1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Truyện viết về đề tài dân tộc và miền núi giai đoạn 1945 1975

175 317 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 175
Dung lượng 1,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là một bộ phận trọng yếu của văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975, các tác phẩm truyện viết về đề tài dân tộc và miền núi đã thực sự khẳng định được ý nghĩa, giá trị của mình và nhận

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

_

NGUYỄN MINH TRƯỜNG

TRUYỆN VIẾT VỀ ĐỀ TÀI DÂN TỘC

VÀ MIỀN NÚI GIAI ĐOẠN 1945 - 1975

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC

Hà Nội - 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

_

NGUYỄN MINH TRƯỜNG

TRUYỆN VIẾT VỀ ĐỀ TÀI DÂN TỘC

VÀ MIỀN NÚI GIAI ĐOẠN 1945 - 1975

Chuyên ngành: Lý luận văn học

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS ĐOÀN ĐỨC PHƯƠNG

Hà Nội - 2016

Trang 3

MỤC LỤC

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài……… 4

2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu……… 6

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 6 4 Phương pháp nghiên cứu ……… 7

5 Đóng góp của luận án ……… 7

6 Cấu trúc của luận án……… 8

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu ……… 10

1.1 Một số vấn đề liên quan đến truyện về đề tài dân tộc và miền núi 10

1.1.1 Vấn đề bản sắc dân tộc và gìn giữ bản sắc dân tộc …… 10

1.1.2 Tiếp cận văn hóa học và các tác phẩm văn học về đề tài dân tộc, miền núi 13 1.2 Tình hình nghiên cứu truyện về đề tài dân tộc và miền núi giai đoạn 1945 - 1975………… 16

1.2.1 Tình hình nghiên cứu truyện viết về đề tài dân tộcvà miền núi giai đoạn 1945 - 1975 của các tác giả người Kinh ……… 16

1.2.2 Tình hình nghiên cứu truyện của các tác giả là người dân tộc thiểu số 24 Chương 2: Truyện về đề tài dân tộc và miền núi trong tiến trình văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975 32

2.1 Vai trò của khu vực dân tộc, miền núi trong lịch sử ……… 32

2.2 Văn xuôi về đề tài dân tộc và miền núi phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn 1945 - 1975……… 35

2.2.1 Bước “tạo đà” từ các tác phẩm “truyện đường rừng” của giai đoạn trước năm 1945……… 35

2.2.2 Sự thay đổi về nội dung và khuynh hướng phản ánh của văn xuôi giai đoạn 1945 - 1975……… 39 2.2.2.1 Văn xuôi phản ánh, cổ vũ cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc 40

Trang 4

2.2.2.2 Quần chúng cách mạng là nhân vật trung tâm 42

2.2.2.3 Khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn đóng vai trò chủ đạo ………

46 2.3 Truyện về đề tài dân tộc và miền núi trong bức tranh đa sắc của văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975……… 51

2.3.1 Vấn đề truyền thống, hiện đại trong các truyện về đề tài dân tộc, miền núi 52 2.3.2 Bức tranh về cuộc sống hiện thực của đồng bào các dân tộc vùng cao 58 Chương 3: Hình tượng cuộc sống và con người trong truyện viết về đề tài dân tộc và miền núi giai đoạn 1945 - 1975 63

3.1 Thế giới hình tượng nhân vật ……… 63

3.1.1 Hình tượng nhân dân vùng cao được đổi đời nhờ Cách mạng …… 64

3.1.1.1 Những số phận bất hạnh từ “bóng đêm nô lệ” đến với “ánh sáng Cách mạng”……… 64

3.1.1.2 Những nhân vật đồng bào vùng cao với sức sống tiềm tàng và người cán bộ cách mạng kiên trung ……… 73

3.1.2 Hình tượng nhân dân vùng cao trong công cuộc xây dựng cuộc sống mới 85 3.1.2.1 Cuộc đấu tranh với những lực cản lạc hậu ……… 85

3.1.2.2 Xã hội vùng cao mới với những con người mới ……… 90

3.2 Thế giới thiên nhiên vùng cao ……… 95

3.2.1 Thiên nhiên kỳ vĩ, sinh động, trữ tình ……… 95

3.2.2 Thiên nhiên hòa cảm cùng cuộc sống, sinh hoạt, chiến đấu của con người 102 3.3 Truyền thống văn hóa, phong tục vùng cao ……… 112

Chương 4: Một số phương thức biểu hiện trong truyện viết về đề tài dân tộc và miền núi giai đoạn 1945 - 1975 121

4.1 Nghệ thuật miêu tả……… 122

4.1.1 Nghệ thuật miêu tả thiên nhiên vùng cao ……… 122

4.1.2 Nghệ thuật miêu tả con người vùng cao ……… 126

4.2 Tổ chức cốt truyện, kết cấu……… 133

4.2.1 Cốt truyện dung dị ……… 133

Trang 5

4.2.2 Kết cấu phong phú ……… 140

4.3 Ngôn ngữ và giọng điệu ……… 144

4.3.1 Ngôn ngữ trần thuật phong cách hóa……… 145

4.3.2 Giọng điệu trần thuật nhiều cung bậc ……… 150

Kết luận ……… 157

Danh mục công trình của tác giả liên quan đến đề tài luận án… 161 Danh mục tài liệu tham khảo ……… 162

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Cách mạng tháng Tám (1945) thành công, mở ra một kỷ nguyên mới cho đất nước - kỷ nguyên độc lập, tự chủ Ngày 2/9/1945, tại quảng trường Ba Ðình, Hồ

Chủ Tịch đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng

hòa Ách nô lệ bị đập tan, con người Việt Nam được giải phóng; bừng lên một niềm hạnh phúc lớn lao đến thiêng liêng, như kết quả tất yếu từ khát vọng tự do

và quyết tâm cứu nước của cả dân tộc Hòa cùng bước chuyển tiếp lịch sử vĩ đại

ấy, văn học Việt Nam nói chung, văn xuôi trong đó có truyện viết về đề tài dân tộc và miền núi giai đoạn 1945 - 1975 nói riêng đã bước vào một thời kì phát triển mới, bột phát và mạnh mẽ Khoảng thời gian hơn 30 năm, bằng khả năng phản ánh đặc trưng của mình, các tác phẩm truyện viết về mảng đề tài này đã tạo dựng được bức tranh hiện thực rộng lớn về thiên nhiên núi rừng và cuộc sống của đồng bào các dân tộc vùng cao gắn với những đổi thay cùng cách mạng, kháng chiến và quá trình xây dựng đất nước

Bằng việc thu hút được một đội ngũ đông đảo các tác giả thuộc nhiều thế hệ ở khắp các vùng miền (cả người Kinh và người dân tộc) với bút pháp của chủ nghĩa hiện thực mới, đứng trên lập trường tư tưởng yêu nước, tiến bộ, cách mạng, các truyện viết về mảng đề tài dân tộc, miền núi đã có những đóng góp không nhỏ cho “địa hạt” văn xuôi giai đoạn 1945 - 1975 đồng thời để lại những giá trị tinh thần trường tồn cùng thời gian

cũng là nơi ẩn chứa, lưu giữ những nét đặc trưng văn hóa truyền thống độc đáo của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam và đó cũng chính là nguồn dữ liệu quý phục vụ cho các ngành nghiên cứu khác thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và

Trang 7

nhân văn trong tương lai Điều này càng có ý nghĩa hơn trong giai đoạn hiện nay khi nhiệm vụ gìn giữ, bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc anh em đang được đặc biệt quan tâm Gắn chặt với định hướng dân tộc đi

núi giai đoạn 1945 - 1975 thông qua việc miêu tả hiện thực cuộc sống ở miền núi trong những năm tháng cả dân tộc gồng mình đánh giặc đã góp phần vào nhiệm

vụ củng cố khối đại đoàn kết các dân tộc Việt Nam

Ngoài ra, việc nghiên cứu các truyện thuộc mảng đề tài này còn mang ý nghĩa thời sự và thực tiễn Hiện nay, Đảng, Nhà nước, Chính phủ đã, đang dành rất nhiều chính sách quan tâm đến sự phát triển mọi mặt về kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục, quốc phòng, an ninh ở các khu vực miền núi, nơi sinh sống của đồng bào các dân tộc ít người nhằm hướng đến mục tiêu đưa miền núi tiến kịp vùng xuôi Tất cả những vấn đề phát hiện, đặt ra trong quá trình nghiên cứu, khai

đến những định hướng chỉ đạo của các cấp Do đó việc nghiên cứu truyện về đề

đầy đủ hơn về quá khứ trong việc đánh giá nền văn xuôi cách mạng Việt Nam thế kỷ XX, tạo nền tảng để thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của văn xuôi trong đó

có thể loại truyện về mảng đề tài này trong thế kỷ XXI

Thực hiện luận án nghiên cứu về Truyện viết về đề tài dân tộc và miền núi giai đoạn 1945 - 1975, chúng tôi mong muốn đóng góp thêm một số kiến giải

mới liên quan đến sự vận động và phát triển của thể loại tự sự trong tiến trình phát triển nền văn học Việt Nam hiện đại; trên cơ sở đó cung cấp thêm những tư liệu mới cho quá trình nghiên cứu, học tập và giảng dạy giai đoạn văn học suốt

30 năm kháng chiến giải phóng dân tộc trong thế kỷ XX

Trang 8

2 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu mà luận án tập trung là các tác phẩm truyện (bao

núi của văn học cách mạng Việt Nam được sáng tác trong giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1975 của các nhà văn là người Kinh cũng như người dân tộc thiểu số

2.2 Phạm vi nghiên cứu

Do hạn chế về mặt tư liệu cũng như một số yếu tố khách quan, chủ quan nên chúng tôi chưa khảo sát các truyện viết về mảng đề tài dân tộc và miền núi ở khu vực văn học miền Nam trong giai đoạn 1945 - 1975 và xin dành ở một công trình khác

Giới hạn nghiên cứu của luận án tập trung vào những vấn đề cơ bản sau:

- 1975 thể hiện qua các bình diện con người xã hội, con người văn hóa, con người trong mối quan hệ với tự nhiên, con người cá nhân

- Nghệ thuật của truyện về đề tài dân tộc và miền núi giai đoạn 1945 -

1975 thể hiện thông qua hình tượng nhân vật, cốt truyện, ngôn ngữ

thể hiện thông qua các phương diện hình thức nghệ thuật: truyền thống - hiện đại, bản sắc dân tộc

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

miền núi giai đoạn 1945 - 1975, tác giả công trình muốn tạo ra một góc nhìn đầy

đủ hơn về văn xuôi nói chung, truyện về mảng đề tài này nói riêng Ngoài ra,

Trang 9

luận án cũng nhằm chỉ ra con đường khám phá nghệ thuật, xây dựng cốt truyện, kết cấu, cách xây dựng nhân vật, ngôn ngữ nghệ thuật của từng nhà văn tiêu biểu trong giai đoạn 1945 - 1975

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được những mục đích đã đặt ra, trong bản luận án này, chúng tôi sẽ thực hiện các nhiệm vụ cụ thể:

