ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM VŨ THỊ HƯƠNG GIANG Tên đề tài : ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC THẢI SAU SẢN XUẤT TẠI NHÀ MÁY CÁN THÉP LƯU XÁ THÁI NGUYÊN – TỈNH THÁI N
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
VŨ THỊ HƯƠNG GIANG
Tên đề tài :
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC THẢI SAU SẢN XUẤT TẠI NHÀ MÁY CÁN THÉP LƯU XÁ
THÁI NGUYÊN – TỈNH THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Khoa học môi trường
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 2THÁI NGUYÊN – TỈNH THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Khoa học môi trường
Giảng viên hướng dẫn : Th.S Nguyễn Minh Cảnh
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 3ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài này, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa Môi trường - Trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình dạy bảo, truyền đạt kiến thức và kinh nghiệm quý báu cho tôi trong suốt thời gian tôi học tập ở trường
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Th.S Nguyễn Minh Cảnh,
người thầy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện
đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Trung tâm Quan trắc và Công nghệ môi trường, cùng các anh chị cán bộ, nhân viên của phòng Công nghệ Môi trường đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi hoàn thành tốt
đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn tới các cô, các chú, các anh chị là cán bộ nhà máy Cán thép Lưu Xá Thái Nguyên đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện lấy mẫu và thu thập thông tin tại đơn vị để phục vụ cho đề tài
Cuối cùng, cho phép tôi gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã động viên, ủng hộ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành đề tài này
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2016
Sinh viên
Vũ Thị Hương Giang
Trang 4iii
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 4.1: Bảng tổng hợp các thiết bị sản xuất 41Bảng 4.2: Nhu cầu nguyên, nhiên vật liệu của nhà máy 42Bảng 4.3 Kết quả đo, phân tích nước thải sản xuất tại nhà máy đợt 1 năm 2015 44Bảng 4.4 Kết quả đo, phân tích nước thải sản xuất tại nhà máy đợt 2 năm 2015 47Bảng 4.5 Kết quả đo, phân tích nước thải sản xuất tại nhà máy đợt 3 năm 2015 49
Trang 5iv
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1 Sông Kitarum, Indonesia 16
Hình 2.2 Sông Sarno, Italy 16
Hình 4.1 Sơ đồ vị trí khu vực nhà máy Cán Thép Lưu Xá 30
Hình 4.2 Mô hình tổ chức lao động 38
Hình 4.3 Sơ đồ công nghệ cán thép 39
Hình 4.4 Sơ đồ hệ thống tuần hoàn cấp nước đục 52
Hình 4.5 Sơ đồ hệ thống tuần hoàn cấp nước trong 53
Hình 4.6 Sơ đồ mặt bằng hệ thống nước tuần hoàn nhà máy Cán Thép Lưu Xá 55
Trang 6v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ASEAN : Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á
BOD : Lượng oxy cần thiết để vi sinh vật oxy hóa chất hữu cơ BOD5 : Lượng oxy cần thiết để vi sinh vật oxy hóa chất hữu cơ với
thời gian xử lý là 5 ngày, nhiệt độ là 20 COD : Lượng oxy cần thiết để oxy hóa các hợp chất hóa học trong nước
FAO : Tố chức lương thực và nông nghiệp Liên hợp quốc
PH : Chỉ số thể hiện độ axit hay bazơ của nước
QCVN : Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia
TCCP : Tiêu chuẩn cho phép
TSS : Tổng chất rắn lơ lửng trong nước
SS : Thông số chất rắn lơ lửng
SMEWW : Các phương pháp chuẩn xét nghiệm nước và nước thải WTO : Tổ chức thương mại thế giới
Trang 7vi
MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ i
Lời cảm ơn ii
Danh mục bảng biểu iii
Danh mục các hình iv
Danh mục các từ viết tắt v
Mục lục vi
PHẦN I: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích của đề tài 2
1.3 Yêu cầu của đề tài 3
1.4 Ý nghĩa của đề tài 3
PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
2.1.1 Cơ sở lý luận 4
2.1.2 Cơ sở pháp lý 10
2.2 Cơ sở thực tiễn 12
2.2.1 Tổng quan về ngành sản xuất thép Việt Nam 12
2.2.2 Tổng quan về nước thải ngành sản xuất thép 14
2.2.3 Hiện trạng ô nhiễm nước trên thế giới và ở Việt Nam 14
2.2.4 Thực trạng ô nhiễm nguồn nước tại tỉnh Thái Nguyên 21
PHẦN III: ĐỐI TƯỢNG , NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
3.1 Đối tượng , phạm vi nghiên cứu 26
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 26
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 26
3.2 Địa điểm nghiên cứu 26
Trang 8vii
3.3 Nội dung nghiên cứu 26
3.3.1 Tổng quan về nhà máy Cán thép Lưu Xá Thái Nguyên 26
3.3.2 Đánh giá hiện trạng nước thải sau sản xuất của nhà máy Cán thép Lưu Xá – Thái Nguyên 26
3.3.3.Tìm hiểu sơ lược về hệ thống xử lý nước thải sau sản xuất tại nhà máy
Cán thép Lưu Xá – Thái Nguyên………27
3.4 Phương pháp nghiên cứu 27
3.4.1 Phương pháp thu thập , phân tích và tổng hợp tài liệu 27
3.4.2 Phương pháp lấy mẫu nước 27
3.4.3 Phương pháp bảo quản mẫu nước 27
3.4.4 Phương pháp phân tích mẫu nước 28
3.4.5 So sánh kết quả phân tích với tiêu chuẩn, quy chuẩn nước thải Việt Nam 29
3.4.6 Tổng hợp, viết báo cáo 29
PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30
4.1 Điều kiện tự nhiên , kinh tế - xã hội liên quan đến hoạt động của nhà máy 30
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 30
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội khu vực 34
4.2 Tổng quan về Nhà máy Cán thép Lưu Xá Thái Nguyên 37
4.2.1 Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển của nhà máy 37
