b.Khái niệm về thông số chẩn đoán: -Thông số biểu hiện trạng thái của kết cấu: Thông số biểu hiện trạng thái của kết cấu là các thông số biểu thị các quá trình lý hoá, phản ánh tình trạ
Trang 1ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
ĐỀ TÀI: Xây dựng giáo trình điện tử ‘‘sử dụng và sửa chữa ôtô’’
Tín chỉ 1 Sinh viên thực hiện:Chu Đức Anh Giáo viên hướng dẫn: KS Luyện Văn Hiếu
KS Lê Đình Việt
Trang 2Chương 1 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN
Chương 2 QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ BẢO DƯỠNG, SỬA CHỮA Ô TÔ
Chương 3 THIẾT BỊ XƯỞNG VÀ THIẾT BỊ CHẨN ĐOÁN
Tín chỉ 1
Trang 31.1.Độ tin cậy trong khai thác và sử dụng ôtô
1.1.1.Các yếu tố làm giảm độ tin cậy trong quá trình khai thác ôtô
1.1.2 Quy luật biến đổi độ tin cậy theo thời gian sử dụng ôtô
1.2 Các khái niệm và định nghĩa trong chẩn đoán trạng thái kỹ thuật
1.2.1 Các định nghĩa cơ bản
1.3 Các yêu cầu khi chọn thông số chẩn đoán.
1.2.2 Khái niệm về thông số kết cấu và thông số chẩn đoán.
1.4 Phân loại các thông số chẩn đoán
1.5 Một số quy ước và ký hiệu dùng trong bảo dưỡng, sửa chữa ôtô
Trang 41.1.Độ tin cậy trong khai thác và sử dụng ôtô
1.1.1.Các yếu tố làm giảm độ tin cậy trong quá trình khai thác ôtô
- Chất lượng vật liệu, công nghệ chế tạo, lắp ghép
- Điều kiện sử dụng
- Sự mài mòn vật liệu
- Sự xuất hiện các vết nứt nhỏ
- Sự hư hỏng kết cấu chi tiết
- Sự lão hoá vật liệu trong môi trường kết cấu
hoạt động
Trang 51.1.2 Quy luật biến đổi độ tin cậy theo thời gian sử dụng ôtô
- Độ tin cậy là một trong các đặc trưng quan trọng nhất về chất lượng máy và chi tiết máy nói chung và ôtô nói riêng.
- Để nghiên cứu về độ tin cậy của ôtô thông thường người ta tìm hiểu quy luật biến đổi độ tin cậy, quy luật này được thể hiện thông
qua chỉ tiêu của độ tin cậy là Xác suất làm việc không hỏng R(t) hoặc cường độ hư hỏng l (t).
1.1.2.1 Độ tin cậy và cường độ hư hỏng của ôtô
khi không sửa chữa lớn.
Trang 6Giai đoạn III(c):Số
hư hỏng tăng dần
do những nguyên nhân không thể tránh khỏi như các bề
Mặt ma sát bị mòn,vật liệu bị lão hoá,các thiết bị phá hỏng
giảm dần đến cuối thời
kỳ chạy rà.Hành trình làm việc này nằm trong khoảng a = (5 10)10)10)103
km
Giai đoạn II(b): tìnhtrạng của máy móc sauchạy rà được gọi là
tốt nhất Thời kỳ nàyđược gọi là thời kỳ làm việc ổn định và hành trình làm việc trung bình với ôtô được chế tạo tốt tương ứng trong khoảng b=(10)100)10 30)100)10)10)103
km
Trang 7Khoảng hành trình đến sủa chữa lớn lần thứ nhất (L) được tính theo chỉ tiêu không hỏng, là khoảng hành trình xe chạy đến khi độ tin cậy giảm xuống bằng 0)10,9 Sau sửa chữa lớn thì độ tin cậy lại trở lại xấp xỉ bằng1, tuy nhiên lúc này do tần suất hư hỏng tăng lên (23) lần nên khoảng hành trình sửa chữa lớn lần tiếp theo sẽ giảm Hành trình sử dụng đến lần sửa chữa lớn tiếp theo nằm trong khoảng từ (0)10,78 0)10,88)L.