- Khảo cứu tổng quan về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

- Nghiên cứu, đánh giá truyện về đề tài dân tộc và miền núi đặt trong tiến trình văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975

- Khảo sát, phân tích hình tượng cuộc sống và con người trong truyện viết

về đề tài dân tộc và miền núi giai đoạn 1945 - 1975

- Nghiên cứu một số phương thức biểu hiện trong truyện về đề tài dân tộc

và miền núi giai đoạn 1945 - 1975

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp tiếp cận văn hóa học, phương pháp xã hội học văn học để chỉ ra sự chi phối, tác động của bối cảnh lịch sử, hoàn cảnh xã hội đối với sự phát triển và đặc điểm, tính chất của một khu vực, bộ phận văn học

Luận án sử dụng phương pháp hệ thống để tập hợp và phân chia các tác giả, tác phẩm vào từng bình diện hoặc vấn đề khảo sát

Lý thuyết tự sự học, phương pháp tiểu sử, phương pháp lịch sử - xã hội cũng được tác giả luận án sử dụng khi nghiên cứu sâu vào một số tác phẩm tiêu biểu của một số nhà văn

Ngoài các phương pháp như so sánh, phân tích, tổng hợp thì phương pháp nghiên cứu liên ngành cũng được chúng tôi sử dụng xuyên suốt trong luận án

Trang 10

5 Đóng góp của luận án

5.1 Về mặt lý luận: Luận án là công trình nghiên cứu toàn diện và hệ

thống về mảng truyện đề tài dân tộc và miền núi giai đoạn 1945 - 1975, tạo ra hướng nhìn bao quát, toàn cảnh đối với một mảng nội dung quan trọng, có vị trí đặc biệt trong nền văn xuôi nước nhà Thông qua việc khảo sát, đánh giá các tác phẩm truyện về đề tài dân tộc và miền núi giai đoạn 1945 - 1975 trên cả phương diện nội dung và hình thức nghệ thuật gắn với sự phát triển của thể loại này, trong sự giao thoa, tiếp biến với các thể loại khác của văn học Việt Nam hiện đại, luận án đưa ra những đánh giá khoa học bước đầu về những thành tựu, hạn chế của truyện về mảng đề tài dân tộc và miền núi trong một thời kỳ văn học

phát triển rực rỡ gắn liền với những trang sử oanh liệt của dân tộc

đề tài dân tộc và miền núi hiện nay

Tác giả luận án mong muốn đây sẽ là một tài liệu hữu ích phục vụ cho việc tiếp cận (tìm hiểu, nghiên cứu, dạy và học) các tác phẩm văn học về đề tài dân tộc và miền núi trong đó có thể loại truyện Nói một cách khác, luận án hướng đến mục tiêu góp phần thiết thực vào việc khẳng định vai trò, vị thế và giá trị của các tác phẩm truyện về đề tài dân tộc và miền núi, một bộ phận quan trọng của

Trang 11

nền văn xuôi cách mạng Việt Nam trong những năm tháng hào hùng của lịch sử dân tộc

6 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục các công trình nghiên cứu của tác giả liên quan đến đề tài, Tài liệu tham khảo, luận án được triển khai làm 4 chương như sau:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 2: Truyện về đề tài dân tộc và miền núi trong tiến trình văn xuôi Việt

Nam giai đoạn 1945 - 1975

Chương 3: Hình tượng cuộc sống và con người trong truyện viết về đề tài dân tộc và miền núi giai đoạn 1945 - 1975

Chương 4: Một số phương thức biểu hiện trong truyện về đề tài dân tộc và

miền núi giai đoạn 1945 - 1975

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Một số vấn đề liên quan đến truyện về đề tài dân tộc và miền núi

1.1.1 Vấn đề bản sắc dân tộc và gìn giữ bản sắc dân tộc

Bản sắc dân tộc là gì? Trong thực tiễn đã có rất nhiều ý kiến của các nhà nghiên cứu, nhà khoa học, nhà văn hóa đưa ra khái niệm về bản sắc và bản sắc dân tộc Với cụm từ bản sắc, chúng tôi xin được dẫn ra ở đây khái niệm mà tác

giả Alain J.Lemaitre (hiện là giáo sư Sử học Trường ĐH Haute Alsace, Pháp) đã

đưa ra tại Hội thảo Bản sắc dân tộc, bản sắc đa dạng tại Hà Nội ngày 13/4/2011:

“Bản sắc là cái đồng nhất (với bên trong) và đồng thời khác biệt (với bên ngoài) Bản sắc không đứng yên, một lần là xong, một lần cho mãi mãi, mà biến đổi, cập nhật ” Nhà nghiên cứu Phan Ngọc thì cho rằng: “Bản sắc không phải là một

“cái” mà là một “kiểu”, cái cách một con người hay một dân tộc ứng xử kiểu này hay kiểu khác trước một tình huống, một thách thức, đến từ bên ngoài, từ cái khác, cái lạ ”[142, tr.13]

Phát triển theo logic khái niệm nói trên thì bản sắc dân tộc sẽ cơ bản được

hiểu là tổng thể những phẩm chất, đặc điểm, tính cách, cách thức để tồn tại và biểu hiện của một cộng đồng xã hội - dân tộc cụ thể, riêng biệt mà nhờ đó người

ta mới có thể xác định được một dân tộc giữa quần thể các dân tộc trong cộng

đồng nhân loại nói chung Hoặc cũng có một cách hiểu khác đó là bản sắc dân tộc được hiểu như sự thể hiện phẩm chất của một dân tộc trong tính riêng biệt,

đặc trưng của dân tộc đó Tất cả những gì có thể coi là cốt lõi, chủ yếu, là hình ảnh trung thực về đời sống của một cộng đồng, tạo thành cái gọi là linh hồn, là bản lĩnh, là sức sống mãnh liệt và sự trường tồn của một dân tộc Với dân tộc

Việt Nam thì bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa

Trang 13

được vun đắp nên qua hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước Đó là lòng yêu nước nồng nàn, lòng tự tôn, tự cường dân tộc, lòng nhân ái bao dung, trọng nghĩa tình, đạo lý, cần cù, sáng tạo Tất cả đã kết tinh thành sức mạnh và

in đậm dấu ấn độc đáo của cộng đồng 54 dân tộc trên dải đất hình chữ S

Trong giai đoạn quốc tế hóa và hội nhập sâu rộng như hiện tại, vấn đề gìn giữ, bảo tồn, phát huy bản sắc dân tộc và các giá trị văn hóa truyền thống đã thực

sự trở nên cấp bách, trở thành vấn đề “nóng” được không ít các quốc gia trên thế giới chú trọng, đầu tư, trong đó có các quốc gia thuộc khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, mà Việt Nam cũng không là ngoại lệ Đa phần, các nhà học giả, các nhà văn hóa uy tín của nhiều quốc gia trên các diễn đàn khác nhau thời gian qua đã bày tỏ sự quan ngại sâu sắc của mình về mối quan hệ giữa quá trình phát triển, tốc độ tăng trưởng nhanh chóng của các nền kinh tế một cách mạnh mẽ với công tác bảo tồn tính độc đáo, riêng biệt về văn hóa, phong tục, tập quán của mỗi dân tộc, mỗi cộng đồng Chính vì vậy, ngay vào những năm cuối của thế kỷ XX, các nhà khoa học xã hội - nhân văn của Châu Á đã tổ chức liên tục 03 cuộc hội thảo tại Thủ đô Hà Nội (Việt Nam), thành phố NoọngKhai (Thái Lan) và Thủ đô

Tokyo (Nhật Bản) với chủ đề: Bản sắc dân tộc và văn hóa truyền thống trong hội nhập phát triển và toàn cầu hóa Tại các hội thảo này có nhiều vấn đề cấp

bách được đặt ra xung quanh chủ đề trên với tất cả các nước nằm trong khu vực, trong đó có vấn đề bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc của các dân tộc thiểu số trong thời kỳ hội nhập quốc tế cũng được đưa ra thảo luận - như là một vấn đề quan trọng của hội thảo Với một cái nhìn mang tầm vĩ mô, các học giả của các nước: Nhật Bản, Trung Quốc, Malayxia, Singapo, Thái Lan và Việt Nam đã thống nhất quan điểm: cần phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa bản sắc dân tộc, văn hóa và phát triển; cần phải có những đường lối, chính sách đúng; và phải có một

Trang 14

loạt các biện pháp đồng bộ, liên hoàn trong việc bảo tồn, gìn giữ và phát huy bản sắc riêng của địa phương và tộc người; bên cạnh việc giao lưu, tiếp thu và hợp tác văn hóa giữa các nước để làm giàu thêm, phong phú thêm đời sống tinh thần của nhân dân các dân tộc Riêng đối với vấn đề bảo tồn bản sắc văn hóa của các dân tộc thiểu số ở Châu Á trong đó có Việt Nam đã được hội thảo đặc biệt chú ý với hàng chục tham luận của các nhà văn hóa, nhà khoa học xã hội - nhân văn uy tín của châu lục như: KaWadaJunzo (Nhật Bản), TuWeiMing (Trung Quốc), Hood Salleh (Malaysia), PoncianoL Bennagen (Philippin), Võ Quý, Phan Hữu Dật (Việt Nam) Trong các bài phát biểu của mình, các học giả đều nhấn mạnh:

“Cần phải biết trân trọng bản sắc và tính sáng tạo của nền văn hóa địa phương” (nhà nghiên cứu KaWadaJunzo), “Cần phải bảo tồn văn hóa các dân tộc thiểu số” trong “các thách thức”, “trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế” (các tác giả:

Võ Quý, TuWeiMing, XuJianchu ) ; Và một trong các giải pháp cụ thể mà các nhà nghiên cứu đã đưa ra là: Phải chú ý đến việc bảo tồn ngôn ngữ, bảo tồn văn hóa, văn học nghệ thuật, bảo tồn môi trường sống; đặc biệt là “phải biết quý trọng, bảo vệ và phát huy vai trò cá nhân của các nhà văn hóa dân tộc địa phương, đào tạo và bồi dưỡng những nhân tố, những người tiêu biểu cho sự kế thừa và phát triển văn hóa dân tộc” trong thời kỳ hội nhập

Có thể thấy, đây là những quan điểm đúng đắn, có ý nghĩa quan trọng, có tính định hướng rõ ràng đối với việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong đời sống văn hóa nói chung, trong lĩnh vực văn học nghệ thuật về mảng đề tài dân tộc và miền núi nói riêng Quan điểm này có thể được coi là cơ

sở khoa học và cơ sở thực tiễn để các nhà nghiên cứu, phê bình văn học tích cực

đi sâu vào nghiên cứu, sưu tầm vốn văn học dân gian truyền thống của các dân tộc thiểu số vùng cao, bên cạnh việc nghiên cứu một cách hệ thống, bài bản

Trang 15

“…những sáng tác mới trong thời kỳ hiện đại của các nhà văn viết về đề tài dân tộc, miền núi ” [162, tr.10]

