1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Kinh tế nông thôn trong xây dựng nông thôn mới ở huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình

197 234 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 197
Dung lượng 1,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Ngày 5/8/2008, BCH trung ương Đảng khoá X ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, trong đó yêu cầu: Xây dựng nông thôn mới có kết

Trang 1

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

TRẦN HỒNG QUẢNG

kinh tÕ n«ng th«n trong x©y dùng n«ng th«n míi

ë huyÖn kim s¬n tØnh ninh b×nh

Chuyên ngành : Kinh tế chính trị

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS HOÀNG THỊ BÍCH LOAN

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, tư liệu được sử dụng trong luận án là trung thực, có nguồn gốc và xuất xứ rõ ràng Những kết quả khoa học của luận án chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào

Tác giả luận án

Trần Hồng Quảng

Trang 3

Trang

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN

ĐẾN ĐỀ TÀI 5

1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài có liên quan đến đề tài 5

1.2 Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam có liên quan đến đế tài 10 1.3 Tổng quan kết quả nghiên cứu liên quan đến đề tài và vấn đề

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KINH TẾ

NÔNG THÔN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 26

2.1 Lý luận chung về kinh tế nông thôn trong xây dựng nông thôn mới 26 2.2 Vai trò, nội dung, các chỉ tiêu đánh giá phát triển kinh tế nông

2.3 Kinh nghiệm của quốc tế và trong nước về phát triển kinh tế

nông thôn trong xây dựng nông thôn mới 57

Chương 3: THỰC TRẠNG KINH TẾ NÔNG THÔN TRONG

XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN KIM SƠN TỈNH NINH BÌNH GIAI ĐOẠN 2008 - 2013 74 3.1 Đặc điểm tự nhiên kinh tế - xã hội ở huyện Kim Sơn tỉnh Ninh

Bình ảnh hưởng đến kinh tế nông thôn trong xây dựng nông

3.2 Thực trạng kinh tế nông thôn trong xây dựng nông thôn mới ở huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình 81

Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ

NÔNG THÔN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN KIM SƠN TỈNH NINH BÌNH ĐẾN NĂM 2020 115 4.1 Quan điểm cơ bản phát triển kinh tế nông thôn trong xây dựng

nông thôn mới ở huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình 115 4.2 Những giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế nông thôn trong xây dựng

nông thôn mới ở huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình đến năm 2020 120

KẾT LUẬN 153

Trang 4

CĐML : Cánh đồng mẫu lớn CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

CNTBNN : Chủ nghĩa tư bản nhà nước

CN, TTCN : Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp

CN, TTCN - XD : Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp - xây dựng GDP : Tổng sản phẩm kinh tế quốc dân

KH - CN : Khoa học - công nghệ KHHGĐ : Kế hoạch hóa gia đình

WTO : Tổ chức thương mại thế giới

Trang 5

Trang

Bảng 3.1: Tổng hợp giá trị, cơ cấu ngành nghề nông nghiệp,

Bảng 3.2: Tổng sản lượng thủy sản vùng ven biển huyện Kim

Bảng 3.3: Chất lượng lao động huyện Kim Sơn 2008 - 2013 86

Bảng 3.4: Kết quả phát triển kết cấu hạ tầng giao thông nông

thôn của huyện Kim Sơn giai đoạn 2008 - 2013 88

Bảng 3.5: Kết quả phát triển hạ tầng thủy lợi nông thôn huyện

Bảng 3.6: Kết quả phát triển hạ tầng nước sạch và môi trường

Bảng 3.7: Kết quả phát triển hạ tầng thông tin, viễn thông nông

Bảng 3.8: Thu nhập bình quân lao động/năm và thu nhập bình

quân đầu người/năm ở nông thôn huyện Kim Sơn qua

Trang 6

Trang

Hình 2.1: Cơ cấu tổng sản phẩm trong nước của nền kinh tế quốc dân 42

Hình 3.1: Cơ cấu kinh tế ngành ở huyện Kim Sơn qua các năm 81

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngày 5/8/2008, BCH trung ương Đảng (khoá X) ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, trong đó yêu cầu: Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo qui hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường Theo yêu cầu này, phát triển kinh tế nông thôn là nội dung chủ yếu của quá trình thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới

Kim Sơn là huyện “đặc thù” của tỉnh Ninh Bình, thành lập năm 1829, là kết quả của công cuộc khẩn hoang dưới sự lãnh đạo tài tình của Doanh điền tướng công Nguyễn Công Trứ, bằng mồ hôi, sức lực của mình, người Kim Sơn

đã kiên cường chiến thắng thiên nhiên tạo một vùng quê mới Kim Sơn - “Núi vàng” Là huyện duy nhất của tỉnh có biển, là huyện trọng điểm về chính trị, kinh tế của tỉnh Ninh Bình, là nơi có đông đồng bào công giáo, với tỷ lệ đồng bào công giáo chiếm 46,7% số dân, trên địa bàn có Tòa Giám mục Phát Diệm,

31 giáo xứ, 156 giáo họ; 31 nhà thờ giáo xứ, 113 nhà thờ giáo họ, 5 nhà nguyện,

1 đền Đức Bà

Trong những năm vừa qua, KTNT huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình đã có bước phát triển khá, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, đang dần phá thế thuần nông Ngành nông nghiệp tăng trưởng khá và ổn định Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và các ngành nghề, làng nghề ở nông thôn phát triển khá mạnh Các hình thức tổ chức sản xuất trong kinh tế nông thôn được đa dạng hoá Kết cấu hạ tầng KT - XH nông thôn từng bước được hoàn thiện Thu nhập của nhân dân tăng dần, người dân có thêm điều kiện đầu tư phát triển các công trình phúc lợi như điện, đường, trường, trạm, bộ mặt nông thôn được đổi mới, tiến bộ hơn trước

Trang 8

Tuy nhiên, những thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng lợi thế của huyện Trước yêu cầu phát triển kinh tế nông thôn trong thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới, còn rất nhiều việc mà huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình phải làm Công tác quy hoạch xây dựng nông thôn mới trong

đó có quy hoạch phát triển kinh tế nông thôn chưa đạt yêu cầu, chậm tiến độ, chất lượng không cao Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đổi mới hình thức tổ chức sản xuất chậm; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội yếu kém, còn nhiều khó khăn cả đầu tư và hiệu quả khai thác; nghiên cứu chuyển giao khoa học - công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực còn nhiều hạn chế Công nghiệp và dịch vụ phát triển chậm chưa thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động ở nông thôn Vấn đề việc làm và thu nhập lâu dài của một bộ phận dân cư đã và đang đặt ra, tính bền vững trong phát triển kinh tế nông thôn đang là trở ngại trên con đường xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Ninh Bình, nhất là ở vùng có đông đồng bào công giáo như huyện Kim Sơn Vì vậy trong xây dựng nông thôn mới đặt trong bối cảnh ở vùng có đông đồng bào công giáo ở tỉnh Ninh Bình, thì vấn đề xây dựng và phát triển kinh tế nông thôn bền vững là nội dung chủ yếu, cốt lõi mang tính chất quyết định

