Từ thực tiễn đó, tác giả luận án đã xác định cụ thể hơn phạm vi nghiên cứu của luận án dựa trên các tiêu chí: tiêu chí thể loại tác phẩm thuộc thể loại tiểu thuyết; tiêu chí chủ thể
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS LÝ HOÀI THU
Hà Nội – 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án Tư duy nghệ thuật trong tiểu thuyết của một số nhà văn
nữ hải ngoại đương đại là kết quả nghiên cứu của riêng tôi được thực hiện dưới sự
hướng dẫn của PGS.TS Lý Hoài Thu, chưa từng được công bố trong các công trình nghiên cứu của các tác giả khác Các thông tin, kết quả trong luận án là khách quan, trung thực Nội dung của luận án có sự tham khảo và sử dụng các tài liệu, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm và các website theo danh mục tài liệu tham khảo của luận án Tôi xin cam đoan, nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
NGHIÊN CỨU SINH
Vũ Thị Hạnh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận án được hoàn thành tại Khoa Văn học - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Tác giả luận án xin gửi lời tri ân sâu sắc đến PGS TS Lý Hoài Thu - người đã tận tình hướng dẫn tác giả luận án trong suốt quá trình thực hiện đề tài này bằng một tinh thần khoa học nhiệt thành và nghiêm túc Tác giả luận án cũng xin gửi lời cảm ơn tới những thành viên trong Hội đồng đánh giá luận án các cấp bởi những góp ý của Hội đồng sẽ giúp tác giả luận án có những tiến bộ nhanh hơn trên con đường học tập và nghiên cứu
NGHIÊN CỨU SINH
Vũ Thị Hạnh
Trang 51
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
1 Lí do chọn đề tài 4
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8
4 Phương pháp nghiên cứu 8
5 Đóng góp mới của luận án 9
6 Cấu trúc của luận án 10
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 11
1.1 Tổng quan về tư duy nghệ thuật 11
1.1.1 Giới thuyết về tư duy và tư duy nghệ thuật 11
1.1.2 Tình hình nghiên cứu về tư duy nghệ thuật trong văn học Việt Nam 16
1.2 Tổng quan về tiểu thuyết và tư duy nghệ thuật trong tiểu thuyết của một số nhà văn nữ hải ngoại đương đại 20
1.2.1 Tiểu thuyết của một số nhà văn nữ Việt Nam hải ngoại trong bối cảnh tiểu thuyết Việt Nam đương đại 20
1.2.2 Tình hình nghiên cứu về tiểu thuyết và tư duy nghệ thuật trong tiểu thuyết của một số nhà văn nữ Việt Nam hải ngoại đương đại 26
Chương 2 TƯ DUY NGHỆ THUẬT NHÌN TỪ CẤP ĐỘ QUAN NIỆM 33
2.1 Quan niệm nghệ thuật về hiện thực 33
2.1.1 Hiện thực thậm phồn 33
2.1.2 Hiện thực huyền ảo 39
2.1.3 Hiện thực phân mảnh được nhà văn nghiền ngẫm, thể nghiệm 42
2.2 Quan niệm nghệ thuật về con người 44
2.2.1 Con người như một nhân vị, bí ẩn, đa diện 44
2.2.2 Con người vô cảm, cô đơn, hoài nghi 48
2.3 Quan niệm về tiểu thuyết 50
2.3.1 Tiểu thuyết - một phức hợp thể loại chưa hoàn kết 50
2.3.2 “Tiểu thuyết mảnh vỡ” 53
2.3.3 Tiểu thuyết như một trò chơi tự sự 56
Chương 3 TƯ DUY NGHỆ THUẬT NHÌN TỪ CẤP ĐỘ HÌNH TƯỢNG NGHỆ THUẬT 61
Trang 62
3.1 Hình tượng nhân vật trong tiểu thuyết của một số nhà văn nữ Việt Nam hải
ngoại 61
3.1.1 Các hình tượng nhân vật cơ bản 61
3.1.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 76
3.2 Hình tượng nghệ thuật giàu tính biểu tượng 80
3.2.1 Nước mắt – biểu tượng của nỗi đau nữ giới 81
3.2.2 Giấc mơ – biểu tượng của thế giới vô thức thầm kín 86
3.2.3 Hồn ma – biểu tượng của thế giới tâm linh huyền ảo 89
3.3 Thời gian trong tiểu thuyết của một số nhà văn nữ Việt Nam hải ngoại 92
3.3.1 Sự sai trật niên biểu và tính đa chiều của thời gian 92
3.3.2 Thời gian xảy lặp 96
3.4 Không gian trong tiểu thuyết của một số nhà văn nữ Việt Nam hải ngoại 99
3.4.1 Không gian mang tính phân hóa, khu biệt 99
3.4.2 Không gian mang tính cá thể hóa, tâm linh hóa 102
Chương 4 TƯ DUY NGHỆ THUẬT NHÌN TỪ CẤP ĐỘ PHƯƠNG THỨC TRẦN THUẬT 108
4.1 Đa dạng hóa các hình thức kết cấu 108
4.1.1 Kết cấu đa tầng bậc 108
4.1.2 Kết cấu phân mảnh 111
4.1.3 Kết cấu xoắn kép 115
4.2 Khuynh hướng tự thuật 117
4.2.1 Nguyên nhân và sự thể hiện 118
4.2.2 Mô hình của tự thuật 122
4.2.3 Vai trò của tự thuật 124
4.3 Ngôn ngữ hiện đại hóa 128
4.3.1 Sử dụng nhiều tỉnh lược ngữ dụng 128
4.3.2 Tăng cường đặc tính đối thoại, phối hợp, đa âm 132
4.3.3 Phối kết mạnh mẽ nhiều loại hình ngôn ngữ 137
4.4 Giọng điệu giàu sắc thái thẩm mĩ 139
4.4.1 Giọng điệu triết lý, chiêm nghiệm, suy tư 139
4.4.2 Giọng điệu trữ tình sâu lắng 145
4.4.3 Giọng điệu giễu nhại, hài hước 149
Trang 73
KẾT LUẬN 155 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 158 TÀI LIỆU THAM KHẢO 159 PHỤ LỤC
Trang 84
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 “Người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời và là một nguồn
lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam” [23] Điều này đã được khẳng định trong Nghị
quyết số 36/NQ – TW và Chỉ thị số 45 – CT/TW của Bộ Chính trị về công tác đối với
người Việt Nam ở nước ngoài Trên tinh thần ấy, nhà nghiên cứu Nguyên Ngọc đã nhận định rằng: “Người Viê ̣t Nam ở nước ngoài trong mấy chu ̣c năm qua đã hoàn thành một khối lượng văn học không thể phủ nhận được Đó là mô ̣t bô ̣ phâ ̣n của văn học Việt Nam hiện đại Cùng với văn học trong nước , văn ho ̣c hải ngoa ̣i làm nên diê ̣n mạo của văn học Việt Nam ngày nay Sẽ cực kỳ thiếu sót nếu biết văn học Việt Nam ngày nay mà không biết văn học Việt Nam hải ngoại” [104] Mặc dù được thừa nhận như một bộ phận hợp thành nhưng trong tương quan so sánh, nếu văn học trong nước thường tồn tại với tư cách là dòng văn học chính, giữ vị trí trung tâm, nằm trong
“vùng phủ sóng” của các công trình nghiên cứu thì trái lại, bởi nhiều lí do, việc nghiên cứu văn học hải ngoại ở Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn Sự rụt rè, thờ ơ đối với vùng sáng tác này khiến cho văn học ở hải ngoại bị rơi vào “vùng ngoại biên”, bên lề của sự tập trung nghiên cứu Tình trạng “cực kỳ thiếu sót” như Nguyên Ngọc nhận định đã khiến cho việc nghiên cứu thấu đáo về văn học hải ngoại có thêm nhiều phần ý nghĩa Nó không chỉ góp phần nuôi dưỡng, duy trì và phát triển một bộ phận văn học viết bằng tiếng Việt ở nước ngoài mà còn là “một câu thúc nội tại để đưa nền
văn học trong nước phát triển hơn” [104] Đề tài nghiên cứu về Tư duy nghệ thuật
trong tiểu thuyết của một số nhà văn nữ hải ngoại đương đại là một sự bổ khuyết cho
tình trạng “thiếu sót” đó
1.2 Trong mấy chục năm qua, cùng với số lượng, chất lượng của không ít tiểu
thuyết hải ngoại đã góp phần khẳng định sự đóng góp đáng kể của văn học hải ngoại vào kho tài sản chung của văn học Việt Nam Trong đó, tiểu thuyết của các nhà văn
nữ hải ngoại như Thuận, Đoàn Minh Phượng, Lê Ngọc Mai, Lê Minh Hà…nổi bật lên như một hiện tượng, chứa đựng nhiều đổi mới quan trọng trong tư duy nghệ thuật Cùng với các nhà văn nữ trong nước, những nhà văn nữ kể trên đã thể hiện một cuộc
“tự vượt” của giới nữ để vịnh dự đứng trong hàng ngũ những người đại diện cho
Trang 95
khuynh hướng cách tân thể loại Nhờ những đổi mới tư duy nghệ thuật trên nhiều phương diện, sáng tác của các nhà văn nữ hải ngoại đã ghi dấu một sự chuyển mình của tiểu thuyết nữ Việt Nam đương đại Bên cạnh đó, với sự nhạy cảm, tinh tế, đầy nữ tính nhưng cũng không kém phần sắc sảo và quyết liệt, trong tư duy nghệ thuật của các nhà văn nữ hải ngoại còn thể hiện sự thức nhận về bản sắc cá nhân cũng như những vấn đề liên quan đến giới nữ Vì vậy, nếu thiếu đi những “bóng hồng” xa xứ này, diện mạo tiểu thuyết nữ ở Việt Nam nói riêng và tiểu thuyết Việt Nam đương đại nói chung sẽ trở nên thiếu sót, không đầy đủ
1.3 Tư duy nghệ thuật là một trong những yếu tố có vai trò quan trọng trong
sáng tạo, nghiên cứu và phê bình văn học Mỗi một đối tượng nghệ thuật, để được chiếm lĩnh và sáng tạo ra, trước hết đều nhờ vào tư duy nghệ thuật của nhà văn Chính
vì thế, tư duy nghê ̣ thuâ ̣t không ch ỉ phản ánh nhân sinh quan, thế giới quan mà còn phản ánh trình độ nhận thức, vốn sống, tầm văn hóa, kinh nghiệm cũng như tư chất, năng lực của người nghệ sĩ Những yếu tố đó giữ vai trò quan trọng trong việc chỉ đạo, định hướng, lựa chọn, biểu hiện và sáng tạo nghệ thuật Và như một lẽ tất yếu, đổi mới văn học trước hết phải gắn liền với đổi mới tư duy nghệ thuật của nhà văn
Đó chính là lí do vì sao vấn đề đổi mới tư duy (trong đó có tư duy nghệ thuật) lại trở thành “điểm nóng” trong công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước Với vai trò như một yếu tố “căn cốt” góp phần tạo nên thành tựu của văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới, việc nghiên cứu về tư duy nghệ thuật thực sự trở thành một hướng nghiên cứu quan trọng Mặc dù vậy, ở nước ta hiện nay, những đề tài nghiên cứu văn học chuyên sâu từ góc nhìn tư duy nghệ thuật vẫn còn khá ít
1.4 Tiểu thuyết là một thể loại luôn giữ vị trí trung tâm, góp phần làm nên diện
mạo của một nền văn học hiện đại Tiểu thuyết, theo M Kundera, là một kiểu phương pháp phức hợp nhận thức cuộc sống đưa lại những kết quả đáng tin cậy Tiểu thuyết, theo R Laughlin, không chỉ là một thể loại văn học mà còn là một giai đoạn, một cấp
độ mới trong tư duy nghệ thuật của con người về thế giới Trong mối tương quan với các thể loại khác, tiểu thuyết là “thể loại văn chương duy nhất đang biến chuyển và chưa định hình….Nòng cốt thể loại của tiểu thuyết chưa hề rắn lại và chúng ta chưa thể dự đoán được hết những khả năng uyển chuyển của nó” [11, tr21] Chính khả
Trang 106
năng uyển chuyển cũng như bản chất năng động mà tư duy nghệ thuật trong tiểu thuyết luôn có sự vận động, biến đổi Xuất phát từ vai trò của thể loại cùng với bản chất của nó mà tư duy tiểu thuyết đã trở thành vấn đề thu hút sự quan tâm của đông đảo giới nghiên cứu lí luận, phê bình văn học Cuối thế kỷ XX, trên thế giới, những câu hỏi về số phận tiểu thuyết đã trở thành chủ đề quan trọng trên nhiều “bàn tròn”