1.1.2 Tiếp cận văn hóa học và các tác phẩm văn học về đề tài dân tộc và miền núi

Xu hướng vận dụng các quan điểm và thành tựu văn hóa để lý giải văn học mới xuất hiện vào khoảng giữa thế kỷ XX mà người khởi xướng là M.Bakhtin, giáo sư văn học người Nga thuộc Đại học Saransk Ông quan niệm rằng: “Trước hết, khoa nghiên cứu văn học cần phải gắn bó chặt chẽ với lịch sử văn học Văn học là một bộ phận không thể tách rời của văn hóa Không thể hiểu nó ngoài cái bối cảnh nguyên vẹn của toàn bộ văn hóa một thời đại trong đó nó tồn tại” Phương pháp tiếp cận văn học từ quan điểm văn hóa học ưu tiên cho việc phục nguyên không gian văn hóa trong đó tác phẩm văn học đã ra đời, xác lập sự chi phối của các quan niệm triết học, tôn giáo, đạo đức, chính trị, luật pháp, thẩm

mỹ, quan niệm về con người từng tồn tại trong một không gian văn hóa xác định đối với tác phẩm về các mặt xây dựng nhân vật, kết cấu, mô típ, hình tượng, ngôn ngữ Tóm lại, phương pháp này thiên về giải mã các hình tượng nghệ thuật, tìm ra dấu ấn của thời đại trong tác phẩm

Phương pháp tiếp cận văn hóa học gần với phương pháp thi pháp học vì

nó vận dụng những tri thức về văn hóa để nhận diện và giải mã các yếu tố thi pháp của tác phẩm Tuy nhiên, điểm khác biệt là ở chỗ, tiếp cận văn hóa học không chủ trương miêu tả thế giới nghệ thuật của tác phẩm như một vũ trụ khép kín mà đặt ra nhiệm vụ đối chiếu, so sánh, truy nguyên các quan niệm văn hóa của thời đại, nơi tác phẩm được sản sinh để tìm nguồn gốc của các dạng thức quan niệm về con người, về không - thời gian trong tác phẩm Xuất phát từ ý thức rằng không có một nền văn hóa chung chung, trừu tượng nằm ngoài không

Trang 16

gian và thời gian, phương pháp tiếp cận văn hóa học luôn chú ý đến tính lịch sử

cụ thể của một quan niệm giá trị văn hóa, đến đặc trưng của cấu trúc hệ thống văn hóa Đến lượt mình, các quan niệm này lại là sản phẩm của những điều kiện lịch sử xã hội cụ thể xác định

Nếu coi văn hóa là các thiết chế đời sống vật chất và đời sống tinh thần của con người, là các giá trị hình thành trong các mối quan hệ ứng xử căn bản: ứng xử xã hội, ứng xử thiên nhiên và ứng xử với bản thân, thì phương pháp tiếp cận văn hóa học cũng có những tiêu chí tương ứng khi nghiên cứu, xem xét,

đánh giá một hiện tượng văn học Trước tiên, cần chú ý tới quan niệm về xã hội

và các kiểu hình tượng xã hội trong văn học Đó là các kiểu không gian tồn tại

của con người: không gian lao động sản xuất, không gian sinh hoạt văn hóa, không gian đấu tranh, không gian xã hội mang màu sắc chính trị và cả không gian xã hội được khúc xạ qua những biểu tượng (ví dụ: các biểu tượng “đất khách quê người”, “chân trời góc bể”, “cõi người ta”, “miền nhân gian” trong

văn học cổ) Thứ hai là quan hệ của con người với thiên nhiên và các hình tượng thiên nhiên Mọi hoạt động của con người không tách rời môi trường thiên nhiên

Thiên nhiên là người bạn, là chứng nhân cho tâm lý, tâm trạng, tình cảm của con người Con người vay mượn từ thiên nhiên những chuẩn mực thể hiện tất cả những gì liên quan đến con người: từ diện mạo, ngoại hình, hành vi đến thế giới nội tâm đều có thể diễn tả bằng hình ảnh thiên nhiên Ngay quy luật vận động của thiên nhiên theo nhịp tuần hoàn cũng được sử dụng để nhận thức về quy luật vận động của lịch sử, để nhận thức diễn trình cuộc sống của con người Thứ ba là

quan niệm về con người gắn với hoàn cảnh lịch sử cụ thể Hình tượng con người

trong văn học mang những phẩm chất gắn với một nền văn hóa nhất định Văn hóa phương Tây lấy con người làm trung tâm của vũ trụ, thế giới được nhào nặn

Trang 17

theo mẫu hình con người thì các kiểu tả ngoại hình, tính cách, cảm xúc của con người cũng thật khác xa với văn học cổ điển phương Đông thường lấy thiên nhiên làm khuôn mẫu để tả con người Ở cả ba tiêu chí nói trên, nguyên tắc của phương pháp tiếp cận văn hóa học là đi tìm ảnh hưởng không chỉ của văn hóa đương thời đối với văn học, mà còn truy nguyên đến cả các truyền thống văn hóa của cộng đồng

Năm 1968, trong lời giới thiệu sách Thơ Hồ Xuân Hương xuất bản bằng

tiếng Nga tại Moskva, nhà Việt Nam học người Nga N.Niculin, dựa trên kết quả nghiên cứu của Bakhtin về Rabelais, cũng đã so sánh sự xâm nhập của văn hóa dân gian Việt Nam vào thơ Hồ Xuân Hương như sự xâm nhập của văn hóa dân

gian Pháp vào sáng tác của Rabelais Trong cuốn sách Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại (Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 1995), nhà

nghiên cứu Trần Đình Hượu đã dùng cách khảo sát văn hóa - lịch sử, đặc biệt là đối với nho giáo, để giải quyết một số vấn đề của văn học trung đại Việt Nam

Nhà nghiên cứu Trần Nho Thìn, tác giả chuyên luận Văn học Trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa (Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2003) đã khẳng định một cách rất có ý thức ở Lời nói đầu là “người viết chọn góc độ văn hóa để

quan sát, giải thích các hiện tượng văn học”

Trên cơ sở những lý luận chung về phương pháp tiếp cận văn hóa học, chúng tôi bước đầu có những soi chiếu vào các truyện về đề tài dân tộc và miền núi giai đoạn 1945 - 1975 để từ đó có những lý giải một cách khách quan, khoa học và tường minh hơn về tính đặc trưng, độc đáo trong mối quan hệ giữa con người vùng cao với thế giới tự nhiên, nguồn gốc sinh ra những phong tục, lễ hội truyền thống được gìn giữ, bảo tồn tự ngàn đời nay

Trang 18

1.2 Tình hình nghiên cứu truyện về đề tài dân tộc và miền núi giai

đoạn 1945 - 1975

Sau bước chuyển vĩ đại của lịch sử dân tộc từ Cách mạng Tháng Tám năm

1945, văn học Việt Nam nói chung, văn xuôi nói riêng chuyển sang một thời kỳ phát triển mới, theo sát, phản ánh công cuộc xây dựng, bảo vệ đất nước độc lập, đấu tranh giành hòa bình, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ Là một bộ phận trọng yếu của văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975, các tác phẩm truyện viết về

đề tài dân tộc và miền núi đã thực sự khẳng định được ý nghĩa, giá trị của mình

và nhận được sự quan tâm, đánh giá, bình luận, nhận xét của các nhà nghiên cứu văn học trong nước Tuy nhiên cho tới thời điểm hiện tại, qua quá trình tìm hiểu, sưu tầm, chúng tôi vẫn chưa thấy xuất hiện một công trình nghiên cứu chuyên biệt nào của các nhà nghiên cứu nước ngoài liên quan đến văn học dân tộc thiểu

số Việt Nam nói chung và truyện về đề tài dân tộc, miền núi giai đoạn 1945 -

1975 nói riêng Chính vì vậy, trong phần nội dung này, chúng tôi chỉ tách ra làm

2 đề mục khảo sát tình hình nghiên cứu truyện về đề tài dân tộc và miền núi giai đoạn 1945 - 1975 của các nhà nghiên cứu Việt Nam, đó là: tình hình nghiên cứu truyện của các tác giả là người Kinh và tình hình nghiên cứu truyện của các tác giả là người dân tộc thiểu số

1.2.1 Tình hình nghiên cứu truyện viết về đề tài dân tộc và miền núi giai đoạn 1945 - 1975 của các tác giả người Kinh

Chúng ta đều biết rằng, những tác phẩm văn xuôi đầu tiên viết về đề tài dân tộc và miền núi lại là những “đứa con tinh thần” của các nhà văn người dân tộc Kinh (Thế Lữ, Lan Khai, Nhất Linh, Hồ Dzếnh ) Tiếp nối quá trình phát triển của các tác phẩm văn xuôi viết về đề tài dân tộc và miền núi giai đoạn 1930

- 1945 mà giới học giả đương thời vẫn thường gọi là Truyện đường rừng, truyện

Trang 19

viết về mảng đề tài này giai đoạn 1945 - 1975 đã nhanh chóng bắt kịp được cùng không khí của thời đại, từ đó đã xuất hiện những tác phẩm có giá trị tư tưởng, nghệ thuật cao, có ý nghĩa đại diện cho thành tựu của nền văn xuôi cách mạng buổi đầu Một đặc điểm nổi bật của giai đoạn này đó là số lượng các tác giả sáng tác truyện về đề tài dân tộc và miền núi còn hạn chế, do đó những năm qua, việc nghiên cứu về mảng văn học này hầu hết chỉ tập trung vào một số tên tuổi nổi bật như Tô Hoài, Nguyên Ngọc, Ma Văn Kháng…

Bước vào con đường văn học và nổi danh từ khá sớm, Tô Hoài từng được tôn vinh là nhà văn cách mạng đóng vai trò mở đường cho những sáng tác về mảng đề tài dân tộc và miền núi Ngay những sáng tác đầu tiên của ông về mảng

đề tài này đã nhận được sự chú ý đặc biệt của giới phê bình văn học Có thể nói

cuốn sách Tô Hoài - về tác gia và tác phẩm của tập thể các tác giả (Nhà xuất bản

Giáo dục, Hà Nội, 2001) đã tập hợp tương đối đầy đủ các bài phê bình, đánh giá

về văn nghiệp của Tô Hoài trong đó có những tác phẩm của ông viết về đề tài dân tộc và miền núi Các nhà nghiên cứu gồm Huỳnh Lý, Nguyễn Đình Thi, Hoàng Trung Thông, Nguyễn Long, Đỗ Kim Hồi, Nguyễn Văn Long, Nguyễn Quang Trung trong các bài viết khác nhau đều đã khẳng định được giá trị của

các tập truyện Núi cứu quốc, Truyện Tây Bắc trong việc khắc họa khá chân

thực, sinh động về bức tranh đồng bào các dân tộc vùng cao chuyển biến từ tình yêu gia đình, làng bản sang tình yêu đất nước, đi theo cách mạng, chống đế quốc, phong kiến, thể hiện rõ nét qua tinh thần đoàn kết dân tộc, sức mạnh của niềm tin

vào tương lai tươi sáng Đánh giá tập truyện ngắn Núi cứu quốc, tác giả Nguyễn Đình Thi cho rằng: “Núi cứu quốc là kết quả của một cuộc chuyển biến chưa

xong Tập truyện chưa dứt khoát trong tư tưởng và tình cảm của tác giả Tô Hoài ghi vội, chưa kịp hòa tư tưởng và tâm hồn theo đề tài ” [165, tr.202] Nhưng khi