Để góp phần vào giải quyết vấn đề bức xúc này, từ thực tiễn công tác

trên địa bàn một huyện có đông đồng bào công giáo, tôi chọn đề tài: “Kinh

tế nông thôn trong xây dựng nông thôn mới ở huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình” để nghiên cứu làm luận án Tiến sĩ chuyên ngành kinh tế chính trị

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về kinh tế nông thôn trong quá trình xây dựng nông thôn mới; luận án phân tích, đánh giá thực trạng kinh tế nông thôn trong xây dựng nông thôn mới ở huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình, đề xuất quan điểm và giải pháp để phát triển kinh tế nông thôn trong xây dựng nông thôn mới; nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, nhanh chóng xây dựng nông thôn mới có hiệu quả ở huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích trên, luận án tập trung làm rõ các nhiệm vụ sau:

Trang 9

- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về KTNT trong xây dựng nông thôn mới

- Phân tích và đánh giá thực trạng kinh tế nông thôn trong xây dựng nông thôn mới ở huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình trong thời gian qua

- Đề xuất quan điểm và giải pháp phát triển kinh tế nông thôn trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình đến năm 2020

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là KTNT trong quá trình xây dựng nông thôn mới Làm rõ vai trò của phát triển KTNT đối với xây dựng nông thôn mới

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về thời gian nghiên cứu: Luận án nghiên cứu KTNT trong xây dựng

nông thôn mới ở huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình chủ yếu từ năm 2008 đến năm

2013 Phần đề xuất quan điểm và giải pháp đến năm 2020

- Về địa điểm nghiên cứu khảo sát: Huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình (nơi

có tỷ lệ đồng bào công giáo trên 46,7% so với số dân)

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận nghiên cứu

Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, đường lối đổi mới của Đảng cộng sản Việt Nam, chính sách của Nhà nước về kinh tế nông thôn trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức và xây dựng nông thôn mới

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sinh sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phương pháp trừu tượng hoá khoa

học, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp kết hợp lôgíc với lịch sử

Ngoài ra, nghiên cứu sinh còn sử dụng một số phương pháp của kinh tế học gồm: phương pháp khảo sát, điều tra, phương pháp thống kê; ở đây tác giả luận án đặc biệt chú trọng phương pháp điều tra khảo sát dưới dạng các bảng hỏi

và từ đó tổng hợp các ý kiến và đánh giá tổng hợp lại các ý kiến đã điều tra

Trang 10

Đồng thời có kế thừa kết quả nghiên cứu của một số công trình của các tác giả trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài luận án

5 Đóng góp mới của luận án

- Luận giải rõ nội dung và chỉ tiêu đánh giá phát triển kinh tế nông thôn trong quá trình xây dựng nông thôn mới

- Luận giải rõ vai trò của phát triển kinh tế nông thôn trong xây dựng nông thôn mới, nhất là đáp ứng các yêu cầu của xây dựng nông thôn mới, khai thác hiệu quả kết quả của chuyển dịch cơ cấu KTNT, phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn, các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh cho huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình

- Đánh giá thực trạng kinh tế nông thôn trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2008 - 2013

- Đề xuất quan điểm và giải pháp phát triển kinh tế nông thôn trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình đến năm 2020

6 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài được kết cấu gồm thành 4 chương, 11 tiết

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về kinh tế nông thôn trong xây dựng

nông thôn mới

Chương 3: Thực trạng kinh tế nông thôn trong xây dựng nông thôn mới ở

huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2008 - 2013

Chương 4: Quan điểm và giải pháp phát triển kinh tế nông thôn trong xây

dựng nông thôn mới ở huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình đến năm 2020

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1.1 Các Tác phẩm kinh điển của Chủ nghĩa Mác - Lê Nin

- Tác phẩm Tư phản [76] của C.Mác và Ph.Ăngghen là một công trình nghiên cứu kinh tế hết sức vĩ đại C.Mác đã phân tích một cách khoa học và triệt

để chủ nghĩa tư bản với tính cách là một hình thái kinh tế xã hội, đã vạch ra các qui luật ra đời, phát triển và diệt vong của CNTB Trong tác phẩm này C.Mác và Ph.Ăngghen đã đề cập đến các lĩnh vực sau đây liên quan đến đề tài:

+ Về hiệp tác trong sản xuất

Trong chương XI, C.Mác đã làm rõ hiệp tác giản đơn TBCN, ở đây C.Mác đã khẳng định hiệp tác giản đơn TBCN là lao động tập thể chưa có phân công C.Mác đã chỉ ra những ưu thế của hiệp tác so với sản xuất nhỏ cá thể như: tiết kiệm được tư liệu sản xuất; tạo ra một sức sản xuất mới, đó là một sức sản xuất tập thể trong phần lớn các công việc sản xuất, ngay sự tiếp xúc xã hội cũng

đẻ ra sự thi đua; rút ngắn được thời gian lao động cần thiết để làm ra tổng sản phẩm; giải quyết những công việc khẩn cấp, mùa vụ Đồng thời C.Mác cũng làm rõ những điều kiện để tiến hành hiệp tác đó là: Hiệp tác lao động đòi hỏi phải có sự quản lý, điều khiển, kiểm soát; tích tụ một khối lượng tư liệu sản xuất vào tay những nhà tư bản riêng lẻ; Kế toán với tư cách là phương tiện kiểm soát

và khái quát quá trình sản xuất trên ý niệm

+ Về tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp với thị trường sức lao động

Trong chương XIII, về máy móc và đại công nghiệp, C.Mác đã nghiên cứu cuộc cách mạng về công cụ lao động, làm rõ sự phát triển của máy móc C.Mác khẳng định: máy móc gồm ba bộ phận cấu thành là: máy động lực, máy truyền lực

và máy công tác, trong đó bộ phận máy công tác có tính chất quyết định Chính cái máy công tác là cái máy đã mở đầu cuộc cách mạng công nghiệp ở thế kỷ

Trang 12

XVIII Hệ thống máy móc hình thành, cơ sở kỹ thuật thay đổi dẫn đến tổ chức sản xuất thay đổi: hoặc là hiệp tác của nhiều máy cùng loại, hoặc là hệ thống máy có

sự phân công như trong công trường thủ công C.Mác đã làm rõ những ưu thế của máy móc