1.1.2.3 Độ tin cậy và hành trình sử dụng của ôtô
khi sửa chữa lớn hai lần
Trang 8Hành trình làm việc của ôtô đến kỳ sửa chữa lớn lần 1 là S1, hành trình đến kỳ sửa chữa lớn lần 2 là S2, hành trình đến kỳ sửa chữa lớn lần cuối là S3, hệ số thời gian được lấy theo tần suất hư hỏng và tính toán bằng giá trị (0)10,78 0)10,88) hành trình làm việc trước đó.
Trang 9Ở những ô tô hiện nay, nếu xét theo điều kiện làm việc hoàn thiện của các cụm tổng thành, thì cụm động cơ có thời gian sử dụng tới kỳ sửa chữa lớn ngắn nhất Vì vậy thường khoảng hành trình sử dụng đến kỳ sửa chữa lớn đầu tiên của ô tô bị giới hạn bởi thời gian động cơ bị mài mòn Đánh giá độ bền lâu của ô tô và cụm tổng thành theo hành trình sử dụng đến sửa chữa lớn bằng các thí nghiệm trên bãi thử.
Trang 10Các định nghĩa cơ bản: trong sử dụng, độ tin cậy làm việc của ôtô
luôn suy giảm, mức độ suy giảm độ tin cậy chung của ôtô phụ thuộcvào độ tin cậy của các hệ thống và chi tiết, bởi vậy để duy trì độ tin
cậy chung cần thiết phải tác động kỹ thuật vào đối tượng
Để xác định tình trạng kỹ thuật có thể tiến hành bằng nhiều cách khác nhau:
Phương thức thứ nhất
Phương thức thứ hai
Xác định tình trạng kỹ thuật trực tiếp Chẩn đoán kỹ thuật
1.2 Các khái niệm và định nghĩa trong chẩn đoán trạng thái kỹ thuật
1.2.1 Các định nghĩa cơ bản.
Khoa học chẩn đoán là một môn khoa học nghiên cứu về phương pháp và công cụ xác định trạng thái kỹ thuật của đối tượng chẩn đoán
Trang 11Chẩn đoán kỹ thuật ôtô là một loại hình tác động kỹ thuật vào quá
trình khai thác sử dụng ôtô nhằm đảm bảo cho ôtô hoạt động có độ tin cậy, an toàn hiệu quả cao bằng cách phát hiện và dự báo kịp thời các hư hỏng và tình trạng kỹ thuật hiện tại mà không cần phải tháo rời ôtô hay tổng thành máy của ôtô
Hệ thống chẩn đoán là hệ thống tổ chức được tạo nên bởi công cụ chẩn đoán và đối tượng chẩn đoán với mục đích xác định tình trạng
kỹ thuật của đối tượng chẩn đoán Qua việc xác định trạng thái kỹ
thuật có thể đánh giá chất lượng hiện trạng, những sự cố đã xảy ra
và khả năng sử dụng trong tương lai
Công cụ chẩn đoán là tập hợp các trang bị kỹ thuật,phương pháp
và trình tự để tiến hành đo đạc, phân tích và đánh giá tình trạng kỹ thuật
Trang 12tượng chẩn đoán có thể là một cơ cấu, tập hợp các cơ cấu, hay toàn bộ
hệ thống phức hợp
Tình trạng kỹ thuật của đối tượng là tập hợp các đặc tính bênTrong
tại một thời điểm, tình trạng kỹ thuật biểu thị khả năng thực hiện chức năng yêu cầu của đối tượng trong điều kiện sử dụng xác định
1.2.2 Khái niệm về thông số kết cấu và thông số chẩn đoán.
a Khái niệm về thông số kết cấu.