Trang 20

đánh giá về tập Truyện Tây Bắc, tác phẩm được tặng giải thưởng lớn, đánh dấu

một bước chuyển mình của nhà văn Tô Hoài trong cách kể, cách tả về vùng núi phía Bắc và đồng bào các dân tộc nơi đây thì tác giả Nguyễn Đình Thi khẳng định: “Trong những tác phẩm trước đây viết về đồng bào miền núi, Tô Hoài thường có những thiên lệch dần về dân tộc, thường nhìn vấn đề dân tộc theo cảm tính của mình, không xuất phát từ hiện thực, từ chính sách dân tộc của Đảng Ở

Mường Giơn, vấn đề dân tộc đã được biểu hiện lên một cách đúng đắn Bút

pháp của Tô Hoài đã có phần thay đổi Cách bố cục câu chuyện đã chặt chẽ, mạch lạc hơn Sự sống phong phú đã bắt buộc Tô Hoài phải khơi sâu xuống tâm

lý của nhân vật Phong cảnh và con người đẹp đẽ của Tây Bắc được ngòi bút của Tô Hoài vẽ nên một cách hết sức sinh động, nên thơ ” [165, tr.210]

Về mặt ngôn ngữ, giọng điệu của tập Truyện Tây Bắc cũng như một số các truyện, ký khác về miền núi của Tô Hoài như Lên Sùng Đô, Nhớ Mai Châu,

Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ tác giả Triều Dương nhận định: “Người ta thường

nhắc đến chất thơ trong những trang tả cảnh của Tô Hoài Điều đó đúng Nhưng

có lẽ nên nói cho rõ thêm: Chất thơ đây không phải là một đôi vẻ đẹp thoáng qua

do cảm hứng bất thần chợt đến mà thông qua sự quan sát kỹ lưỡng, vốn sống lọc lõi về thực tế, kết hợp với sức rung động của nhà nghệ sỹ…” [165, tr.301] Riêng

về cốt truyện, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Long đưa ra ý kiến: “Cốt truyện của các tác phẩm khá đơn giản, bám sát theo diễn biến cuộc đời của nhân vật chính

và được trình bày theo trình tự thời gian”

Đến tiểu thuyết Miền Tây, các nhà nghiên cứu như Hà Minh Đức, Phan

Cự Đệ, Khái Vinh trong cuốn Tô Hoài - về tác gia và tác phẩm lại tập trung nhận

xét, đánh giá về những giá trị thực tiễn thông qua việc đặt ra những vấn đề cụ thể của buổi đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội và củng cố chính quyền cách mạng ở

Trang 21

vùng cao thông qua hệ thống ngôn ngữ nghệ thuật mộc mạc, giản dị, không lạm dụng tiếng địa phương Bài nghiên cứu của các tác giả cũng chỉ ra được một số hạn chế của tập truyện, đó là: Còn nặng mô tả phong tục, tập quán mà chưa đầu

tư đúng mức cho đời sống nội tâm, tính cách điển hình của nhân vật: “ Tác giả mới nêu lên được những biến đổi về kinh tế cũng như cương vị xã hội chứ chưa

đi thật sâu vào những biến đổi bên trong tâm hồn mỗi con người ” [165, tr.85]

Nếu trong lời giới thiệu Tuyển tập Tô Hoài, nhà nghiên cứu Hà Minh Đức

đã đưa ra nhận xét: “Tô Hoài có một năng lực phát hiện và nắm bắt nhanh chóng thế giới khách quan” thì với tác giả Trần Hữu Tá, năng lực đặc biệt của Tô Hoài lại chính là “nhãn quan phong tục đặc biệt nhạy bén, sắc sảo ” Năm 2006, cuốn

sách Phong cách nghệ thuật Tô Hoài và bài viết Đặc điểm thế giới nhân vật Tô Hoài đăng trên Tạp chí Văn học của tác giả Mai Thị Nhung đã tập hợp khá

phong phú các ý kiến về nghệ thuật truyện Tô Hoài trong đó có những tác phẩm viết về đề tài dân tộc và miền núi

Năm 2007, cuốn Truyện ngắn Việt Nam lịch sử - thi pháp - chân dung do

nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ chủ biên đã viết về quá trình ra đời, phát triển của truyện ngắn Việt Nam cùng với những gương mặt tác gia tiêu biểu, trong đó nhà văn Tô Hoài được nhắc đến cùng với các tên tuổi nổi bật như Nam Cao, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố Tác giả cuốn sách đã nhấn mạnh đến một số đặc trưng nghệ thuật truyện Tô Hoài như “lối viết thông minh, hóm hỉnh, thậm chí tinh quái, một đôi nét tâm lý và triết lý đượm sắc thái buồn, pha chút mùi vị chua chát kiểu Nam Cao ”

Cùng thời với Tô Hoài, nhà văn Nguyên Ngọc cũng là một cây bút viết về

đề tài dân tộc và miền núi với những tác phẩm khá nổi tiếng, giành được những giải thưởng quan trọng Tính đến nay, chưa có một công trình nghiên cứu, khảo

Trang 22

cứu độc lập liên quan đến các tác phẩm của Nguyên Ngọc viết về đề tài dân tộc

và miền núi mà hầu hết là những bài viết, bài giới thiệu đăng trong các cuốn tuyển tập hoặc trên các ấn phẩm báo, tạp chí Một số bài viết của các tác giả như

Đỗ Kim Hồi, Nguyễn Đức Đàn, Hà Minh Đức, Phong Lê đều tập trung đánh giá,

khảo cứu hai tác phẩm là Đất nước đứng lên và Rừng xà nu trong mối quan hệ

giao cảm, hòa hợp giữa con người với tự nhiên, từ đó nổi lên hình tượng người anh hùng tập thể thông qua cảm hứng lãng mạn và sử thi, bằng lối kể truyền thống của trường ca và nghệ thuật đồng hiện Đặc biệt, hai nhà nghiên cứu là

Phong Lê và Hà Minh Đức đều khẳng định rằng, Đất nước đứng lên là thành

công nổi bật của Nguyên Ngọc trong việc miêu tả sự gắn bó, kết hợp nhuần nhị giữa sức mạnh, vẻ đẹp của thiên nhiên với sức mạnh, vẻ đẹp của con người Tác

giả Chu Nga trong bài viết đăng trên Tạp chí Văn học số 7/1966 có tên gọi Rừng

xà nu, một hình ảnh rất đẹp của Tây Nguyên chiến đấu đã chỉ ra đặc trưng nổi

bật trong bút pháp của Nguyên Ngọc đó là “Miêu tả những nhân vật anh hùng với những nét khái quát, cô đọng, hàm súc, tạo nên những hình khối lớn, những tính cách kiên cường, song anh cũng có tài chọn lọc những chi tiết nhỏ, những chi tiết giàu tính tạo hình và giàu chất thơ, làm phong phú thêm tính cách nhân

vật” [133] Với tác giả Nguyễn Đăng Mạnh trong bài viết Nguyên Ngọc, con người lãng mạn in trong cuốn Nhà văn Việt Nam hiện đại - chân dung và phong cách (Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 2003) đã phát hiện khá tinh tế về phong

cách văn Nguyên Ngọc là tạo ra sức hút từ một tâm hồn nghệ sỹ luôn hướng về những gì dữ dằn, hoang dã và mãnh liệt Ông là con người của lý tưởng tuyệt đối, ngòi bút cả đời chỉ săn tìm những mẫu hình nhân vật lãng mạn, nghệ sỹ nhưng dũng mãnh, phi thường và nét phong cách này rất phù hợp với những tác phẩm viết về đề tài dân tộc và miền núi nói chung, Tây Nguyên hùng vĩ nói

Trang 23

riêng Còn tác giả Trần Đăng Khoa, trong bài viết Nhà văn Nguyên Ngọc đã nhận

ra một đặc điểm rất nổi bật của Nguyên Ngọc đó là luôn bám sát các vấn đề lớn của chính trị nhưng không khô cứng mà luôn biết cách nâng tác phẩm vượt qua

được danh giới của sự minh họa, Rẻo cao là một tập truyện ngắn tiêu biểu cho

thành công đó

Với nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ trong bài viết mang tên Hình tượng người chiến sỹ cầm súng trong tiểu thuyết về đề tài chiến tranh cách mạng (1945

- 1975) đăng trên Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, chuyên san KHXH số 01/1995

thì: “Đất nước đứng lên là cuốn tiểu thuyết hiện thực xã hội chủ nghĩa đầu tiên,

đã xây dựng thành công một điển hình anh hùng cách mạng Đây là kiểu anh hùng cao cả, ngời sáng Nhân vật được thể hiện trên nhiều bình diện khác nhau (tình yêu, tình vợ chồng, tình đồng chí, tình yêu quê hương, đất nước) nên tính cách khá đa dạng và phong phú Hình tượng Núp hiện lên như một con người rất mới, rất hiện đại nhưng lại gắn liền với những truyền thống tốt đẹp, khát vọng

tự do phóng khoáng, nếp suy nghĩ lâu đời của một dân tộc cổ sơ ” [97b, tr.45 - 52] Từ đó nhà nghiên cứu đánh giá rằng, việc xây dựng những điển hình ngời sáng như Núp thì chất liệu sống phong phú và lý trí tỉnh táo không đủ mà còn cần phải có tình cảm, những xúc động dạt dào trước vẻ đẹp cao cả của người anh hùng Từ một điển hình xã hội, Núp đã trở thành một điển hình nghệ thuật

Cũng giống như Tô Hoài và Nguyên Ngọc, Ma Văn Kháng là một trong

số những nhà văn người Kinh viết về đề tài dân tộc, miền núi được bạn đọc cũng như giới phê bình nghiên cứu quan tâm, đánh giá, nhìn nhận Ngay từ khi một số

tập truyện ngắn, tiểu thuyết đầu tay của ông ra đời như Xa Phủ, Người con trai

họ Hạng, Bài ca trăng sáng đã được các cây bút như Hà Vinh, Lê Hữu Dư,

Nguyễn Đại giới thiệu, tìm hiểu theo hướng ghi nhận những đóng góp của nhà

Trang 24

văn trên phương diện đấu tranh giữa cái cũ - cái mới cùng nhiệt huyết cũng như vai trò tiên phong của tuổi trẻ người Mông ở vùng cao phía Bắc Các ý kiến đều cho rằng, có cảm giác một số nhân vật được nhà văn xây dựng trong giai đoạn này đều tương đối giống nhau về mặt “công thức” tuy nhiên nó vẫn thể hiện được những nét cá tính riêng biệt với diễn biến tâm lý, tình cảm logic, sinh động