+ Về sự lạc hậu tương đối của nông nghiệp so với công nghiệp

Trong chương XXIV, cái gọi là tích lũy ban đầu, C.Mác đã phân tích sự ra đời của CNTB ở Anh Ở đây C.Mác đã làm rõ bí mật của tích lũy ban đầu, tích lũy ban đầu là việc tước đoạt ruộng đất của nông dân, tạo sự ra đời của các cơ sở sản xuất đầu tiên của tư bản C.Mác đã trình bày những đòi hỏi về bạo lực để tước đoạt ruộng đất của dân cư ở nông thôn Những luận điểm của C.Mác chỉ rõ xuất phát điểm ban đầu từ nông nghiệp, do có tiến bộ của công cụ lao động, công nghiệp dần tách khỏi nông nghiệp và nhanh chóng trở thành ngành sản xuất chính có nhiều ưu thế so với ngành nông nghiệp, chính vì lẽ đó nông nghiệp luôn lạc hậu tương đối so với công nghiệp

- V.I.Lênin trong tác phẩm “những nhiệm vụ trước mắt của chính quyền

xô viết” [64] đã tập trung làm rõ:

Nâng cao năng suất lao động và ý nghĩa xã hội của nó là một bộ phận cấu thành quan trọng trong học thuyết của Lênin Nâng cao năng suất lao động là điều kiện chủ yếu để nâng cao mức sống của nhân dân Một bộ phận cấu thành kế hoạch hợp tác hoá của Lênin là nâng cao trình độ văn hoá của nông dân Cách mạng văn hoá còn có ý nghĩa lớn hơn nữa, ngay cả trong điều kiện chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, nó vẫn cần thiết cho việc xây dựng

cơ sở vật chất - kỹ thuật thích hợp và nâng cao nhanh chóng trình độ văn hoá của nhân dân

- V.I.Lênin trong tác phẩm “Bàn về thuế lương thực” [67], để thấy rõ hình thức tổ chức sản xuất trong nông nghiệp, đã dành một phần quan trọng nói về tính tất yếu và vai trò của CNTB nhà nước trong nền kinh tế thời quá độ

Lênin cũng chỉ rõ tính tất yếu khách quan của sự tồn tại các quan hệ TBCN trong thời kỳ quá độ và đề ra nhiệm vụ phải hướng sự phát triển của chúng vào con đường CNTB nhà nước Trong tác phẩm này Lênin cũng nêu những hình thức

Trang 13

của CNTB nhà nước, đó là các hình thức: Tô nhượng, Chủ nghĩa tư bản hợp tác xã, đại lý, Nhà nước cho các nhà tư bản thuê xí nghiệp, vùng mỏ, khu rừng, khu đất…

- V.I.Lênin trong tác phẩm “Bàn về chế độ hợp tác xã” [69] đã chỉ ra ý nghĩa đặc biệt của chế độ hợp tác xã trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội Chính chế độ hợp tác xã cho phép kết hợp đúng đắn lợi ích cá nhân của người sản xuất hàng hoá nhỏ với lợi ích của xã hội, cho phép nhà nước thực hiện kiểm tra, kiểm soát, làm cho lợi ích tư nhân phục tùng lợi ích xã hội Cái chính là chế độ hợp tác xã được bắt đầu bằng những hình thức đơn giản nhất: hợp tác xã cung tiêu, HTX mua bán, sau đó là hợp tác xã sản xuất - đó là hình thức đơn giản nhất, dễ tiếp thu và dễ hiểu nhất đối hàng triệu quần chúng nông dân

Lênin đã xem xét chế độ hợp tác xã gắn liền với sự phát triển và củng cố nền kinh tế xã hội chủ nghĩa (nói riêng là nền nông nghiệp) Trong những năm đầu, khi nền nông nghiệp còn yếu ớt, hợp tác xã cung tiêu hoạt động kết hợp với chủ nghĩa tư bản nhà nước; khi nền kinh tế xã hội chủ nghĩa được củng cố, hợp tác xã gắn liền với ngành nông nghiệp xã hội chủ nghĩa, Lênin xác định hợp tác

xã là một biện pháp hết sức quan trọng để giải quyết nhiệm vụ cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nền kinh tế nông nghiệp nhiều thành phần

1.1.2 Các công trình khoa học của các học giả, tổ chức quốc tế

Kinh tế nông thôn là một chủ đề đã được các nhà nghiên cứu ở nước ngoài quan tâm nhiều, ở những góc độ khác nhau Trong thời gian gần đây, các nhà nghiên cứu thuộc tổ chức Nông Lương của Liên hiệp quốc (FAO) và ở các nước như Hàn Quốc, Ấn Độ, Trung Quốc đã đưa ra một số công trình nghiên cứu về kinh tế nông thôn mà Việt Nam có thể tham khảo:

- Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế: “Công nghiệp hóa nông thôn Hàn quốc: Bài học cho phát triển nông thôn Việt Nam” [116] gồm 24 bài viết của các học giả quốc tế và trong nước trình bày các nội dung công nghiệp hóa nông thôn ở Hàn Quốc; xu hướng phát triển nông thôn mới ở Hàn Quốc; công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn trong phát triển bền vững ở Hàn Quốc và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam; kinh nghiệm phát triển nông thôn mới ở Hàn Quốc và bài học cho phong trào nông thôn mới ở Việt Nam Đặc biệt kỷ yếu phân tích rõ Saemaul

Trang 14

Undong của Hàn Quốc (Phong trào đổi mới của cộng đồng Hàn Quốc hay là phong trào xây dựng làng mới)

- Bài viết của tác giả Junior Davis [143] đã phân tích kinh tế phi nông nghiệp tại nông thôn ở các nền kinh tế chuyển đổi (từ kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường) ở Đông và Trung Âu, bán đảo Balkans và các nước cộng hòa thuộc Liên Xô cũ trong giai đoạn từ 1991 - 2006 Theo kết quả nghiên cứu, kinh tế phi nông nghiệp chiếm từ (50 - 70)% thu nhập của nông dân các nước này, vì vậy không thể chỉ coi đó là cứu cánh tạm thời mà cần phải được xem xét trong chiến lược phát triển tổng thể Nhiều hướng tiếp cận được gợi ý để phát triển khu vực kinh tế này, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của nhà nước trong việc cung cấp ổn định chính trị, kết cấu hạ tầng, giáo dục, hỗ trợ về tài chính và tín dụng…

