế toán, đồng thời vẫn cung cấp thông tin cho nhà quản trị doanh nghiệp thực hiện các chức năng quản trị chưa được cụ thể và chi tiết Nghiên cứu của Ngô Thị Thu Hương (2012) với phạm vi nghiên cứu về tổ chức công tác kế toán trong các CTCP sản xuất xi măng nghiên cứu và đề xuất các giải pháp mang tính chất tổng thể về bộ máy, chứng từ, tài khoản, báo cáo kế toán nói chung
Về xác định đối tượng tập hợp CP, nghiên cứu của Lưu Đức Tuyên (2002)
phân tích thực trạng với số liệu của hai doanh nghiệp nhà nước điển hình cho quá trình tập hợp CP sản xuất theo giai đoạn công nghệ (Công ty xi măng Hải Phòng) và theo toàn bộ dây truyền công nghệ (Công ty xi măng Bỉm Sơn) Trên
cơ sở đó, tác giả đề xuất xác định đối tượng tập hợp CP sản xuất theo các giai đoạn sản xuất chính (nghiền liệu, nung clinker, nghiền xi măng, đóng bao) và các bộ phận sản xuất phụ, phụ trợ ( khai thác nguyên liệu, sửa chữa, vận tải, cơ khí, sản xuất đóng bao) Đề xuất của tác giả về tập hợp CP sản xuất theo các
Trang 17giai đoạn sản xuất chính và bộ phận sản xuất phụ trợ sẽ giúp các nhà quản trị doanh nghiệp trong việc kiểm soát tốt CP tại từng giai đoạn Tuy nhiên, tại thời điểm nghiên cứu của tác giả, các DNSX xi măng với quy trình công nghệ sản xuất còn lạc hậu chủ yếu theo phương pháp ướt, chưa phát sinh nhiều hoạt động phụ trợ cho sản xuất, nghiên cứu coi giai đoạn khai thác trong quy trình công nghệ sản xuất xi măng là giai đoạn phụ trợ cho sản xuất
Về kế toán ghi nhận CP trên các tài khoản và sổ kế toán, tác giả Lưu Đức
Tuyên (2002) qua nghiên cứu của mình đã khẳng định việc tổ chức hệ thống tài khoản kế toán CP sản xuất phải phù hợp với đặc điểm, quy trình công nghệ sản xuất, đặc điểm tổ chức sản xuất, phù hợp với hệ thống chỉ tiêu báo cáo về CP sản xuất của các DNSX xi măng từ đó đề xuất việc ghi nhận CP thông qua các tài khoản kế toán quản trị CP theo hai phương án trong giai đoạn các doanh nghiệp áp dụng theo Quyết định 1141/TC/QĐ/CĐKT và trong tương lai sẽ tiến hành tập hợp theo các yếu tố CP Tuy nhiên, nghiên cứu của tác giả thực hiện trong điều kiện các doanh nghiệp vẫn áp dụng chế độ kế toán theo Quyết định số
1141 TC/QĐ/CĐKT, khung pháp lý về kế toán chưa hoàn thiện Nghiên cứu chưa đề cập đến quy trình kế toán ghi nhận CP trên tài khoản và sổ kế toán của các bộ phận phụ trợ sản xuất
Ngô Thị Thu Hương (2012) có bàn luận và đề xuất về việc tổ chức vận dụng tài khoản kế toán CP nhưng trên cơ sở các CTCP áp dụng chế độ kế toán theo Quyết định 48/2006/QĐ – BTC, hoàn thiện về sổ chi tiết bán hàng và kết quả bán hàng, CP sản xuất kinh doanh và các báo cáo kế toán nhưng các giải pháp hoàn thiện chung chung chưa xuất phát từ các nghiên cứu thực trạng với số liệu minh họa cụ thể tại các CTCP sản xuất xi măng
Các nghiên cứu bàn luận chủ yếu trên phương diện của KTQT với nghiên
cứu dưới góc độ xây dựng mô hình của Trần Thị Thu Hường (2014) “Xây dựng
mô hình KTQT CP trong các DNSX xi măng Việt Nam” và kế toán trách nhiệm
của Trần Trung Tuấn (2015) “Nghiên cứu kế toán trách nhiệm trong các DNSX
xi măng Việt Nam” Các nghiên cứu đã đề xuất và làm sáng tỏ các nội dung:
Trang 18Về phân loại CP, Trần Thị Thu Hường (2014) cho rằng cách phân loại CP
theo chức năng và các yếu tố đầu vào của CP thuận tiện cho kế toán tập hợp CP sản xuất và tính giá thành sản phẩm, tuy nhiên cách phân loại này dẫn đến báo cáo kế toán về CP mới kiểm soát CP theo yếu tố và đề xuất phân loại CP theo mức độ hoạt động là cơ sở để xác định điểm hòa vốn, lựa chọn phương án kinh doanh tối ưu Tuy nhiên, các DNSX xi măng có nhiều công đoạn, mỗi công đoạn CP sản xuất phát sinh khác nhau, luận án của tác giả Trần Thị Thu Hường chưa đề cập phân loại CP theo từng công đoạn và chỉ rõ từng yếu tố, khoản mục
CP theo cách phân loại CP theo chức năng thuộc phạm vi ứng xử CP nào
Về dự toán CP, Trần Thị Thu Hường (2014) trong nghiên cứu của mình
cho rằng quá trình xây dựng dự toán chi phí trong các DNSX xi măng phải đảm bảo tính thống nhất trong kỳ và trong toàn doanh nghiệp, đảm bảo tính linh hoạt
và chủ động từ đó đề xuất việc lập dự toán CP linh hoạt cho từng loại sản phẩm
xi măng Việc lập dự toán CP linh hoạt sẽ đáp ứng tốt nhất mục tiêu kiểm soát
CP trong khi dự toán tĩnh chỉ đáp ứng yêu cầu lập kế hoạch Sử dụng dự toán linh hoạt để phân tích chênh lệch và xác định nguyên nhân chênh lệch chi phí là phù hợp vì mức độ hoạt động theo dự toán có sự khác biệt so với mức độ hoạt động thực tế Tuy nhiên, đề xuất của tác giả về lập dự toán CP linh hoạt cho từng sản phẩm xi măng, thành phẩm ở giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất chưa giúp các DNSX xi măng kiểm soát tốt CP vì thực chất sản phẩm chỉ là đối tượng chịu CP Nghiên cứu chưa đề cập đến vấn đề lập dự toán CP sản xuất (chi tiết các công đoạn sản xuất chính và các hoạt động sản xuất phụ trợ để kiểm soát CP tại từng công đoạn), các dự toán CP khác theo các trung tâm CP nhằm đánh giá kết quả thực hiện, trách nhiệm của các cấp quản trị, đo lường khách quan mức độ tiếp nhận và sử dụng các dịch vụ phụ trợ trong các DNSX xi măng
Về phương pháp xác định CP cho các đối tượng chịu CP được bàn luận
chủ yếu dưới góc độ KTQT CP Trần Thị Thu Hường (2014) đề xuất việc vận dụng kết hợp hai phương pháp CP mục tiêu và CP Kaizen để đạt được hiệu quả trong quá trình quản trị CP của doanh nghiệp Tuy nhiên, đề xuất chủ yếu dựa
Trang 19trên cơ sở suy luận, mức độ phù hợp chưa được nghiên cứu qua quá trình điều tra, khảo sát Trần Trung Tuấn (2015) đề xuất áp dụng phương pháp kế toán CP dựa trên hoạt động (ABC) vào các DNSX xi măng sẽ tạo ra các chỉ tiêu giá thành sản phẩm khác biệt, chính xác hơn so với các phương pháp truyền thống
Về kế toán trách nhiệm, Trần Trung Tuấn (2015) đã nghiên cứu các nhân