văn chương (toàn cảnh những tranh luận này được đề cập đến trong Số phận của tiểu
thuyết [178]), khiến “tiểu thuyết nổi lên như một vấn đề lôi cuốn sự chú ý không chỉ
riêng ở Pháp mà nhiều nơi trên thế giới” [281, tr7] Trong những cuộc hội thảo ấy, nhiều vấn đề liên quan đến số phận của tiểu thuyết đã được đưa ra bàn luận Ở Việt Nam, những vấn đề về thực trạng tiểu thuyết (tiểu thuyết Việt Nam đang ở đâu? Có hay không vấn đề khủng hoảng trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại?) cũng liên tục được đề cập đến Tình hình đó làm cho việc nghiên cứu về tư duy nghệ thuật trong tiểu thuyết trở thành hướng nghiên cứu có tính thời sự
Chính tính chất, vai trò quan trọng của tư duy nghệ thuật cũng như thực trạng nghiên cứu về tiểu thuyết nữ hải ngoại đã khiến cho việc nghiên cứu về tiểu thuyết nữ hải ngoại từ góc nhìn tư duy nghệ thuật trở thành một hướng nghiên cứu quan trọng,
có ý nghĩa thiết thực và cần được thực hiện nhằm ghi nhận đúng mức những đóng góp
và giới hạn của tiểu thuyết nữ hải ngoại
2 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là tư duy nghệ thuật trong tiểu thuyết của một số nhà văn nữ Việt Nam hải ngoại đương đại Khi nghiên cứu, chúng tôi luôn đặt
tư duy nghệ thuật trong mối quan hệ với đặc trưng thể loại để chỉ ra dấu ấn tư duy nghệ thuật trên ba cấp độ: quan niệm nghệ thuật, hình tượng nghệ thuật và phương
thức trần thuật
2.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận án là tiểu thuyết của một số nhà văn nữ Việt Nam hải ngoại đương đại Cũng phải khẳng định rằng, văn học hải ngoại không phải là một hiện tượng “chỉ có”, “riêng có” ở Việt Nam mà là một hiện tượng cần được xem xét,
Trang 11trình bày khá cụ thể trong Tổng quan của luận án Văn xuôi tiếng Việt ở nước ngoài từ
1975 đến nay), ở luận án này, người viết đồng tình với quan niệm của tác giả Nguyễn
Thị Tuyết Nhung khi cho rằng văn học Việt Nam hải ngoại chính là cụm từ dùng để chỉ sáng tác văn học viết bằng tiếng Việt và của người Việt ở nước ngoài Quan niệm này đã nhấn mạnh đến ba yếu tố quan trọng trong việc xác định phạm vi nghiên cứu của đề tài: tác phẩm viết bằng tiếng Việt; của người Việt và ở nước ngoài Điều đó giúp cho người viết loại trừ khỏi phạm vi nghiên cứu sáng tác của người Việt ở nước ngoài nhưng viết bằng những ngôn ngữ khác (tiếng Anh, tiếng Pháp…)
So với văn học trong nước, văn học Việt Nam ở hải ngoại khá “khiêm tốn” về
số lượng Mặc dù vậy, vùng văn học này vẫn có một đời sống khá phong phú, đa dạng với những “nét chỉ” riêng và được ghi dấu với sự xuất hiện của nhiều tác phẩm có giá trị Trước Đổi mới, văn học Việt Nam hải ngoại chủ yếu được sáng tác, xuất bản ở nước ngoài và hướng đến thiểu số độc giả người Việt ở nước ngoài Sau 1986, cùng với chủ trương hội nhập và mở cửa, văn học Việt Nam hải ngoại đã hướng đến phục
vụ đông đảo độc giả trong nước Chủ đích ấy được thể hiện thông qua việc các nhà văn viết bằng tiếng Việt, viết về người Việt và xuất bản trong nước Trong số đó, không ít tiểu thuyết của các nhà văn nữ hải ngoại đã giành được những giải thưởng văn chương quan trọng
Từ thực tiễn đó, tác giả luận án đã xác định cụ thể hơn phạm vi nghiên cứu của luận án dựa trên các tiêu chí: tiêu chí thể loại (tác phẩm thuộc thể loại tiểu thuyết); tiêu chí chủ thể sáng tác (các nhà văn nữ ở hải ngoại); tiêu chí thời gian (tác phẩm ra đời sau 1986); được viết bằng tiếng Việt, xuất bản trong nước và có những đổi mới trong tư duy nghệ thuật Trên cơ sở những tiêu chí đã đặt ra, luận án tập trung khảo sát 12 tiểu thuyết của bốn tác giả nữ tiêu biểu là Thuận, Lê Ngọc Mai, Lê Minh Hà, Đoàn Minh Phượng Sáng tác của các nhà văn nữ này không chỉ đáp ứng tất cả những
Trang 128
tiêu chí đã đặt ra mà còn là những tác phẩm tiêu biểu, đại diện cho khuynh hướng đổi mới, cách tân nghệ thuật tiểu thuyết
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu Tư duy nghệ thuật trong tiểu thuyết của
một số nhà văn nữ hải ngoại đương đại nhằm những mục đích cụ thể sau:
Thứ nhất: chỉ ra dấu ấn tư duy nghệ thuật trên cấp độ quan niệm Để đạt được mục đích này, nhiệm vụ đặt ra đối với tác giả luận án là phân tích và làm rõ quan niệm của nhà văn về hiện thực, con người và tiểu thuyết
Thứ hai: chỉ ra dấu ấn của tư duy nghệ thuật trên cấp độ hình tượng nghệ thuật Để đạt được mục đích này, nhiệm vụ đặt ra đối với tác giả luận án là phân tích hình tượng nhân vật, hình tượng nghệ thuật mang tính biểu tượng, không gian, thời gian của tác phẩm
Thứ ba: chỉ ra dấu ấn của tư duy nghệ thuật trên cấp độ phương thức trần thuật Để đạt được mục đích này, nhiệm vụ đặt ra đối với tác giả luận án là phân tích các hình thức tổ chức kết cấu, phương thức trần thuật, ngôn ngữ, giọng điệu
Cuối cùng: chỉ ra những cách tân, đóng góp trên lĩnh vực đổi mới tư duy nghệ thuật của các nhà văn nữ hải ngoại cho tiểu thuyết nữ Việt Nam nói riêng và tiểu thuyết Việt Nam đương đại nói chung Bên cạnh đó, chúng tôi cũng bước đầu chỉ ra những giới hạn trong sáng tác của các nhà văn nữ kể trên
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận án đã sử du ̣ng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu sau:
Thứ nhất: phương pháp tiếp cận thi pháp học Đây là phương pháp nghiên cứu
chủ đạo, đươ ̣c vâ ̣n du ̣ng xuyên suốt luâ ̣n án Với đề tài này, người viết đã nghiên cứu
tư duy trong ma ̣ch nối t ừ quan niệm nghệ thuật đến việc xây dựng các hình tượng thẩm mĩ và lựa chọn các thao tác kĩ thuật thuộc thi pháp thể loại Những lựa cho ̣n về hình tượng thẩm mĩ cùng những hình thức nghê ̣ thuâ ̣t biểu đạt được coi như là sản phẩm của sự chỉ đa ̣o bởi tư duy và s ự chi phối của nó thông qua hệ thống quan niê ̣m mang tính đi ̣nh hướng Trong luâ ̣n án, người viết c ũng xác định góc độ tiếp cận chủ yếu là phương tiê ̣n và phương thức nghê ̣ thuâ ̣t : thi pháp thể loa ̣i , nhân vật, kết cấu, không gian , thời gian , ngôn ngữ Phương pháp này là con đường giúp người viết
Trang 139
khám phá đặc điểm nghệ thuật nổi bâ ̣t ở trên và đă ̣t các đặc điểm, lý giải các đặc điểm trong tính chỉnh thể, tính quan niệm
Thứ hai: phương pháp loại hình Một trong những yêu cầu của luận án là làm
rõ loại hình tư duy , kiểu tư duy trong sáng tác của các nh à văn nữ nhằm chỉ ra điểm tương đồng trong tư duy nghê ̣ thuâ ̣t của các nhà văn nữ hải ngoa ̣i Các tác giả thuộc phạm vi khảo sát đều là nữ (loại hình học t ác giả) và các tác phẩm đều là tiểu thuyết nên giữa chúng có sự tương đồng nhất đi ̣nh về đă ̣c điểm thể loa ̣i (loại hình học thể loại)
Thứ ba: phương pháp tiểu sử Tác giả luận án sử du ̣ng phương pháp tiểu sử
nhằm chỉ ra mối liên hê ̣ giữa các nhà vă n với các yếu tố trong tác phẩm Trên cơ sở những mối liên hê ̣, sự trùng lă ̣p về thông ti n tiểu sử giữa tác giả , người kể chuyê ̣n và nhân vâ ̣t trong các tiểu thuyết , người viết đã chỉ ra khuynh hướng tự thuật trong những tiểu thuyết thuô ̣c pha ̣m vi khảo sát Khi chỉ ra đặc điểm này, người viết nhâ ̣n thấy đó chính là mô ̣t trong những đă ̣c điểm nổi bâ ̣t trong ph ương thức tư duy nghê ̣ thuâ ̣t của các nhà văn nữ
Thứ tư: phương pháp thống kê Phương pháp thống kê được vận dụng nhằm
thu thâ ̣p thông tin , lâ ̣p bảng biểu đối với dữ liệu và lý giải những thông tin thu thập đươ ̣c Phương pháp này dựa trên những bảng biểu số liê ̣u thống kê mô ̣t cách chính xác nên đã góp phần làm tăng sức thuyết phục cho những kết luận có thể được rú t ra từ những phương pháp nghiên c ứu khác đ ồng thời những số liệu thống kê cũng là minh chứng làm tăng thêm độ tin cậy cho những luâ ̣n điểm
Thứ năm: vận dụng lý thuyết phê bình nữ quyền Bên cạnh tiêu chí địa lý, tiêu
chí giới là một căn cứ để chúng tôi xác định phạm vi nghiên cứu Lấy sáng tác của nữ giới làm trọng tâm, luận án vận dụng lý thuyết phê bình nữ quyền để soi rọi nhiều vấn
đề liên quan đến người phụ nữ trong văn học (hình tượng thẩm mĩ trung tâm, điểm nhìn chủ đạo, tâm lý sáng tác, khuynh hướng tự thuật…) từ đó chỉ ra những nét riêng trong lối viết của các nhà văn nữ
5 Đóng góp mới của luận án
Từ những mục đích nghiên cứu trên, luận án sẽ là một công trình có ý nghĩa lý luận và thực tiễn Bằng việc đưa ra những phác họa mang tính khái quát về tiểu thuyết
Trang 1410
nữ hải ngoại, luận án góp phần nhận diện và khái quát một phần diện mạo tiểu thuyết Việt Nam ở hải ngoại cũng như tiểu thuyết nữ Việt Nam nói chung
Đặc biệt, qua việc nghiên cứu tư duy nghệ thuật của các nhà văn nữ hải ngoại
từ cấp độ quan niệm, chúng tôi đã chỉ ra những nét chính trong thế giới quan, nhân sinh quan và cảm quan nghệ thuật của các nhà văn nữ hải ngoại
Ngoài ra, thông qua việc nghiên cứu tư duy nghệ thuật của các nhà văn nữ hải ngoại từ cấp độ hình tượng nghệ thuật, tác giả luận án đã chỉ ra những hình tượng nhân vật chủ đạo cũng như sự vận động của hình tượng trong không gian và thời gian Trên cơ sở này, luận án khẳng định những tìm tòi, sáng tạo của nhà văn trong việc xây dựng nhân vật, không gian, thời gian
Hơn nữa, những nghiên cứu về sự thể hiện của tư duy nghệ thuật thông qua việc lựa chọn các thao tác kỹ thuật như kết cấu, phương thức tự thuật, ngôn ngữ, giọng điệu…tác giả chỉ ra những tìm tòi, sáng tạo về hình thức nghệ thuật trong tiểu thuyết của các nhà văn nữ hải ngoại
Đạt được những mục tiêu trên, luận án đóng góp cái nhìn mang tính hệ thống hơn về tiểu thuyết của các nhà văn nữ hải ngoại Đó cũng là sự bổ khuyết cho những thiếu hụt trong nghiên cứu về tiểu thuyết Việt Nam hải ngoại hiện nay
6 Cấu trúc của luận án
Ngoài Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, Nội dung của luận án được triển khai thành bốn chương:
Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Tư duy nghệ thuật nhìn từ cấp độ quan niệm
Chương 3: Tư duy nghệ thuật nhìn từ cấp độ hình tượng nghệ thuật
Chương 4: Tư duy nghệ thuật nhìn từ cấp độ phương thức trần thuật