- Trong bài: “Cải cách chính sách nông nghiệp và điều chỉnh cấu trúc” tác

giả: Hanho Kim, Yong-Kee Lee [140] đã phân tích chính sách nông nghiệp qua các thời kì ở Hàn Quốc (1950 - nay) và Nhật Bản (1860 - nay) Cả hai nước đều trải qua một thời kì dài bảo hộ nông nghiệp và an ninh lương thực được đề cao (đặc biệt với lúa gạo), sau đó là quá trình chuyển đổi mạnh mẽ hướng tới thị trường (từ cuối những năm 1980 đến nay) nhằm tăng cường năng suất lao động

và tính cạnh tranh của nông nghiệp trong nước Đồng thời, bài viết cũng đã làm

rõ sự khác biệt về chính sách nông nghiệp ở hai nước trên cơ sở phân tích những điểm khác nhau về điều kiện tự nhiên, tính chất cơ cấu nông nghiệp… từ đó đưa

ra những gợi ý cho những điều chỉnh chính sách trong tương lai

- Trong bài: “Cải cách hệ thống và cấu trúc nông nghiệp của Trung Quốc tiến tới gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO” [135], tác giả DuYing đã điểm lại những thành tựu của nông nghiệp Trung Quốc sau 20 năm tiến hành chuyển dịch cơ cấu và cải cách nông nghiệp (1978 - 1999) Đồng thời, tác giả cũng nhận định những cơ hội và thách thức đối với nông nghiệp Trung Quốc một khi nước này gia nhập WTO, trong đó thách thức được coi là nhiều hơn trong ngắn hạn và chỉ có thể vượt qua bằng một nỗ lực lớn từ phía nhà nước trong việc đưa ra các chính sách nông nghiệp hợp lý Những chính sách được

Trang 15

gợi ý bao gồm tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu sang những loại nông sản có lợi thế so sánh, phát triển công nghiệp chế biến, giải quyết lao động thừa ở nông thôn…

- Trong bài: "Những việc không bao giờ kết thúc: Nông nghiệp Ấn Độ

theo cải cách cấu trúc” [145] Servaas Storm đã phân tích những tác động trong trung hạn của chính sách tự do hóa thương mại trong lĩnh vực nông nghiệp ở Ấn

Độ giai đoạn 1985 - 1990, đặc biệt là tác động đến động cơ làm việc của nông dân vì sự thiếu thốn những khuyến khích được coi là cản trở chính đối với đầu tư

tư nhân vào nông nghiệp và nỗ lực tăng năng suất lao động Theo đó, can thiệp chủ động và tích cực của nhà nước trong việc chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, dỡ bỏ những hàng rào đối với đầu tư tư nhân vào nông nghiệp… được các tác giả gợi ý và ủng hộ mạnh mẽ

1.2 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở VIỆT NAM CÓ LIÊN QUAN

ĐẾN ĐỀ TÀI

1.2.1 Nhóm các công trình khoa học nghiên cứu về kinh tế nông thôn

- Đề tài: "Nghiên cứu sự hình thành và phát triển làng nghề mới gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá vùng đồng bằng sông Hồng" [4] Đề tài khoa học của Ban Kinh tế trung ương nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, trong đó chú ý làm rõ vai trò quan trọng của việc hình thành và phát triển làng nghề

- Tác giả Nguyễn Huy Oánh trong đề tài: “Nông nghiệp Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế” [84] đã tập trung phân tích làm rõ những thành tựu và hạn chế của nông nghiệp Việt Nam sau 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới khi hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng Đồng thời cũng làm rõ những cơ hội và thách thức của nông nghiệp Việt Nam Trên cơ sở đó đề xuất một số phương hướng và giải pháp để đưa nông nghiệp Việt Nam phát triển bề vững trong điều kiện hội nhập

- Tác giả Nguyễn Tiến Dũng trong: “Phát triển kinh tế nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng trong quá trình hình thành nền kinh tế thị trường định hướng

Trang 16

XHCN” [33] đã làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò của KTNT trong quá trình hình thành nền kinh tế rhị trường định hướng XHCN Từ việc phân tích thực trạng phát triển kinh tế nông thôn đồng bằng sông Hồng trong những năm đổi mới Tác giả đã đề xuất những quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển KTNT vùng đồng bằng sông Hồng, trong quá trình hình thành nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Tuy nhiên luận án này chưa bàn đến phát triển KTNT bền vững; chưa thực sự gắn kết giữa phát triển KTNT hàng hoá với tiến bộ, công bằng xã hội và văn hoá, môi trường, quốc phòng an ninh

- Tác giả Nguyễn Hữu Tập trong: “Phát triển kinh tế nông thôn và tác động của nó đến xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân ở nước ta hiện nay” [97] đã làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển kinh tế nông thôn và tác động của nó đến xây dựng thế trận Quốc phòng toàn dân ở nước ta hiện nay Trên cơ sở phân tích thực trạng phát triển kinh tế nông thôn và tác động của

nó đến xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân ở nước ta Tác giả đã nêu ra một số mâu thuẫn cần phải tập trung giải quyết trong phát triển kinh tế nông thôn và phát huy tác động tích cực của nó đến xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân ở nước ta thời gian tới đó là: Mâu thuẫn giữa yêu cầu phát triển kinh

tế nông thôn bền vững, xây dựng thế trận quốc phòng vững mạnh với qui hoạch, sử dụng đất nông nghiệp chưa hợp lý, thiếu hiệu quả; Mâu thuẫn giữa yêu cầu đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng CNH, HĐH, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững mạnh với thực trạng qui

mô sản xuất nhỏ, ruộng đất manh mún, chính sách đất đai chưa hợp lý hiện nay; Mâu thuẫn giữa yêu cầu giải quyết vấn đề lao động, việc làm trong phát triển kinh tế nông thôn, xây dựng thế trận quốc phòng vững mạnh với xu hướng dư thừa lao động trong nông nghiệp và sức hút lao động có hạn của các ngành công nghiệp, dịch vụ, chính sách bảo hộ quyền lợi của dân cư đô thị Trên cơ sở đó, đề xuất một số quan điểm, giải pháp nhằm đẩy nhanh phát triển kinh tế nông thôn và tăng cường thế trận Quốc phòng toàn dân ở nước ta trong thời gian tới Nhưng luận án này chưa bàn đến phát triển kinh tế nông thôn bền vững trong hội nhập quốc tế