tố ảnh hưởng đến kế toán trách nhiệm, đo lường mức độ áp dụng kế toán trách nhiệm, sự khác biệt về mức độ áp dụng kế toán trách nhiệm của doanh nghiệp niêm yết và doanh nghiệp chưa niêm yết trên sàn chứng khoán, mức độ kế toán trách nhiệm ảnh hưởng đến thành quả của doanh nghiệp Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp với định lượng và đã chỉ ra là cần thiết kế hệ thống báo cáo chi tiết theo các trung tâm trách nhiệm Tuy nhiên, hạn chế của nghiên cứu thể hiện nghiên cứu kế toán trách nhiệm kết hợp với các phương pháp kế toán CP hiện đại chỉ mang tính khái quát chung, mới tìm ra quy luật, các nhân tố tác động…chưa xây dựng được một hệ thống báo cáo, các chỉ tiêu đánh giá cụ thể Nghiên cứu được thực hiện trong phạm vi các DNSX xi măng Việt Nam, chưa nghiên cứu sâu những đặc điểm, đặc thù của các doanh nghiệp thuộc TCT công nghiệp xi măng Việt Nam Trần Thị Thu Hường (2014) trong nghiên cứu của mình đã đề xuất việc xây dựng các trung tâm CP, lập các báo cáo bộ phận và phân tích biến động tổng hợp tại các trung tâm CP chi tiết khoản mục CP, mức độ hoạt động Tuy nhiên, việc xác định các trung tâm trách nhiệm CP chưa xuất phát từ các nghiên cứu cụ thể về mô hình tổ chức và phân cấp quản lý
Trên cơ sở nghiên cứu các công trình khoa học liên quan đến đề tài, tác giả nhận thấy những công trình này chưa nghiên cứu hoặc chưa giải quyết được một số vấn đề sau:
- Nghiên cứu và chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện kế toán
CP, DT và KQKD trong DNSX trên hai phương diện KTTC và KTQT; hệ thống hóa khung lý thuyết cơ bản về kế toán CP, DT và KQKD trên phương diện KTTC theo các nguyên tắc kế toán, các IAS/IFRS trong bối cảnh lịch sử tình
Trang 20hình nghiên cứu trên thế giới đến nay đã có sự thay đổi đáng kể về các quan điểm ghi nhận DT; nghiên cứu kế toán CP, DT và KQKD trên phương diện KTQT theo quy trình đáp ứng nhu cầu cung cấp thông tin cho nhà quản trị thực hiện chức năng quản trị trong doanh nghiệp
- Các công trình nghiên cứu về kế toán trong ngành xi măng được nghiên cứu ở nhiều khía cạnh nội dung khác nhau và được thực hiện nghiên cứu khảo sát trên phạm vi không gian rộng là trong các DNSX xi măng Việt Nam, chưa có nghiên cứu hợp nhất về kế toán CP, DT và KQKD trên cả hai phương diện KTTC và KTQT thể hiện được sự gắn kết cao đồng thời phát huy được hiệu quả của hệ thống KTQT phù hợp với đặc điểm tổ chức quản lý, quy trình công nghệ sản xuất, đặc điểm sản phẩm… của các DNSX xi măng thuộc TCT công nghiệp
xi măng Việt Nam
3.Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Về mặt lý luận:
Nghiên cứu, hệ thống hóa và làm sáng tỏ khung lý thuyết cơ bản về kế toán CP, DT và KQKD trong DNSX trên phương diện KTTC theo các nguyên tắc kế toán, các IAS/IFRS; nội dung kế toán CP, DT và KQKD trên phương diện KTQT với mục đích cung cấp thông tin phục vụ cho các nhà quản trị doanh nghiệp thực hiện các chức năng quản trị trong doanh nghiệp
- Về mặt thực tiễn:
Phân tích đặc điểm tổ chức, quản lý sản xuất kinh doanh, tổ chức kế toán của các DNSX xi măng thuộc TCT công nghiệp xi măng Việt Nam tác động đến việc thực hiện kế toán CP, DT và KQKD Phân tích và làm rõ thực trạng kế toán
CP, DT và KQKD của các DNSX xi măng thuộc TCT công nghiệp xi măng Việt Nam trên cả hai phương diện KTTC và KTQT
Trên cơ sở các yêu cầu hoàn thiện, đề xuất các giải pháp hoàn thiện kế toán CP, DT và KQKD trong các DNSX xi măng thuộc TCT công nghiệp xi măng Việt Nam trên cả hai phương diện KTTC và KTQT
4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Trang 214.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Để đề xuất được các giải pháp hoàn thiện, đối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm:
- Khung lý thuyết cơ bản về kế toán CP, DT và KQKD trong DNSX
- Nội dung KTTC CP, DT và KQKD trong các DNSX xi măng thuộc TCT công nghiệp xi măng Việt Nam: nội dung, phạm vi cấu thành CP, DT, KQKD, chứng từ, tài khoản và sổ kế toán, thông tin trình bày trên BCTC
- Nội dung KTQT CP, DT và KQKD trong các DNSX xi măng thuộc TCT công nghiệp xi măng Việt Nam: xây dựng định mức, lập dự toán, thu thập thông tin thực hiện, phân tích, so sánh thông tin phục vụ cho nhà quản trị thực hiện các chức năng quản trị
4.2.Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian nghiên cứu: Nghiên cứu kế toán CP, DT và KQKD
trong các DNSX xi măng thuộc TCT công nghiệp xi măng Việt Nam nắm giữ 100% vốn điều lệ, các công ty con do TCT nắm giữ cổ phần chi phối (> 50% vốn điều lệ) thông qua khảo sát 8 doanh nghiệp
- Phạm vi thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu, khảo sát thực tế và thu thập
các dữ liệu về chứng từ kế toán, tài khoản và sổ kế toán, BCTC, báo cáo KTQT trong các năm 2013, 2014, 2015, 2016 về kế toán CP, DT và KQKD trong các DNSX xi măng thuộc TCT công nghiệp xi măng Việt Nam
- Phạm vi nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu kế toán CP, DT và KQKD
của hoạt động sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm trong quy trình sản xuất xi măng, không nghiên cứu các hoạt động sản xuất và tiêu thụ của các sản phẩm khác như sản phẩm vật liệu xây dựng: gạch, đá, vữa xây tô; cơ khí; các dịch vụ cung ứng vật tư, vận tải đường sông trong các DNSX xi măng trên phương diện KTTC và một số vấn đề cơ bản của KTQT Cụ thể:
+ Nghiên cứu kế toán các CP cấu thành giá vốn hàng bán (CP nguyên vật liệu trực tiếp, CP nhân công trực tiếp, CP sản xuất chung), các CP thời kỳ (CP
Trang 22bán hàng, CP quản lý doanh nghiệp, CP hoạt động tài chính), không nghiên cứu
5.Câu hỏi nghiên cứu
Để đáp ứng các mục tiêu, nghiên cứu trả lời các câu hỏi:
(i) Các quy định của nguyên tắc kế toán, các IAS/IFRS ảnh hưởng đến các nguyên tắc và phương pháp ghi nhận CP, DT và KQKD trong DNSX?