Có thể nói, giai đoạn trước năm 1975, sáng tác của nhà văn Ma Văn Kháng được tập trung chủ yếu ở mảng đề tài dân tộc và miền núi, một số nhà nghiên cứu coi đây là giai đoạn thử nghiệm của ngòi bút và hướng sáng tác của ông Với tập

truyện ngắn đầu tay Xa Phủ, nhà văn Ma Văn Kháng đã tạo cho mình được một

định hướng viết khá rõ ràng Bài phê bình tác phẩm đầu tiên là của B.V.N đăng

trên báo Nhân dân ngày 5/7/1970 đã cho rằng, Xa Phủ nhắc đến cái cũ để thấy

được bản chất tốt đẹp của xã hội ta, phản ánh một cách tập trung sự đổi mới của các dân tộc ít người vùng Tây Bắc

Với nhà nghiên cứu Lã Nguyên khi khái quát những sáng tác của Ma Văn Kháng về miền biên ải phía Bắc, ông cho rằng: “Mọi sự chú ý của nhà văn đều

hướng về vùng biên ải Vùng biên ải là nhan đề một cuốn tiểu thuyết của Ma Văn Kháng Các truyện ngắn như Giàng Tả, Kẻ lang thang, Vệ sỹ của quan

châu, Ông lão gác vườn và con chó Phúm, Mã Đại Câu - người quét chợ Mường Cang, Móng vuốt thời gian, Thím Hoóng đều là những truyện ngắn

đặc sắc viết về vùng biên ải Đây mới đúng là mảnh đất cung cấp nhiều chất liệu giúp Ma Văn Kháng đưa ra những khái quát nghệ thuật mới mẻ ” [138] Tác giả

Lã Nguyên cũng khẳng định rằng, sáng tác của Ma Văn Kháng ở giai đoạn đầu gợi dậy ở người đọc tình cảm xót xa, vừa giận vừa thương: xót xa những kiếp người không được làm người, thương cho sự hoang sơ, mông muội và giận thay cho sự bạo tàn, man rợ mang “hình sắc của thời mới khai thiên” Nhìn chung, khi

Trang 25

bàn về tác phẩm của Ma Văn Kháng trong giai đoạn từ 1975 trở về trước, giới nghiên cứu phê bình đều thống nhất khẳng định, sáng tác của nhà văn hầu như tập trung vào đề tài dân tộc và miền núi, những con người vùng cao, những địa danh ông đã đi qua, những cảnh đời ông đã chứng kiến giữa miền biên ải tưởng chừng hoang sơ, xa ngái

Có thể nói, khi viết về đề tài dân tộc và miền núi giai đoạn 1945 - 1975, nhà văn Ma Văn Kháng đã bộc lộ rất rõ nét phong cách nghệ thuật rất đặc trưng,

đó là cảm hứng trước vẻ đẹp phồn thực, cường tráng, bản tính hồn nhiên cùng sự phân cực sâu sắc của con người và cuộc đời trần thế Những đặc điểm này đã được các nhà phê bình, nghiên cứu phân tích khá thấu đáo Có thể kể đến ý kiến

của Nguyễn Văn Toại trong Về một vài biểu hiện đặc điểm dân tộc qua một số tiểu thuyết miền núi đăng trên Tạp chí Văn học (số 4/ 1981); Trần Bảo Hưng

trong Ma Văn Kháng với tiểu thuyết Vùng biên ải đăng trên báo Tiền phong (số 21/1984); Lê Thành Nghị trong Đọc Vùng biên ải của Ma Văn Kháng đăng trên

Tạp chí Văn học (số 2/1985) Hầu hết ý kiến của giới phê bình về các tác phẩm

Ma Văn Kháng sáng tác trong giai đoạn này đều tập trung sự chú ý đến thế mạnh của ông trong các truyện viết về đề tài dân tộc và miền núi, góp phần khẳng định ông là một trong những cây bút chủ lực của văn học Việt Nam hiện đại ở mảng

đề tài này Tuy nhiên các tác giả cũng đã chỉ ra một số điểm hạn chế của Ma Văn Kháng thời kỳ này đó là chưa hóa thân được vào nhân vật để đào sâu tâm lý mặc

dù đã có sự công phu trong khắc họa và phát triển tính cách Nhà nghiên cứu Lã

Nguyên trong bài viết Khi nhà văn đào bới bản thể ở chiều sâu tâm hồn đăng trên Tạp chí Văn học (số 9/1999) đã đánh giá tương đối kỹ lưỡng, sắc sảo về đặc

trưng truyện ngắn Ma Văn Kháng Thông qua việc tìm hiểu nhóm các truyện viết

về đề tài dân tộc và miền núi, nhà nghiên cứu đã phát hiện ra nhãn quan không

Trang 26

bó hẹp trong quan niệm về giai cấp của nhà văn về con người và tình trạng “bán khai” nơi vùng biên ải hoang sơ, mông muội, đó là cái nhìn có điểm tựa vững chắc trên nền tảng quan niệm biện chứng lịch sử “khiến cho nhãn quan giai cấp của Ma Văn Kháng trở nên thấu triệt và thấm đẫm tinh thần nhân bản” Theo tác giả Lã Nguyên, thực ra Ma Văn Kháng không viết về miền núi phía Bắc nói chung mà hướng trọng tâm về vùng biên ải, nơi “lúc nào cũng có hình sắc của thời mới khai thiên Đất hoang hóa chỉ cho phép tồn tại dưới ánh mặt trời những thế lực hùng mạnh, những thủ lĩnh gian ác, những thủ lĩnh thông thạo chiến chinh và kéo theo nó bọn theo đóm ăn tàn, những bản chất bán khai kinh thiên động địa”

Không chỉ ở những bài viết, bài nghiên cứu mà ngay trong lời giới thiệu

bộ sách tập hợp các tiểu thuyết về đề tài dân tộc và miền núi của Ma Văn Kháng (Nhà xuất bản Công an Nhân dân, Hà Nội, 2003), tác giả Nguyễn Ngọc Thiện cũng đã khái quát giá trị các tác phẩm ở vai trò như “cuốn sử biên niên” với những tri thức quý báu về lịch sử - xã hội, phong tục, tâm lý, ngôn ngữ của những cộng đồng dân tộc miền núi phía Bắc, đồng thời khẳng định bước tiến dài trong việc sử dụng các thủ pháp nghệ thuật Nhà nghiên cứu, bằng cách thức tập trung khai thác các khía cạnh, với những góc nhìn đa diện, đa chiều đã chỉ ra được những nét đẹp của văn chương Ma Văn Kháng, cũng như sự nỗ lực, cống hiến hết mình cho văn chương nói chung, văn chương về đề tài dân tộc và miền núi nói riêng

1.2.2 Tình hình nghiên cứu truyện của các tác giả là người dân tộc thiểu số

Văn học Việt Nam hiện đại là một nền văn học phong phú, đa dạng và giàu bản sắc, trong đó tác phẩm của các tác giả là người dân tộc cũng đóng góp

Trang 27

một phần không nhỏ để làm nên đặc điểm này Ở lĩnh vực văn xuôi mà chủ yếu

là loại hình truyện ngắn, truyện vừa phải đến những thập niên 60, 70 của thế kỷ

XX thì các tác phẩm đầu tiên của đội ngũ các tác giả là người dân tộc mới chính thức được công chúng, độc giả biết đến mà theo cách nói của một số nhà nghiên cứu thì đây mới là lúc văn xuôi hiện đại các dân tộc thiểu số hình thành rõ nét

Truyện Ché Mèn được đi họp của nhà văn Nông Minh Châu ra mắt công chúng

năm 1959 được xem như sự khởi đầu cho những tác phẩm văn xuôi hiện đại của các tác giả là người dân tộc thiểu số Và cũng bắt đầu từ những năm 60, 70 của thế kỷ XX thì các tác phẩm thuộc nhóm này mới thường xuyên xuất hiện và khẳng định một cách vững chắc sự có mặt của mình trong đời sống văn xuôi Việt Nam hiện đại Song song với sự ra đời ngày càng đều đặn của các tác phẩm văn xuôi dân tộc thiểu số đó cũng đã xuất hiện một số bài viết đánh giá, phê bình, nhận định có giá trị đúc rút, tổng kết những thành tựu, hạn chế của mảng văn học này Đa số những bài viết đều tập trung vào việc khái quát những vấn đề cơ bản nhất của văn học dân tộc thiểu số nói chung, các tác phẩm truyện nói riêng trong

đó nhấn mạnh đến việc phản ánh, thể hiện các giá trị truyền thống và hiện đại, vấn đề bản sắc văn hóa các dân tộc, lời ăn, tiếng nói, chữ viết, phong tục, nếp

sống… của các bản làng được đưa vào trong tác phẩm Có thể nói cuốn sách 40 năm văn hóa nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam (1945 - 1985) do Nhà

xuất bản Văn hóa, Hà Nội xuất bản năm 1985 là cuốn sách đầu tiên mang tính chất tổng hợp khá đầy đủ các ý kiến nhận xét, đánh giá các tác phẩm truyện của đội ngũ các nhà văn dân tộc thiểu số Những gương mặt tiêu biểu phải kể đến như Phong Lê, Lâm Tiến, Vi Hồng… và nội dung các tác giả này tập trung nghiên cứu nhất đó là: đánh giá thành tựu của văn xuôi các dân tộc thiểu số từ hoàn cảnh ra đời, đội ngũ tác giả, tác phẩm cùng những hạn chế, những vấn đề

Trang 28

đặt ra Trong bài viết Sự hình thành văn xuôi, nhà nghiên cứu Phong Lê đã đánh

giá rằng, sự sống thực và tình cảm thực, cách nhìn và cách nghĩ thực, ngôn ngữ chủ động tự nhiên cùng chất thơ, chất trữ tình là những nét chung của mảng văn học này, khiến nó có được vẻ đẹp riêng không dễ lẫn và “thành tựu của văn xuôi miền núi đã được xác định ở những cố gắng của người viết nhằm đi sâu, nắm bắt cho được những nét riêng trong cảnh sắc sinh hoạt, nét đi đứng, ngôn ngữ, tâm lý của người dân tộc…” Ông cho rằng “các truyện không có sự đan chéo của nhiều tuyến, nhiều tầng truyện, không có những phục hiện, những đồng hiện, không có nhiều và rối rắm…” Đối chiếu tất cả các mặt của vấn đề, nhà nghiên cứu Phong

Lê đánh giá rằng, chính sự đơn giản trong nghệ thuật ấy lại phù hợp với tư duy

và cảm xúc của cả người viết lẫn độc giả chính là đồng bào các dân tộc vùng cao

mà theo cách quan niệm của ông thì nó được coi như “con đường thẳng - cũng tức là con đường ngắn nhất đi đến với hiện thực dân tộc”… Ngoài những yếu tố chung nhất về vấn đề tác giả, tác phẩm văn học dân tộc và miền núi giai đoạn

1945 - 1975, có một nội dung mà hầu hết các nhà nghiên cứu, phê bình đều ít nhiều đề cập đến mặc dù chưa khai thác sâu, phân tích một cách triệt để đó là bản sắc dân tộc và vấn đề truyền thống - hiện đại trong các tác phẩm Tác giả Vũ Minh Tâm có lẽ là nhà phê bình đầu tiên đề cập đến hiện tượng mờ nhạt bản sắc

dân tộc cả ở nội dung và hình thức các tác phẩm thông qua bài viết Văn xuôi miền núi, một thắng lợi mới trong văn học các dân tộc thiểu số công bố năm