Trang 1511
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan về tư duy nghệ thuật
1.1.1 Giới thuyết về tư duy và tư duy nghệ thuật
1.1.1.1 Tư duy và những khái niệm liên quan
Tư duy - cùng với vai trò cũng như tính chất phức tạp của nó, đã trở thành đối tượng của nhiều ngành nghiên cứu Từ mỗi góc độ tiếp cận, tư duy được xem xét ở những khía cạnh, những phương diện khác nhau, từ đó đưa đến những định nghĩa khác nhau Bởi vậy mà cho đến nay, việc đưa ra được một định nghĩa mang tính chiết trung và tường minh về tư duy là một điều không dễ dàng
Trong Từ điển tiếng Việt, tư duy được định nghĩa là “giai đoạn cao của quá
trình nhận thức, đi sâu vào bản chất và phát hiện ra tính quy luật của sự vật bằng những hình thức như biểu tượng, khái niệm, phán đoán và suy lý” [193, tr1070] Triết học Mác – Lênin cũng đã khái quát con đường nhận thức chân lý là con đường “từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn – đó
là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, sự nhận thức hiện thực khách quan” [21, tr114]
Từ những nền tảng chung của triết học, xã hội học, tâm lý học về tư duy, nhà
nghiên cứu Nguyễn Bá Thành trong Tư duy thơ hiện đại Việt Nam đã đi sâu vào
những cách hiểu khác nhau về tư duy, từ đó nhấn mạnh một định nghĩa mang tính khái quát của nhà triết học M Rodentan và P Iudin như sau: “Tư duy là hoạt động nhận thức lý tính của con người Khí quan của tư duy chính là bộ óc người với một hệ thống tinh vi của gần 16 tỷ tế bào thần kinh” [229, tr38]
Trong Lý luận văn học, nhà nghiên cứu Trần Khánh Thành từ quan niệm tư
duy là một quá trình phản ánh tích cực thế giới khách quan trong bộ não con người, tác giả đã chỉ ra “mục đích của tư duy là nhận thức và phản ánh thế giới khách quan” [62, tr19] Tác giả cũng đã tổng kết quá trình tư duy dựa trên nền tảng tư tưởng triết học Mác – Lênin, từ đó tiếp tục khẳng định: giai đoạn trực quan sinh động là giai đoạn của những cảm giác, tri giác và biểu tượng; giai đoạn tư duy trừu tượng là giai đoạn phát triển quan trọng của nhận thức, giúp con người có thể nắm bắt được bản chất của đối tượng, chiều sâu quy luật hiện thực khách quan
Trang 1612
Như vậy, thông qua những định nghĩa trên, chúng ta có thể khẳng định rằng: tư duy là một giai đoạn phát triển quan trọng của quá trình nhận thức; mục đích của tư duy là nhận thức và phản ánh thế giới khách quan; con đường tư duy chính là tìm ra các mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng và con người với thế giới khách quan từ
đó rút ra những tri thức mới nhằm nắm bắt được bản chất của đối tượng, chiều sâu quy luật của hiện thực khách quan
Ngoài ra, tư duy còn mang đặc tính kế thừa và luôn vận động Nhờ tính kế thừa
và luôn vận động, tư duy trở thành sản phẩm có tính tổng hòa của lịch sử nhân loại
Vì thế, bên cạnh tính cá nhân, gắn liền với từng chủ thể, tư duy còn mang tính dân
tộc, tính thời đại, tính nhân loại Khẳng định điều này, trong Tư duy thơ hiện đại Việt
Nam, nhà nghiên cứu Nguyễn Bá Thành đã dẫn ra nhận định của Ph Ăngghen trong
tác phẩm Chống Duyring như sau: “Tư duy của con người có phải là tư duy riêng của
một cá nhân không? Không phải Tuy vậy nó vẫn chỉ là tư duy cá nhân của hàng ức triệu con người trong quá khứ, hiện tại và tương lai” [229, tr11]
Việc tường minh khái niệm tư duy cũng trở nên khó khăn hơn bởi bao quanh
tư duy còn là một trường các khái niệm kế cận Tư duy rất gần nghĩa với ý thức nhưng giữa chúng vẫn có điểm khác biệt (ý thức là tư duy ở trạng thái tĩnh tại, là cái
đã được phản ánh còn tư duy là ý thức ở trạng thái động, là một quá trình, một hoạt động nhận thức chưa hoàn kết) Tư duy cũng rất gần nghĩa với lí trí nhưng xét về bản chất, không thể đồng nhất lí trí với tư duy (nói đến lí trí là nói đến “cái lôgic có tính nguyên tắc của nhận thức” [229, tr39] còn nói đến tư duy là nói đến sự vận động có tính tổng thể của toàn bộ các yếu tố như tư tưởng, tình cảm, cảm xúc, lí trí… nhằm mục đích nhận thức) Tư duy cũng gần nghĩa với tư tưởng nhưng tư tưởng vừa là kết quả, vừa là xuất phát điểm của tư duy Tư tưởng thiên về nội dung còn tư duy lại thiên
về phạm trù phương pháp
Tóm lại, mỗi ngành đều có cách tiếp cận tư duy khác nhau Tuy nhiên, không
ai có thể phủ nhận rằng, tư duy là giai đoạn phát triển quan trọng trong quá trình nhận thức nhằm nắm bắt bản chất của đối tượng cũng như chiều sâu quy luật của hiện thực đời sống Hoạt động nhận thức ấy ở mỗi thời đại, mỗi dân tộc, mỗi lĩnh vực khác nhau sẽ có những đặc trưng phổ biến, tạo thành các phương pháp, cách thức tư duy
Trang 1713
riêng Trong văn học, tư duy được hiểu là sự vận động có tính tổng thể của các yếu tố
tư tưởng và tình cảm, cảm xúc và lí trí nhằm mục đích nhận thức Bởi tính kế thừa và luôn vận động, tư duy vừa mang tính cá nhân vừa mang tính dân tộc, tính thời đại, tính nhân loại Vì thế, tư duy không chỉ là một sản phẩm xã hội mà còn là sản phẩm
có tính tổng hòa của lịch sử nhân loại
1.1.1.2 Phân loại tư duy
Mỗi ngành đều có góc độ tiếp cận tư duy khác nhau nên cũng có những tiêu chí để phân loại tư duy khác nhau Thừa nhận tính tương đối trong cách phân loại tư duy, người viết đề cập đến một vài cách phân loại tư duy cụ thể như sau:
Trong Tư duy thơ hiện đại Việt Nam, tác giả Nguyễn Bá Thành đã đưa ra hai
cách phân loại Cách thứ nhất là phân loại từ phương diện triết học, gồm hai nhóm phương pháp là tư duy siêu hình và tư duy biện chứng Cách thứ hai là phân loại theo các hình thái ý thức xã hội, gồm ba nhóm là tư duy khoa học, tư duy nghệ thuật và tư duy tôn giáo Trong đó, tư duy khoa học vận dụng trực tiếp phương pháp tư duy lôgic vào trong các ngành khoa học cụ thể Tư duy nghệ thuật vận dụng trực tiếp phương pháp tư duy hình tượng vào các ngành nghệ thuật Tư duy tôn giáo hướng tới cái vĩnh hằng, phi hiện thực, cái thiêng, tâm linh
Trong Lý luận văn học, Phương Lựu chia tư duy ra thành ba bình diện: tư duy
hành động – trực quan, tư duy hình tượng – cảm tính và tư duy khái niệm – lôgic Tương ứng với ba bình diện này là ba hình thức: tư duy thực tiễn hàng ngày, tư duy nghệ thuật và tư duy khoa học Từ cách phân loại này, tác giả đã khẳng định rằng: tư duy hình tượng – cảm tính là cơ sở của tư duy nghệ thuật
Bên cạnh đó, trong Lý luận văn học, xuất phát từ mục đích và phương tiện
nhận thức, nhà nghiên cứu Trần Khánh Thành đã đề xuất quan điểm chia tư duy thành hai kiểu cơ bản: tư duy lôgic và tư duy hình tượng Trong đó, “tư duy lôgic là kiểu tư duy đặc thù của khoa học (…) Tư duy hình tượng là kiểu tư duy đặc thù của nghệ thuật”[62, tr21]
Mặc dù có những điểm khác biệt trong các cách phân loại tư duy nói trên nhưng chúng lại gặp gỡ thống nhất trong việc xác định tư duy nghệ thuật là loại hình
tư duy vận dụng phương pháp tư duy hình tượng vào trong các ngành nghệ thuật Tư
Trang 18tư duy nghệ thuật có thể sử dụng hư cấu, tưởng tượng để xây dựng những hình tượng
có tầm khái quát lớn lao, tác động mãnh liệt đến người đọc” [148, tr226] Như vậy, tư duy nghệ thuật là sự hình tượng hóa hiện thực khách quan theo nhận thức chủ quan nên chịu sự chi phối mạnh mẽ của thế giới quan và nhân sinh quan, đồng thời mang tính chủ quan và cá thể hóa rõ nét Vì thế, trong tư duy nghệ thuật, hiện thực đời sống
là nguồn gốc của nhận thức, là nội dung của tư duy còn hình thức của nó lại phụ thuộc vào chủ thể sáng tạo Chủ thể sáng tạo với các yếu tố như trình độ, năng lực, tư chất, vốn sống, kinh nghiệm, nhân sinh quan, thế giới quan…sẽ quyết định cách thức, phương pháp, phẩm chất của tư duy Hình thức ấy biểu hiện cụ thể thông qua sự nhận thức, phản ánh, biểu hiện và thể nghiệm, sáng tạo nghệ thuật Những yếu tố đó, được dồn nén và kết đọng lại trong tác phẩm nghệ thuật Bởi vậy, hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm được coi là hình tượng của cảm xúc, chứa đựng “năng lượng” tình cảm của tác giả còn các yếu tố thuộc phương thức biểu hiện được xem như là những yếu tố góp phần biểu hiện quá trình tư duy của nhà văn
Mặc dù không nhằm mục đích phân loại tư duy nhưng trong Văn học như là tư
duy về cái khả nhiên [225, tr124], Trần Đình Sử đã góp phần chỉ ra sự khác biệt giữa
tư duy nghệ thuật và tư duy khoa học Trên cơ sở quan niệm tư duy “là hành động xuyên qua hiện thực để tiến đến cái khả năng bị che giấu trong đó” còn “hiện thực với
tư cách là sự thực hiện của những khả năng…Nó tồn tại trong dạng cái dĩ nhiên (cái
đã có) và “cái tất nhiên” (cái bắt buộc phải thế)”, tác giả khẳng định: nếu tư duy trong khoa học hướng đến nhận thức quy luật, cái tất yếu của hiện thực dưới hình thức khái niệm, phạm trù, công thức trừu tượng thì tư duy nghệ thuật lại hướng đến nhận thức
về “cái khả nhiên” - “cái có thể như thế” – “cái khả năng” của hiện thực thông qua hình tượng nghệ thuật “Cái khả nhiên” với ý nghĩa là “cái có thể như thế”, tự thân nó không thừa nhận sự tồn tại của “cái khả nhiên” duy nhất nào Do đó, văn học còn là
Trang 1915
sự sáng tạo cái khả nhiên của đời sống Hướng đến tính đặc thù đó của văn học, tư duy nghệ thuật luôn mang tính tự do, mềm dẻo, tích cực và sáng tạo
1.1.1.3 Tư duy nghệ thuật, tư duy thể loại và tư duy tiểu thuyết
Vì tư duy nghệ thuật là sự vận dụng trực tiếp phương pháp tư duy hình tượng vào trong các ngành nghệ thuật nên đối với mỗi lĩnh vực nghệ thuật, tư duy lại được chia nhỏ hơn dựa trên đặc trưng của từng nhóm Trong văn học, việc phân loại tư duy nghệ thuật thường dựa trên đặc trưng của các thể loại Nói như Bakhtin, “mỗi một thể loại thể hiện một thái độ thẩm mỹ đối với hiện thực, một cách cảm thụ, nhìn nhận, giải minh thế giới và con người” [11, tr7] Thái độ thẩm mĩ đối với hiện thực, cách cảm thụ, nhìn nhận, giải minh thế giới và con người… theo tinh thần của Bakhtin đều