(ii) Quy trình KTQT về kế toán CP, DT và KQKD gắn với chức năng nhà quản trị?
(iii) Các quy định về thực hiện kế toán CP, DT và KQKD của các DNSX
xi măng theo khung pháp lý của Việt Nam?
(iv) Việc thực hiện kế toán CP, DT và KQKD trong các DNSX xi măng thuộc TCT công nghiệp xi măng Việt Nam hiện nay được thực hiện như thế nào? Những vấn đề gì còn tồn tại?
(v) Sử dụng các giải pháp gì để đạt được hiệu quả cao trong việc cung cấp các thông tin kế toán CP, DT và KQKD cho các đối tượng sử dụng với một mô hình kết hợp giữa KTTC và KTQT?
6.Phương pháp nghiên cứu và thu thập dữ liệu
Để trả lời cho các câu hỏi thứ nhất và thứ hai, tác giả thực hiện nghiên cứu với phương pháp chủ yếu là xem xét các công trình, bài báo, tài liệu có liên quan đến kế toán CP, DT và KQKD từ đó nhận diện và đưa ra khung lý thuyết
cơ bản của vấn đề cần nghiên cứu
Với các câu hỏi thứ ba và thứ tư, tác giả sử dụng các phương pháp thu thập dữ liệu định tính bao gồm:
Trang 23- Thu thập dữ liệu sơ cấp: Dữ liệu sơ cấp của luận án sử dụng bao gồm các thông tin, dữ liệu về kế toán CP, DT và KQKD của các DNSX xi măng thuộc TCT công nghiệp xi măng Việt Nam Để thu thập dữ liệu, tác giả sử dụng phương pháp khảo sát, gửi phiếu điều tra đến 8 DNSX xi măng thuộc TCT công nghiệp xi măng Việt Nam bao gồm các doanh nghiệp do TCT nắm giữ 100%
vốn điều lệ và nắm giữ cổ phần, vốn góp chi phối (Phụ lục 2.1) Đối tượng nhận phiếu điều tra là kế toán trưởng theo mẫu Phiếu điều tra (Phụ lục 2.2) Tác giả
sử dụng phương pháp phỏng vấn để thu thập các thông tin liên quan đến kế toán
CP, DT và KQKD Đối tượng được thực hiện phỏng vấn bao gồm các kế toán viên thực hiện công tác kế toán CP, DT và KQKD Kết quả điều tra được xử lý, phân tích, tổng hợp qua chương trình Microsoft Excel 2010 trong đó đã loại trừ
các câu trả lời chưa hợp lý (Phụ lục 2.3)
Đồng thời, tác giả cũng thực hiện quan sát, nghiên cứu, thu thập dữ liệu trên hệ thống chứng từ, sổ sách, báo cáo kế toán, thực hiện trao đổi qua điện thoại, qua email với các đối tượng cán bộ quản lý tại các phòng ban liên quan
như phòng điều hành sản xuất, xí nghiệp tiêu thụ, …
- Thu thập dữ liệu thứ cấp: Các dữ liệu thứ cấp được thu thập bao gồm các các số liệu của Tổng cục thống kê liên quan đến DNSX xi măng, website của TCT công nghiệp xi măng Việt Nam (www.vicem.vn), trang thông tin điện tử của Hiệp hội xi măng (www.vnca.org.vn), website của các DNSX xi măng thuộc TCT công nghiệp xi măng Việt Nam
Trên cơ sở kết quả khảo sát, tác giả tổng hợp, so sánh, phân tích làm cơ sở đưa ra các đánh giá và đề xuất giải pháp
7.Đóng góp của đề tài
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về kế toán CP, DT và KQKD trong DNSX trên phương diện KTTC theo các nguyên tắc kế toán, các IAS/IFRS; nội dung kế toán CP, DT và KQKD trên phương diện KTQT với mục đích cung cấp thông tin phục vụ cho các nhà quản trị doanh nghiệp thực hiện các chức năng quản trị
Trang 24- Phân tích thực trạng khung pháp lý Việt Nam hiện nay, chỉ rõ đặc điểm
tổ chức quản lý, sản xuất kinh doanh, tổ chức kế toán của các DNSX xi măng thuộc TCT công nghiệp xi măng Việt Nam ảnh hưởng đến kế toán CP, DT và KQKD Từ kết quả khảo sát, chỉ rõ thực trạng và đánh giá những tồn tại trong kế toán CP, DT và KQKD trong các DNSX xi măng thuộc TCT công nghiệp xi măng Việt Nam trên phương diện KTTC (nội dung, phạm vi cấu thành CP, DT, chứng từ, tài khoản và sổ kế toán, BCTC) và KTQT (xây dựng định mức, lập dự toán, thu thập thông tin thực hiện, phân tích so sánh các thông tin)
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện phù hợp với mô hình kết hợp giữa KTTC và KTQT trong các DNSX xi măng thuộc TCT công nghiệp xi măng Việt Nam: phân loại CP theo chức năng kết hợp với mức độ hoạt động, phân loại DT
và KQKD; xác định nội dung, phạm vi cấu thành CP, DT; hoàn thiện tài khoản
kế toán CP, DT gắn liền với các trung tâm trách nhiệm, hoàn thiện quy trình kế toán CP, DT để thu thập các thông tin thực hiện, thiết lập hệ thống các dự toán sản xuất kinh doanh, xác định các TTTN gắn với mô hình tổ chức và phân cấp quản lý, hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu đánh giá và hệ thống báo cáo gắn với các trung tâm trách nhiệm
Trang 25CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN CP, DT VÀ KQKD TRONG DNSX 1.1.Vai trò và nhân tố ảnh hưởng đến kế toán CP, DT và KQKD trong DNSX
1.1.1.Vai trò kế toán CP, DT và KQKD trong DNSX
Kế toán CP, DT và KQKD là nội dung quan trọng trong hệ thống kế toán DNSX Hệ thống là một tổng thể bao gồm các bộ phận, thành phần có mối quan
hệ với nhau để thực hiện những mục tiêu chung nhất định Một hệ thống có thể bao gồm nhiều hệ thống con hợp thành trong đó hệ thống con cũng mang đầy đủ tính chất của một hệ thống Các hệ thống con có thể có cách thức hoạt động khác nhau, mục tiêu khác nhau nhưng đều hướng tới mục tiêu chung của hệ thống Hệ thống kế toán trong DNSX là một bộ phận cấu thành của hệ thống quản lý trong doanh nghiệp Hệ thống kế toán trong DNSX là một tổng thể bao gồm hai hệ thống con là hệ thống KTTC và hệ thống KTQT có mối quan hệ tương tác, liên kết với nhau để cùng thực hiện một mục tiêu chung là cung cấp thông tin cho các đối tượng sử dụng Hệ thống KTTC và KTQT đều quan tâm đến các dữ liệu thông tin về nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh của doanh nghiệp liên quan đến tài sản, nguồn hình thành thành tài sản, CP, DT, KQKD, lưu chuyển tiền từ đó thu thập, phản ánh, xử lý, tổng hợp thông tin trên các báo cáo kế toán đáp ứng yêu cầu của các đối tượng sử dụng Yếu tố cấu thành hai hệ thống đều bao gồm chứng từ, tài khoản và sổ, báo cáo kế toán có mối liên hệ chặt chẽ với nhau về các thông tin kế toán phản ánh Tuy nhiên, mỗi một hệ thống đều có những điểm khác biệt do mục đích cung cấp thông tin và hướng đến các đối tượng sử dụng khác nhau Thông tin do hệ thống KTTC thường phản ánh quá khứ, tuân thủ các nguyên tắc, chuẩn mực, chế độ kế toán theo quy định chú trọng đến tính chính xác, chuẩn mực của thông tin và đặt trọng tâm cung cấp cho cá nhân, tổ chức bên ngoài doanh nghiệp có lợi ích liên quan Hệ thống KTQT tồn tại song song với KTTC và trở thành một công cụ kinh tế tài chính quan trọng giúp nhà quản trị nâng cao khả năng điều hành, quản lý tổ chức