1972 Đến đầu những năm 80 của thế kỷ XX, nhà phê bình Đinh Văn Định trong

bài viết Văn học các dân tộc thiểu số mười năm qua với vấn đề truyền thống và hiện đại đã tiếp tục đặt ra những biểu hiện cơ bản của tính hiện đại trong các

truyện và sự kế thừa truyền thống trong cách cảm, cách viết của các tác giả Bàn

kỹ hơn về vấn đề này nhưng ở góc độ nghiên cứu tiểu thuyết, năm 1981 tác giả

Trang 29

Nguyễn Văn Toại trong bài viết Một vài biểu hiện đặc điểm dân tộc qua một số tiểu thuyết miền núi đã thông qua cách tiếp cận văn hóa học để tìm hiểu yếu tố

bản sắc cũng như những nét đặc trưng dân tộc qua một số tác phẩm tiêu biểu

Năm 1988, cuốn sách Nhà văn các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại của

Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc ra mắt độc giả đã giới thiệu các bài viết về 16 nhà văn, nhà thơ dân tộc thiểu số trong đó có 8 cây bút văn xuôi tiêu biểu, gồm: Vi Hồng, Triều Ân, Hoàng Hạc, Nông Minh Châu, Y Điêng, Vi Thị Kim Bình, Mã

A Lềnh, Nông Viết Toại Những bài viết trong cuốn sách này đã phân tích khái quát về những ưu điểm cũng như hạn chế, giá trị nội dung và đặc điểm nghệ thuật trong tác phẩm của các tác giả là người dân tộc thiểu số Nhà nghiên cứu Nông Quốc Thắng nhận xét truyện của Nông Minh Châu “đôi chỗ mới chỉ là sự ghi chép sơ lược các sự kiện”, còn tác giả Phạm Phú Phong thì lại phát hiện ra truyện của Y Điêng “không có tình huống bất ngờ hoặc những thử thách quyết liệt”, nổi bật hơn cả là “lối diễn đạt, giọng điệu mang bản sắc đặc trưng, phù hợp với tâm lý của đồng bào dân tộc ” Với nhà nghiên cứu Hoàng Thi thì các nhân vật trong truyện của Vi Hồng “đều nói năng bóng bẩy, giàu hình ảnh như lối nói của dân ca, khúc chiết như tục ngữ, thành ngữ”, trong khi đó tác giả Lê Kim Vinh lại thể hiện sự tâm đắc đặc biệt với một phong cách truyện độc đáo khi tác giả này nhận định về những tác phẩm của nhà văn Mã A Lềnh mang “nồng nàn hơi thở của dân tộc mình, ngắn gọn, mạnh mẽ nhưng vẫn rất phóng túng” Mặc

dù với những bài viết trong sách Nhà văn các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại,

các nhà nghiên cứu đã bước đầu thể hiện sự quan tâm rất đúng mức đến văn xuôi trong đó có truyện ngắn của các nhà văn là người dân tộc tuy nhiên đa phần dẫn chứng trong các bài viết đều sử dụng từ các tác phẩm được sáng tác sau năm

1975, các truyện của đội ngũ tác giả này từ năm 1975 trở về trước chỉ được điểm

Trang 30

qua một cách khái mang tính chất như đó là một thời kỳ bước đệm, có ý nghĩa tiền đề

Dựa trên số lượng đầu sách cũng như các công trình công bố, tính đến thời điểm hiện tại, những bài nghiên cứu về mảng văn xuôi các dân tộc thiểu số giai đoạn 1945 - 1975 nói chung, truyện nói riêng chưa nhiều, còn tản mạn và chưa thành hệ thống Một tên tuổi khá nổi tiếng mà chúng tôi muốn nhắc đến ở đây đó

là nhà nghiên cứu người dân tộc Nùng - Lâm Tiến Ông chính là tác giả của hai

công trình quy mô đó là Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại (Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 1995) và Văn học và miền núi (Nhà xuất bản

Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 2002) Những công trình này của ông theo đánh giá của giới chuyên môn “mặc dù còn chưa đầy đủ, còn một số mảng trắng” cần được tiếp tục bổ sung tuy nhiên đóng góp lớn nhất của nhà nghiên cứu là đã

“phác họa được một góc nhìn khái quát toàn diện về toàn bộ nền văn học các dân

tộc thiểu số Việt Nam hiện đại” Trong nội dung của cuốn Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại, tác giả Lâm Tiến đã có một dung lượng trang đáng

kể để giới thuyết một số phương diện cơ bản của văn xuôi các dân tộc vùng cao nói chung trong đó có truyện giai đoạn 1945 - 1975 nói riêng Về đặc trưng nghệ thuật của các tác phẩm này, nhà nghiên cứu cũng đã bước đầu chỉ ra những mặt hạn chế như: nhân vật không định hình rõ về tính cách, cốt truyện còn giản đơn, yếu tố hư cấu nghệ thuật chưa được sử dụng hiệu quả nên khó phân biệt được đâu là truyện, đâu là ký Tuy nhiên tác giả công trình cũng khẳng định rằng, sự

kế thừa hiệu quả lối nói giàu hình ảnh của văn học truyền thống chính là điểm sáng nổi bật về nghệ thuật của mảng văn xuôi này Tiếp đó, ở bài viết có tính

chất nhận diện văn xuôi miền núi thế kỷ XX mang tên Một mảng văn học đặc sắc đăng trong cuốn Văn học và miền núi, tác giả Lâm Tiến đã chỉ ra những mặt

Trang 31

mạnh, mặt hạn chế của một số nhà văn dân tộc thiểu số, trong đó đi sâu vào nhận diện một số thành công nổi bật mang bản sắc riêng của truyện Vi Hồng, Hlinh Niê, Mã A Lềnh… Nhà nghiên cứu nhận xét rằng, truyện của Vi Hồng có phong cách rất riêng, đậm đà bản sắc văn hóa Tày, tuy nhiên do cách sử dụng lối ví von truyền thống khá dày đặc nên đôi lúc người đọc có cảm giác truyện nặng nề, mạch kể có phần đơn điệu Ở nội dung nhận xét về truyện thuộc thời kỳ đầu (1957 - 1980) của Vi Hồng, nhà nghiên cứu cho rằng, do chịu ảnh hưởng khá sâu đậm từ văn học dân gian nên chất văn xuôi chưa rõ nét, âm hưởng các tác phẩm thiên về hướng trữ tình nhiều hơn tự sự, các nhân vật thường bị khuôn theo mô típ nhân vật chức năng của truyện dân gian, tính cách thường đơn tuyến, thiếu đi chiều sâu biện chứng Cũng chính thông qua khảo sát, phân tích truyện của một

số nhà văn là người dân tộc thiểu số, nhà phê bình Lâm Tiến đã đi đến nhận xét rằng, truyện của các tác giả người Tày thuộc thế hệ trước bao giờ cũng bộc lộ bản sắc dân tộc rõ nét hơn trong khi đó lớp nhà văn sau này, cách viết đã phần nào chịu ảnh hưởng của “văn phong thành thị”, có đoạn ngôn ngữ truyện chưa giống với ngôn ngữ, lời nói của đồng bào lao động vùng cao đích thực, mặc dù vậy, thế mạnh tiêu biểu có thể nhận thấy trong tác phẩm của họ lại chính là chất văn xuôi tự sự nghệ thuật rõ nét, đậm hơn

Xuất hiện sau này một thời gian, tác giả Phạm Duy Nghĩa được giới chuyên môn và đồng nghiệp đánh giá là nhà nghiên cứu có những sản phẩm nghiên cứu một cách khá tổng thể, chi tiết về mảng văn xuôi Việt Nam hiện đại

chủ đề dân tộc và miền núi Cuốn sách Văn xuôi Việt Nam hiện đại về dân tộc và miền núi do Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc ấn hành năm 2012 đã góp một phần

không nhỏ vào việc hoàn thiện, bổ sung thêm những mảng khuyết trong các thành tựu nghiên cứu đã có về văn xuôi dân tộc và miền núi, một bộ phận cơ

Trang 32

hữu, không thể tách rời trong nền văn học Việt Nam hiện đại Trong công trình của Phạm Duy Nghĩa, thông qua việc khái quát diện mạo văn xuôi Việt Nam hiện đại về dân tộc và miền núi trong cả giai đoạn trước và sau Cách mạng tháng Tám nhưng đặc biệt tập trung vào thời kỳ đương đại (tức là khoảng 30 năm trở lại đây), tác giả đã tiếp cận nền văn xuôi này từ các bình diện về con người để qua đó khám phá nghệ thuật văn xuôi miền núi và vấn đề truyền thống - hiện đại đồng thời nhận diện một số phong cách văn xuôi miền núi Bên cạnh đó, thời gian gần đây các nhà nghiên cứu văn học dân tộc miền núi thuộc Đại học Sư phạm Thái Nguyên cũng đã công bố thêm một số công trình khá quy mô như

cuốn Bản sắc văn hóa dân tộc trong văn xuôi của các nhà văn dân tộc thiểu số của tác giả Đào Thủy Nguyên (xuất bản năm 2014) hay cuốn Văn học dân tộc thiểu số Việt Nam truyền thống và hiện đại của nhóm tác giả Trần Thị Việt

Trung, Nguyễn Đức Hanh (xuất bản năm 2014) Những công trình nghiên cứu

đó đã có những nhận định khái quát về thành tựu của văn xuôi các dân tộc thiểu

số kể từ khi hình thành cho đến nay thông qua tác phẩm của một số nhà văn tiêu biểu như Nông Minh Châu, Vi Hồng, Triều Ân, Cao Duy Sơn

Bên cạnh những công trình có giá trị tổng hợp, đánh giá tổng quan về truyện đề tài dân tộc và miền núi mà chúng tôi điểm qua ở trên đây, trong những năm qua, còn có những bài viết theo hình thức nghiên cứu, đánh giá độc lập về

từng tác phẩm, tác giả cụ thể Chúng ta có thể kể đến các tác giả với những bài

viết tiêu biểu như: nhà nghiên cứu Chu Nga với Muối lên rừng của Nông Minh Châu, tác giả Ngọc Anh với Ké Nàm, bước phát triển mới của văn xuôi miền núi, tác giả Nguyễn Anh Tuấn với Đọc Đất bằng của Vi Hồng… cùng khá nhiều

những bài viết về các cây bút trẻ là người dân tộc thiểu số miền núi mới được biết đến trong những năm vừa qua Những bài viết này hầu hết được công bố

Trang 33

dưới hình thức các bài giới thiệu tác phẩm hoặc giới thiệu chân dung tác giả và một số ít đi vào phân tích giá trị nội dung của truyện gắn với yếu tố thời điểm

lịch sử tác phẩm được sáng tác Đáng chú ý là sự ra đời của cuốn sách Triều Ân - tác giả, tác phẩm và dư luận do Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc ấn hành đã tập

hợp tương đối đầy đủ các bài viết, ý kiến đánh giá về cây bút Triều Ân, nhà văn người dân tộc thuộc thế hệ đầu tiên của văn học dân tộc và miền núi Việt Nam