Trang 17

- Tác giả Xỉ Xỏn Phăn Bun Sỉ trong: “Kinh tế nông thôn ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào trong thời kỳ đổi mới” [128] trên cơ sở trình bày một số lý luận chung về kinh tế nông thôn luận án phân tích thực trạng phát triển kinh tế nông thôn ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, nêu những vấn đề cần tập trung giải quyết đó là: Hệ thống chính sách đối với kinh tế nông thôn chưa đồng bộ; Thị trường, nhất là thị trường nông thôn chưa được mở rộng; Hệ thống tín dụng chậm đổi mới; Đội ngũ cán bộ và nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu của thời

kỳ đổi mới; Mối quan hệ giữa đô thị và đô thị hóa với phát triển kinh tế nông thôn chưa được chú ý; Những vấn đề ô nhiễm môi trường, phân hóa giàu nghèo… cần được quan tâm Luận án dự báo xu hướng phát triển của kinh tế nông thôn ở Lào; Đề xuất những quan điểm phát triển kinh tế nông thôn ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào trong thời gian tới Luận án đưa ra những giải pháp cơ bản nhằm tiếp tục phát triển kinh tế nông thôn ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào như: Xây dựng qui hoạch tổng thể phát triển kinh tế nông thôn; Phát triển mạnh các ngành nghề truyền thống và các ngành nghề mới trên địa bàn nông thôn; Chú trọng phát triển nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế nông thôn; Tập trung thu hút nguồn lực để công nghiệp hóa, hiện đại hóa kinh tế nông thôn; Phát triển kết cấu hạ tầng ở địa bàn nông thôn; Mở rộng thị trường cho phát triển kinh tế nông thôn; Tăng cường vai trò hỗ trợ, quản lý Nhà nước trong phát triển kinh tế nông thôn

- Tác giả Lê Vũ Anh trong luận án: “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Tây Bắc trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [1] đã hệ thống hóa

cơ sở lý luận về cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu kinh tế nông thôn nói riêng Phân tích thực trạng cơ cấu kinh tế nông thôn Tây Bắc giai đoạn từ 1989 đến nay để thấy được những thành công và hạn chế Trên cơ sở đó luận án đưa ra phương hướng, quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Tây Bắc theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

- Tác giả Trương Duy Hoàng trong: “Các giải pháp tài chính thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Việt Nam theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước” [47] đã phân tích, đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Việt Nam và khẳng định việc khai thác tối đa thế mạnh của

Trang 18

từng vùng, địa phương để phát triển kinh tế sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn nhằn nâng cao đời sống người dân ở nông thôn, giảm bớt chênh lệch giầu nghèo giữa thành thị và nông thôn, tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế phát triển bền vững, đủ sức cạnh tranh và hội nhập kinh tế thế giới

- Tác giả Nguyễn Thị Bích Đào trong: “Một số vấn đề lý luận và định hướng phát triển kinh tế nông thôn ở Việt Nam” [45] đã luận giải một số vấn đề

lý luận về kinh tế nông thôn Phân tích thực trạng phát triển kinh tế nông thôn ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới; Từ đó làm rõ những tồn tại và mâu thuẫn trong quá trình phát triển kinh tế nông thôn Việt Nam Tác giả nêu kinh nghiệm của một số nước trên thế giới và đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm tiếp tục xây dựng và phát triển kinh tế nông thôn ở Việt Nam

- Tác giả Nguyễn Quang Minh trong: “Phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế nông thôn trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở tỉnh Thanh Hóa hiện nay” [82] đã trình bầy một số cơ sở lý luận về phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế nông thôn Phân tích thực trạng kết cấu hạ tầng kinh tế nông thôn trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở tỉnh Thanh Hóa thời gian qua, để thấy được những thành tựu, hạn chế và những vấn đề đăth ra cần giải quyết Từ đó đề xuất những giải pháp chủ yếu phát triển kết cấu hạ tầng kinh

tế nông thôn tỉnh Thanh Hóa trong thời gian tới

- Tác giả Phan Đại Doãn và các cộng sự trong: “Quản lý xã hội nông thôn nước ta hiện nay - một số vấn đề và giải pháp” [32] đã làm rõ những hạn chế ở khu vực nông thôn nước ta Trên cơ sở đó nhóm tác giả nhấn mạnh: Phát triển kinh tế nông thôn phải gắn kết chặt chẽ với ba vấn đề đó là: ổn định chính trị, xã hội; tăng trưởng kinh tế; công bằng xã hội thì mới bền vững Tăng trưởng, phát triển kinh tế phải đi liền với cải thiện đời sống nông dân, phải đặt trong xã hội, đặt trong con người

- Tác giả Phạm Văn Nam và các cộng sự trong: “Phát triển nông thôn”

[83] đã chỉ ra thực trạng của nông nghiệp, nông thôn trước thời kỳ đổi mới và tác động kinh tế - xã hội của đổi mới với phát triển nông thôn Nhóm tác giả khẳng

Trang 19

định: Trình độ phát triển của kinh tế nông thôn nước ta còn thua kém nhiều nước Để rút ngắn khoảng cách về trình độ phát triển, nhóm tác giả đã trích dẫn một số lý thuyết và mô hình phát triển nông thôn trên thế giới để tham khảo Chẳng hạn như:

+ Lý thuyết đề cao vai trò của nông nghiệp trong quá trình chuẩn bị công nghiệp hoá cho rằng, việc xây dựng một nền công nghiệp vững mạnh và năng động sẽ là một nhân tố quan trọng thúc đẩy công nghiệp phát triển và sự tăng trưởng nhanh của toàn bộ nền kinh tế Nhưng hạn chế của lý thuyết này là chỉ đề cập tới việc khai thác các nguồn lực của nông nghiệp, nông thôn để phục vụ công nghiệp hoá, đô thị hoá, còn triển vọng phát triển của bản thân nông nghiệp như thế nào thì không được đề cập thoả đáng

+ Lý thuyết chủ trương “nhảy thẳng” vào công nghiệp hoá , đô thị hoá lại xem nhẹ phát triển nông nghiệp, nông thôn, thu hẹp đến mức tối thiểu vai trò của KTNT trong nền kinh tế quốc dân và cho rằng nông nghiệp về cơ bản chỉ định hướng vào sản xuất lương thực, thực phẩm

+ Lý thuyết chủ trương kết hợp hài hoà giữa nông nghiệp với công nghiệp nông thôn trong quá trình phát triển Lý thuyết này có tính hợp lý hơn khi cho rằng phải chú ý tới phát triển nông nghiệp, nông thôn một cách thoả đáng, nhất

là đối với các nước đang phát triển, nơi đại đa số dân cư sống ở nông thôn và tỷ

lệ lao động trong nông nghiệp chiếm tỷ lệ lớn

- Các tác giả Tô Đức Hạnh và Phạm Văn Linh trong cuốn: “Phát triển kinh tế hàng hoá trong nông thôn các tỉnh vùng núi phía Bắc Việt Nam thực trạng và giải pháp” [46] đã trình bày những cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế hàng hoá trong nông thôn; nêu một số kinh nghiệm của Đài Loan và tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) trong phát triển kinh tế hàng hoá ở nông thôn vùng núi Cuốn sách đã đưa ra các giải pháp phát triển kinh tế hàng hoá nông thôn ở các tỉnh vùng núi phía Bắc Việt Nam là: thực hiện đa dạng hoá các hình thức sở hữu ở nông thôn, tăng cường vai trò kinh tế của Nhà nước; mở rộng phân công lao động gắn với xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý; phát triển thị trường; xây dựng, phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn; phát triển giáo dục, nâng cao dân trí gắn với