Trang 26một cách có hiệu quả Hệ thống KTQT có ý nghĩa quan trọng trong việc cung cấp thông tin cho các nhà quản trị doanh nghiệp trong việc lập kế hoạch, tổ chức điều hành, phân tích, đánh giá và ra các quyết định, nhấn mạnh đến tính kịp thời, linh hoạt, sáng tạo của thông tin, đặt trọng tâm thông tin cho tương lai nhiều hơn Thông tin KTQT không mang tính pháp lệnh, được tập hợp và thu thập từ nhiều nguồn khác nhau, giúp các nhà quản trị trong việc điều hành và kiểm soát các hoạt động kinh tế KTTC và KTQT là hai hệ thống không thể tách rời và không thể thiếu trong hệ thống kế toán của một DNSX Từ những phân tích trên, tác giả nhận thấy nghiên cứu về kế toán CP, DT và KQKD trong DNSX phải được xem xét, nghiên cứu ở hai phương diện KTTC và KTQT có sự gắn kết, mối quan hệ tương tác trong cùng một hệ thống kế toán cùng hướng tới mục tiêu chung cung cấp thông tin cho các đối tượng sử dụng
Vai trò kế toán CP, DT, KQKD trong DNSX thể hiện ở vai trò của KTTC
và KTQT CP, DT và KQKD trong hệ thống kế toán DNSX:
- Kế toán CP, DT, KQKD cung cấp các thông tin cơ bản để lập các BCTC đặc biệt là báo cáo KQKD phản ánh tổng quát và toàn diện về tình hình KQKD trong kỳ của doanh nghiệp
- Kế toán CP, DT và KQKD cung cấp những thông tin chủ yếu về tình hình thực hiện CP, DT, kết quả hoạt động của doanh nghiệp Căn cứ vào các thông tin thực hiện, các nhà đầu tư, tổ chức tài chính tín dụng, đối tượng khách hàng…đánh giá được kết quả hoạt động kinh doanh và ra quyết định
- Các thông tin CP, DT, KQKD do kế toán cung cấp là căn cứ quan trọng
để nhà quản trị trong doanh nghiệp điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh, đánh giá, kiểm soát chặt chẽ được tình hình thực hiện kế hoạch CP, lợi nhuận, việc huy động các nguồn lực cho sản xuất kinh doanh, thu thập, phân tích các thông tin phục vụ cho việc lập dự toán sản xuất kinh doanh, đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh, đánh giá những vấn đề còn tồn tại cần khắc phục, phân tích, nghiên cứu, phát hiện khả năng tiềm tàng từ đó đưa ra các quyết định đầu tư, dự báo xu hướng phát triển trong tương lai của doanh nghiệp
Trang 27- Các thông tin CP, DT, KQKD do kế toán cung cấp sẽ tư vấn cho nhà quản lý trong quá trình xử lý, phân tích thông tin, lựa chọn phương án và ra các quyết định kinh doanh phù hợp nhất
1.1.2.Nhân tố ảnh hưởng đến kế toán CP, DT và KQKD trong DNSX
Hệ thống kế toán DNSX nói chung và kế toán CP, DT, KQKD nói riêng khi được thiết lập khoa học, hợp lý và hiệu quả sẽ giúp cho các thông tin cung cấp có giá trị, đáp ứng được yêu cầu của các đối tượng sử dụng Các nhân tố có tác động, ảnh hưởng đến việc thực hiện kế toán CP, DT và KQKD trong DNSX bao gồm:
Thứ nhất, các khái niệm và nguyên tắc kế toán cơ bản được thừa nhận
Các khái niệm và nguyên tắc kế toán chỉ ra những ranh giới, phạm vi trong hạch toán kế toán, những nguyên tắc chung mà người làm công tác kế toán phải tuân thủ Các khái niệm và nguyên tắc kế toán sẽ tạo nên những quy định
cụ thể ảnh hưởng đến việc ghi chép, đo lường, xử lý và báo cáo các thông tin tài chính
Thứ hai, các yếu tố thuộc khuôn khổ quy định của pháp luật
Các thông tin kế toán ảnh hưởng quan trọng đến quyết định của người sử dụng lên trách nhiệm của doanh nghiệp phải cung cấp thông tin trung thực, đáng tin cậy theo những nguyên tắc, quy định của từng thời kỳ Vì vậy, kế toán CP,
DT và KQKD trong DNSX chịu ảnh hưởng lớn bởi các quy định pháp luật của từng quốc gia Các quy định về kế toán được thể chế hóa trong Luật, Chuẩn mực
và những vấn đề chi tiết được cụ thể trong các chế độ kế toán có liên quan Các quy định pháp luật chi phối đến các nguyên tắc, phương pháp, cách thức ghi nhận CP, DT và KQKD trong DNSX Các quốc gia chú trọng đến sự thống nhất quản lý, sự kiểm soát của nhà nước, các quy định về kế toán sẽ càng chi tiết, cụ thể, chịu ảnh hưởng nhiều bởi sự điều chỉnh của nhà nước dẫn đến tính linh hoạt của
kế toán trong DNSX thấp
Thứ ba, các nhân tố nội tại bên trong của doanh nghiệp
Trang 28Doanh nghiệp là một hệ thống mở với môi trường bên ngoài và đồng thời được cấu thành bởi nhiều bộ phận với các chức năng riêng biệt Muốn đạt được các mục tiêu của mình đòi hỏi doanh nghiệp phải tổ chức tốt các bộ phận cấu thành sản xuất, kế toán, marketing…Thiết lập, phát triển và tổ chức điều hành tốt hệ thống kế toán là cơ sở và yêu cầu đảm bảo cho doanh nghiệp phát triển
Tổ chức bộ máy quản lý, quy mô, trình độ, yêu cầu quản lý, tình hình phân cấp quản lý tài chính, cơ sở vật chất, trình độ ứng dụng khoa học công nghệ thông tin ở doanh nghiệp là yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn hình thức tổ chức bộ máy kế toán, tổ chức công tác kế toán, tổ chức các phần hành công việc
kế toán, chức năng nhiệm vụ của nhân viên kế toán, nhân viên hạch toán ban đầu, mối quan hệ giữa các bộ phận kế toán, thống kê, sản xuất …trong doanh nghiệp
Mỗi một DNSX có quy trình tổ chức sản xuất, công nghệ, đặc điểm sản phẩm sản xuất, đặc điểm CP, DT khác nhau Những đặc điểm đó ảnh hưởng đến quá trình xác định nội dung, phạm vi cấu thành CP,DT để xác định KQKD, xác định tài khoản và sổ kế toán CP, DT, thông tin cung cấp trên báo cáo KTTC, báo cáo KTQT…
Thứ tư, nhận thức của nhà quản lý trong doanh nghiệp