Tiểu kết chương 1

Có thể khẳng định, truyện viết về đề tài dân tộc và miền núi giai đoạn

1945 - 1975 đã có những đóng góp nổi bật về nhiều mặt cho nền văn học cách mạng Việt Nam thông qua các thành tựu sáng tác từ quan niệm nghệ thuật, thực tiễn đề tài, nghệ thuật, ngôn ngữ, thể loại Ý thức được tầm quan trọng của mảng văn học này, thời gian qua các nhà nghiên cứu, phê bình của chúng ta đã trăn trở, dụng công để bước đầu công bố được một số công trình khoa học có giá trị, lý giải một cách khá toàn diện, sâu sắc các truyện về đề tài dân tộc và miền núi được sáng tác trong một hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, để từ đó đánh giá những đóng góp ở nhiều phương diện của các tác giả truyện (bao gồm cả những tác giả

là người Kinh và là người dân tộc)

Trên cơ sở tiếp thu, kế thừa những kết quả nghiên cứu mà các nhà khoa học đi trước đã đạt được thông qua những công trình đã công bố, tác giả luận án

sẽ tiếp tục tập trung khai thác một cách chuyên sâu, khảo sát một cách hệ thống thế giới nhân vật, thế giới nghệ thuật trong các truyện về đề tài dân tộc và miền núi giai đoạn 1945 - 1975 để từ đó giải quyết từng nhiệm vụ mà đề tài đã đặt ra Chúng tôi xác định, đây là công trình nghiên cứu toàn diện các vấn đề đặt ra của truyện viết về đề tài dân tộc và miền núi giai đoạn 1945 - 1975

Trang 34

Chương 2 TRUYỆN VỀ ĐỀ TÀI DÂN TỘC VÀ MIỀN NÚI TRONG TIẾN TRÌNH VĂN XUÔI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1945 - 1975 2.1 Vai trò của khu vực dân tộc và miền núi trong lịch sử

Đất nước ta ba phần tư diện tích tự nhiên là miền núi, những dãy núi tạo thành một cánh cung lớn hướng ra Biển Đông, chạy dài 1.400 km, từ vùng Tây Bắc tới miền Đông Nam Bộ 44 trong số 63 tỉnh, thành phố trong cả nước có địa hình đồi núi và trên diện tích rộng lớn ấy hiện có hơn 25 triệu người thuộc 54 dân tộc anh em cùng sinh sống, hài hòa, đan xen như những sợi chỉ màu trên một tấm dệt thổ cẩm, trong số đó hơn một nửa là đồng bào các dân tộc thiểu số

Địa bàn dân tộc, miền núi có vai trò trọng yếu, vị trí chiến lược về chính trị, kinh tế, quốc phòng - an ninh và môi trường sinh thái Trong suốt mấy nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, người dân Việt Nam chúng ta luôn phải sát cánh chung tay cùng nhau vượt qua thiên tai, chiến thắng ngoại xâm Nước Đại Việt từ buổi đầu lập nước đã là một quốc gia đa dân tộc Khi chủ quyền quốc gia được khẳng định, thì vấn đề đoàn kết các dân tộc để tăng cường sức mạnh bảo vệ đất nước càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết Trong lịch sử, các triều đại phong kiến Việt Nam đã có những chính sách hiệu quả đối với các vùng dân tộc thiểu số, vùng cao biên giới Chính sách “nhu viễn” được thực thi từ thời Lý, cùng với việc phong quan tước, hậu đãi các tù trưởng địa phương, nhà Lý còn có riêng một “chính sách hôn nhân” đó là đem các công chúa gả cho các vị tù trưởng có thế lực ở miền núi, biên giới Hôn nhân tạo ra mối dây tình cảm liên hệ giữa vua, hoàng tộc với các tù trưởng Qua họ mà nhà Lý nắm được miền biên cương xa xôi của đất nước Bên cạnh thành công trong việc xây dựng phòng tuyến sông Như Nguyệt làm nên chiến thắng của cuộc kháng chiến chống Tống

Trang 35

năm 1077, nhà Lý cũng đã bước đầu thành công trong việc chủ động xây dựng phòng tuyến lòng dân, đoàn kết các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Chính sách “nhu viễn” từ thời Lý đã tạo những tiền đề tốt đẹp để đời sau phát triển những chính sách phù hợp đối với các vùng dân tộc miền núi

Trong cuộc đấu tranh giành độc lập và chống kẻ thù xâm lược, miền núi luôn luôn là căn cứ địa cách mạng, là “phên dậu” chống kẻ thù, bảo vệ cách mạng Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng việc xây dựng và củng cố khối đoàn kết các dân tộc, cùng đồng tâm hiệp lực để đưa kháng chiến tới thắng lợi, kiến quốc tới thành công Khi kháng chiến thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi khu vực dân tộc miền núi, biên cương, hải đảo như cánh cửa của đất nước, cần đặc biệt quan tâm bảo vệ: “Giữ nhà mà không giữ cửa có được không? Kẻ gian tế vào chỗ nào trước? Nó vào ở cửa trước” Khu vực miền núi, biên giới, hải đảo là những thành tố quan trọng trong chiến lược phát triển và bảo vệ đất nước Việt Nam Đồng bào các dân tộc cư trú trên những khu vực này đóng vai trò quan trọng, thường xuyên và trực tiếp trong việc bảo vệ chủ quyền biên giới và

an ninh quốc gia

Trong cả sự nghiệp cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá cao vai trò của đồng bào các dân tộc miền núi trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước Người khẳng định truyền thống đoàn kết giữa đồng bào miền núi và đồng bào miền xuôi để tư tưởng đó được thấm nhuần, trở thành đường lối chiến lược cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong suốt mấy mươi năm qua Kiên trì thực hiện đường lối đó, Đảng ta và Bác Hồ đã lãnh đạo xây dựng thành công khối đoàn kết các dân tộc trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam Đây là nhân tố quan trọng góp phần làm nên những thành công của cách mạng Việt Nam Cùng với việc giành được độc lập cho Tổ quốc, mỗi cộng đồng dân tộc

Trang 36

dưới mái nhà chung Việt Nam cũng được giải phóng, quyền bình đẳng giữa các dân tộc được khẳng định, đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, y tế của các dân tộc miền núi được nâng cao từng bước, an ninh chính trị và toàn vẹn lãnh thổ được bảo đảm vững chắc, mặc dù các thế lực thù địch xuyên tạc và ra sức chống phá khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nhưng đó là những thành tựu không thể phủ nhận của cách mạng Việt Nam thời gian qua

Trên thế giới ngày nay, chiến tranh “lạnh” đã chấm dứt, song hàng loạt cuộc chiến tranh “nóng” quy mô khu vực liên tục nổ ra Một phần không nhỏ trong số những cuộc xung đột đã và đang diễn ra hiện nay là những cuộc xung đột diễn ra giữa các sắc tộc, cộng đồng dân tộc Xung đột sắc tộc đang nổi lên như một trong những vấn đề nóng bỏng Đây là một mối quan tâm lớn mà bất cứ một quốc gia , dân tộc nào cũng như toàn thể loài người phải nỗ lực tìm cách giải quyết để hướng đến một tương lai hòa bình, bình đẳng, hữu nghị và phát triển Tình hình mới đang đòi hỏi chúng ta cần giải quyết nhiều yêu cầu nhiệm vụ mới trên nhiều lĩnh vực tại những vùng dân tộc, miền núi, biên cương hải đảo theo

định hướng “Xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục, nâng cao đời sống của đồng bào, coi trọng nhiệm vụ xóa đói, giảm nghèo, nâng cao dân trí, ngăn chặn một cách có hiệu quả các loại tội phạm và tệ nạn xã hội, ngăn chặn và kiên quyết chống lại những âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để gây rối loạn, lật đổ; bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới

và an ninh quốc gia” Tham gia vào việc thực hiện các nhiệm vụ trọng yếu đó,

không thể không kể đến vai trò của văn học nghệ thuật trong đó có những tác phẩm viết về đề tài dân tộc và miền núi Có thể nói, văn học Việt Nam hiện đại

là một nền văn học thống nhất, đa dân tộc Thể hiện điều này một cách rõ ràng nhất có lẽ là ở sự có mặt của những tác phẩm văn học về đề tài dân tộc và miền

Trang 37

núi, với những “hương sắc riêng”, nhiều tác phẩm đã trở nên quen thuộc với bạn đọc và mảng văn học này đã có những đóng góp lớn vào thành tựu chung của nền văn học dân tộc

2.2 Văn xuôi về đề tài dân tộc và miền núi phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn 1945 - 1975

2.2.1 Bước “tạo đà” từ các tác phẩm “truyện đường rừng” của giai đoạn trước năm 1945

Ngay từ đầu thế kỷ XX, văn xuôi quốc ngữ đã được hình thành và phát triển nhanh chóng trong đời sống văn học Việt Nam, quá trình hiện đại hóa văn học cũng diễn ra mạnh mẽ trên mọi phương diện Văn xuôi về đề tài dân tộc và miền núi cũng đã được hình thành từ thời kỳ này và từng bước dần khẳng định được vị trí, vai trò của mình với sự tham gia khá đông đảo các tác giả thuộc các dân tộc khác nhau Lần đầu tiên trong lịch sử văn học, bên cạnh bức tranh cuộc sống của vùng đồng bằng được dựng nên có những bức tranh về cuộc sống ở các vùng dân tộc, miền núi Trong giai đoạn trước năm 1945, chúng ta có thể kể tên

một số nhà văn nổi tiếng viết về đề tài truyện đường rừng như: Lan Khai (với

Tiếng gọi của rừng thẳm - 1939, Truyện đường rừng - 1940, Suối đàn -

1941 ), Thế Lữ (với Một chuyện báo thù - 1929, Vàng và máu - 1934, Gió

trăng ngàn - 1941), Lưu Trọng Lư (với Người sơn nhân - 1933, Khói lam chiều - 1936 ), Hồ Dzếnh (với Trong bóng rừng), TchyA (với Thần hổ -

1937, Ai hát giữa rừng khuya - 1940), Lý Văn Sâm (với Kòn Trô, Trăng Sa

Mát, Mũi Tổ) Đặc trưng nổi bật của các truyện đường rừng giai đoạn này là

nhãn quan khách thể của các tác giả còn xa lạ, dè dặt với thế giới sơn lâm chốn đại ngàn Bức tranh miền núi của đồng bào dân tộc hiện lên trong các tác phẩm thuộc giai đoạn này với đầy đủ những yếu tố bí ẩn, linh thiêng, kỳ khôi cùng