Số lượng các tổng thành, các hệ thống, các khâu và từng chi tiết trong ôtô rất lớn Chúng được chế tạo theo các bản vẽ có kích thước và dung sai quy định, có các yêu cầu cụ thể Tất cả các chi tiết lắp thành nhóm, cụm các khâu, tổng thành, toàn bộ ôtô, được gọi là kết cấu
Trang 13điểm nhất định được gọi là thông số trạng thái kỹ thuật của kết cấu Các thông số kết cấu biểu thị bằng các đại lượng vật lý, có thể xác định được giá trị của chúng như: kích thước(độ dài, diện tích, thể tích); cơ (lực, áp suất, tần số, biên độ); nhiệt (độ, ca lo) Các thông số này tồn tại cả khi ô tô hoạt động hay ôtô không hoạt động.
Các giá trị đặc trưng trong các giai đoạn làm việc của thông số kết cấu là:
-Giá trị ban đầu Ho của thông số kết cấu: đã được tính toán theo
yêu cầu kỹ thuật do nhà chế tạo quy định, thường ghi trong bản vẽ hoặc trong các tài liệu hướng dẫn
-Giá trị cho phép Hcp của thông số kết cấu: là ranh giới xuất hiện
hư hỏng, máy bắt đầu trục trặc, các tính năng sử dụng bắt đầu giảm, nhưng vẫn còn khả năng làm việc
Trang 14tượng mất hoàn toàn khả năng làm việc, không thể hoàn thành chức năng tối thiểu quy định Nêu tiếp tục sử dụng thì có thể xảy ra các hư hỏng lớn có ảnh hưởng tới toàn bộ đối tượng vì vậy phải lập tức đình chỉ sử dụng, hay nói cách khác đối tượng đã hết tuổi thọ khai thác.
b.Khái niệm về thông số chẩn đoán:
-Thông số biểu hiện trạng thái của kết cấu: Thông số biểu hiện
trạng thái của kết cấu là các thông số biểu thị các quá trình lý hoá, phản ánh tình trạng kỹ thuật bên trong của đối tượng khảo sát Các thông số này con người hay thiết bị có thể nhận biết được và chỉ xuất hiện khi đối tượng khảo sát hoạt động hay ngay sau khi vừa hoạt động
+Các thông số biểu hiện trạng thái của kết cấu đặc trưng cho đối tượng khảo sát có thể đo được trên ôtô
Trang 15vào tình trạng kết cấu và thay đổi theo sự thay đổi của kết cấu Ví dụ như: sự tăng khe hở trong mối lắp trục và ổ đỡ của động cơ sẽ làm giảm áp suất dầu trong hệ thống dầu bôi trơn cưỡng bức, làm tăng va đập, độ ồn, độ rung cụm tổng thành động cơ
+Một thông số kết cấu có thể biểu hiện trạng thái của ra nhiều thông
số biểu hiện trạng thái của kết cấu và ngược lại một thông số biểu hiện trạng thái của kết cấu có thể biểu diễn nhiều thông số kết cấu bên trong.Các quan hệ này đan xem phức tạp
Trang 16Thông số kết cấu Thông số biểu hiện trạng thái của kết cấu
Tăng khe hở pittông, xylanh, vòng
Mòn cơ cấu phanh Quãng đường phanh tăng
Sai độ chụm bánh xe Xe không chạy thẳng, mòn lốp xe
Mòn cơ cấu lái Góc quay tự do vành lái lớn
Thiếu dầu trong giảm chấn Va đập cứng của cầu và khung xe tăng
thái của kết cấu
Trang 17+Trong quá trình chẩn đoán chúng ta cần các thông số biểu hiện trạng thái của kết cấu, để xác định tình trạng,trạng thái kết cấu bên trong Vì vậy thông số chẩn đoán là thông số biểu hiện trạng thái của kết cấu được chọn trong quá trình chẩn đoán
+Trong khi tiến hành chẩn đoán xác định tình trạng của một kết cấu
có thể chỉ dùng một thông số biểu hiện trạng thái của kết cấu, song trong nhiều trường hợp cần chọn thêm nhiều thông số khác để có thêm
cơ sở suy luận
+Khi lựa chọn đúng các thông số biểu hiện trạng thái của kết cấu được dùng làm thông số chẩn đoán sẽ cho phép dễ dàng phân tích và quyết định trạng thái kỹ thuật của tượng chẩn đoán
Trang 18Các thông số biểu hiện trạng thái của kết cấu được dùng làm thông
số chẩn đoán là những thông số thoả mãn những yêu cầu sau:
1.3.1 Đảm bảo tính hiệu quả :