Nhu cầu thông tin kế toán của người ra quyết định trong nội bộ của doanh nghiệp khác với đối tượng sử dụng thông tin bên ngoài Bản thân các quyết định trong nội bộ của doanh nghiệp cũng tùy thuộc vào loại quyết định gì, sử dụng cho các nhà quản lý cấp cao hay các nhà quản lý bộ phận Các thông tin kế toán
sử dụng trong nội bộ doanh nghiệp không bắt buộc phải tuân theo các nguyên tắc kế toán cụ thể Muốn có các thông tin phù hợp, nhà quản lý phải bỏ ra nhiều
CP hơn để thu thập, phân loại, xử lý bằng các phương pháp thích hợp Nhận thức của nhà quản lý về vai trò và tầm quan trọng của các thông tin KTTC và thông tin KTQT sẽ giúp doanh nghiệp chú trọng quan tâm đầu tư hơn đến công tác kế toán từ đó phát huy hết vai trò của kế toán trong doanh nghiệp
Trang 29Thứ năm, trình độ chuyên môn nghiệp vụ nhân viên thực hiện công việc
kế toán
Thông tin về CP, DT và KQKD của DNSX được nhân viên kế toán thu thập, xử lý, ghi chép và phản ánh Trình độ, năng lực chuyên môn nghiệp vụ của người làm công tác kế toán sẽ quyết định chất lượng của thông tin kế toán cung cấp cho các đối tượng sử dụng
1.2.Nội dung kế toán CP, DT và KQKD trong DNSX
1.2.1.Bản chất, phân loại CP, DT và KQKD trong DNSX
1.2.1.1.Bản chất, phân loại CP trong DNSX
- Bản chất CP
CP là một trong những yếu tố trung tâm của công tác quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp Xét trên khía cạnh xác định KQKD trong doanh nghiệp, CP là yếu tố cơ bản, trực tiếp ảnh hưởng đến lợi nhuận Có nhiều quan điểm khác nhau về CP cụ thể:
Theo Hanson &Mowen (1997) “CP là sự hao phí vật phẩm hoặc dịch vụ
liên quan đến việc tạo ra kết quả và đánh giá được”[65, tr 69]
TheoWoehe (1990) “CP là sự hao phí xét trên phương diện giá trị các vật
phẩm và dịch vụ để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm cũng như để duy trì năng lực sản xuất cần thiết cho việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đó” [73, tr1218]
Theo Belverd E.Needles Jr, Henry R.Anderson, James C.Caldwell (2009)
“CP là khoản tiền chi ra, hoặc việc sử dụng các tài sản có, hoặc việc gây ra các khoản nợ (hoặc kết hợp cả hai) do việc giao hàng, sản xuất hàng hóa, cung cấp dịch vụ hoặc các hoạt động khác tạo thành các hoạt động liên tục, quan trọng, trọng yếu của đơn vị kinh doanh đó” [62, tr 121]
Đồng quan điểm với các tác giả trên, theo Trần Xuân Nam (2010) “CP là
một thước đo bằng những khoản tiền của một số các nguồn lực được sử dụng cho một mục đích [40, tr335] Thước đo được sử dụng các nguồn lực hữu hình,
vô hình, thể hiện bằng tiền để có thể tổng hợp được các nguồn sử dụng; CP gắn với một mục đích cụ thể nào đó như sản phẩm, dự án, phòng ban, khách hàng…
Trang 30Các quan điểm này đều chỉ ra rằng bản chất của CP là hao phí của các nguồn lực, các yếu tố đầu vào để tạo ra các sản phẩm, dịch vụ; CP phải đo lường
và đánh giá được
Theo Ủy chuẩn mực kế toán quốc tế (IASC) định nghĩa “CP là các khoản
làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ phải trả dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho các chủ sở hữu” [40,
tr188]
Quan điểm của IASC nghiên cứu, nhấn mạnh và chú trọng CP với khía cạnh là một yếu tố của BCTC bao gồm việc cung cấp thông tin “tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán” và ảnh hưởng đến các yếu tố khác trên BCTC của doanh nghiệp CP sẽ làm giảm tài sản, tăng các khoản nợ dẫn đến giảm vốn chủ sở hữu
Thuật ngữ “CP” thường được sử dụng gắn liền với các loại CP cụ thể cho một mục đích nhất định [44, tr160]
Đứng trên góc độ của KTTC hướng vào đối tượng sử dụng thông tin chủ yếu là bên ngoài doanh nghiệp có lợi ích liên quan: CP được nhìn nhận như những khoản phí tổn đã phát sinh gắn liền với hoạt động của doanh nghiệp bao gồm các CP phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường của doanh nghiệp và các CP khác; CP được định lượng bằng một lượng tiền đã chi ra, một mức giảm sút tài sản, tăng một khoản nợ phải trả ; CP được đặt trong mối quan hệ với tài sản, vốn sở hữu của doanh nghiệp, được ghi nhận trên cơ sở chứng từ, tài liệu, bằng chứng chứng minh là phí tổn thực tế trong hoạt động sản xuất kinh doanh
Đứng trên góc độ của KTQT thu thập, xử lý và cung cấp thông tin về các hoạt động kinh tế tài chính cho các nhà quản trị trong doanh nghiệp để đề ra các quyết định trong quá trình quản trị và điều hành doanh nghiệp: CP nhìn nhận chủ yếu theo khía cạnh nhận diện thông tin để ra quyết định quản trị; CP có thể
là phí tổn thực tế gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày khi tổ
Trang 31chức thực hiện, kiểm tra, ra quyết định; CP cũng có thể là phí tổn ước tính để thực hiện một hoạt động sản xuất kinh doanh, những phí tổn mất đi do lựa chọn phương án, hy sinh cơ hội kinh doanh
Như vậy, về bản chất CP trong doanh nghiệp chính là:
- CP là tổng giá trị những nguồn lực doanh nghiệp đã hao phí cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ
- CP phát sinh làm giảm vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp nhưng không bao gồm các khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu
Hiểu và nhận diện đúng về CP giúp công tác kế toán CP khoa học, hợp lý
từ đó cung cấp thông tin phục vụ cho việc lập BCTC và giúp các nhà quản trị trong doanh nghiệp kiểm soát tốt CP phát sinh trong phạm vi quản lý, sử dụng chúng như một công cụ để gia tăng KQKD trong doanh nghiệp
- Phân loại CP trong DNSX
Phân loại CP trong DNSX xuất phát từ nhu cầu ghi chép, phản ánh và cung cấp thông tin Thông tin kế toán được cung cấp từ hai hệ thống KTTC và KTQT
Dựa trên cơ sở các tiêu thức, CP được phân chia, sắp xếp theo từng loại, từng nhóm Các cách phân loại CP cơ bản có liên quan đến mục đích nghiên cứu của luận án cụ thể như sau:
Phân loại CP theo nội dung kinh tế cho biết kết cấu, tỷ trọng từng loại CP