có mối quan hệ với tư duy thể loại Theo đó, tư duy nghệ thuật thường gắn liền với những đặc trưng cơ bản của thể loại, vì thế nó còn là tư duy thể loại, tư duy thơ, tư duy kịch, tư duy tiểu thuyết…
Trong các loại hình tư duy thể loại, việc nghiên cứu tư duy tiểu thuyết luôn phải đặt trong mối tương quan với các thể loại khác bởi bản chất phức hợp của thể loại Với khả năng tổng hợp nhiều nhất các khả năng nghệ thuật của các loại văn học khác, tiểu thuyết “lấn át thể loại này, thu hút thể loại kia vào trong cấu trúc của mình, biện giải lại và sắp xếp lại trọng tâm cho chúng” [11, tr24] Nhờ đó, tiểu thuyết trở thành một thể loại “tham lam” nhất - nó “thâu tóm” thể loại này, thu hút thể loại khác Đặc biệt, nghiên cứu về tư duy tiểu thuyết cũng khó khăn hơn bởi thể loại này là “thể loại duy nhất nảy sinh và được nuôi dưỡng bởi thời đại mới của lịch sử thế giới” [11, tr22] Được nuôi dưỡng bởi thời đại mới, đối tượng thẩm mĩ của tiểu thuyết là “cuộc sống hiện tại không ngừng biến đổi, sinh thành dựa trên cơ sở kinh nghiệm cá nhân” [224, tr297] Bởi vậy, nghiên cứu về tư duy tiểu thuyết là nghiên cứu về tư duy của
“cái hôm nay” với tất cả những ngổn ngang, dang dở, chưa xong, chưa thể kết luận
“Cái hôm nay, cái thì hiện tại chưa hoàn thành” [11, tr14]
Việc nghiên cứu về tư duy nghệ thuật trong tiểu thuyết có thể được xem xét trên nhiều phương diện, trong đó, những vấn đề thuộc về chủ thể sáng tạo và tác phẩm
là những vấn đề có tính chất “căn cốt” nhất Từ phương diện chủ thể, tư duy nghệ thuật biểu hiện thông qua hệ thống các quan niệm về thế giới, hiện thực, con người,
Trang 2016
nghệ thuật… nhằm phản ánh nhân sinh quan, thế giới quan của người nghệ sĩ Chính
hệ thống quan niệm này đã trở thành “hệ quy chiếu” ẩn chìm trong các hình thức nghệ thuật, chi phối đến việc xây dựng thế giới hình tượng (nhà văn tư duy bằng hình tượng) và lựa chọn các thao tác kỹ thuật của tiểu thuyết (những yếu tố thuộc về thi pháp thể loại) để qua đó bộc lộ quan niệm, tư tưởng, tình cảm của tác giả
Từ những tiền đề trên, trong đề tài này, chúng tôi tiếp cận tư duy nghệ thuật trong mối quan hệ chặt chẽ với hệ thống các quan niệm, thế giới hình tượng và đặc trưng thi pháp thể loại Cụ thể hơn, đó không phải là tư duy nghệ thuật chung chung
mà thực chất là tư duy thể loại, tư duy tiểu thuyết Tuy nhiên, tiểu thuyết là một thể loại mang trong nó bản chất tổng hợp nên khi nghiên cứu cần có sự kết hợp với tư duy nghệ thuật trong các loại hình khác đồng thời đặt tư duy nghệ thuật trong mạch nối từ quan niệm đến việc xây dựng các hình tượng nghệ thuật và lựa chọn các phương thức trần thuật Theo con đường này, ta có thể khám phá ra cái hình thức mang tính quan niệm, phản ánh phương thức tư duy của người nghệ sĩ Đó cũng là tinh thần mà nhà nghiên cứu Nguyễn Bá Thành đã khẳng định: “Con đường tiếp cận tác phẩm một cách hình thức và chứng minh chính hình thức tác giả lựa chọn là thích hợp nhất để diễn đạt nội dung đó chính là con đường dẫn tới tìm hiểu các thao tác của tư duy nghệ thuật” [229, tr109]
1.1.2 Tình hình nghiên cứu về tư duy nghệ thuật trong văn học Việt Nam
Trên thế giới , ngay từ thời kì cổ đại, khi tư duy nghệ thuật còn chưa trở thành một khái niệm trung tâm trong lý luận văn học thì những vấn đề liên quan đến tư duy nghệ thuật đã được đề cập đến ở cả phương Đông và phương Tây Ở phương Tây,
Aristotle cùng với công trình Nghệ thuật thi ca đã được xem là người đầu tiên bàn đến bản chất của nghệ thuật Cùng với Aristotle, ở phương Đông, trong Văn tâm điêu
long, Lưu Hiệp đã đề ra những yêu cầu về tư duy nghệ thuật (đó là Nguyên đạo, Trưng thánh, Tôn kinh và Chính vĩ) Những tư tưởng sơ khai này đã tiếp tục được bàn
đến trên các khía cạnh như cảm tính, lý tính, bản năng, vô thức, trực giác, mối quan
hệ giữa nội dung, hình thức…trong nhiều thế kỷ sau đó Đến giữa thế kỷ XIX, thuật ngữ tư duy nghệ thuật chính thức xuất hiện “Thuật ngữ tư duy nghệ thuật đến giữa
Trang 21dịch và giới thiệu ở Việt Nam (Sự hình thành của tư duy trừu tượng trong lịch sử phát
triển của xã hội loài người của A.Spiêckin, Nhà xuất bản Sự thật, 1958; Từ điển triết học, NXB Sự thật, 1955) Tuy nhiên, phải đến đầu thế kỷ XXI, tư duy nghệ thuật với
tư cách là một đối tượng nghiên cứu chính mới được đề cập phổ biến hơn trong nghiên cứu văn học
Trước hết là trong một vài cuốn sách có tính chất công cụ , mục từ Tư duy nghệ
thuật đã được đề cập đến với tư cách là mô ̣t thuâ ̣t ngữ quan tro ̣ng trong nghiên c ứu
văn ho ̣c Đáng chú ý trong đó là cuốn 150 Thuật ngữ văn học do La ̣i Nguyên Ân biên soạn và Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
đồng chủ biên Cả hai công trình đều khẳng định tư duy nghệ thuật là một dạng hoạt động trí tuệ, nhằm sáng tạo tác phẩm nghệ thuật; nét đặc sắc của tư duy nghệ thuật bộc lộ ở sự chiếm lĩnh thế giới một cách hình tượng cảm tính, ở sự tổng hợp một cách hữu cơ các kết quả hoạt động của những cơ chế vừa lý tính vừa cảm tính của trí tưởng tượng; tư tưởng, quan niệm của tác phẩm được xây dựng trên cơ sở tư duy nghệ thuật: việc lựa chọn các phương tiện biểu hiện cũng dựa trên cơ sở tư duy nghệ thuật… Bằng sự biên soạn công phu, hai công trình nghiên cứu trên đã cung cấp nền tảng lý luận cơ bản về tư duy nghệ thuật góp phần định hướng cho những công trình nghiên cứu tiếp theo
Bên ca ̣nh những cuốn từ điển thuật ngữ văn học, vấn đề tư duy nghê ̣ thuâ ̣t cũng đươ ̣c bàn đến trong mô ̣t số cuốn sách lý luâ ̣n văn ho ̣c quan tro ̣ng Trong đó, ta có thể
kể đến cuốn Lý luận văn học do Phương Lựu chủ biên (NXB Đại học Sư phạm,
2010) Trong công trình này, tác giả đã dành trọn chương 8 để bàn về những vấn đề lí luâ ̣n quan tro ̣ng có liên quan đến tư duy nghê ̣ thuâ ̣t của nhà văn như : tư duy hình tươ ̣ng là cơ sở của tư duy nghê ̣ thuâ ̣t ; những thể nghiê ̣m trong tư duy nghê ̣ thuâ ̣t ; vai
trò của trực giác và vô thức trong tư duy nghê ̣ thuâ ̣t… Cùng với công trình này, Lý
luận văn học do Hà Minh Đức chủ biên cũng đã dành không ít thời lượng văn bản để
Trang 22Chỉ đến Giáo trình Tư duy thơ hiện đại Việt Nam của tác giả Nguyễn Bá Thành
thì vấn đề tư duy nghệ thuật mới được bàn đến một cách kĩ lưỡng trên cả phương diện
lí luận cũng như thực tiễn Trong cuốn sách này, tác giả đã đặt ra tính thời sự của viê ̣c nghiên cứu tư duy , giải quyết các vấn đề liên quan đến khái niê ̣m tư duy và những khái niệm kế cận, phân loa ̣i tư duy, đă ̣c điểm cơ bản của các loại hình tư duy Trên cơ
sở đó, tác giả tập trung bàn luận mô ̣t số vấn đề lý luâ ̣n về tư duy thơ với tư cách là
mô ̣t phương thức biểu hiê ̣n của tư duy nghê ̣ thuâ ̣t , tìm hiểu đặc trưng của tư duy thơ Viê ̣t Nam qua các th ời kỳ… Có thể nói , đây là công trình nghiên cứu công phu , tập trung và có tính hệ thống hơn cả ở Việt Nam Nó không chỉ dừng lại tr ong viê ̣c tiếp
câ ̣n tư duy ng hê ̣ thuâ ̣t như mô ̣t vấn đề lý luâ ̣n hay mô ̣t thuâ ̣t ngữ đă ̣t nền tảng cho nghiên cứu khoa ho ̣c mà tác giả công trình đã tiến xa hơn mô ̣t bước , đi từ lí thuyết lý luâ ̣n đến thực tiễn sáng tác và chỉ ra nh ững đặc điểm cơ bản của tư duy nghệ thuật ở
mô ̣t thể loa ̣i lớn (thơ ca ) trong toàn bô ̣ li ̣ch sử phát triển của nó Chính công trình nghiên cứu công phu này đã đă ̣t những nền tảng lý luâ ̣n cũng như thực tiễn quan tro ̣ng cho nhiều công trình nghiên cứu mang tính vâ ̣n du ̣ng sau này
Cùng với tư duy nghệ thuật trong thơ, kịch, truyện ngắn… tư duy nghê ̣ thuâ ̣t trong tiểu thuyết đã trở thành đối tượng nghiên cứu chính trong m ột số luận văn thạc
sĩ như: Tư duy nghê ̣ thuật tron g tiểu thuyết của Lê Lựu của Mai Thị Liên; Tiểu thuyết
hiê ̣n đại – sự hội ngộ các tư duy trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương của Nguyễn
Phước Bảo Nhân; Tư duy nghệ thuật tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà của Lê Thị Loan…
Hầu hết các công trình này mới dừng lại ở việc nghiên cứu về tư duy nghệ thuật trong tiểu thuyết của từng tác giả trên các phương diện cụ thể (Mai Thị Liên tập trung vào nghệ thuật xây dựng nhân vật, không gian và thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Lê Lựu; Nguyễn Phước Bảo Nhân tập trung vào sự hô ̣i ngô ̣ các tư duy trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương …) Những công trình nghiên cứu này đã ghi nhận sự hình thành của một hướng nghiên cứu mới là nghiên cứu tư duy nghệ thuật trong tiểu
Trang 2319
thuyết Tuy nhiên, hầu hết những công trình nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu về tư duy nghệ thuật của từng tác giả riêng rẽ trên những phương diện cụ thể của tác phẩm Cùng với đó, việc vận dụng những đặc trưng của tiểu thuyết trong nghiên cứu về tư duy nghệ thuật chưa được kết hợp một cách nhuần nhuyễn nên đặc trưng của tư duy tiểu thuyết chưa được tập trung làm rõ
Bên cạnh những công trình nghiên cứu về tư duy nghệ thuật trong tiểu thuyết của từng tác giả là những công trình đề cập đến vấn đề đổi mới tư duy nghệ thuật trong tiểu thuyết Theo đó, chúng tôi có thể kể đến một số công trình quan trọng như:
Mấy ghi nhận về sự đổi mới của tư duy nghệ thuật và hình tượng con người trong văn học ta thập kỷ qua của Trần Đình Sử; Đổi mới tư duy tiểu thuyết của Hội nhà văn (tập
hợp những tham luận của nhiều tác giả như: Tiểu thuyết – một thách thức không dễ
vượt qua của Đỗ Chu; Lại bàn về đổi mới tư duy của Hoàng Quốc Hải; Cần đổi mới
cả tư duy tiếp nhận của Phạm Đức; Một vài suy nghĩ về đổi mới tư duy tiểu thuyết của
Nguyễn Đỗ Phú; Suy nghĩ về hiện thực trong đổi mới tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh…); Đổi mới tư duy văn học và đóng góp của một số cây bút văn xuôi của Mai Hương; Những trăn trở về đổi mới tư duy tiểu thuyết của các nhà văn Viê ̣t Nam hiê ̣n
nay của Nguyễn Thị Hải Phương… Nhìn chung, các công trình đã chỉ ra tình trạng