Cho phép ta có thể căn cứ vào thông số đó để chẩn đoán được tình trạng kỹ thuật của đối tượng chẩn đoán Chẳng hạn công suất động cơ đo được trên bệ đo công suất bánh xe đánh giá chất lượng của toàn bộ động cơ khi làm việc
1.3.2 Đảm bảo tính đơn trị:
Mối quan hệ của thông số kết cấu và thông số chẩn đoán là các hàm đơn trị trong khoảng đo, tức là trong khoảng xác định thì ứng với mỗi trị số của thông số kết cấu chỉ có một trị số của thông số chẩn đoán hay ngược lại
Trang 19Tính nhạy của thông tin trong quan hệ thông số kết cấu H và thông
số chẩn đoán C đảm bảo khả năng phân biệt sự biến đổi tương ứng giữa thông số chẩn đoán theo sự biến đổi của thông số kết cấu tương ứng
1.3.4 Đảm bảo tính ổn định :
Tính ổn định được đánh giá bằng sự phân bố giá trị của thông số chẩn đoán C khi đo nhiều lần, trên nhiều đối tượng đồng dạng, sự biến động các giá trị biểu hiện trạng thái của quy luật giữa thông số kết cấu
và thông số biểu hiện trạng thái của kết cấu có độ lệch quân phương phải nhỏ
1.3.5 Đảm bảo tính thông tin.
Các thông số chẩn đoán cần phải thể hiện rõ hiện tượng và trạng thái kỹ thuật, do vậy thông tin phản ánh được rõ nét khi mật độ phân
bố của các trạng thai kỹ thuật càng tách biệt
Trang 20Các thông số chẩn đoán cần được chọn sao cho thuận lợi cho việc
đo, khả năng có thiết bị đo, quy trình đo đơn giản giá thành đo nhỏ… Đây là một yếu tố luôn thay đổi tuỳ thuộc các tiến bộ trong khoa học
kỹ thuật đo lường Ngày nay do có nhiều thiết bị tiên tiến, nên quá trính đo và công nghệ đo thuận lợi hơn nhiều, tạo điều kiện tự động hoá trong chẩn đoán kỹ thuật Yếu tố này ảnh hưởng đến giá thành của quá trình đo, do vậy khi đảm bảo tính công nghệ còn có nghĩa là đảm bảo tính kinh tế
Lựa chọn các thông số biểu hiện trạng thái của kết cấu chẩn đoán cần xem xét kỹ các tính chất này Khi lựa chọn đúng thông số chẩn đoán cho phép dễ dàng phân tích và quyết định trạng thái kỹ thuật của đối tượng chẩn đoán
Trang 21Các thông số chẩn đoán có những đặc điểm riêng biệt, tuỳ thuộc vào khả năng quyết định trạng thái kỹ thuật của nó đến đối tượng chẩn đoán có thể chia ra:
a Phân loại theo tính chất quan hệ thông tin:
+)Các thông số độc lập: là những thông số có thể chỉ ra hư hỏng hay mức độ trạng thái kỹ thuật cụ thể nào đó của đối tượng chẩn đoán
+)Các thông số có tính phụ thuộc là những thông số mà khi xếp riêng rẽ không đủ chỉ ra hư hỏng hay mức độ trạng thái kỹ thuật cụ thể nào đó của đối tượng chẩn đoán, mà phải tổ hợp cùng các thông
số khác
b Phân loại theo hiệu quả hiệu quả của thông tin từ thông số chẩn đoán:
Trang 22
+) Các thông số chẩn đoán riêng là các thông số chỉ ra tình trạng
kỹ thuật riêng của cụm, bộ phận hay phần tử kết cấu Các thông số này chỉ cho phép đánh giá chất lượng phần tử khảo mà không nói lên tình trạng tổng thể
+) Các thông số chẩn đoán chung là các thông số chỉ ra tình trạng
kỹ thuật chung của cụm, bộ phận hay toàn bộ kết cấu
Trong thực tế, khi đánh giá toàn bộ ôtô cần phải xem xét qua thông số chẩn đoán chung, khi sửa chữa bảo dưỡng dùng chủ yếu là các thông số chẩn đoán riêng cho cụm,bộ phận hay phần tử, các thông số chẩn đoán chung được coi là để tham khảo Sự phân loại này có ý nghĩa rõ nét trong chẩn đoán như khi cần thiết xây dựng các thiết bị, quy trình chẩn đoán
Trang 23+)Các thông số chính là các thông số chịu trách nhiệm chính đánh giá chất lượng, khi đánh giá cần thiết không thể thiếu được, trong chẩn đoán có thể nói là thông số có trọng số lớn.