4.2.2 Số lượng cán bộ công nhân viên sản xuất 37
4.2.3 Công nghệ và thiết bị sản xuất tại nhà máy Cán thép Lưu Xá 38
4.2.4 Thiết bị sản xuất 41
4.2.5 Nguyên , nhiên liệu trong quá trình Cán thép 42
4.3 Đánh giá hiện trạng nước thải sau sản xuất tại nhà máy Cán thép Lưu Xá – Thái Nguyên 43
4.3.1 Hiện trạng nước thải sau sản xuất của nhà máy 43
Trang 9viii
4.3.2 Đánh giá hiện trạng nước thải sau sản xuất tại nhà máy Cán thép
Lưu Xá – Thái Nguyên 44
4.3.3 Tìm hiểu sơ lược về hệ thống xử lý nước thải sau sản xuất tại nhà máy Cán thép Lưu Xá – Thái Nguyên 51
4.3.4 Các biện pháp bảo vệ môi trường nhà máy đã và đang thực hiện đối với môi trường nước 53
PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 56
5.1 Kết luận 56
5.2 Kiến nghị 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
Trang 101
PHẦN I
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Với xu hướng hội nhập nền kinh tế quốc tế, đặc biệt từ khi Việt Nam gia nhập WTO, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của quá trình công nghiệp hoá đất nước Vì vậy mà ngành công nghiệp về nhiệm vụ đã đóng một vai trò rất quan trọng, chiếm tỉ trọng ngày càng cao trong nền kinh tế quốc dân Sự phát triển của ngành công nghiệp thể hiện là ngày càng có nhiều khu công nghiệp, nhà máy, xí nghiệp …được đầu tư xây dựng mở rộng cả về quy mô và lĩnh vực sản xuất, nâng cao năng xuất lao động và chất lượng sản phẩm
Tuy nhiên, song song với quá trình phát triển kinh tế, nâng cao sản xuất thì hệ lụy về môi trường cũng đang là vấn đề thời sự nhức nhối của nước ta hiện nay Chất thải công nghiệp cũng đang ngày một gia tăng về số lượng, quy mô, đa dạng về chủng loại, tác động xấu đến môi trường làm cho môi trường đất, nước, không khí nhiều nơi bị ô nhiễm, ảnh hưởng đến đời sống kinh tế - xã hội, điều kiện sống và sức khỏe của con người Vì vây, việc giám sát và bảo vệ môi trường đang là một vấn đề cấp bách cần được chú trọng
Trong những năm gần đây, hòa theo nhịp độ phát triển chung của cả nước tỉnh Thái Nguyên cũng đã có nhiều cơ hội để phát huy nguồn lực và thế mạnh cho sự tăng trưởng kinh tế xã hội với nhiều các khu công nghiệp,nhà máy, xí nghiệp…đặc biệt là công nghiệp khai thác khoáng sản và luyện kim Tuy nhiên đi cùng với sự phát triển nhanh chóng đó, tỉnh Thái Nguyên cũng
đã tạo ra một thách thức lớn về vấn đề môi trường đất – nước – không khí Trong đó việc ô nhiễm môi trường nước cần được quan tâm hàng đầu
Là một đơn vị sản xuất trong dây chuyền luyện kim khép kín, Nhà máy Cán thép Lưu Xá – Thái Nguyên đã có bề dày gần nửa thế kỷ thành lập và 37 năm sản xuất thép phôi – một mắt xích đặc biệt quan trọng trong dây chuyền
Trang 11Sự phát triển nhanh chóng và bền vững cùng với những đóng ghóp to lớn của nhà máy cán thép Lưu Xá – Thái Nguyên trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước đã tạo ra được những hiệu quả tốt đẹp cho nền kinh
tế, tuy nhiên bên cạnh những hiệu quả về mặt kinh tế mang lại thì những hậu quả về mặt môi trường: đó là vấn đề ô nhiễm môi trường đất – nước – không khí…do hoạt động sản xuất công nghiệpluyện kim gây ra cũng đang là một vấn
đề cấp thiết cần được chú trọng và khắc phục không chỉ tại riêng nhà máy Cán thép Lưu Xá – Thái Nguyên, mà đó còn là vấn đề chung cần được quan tâm hàng đầu tại các khu công nghiệp, nhà máy, xí nghiệp…trên cả nước
Xuất phát từ thực tế đó, được sự đồng ý của Khoa Môi Trường - trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn của thầy giáo Th.S
Nguyễn Minh Cảnh, em đã tiến hành nghiên cứu đề tài :“Đánh giá hiện
trạng môi trường nước thải sau sản xuất tại nhà máy Cán thép Lưu Xá Thái Nguyên – tỉnh Thái Nguyên”
Trang 123
1.3 Yêu cầu của đề tài
- Xác định được nguồn phát sinh nước thải trong quá trình sản xuất
- Đánh giá được chất lượng nước thải tại nhà máy Cán thép Lưu Xá - Thái Nguyên
-Đánh giá ảnh hưởng của nước thải nhà máy tới môi trường
- Số liệu thu thập phản ánh trung thực và khách quan
- Các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm nước thải sau quá trình sản xuất tại nhà máy phải phù hợp với thực tế
1.4 Ý nghĩa của đề tài
• Ý nghĩa trong thực tiễn
- Phản ánh thực trạng môi trường nước thải sau sản xuất của nhà máy Cán thép Lưu Xá – Thái Nguyên
- Tăng cường trách nhiệm của ban lãnh đạo nhà máy trước hoạt động sản xuất đến môi trường, từ đó có những hoạt động và biện pháp tích cực, hiệu quả trong việc xử lí nước thải
- Đưa ra những định hướng đúng đắn, phù hợp trong công tác phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường để ngăn ngừa và giảm thiểu sự suy thoái môi trường gây ảnh hưởng tới sức khỏe của người dân khu vực nhà máy
Trang 134
PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1 Cơ sở lý luận
2.1.1.1 Tài nguyên nước và vai trò của nước đối với đời sống và phát triển kinh tế - xã hội
Tài nguyên nước là các nguồn nước mà con người sử dụng hoặc có thể
sử dụng vào các mục đích khác nhau Nước được dùng trong các hoạt động công nghiệp, nông nghiệp, dân dụng và môi trường, hầu hết các hoạt động trên đều cần đến nước