khủng hoảng của tiểu thuyết đồng thời đặt ra yêu cầu đổi mới tư duy thể loại nhằm đưa tiểu thuyết thoát khỏi tình trạng trên
Nhìn lại l ịch sử nghiên cứu, người viết nhâ ̣n thấy tư duy nghê ̣ thuâ ̣t đã bước đầu được đề cập đến trong một số giáo trình, từ điển thuật ngữ văn học, sách lý luận văn học và luận văn thạc sĩ Việc nghiên cứu về tư duy nghệ thuật trong tiểu thuyết cũng đã được đặt ra nhưng mới chỉ dừng lại ở sáng tác của một vài cây bút văn xuôi riêng lẻ Chưa có một công trình nào vượt khỏi những giới hạn trên để chỉ ra dấu ấn của tư duy nghệ thuật trong sáng tác của một nhóm tác giả Với tính chất quan trọng của việc nghiên cứu về tư duy nghệ thuật trong tiểu thuyết, nhiều hiê ̣n tượng văn học, tác giả ho ặc nhóm tác giả cũng như các tác phẩm khác cần đư ợc tiếp tu ̣c triển khai theo hướng nghiên cứu này để thấy được nét riêng đ ộc đáo, những đổi mới trong tư duy nghệ thuật của nhà văn cũng như những đóng góp của các tác giả vào công cuộc đổi mới diê ̣n ma ̣o tiểu thuyết hiện nay
Trang 24ra mô ̣t thời kỳ mới của văn ho ̣c nói chung và tiểu thuyết nói riêng So với trước đây, tiểu thuyết bước sang một khúc ngoă ̣t mới, vâ ̣n đô ̣ng theo xu hướng dân chủ hóa
Vâ ̣n đô ̣ng trong xu hướng dân chủ hóa với tinh thần đổi mới tư duy và nhìn thẳng vào sự thâ ̣t , tiểu thuyết có những bước chuyển không nhỏ Những quan niê ̣m mới với về văn chương , tiểu thuyết, nhà văn, hiê ̣n thực, con người…được tự do nảy nở Tiểu thuyết chuy ển mình từ hướng ngoại đến hướng nội, từ cái ta chung đến cái tôi riêng trong dòng chảy chung của li ̣ch sử Hiê ̣n thực với tư cách là đối tượng phản ánh của tiểu thuyết được mở rộng và mang tính toàn diê ̣n hơn , mở ra những không gian vô tâ ̣n cho tiểu thuyết thỏa sức chiếm lĩnh, khám phá, khai vỡ Sự thay đổi trong
hê ̣ thống quan niê ̣m đã đưa đến sự thay đổi của tiểu thuyết trên nhiều bình diê ̣n , kéo theo sự thay đổi trong cấu trúc thể loại cũng như sự nở rô ̣ của các bút pháp ngh ệ thuật Nhà văn có cơ hội bô ̣c lô ̣ cá tính sáng ta ̣o thông qua vi ệc tìm kiếm, thể nghiê ̣m nhiều hình thức và thủ pháp ngh ệ thuật mới Đây cũng là một sự “cởi trói” , “giải phóng” tư tưởng đưa đến những thành tựu đáng kể của tiểu thuyết Những sáng tác của Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh, Nguyễn Khải, Hồ Anh Thái…đã góp phần khai mở, mang lại cho tiểu thuyết một diện mạo mới
Trong tinh thần đổi mới ấy, đầu thế kỷ XXI, tiểu thuyết Việt Nam tiếp tục có
sự nở rộ và phát triển theo nhiều chiều hướng Trong đó, đặc biệt đáng chú ý là sự phát triển mạnh mẽ của khuynh hướng đổi mới và cách tân hình thức thể loại Bên cạnh những nhà văn nam như Nguyễn Khải, Nguyễn Bình Phương, Tạ Duy Anh, Nguyễn Việt Hà…, khuynh hướng đổi mới và cách tân thể loại đã ghi nhận sự góp
Trang 2521
mặt đáng kể của những cây bút nữ như Nguyễn Ngọc Tư, Thuận, Đoàn Minh Phượng,
Võ Thị Xuân Hà, Lê Ngọc Mai, Thùy Dương, … Qua những sáng tác này, ta thấy rõ một tinh thần “quyết liệt hướng tới mục đích “xé rào” thể loại tiểu thuyết, phá vỡ ranh giới của hàng loạt quan niệm mang tính định giá (…) có những bước đột phá rõ rệt về
cả nội dung ý nghĩa cũng như hình thức thể hiện Với những cách tân ở nhiều mức độ khác nhau, “khuynh hướng cách tân” có những thành tựu đáng kể trong nỗ lực hòa nhịp cùng dòng chảy văn học đương đại thế giới, với những dấu hiệu rõ rệt của cảm quan hậu hiện đại trong văn chương” [70, tr296 – 297]
Tựu trung lại, khi đặt tiểu thuyết của các nhà văn nữ hải ngoại trong bối cảnh tiểu thuyết Việt Nam đương đại, chúng tôi nhận thấy các nhà văn nữ đã có sự đóng góp quan trọng cho sự phát triển và hiện đại hóa thể loại trên nhiều phương diện Chính vì thế, họ góp một phần không nhỏ, làm đầy đủ hơn cho diện mạo của tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ Đổi mới Để có được những đóng góp đáng kể đó, điều quan trọng trước hết, nằm trong sự đổi mới tư duy nghệ thuật của nhà văn
Khác với thế hệ các nhà văn h ải ngoại trước đây, các nhà văn nữ hải ngoại chủ yếu là những người được đào tạo khá bài bản trong môi trường học thuật chuyên nghiệp: Thuâ ̣n học cao ho ̣c văn h ọc Anh ta ̣i Đa ̣i ho ̣c Paris 7; cao học văn học Nga tại
Đa ̣i ho ̣c Sorbonne (Pháp); Lê Ngọc Mai tốt nghiệp xuất sắc khoa Văn và trở thành giảng viên trường Đại học Tổng hợp, tiến sĩ Ngữ văn tại Nga đồng thời là dịch giả của nhiều tác phẩm văn học nổi tiếng; Lê Minh Hà tốt nghiệp khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội, từng có nhiều năm làm giáo viên ngữ văn tại trường trung học Đan Phượng và Hà Nội – Amsterdam…
Không chỉ được đào tạo bài bản trên con đường đến với văn chương, các nhà văn nữ Việt Nam hải ngoại còn được trải nghiệm nhiều năm ở những nơi được xem như là “cái nôi” sinh thành của tiểu thuyết, nơi hội tụ những đỉnh cao văn chương nhân loại, nơi khởi nguồn cho những cuộc cách tân văn học như Nga, Pháp, Đức… Cùng với đó, các nhà văn nữ Việt Nam hải ngoại còn có vốn ngoại ngữ đảm bảo cho các nhà văn có thể đọc thông, dịch thạo những tác phẩm văn chương có giá trị từ nhiều nền văn học khác (Thuận và Lê Ngọc Mai đều là những dịch giả văn học Pháp
với nhiều tác phẩm dịch nổi tiếng như: Xạ thủ nằm bắn của J.P Manchette, Mở rộng
Trang 2622
phạm vi đấu tranh của Michel Houllebecq; Người tình của Duras; Và nếu như chuyện này là có thật, Gặp lại của Marc Levy, Buồn ơi chào mi của Francoise Sagan, Một ngày mưa đẹp trời của Éric – Emmanuel Schrmitt; Chó hoang Đin-gô, hay Câu chuyện mối tình đầu của R.I.Phraerman, Bản giao hưởng Pháp của Irène Némirovsly;
và gần đây nhất, họ đã hợp tác cùng nhau để dịch tác phẩm Ngôn từ của một triết gia
hiện sinh nổi tiếng Jean- Paul Sartre) Ngoài ra, các nhà văn nữ Việt Nam hải ngoại còn có ưu thế bởi họ được trải nghiệm và sáng tác trong một bầu dưỡng chất tự do, cởi mở, phóng khoáng và có nhiều lựa chọn phát triển… Môi trường sáng tạo ấy khiến cho các nhà văn nữ có nhiều thuận lợi trong việc học hỏi kinh nghiệm nghệ thuật từ những nền văn chương lớn Đó là những ưu thế đối với các nhà văn nữ hải ngoại trong hành trình sáng tạo mà không phải nhà văn nào trong nước cũng có được
Hơn nữa, xuất phát từ tâm thế chủ động ra đi thông qua con đường tu nghiệp, các nhà văn nữ có một tâm thế hoàn toàn tự do trong con đường đến với văn chương
Họ đến với văn chương như một lựa chọn nghề nghiệp chứ không phải là một phương tiện để gồng gánh những gánh nặng của quá khứ như những thế hệ trước đó Vì thế, vốn liếng đến với văn chương của họ không chỉ có học vấn, tài năng mà còn có cả tâm huyết với những khát khao khám phá thể nghiệm và tìm tòi cách tân thể loại Đó
là những nền tảng quan trọng để các nhà văn nữ hải ngoại có được những bước chuyển quan trọng trong tư duy nghệ thuật
Với một thái độ lao động nghệ thuật nghiêm túc, một ý thức cao độ về nghề nghiệp, các nhà văn nữ hải ngoại đã thể hiện những nỗ lực không ngừng trong việc tìm tòi, sáng tạo tiểu thuyết Điều này được thể hiện thông qua số lượng các tiểu thuyết được xuất bản, những tác phẩm dịch, phê bình văn học và cả những giải thưởng văn chương ở lĩnh vực tiểu thuyết Trong số họ, Thuâ ̣n là tác giả có số lượng
tiểu thuyết xuất bản nhiều nhất (7 tiểu thuyết g ồm Made in Vietnam, Chinatown, T
mất tích, Paris 11 tháng 8, Vân Vy, Thang máy Sài Gòn; Chỉ còn 4 ngày là đến tháng Tư; trong đó, Paris 11 tháng 8 đươ ̣c nhâ ̣n giải thưởng của Hội Nhà văn năm 2005; Made in Vietnam được xuất bản tại Pháp; các tiểu thuyết Chinatown, T mất tích, Thang máy Sài Gòn, Paris 11 tháng 8 sau khi xuất bản ở Việt Nam cũng đều được tác
giả chuyển ngữ và xuất bản tại những nhà xuất bản uy tín của Pháp Bản tiếng Pháp
Trang 2723
của Thang máy Sài Gòn được Trung tâm sách quốc gia Pháp trao giải sáng tạo năm 2013) Đoàn Minh Phượng xuất bản 2 tiểu thuyết Và khi tro bụi và Mưa ở kiếp sau , trong đó, Và khi tro bụi là tác phẩm văn xuôi duy nhất được trao giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam năm 2007 Lê Ngo ̣c Mai có Tìm trong nỗi nhớ và Trên đỉnh dốc , trong đó, Tìm trong nỗi nhớ đã đạt giải B cuộc thi tiểu thuyết lần thứ hai (2002 –
2004) của Hội Nhà Văn Lê Minh Hà cũng có đóng góp với hai tiểu thuyết khá “được
lòng” bạn đọc và giới văn chương trong nước là Gió tự thời khuất mặt và Phố vẫn
gió Đó là những thành công, đóng góp không nhỏ của các cây bút n ữ ở thể loại tiểu
thuyết v à cũng là minh chứng thuyết phục cho nỗ lực cách tân thể loại của các nhà văn nữ Từ những bứt phá về nội dung và hình thức, các nhà văn nữ hải ngoại đã “góp sức” cùng một số nhà văn trong nước, trở thành lực lượng “nòng cốt” trong khuynh hướng cách tân tiểu thuyết Việt Nam đương đại
Bên cạnh đó, các nhà văn nữ hải ngoại cũng thể hiện những nỗ lực và tâm huyết không nhỏ để rút ngắn khoảng cách giữa văn học Việt Nam với văn học thế giới Điều này không chỉ thể hiện thông qua việc dịch thuật và giới thiệu thành tựu văn học thế giới ở Việt Nam mà còn hướng đến việc chuyển dịch những tác phẩm văn học ở Việt Nam để xuất bản ở nước ngoài
Mặc dù luôn cố gắng, nỗ lực hòa nhịp cùng dòng chảy văn học thế giới nhưng
ở các nhà văn nữ luôn thể hiện một tinh thần “hợp lưu” và hướng về nguồn cội Sống
ở hải ngoại, người nghệ sĩ thường đứng trước ba lựa chọn: thứ nhất là hội nhập với nền văn học nơi trú xứ (viết bằng tiếng nước ngoài, xuất bản ở nước ngoài như Linda
Lê, Đinh Linh, Mộng Lan, Monique Trương); thứ hai là lựa chọn con đường đứng
“bên lề” của mọi nền văn học - không hội nhập với văn học nơi trú xứ cũng không
“nhập dòng” với văn chương quốc nội (họ viết bằng tiếng Việt nhưng không xuất bản trong nước); thứ ba là “hợp lưu”, “nhập dòng” và hướng về nguồn cội (viết bằng tiếng Việt, xuất bản trong nước) Các nhà văn nữ hải ngoại đều chọn con đường thứ ba này