+)Các thông số tham khảo là các thông số không biểu thị chính xác cho mục đích đánh giá chất lượng, song nó có thể giúp cho việc định hướng chẩn đoán
d) Phân loại theo dạng thông tin thu được
+) Thông số chẩn đoán trạng thái dạng rõ là các thông số có thể biểu thị bằng kết quả cụ thể (biểu thị bằng con số, giá trị)
+) Thông số chẩn đoán trạng thái dạng mờ là các thông số không biểu thị bằng kết quả cụ thể, mà cho ta ở dạng khoảng, vùng nào đó bằng dạng ngôn ngữ Các thông số này thu được do cảm nhận hay
đo trên các thiết bị theo các mức độ khác nhau
Trang 24Đây là ký hiệu lực xiết, mô men xiết của bulông, đai ốc
2 Đây là ký hiệu không dùng lại chi tiết.
3 Đây là ký hiệu phải bôi keo cho bề mặt cần lắp ghép.
Trang 257 Đây là ký hiệu không kết nối búi dây với chân giắc khi kiểm tra.
8 Đây là ký hiệu kết nối búi dây với chân giắc cắm khi kiểm tra.
Trang 269
Đây là quy ước hướng nhìn của mắt
Trang 281 Biển cảnh báo nguy hiểm nơi có điện cao thế.
2 Biển cảnh báo nguy hiểm có nguy cơ cháy nổ
3 Biển cảnh báo nguy hiểm nơi dễ bắ lửa
4 Biển cảnh báo phải cẩn thận
5 Biển cảnh báo dễ ăn mòn
6 Biển cảnh báo nơi có hóa chất độc hại
Trang 297 Biển cấm lửa
Trang 302.1 Mục đích và đối tượng chẩn đoán bảo dưỡng, sửa chữa
2.2 Tổ chức cơ bản của công nghệ bảo dưỡng, sửa chữa ôtô
2.3 Các phương pháp và giải pháp kỹ thuật trong bảo dưỡng, sửa chữa ôtô
2.4 Kiểm định chi tiết và các cụm chi tiết
2.5 Chu kỳ bảo dưỡng, sửa chữa ôtô
2.6 Chạy rà
Trang 312.1 Mục đích, yêu cầu và đối tượng chẩn đoán bảo dưỡng, sửa chữa 2.1.1 Mục đích:
Để sử dụng tốt ôtô, tăng thời hạn sử dụng và đảm bảo độ tin cậy của phương tiện ôtô trong quá trình vận hành, bảo dưỡng kĩ thuật và sửa chữa ôtô là điều cần thiết cần tiến hành kịp thời và có chất lượng Bởi vì, trạng thái kỹ thuật của xe luôn bị thay đổi từ tốt đến xấu trong quá trình khai thác ví dụ như:
-Động cơ giảm công suất, xe không đạt tốc độ tối đa, thời gian gia tốc tăng, sức kéo của xe bị giảm
-Nhiên liệu bị tiêu xăng
-Thời gian phanh và quãng đường phanh tăng, các bánh xe phanh không đều dẫn đến giảm tính năng an toàn
Trang 32Vì vậy, để đảm bảo giữ gìn xe luôn tốt nhằm giảm bớt hư hỏng phụ tùng tạo điều kiện giá thành vận chuyển và an toàn trong giao thông, chúng ta cần tuân thủ nghiêm chỉnh các bước bảo dưỡng kỹ thuật và sửa chữa vì bảo dưỡng và sửa chữa càng hoàn hảo thì độ tin cậy và tuổi thọ của xe ôtô càng cao Tuy nhiên việc làm này còn cần sắp sếp một cách lôgic để đưa đến một kết quả tốt nhất.