mà doanh nghiệp đã sử dụng trong hoạt động sản xuất kinh doanh, cung cấp thông tin lập thuyết minh BCTC, cung cấp tài liệu lập dự toán CP sản xuất kinh doanh CP trong DNSX bao gồm các yếu tố: CP nguyên liệu, vật liệu; CP nhân
công; CP khấu hao TSCĐ; CP dịch vụ mua ngoài; CP bằng tiền khác
Phân loại CP theo chức năng là căn cứ để xác định giá thành sản xuất và
giá thành toàn bộ trong DNSX, cung cấp các thông tin có hệ thống để lập BCTC, kiểm soát CP phát sinh theo hoạt động Theo cách phân loại này, trong DNSX
CP được chia làm các khoản mục:
Trang 32+ Các khoản mục CP thuộc phạm vi sản xuất của doanh nghiệp và là căn
cứ để xác định giá thành sản xuất, cấu thành lên giá vốn khi sản phẩm tiêu thụ
CP nguyên liệu, vật liệu trực tiếp là toàn bộ CP về NVL chính, phụ sử dụng trực tiếp vào việc sản xuất chế tạo sản phẩm CP nguyên vật liệu trực tiếp thường chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành sản xuất sản phẩm của các DNSX
CP nhân công trực tiếp bao gồm toàn bộ các khoản tiền lương, phụ cấp có tính chất tiền lương, các khoản trích theo lương của lao động trực tiếp sản xuất, chế tạo sản phẩm Cũng như CP nguyên vật liệu trực tiếp, trong DNSX CP nhân công trực tiếp cũng dễ nhận diện, định lượng chính xác, tập hợp kịp thời khi phát sinh, có thể căn cứ vào các chứng từ để tập hợp trực tiếp cho từng loại sản phẩm
CP sản xuất chung bao gồm toàn bộ những khoản CP còn lại phát sinh ở
bộ phận sản xuất ngoài CP nguyên vật liệu trực tiếp và CP nhân công trực tiếp
CP sản xuất chung bao gồm CP nhân viên phân xưởng, CP vật liệu, CP dụng cụ, khấu hao TSCĐ, dịch vụ mua ngoài dùng cho quản lý phân xưởng CP sản xuất chung bao gồm nhiếu yếu tố CP có đặc điểm, nguồn gốc phát sinh khác nhau, liên quan đến nhiều hoạt động trong doanh nghiệp lên quá trình tập hợp thường chậm và phức tạp Mặt khác việc phân bổ dễ làm sai lệch CP đặc biệt đối với những quy trình sản xuất mà khoản mục CP này chiếm tỷ trọng lớn, ảnh hưởng đến độ tin cậy của các chỉ tiêu giá thành
+ Các khoản mục CP phát sinh ngoài phạm vi sản xuất bao gồm CP bán hàng và CP quản lý doanh nghiệp, CP hoạt động tài chính
CP bán hàng là những khoản CP đảm bảo cho việc thực hiện chiến lược
và chính sách bán hàng của doanh nghiệp
CP quản lý doanh nghiệp là những CP liên quan đến khâu quản lý kinh doanh, quản lý hành chính, điều hành doanh nghiệp CP quản lý doanh nghiệp bao gồm nhiều yếu tố CP, có nguồn gốc đặc điểm khác nhau, liên quan đến quy
mô tổ chức của doanh nghiệp vì vậy việc tập hợp thường chậm, việc phân bổ phức tạp hay dẫn đến sai lệch thông tin CP trong từng sản phẩm
Trang 33+ CP hoạt động tài chính là các khoản CP liên quan đến các hoạt động về vốn như CP liên doanh, đầu tư tài chính
Phân loại CP theo mối quan hệ của CP với các khoản mục trên BCTC
cho thấy được sự chuyển dịch của CP vào KQKD trong DNSX Theo cách phân loại này, CP trong DNSX bao gồm:
CP sản phẩm là những CP gắn liền với sản phẩm sản xuất ra trong kỳ Trong DNSX các CP sản phẩm như CP nguyên vật liệu trực tiếp, CP nhân công trực tiếp, CP sản xuất chung phát sinh trong kỳ CP sản phẩm phát sinh ở một kỳ
và ảnh hưởng đến KQKD của nhiều kỳ CP sản phẩm trở thành CP về giá vốn hàng bán trên báo cáo KQKD khi sản phẩm tiêu thụ và nằm ở giá vốn của hàng tồn kho nếu sản phẩm chưa bán
CP thời kỳ là những khoản CP phát sinh trong kỳ hạch toán và ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận trong kỳ, khoản CP hoàn toàn biệt lập với quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm, bao gồm các khoản CP bán hàng, chi lãi tiền vay, CP quản lý hành chính
Phân loại CP theo mối quan hệ với mức độ hoạt động là cách nhận diện
CP cơ bản của KTQT Nó giúp nhà quản trị thấy được cách ứng xử của CP từ đó đưa ra kế hoạch CP, kiểm soát và chủ động điều tiết tốt CP, đưa ra các quyết định kinh doanh nhanh chóng và hiệu quả Theo cách phân loại này, CP trong
DNSX bao gồm:
+ CP khả biến (biến phí) là khoản CP nếu xét về tổng số sẽ thay đổi tỷ lệ thuận với những biến đổi của mức độ hoạt động, còn nếu xét trên một đơn vị mức độ hoạt động biến phí có thể là một hằng số Biến phí bao gồm biến phí tỷ
lệ (là biến phí mà sự biến động của chúng hoàn toàn tỷ lệ thuận với mức độ hoạt động) và biến phí cấp bậc (là loại biến phí mà sự thay đổi của chúng chỉ xảy ra khi mức độ hoạt động đạt đến một giới hạn, phạm vi nhất định) Mức độ hoạt động có thể là số lượng sản phẩm sản xuất, tiêu thụ, số giờ máy hoạt động Trong DNSX biến phí tồn tại khá phổ biến Biến phí tỷ lệ như CP nguyên vật liệu trực tiếp, CP nhân công trực tiếp, CP hoa hồng bán hàng Biến phí cấp
Trang 34bậc như CP lương lao động bảo dưỡng, CP điện năng tiêu thụ Để kiểm soát tốt biến phí tỷ lệ không chỉ kiểm soát tổng số mà còn phải kiểm soát tốt biến phí trên một đơn vị mức độ hoạt động, xây dựng, hoàn thiện định mức biến phí tỷ lệ
sẽ là cơ sở để tiết kiệm và kiểm soát tốt CP Với biến phí cấp bậc thay đổi theo từng bậc vì vậy muốn tiết kiệm và kiểm soát tốt biến phí cấp bậc cần phải xây dựng, hoàn thiện định mức biến phí cấp bậc ở từng cấp bậc tương ứng
+ CP bất biến (định phí) là CP nếu xét về tổng số không thay đổi hoặc ít
có sự thay đổi trong phạm vi giới hạn của mức độ hoạt động nhưng nếu xét trên một đơn vị mức độ hoạt động thì tỷ lệ nghịch với mức độ hoạt động Định phí bao gồm định phí bắt buộc (loại định phí tồn tại lâu dài trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, không thể cắt giảm toàn bộ trong một thời gian ngắn) và định phí không bắt buộc (loại định phí gắn liền với quyết định hàng năm của nhà quản trị, có thể xem xét điều chỉnh tăng, giảm hoặc cắt giảm toàn bộ) Trong DNSX, định phí bắt buộc thường là các CP liên quan đến máy móc thiết bị như khấu hao TSCĐ, CP bảo dưỡng máy móc ; các CP thuộc về định phí không bắt buộc như CP quảng cáo, nghiên cứu sản phẩm mới, đào tạo nhân viên Việc kiểm soát định phí bắt buộc phải gắn liền với những kế hoạch dài hạn ngược lại với định phí không bắt buộc thường gắn liền với kế hoạch có tính chất ngắn hạn Tuy nhiên việc phân chia này chỉ có tính chất tương đối phụ thuộc vào nhận thức chủ quan của nhà quản trị