Trang 20

đào tạo nguồn nhân lực; huy động và sử dụng hợp lý các nguồn vốn cho phát triển kinh tế hàng hoá; phát triển khoa học công nghệ

- Lê Quốc Sử trong: “Chuyển dịch cơ cấu và xu hướng phát triển của kinh tế nông nghiệp Việt Nam theo hướng CNH, HĐH từ thế kỷ XX đến thế kỷ XXI “trong thời đại kinh tế trí thức” [96] đã phân tích dưới dạng tổng quát một số mô hình về phát triển kinh tế nông nghiệp xưa và nay trên thế giới; Tổng quan những lý luận cơ bản về cơ cấu và chuyển đổi cơ cấu kinh tế nói chung, kinh tế nông nghiệp nông thôn nói riêng Phân tích thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế và xu hướng phát triển của kinh tế nông thôn Việt Nam Từ đó thấy được những thành tựu và tồn tại, khuyết điểm trong thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị

- Trần Xuân Châu trong: “Phát triển nền nông nghiệp hàng hoá ở Việt Nam thực trạng và giải pháp” [21] cho rằng, phát triển nông nghiệp hàng hoá trong nông nghiệp là phương thức tối ưu để thúc đẩy nhịp độ tăng trưởng nền kinh tế trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; là con đường duy nhất để giải phóng lực lượng sản xuất, giải phóng nông dân, nông thôn ra khỏi tình trạng lạc hậu và cũng là quy luật chung của

sự phát triển kinh tế xã hội Nền nông nghiệp nước ta đã và đang chuyển mạnh từ sản xuất nhỏ, tự cung tự cấp sang sản xuất kinh doanh hàng hoá theo

cơ chế thị trường, ngày càng hướng vào xuất khẩu, đây là một chuyển biến có

ý nghĩa hết sức quan trọng và sâu sắc, làm thay đổi tính chất và các mối quan

hệ cơ bản trong nông nghiệp, nông thôn Đồng thời theo tác giả, lợi thế và vai trò của nông nghiệp hàng hoá được khai thác chưa tương xứng với tiềm năng vốn có của nó Cơ cấu kinh tế nông nghiệp chuyển đổi chậm, tổ chức sản xuất còn yếu kém, chất lượng hàng hoá, hiệu quả và sức cạnh tranh thấp, thu nhập

và đời sống của đa số nông dân còn thấp Tác giả đã làm rõ các nội dung, đặc trưng, vai trò, điều kiện của việc đẩy nhanh phát triển nền nông nghiệp hàng hoá; trình bày kinh nghiệm của một số nước về phát triển nông nghiệp hàng hóa Trên cơ sở những phân tích trên, cuốn sách đưa ra các quan điểm, phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm phát triển nền nông nghiệp hàng hoá

ở nước ta

Trang 21

- Nguyễn Từ trong: “Nông nghiệp Việt Nam trong phát triển bền vững” [120] đã đề cập đến một số vấn đề như: quan niệm về phát triển bền vững, vai trò của nông nghiệp trong phát triển bền vững ở Việt Nam Thực trạng phát triển nông nghiệp ở Việt Nam và tác động của nó đến phát triển bền vững Tác giả đưa ra những giải pháp nhằm phát triển nông nghiệp gắn với mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam

- Lê Quang Phi trong: “Đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn trong thời kỳ mới” [86] đã trình bày khá rõ yêu cầu khách quan của quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở nước ta và yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn nước ta trong thời kỳ mới; đồng thời làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng ta trong đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 1996-2006; rút ra một số kinh nghiệm như: phải nhận thức đúng đắn vị trí, vai trò của CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn đối với sự nghiệp cách mạng nước ta trong thời kỳ mới; kết hợp chặt chẽ quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn với tăng cường liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức trong thời kỳ mới; kết hợp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn với quá trình đô thị hoá nông thôn…

- Hoàng Ngọc Hoà trong: “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH ở nước ta” [50] đã tổng kết góp phần làm sáng tỏ quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về nông nghiệp, nông dân, nông thôn để tìm ra những nguyên nhân của thành công và hạn chế cũng như đề xuất những kiến nghị, giải pháp nhằm tiếp tục đưa KTNT nước ta phát triển lên trình độ mới Tác giả nhấn mạnh, nông nghiêp, nông dân, nông thôn nước ta có vị trí và tầm quan trọng chiến lược trong sự phát triển bền vững của nền kinh tế Hơn 20 năm đổi mới vừa qua, chúng ta đạt được nhiều thành tựu trong phát triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống nhân dân, nhưng chưa tương xứng với vị trí chiến lược và tiềm năng, lợi thế của nông nghiệp, nông thôn Để phát triển KTNT những năm tới cần: tạo được bước chuyển biến mang tính đột phá về chất trong sản xuất nông nghiệp và các ngành nghề ở nông

Trang 22

thôn; thực hiện tốt công tác quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp, tăng cường đầu

tư từ ngân sách…

- Đặng Kim Sơn trong cuốn: “Kinh nghiệm quốc tế về nông nghiệp, nông thôn, nông dân trong quá trình công nghiệp hoá” [94] trên cơ sở tổng hợp, phân tích vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân trong quá trình công nghiệp hoá ở nhiều nước trên thế giới, tác giả đã có sự liên hệ vào điều kiện cụ thể của Việt Nam những vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn như vai trò của nông nghiệp trong công nghiệp hoá, vấn đề cơ cấu sản xuất, giải quyết vấn đề về đất đai, lao động, môi trường… trong CNH, HĐH đất nước Tác giả đã đề cập đến một số nghịch lý trong nông nghiệp, nông thôn Việt Nam đó là: tài nguyên (đất, nước, lao động…) vừa thiếu vừa lãng phí; sản xuất nông nghiệp hiệu quả thấp và sức cạnh tranh kém; phát triển nông thôn chưa bền vững Tác giả cho rằng nguyên nhân chính của tình trạng trên là do: nhận thức và quan điểm về nông nghiệp, nông thôn, nông dân không đúng đắn theo các xu hướng khác nhau; đầu tư thấp cho nông nghiệp, nông thôn, liên kết yếu giữa nông nghiệp và công nghiệp; chia cắt nông thôn, đô thị; đoàn thể nông dân và kinh tế hợp tác yếu: bộ máy hành chính đông nhưng không hiệu quả Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra một số vấn đề nhằm xây dựng và phát triển nông nghiệp và nông thôn Việt Nam là: cần phải hoạch định rõ chiến lược phát triển công nghiệp gắn với nông nghiệp về thu hút lao động, chế biến nông, lâm, hải sản… đưa nhà máy công nghiệp về nông thôn; thực sự kết nối nông thôn - đô thị; có chính sách hợp lý để thu hút đầu tư vào phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn; cải cách triệt để hệ thống giáo dục; mạnh dạn thay đổi chính sách đất đai; phát huy dân chủ ở cơ sở; tăng đầu tư công cho KTNT