Bảo dưỡng ôtô, là công việc dự phòng được tiến hành bắt buộc sau một chu kỳ vận hành nhất định trong khai thác ôtô theo nội dung công việc đã quy định nhằm duy trì trạng thái kỹ thuật của ôtô
Bảo dưỡng là việc cần làm thường xuyên (hàng ngày) Bảo
dưỡngbao gồm hàng loạt các công việc nhất định,bắt buộc phải thực hiện với các loại xe sau một thời gian làm việc, hay quãng đường qui định:
Trang 33-Chủ yếu là kiểm tra, phát hiện những hư hỏng đột xuất, ngăn ngừa chúng để đảm bảo cho cụm máy, xe vận hành an toàn.
-Chăm sóc các hệ thống, các cơ cấu để đảm bảo chúng làm việc an toàn
và không bị hư hỏng
- Giữ gìn hình thức bên ngoài
Còn sửa chữa ngằm mục đích khôi phục khả năng làm việc của các chi tiết, tổng thành của ôtô đã bị hư hỏng nhằm khôi phục lại khả năng làm
việc của chúng Do đó, sửa chữa là công việc phải tiến hành lập tức và kịp thời.
2.1.2.Đối tượng chẩn đoán bảo dưỡng và sửa chữa.
Áp dụng đối với các loại ôtô, nửa rơ moóc (sơmi rơ moóc), rơ moóc tham gia giao thông đường bộ
Trang 342.2 Tổ chức cơ bản của công nghệ bảo dưỡng, sửa chữa ôtô
2.2.1 Tổ chức cơ bản của công nghệ bảo dưỡng ôtô
Bảo dưỡng ôtô, là công việc dự phòng được tiến hành bắt buộc sau một chu kỳ vận hành nhất định trong khai thác ôtô theo nội dung công việc đã quy định nhằm duy trì trạng thái kỹ thuật của ôtô
Bảo dưỡng ôtô còn là biện pháp giúp chủ phương tiện hoặc người lái xe ôtô thực hiện trách nhiệm duy trì tình trạng kỹ thuật của phương tiện theo tiêu chuẩn quy định khi tham gia giao thông đường bộ giữa hai kỳ kiểm định như quy định tại Khoản 5, Điều 50)10 Luật Giao thông đường bộ
Tuỳ theo cấp bảo dưỡng mà mức độ có khác nhau Bảo dưỡng chia làm 2 cấp (theo quyết định số 992/20)100)103/QĐ-BGTVT ngày 0)109/0)104/20)100)103)
- Bảo dưỡng hàng ngày.
- Bảo dưỡng định kỳ.
Trang 352.2.1.1 Bảo dưỡng hàng ngày
Bảo dưỡng hàng ngày do lái xe, phụ xe hoặc công nhân trong trạm bảo dưỡng chịu trách nhiệm và được thực hiện trước hoặc sau khi xe đi hoạt động hàng ngày, cũng như trong thời gian vận hành Nếu kiểm tra thấy tình trạng xe bình thường thì mới được chạy xe
Phương pháp tiến hành kiểm tra chủ yếu là dựa vào quan sát nghe ngóng, phán đoán và dựa vào kinh nghiệm tích luỹ được
Yêu cầu thời gian kiểm tra phải ngắn
a Kiểm tra,chẩn đoán.