Nước là nguồn tài nguyên vô cùng quan trọng cho tất cả các sinh vật trên trái đất Nếu không có nước thì chắc chắn không có sự sống xuất hiện trên trái đất, thiếu nước thì cả nền văn minh hiện nay cũng không tồn tại được Từ xưa, con người đã biết đến vai trò quan trọng của nước, các nhà khoa học cổ đại đã coi nước là thành phần cơ bản của vật chất và trong quá trình phát triển của xã hội loài người thì các nền văn minh lớn của nhân loại đều xuất hiện và phát triển trên lưu vực của các con sông lớn như: nền văn minh Lưỡng hà ở Tây Á nằm ở lưu vực hai con sông lớn là Tigre và Euphrate (thuộc Irak hiện nay), nền văn minh Ai Cập ở hạ lưu sông Nil; nền văn minh sông Hằng ở Ấn Ðộ; nền văn minh Hoàng hà ở Trung Quốc, nền văn minh sông Hồng ở Việt Nam[2]…Nước là tài nguyên vật liệu quan trọng nhất của loài người và sinh vật trên trái đất, con người mỗi ngày cần 250 lít nước cho sinh hoạt, 1.500 lít nước cho hoạt động công nghiệp và 2.000 lít nước cho hoạt động nông nghiệp Nước chiếm 99% trọng lượng sinh vật sống trong môi trường nước và khoảng 70% trọng lượng cơ thể con người Lượng nước con người sử dụng trong một năm khoảng 35.000 km3, trong đó 8% cho sinh hoạt, 23% cho công nghiệp và 63% cho nông nghiệp [3]
Trang 145
Đối với sự sống của con người và thiên nhiên nước tham gia thường xuyên vào các quá trình sinh hóa trong cơ thể sống Phần lớn của các phản ứng hóa học liên quan đến sự trao đổi chất trong cơ thể đều có dung môi là nước Nhờ có tính chất này mà nước đã trở thành tác nhân mang sự sống đến cho Trái đất Đối với cơ thể sống thì thiếu nước là một hiểm họa, thiếu ăn con người có thể sống được vài tuần, còn thiếu nước thì con người không thể sống nổi trong vài ngày Nhu cầu sinh lí của con người một ngày cần ít nhất 1,83 lít nước vào cơ thể và có thể nhiều hơn tùy theo cường độ lao động và tính chất của môi trường xung quanh.[3]
Trong Công nghiệp: Nước cho nhu cầu sản xuất công nghiệp rất lớn Nước dùng để làm nguội các động cơ, làm quay các tubin, là dung môi làm tan các hóa chất màu và các phản ứng hóa học Để sản xuất 1 tấn gang cần
300 tấn nước, một tấn xút cần 800 tấn nước Người ta ước tính rằng 15% sử dụng nước trên toàn thế giới công nghiệp như: các nhà máy điện, sử dụng nước để làm mát hoặc như một nguồn năng lượng, quặng và nhà máy lọc dầu,
sử dụng nước trong quá trình hóa học, và các nhà máy sản xuất, sử dụng nước như một dung môi Mỗi ngành công nghiêp, mỗi loại hình sản xuất và mỗi công nghệ yêu cầu một lượng nước, loại nước khác nhau Nước góp phần làm động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế Nếu không có nước thì chắc chắn toàn
bộ các hệ thống sản xuất công nghiệp, nông nghiệp…trên hành tinh này đều ngừng hoạt động và không tồn tại.[3]
Trong nông nghiệp: tất cả các cây trồng và vật nuôi đều cần nước đề phát triển Từ một hạt cải bắp phát triển thành một cây rau thương phẩm cần
25 lít nước; lúa cần 4.500 lít nước để cho ra 1 kg hạt Dân gian ta có câu:
―Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống‖, qua đó chúng ta có thể thấy được vai trò của nước trong nông nghiệp Theo FAO, tưới nước và phân bón là hai yếu tố quyết định hàng đầu là nhu cầu thiết yếu, đồng thời còn có vai trò điều
Trang 152.1.1.2 Một số khái niệm cơ bản
- Khái niệm về môi trường
Trong ―Luật bảo vệ môi trường‖ đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa IX, kỳ họp thứ tư thông qua ngày 27/12/1993 định nghĩa khái niệm môi trường như sau:
―Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo, quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên.‖
Theo chương I khoản 1 điều 3 Luật Bảo Vệ Môi Trường Việt Nam được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 23 tháng 6 năm 2014 : ―Môi trường là hệ thống các yếu
tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật.‖ [4]
- Khái niệm ô nhiễm môi trường
Ô nhiễm môi trường được hiểu là sự có mặt của các chất hoặc năng lượng với khối lượng lớn trong môi trường mà môi trường khó chấp nhận (Từ điển OXFORD)
Trang 167
Ô nhiễm môi trường là hiện tượng môi trường tự nhiên bị bẩn, đồng thời các tính chất vật lí, hóa học, sinh học của môi trường bị thay đổi, gây tác hại tới đời sống của con người và các sinh vật khác
Theo chương I khoản 8 điều 3 Luật Bảo Vệ Môi Trường Việt Namđược Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày23 tháng 6 năm 2014: ―Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người
và sinh vật‖ [4]
- Khái niệm ô nhiễm môi trường nước
―Ô nhiễm nước là sự thay đổi theo chiều xấu đi các tính chất vật lý - hoá học - sinh học của nước, với sự xuất hiện các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn nước trở nên độc hại với con người và sinh vật, làm giảm độ đa dạng sinh vật trong nước Xét về tốc độ lan truyền và quy mô ảnh hưởng thì ô nhiễm nước
là vấn đề đáng lo ngại hơn ô nhiễm đất.‖ (Hoàng Văn Hùng, 2008) [5]
Ngoài ra ta còn có định nghĩa sau: ―Sự ô nhiễm nước là sự thay đổi của thành phần và tính chất của nước ảnh hưởng đến hoạt sống bình thường của con người và sinh vật Khi sự thay đổi thành phần và tính chất của nước vượt quá một ngưỡng cho phép thì sự ô nhiễm của nước đã ở mức nguy hiểm và gây ra một số bệnh ở người‖ (Lê Văn Khoa, 2005) [6]
Nguồn nước bị ô nhiễm có các dấu hiệu đặc trưng sau đây:
- Có xuất hiện các chất nổi trên bề mặt nước và các cặn lắng chìm xuống đáy nguồn
- Thay đổi tính chất lý học (độ trong, màu, mùi, nhiệt độ )
- Thay đổi thành phần hóa học (pH, hàm lượng của các chất hữu cơ và
vô cơ, xuất hiện các chất độc hại )
Trang 17vi sinh vật của nước, người ta thường dùng chỉ tiêu Coliform [7]
- Các thông số đánh giá chất lượng nước
+ Các thông số lý học
• Nhiệt độ: Nhiệt độ tác động tới các quá trình sinh hoá diễn ra trong nguồn nước tự nhiên sự thay đổi về nhiệt độ sẽ kéo theo các thay đổi về chất lượng nước, tốc độ, dạng phân huỷ các hợp chất hữu cơ, nồng độ oxy hoà tan