Dẫu biết rằng, viết về nguồn cội, viết về quê hương khi mà mình đã có quá nhiều năm xa cách cũng khó khăn tựa như một con cá hồi nhớ về dòng sông khi không còn quẫy đạp trong đó, các nhà văn nữ vẫn lựa chọn nó như một sự thử thách, một sự trở về Đó cũng là tinh thần mà nhà văn Thuận khẳng định: “tôi chắc chắn là
Trang 2824
mình luôn hướng đến độc giả người Việt ở Việt Nam Chính vì thế mà tôi muốn bằng mọi cách để in được sách của mình ở Việt Nam” [243] Hơn thế nữa, “di cư” nhưng không chấp nhận “di cư” trong ngôn ngữ đã đưa các nhà văn nữ hải ngoại đến với thử thách tiếp theo trên hành trình sáng tạo Khác hẳn với các nhà văn trong nước (việc viết bằng ngôn ngữ nào không bao giờ trở thành nỗi băn khoăn, trăn trở như một lựa chọn sống còn), các nhà văn nữ hải ngoại khi đã rời khỏi quê hương đồng nghĩa với việc bị “bứt” ra khỏi môi trường sinh ngữ của tiếng Việt Nói cách khác, thứ ngôn ngữ mà họ mang theo là thứ “ngôn ngữ chết” bởi “ngôn ngữ đó không cùng thở, cùng lớn lên, cùng chìm nổi với dân mình và thời đại mình” [162]
Khó khăn là vậy, nhưng hành trình sáng tạo của các nhà văn nữ hải ngoại đã ghi nhận những nỗ lực, cố gắng không nhỏ của các nhà văn trong việc “làm chủ” ngôn ngữ Ra đi từ khi còn nhỏ, sống trong môi trường “khan hiếm” sách Việt ngữ, Đoàn Minh Phượng âm thầm nuôi dưỡng vốn tiếng Việt ấy qua những cuốn từ điển
để đến bây giờ, sau gần hai mươi năm, tác giả đánh dấu sự trở về ấy bằng Và khi tro
bụi với một chất liệu ngôn từ đẹp và đầy chất trí tuệ Lê Ngọc Mai, Lê Minh Hà nuôi
dưỡng thứ ngôn ngữ ấy bằng một tâm hồn đôn hậu và dạt dào cảm xúc nên khi nào trên các trang văn của chị cũng thể hiện rõ một “lối văn tuyệt đẹp”, nhẹ nhàng mà day dứt, đẩy người ta đến tận cùng giới hạn của cảm xúc Thuận lại thông minh, sắc sảo, nắm chắc ưu thế vừa hiện đại, vừa tinh tế của tiếng Việt để trong hành trình sáng tạo, nhà văn không chỉ sử dụng nó như một chất liệu mà còn như một phương tiện nghệ thuật nhằm thực hiện những “cuộc chơi” nghệ thuật Đó không chỉ là một nỗ lực mà còn là một sự dũng cảm của các nhà văn vốn nặng lòng đối với tiếng Việt
Như Linda Lê (một nhà văn Pháp gốc Việt) đã tự bạch rằng: Viết bằng một thứ tiếng không phải ngôn ngữ mẹ đẻ của mình thì khác nào làm tình với xác chết Bởi
thế, Linda Lê đã lựa chọn tiếng Pháp để sáng tác Phúc âm của tội ác, Vu khống nhằm
đánh dấu tên tuổi của mình trên văn đàn đương đại Pháp Lựa chọn ấy đã phản ánh một điều rằng: từ trong tâm thức, Linda Lê đã xác tín tiếng Pháp như là tiếng mẹ đẻ
và bản thân mình là một nhà văn đương đại Pháp Nguồn gốc Việt không còn là nỗi
ám ảnh, sự trăn trở đối với nhà văn trên con đường hội nhập vào nền văn học nơi trú
xứ Đối với các nhà văn nữ hải ngoại, khi họ chọn viết bằng tiếng Việt, đó không đơn
Trang 2925
giản là chọn cách phổ biến bằng ấn loát mà còn là “chọn cái hồn của ngôn ngữ ấy, chọn luôn cả truyền thống văn hóa phong tục ngôn ngữ ấy nảy sinh” [69, tr8] Lựa chọn ấy còn phản ánh sự “nặng lòng” của các nhà văn xa xứ với tiếng nói, với văn học và truyền thống văn hóa của dân tộc Không chỉ thế, ngôn ngữ sáng tạo còn được xem như là một thứ “căn cước” để xác định “nguồn cội” của các nhà văn cũng như
“quốc tịch” văn chương của họ nên lựa chọn viết bằng tiếng Việt chính là một bước tiến tới khẳng định sáng tác của họ là một bộ phận của văn học Việt Nam Bên cạnh việc lựa chọn ngôn ngữ, việc lựa chọn nơi xuất bản cũng phản ánh đối tượng độc giả
mà các nhà văn nữ hải ngoại muốn hướng tới – đó chính là “biển lớn” người Việt ở trong nước Trên cơ sở những lựa chọn ấy, hành trình sáng tạo của các nhà văn nữ có thể được xem như là hành trình giữ gìn, bảo lưu tiếng Việt và đưa tiếng Việt trở về với môi trường sinh ngữ của nó Điều đó góp phần “xác tín” rằng, từ trong tâm thức,
họ vẫn là con người Việt luôn giữ trong mình bản sắc văn hóa dân tộc dù cho họ có trú xứ ở miền đất nào hay mang quốc tịch nào
Tóm lại, khi đặt tiểu thuyết của các nhà văn nữ hải ngoại trong bối cảnh tiểu thuyết Việt Nam đương đại, với những nỗ lực hợp lưu và hội nhập, cùng với đó là những thể nghiệm, cách tân trên nhiều phương diện, tiểu thuyết của các nhà văn nữ hải ngoại đã có những thành công và đóng góp không nhỏ trong nỗ lực đổi mới, cách tân thể loại tiểu thuyết ở Việt Nam Không chọn con đường đứng “bên lề”, các nhà văn nữ hải ngoại đang “dự phần” ngày càng nhiều hơn vào đời sống văn chương trong nước Từ sự góp mặt bước đầu, họ đã có mặt đông đảo hơn trong khuynh hướng cách tân thể loại Thông qua mối quan tâm liên tục và chặt chẽ với các biến chuyển trong nước, các nhà văn nữ hải ngoại góp phần rút ngắn khoảng cách với văn học trong nước, hứa hẹn những khả năng “hợp lưu” mới
Ngoài ra, khi đặt tiểu thuyết của các nhà văn nữ hải ngoại trong bối cảnh văn học nữ Việt Nam, những nỗ lực và đóng góp của các nhà văn nữ hải ngoại càng được khẳng định Nếu như trước đây, những cây bút nữ mới chủ yếu ghi dấu ở lĩnh vực thơ
ca, truyện ngắn…thì đến thời kỳ đổi mới, họ đã có một sự chuyển mình mạnh mẽ và khắc họa ấn tượng ở thể loại giữ vị trí “then chốt” trong đời sống văn học – tiểu thuyết Cùng với các nhà văn nữ trong nước như Nguyễn Ngọc Tư, Võ Thị Xuân Hà,
Trang 3026
Thùy Dương, Dạ Ngân, Bích Ngân, Trầm Hương… sáng tác của các nhà văn nữ hải ngoại đã góp phần đánh dấu sự “trỗi dậy”, “bừng nở” (cách dùng từ của Thái Phan Vàng Anh) với sự đóng góp không thể phủ nhận của các nhà văn nữ trong lịch sử tiểu thuyết ở Việt Nam Bước vào thể loại trung tâm của đời sống văn học, các nhà văn nữ
đã góp phần ghi dấu sự lớn mạnh của tiểu thuyết nữ và kéo theo sự “bung tỏa” của những vấn đề như: ý thức phái tính, âm hưởng nữ quyền hay sự hình thành một lối viết nữ trong văn chương Nói như Thái Phan Vàng Anh, “các nhà văn nữ đã cùng nhau làm nên một dòng văn học nữ giàu bản sắc, tiếp tục cất lên tiếng nói của nữ nhân Việt Nam Tiếng nói nữ giới ấy không còn là tiếng nói cá nhân, nhỏ lẻ như những giai đoạn văn học trước Tiếng nói phụ nữ trong văn xuôi 30 năm đổi mới đã là tiếng nói chung của nữ giới Nhờ sự tập hợp đông đảo ấy, các nhà văn nữ thế hệ sau 1975 đã không chỉ khẳng định ý thức giới tính mà còn tạo nên một diễn ngôn của giới mang đậm âm hưởng nữ quyền Văn học nữ nhờ đó không còn là một bộ phận, một khu vực văn học “ngoại biên” của nền văn học chính thống” [177, tr200]
1.2.2 Tình hình nghiên cứu về tiểu thuyết và tư duy nghệ thuật trong tiểu thuyết của một số nhà văn nữ Việt Nam hải ngoại đương đại
Cho đến thời điểm này, văn học hải ngoại nói chung và tiểu thuyết của các nhà văn nữ hải ngoại nói riêng chưa có một lịch sử dày dặn trong nghiên cứu và phê bình Điều này có thể được xem xét từ ba nguyên nhân: thứ nhất là so với các thể loại khác, tiểu thuyết ở hải ngoại chỉ thực sự phát triển trong giai đoạn gần đây (đặc biệt là từ năm 2000) – quãng thời gian chưa đủ dài để có một bề dày trong nghiên cứu; thứ hai, viê ̣c tiếp nhâ ̣n sáng tác của các tác giả hải ngoại ph ải trải qua mô ̣t hành trình khá khó khăn bởi những lí do về khoảng cách địa lí, văn hóa, chính trị; thứ ba, tiểu thuyết của các nhà văn nữ hải ngoại đương đại có sự khác biê ̣t nhi ều trong lối viết , đề tài , tư tưởng, quan niê ̣m… khiến cho độc giả trong nước gặp nhiều khó khăn trong quá trình tiếp nhận Sự kéo dài của tình trạng đó làm cho số lươ ̣ng những công trình nghiên cứu về tiểu thuyết của những nhà văn hải ngoa ̣i khá ít ỏi
Trước hết, tiểu thuyết của các nhà văn nữ hải ngoại đương đại đã bước đầu được đề cập đến trong những bài viết, công trình nghiên cứu có tính khái quát về văn
học hải ngoại như: Nghĩ về văn học hải ngoại; Khả năng và triển vọng của văn học
Trang 3127
hải ngoại của Nguyễn Mộng Giác; Văn học, nội lực trong – ngoài của Nguyên Ngọc; Văn học hải ngoại: “dòng riêng” có gặp “dòng chung” của Nguyễn Vĩnh Nguyên, Văn học Việt Nam ở hải ngoại – những vấn đề của sự phát triển hiện nay của A.A
Sokolov; Văn học hải ngoại nhìn từ trong nước của Đỗ Minh Tuấn… Đúng như tên
gọi, các bài viết đều đề cập đến văn học hải ngoại từ một cái nhìn khái quát, không chủ đích đi sâu vào sáng tác của các nhà văn nữ Vì thế, tiểu thuyết của các nhà văn
nữ hải ngoại ít khi được đề cập đến
Bên cạnh những công trình nghiên cứu trên, sáng tác của các nhà văn nữ hải ngoại cũng ít nhiều được đề cập đến trong những công trình nghiên cứu mang tính
khái quát về văn chương giới nữ ở Việt Nam như: Văn xuôi các nhà văn nữ thế hệ sau
1975 của Thái Phan Vàng Anh; Từ lý thuyết phê bình nữ quyền nghiên cứu một số tác phẩm văn xuôi của các tác giả nữ Việt Nam từ năm 1900 đến nay của Hồ Khánh Vân; Một vài lý giải về hiện tượng tự thuật trong sáng tác văn xuôi của các tác giả nữ Việt Nam từ 1990 đến nay của Hồ Khánh Vân; tọa đàm Văn xuôi nữ trong bối cảnh văn học Việt Nam đương đại của Viện Văn học; Ý thức phái tính trong văn xuôi nữ đương đại của Nguyễn Thị Bình… Trên cơ sở ghi nhận sự “bừng nở” của văn chương nữ
giới, những công trình nghiên cứu trên đã chỉ ra nét chung phổ biến trong sáng tác của các nhà văn nữ (trong đó có sáng tác của các nhà văn nữ hải ngoại) như ý thức mới về phái tính, âm hưởng nữ quyền và lối viết tự thuật
Từ những bài viết mang tính khái quát, một số công trình đã đào sâu vào nét riêng trong cảm hứng cũng như đề tài chủ đạo trong sáng tác của các nhà văn nữ hải ngoại: cảm hứng hoài niệm với mảng đề tài về cuộc sống tha hương Đề cập đến vấn
đề này có một số bài viết tiêu biểu như: Thân phận công dân toàn cầu trong tiểu
thuyết của Thuận của Nguyễn Thị Hoa, Về một dấu chỉ văn xuôi hải ngoại: hoài niệm
của Mai Anh Tuấn, Dòng chảy trầm của văn học xa xứ của Tiểu Quyên, Paris 11
tháng 8 – con người và số phận (đọc Paris 11 tháng 8 của Thuận) của Nguyễn Thị
Thu Hà; Cảm thức lạc loài trong sáng tác của Thuận của Trịnh Đặng Nguyên Hương;
Đọc Paris 11 tháng 8: những người không được nhớ đến của Đỗ Phước Tiến; Paris
11 tháng 8 – con người và số phận của Thu Hà; Phố Tàu: không chỉ là tha hương của