+ CP hỗn hợp là những CP bao gồm cả biến phí và định phí Ở mức độ hoạt động căn bản, CP hỗn hợp thường thể hiện là định phí, khi vượt khỏi mức
độ hoạt động căn bản, CP hỗn hợp bao gồm cả biến phí Vì vậy, để quản lý và kiểm soát tốt CP hỗn hợp cần thiết phải tách biệt thành hai bộ phận biến phí và định phí Từ đó tiến hành xây dựng phương trình dự toán CP hỗn hợp Phương trình dự toán CP hỗn hợp cho phép dự báo chính xác và kịp thời CP hỗn hợp ở các mức độ hoạt động cụ thể trong tương lai Có thể sử dụng các phương pháp
cơ bản để xây dựng phương trình dự toán CP hỗn hợp như phương pháp cực đại – cực tiểu, phương pháp đồ thị phân tán, phương pháp bình phương bé nhất
Trang 35Phân loại CP căn cứ vào thẩm quyền ra quyết định giúp nhà quản trị
thuộc từng cấp quản lý trong doanh nghiệp hoạch định được dự toán CP chính xác hơn, hạn chế sự bị động về việc huy động nguồn lực, đưa ra phương hướng tăng cường CP kiểm soát cho từng cấp Theo cách phân loại này, CP trong
Phân loại CP theo khả năng quy nạp vào đối tượng chịu CP chủ yếu liên
quan đến kỹ thuật hạch toán CP theo đối tượng, bao gồm:
+ CP trực tiếp là những CP liên quan trực tiếp và được tập hợp thẳng đến từng đối tượng chịu CP CP trực tiếp dễ nhận dạng, hạch toán chính xác thuận lợi cho việc kiểm soát CP
+ CP gián tiếp là những CP chung liên quan đến nhiều đối tượng chịu CP, được tập hợp chung sau đó lựa chọn tiêu thức phù hợp để phân bổ vào CP Việc phân bổ CP gián tiếp phụ thuộc vào tiêu thức phân bổ nhà quản trị lựa chọn Vì vậy độ chính xác của CP phụ thuộc vào mức độ khoa học của tiêu thức phân bổ
Phân loại CP theo các loại CP được sử dụng trong quá trình lựa chọn phương án giúp các nhà quản trị doanh nghiệp xác định thông tin thích hợp phục
vụ cho việc ra các quyết định cho các hoạt động trong tương lai, bao gồm:
+ CP chênh lệch là khoản CP có ở phương án sản xuất kinh doanh này nhưng không có hoặc chỉ có một phần ở các phương án sản xuất kinh doanh khác
+ CP cơ hội là lợi ích bị mất đi do chọn phương án kinh doanh này thay vì chọn phương án kinh doanh khác
+ CP chìm là CP đã phát sinh, nó có ở tất cả các phương án sản xuất kinh doanh
Trang 36Các cách phân loại CP theo mối quan hệ với mức độ hoạt động, phân loại
CP căn cứ vào thẩm quyền ra quyết định và phân loại CP theo các loại CP được
sử dụng trong quá trình lựa chọn phương án chủ yếu phục vụ cho nhà quản trị lập kế hoạch, điều hành, phân tích, đánh giá và đưa ra các quyết định kinh doanh trong doanh nghiệp
1.2.1.2.Bản chất, phân loại DT trong DNSX
- Bản chất DT
Theo IASC định nghĩa “Thu nhập (hay DT và thu nhập khác) là các lợi
ích kinh tế được tăng lên trong kỳ kế toán, dưới hình thức của các dòng tiền vào, hoặc tăng các tài sản hay giảm các khoản nợ phải trả dẫn đến làm tăng vốn chủ
sở hữu nhưng không bao gồm khoản góp vốn của các chủ sở hữu vốn” [40,
tr188]
Học viện đào tạo các kế toán viên công chúng của Mỹ (AICPA) định
nghĩa “DT là tổng số gia tăng tài sản hay là sự giảm các khoản nợ được công
nhận và được định lượng theo đúng các nguyên tắc kế toán được chấp thuận, là kết quả của các loại hoạt động có lợi nhuận của doanh nghiệp và có thể làm thay đổi vốn chủ sở hữu” [46, tr20]
Theo Hệ thống chuẩn mực kế toán Mỹ định nghĩa “DT là một dòng vào
doanh nghiệp của tiền, các khoản phải thu của khách hàng hay giá trị hàng đổi được từ phía khách hàng để đổi lấy việc được sử dụng, được cung cấp các dịch
vụ hay sản phẩm từ phía doanh nghiệp” [55, tr39]
Theo Belverd E.Needles Jr, Henry R.Anderson, James C.Caldwell
“Doanh thu là tiền thu vào hoặc những khoản tăng khác của tài sản của một đơn vị kinh doanh, hoặc sự thanh toán các khoản nợ (kết hợp cả hai) thông qua việc giao hàng hay sản xuất hàng hóa, cung cấp dịch vụ hoặc các hoạt động liên tục quan trọng hoặc chủ yếu của đơn vị kinh doanh đó” [62, tr 121]
Như vậy về bản chất DT chính là
- DT là sự tăng thêm về lợi ích kinh tế phát sinh từ các hoạt động kinh doanh thông thường trong kỳ dưới hình thức dòng vào và tăng trưởng của tài
Trang 37sản hoặc là sự giảm đi của công nợ phải trả dẫn tới sự tăng lên về vốn chủ sở hữu
- DT làm tăng vốn chủ sở hữu không bao gồm các khoản vốn góp của cổ đông hoặc chủ sở hữu
- Phân loại DT trong DNSX
DT có ý nghĩa quan trọng đối với toàn bộ các hoạt động của doanh nghiệp, đảm bảo trang trải CP, thực hiện tái sản xuất DT phát sinh từ nhiều nguồn, từ nhiều hoạt động khác nhau Để phục vụ cho công tác quản lý và kế toán, DT được phân loại theo những tiêu thức khác nhau Các cách phân loại DT cơ bản
có liên quan đến mục đích nghiên cứu của luận án cụ thể như sau:
Phân loại DT theo hoạt động của doanh nghiệp: giúp doanh nghiệp tổ
chức thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin xác định khoản thu từ các hoạt động, xác định kết quả theo hoạt động, là căn cứ để lập báo cáo KQKD trong doanh nghiệp Trên phương diện KTTC, các hoạt động của doanh nghiệp bao gồm hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường và hoạt động khác Vì vậy, theo cách phân loại này, DT trong DNSX phát sinh từ hai hoạt động:
+ DT từ hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ bao gồm:
DT bán hàng hóa là toàn bộ DT của khối lượng hàng hóa tiêu thụ trong kỳ
DT bán thành phẩm là toàn bộ DT của khối lượng sản phẩm tiêu thụ trong
kỳ
DT cung cấp dịch vụ là toàn bộ DT của khối lượng dịch vụ đã hoàn thành,
đã cung cấp cho khách hàng và được xác định là đã bán trong kỳ
DT trợ cấp, trợ giá là toàn bộ DT từ các khoản trợ cấp, trợ giá khi doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ sản xuất và tiêu thụ theo chính sách giá của Nhà nước