• pH: Là chỉ số thể hiện độ axit hay bazơ của nước, là yếu tố môi trường ảnh hưởng tới tốc độ phát triển và sự giới hạn phát triển của vi sinh vật trong nước Trong lĩnh vực cấp nước, pH là yếu tố phải xem xét trong quá trình đông tụ hoá học, sát trùng, làm mềm nước, kiểm soát sự ăn mòn Trong
hệ thống sử lý nước thải bằng quá trình sinh học thì pH phải được khống chế trong phạm vi thích hợp đối với các loài vi sinh vật có liên quan, pH là yếu tố môi trường ảnh hưởng tới tốc độ phát triển và giới hạn sự phát triển của vi sinh vật trong nước
+ Các thông số hóa học
• BOD: Là lượng ôxy cần thiết cung cấp để vi sinh vật phân huỷ các chất hữu cơ trong điều kiện tiêu chuẩn về nhiệt độ và thời gian
• COD: Là lượng ôxy cần thiết để oxy hoá các hợp chất hoá học trong nước
• NO3: Là sản phẩm cuối cùng của sự phân huỷ các chất có chứa nitơ trong nước thải
• Các yếu tố KLN: Các kim loại nặng là những yếu tố mà tỷ trọng của chúng bằng hoặc lớn hơn 5 như Asen, Cacdimi, Fe, Mn… ở hàm lượng nhỏ
Trang 189
nhất định chúng cần cho sự phát triển và sinh trưởng của động, thực vật như khi hàm lượng tăng thì chúng sẽ trở thành độc hại đối với sinh vật và con người thông qua chuỗi mắt xích thức ăn
+ Các thông số sinh học
• Colifom: Là nhóm vi sinh vật quan trọng trong chỉ thị môi trường, xác định mức độ ô nhiễm bẩn về mặt sinh học của nguồn nước
2.1.1.3 Nước thải công nghiệp và đặc tính của nước thải công nghiệp
- Nước thải công nghiệp là dung dịch thải ra từ các cơ sở sản xuất, chế biến , kinh doanh, dịch vụ công nghiệp và nguồn tiếp nhận nước thải
- Nước thải công nghiệp rất đa dạng, khác nhau về thành phần cũng như lượng phát thải và phụ thuộc vào nhiều yếu tố: loại hình công nghiệp, loại hình công nghệ sử dụng, tính hiện đại của công nghệ, tuổi thọ của thiết bị, trình độ quản lí của cơ sở và ý thức của cán bộ công nhân viên
- Nước thải công nghiệp có thể chia làm hai loại:
+ Nước thải sản sinh từ nước không được dung trực tiếp từ các công đoạn sản xuất, nhưng tham gia vào quá trình tiếp xúc với các khí, chất lỏng hoặc chất rắn trong quá trình sản xuất Loại này có thể phát sinh liên tục hoặc không liên tục
+ Nước thải sản sinh trong quá trình sản xuất Vì là một thành phần của vật chất tham gia quá trình và chính vì vậy những thành phần nguyên liệu hóa chất này thường có nồng độ cao và có thể thu hồi lại.[8]
- Đặc điểm của nước thải công nghiệp
Đặc điểm nguồn nước thải công nghiệp chứa nhiều hoá chất độc hại (kim loại nặng như Hg, As, Pb, Cd,…); các chất hữu cơ khó phân huỷ sinh học (phenol, dầu mỡ ); các chất hữu cơ dễ phân huỷ sinh học từ cơ sở sản xuất thực phẩm Tuy nhiên nước thải công nghiệp không có đặc điểm chung
mà thành phần tính chất tuỳ thuộc vào quá trình sản xuất cũng như quy mô xử
Trang 1910
lý nước thải Nước thải của các cơ sở chế biến lương thực thực phẩm có chứa nhiều chất phân huỷ sinh học; trong khi nước thải công nghiệp lại chứa nhiều kim loại nặng…[8]
2.1.2 Cơ sở pháp lý
Một số văn bản liên quan đến quản lý tài nguyên nước:
- Luật Bảo Vệ Môi Trường Việt Namđược Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày23 tháng 6 năm 2014 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 1 năm 2015
Trong đó tại chương IX mục 4, điều 99, điều 100, điều 101 quy định:
Điều 99 Quy định chung về quản lý nước thải
1 Nước thải phải được thu gom, xử lý bảo đảm quy chuẩn kỹ thuật môi trường
2 Nước thải có yếu tố nguy hại vượt ngưỡng quy định phải được quản
lý theo quy định về chất thải nguy hại
Điều 100 Thu gom, xử lý nước thải
1 Đô thị, khu dân cư tập trung phải có hệ thống thu gom riêng nước mưa và nước thải
2 Nước thải của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phải được thu gom, xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường
3 Bùn thải từ hệ thống xử lý nước thải được quản lý theo quy định của pháp luật về quản lý chất thải rắn; bùn thải có yếu tố nguy hại vượt ngưỡng quy định phải được quản lý theo quy định của pháp luật về chất thải nguy hại
Điều 101 Hệ thống xử lý nước thải
1 Đối tượng sau phải có hệ thống xử lý nước thải:
a) Khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung;
b) Khu, cụm công nghiệp làng nghề;
Trang 2011
c) Cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ không liên thông với hệ thống
xử lý nước thải tập trung
2 Hệ thống xử lý nước thải phải bảo đảm các yêu cầu sau:
a) Có quy trình công nghệ phù hợp với loại hình nước thải cần xử lý; b) Đủ công suất xử lý nước thải phù hợp với khối lượng nước thải phát sinh; c) Xử lý nước thải đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường;
d) Cửa xả nước thải vào hệ thống tiêu thoát phải đặt ở vị trí thuận lợi cho việc kiểm tra, giám sát;
đ) Phải được vận hành thường xuyên
3 Chủ quản lý hệ thống xử lý nước thải phải thực hiện quan trắc định
kỳ nước thải trước và sau khi xử lý Số liệu quan trắc được lưu giữ làm căn cứ
để kiểm tra hoạt động của hệ thống xử lý nước thải
4 Cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có quy mô xả thải lớn và có nguy cơ tác hại đến môi trường phải tổ chức quan trắc môi trường nước thải
tự động và chuyển số liệu cho cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường
- Luật tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật 2006
- Nghị định số 80/2014/NĐ - CP về thoát nước và xử lý nước thải