(1) Việc kiểm tra, chẩn đoán ôtô được tiến hành ở trạng thái tĩnh(không
nổ máy) hoặc trạng thái động (nổ máy, có thể lăn bánh)
(2) Quan sát toàn bộ bên ngoài và bên trong ôtô, phát hiện các khiếm khuyết của xe
Trang 36(3) Kiểm tra hệ thống điện: ắc qui, sự làm việc ổn định của các đồng
hồ trong buồng lái, đèn tín hiệu, đèn pha, cốt, đèn phanh, còi
(4) Kiểm tra hệ thống lái: Hành trình tự do của vành tay lái, trạng thái làm việc của bộ trợ lực tay lái, hình thang lái
(5) Kiểm tra hệ thống phanh: Hành trình tự do của bàn đạp phanh, trạng thái làm việc và độ kín của tổng phanh, các đường dẫn hơi, dầu (6) Kiểm tra sự làm việc ổn định của động cơ, các cụm, tổng thành và các hệ thống khác
b, Bôi trơn, làm sạch.
(7) Kiểm tra mức dầu bôi trơn của động cơ, truyền lực chính, hộp tay lái Nếu thiếu phải bổ sung
Trang 37(8) Kiểm tra mức nước làm mát, dung dịch ắc qui
(9) Kiểm tra bình chứa khí nén, thùng chứa nhiên liệu, bầu lọc nhiên liệu, bầu lọc dầu
(10)10) Đối với động cơ Diesel cần kiểm tra mức dầu trong bơm cao áp, bộ điều tốc
(11) Làm sạch toàn bộ ôtô, buồng lái, đệm và ghế ngồi, thùng xe Lau sạch kính chắn gió, gương chiếu hậu, đèn, pha, cốt, đèn phanh, biển số
c, Nội dung bảo dưỡng hàng ngày đối với rơ moóc và nửa rơ moóc.
(1) Làm sạch, kiểm tra dụng cụ và trang thiết bị chuyên dùng của rơ moóc, nửa rơ moóc
(2) Kiểm tra thùng, khung, nhíp, xích, chốt an toàn,áp suất hơi lốp, ốc bắt dữ bánh xe, càng, chốt ngang, mâm xoay của rơ moóc, nửa rơ moóc
Trang 38(4) Đối với rơ moóc 1 trục kiểm tra càng nối chân chống, giá đỡ.
(5) Đối với nửa rơ moóc kiểm tra chân chống,cơ cấu nâng và mâm xoay (6) Kiểm tra các vị trí bôi trơn Chẩn đoán tình trạng chung của rơ moóc, nửa rơ moóc
2.2.1.2 Bảo dưỡng định kỳ
Bảo dưỡng định kỳ do công nhân trong trạm bảo dưỡng chịu trách nhiệm và được thực hiện sau một chu kỳ hoạt động của ôtô được xác định bằngquãng đường xe chạy hoặc thời gian khai khác Công việc kiểm tra thôngthường dùng thiết bị chuyên dùng Phải kết hợp với việc sửa chữa nhỏ
(3) Sau khi nối rơ moóc, nửa rơ moóc với ôtô phải kiểm tra khớp, moóc kéo và xích an toàn Kiểm tra tác dụng và phanh của rơ moóc, nửa rơ moóc
Trang 39(1) Rửa và làm sạch ôtô.
(2) Công tác kiểm tra, chẩn đoán ban đầu được tiến hành như mục 1 của bảo dưỡng hàng ngày, trên cơ sở đó lập biên bản hiện trạng kỹ thuật của ôtô
b Kiểm tra,chẩn đoán, xiết chặt và điều chỉnh các cụm, tổng thành,
hệ thống trên ôtô Bao gồm các tổng thành, hệ thống sau:
* Đối với động cơ nói chung:
(1) Kiểm tra, chẩn đoán trạng thái kỹ thuật của động cơ và các hệ thống liên quan
Các nội dung bảo dưỡng kỹ thuật định kỳ ôtô, rơ moóc và nửa rơ moóc
a Công tác tiếp nhận ôtô vào trạm bảo dưỡng
Trang 40(4) Kiểm tra, xiết chặt các bulông, gudông nắp máy, bơm hơi, chân máy,
(3) Kiểm tra, súc rửa thùng chứa nhiên liệu Rửa sạch bầu lọc thô, thay lõi lọc tinh