DT kinh doanh bất động sản đầu tư bao gồm toàn bộ DT cho thuê, bán, thanh lý bất động sản đầu tư
DT khác bao gồm các khoản DT ngoài các hoạt động kể trên như DT từ bán phế liệu, nhượng bán công cụ dụng cụ
Trang 38+ DT từ hoạt động tài chính bao gồm tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức và lợi nhuận được chia…
Phân loại DT theo mối quan hệ với điểm hòa vốn giúp doanh nghiệp xác
định mức sản lượng, DT để đạt được lợi nhuận mong muốn, đưa ra các quyết định kinh doanh trong ngắn hạn… bao gồm:
+ DT hòa vốn là mức DT mà tại đó lợi nhuận bằng không hay DT vừa đủ
để bù đắp CP
+ DT an toàn là mức DT mà doanh nghiệp có được sau khi đã bù đắp các khoản CP
Phân loại DT theo phương thức thanh toán cung cấp thông tin để phân
tích, đánh giá khả năng thanh toán, căn cứ lập dự phòng phải thu khó đòi, giúp doanh nghiệp xây dựng các dự toán về công nợ và CP bao gồm:
+ DT bán hàng thu tiền ngay bao gồm toàn bộ DT của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ… tiêu thụ trong kỳ và khách hàng đã thanh toán ngay tại thời điểm mua hàng
+ DT bán hàng chưa thanh toán bao gồm toàn bộ DT của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ… tiêu thụ trong kỳ khách hàng còn nợ chưa thanh toán tại thời điểm mua hàng
Phân loại DT căn cứ vào yêu cầu quản trị doanh nghiệp
+ DT bán hàng ra bên ngoài bao gồm toàn bộ DT của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ … tiêu thụ cho đối tượng khách hàng bên ngoài doanh nghiệp
+ DT tiêu thụ nội bộ bao gồm toàn bộ DT của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ… tiêu thụ trong nội bộ doanh nghiệp giữa các đơn vị thành viên trực thuộc trong TCT, công ty
+ DT xuất khẩu bao gồm toàn bộ DT của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ…tiêu thụ ra nước ngoài
+ DT nội địa bao gồm toàn bộ DT của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ…tiêu thụ trong nước [52, tr202]
Trang 39Một số cách phân loại DT loại như phân loại theo mối quan hệ với điểm hòa vốn, phân loại căn cứ vào yêu cầu quản trị doanh nghiệp chủ yếu phục vụ
cho yêu cầu của KTQT Nhận diện và phân loại DT trên phương diện KTQT
theo các cách khác nhau chủ yếu cung cấp thông tin cho nhà quản trị thực hiện các chức năng quản trị trong doanh nghiệp và gắn liền với mục đích sử dụng thông tin tại từng thời điểm khác nhau để ra các quyết định, phương án kinh doanh trong doanh nghiệp
1.2.1.3.Bản chất, phân loại KQKD trong DNSX
- Bản chất KQKD
Theo IAS 08 “Kết quả từ hoạt động thông thường là kết quả những hoạt
động được doanh nghiệp tiến hành với tư cách là một phần hoạt động kinh doanh của mình và những hoạt động liên quan mà doanh nghiệp tham gia” [40]
Như vậy về bản chất, kết quả kinh doanh chính là kết quả cuối cùng của tất cả các hoạt động trong doanh nghiệp Lợi nhuận là thước đo, là chỉ tiêu phản ánh KQKD của doanh nghiệp Đây là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp rất quan trọng để đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Quan điểm về Lợi nhuận dưới góc độ KTTC
Theo Framework, lợi nhuận là giá trị còn lại sau khi lấy thu nhập trừ đi các CP (bao gồm cả các khoản điều chỉnh để bảo toàn vốn) Tất cả số tiền vượt quá số được yêu cầu để bảo toàn vốn vào thời điểm đầu kỳ là lợi nhuận
Cách xác định lợi nhuận trong kỳ tương ứng với các khái niệm về vốn và bảo toàn vốn về mặt tài chính và về mặt vật chất:
Bảo toàn vốn về mặt tài chính: Lợi nhuận là số tăng trong vốn bằng tiền danh nghĩa trong kỳ
Bảo toàn vốn về mặt vật chất: Lợi nhuận là số tăng trong khả năng sản xuất vật chất trong kỳ [40,192]
Quan điểm về Lợi nhuận dưới góc độ KTQT, các chỉ tiêu thể hiện KQKD
của doanh nghiệp phụ thuộc vào cách phân loại CP trong doanh nghiệp Nếu tiếp cận CP theo chức năng của CP thì chỉ tiêu KQKD cuối cùng thường là lợi
Trang 40nhuận gộp, lợi nhuận trước thuế Còn nếu tiếp cận CP theo mức độ hoạt động thì có lợi nhuận góp (số dư đảm phí, lãi trên biến phí), lợi nhuận Lợi nhuận góp
là số chênh lệch của DT bán hàng và CP biến đổi Lợi nhuận góp chính là phần
bù đắp định phí và là căn cứ để tạo ra thu nhập thuần cho doanh nghiệp Và khi định phí đã được bù đắp, doanh nghiệp đạt điểm hoà vốn thì phần tăng thêm của lợi nhuận góp chính là lợi nhuận
Như vậy, chỉ tiêu lợi nhuận chính là thước đo phản ánh KQKD của doanh
nghiệp Về bản chất, lợi nhuận chính là phần mà doanh nghiệp nhận thêm sau khi đã trừ đi CP có liên quan đến các hoạt động của doanh nghiệp
- Phân loại KQKD trong DNSX
Các cách phân loại KQKD cơ bản có liên quan đến mục đích nghiên cứu của luận án cụ thể như sau:
Phân loại KQKD căn cứ vào hoạt động của doanh nghiệp bao gồm:
+ Kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh được thể hiện qua chỉ tiêu lợi nhuận hay lỗ về hoạt động tiêu thụ sản phẩm hàng hoá, dịch vụ, bất động sản đầu tư và tính bằng số chênh lệch giữa DT thuần về bán hàng và cung cấp dịch
vụ, DT thuần về bất động sản đầu tư với trị giá vốn hàng bán, CP bán hàng, CP quản lý doanh nghiệp, CP kinh doanh bất động sản đầu tư
+ Kết quả hoạt động tài chính là số lợi nhuận hay lỗ từ hoạt động đầu tư tài chính mà doanh nghiệp tiến hành trong kỳ Kết quả này được xác định bằng
số chênh lệch giữa DT thuần hoạt động đầu tư tài chính với CP thuộc hoạt động đầu tư tài chính
Phân loại KQKD theo mối quan hệ với BCTC:
Theo mối quan hệ với BCTC cụ thể là Báo cáo KQKD lập theo phương pháp CP toàn bộ, KQKD trong doanh nghiệp bao gồm:
+ Lợi nhuận gộp được xác định là phần chênh lệch giữa DT thuần của hoạt động bán hàng, cung cấp dịch vụ và Giá vốn hàng bán
+ Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh phần chênh lệch giữa DT thuần của hoạt động bán hàng, cung cấp dịch vụ cộng DT thuần hoạt động tài