- Nghị định số 127/2007/NĐ-CP ngày 01 tháng 8 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn
Trang 21- Thông tư liên tịch số 63/2013/TTLT-BTC-BTNMThướng dẫn thực hiện nghị định số 25/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 3 năm 2013 của Chính phủ
về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải
- QCVN 40:2011/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về nước thải công nghiệp
- QCVN 52:2013/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về nước thải
công nghiệp sản xuât thép
mẻ gang đầu tiên vào năm 1963 Song do chiến tranh và khó khăn nhiều mặt,
15 năm sau, Khu Liên hợp Gang Thép Thái Nguyên mới có sản phẩm Thép cán Năm 1975, Nhà máy luyện cán Thép Gia Sàng do Đức (trước đây) giúp
đã đi vào sản xuất Công suất thiết kế lúc đó của cả khu liên hợp Gang Thép Thái Nguyên là 100 ngàn tấn/năm [9]
2.2.1.2 Quá trình phát triển
Giai đoạn từ 1976 đến 1989: Ngành thép gặp rất nhiều khó khăn do kinh tế đất nước lâm vào khủng hoảng, ngành thép không phát triển được và chỉ duy trì mức sản lượng từ 40 ngàn đến 85 ngàn tấn thép/năm
Trang 22Tháng 04 năm 1995, Tổng Công ty Thép Việt Nam được thành lập theo
mô hình Tổng Công ty Nhà nước (Tổng Công ty 91) trên cơ sở hợp nhất Tổng Công ty Thép Việt Nam và Tổng Công ty Kim khí thuộc Bộ Thương mại
Thời kỳ 1996 - 2000: Ngành thép có mức độ tăng trưởng tốt, tiếp tục được đầu tư mạnh (phát triển mạnh sang khu vực tư nhân): đã đưa vào hoạt động 13 liên doanh, trong đó có 12 liên doanh cán thép và gia công, chế biến sau cán Sản lượng thép cán của cả nước đã đạt 1,57 triệu tấn vào năm 2000, gấp 3 lần so với năm 1995 và gấp 14 lần so với năm 1990 [9]
Trang 2314
2.2.2 Tổng quan về nước thải ngành sản xuất thép
Công nghiệp nặng là khối ngành đào thải nhiều chất ô nhiễm nhất, chúng là nguyên nhân chính từ hoạt động sản xuất làm tình trạng ô nhiễm đến mức báo động Ngành thép cũng không ngoại lệ: khí thải, nước thải, tiếng ồn, chất thải rắn với nồng độ cao, là mối nguy hại cho môi trường nếu không xử
lý triệt để Theo tính toán, sản xuất 1 tấn thép sẽ thải ra từ 0,5-1 tấn xỉ, 10.000m3 khí thải, 100kg bụi Rất nhiều các chất ô nhiễm như: axit, kiềm, các nguyên tố hợp kim…thải ra môi trường Trong các vùng luyện kim, khí quyển
bị nhiễm bẩn chiếm tỷ lệ gần 60% Ngoài nguyên liệu chính là thép phế, sắt xốp, gang thỏi hoặc gang lỏng, vôi, việc sản xuất thép còn sử dụng năng lượng như than, gas, điện, dầu, oxy, nước và các chất phụ trợ như hợp kim, điện cực, khí trơ, vật liệu đầm lò
Quá trình sản xuất thép sinh ra các chất thải khí, rắn và tiếng ồn.Trong một số trường hợp, nước làm mát không được tuần hoàn tuyệt đối cũng phát thải ra môi trường
Nước thải phát sinh từ công nghiệp luyện thép đa phần từ nước làm mát không được tuần hoàn tuyệt đối và nước thải sinh hoạt của công nhân; chứa nhiều dầu mỡ, cặn bẩn từ quá trình hàn, acid, kiềm, kim loại nặng, chất hữu
cơ Mặc dù, vì đặc điểm ngành luyện kim là sử dụng ít nước nên lưu lượng nước thải khá nhỏ nhưng không vì thế mà ta xem nhẹ mức tác động đến môi trường, tính kim loại từ nước thải có thể làm hàng loại cá và thủy sinh vật cùng con người bị ngộ độc Để giảm thiểu tác động của nước thải ngành thép bắt buộc các nhà máy phải trang bị hệ thống xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn quốc gia
2.2.3 Hiện trạng ô nhiễm nước trên thế giới và ở Việt Nam
2.2.3.1 Hiện trạng ô nhiễm môi trường nước trên thế giới
Trong thập niên 60, ô nhiễm nước lục địa và đại dương gia tăng với nhịp độ đáng lo ngại Tiến độ ô nhiễm nước phản ánh trung thực tiến bộ phát triển kỹ nghệ
Trang 2415
- Anh Quốc chẳng hạn: Ðầu thế kỷ 19, sông Tamise rất sạch Nó trở thành ốngcống lộ thiên vào giữa thế kỷ này Các sông khác cũng có tình trạng tương tự trước khi người ta đưa ra các biện pháp bảo vệ nghiêm ngặt
- Nước Pháp rộng hơn, kỹ nghệ phân tán và nhiều sông lớn, nhưng vấn
đề cũng không khác bao nhiêu Dân Paris còn uống nước sông Seine đến cuối thế kỷ 18.Từ đó vấn đề đổi khác: các sông lớn và nước ngầm nhiều nơi không còn dùnglàm nước sinh hoạt được nữa, 5.000 km sông của Pháp bị ô nhiễm mãn tính
- Sông Rhin chảy qua vùng kỹ nghệ hóa mạnh, khu vực có hơn 40 triệu người, là nạn nhân của nhiều tai nạn (như nạn cháy nhà máy thuốc Sandoz ở Bâle năm 1986 chẳng hạn) thêm vào các nguồn ô nhiễm thường xuyên
- Ở Hoa Kỳ tình trạng thảm thương ở bờ phía đông cũng như nhiều vùng khác
Vùng Ðại hồ bị ô nhiễm nặng, trong đó hồ Erie, Ontario đặc biệt nghiêm trọng.[10]
- Sông Kitarum , Indonesia , rộng 13.000km2 , là một trong những dòng sông lớn nhất của Indonesia Theo số liệu của Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) , sông Kitarum cung cấp 80% lượng nước sinh hoạt cho 14 triệu dân thủ đô Jakarta , tưới cho những cánh đồng cung cấp 5% sán lượng lúa gạo và nguồn nước cho hơn 2000 nhà máy – nơi làm ra 20% sản lượng công nghiệp của đảo quốc này
Trang 2516
Hình 2.1 Sông Kitarum, Indonesia
- Sông Sarno, Italy chảy qua Pompeii tới phía nam của vịnh Naples Con sông này có mức độ ô nhiễm nhất Châu Âu với rất nhiều rác thải sinh hoạt và rác thải công nghiệp Sông Sarno đã không chỉ ô nhiễm tại những nơi
nó chảy qua mà còn ô nhiễm vùng biển mà nó đổ vào gần vào khu vực vinh Naples
Hình 2.2 Sông Sarno, Italy
Trang 2617