Trang 38

những linh cảm về sự bất trắc, hiểm nguy, vừa tạo cảm giác dè chừng, e sợ vừa gọi lên sự tò mò, hiếu kỳ khám phá Thiên nhiên miền núi với núi rừng, mây, suối được các tác giả truyện xây dựng như những quái vật ẩn chứa bao bí mật khủng khiếp Một số truyện do tác giả chỉ mượn không gian, địa bàn rừng núi để đặt vào đó cốt truyện kinh dị nên sự logic giữa tác phẩm với miền núi khá lỏng lẻo, những thông tin về cuộc sống, văn hóa, phong tục vùng cao còn sơ lược, hời hợt Có thể nói, quan niệm về đồng bào dân tộc miền núi của các tác giả thời kỳ này chưa ổn định, nặng yếu tố chủ quan mà tựu chung ở hai hướng chính đó là

sự định kiến và chuộng lạ cùng với quá trình vận dụng trí tưởng tượng để gán

cho nhân vật Minh chứng rõ nét thể hiện ngay ở việc các tác giả dùng các cụm

đại từ nhân xưng như “bọn người”, “giống người”, “lũ” cùng cách tả về thói

quen, sinh hoạt của người miền núi mang đậm chất mông muội, thô kệch, lạc hậu Xu hướng chuộng lạ, kích thích thị hiếu người đọc còn thể hiện qua môtip báo thù xuất hiện trong không ít tác phẩm như: những cuộc báo thù giữa người

và hổ, người và rắn (trong Suối đàn của Lan Khai, Thần hổ của TchyA, Tiếng

hú ban đêm của Thế Lữ, Ông rắn của Đỗ Huy Nhiệm ), giữa người và người

(trong Ai hát giữa rừng khuya của TchyA, Đêm trăng của Thế Lữ ) Bên cạnh

đó, trong một số tác phẩm khác các tác giả như Lan Khai, Lý Văn Sâm cũng đã bước đầu có những cách nhìn nhận, đánh giá chân thực, khách quan, sinh động hơn về con người miền núi với nhiều đặc điểm ưu việt như chất phác, thật thà, biết phân biệt phải - trái, luôn có ý thức hướng về chính nghĩa Nổi bật là hệ thống nhân vật trong các tác phẩm của nhà văn Lan Khai, người được tôn vinh là

đại diện tiêu biểu nhất cho mảng văn học truyện đường rừng giai đoạn 1930 -

1945 Nhiều nhân vật con người vùng cao trong truyện của ông có chân dung ngoại hình tươi tắn, kiều diễm cùng đời sống nội tâm tương đối phong phú, phức

Trang 39

tạp “ Cùng viết về mảng hiện thực này, Lan Khai đã đem đến cho người đọc một cái nhìn mới, chân thực hơn Trong truyện đường rừng của ông, núi rừng là

cả một thế giới sống động, phong phú của con người và tạo vật ” [161, tr.133]

Có thể thấy rằng, đặc điểm thi pháp nổi bật của đa số các truyện về đề tài dân tộc và miền núi giai đoạn trước năm 1945 là yếu tố kỳ ảo (kinh dị, ma mị, siêu thực ) như một “bức màn” bao trùm các tác phẩm Đặc điểm này xét về lịch sử phát triển của nó thì đó là sự kế thừa từ văn học truyền thống trên cơ sở

của sự tiếp biến những tinh hoa của văn học phương Tây “Cái hoang đường trong truyện cổ dân gian cùng tính truyền kỳ trong truyện cổ trung đại pha trộn

với màu sắc huyền bí trong văn học phương Đông (như Liêu trai chí dị của

Trung Hoa) và yếu tố kinh dị của văn học phương Tây như truyện của Pô) đã chuyển hóa một cách nhuần nhị vào các tác phẩm ” [134, tr.40] Chính

(Ét-ga-những đặc điểm nghệ thuật đó đã phần nào chứng tỏ được rằng, tại thời điểm các tác phẩm ra đời, thiên nhiên và con người ở các vùng dân tộc, miền núi vẫn đang

là một khoảng khuất lấp trong tâm thức của người vùng xuôi để từ đó có chỗ cho trí tưởng tượng phong phú của các nhà văn lấp đầy Ở giai đoạn này, hơn bất cứ vùng miền nào, không gian miền núi với sắc màu huyền bí của nó là điều kiện thích hợp nhất cho sự phát triển của yếu tố kỳ ảo Trong các truyện, với tư cách

là sản phẩm độc đáo của tư duy sáng tạo của tác giả, yếu tố kỳ ảo là một thủ pháp để đào sâu các khía cạnh của đời sống hiện thực, góp phần làm tăng vẻ đẹp

và sự hấp dẫn cho tác phẩm Đương nhiên, ở một số tác giả do có sự vận dụng yếu tố kỳ ảo một cách thái quá đã khiến cho tác phẩm mang màu sắc cổ tích rất

rõ nét

Ngoài những tác phẩm thuộc thể loại truyện đường rừng mang sắc thái kỳ

ảo, lãng mạn, ở giai đoạn này cũng đã xuất hiện một số truyện được viết với bút

Trang 40

pháp tả thực như Pàng Nhả, Sóng nước Lô Giang, Lô Hnồ, Dưới miệng hùm (của Lan Khai); Đi săn khỉ (của Vũ Trọng Phụng); Tiếng khèn (của Khái

Hưng) Những truyện này đã bước đầu khắc họa được những số phận, cảnh đời vất vả, éo le của những người lao động ở miền núi dưới ách áp bức, bóc lột và chìm đắm trong u mê, lạc hậu Một số tác phẩm cũng đã thể hiện được thái độ cảm thông, sẻ chia, thương xót của tác giả trước những cảnh đời, những phận người miền ngược Chính thông qua những trang viết của các nhà văn mà người đọc hình dung được phần nào về trình độ lao động sản xuất, đặc điểm sinh hoạt cộng đồng, phong tục, tập quán của các vùng dân tộc, miền núi Như vậy, vượt lên trên những yếu tố hoang đường, phi lý, giá trị hiện thực và nhân đạo trong các sáng tác về đề tài dân tộc và miền núi là điều không thể không nhắc tới

Có thể nói, trong giai đoạn văn học trước năm 1945, những đóng góp của

các cây bút truyện đường rừng tựa như những bước đi thám hiểm đầu tiên tiếp

cận một mảng đề tài tương đối mới, giàu tiềm năng Cảnh vật thiên nhiên và con người miền núi được xây dựng trên một cái nền về cơ bản là chân thực, sinh động tuy những yếu tố liên quan đến bút pháp lãng mạn, hư cấu, tưởng tượng có

ít nhiều ảnh hưởng đến chất lượng của các tác phẩm Về nghệ thuật, các truyện đường rừng giai đoạn này đã có những bước tiến mới mang tính cách tân trong

tả cảnh, tả người so với các tác phẩm truyện thời trước đó Từ những giá trị hiện thực và thẩm mỹ mà các tác phẩm thời này đem lại, có thể khẳng định rằng,

truyện đường rừng trước năm 1945 là một thành tựu đáng kể trong lịch sử văn

học, tạo đà và điểm tựa cho sự phát triển của truyện về đề tài dân tộc và miền núi thời kỳ sau này

Ngày đăng: 02/06/2017, 20:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
19. Vũ Hạnh (1987), Cô gái Xà Niêng, NXB Trẻ, TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cô gái Xà Niêng
Tác giả: Vũ Hạnh
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 1987
20. Thu Loan (2008), Sương chưa tan làng trăng, NXB Văn hóa Dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sương chưa tan làng trăng
Tác giả: Thu Loan
Nhà XB: NXB Văn hóa Dân tộc
Năm: 2008
21. Sương Nguyệt Minh (2003), “Tây Nguyên ký sự”, Tạp chí Văn nghệ Quân đội (560), tr.28 - 32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tây Nguyên ký sự”", Tạp chí Văn nghệ Quân đội
Tác giả: Sương Nguyệt Minh
Năm: 2003
22. Kim Nhất (2000), Người rừng trên đỉnh núi ông voi, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người rừng trên đỉnh núi ông voi
Tác giả: Kim Nhất
Nhà XB: NXB Văn hóa dân tộc
Năm: 2000
23. H’Linh Niê (2005), Gió đỏ, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gió đỏ
Tác giả: H’Linh Niê
Nhà XB: NXB Hội Nhà văn
Năm: 2005
24. Linh Nga NiêKđăm (2007), Già làng Tây Nguyên, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Già làng Tây Nguyên
Tác giả: Linh Nga NiêKđăm
Nhà XB: NXB Văn hóa dân tộc
Năm: 2007
25. Linh Nga NiêKđăm (1999), Trăng Xí thoại, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trăng Xí thoại
Tác giả: Linh Nga NiêKđăm
Nhà XB: NXB Văn hóa dân tộc
Năm: 1999
26. Tô Hoài (1977), Sổ tay viết văn, Nhà xuất bản Tác phẩm mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay viết văn
Tác giả: Tô Hoài
Nhà XB: Nhà xuất bản Tác phẩm mới
Năm: 1977
27. Tô Hoài (1969), Truyện Tây Bắc, tập truyện ngắn, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện Tây Bắc
Tác giả: Tô Hoài
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1969
28. Tô Hoài (1955), Tào Lường, tập truyện ngắn, NXB Văn nghệ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tào Lường
Tác giả: Tô Hoài
Nhà XB: NXB Văn nghệ
Năm: 1955
29. Tô Hoài (1999), Truyện Tây Bắc, tuyển tập sáng tác về đề tài miền núi, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện Tây Bắc
Tác giả: Tô Hoài
Nhà XB: NXB Văn hóa dân tộc
Năm: 1999
30. Vi Hồng (1980), Đất bằng, NXB Tác phẩm mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất bằng
Tác giả: Vi Hồng
Nhà XB: NXB Tác phẩm mới
Năm: 1980
31. Vi Hồng (1984), Núi cỏ yêu thương, NXB Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Núi cỏ yêu thương
Tác giả: Vi Hồng
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 1984
32. Lan Khai (2004), Truyện đường rừng, NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện đường rừng
Tác giả: Lan Khai
Nhà XB: NXB Văn hóa - Thông tin
Năm: 2004
33. Ma Văn Kháng (1984), Trăng non, NXB Tác phẩm mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trăng non
Tác giả: Ma Văn Kháng
Nhà XB: NXB Tác phẩm mới
Năm: 1984
34. Ma Văn Kháng (2003), Đồng bạc trắng hoa xòe, NXB Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồng bạc trắng hoa xòe
Tác giả: Ma Văn Kháng
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 2003
35. Ma Văn Kháng (2003), Vùng biên ải và Gặp gỡ ở La Pan Tẩn, NXB Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vùng biên ải và Gặp gỡ ở La Pan Tẩn
Tác giả: Ma Văn Kháng
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 2003
36. Bùi Nguyên Khiết (1977), Dáng núi, NXB Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dáng núi
Tác giả: Bùi Nguyên Khiết
Nhà XB: NXB Phụ nữ
Năm: 1977
37. Bùi Nguyên Khiết (1979), Mùa hoa ban nở, NXB Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mùa hoa ban nở
Tác giả: Bùi Nguyên Khiết
Nhà XB: NXB Phụ nữ
Năm: 1979
38. Bùi Nguyên Khiết (1980), Mưa tuyết, NXB Tác phẩm mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mưa tuyết
Tác giả: Bùi Nguyên Khiết
Nhà XB: NXB Tác phẩm mới
Năm: 1980

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w