- Tác giả Nguyễn Danh Sơn và các cộng sự trong: “Nông nghiệp, nông thôn, nông dân Việt Nam trong quá trình phát triển đất nước theo hướng hiện đại” [93] đề cập tới một số vấn đề mới về lý luận chính trị về vai trò, vị trí của nông dân, nông thôn, nông nghiệp trong đời sống chính trị, đời sống kinh tế, đời sống xã hội, đời sống văn hóa của đất nước khi đã thoát khỏi danh sách các nước nghèo, đang bước vào giai đoạn mới cao hơn đó là CNH, HĐH gắn chặt với phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN Tập thể tác giả nêu định hướng giải

Trang 23

pháp về một số vấn đề chiến lược và chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân: Về định hướng CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn; Về dịnh hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành; Về định hướng xây dựng nông thôn mới; Về định hướng chính sách tịch tụ nguồn lực cho phát triển; Về định hướng phát huy vai trò chủ thể của nông dân

- Đoàn Xuân Thủy và các cộng sự trong cuốn: “Chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam hiện nay” [112] làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp như: Khái niệm và cơ sở hình thành chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp để khẳng định đây là một yêu cầu khách quan đối với mọi quốc gia nhằm giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân để góp phần tạo ra sự ổn định về kinh tế, chính trị và xã hội cho sự phát triển Làm rõ những nội dung của chính sách và vai trò của chính sách hỗ trợ đối với phát triển nông nghiệp và giải quyết vấn đề nông dân, nông thôn Đồng thời nhóm tác giả đề cập đến tác động của hội nhập kinh tế quốc tế tới chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp Trên cơ sở đó làm rõ thực trạng hỗ trợ sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam thời gian qua trên một số khía cạnh để thấy được những thành công và hạn chế, cùng những nguyên nhân cả chủ quan và khách quan để thấy được những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp phù hợp, với cam kết và lộ trình gia nhập WTO Từ đó đưa

ra một số quan điểm và giải pháp tiếp tục hoàn thiện chính sách hỗ trợ nông nghiệp ở Việt Nam hiện nay

- Nguyễn Thị Tố Quyên trong bài: "Thách thức mới đối với nông nghiệp,

nông thôn, nông dân Việt Nam và một số gợi ý chính sách giai đoạn 2011 - 2020" [91] đã đề cập đến những thách thức mới đặt ra đối với nông nghiệp, nông thôn và nông dân trong giai đoạn tới trên một số khía cạnh Trên cơ sở đó tác giả nêu một số gợi ý chính sách giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn giai đoạn tới đó là: Về phân bổ nguồn lực; Về qui hoạch vùng và qui hoạch nông thôn đô thị; Về phát triển hạ tầng cho nông nghiệp, nông thôn đang trong quá trình chuyển đổi mạnh sang nông nghiệp kinh doanh hàng hóa và nông nghiệp hiện đại; Về nâng cao thu nhập cho người dân; Về thay đổi tư duy, cách

Trang 24

thức thực hiện khuyến nông; Về chính sách xã hội đối với nông dân; Về nâng cao năng lực của hệ thống chính quyền nông thôn - phát triển dân chủ và xã hội pháp quyền ở nông thôn

- Phan Diễn trong bài: “Tạo bước chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa tiến trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn” [31] đã nêu những thành công của nông nghiệp, nông thôn nước ta trong những năm đổi mới là: phát triển tương đối toàn diện, tăng trưởng liên tục với tốc độ cao, an ninh lương thực quốc gia được bảo đảm vững chắc Đồng thời cũng chỉ rõ: cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn chuyển dịch chậm, chưa gắn kết có hiệu quả với thị trường, nặng

nề về trồng trọt (khoảng 80%), sản xuất nông nghiệp ở nhiều nơi còn phân tán, manh mún, quy mô nhỏ, mang nhiều yếu tố tự phát; công nghiệp chế biến nông sản phát triển chậm, lạc hậu về công nghệ; dịch vụ ở nông thôn chưa phát triển Quan hệ sản xuất nhìn chung chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển KTNT hàng hoá theo cơ chế mới Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp trong thời gian tới: đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế; thực hiện tốt công tác quy hoạch nông nghiệp, nông thôn; đẩy mạnh việc nghiên cứu, chuyển giao khoa học - công nghệ; thực hiện có hiệu quả các chính sách liên quan đến phát triển kinh tế; tiếp tục đổi mới và xây dựng QHSX phù hợp, theo hướng phát triển kinh tế mhiều thành phần trong nông nghiệp, nông thôn; phát huy dân chủ, tăng cường đoàn kết, ổn định chính trị- xã hội nông thôn và xây dựng nông thôn mới

- Vũ Văn Phúc trong bài: “Một số vấn đề về CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn” [87] đã nêu một số hạn chế, bất cập trong CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn như: đất nông nghiệp bình quân đầu người ở nước ta thấp và có xu hướng giảm dần trong quá trình CNH, HĐH; năng suất lao động nông nghiệp nước ta chỉ nuôi được 2 người, trong khi đó ở Mỹ nuôi được 80 người, Hà Lan

60, Anh 55, Nhật 20; thu nhập của dân cư nông thôn thấp nên sức mua thị trường nông thôn bị hạn chế Từ đó tác giả đề xuất các giải pháp nhằm đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là: phát triển các làng nghề, công nghiệp, dịch vụ, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn gắn với phân công lại lao động ở nông

Trang 25

thôn; mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản; phát triển nền kinh tế nhiều thành phần trong nông nghiệp, nông thôn

- Đào Thế Tuấn trong: “Về vấn đề phát triển nông nghiệp, nông thôn ở nước ta trong thời kỳ mới” [119] cho rằng, cần coi trọng vai trò của nông nghiệp, nông thôn trong thời kỳ đầu của CNH, HĐH; muốn phát triển nông nghiệp, nông thôn phải phát huy nội lực, phát triển các hoạt động phi nông nghiệp, bảo đảm quyền sở hữu ruộng đất, phát triển các hình thức hợp tác xã trong nông nghiệp, nông thôn