Các khu công nghiệp, các khu chế xuất với hàng nghìn nhà máy, doanh nghiệp ra đời, góp phần tạo việc làm cho một bộ phận dân cư, song do công tác quy hoạch và xây dựng hạ tầng thiếu đồng bộ, trong đó khá nhiều nơi ít quan tâm tới việc xử lý chất thải Cho nên hàng trăm nhìn chất thải rắn, lỏng hàng năm cứ thế đổ ra các hồ, ao, sông, suối Trong số này có không ít kim loại nặng, thủy ngân, hóa chất độc hại gây ô nhiễm trầm trọng nguôn nước
(Khôi Nguyên, 2008)
Trong sản xuất công nghiệp, tình trạng phú dưỡng hiện đang xảy ra ở các hồ, sông và nhiều biển lửa kín ở Châu Â, Trung Á và cận Sahara thuộc Châu Phi, tình trạng này đang gia tăng ở Đông Bắc Á và vịnh Mêhicô Tình trạng ô nhiễm hóa chất cũng là một vấn đề đáng quan tâm gồm Trung Mỹ, Tây Phi, Nam và Đông Nam Á, cũng như trên sông Jodan, biển Aral và vùng Bắc Cực Tác động của sự cố tràn dầu cũng được đánh giá rất nghiêm trọng ở
biển Caribê, lưu vực Niga và dòng Benguela ở Tây Nam Phi [11]
Ở Trung Quốc , hàng năm lượng chất thải và nước thải công nghiệp thải ra ở các thành phố và thị trấn tăng từ 23,9 tỷ m3
trong năm 1980 lên 73,1
tỷ m3
trong năm 2006 Một lượng lớn nước thải chưa qua xử lý được thải vào các sông Hậu quả là hầu hết nước ở các con sông, hồ đều bị ô nhiễm, dựa vào việc đánh giá 140.000 km sông dọc đất nước Trung Quốc năm 2006, chất lượng nước của 41,7% chiều dài sông xếp ở loại 4 hoặc thậm chí thấp hơn và 21,8% dưới loại 5.[11]
2.2.3.2 Thực trạng ô nhiễm môi trường nước tại Việt Nam
Tình trạng ô nhiễm nước ở Việt Nam hiện nay:
Hiện nay ở Việt Nam, mặc dù các cấp, các ngành đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường, nhưng tình trạng ô nhiễm nước là vấn đề rất đáng lo ngại
Trang 2718 Tốc độ công nghiệp hoá và đô thị hoá khá nhanh và sự gia tăng dân số gây áp lực ngày càng nặng nề dối với tài nguyên nước trong vùng lãnh thổ Môi trường nước ở nhiều đô thị, khu công nghiệp và làng nghề ngày càng bị ô nhiễm bởi nước thải, khí thải và chất thải rắn Ở các thành phố lớn, hàng trăm
cơ sở sản xuất công nghiệp đang gây ô nhiễm môi trường nước do không có công trình và thiết bị xử lý chất thải Ô nhiễm nước do sản xuất công nghiệp là rất nặng Ví dụ: ở ngành công nghiệp dệt may, ngành công nghiệp giấy và bột giấy, nước thải thường có độ pH trung bình từ 9-11; chỉ số nhu cầu ô xy sinh hoá (BOD), nhu cầu ô xy hoá học (COD) có thể lên đến 700mg/1 và 2.500mg/1; hàm lượng chất rắn lơ lửng cao gấp nhiều lần giới hạn cho phép
Hàm lượng nước thải của các ngành này có chứa xyanua (CN-) vượt đến 84 lần, H2S vượt 4,2 lần, hàm lượng NH3 vượt 84 lần tiêu chuẩn cho phép nên đã gây ô nhiễm nặng nề các nguồn nước mặt trong vùng dân cư Mức độ ô nhiễm nước ở các khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp tập trung là rất lớn
Tại cụm công nghiệp Tham Lương, thành phố Hồ Chí Minh, nguồn nước bị nhiễm bẩn bởi nước thải công nghiệp với tổng lượng nước thải ước tính 500.000 m3/ngày từ các nhà máy giấy, bột giặt, nhuộm, dệt Ở thành phố Thái Nguyên, nước thải công nghiệp thải ra từ các cơ sở sản xuất giấy, luyện gang thép, luyện kim màu, khai thác than; về mùa cạn tổng lượng nước thải khu vực thành phố Thái Nguyên chiếm khoảng 15% lưu lượng sông Cầu; nước thải từ sản xuất giấy có pH từ 8,4-9 và hàm lượng NH4 là 4mg/1, hàm lượng chất hữu cơ cao, nước thải có màu nâu, mùi khó chịu…
Khảo sát một số làng nghề sắt thép, đúc đồng, nhôm, chì, giấy, dệt
/ ngày không qua xử lý, gây ô nhiễm nguồn nước và môi trường trong khu vực Tình trạng ô nhiễm nước ở các đô thị thấy rõ nhất là ở thành phố Hà Nội và
Trang 2819 thành phố Hồ Chí Minh.Ở các thành phố này, nước thải sinh hoạt không có hệ thống xử lý tập trung mà trực tiếp xả ra nguồn tiếp nhận (sông, hồ, kênh, mương) Mặt khác, còn rất nhiều cơ sở sản xuất không xử lý nước thải, phần lớn các bệnh viện và cơ sở y tế lớn chưa có hệ thống xử lý nước thải, một lượng rác thải rắn lớn trong thành phố không thu gom hết được…là những nguồn quan trọng gây ra ô nhiễm nước Hiện nay, mức độ ô nhiễm trong các kênh, sông, hồ ở các thành phố lớn là rất nặng Ở thành phố Hà Nội , tổng lượng nước thải của thành phố lên tới 300.000 - 400.000 m3/ngày; hiện mới chỉ có 5/31 bệnh viện có hệ thống xử lý nước thải, chiếm 25% lượng nước thải bệnh viện; 36/400 cơ sở sản xuất có xử lý nước thải; lượng rác thải sinh hoại chưa được thu gom khoảng 1.200m3/ngày đang xả vào các khu đất ven các hồ, kênh, mương trong nội thành; chỉ số BOD, oxy hoà tan, các chất NH4, NO2, NO3 ở các sông, hồ, mương nội thành đều vượt quá quy định cho phép
ở thành phố Hồ Chí Minh thì lượng rác thải lên tới gần 4.000 tấn/ngày; chỉ có 24/142 cơ sở y tế lớn là có xử lý nước thải; khoảng 3.000 cơ sở sản xuất gây ô nhiễm thuộc diện phải di dời
Không chỉ ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh mà ở các đô thị khác như Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Nam Định, Hải Dương…nước thải sinh hoạt cũng không được xử lý độ ô nhiễm nguồn nước nơi tiếp nhận nước thải đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép (TCCP), các thông số chất lơ lửng (SS), BOD; COD;
Ô xy hoà tan (DO) đều vượt từ 5-10 lần, thậm chí 20 lần TCCP
Về tình trạng ô nhiễm nước ở nông thôn và khu vực sản xuất nông nghiệp, hiện nay Việt Nam có gần 76% dân số đang sinh sống ở nông thôn là nơi cơ
sở hạ tầng còn lạc hậu, phần lớn các chất thải của con người và gia súc không được xử lý nên thấm xuống đất hoặc bị rửa trôi, làm cho tình trạng ô nhiễm nguồn nước về mặt hữu cơ và vi sinh vật ngày càng cao Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, số vi khuẩn Feca coliform trung bình