Trang 32ít nhiều chạm tới thứ “năng lượng” mang tính định hướng của tư duy nghệ thuật Đó
là những tình cảm sâu sặng, ám ảnh, thúc giục tư duy vận động, đưa tư duy tìm đến với những hình tượng con người tha hương trong sáng tác của các nhà văn nữ Chỉ khi hoài niệm quá khứ luôn ám ảnh trong từng phút giây của hiện tại, chỉ khi tha hương luôn là vấn đề trăn trở một cách thường trực trong tư duy của các nhà văn nữ thì họ mới “bén duyên” sâu nặng với mảng đề tài này Điều này, mới chỉ được nhắc đến thoáng qua trong bài viết của Nguyễn Thị Hoa: “Qua những hình tượng văn chương,
họ đang viết lên gương mặt, tư duy, niềm thương nhớ từ bản thân mình” [99]
Bên cạnh những bài viết trên, có một số luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ đã tập trung làm rõ thân phận người Việt và cảm thức lạc loài trong tiểu thuyết của các nhà
văn nữ hải ngoại như: Luận án Văn xuôi tiếng Việt ở nước ngoài từ 1975 đến nay của Nguyễn Thị Tuyết Nhung; Luận văn Thân phận người Việt trong một số tiểu thuyết
hải ngoại Việt Nam đương đại của Nguyễn Thị Thu Trang, Luận văn Cảm thức lạc loài trong sáng tác của các nhà văn nữ hải ngoại (Qua sáng tác của Thuận, Đoàn Minh Phượng, Mai Ninh) của Ngô Thị Thu Hiền; Luận văn Cảm thức xa xứ trong văn học Việt Nam đương đại (qua một số tác phẩm văn xuôi của Phạm Hải Anh, Lê Minh
Hà, Đoàn Minh Phượng, Thuận) của Phạm Thị Giang Thanh… Nhìn chung, các luận
văn có những hướng triển khai khác nhau nhưng tựu trung lại, đều nhấn mạnh đến sự
cô đơn, lạc loài của các thân phận tha hương trong tiểu thuyết của các nhà văn nữ Từ những cảm thức ấy, kiểu nhân vật trung tâm trong sáng tác của các nhà văn nữ hải ngoại chính là những con người tha hương bé nhỏ, mang nặng trong mình nỗi niềm hồi nhớ cố hương cùng sự cô đơn, lạc loài trong bối cảnh xã hội hiện tại Mặc dù đã
đề cập đến một trong những phương diện liên quan đến tư duy nghệ thuật nhưng
Trang 3329
những công trình trên chưa giành những trang viết tập trung để bàn luận về tư duy nghệ thuật trong tiểu thuyết của các nhà văn nữ
Ngoài ra, cũng có một số công trình nghiên cứu đề cập đến dấu ấn chủ nghĩa
hậu hiện đại trong sáng tác của các nhà văn nữ hải ngoại như: Một số khuynh hướng
tiểu thuyết ở nước ta từ thời điểm đổi mới đến nay của Nguyễn Thị Bình, Dấu ấn chủ nghĩa hậu hiện đại trong tiểu thuyết của Thuận của Phạm Thị Thu; Dấu ấn chủ nghĩa hậu hiện đại trong tiểu thuyết của nhà văn Thuận của Võ Thị Thu; Dấu ấn hậu hiện đại trong tiểu thuyết của nhà văn Thuận của Hồ Thị Hà; Những dấu hiệu của chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học Việt Nam qua sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài của Lã Nguyên; Văn xuôi hậu hiện đại Việt Nam: Quốc tế và bản địa, cách tân và truyền thống, Một cách nhìn về “tiểu thuyết hậu hiện đại ở Việt Nam” của
Hoàng Cẩm Giang – Lý Hoài Thu, Tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XXI từ góc nhìn
hậu hiện đại của Thái Phan Vàng Anh… Những công trình nghiên cứu trên tập trung
chỉ ra dấu ấn hậu hiện đại trong tiểu thuyết của các nhà văn nữ trên các phương diện: cảm quan về hiện thực (thế giới vô nghĩa, vô hồn, vô cảm, một thế giới phi lí, hỗn loạn), cảm quan về con người (con người cô đơn, lạc loài; con người di cư, phân thân, mất tích), kết cấu lắp ghép, phân mảnh, giọng điệu giễu nhại, mỉa mai… Những dấu
ấn ấy là sự thể hiện, hay đúng hơn, đó chính sản phẩm của một lối tư duy mới trong nghệ thuật: tư duy hậu hiện đại Lối tư duy ấy đã mở ra khuynh hướng mới trong tiểu thuyết hiện nay: khuynh hướng tiểu thuyết theo phong cách hậu hiện đại Và đúng như tên gọi, các công trình này chỉ tập trung làm sáng tỏ một phương diện của tư duy nghệ thuật trong tiểu thuyết của các nhà văn nữ hải ngoại
Ngoài ra, cũng có một số công trình đã tập trung bàn luận về cảm quan hiện sinh trong tiểu thuyết của một số nhà văn nữ hải ngoại Đáng kể đến trong đó là các
luận văn như: Cảm quan hiện sinh trong sáng tác của Nguyễn Nguyên Phước, Đoàn
Minh Phượng, Mai Ninh của Hà Thị Mỹ Dung; Cảm quan hiện sinh trong tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà và Đoàn Minh Phượng của Lê Thị Sáng… Qua các công trình, cảm
quan hiện sinh trong tiểu thuyết của Đoàn Minh Phượng được đề cập đến trên các phương diện như: cảm quan về một thế giới phi lí, xa lạ, hỗn loạn, cô đơn, dang dở và
bị phân rã; cảm quan về con người người ngoại cuộc, hoang mang…
Trang 3430
Đặc biệt, trong những công trình nghiên cứu trên mặc dù xuất phát điểm là nghiên cứu về cảm thức lạc loài, cảm thức xa xứ, cảm quan hiện sinh hay dấu ấn, khuynh hướng hậu hiện đại… nhưng các bài viết đều đã ít nhiều nhìn thấy sự chi phối của nó đến việc lựa chọn các phương thức biểu hiện trong tiểu thuyết của các nhà văn
nữ (nhân vật, không gian, thời gian, kết cấu, phương thức trần thuật…) Vì thế, dù không trực tiếp đề cập đến tư duy nghệ thuật nhưng chúng ta bước đầu thấy được dấu
ấn tư duy của các nhà văn nữ trong hành trình vận động từ những thức nhận về đời sống đến sáng tạo và biểu hiện nghệ thuật
Bên cạnh góc độ tiếp cận từ phương diện nội dung, cảm hứng, hay dấu ấn của các khuynh hướng sáng tác, đã có không ít công trình nghiên cứu về các phương diện nghệ thuật trong tiểu thuyết của các nhà văn nữ hải ngoại Có thể kể đến một số công
trình tiêu biểu như: Những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại
giai đoạn 1986 – 2006 của Mai Hải Oanh, Những đổi mới của văn xuôi nghệ thuật Việt Nam sau 1975 (khảo sát trên những nét lớn) của Nguyễn Thị Bình, Tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XXI cấu trúc và khuynh hướng của Hoàng Cẩm Giang, Những cách tân nghệ thuật qua tiểu thuyết của một số nhà văn nữ hải ngoại đương đại của
Lê Thị Hoàng Anh, Cách tân trong tiểu thuyết của Thuận của Phan Thị Thu Hiền, Tư
duy trò chơi trong sáng tác của nhà văn Thuận của Đinh Thị Nam, Thiên sứ của Phạm Thị Hoài: tiếp cận từ lý thuyết trò chơi của Lê Hương Thủy, Tiểu thuyết của một số nhà văn nữ hải ngoại đương đại từ góc nhìn thể loại của Lê Thị Hoàng Anh …
Các công trình này tập trung nghiên cứu tác phẩm, khẳng định những nét mới trên
phương diện nghệ thuật của các nhà văn nữ hải ngoại Đặc biệt, công trình Tiểu thuyết
Việt Nam đầu thế kỷ XXI cấu trúc và khuynh hướng của tác giả Hoàng Cẩm Giang đã
chỉ ra hai khuynh hướng vận động cơ bản: khuynh hướng duy trì hình thức thể loại truyền thống và khuynh hướng cách tân hình thức thể loại Nhận diện trên cơ sở đặc điểm của hai khuynh hướng, đại đa số tiểu thuyết của các nhà văn nữ hải ngoại đều được đề cập đến ở khuynh hướng thứ hai với những đặc điểm nổi bật: sự phi tâm hóa
tự sự và sự tác động của tư duy trò chơi Công trình nghiên cứu này, mặc dù không trình bày một cách tập trung nhưng đã hé mở sự chi phối của “tiếng gọi trò chơi” trong tư duy nghệ thuật của các nhà văn nữ hải ngoại
Trang 3531
Ngoài ra, cũng cần phải kể đến các bài viết đề cập đến những phương diện
nghệ thuật trong sáng tác của các nhà văn nữ như: Tư duy thơ trong tiểu thuyết Việt
Nam đương đại của Nguyễn Thị Bình, Tiểu thuyết Việt Nam: những chuyển động không nhỏ của Phong Điệp; Nguyễn Thị Hoa với Thuận với việc tìm đến hình thức tiểu thuyết ngắn; Tiểu thuyết Chinatown và những chiều kích hiện tại của thời gian quá khứ và Thuận và Phố Tàu: dùng nghịch lý để nói những nghịch lý của Nguyễn
Chí Hoan; Hoàng Nguyễn với Đôi nét về thi pháp và kết cấu tiểu thuyết Chinatown; Đoàn Minh Tâm với Một vài đặc trưng nghệ thuật tiểu thuyết Thuận; Phùng Gia Thế với Lý giải về sự khó đọc của tiểu thuyết hiện nay; Đoàn Cầm Thi với Đọc Paris 11
tháng 8 của Thuận; I’m yellow – Khoái cảm văn bản; Có một dòng văn học “khác”, Một vài phương diện trong thế giới nghệ thuật của Đoàn Minh Phượng của Nguyễn
Thị Thục…Những công trình nghiên cứu này đã đề cập đến một số phương diện nghệ thuật trong tiểu thuyết của một số nhà văn nói chung và lẻ tẻ điểm đến tư duy nghệ
thuật trong tiểu thuyết của một vài nhà văn nữ hải ngoại
Tiểu kết
Tóm lại, ở chương này, tác giả luận án đã trình bày tổng quan về vấn đề nghiên cứu trên hai phương diện: tư duy nghệ thuật và tiểu thuyết của một số nhà văn nữ hải ngoại Trong tổng quan về tư duy nghệ thuật, người viết đã giới thuyết về tư duy, sự khác biệt giữa tư duy với những khái niệm kế cận, phân loại tư duy đồng thời phân biệt tư duy nghệ thuật với tư duy thể loại, tư duy tiểu thuyết Đặc biệt, người viết cũng
đã khái quát tình hình nghiên cứu về tư duy nghệ thuật trong văn học nhằm đưa đến cái nhìn bao quát về lịch sử nghiên cứu vấn đề ở Việt Nam Trên cơ sở những nội dung đã trình bày, tác giả luận án nhận thấy rằng: nếu như tư duy nghệ thuật đã sớm được bàn đến ở phương Tây ngay từ thời kỳ cổ đại thì ở Việt Nam, cho đến giữa thế
kỷ XX thuật ngữ này mới bắt đầu được dịch và giới thiệu Theo đó, đến đầu thế kỷ XXI, thuật ngữ tư duy nghệ thuật mới trở thành một đối tượng trong nghiên cứu văn học Tuy nhiên, vấn đề này mới chỉ được đề cập đến chủ yếu ở phương diện lý thuyết Nghiên cứu về tư duy nghệ thuật trong tiểu thuyết đã bước đầu được đặt ra nhưng chỉ
là trong sáng tác của một vài cây bút văn xuôi riêng lẻ
Trang 3632
Trong phần tổng quan về tiểu thuyết của một số nhà văn nữ hải ngoại, tác giả luận án đặt tiểu thuyết của các nhà văn nữ hải ngoại trong bối cảnh tiểu thuyết Việt Nam đương đại để thấy được vị trí, đóng góp của các nhà văn nữ cho quá trình đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết nói chung Trên cơ sở đó, chúng tôi đã chỉ ra những thuận lợi, thách thức đối với các nhà văn trong hành trình sáng tạo cũng như những nỗ lực
cố gắng của các nhà văn nữ hải ngoại trong hành trình “trở về” với tiếng Việt