Trang 2920 biến đổi từ 1.500-3.500MNP/100ml ở các vùng ven sông Tiền và sông Hậu, tăng lên tới 3800-12.500MNP/100ML ở các kênh tưới tiêu
Trong sản xuất nông nghiệp, do lạm dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật, các nguồn nước ở sông, hồ, kênh, mương bị ô nhiễm, ảnh hưởng lớn đến môi trường nước và sức khoẻ nhân dân
Theo thống kê của Bộ Thuỷ sản, tổng diện tích mặt nước sử dụng cho nuôi trồng thuỷ sản đến năm 2001 của cả nước là 751.999 ha Do nuôi trồng thuỷ sản ồ ạt, thiếu quy hoạch, không tuân theo quy trình kỹ thuật nên đã gây nhiều tác động tiêu cực tới môi trường nước Cùng với việc sử dụng nhiều và không đúng cách các loại hoá chất trong nuôi trồng thuỷ sản, thì các thức ăn
dư lắng xuống đáy ao, hồ, lòng sông làm cho môi trường nước bị ô nhiễm các chất hữu cơ, làm phát triển một số loài sinh vật gây bệnh và xuất hiện một số tảo độc; thậm chí đã có dấu hiệu xuất hiện thuỷ triều đỏ ở một số vùng ven biển Việt Nam
Có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường nước, như sự gia tăng dân số, mặt trái của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cơ sở hạ tầng yếu kém, lạc hậu: nhận thức của người dân về vấn đề môi trường còn chưa cao…Đáng chú ý là sự bất cập trong hoạt động quản lý, bảo vệ môi trường Nhận thức của nhiều cấp chính quyền, cơ quan quản lý, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm về nhiệm vụ bảo vệ môi trường nước chưa sâu sắc và đầy đủ; chưa thấy rõ ô nhiễm môi trường nước là loại ô nhiễm gây nguy hiểm trực tiếp, hàng ngày và khó khắc phục đối với đời sống con người cũng như sự phát triển bền vững của đất nước Các quy định
về quản lý và bảo vệ môi trường nước còn thiếu (chẳng hạn như chưa có các quy định và quy trình kỹ thuật phục vụ cho công tác quản lý và bảo vệ nguồn nước) Cơ chế phân công và phối hợp giữa các cơ quan, các ngành và địa phương chưa đồng bộ, còn chồng chéo, chưa quy định trách nhiệm rõ ràng
Trang 3021 Chưa có chiến lược, quy hoạch khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước theo lưu vực và các vùng lãnh thổ lớn Chưa có các quy định hợp lý trong việc đóng góp tài chính để quản lý và bảo vệ môi trường nước, gây nên tình trạng thiếu hụt tài chính, thu không đủ chi cho bảo vệ môi trường nước Ngân sách đầu tư cho bảo vệ môi trường nước còn rất thấp (một số nước ASEAN đã đầu tư ngân sách cho bảo vệ môi trường là 1% GDP, còn ở Việt Nam mới chỉ đạt 0,1%) Các chương trình giáo dục cộng đồng về môi trường nói chung và môi trường nước nói riêng còn quá ít Đội ngũ cán bộ quản lý môi trường nước còn thiếu về số lượng, yếu về chất lượng (Hiện nay ở Việt Nam trung bình có khoảng 3 cán bộ quản lý môi trường/1 triệu dân, trong khi
đó ở một số nước ASEAN trung bình là 70 người/1 triệu dân)
(Theo VOV)
2.2.4 Thực trạng ô nhiễm nguồn nước tại tỉnh Thái Nguyên
Thái Nguyên là tỉnh có vị trí địa lý khá thuận lợi về đường giao thông, nguồn tài nguyên rất phong phú Đây là nơi ra đời của ngành công nghiệp sản xuất thép Việt Nam Hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản phát triển mạnh Hệ thống khu, cụm công nghiệp nhỏ và làng nghề không ngừng được đầu tư phát triển Đây là điều kiện rất thuận lợi giúp cho Thái Nguyên đẩy mạnh mục tiêu sớm trở thành tỉnh công nghiệp Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp to lớn về mặt kinh tế của ngành công nghiệp thì những tác động xấu đến môi trường của ngành kinh tế mũi nhọn này cũng là vấn đề rất bức xúc
Theo đánh giá của Sở Tài Nguyên - Môi trường tỉnh Thái Nguyên, trong những năm qua trên địa bàn tỉnh có hàng chục khu, cụm công nghiệp và làng nghề hoạt động có tác động xấu đến môi trường Trong đó năm 2003 đã
có 8 điểm bị liệt vào danh sách những cơ sở gây ô nhiễm môi trường đặc biệt nghiêm trọng theo Quyết định 64/2003 của Thủ tướng Chính Phủ
Trang 3122
Hiện trạng môi trường ở Thái Nguyên đang bị ô nhiễm ở mứcgiới hạn cho phép Về nguồn nước, nước mặt bị ô nhiễm khá nghiêm trọng, đặc biệt là sông Cầu, hàng năm tiếp nhận khoảng 35 triệu m3 nước thải chưa qua xư lý hoặc xử lý chưa triệt để của hơn 1000 cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, khai thác, chế biến khoáng sản, bệnh viện…Ngoài ra sông Cầu còn tiếp nhận khoảng 15 triệu
m3 nước thải sinh hoạt chưa qua xử lý của các khu dân cư đô thị
Luyện kim là một trong những nghành công nghiệp mũi nhọn của tỉnh, với các công nghệ và thiết bị sản xuất được trang bị từ những năm 1980 Phần lớn các cơ sở sản xuất đã được cải tạo, nâng cấp trang thiết bị tuy nhiên các dây chuyền công nghệ vẫn còn khá lạc hậu, năng suất thấp, tiêu hao nguyên liệu nhiều Có thể nói luyện kim là một trong số các nghành gây ô nhiễm môi trường trên địa bàn tỉnh
Công nghiệp luyện kim, cán thép ở Thái Nguyên với tổng lượng nước thải khoảng 16.000 m3
/ngày đêm Trong đó, nước thải của khu gang thép Thái Nguyên (với lưu lượng 1,3 triệu m3
/năm) và KCN Sông Công chiếm tỷ
lệ lớn nhất Hoạt động sản xuất gang thép phát sinh nước thải có chứa nhiều chất ô nhiễm như: dầu mỡ, phenol và xyanua từ quá trình cốc hóa có ảnh hưởng tới chất lượng nước
Trung tâm Quan trắc và Công nghệ môi trường Thái Nguyên đánh giá, chất lượng nước sông Cầu ở hầu hết các địa phương đều không đạt tiêu chuẩn chất lượng là nguồn nước cấp cho mục đích sinh hoạt (QCVN 08:2008/BTNMT (A)) Tuy nhiên, chất lượng nước tại khu vực thượng lưu tốt hơn so với hạ lưu, đặc biệt đoạn Sông Cầu chảy qua khu vực thành phố Thái Nguyên
Hiện nay, tại các suối tiếp nhận trực tiếp nước thải từ các hoạt động đô thị, công nghiệp, khai khoáng đã bắt đầu bị ô nhiễm Đặc biệt, các suối tiếp nhận nước thải của TP Thái Nguyên, mức độ ô nhiễm hữu cơ, dinh dưỡng là rất cao, so với QCVN, hàm lượng BOD vượt trên 2 lần, hàm lượng amoni
Trang 3223
vượt 16 lần, hàm lượng tổng dầu mỡ vượt gần 8 lần Tại suối Cam Giá - suối tiếp nhận nước thải của KCN gang thép Lưu Xá, suối Văn Dương - suối tiếp nhận nước thải của KCN Sông Công, hàm lượng Cd vượt so với QCVN
Nước mặt suối Cam Giá có môi trường trung tính pH dao động trong khoảng 7,1-7,2, ôxy hòa tan không lớn dao động từ 4,0 - 4,2, trước điểm tiếp nhận nước thải không ô nhiễm hữu cơ và kim loại nặng nhưng bị ô nhiễm vi sinh, giá trị Coliform vượt hơn 1 lần so với QCVN Đoạn suối Cam Giá sau khi tiếp nhận nước thải sản xuất của KCN bị ô nhiễm thành phần hữu cơ, kim loại nặng và vi sinh BOD5, COD, Cd, Pb, Phenol và Coliform đều vượt hơn 1 lần, amoni vượt hơn 2 lần so với QCVN
Có thể thấy, chất lượng nước mặt suối Cam Giá sau khi tiếp nhận nước thải sản xuất của KCN Lưu Xá giảm đi đáng kể so với đoạn trước, nước bị ô nhiễm hợp chất hữu cơ, dinh dưỡng và kim loại nặng là Pb, Cd Đây là các thành phần có trong nước thải sản xuất của KCN Chất lượng nước suối khu vực này không đảm bảo sử dụng cho mục đích tưới tiêu thủy lợi
Trong các tỉnh có sông Cầu đi qua, Thái Nguyên bị ô nhiễm rõ rệt, đặc biệt là đoạn sông chảy qua thành phố.Nước sông đục, có màu đen nâu và bốc mùi.Hoạt động sản xuất công nghiệp là thủ phạm chính.Nước thải của Nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ đặt ngay trong thành phố xả thẳng vào các nhánh nhỏ dẫn ra sông Cầu, gồm các chất ô nhiễm vô cơ, xơ sợi khó lắng, độ kiềm cao Khu công nghiệp gang thép Thái Nguyên chảy vào con sông này với lưu lượng khoảng 1,3 triệu m3/năm và ―ban tặng‖ cho dòng sông nhiều chất ô nhiễm độc hại như dầu mỡ, phenol và cyanure [12]
Theo kết quả quan trắc, hàm lượng BOD5 trong nước tại cầu Gia Bảy, đập thác Đuống, cầu Mây vượt tiêu chuẩn cho phép từ 1,08 – 9,5 lần, COD vượt từ 1,2 – 5,8 lần, NH4+
vượt từ 1,34 – 20 lần, lượng dầu mỡ đạt tới 0,195
Trang 3324
– 0,196 mg/l Nước tại Hồ Núi Cốc cũng có dấu hiệu ô nhiễm các chất hưu
cơ, vô vơ, kim loại năng, dầu mỡ và các hóa chất bảo vệ thực vật
Tại KCN Sông Công các nhà máy sản xuất cơ khí, chế tạo máy động lực đã hoạt động từ năm 2001 nhưng đến nay vẫn chưa có hệ thống xử lí nước thải, hoặc chỉ có hệ thống xử lí lắng cặn sơ bộ rồi thải thẳng ra sông Cầu Nước thải của những khu công nghiệp này thường chứa nhiều dầu mỡ và kim loại nặng
Tại các khu công nghiệp và khai thác khoáng sản, qua điều tra chất thải cho thấy ước tính mỗi năm hoạt động sản xuất công nghiệp thải ra khoảng 1
tỷ m3 khí, hàng nhìn tấn bụi và hàng trăm nghìn tấn chất thải rắn Theo số liệu điều tra: Tại 20 doanh nghiệp khai thác chế biến khoáng sản, hàng năm thải vào môi trường khoảng 450 triệu m3
khí thải, 16 doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng tập chung, hàng năm thải vào môi trường trên 200 triệu m3
khí thải, 160 nghìn m3 nước thải, 150.668 tấn chất thải rắn Trong các cơ sở sản xuất công nghiệp và khu công nghiệp của tỉnh, hiện có khoảng 90% cơ sở chưa có trạm xử lý nước thải và hệ thống kỹ thuật hạ tầng chưa đáp ứng yêu cầu bảo vệ môitrường
Môi trường nước dưới lòng đất có những biểu hiện ô nhiễm, tuy nhiên chỉ mang tính cục bộ như tại một số khu vực khai thác khoáng sản Hà Thượng, Tân Linh (Đại Từ), hàm lượng Asen từ 0,068 – 0,109 mg/l, vượt tiêu chuẩn cho phép từ 1,7 – 8,2 lần Phường Quang Vinh (TP Thái Nguyên), thị trấn Giang Tiên (Phú Lương) hàm lượng Xyanua vượt tiêu chuẩn cho phép từ 1,9 – 12,9 lần
Trước thực trạng trên tỉnh Thái Nguyên đang khẩn trương hoàn thành
Đề án bảo vệ môi trường giai đoạn 2011 – 2015 với mục tiêu giải quyết các vấn đề môi trường cấp bách, khắc phục và giảm thiểu ô nhiễm môi trường, bảo vệ đa dạng sinh học, kịp thời ứng phó với biến đổi khí hậu Một việc làm
Trang 3425
thiết thực nhằm trả lại ―bình yên‖ cho cộng đồng dân cư thoát khỏi vấn nạn khổ sở vì ô nhiễm gây ra , tỉnh cũng tiến hành di dời các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng trong các khu dân cư vào các khu, cụm công nghiệp, kiểm soát công nghệ, hạn chế cho phép đầu tư các cơ sở sản xuất có công nghệ mang tiềm năng gây ô nhiễm lớn, yêu cầu các khu, cụm công nghiệp phải có hệ thống xử lý nước thải tập trung, đảm bảo dòng chảy và cải thiện môi trường [13]
Trang 3526
PHẦN III:
ĐỐI TƯỢNG , NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng , phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Nước thải sau sản xuất của nhà máy cán thép Lưu Xá – Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
3.2 Địa điểm nghiên cứu
Trung tâm Quan trắc và Công nghệ Môi trường Thái Nguyên
Nhà máy Cán thép Lưu Xá Thái Nguyên
3.3 Nội dung nghiên cứu
3.3.1 Tổng quan về nhà máy Cán thép Lưu Xá Thái Nguyên
- Giới thiệu về nhà máy Cán thép Lưu Xá Thái Nguyên:
+ Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
+ Quá trình hình thành và phát triển của nhà máy
+ Tình hình hoạt động của nhà máy
- Các biện pháp bảo vệ môi trường nhà máy đã thực hiện
3.3.2 Đánh giá hiện trạng nước thải sau sản xuất của nhà máy Cán thép Lưu Xá – Thái Nguyên
Lấy mẫu nước thải sau sản xuất tại bể thu gom nước thải sản xuất trước khi xử lý và bể thu gom nước thải sản xuất sau xử lý của Nhà máy