Đặc biệt, trên cơ sở những tư liệu thu thập được, tác giả luận án còn hê ̣ thống những bài viết, công trình nghiên cứu, phê bình có đề cập đến tiểu thuyết của các nhà văn nữ hải ngoa ̣i Có thể, số lượng này chưa phải là tất cả nhưng trong ph ạm vi tư liệu tương đối lớn và khá cập nhật mà người viết có thể tiếp cận được cho đến lúc này thì hiê ̣n chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu tập trung về tư duy nghê ̣ thuâ ̣t trong tiểu thuyết các nhà văn nữ hải ngoại Nói một cách chính xác, tư duy nghệ thuật trong tiểu thuyết của các nhà văn nữ hải ngoại mới chỉ được đề cập đến một cách gián tiếp,
mờ nhạt, lẩn khuất trong những yếu tố riêng rẽ của từng tác giả, tác phẩm Đây chính
là hướng mở cho chúng tôi tiếp tu ̣c thực hiê ̣n luâ ̣n án này
Cũng qua tổng quan nghiên cứu , tác giả luận án nhâ ̣n thấy hướng nghiên cứu về tư duy nghê ̣ thuâ ̣t là mô ̣t hướn g đi còn khá mới mẻ và có triển vo ̣ng Nó cho phép người nghiên cứu có thể tiếp cận vấn đề trong cái nhìn tổng thể (từ quan niệm nghệ thuật về con người, hiện thực, tiểu thuyết cho đến việc xây dựng các hình tượng nghệ thuật và việc lựa chọn các phương thức trần thuật…) để từ đó khám phá ra cái hình thức mang tính quan niệm, phản ánh phương thức tư duy của người nghệ sĩ
Trang 3733
Chương 2 TƯ DUY NGHỆ THUẬT NHÌN TỪ CẤP ĐỘ QUAN NIỆM
Quan niệm nghệ thuật là sự cắt nghĩa, lý giải về thế giới và con người của chủ thể sáng tạo, làm thành hình thức bên trong của sự chiếm lĩnh đời sống đồng thời là
“hệ quy chiếu” ẩn chìm trong các hình thức nghệ thuật Vì thế, quan niệm nghệ thuật
là cơ sở của tư duy nghệ thuật, phản ánh tầm trí tuệ của chủ thể Nghiên cứu về tư duy nghệ thuật trong tiểu thuyết của một số nhà văn nữ hải ngoại, trước hết, chúng tôi tập trung làm rõ quan niệm nghệ thuật về hiện thực, con người và tiểu thuyết Trên thực
tế, các nhà văn không “tuyên ngôn” hay “lập thuyết” tường minh cho quan niệm nghệ thuật nên việc chỉ ra quan niệm nghệ thuật của các nhà văn nữ hải ngoại là một nỗ lực khái quát hóa, gạn lọc ý tưởng của nhà văn thông qua những phát ngôn, sự diễn giải
về đời sống và nghệ thuật cũng như sự thể hiện của nó trong tác phẩm
2.1 Quan niệm nghệ thuật về hiện thực
2.1.1 Hiện thực thậm phồn
Quan niệm về hiện thực thậm phồn hay hiện thực phì đại (hyperreality) đã
được nhà nghiên cứu Lê Huy Bắc đề cập đến trong Văn học hậu hiện đại - lí thuyết và
tiếp nhận Thực tế, trên thế giới, khái niệm này được nhà lý luận người Pháp Jean
Baudrillard đề xuất trong công trình triết luận Simulacres et Simulation từ năm 1981
và sau này đã được những người đi theo chủ nghĩa hậu hiện đại (Umberto Eco, Daniel
Boorstin, Mikhail Epstein ) phát triển thêm Khái niệm hiện thực thậm phồn được
Jean Baudrillard đề cập đến trên nền tảng quan niệm về bản chất của hiện thực là vật
thay thế ngụy tạo (simulacra), “đó là hình ảnh của một thực tại không tồn tại trong thế
giới khách quan, một bản photo không bản gốc” [13, tr45] Trong xã hội thời kỳ hậu công nghiệp, với sự phát triển rầm rộ của khoa học công nghệ, văn minh điện toán và
sự bùng nổ mạnh mẽ của các phương tiện truyền thông đại chúng đã đưa con người đến với một “thế giới ảo” qua những trò chơi máy tính, một “thực tại ảo” hàng ngày
do tivi, quảng cáo, báo chí… tạo nên Ông cho rằng, con người hiện nay đang sống trong một thế giới mà cảm xúc và kinh nghiệm mô phỏng đã thay thế những điều thực (“we live in a world where simulated feelings and experiences have replaced the real thing” [292]) Chính sự tồn tại của “thế giới ảo” đã làm cho hiện thực không ngừng được “làm đầy” lên, trở thành thứ hiện thực thậm phồn, hiện thực phì đại Hơn nữa,
Trang 38Trải nghiệm cuộc sống nơi xã hội phương Tây hiện đại, những lý giải và cắt nghĩa về hiện thực của các nhà văn nữ hải ngoại đã ghi dấu một cảm quan hậu hiện đại khá rõ nét Quan niệm này phần nào được nhà văn Thuận thể hiện qua cách nhìn
và sự lý giải về một sự kiện có thật đã diễn ra tại Pháp: đó là sự kiện về trận nắng nóng đỉnh điểm từ ngày 11 đến ngày 13/8/2003 ở Pháp đã khiến cho 15.000 người bị chết “Sự kiện này hoàn toàn có thật, không chỉ gây bối rối cho ngành y tế Pháp mà còn nhắc nhở một câu chuyện khác, chưa bao giờ giải quyết nổi trong một xã hội hiện đại: người già bị bỏ rơi” [264] Nhà văn Thuận trong quá trình tìm kiếm thông tin để
xây dựng nên Paris 11 tháng 8 đã giành nhiều thời gian và công sức để thu thập
những “tư liệu sống” về sự kiện này trên báo chí, đài phát thanh, truyền hình, Internet Quá trình tìm kiếm ấy đã đưa nhà văn đến với một khối lượng khổng lồ các “bản sao” thông tin khác nhau Nói về quá trình này, nhà văn Thuận nhận xét: “Khi thu thập tư liệu về trận nắng nóng năm 2003, tôi thực sự bất ngờ trước cách phản ứng của báo chí
và giới chính trị: sự kiện này thường xuyên bị khai thác theo hai phương pháp: hoặc cho vào máy phóng để câu khách hoặc tô thêm màu đen để đánh gục đối phương Tất nhiên còn những nhà báo trung thực, nhưng không dễ nhận diện giữa đám hỏa mù ấy
Những bài báo mà tôi trích dẫn trong tiểu thuyết Paris 11 tháng 8 đã phản ánh bao
Trang 3935
nhiêu phần trăm hiện thực? Chúng có phải là những khả năng khác nhau của một sự kiện? Tôi muốn độc giả chia sẻ với tôi những câu hỏi này” [78]
Điều này cũng đã được Lê Ngọc Mai thể hiện rất rõ nét trong Trên đỉnh dốc
Xoay quanh câu chuyện về nhà khoa học Hoàng Thái được nhận giải thưởng của Viện Khoa học hàn lâm Đông Âu, tầng tầng, lớp lớp các “bản sao mất gốc” được “thêu dệt” trên các phương tiện truyền thông Sự thật từ “không”, qua truyền thông, trở thành “có” Toàn bộ cuộc đời Hoàng Thái được báo chí mang ra “khai thác phanh phui” mọi khía cạnh, để cố tìm ra những thành tích mà chính tác giả của nó cũng phải ngạc nhiên Sự tác động quá mạnh mẽ của báo chí khiến cho bản thân Hoàng Thái cũng chỉ còn biết “ngẩn ngơ chứng kiến” Từ chỗ thấy xấu hổ, bực mình vì những
“bản copy không đúng gốc”, anh phàn nàn và tự nhủ: “nếu báo chí không đăng tin cải chính thì lúc về nước chính mình sẽ phải tìm cách nói lại chuyện này cho ra nhẽ” [155, tr85] Tuy nhiên, sự đưa đẩy và lan truyền của báo chí, cùng với đó là sự “thỏa hiệp” của bản thân trước danh vọng và địa vị đã không cho anh cơ hội ấy Khi giới hạn cuối cùng bị vượt qua, anh chấp nhận mình như một “bản sao mất gốc” của chính cuộc đời mình Qua câu chuyện được kể, nhà văn nhận định: “Giá như trước khi viết bài, nhà báo chịu khó đến gặp Thái để kiểm tra lại thông tin thì chắc chắn anh cũng đã lợi dụng dịp đó để cải chính công khai với báo chí Nhưng các nhà báo đã không cho Thái cơ hội ấy” [155, tr87]
Qua thực tiễn đó, nhà văn Thuận đã rút ra nhận xét: “Thế giới này là thế giới đang bị thống trị bởi công nghệ truyền thông Những thông tin của báo chí nhiều khi chỉ để câu khách và không chính xác Chính vì vậy, người viết không chỉ tiếp nhận thông tin mà quan trọng hơn là cần phải phân tích thông tin Mọi kinh nghiệm sống, mọi tri thức đều vô cùng quan trọng với nhà văn” [239] Ở một bài viết khác, nhà văn tiếp tục khẳng định: “Tôi muốn độc giả phải đối đầu với thế giới ngày nay – thế giới của thông tin: tiếp nhận thông tin là quan trọng, nhưng phân tích thông tin còn quan trọng hơn Có thể mỏi mệt, nhưng đó là điều không thể tránh khỏi” [78] Ở đây, rõ ràng các nhà văn nữ đã chỉ ra cho chúng ta thấy rằng: dưới sự tác động và thống trị của các phương tiện kĩ thuật thông tin và truyền thông đã làm nảy sinh vô số những
“bản sao” khác nhau về hiện thực Do đó, hiện thực không còn là một “hiện thực tinh”
Trang 4036
để nhà văn hướng đến phản ánh mà là một thứ hiện thực hỗn độn, thậm phồn, với vô
số những bản sao khác nhau Mỗi một bản sao đều là một khả năng khác nhau của hiện thực đó Bởi vậy, nhà văn trong quá trình sáng tác cần phân tích thông tin hiện thực để khám phá ra những vấn đề thuộc về bản chất của hiện thực vốn vẫn ẩn giấu bên trong hiện thực thậm phồn
Trên cơ sở thừa nhận sự mở rộng biên độ của hiện thực nhờ sự tác động của các phương tiện kĩ thuật truyền thông, Đoàn Minh Phượng cũng có cách nhìn nhận về hiện thực giống Thuận và Lê Ngọc Mai Đoàn Minh Phượng đã khái quát rằng: “Năm xưa ông bà chúng ta nói “Đi cho biết đó biết đây” Năm nay, ngồi duy nhất ở một nơi,
mở ti vi, xem báo, mở Internet, cả chiều rộng của thế giới và chiều dài của lịch sử nữa, đều có thể thu về trên một cái màn hình…Con người đang kinh nghiệm thế giới trước một màn hình nào đó” [201] Bởi vậy, hiện thực không chỉ là cái chúng ta có thể trải nghiệm thực tế, thông qua những chuyến đi và những thông tin của hiện thực không chỉ được thu nhận từ thế giới thực mà còn có thể thu nhận qua những đường truyền Internet, qua tivi, báo chí, truyền thông…
Thực chất, việc thừa nhận hiện thực là hiện thực thậm phồn, hiện thực phì đại
đã phần nào phản ánh sự cắt nghĩa của các nhà văn về tính phức tạp và đa chiều của hiện thực Bởi hiện thực là sự tồn tại đan xen của một thế giới thực và vô số những
“bản sao” khác nhau về thế giới thực ấy nên hiện thực không khi nào đơn giản, nguyên phiến, một chiều mà trái lại, nó phức tạp, đa chiều kích Bởi hiện thực là “hiện thực lập thể” mà ở đó, hiện thực của đời sống, hiện thực của xã hội - lịch sử, hiện thực của cá nhân, hiện thực của tâm lí, tâm linh, vô thức, hiện thực của ngôn ngữ - sáng tạo… hòa quyện, trộn lẫn vào nhau Sự cộng hợp của tất cả những phương diện đó đã làm cho hiện thực trở nên phức tạp và đa chiều hơn
Chính vì thừa nhận tính phức tạp, đa chiều, đa diện của hiện thực mà nhà văn Thuận đã đặt ra một yêu cầu quan trọng đối với nhà văn trong quá trình sáng tạo:
“Một trong những mục đích của văn chương là đi tìm bản chất sự việc Nhà văn, vì thế, có cái nhìn đa chiều về hiện thực” [5] Cái nhìn đa chiều ấy phản ánh một lối tư duy đa diện, nhìn ngắm hiện thực từ nhiều phía để nhà văn có thể lí giải, cắt nghĩa, cũng như tìm ra bản chất hiện thực Dưới lăng kính đa chiều, hiện thực đời sống sẽ