- Võ Tòng Xuân trong: “Nông nghiệp và nông dân Việt Nam phải làm gì

để hội nhập kinh tế quốc tế” [130] cho rằng, khi nước ta gia nhập tổ chức Thương mại thế giới, người nông dân Việt Nam coi như từ giã cái ao làng để đi

ra biển cả Biển cả có nhiều tôm cá để bắt nhưng cũng có nhiều sóng to, cá dữ và hải tặc Để nông nghiệp, nông dân được lợi từ WTO cần: đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục, đào tạo cho nông dân, công nhân, nhà quản lý những kiến thức và kỹ năng phù hợp với yêu cầu toàn cầu hoá; sửa đổi chính sách nông nghiệp; đẩy mạnh nghiên cứu khoa học công nghệ về giống cây trồng vật nuôi; quyết tâm bài trừ tham nhũng và buôn lậu; cải tiến những chính sách, luật lệ không phù hợp tập quán quốc tế

- Nguyễn Sinh Cúc trong bài: "Tổng quan nông nghiệp, nông thôn Việt Nam sau 25 năm thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (khóa VI)" [26] đã nêu lên những thành tựu về sản xuất nông nghiệp và đời sống của dân cư nông thôn sau 25 năm thực hiện Nghị quyết 10 Tuy nhiên nó cũng còn có những bất cập cả về phương thức và kết quả sản xuất đó là: Về phương thức sản xuất thể hiện ở quy mô ruộng đất quá nhỏ, manh mún, đơn vị sản xuất chủ yếu trong nông nghiệp là hộ gia đình nông dân Phương thức sản xuất lấy mục tiêu tăng sản lượng, chưa quan tâm nhiều đến chất lượng nông sản vẫn còn phổ biến Kết cấu hạ tầng nông thôn vẫn còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Một số chỉ tiêu quan trọng về xã hội và môi trường nông thôn không đạt được mục tiêu của kế hoạch và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đề ra

Trang 26

1.2.2 Nhóm các công trình khoa học nghiên cứu về xây dựng nông thôn mới

- Nguyễn Quốc Thái và các cộng sự trong đề tài: “Tín dụng hỗ trợ xây dựng nông thôn mới ở Việt nam - một số vấn đề lý thuyết” [99] đã nêu hiện trạng và nhu cầu vốn xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam; Vai trò của tín dụng

hỗ trợ XDNTM, tính tất yếu phải tăng cường tín dụng hỗ trợ XDNTM; các yêu cầu của tín dụng hỗ trợ XDNTM Trên cơ sở kinh nghiệm của một số quốc gia

về cung cấp tín dụng hỗ trợ xây dựng nông thôn, đề tài đưa ra một số khuyến nghị cho Việt Nam về chính sách tín dụng hỗ trợ XDNTM đó là: tăng cường khả năng cung ứng tín dụng; hoàn thiện cơ chế, qui trình và thủ tục trong tín dụng; giám sát, kiểm tra, thanh tra và tổng kết, rút kinh nghiệm trong hoạt động tín dụng hỗ trợ XDNTM

- Vũ Văn Phúc và các cộng sự trong cuốn: “Xây dựng nông thôn mới - những vấn đề lý luận và thực tiễn” [88] đã nêu những vấn đề lý luận chung về xây dựng nông thôn mới; Kinh nghiệm quốc tế về xây dựng nông thôn mới; Những chủ trương đường nối của Đảng và Nhà nước về nông nghiệp, nông thôn, nông dân và xây dựng nông thôn mới; Thực tiễn xây dựng nông thôn mới ở các địa phương ở Việt Nam: những kết quả đạt được, những hạn chế và những vấn đề đặt

ra trong triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới Trên cơ sở đó đề xuất các nội dung, giải pháp: Về công tác tuyên truyền; Về tổ chức sản xuất; Về phát triển kinh tế nông thôn; Về giải quyết những mâu thuẫn ở nông thôn; Về đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng và xây dựng người nông dân mới chủ thể của nông thôn là hạt nhân để xây dựng nông thôn mới

- Các tác giả Tô Xuân Dân, Lê Văn Viện, Đỗ Trọng Hùng và cộng sự trong cuốn: “Xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam: Tầm nhìn mới, tổ chức quản

lý mới, bước đi mới” [30] đã tiếp cận hệ thống, toàn diện và cung cấp cách nhìn khá rộng mở cho việc đổi mới triệt để nhận thức về vai trò của nông nghiệp, nông dân và nông thôn trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh quốc phòng, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất

Trang 27

nước trong hội nhập và phát triển Tập thể tác giả phác thảo những yêu cầu và nhiệm vụ đặt ra cũng như gợi ý cách triển khai về tổ chức phát triển và xây dựng nông thôn mới như: Tổ chức xây dựng và thực hiện quy hoạch phát triển nông thôn; Chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với thị trường; Vận dụng mô hình sản xuất kinh doanh đa dạng và tổ chức quản lý phù hợp; Khơi dậy nguồn lực phát triển mới thông qua ứng dụng khoa học, công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực; Tổ chức nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân, từ đó tạo động lực thúc đẩy nông nghiệp, nông thôn đi lên Đồng thời cuốn sách cung cấp kỹ năng cần thiết về thực thi pháp luật, khả năng quản lý đối với cán bộ nông thôn nhằm tạo thuận lợi cho việc triển khai thắng lợi chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới

- Tác giả Lê Hữu Nghĩa trong bài: “Xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam

- những vấn đề đặt ra và giải pháp” [84] đã nêu thực trạng xây dựng nông thôn mới trong thời kỳ đổi mới vừa qua, để thấy được những thành tựu và những yếu kém, bất cập Từ đó đề ra nhiệm vụ và giải pháp xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam đó là: Xây dựng và phát triển nông nghiệp hiện đại, đồng thời phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn phù hợp với đặc điểm từng vùng; Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn hiện đại, gắn với phát triển đô thị

và đô thị hóa; Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo việc làm ổn định, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân nông thôn nhất là vùng khó khăn; Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy sức mạnh của các đoàn thể chính trị - xã hội ở nông thôn

- Phạm Xuân trong bài: “Xây dựng nông thôn mới: Những thuận - nghịch đặt ra tại Đắk Lắk” [129] đã đề cập đến một số vấn đề sau:

+ Những vấn đề đặt ra trong thực hiện các tiêu chí về xây dựng nông thôn mới tại Đắc Lắk như: Tiêu chí giảm hộ nghèo còn 7% ở diện rộng; tiêu chí về hình thức tổ chức sản xuất; tiêu chí về giao thông nông thôn là những khó khăn

và một số tiêu chí đạt thấp trong xây dựng NTM Do vậy tiến độ xây dựng NTM

ở Đắk Lắk còn chậm, đang bộc lộ nhiều khó khăn vướng mắc đòi hỏi phải kịp thời tháo gỡ

Trang 28

+ Chủ động huy động các nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới: Tác giả bài viết cho rằng, ngoài vấn đề hỗ trợ trực tiếp từ chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới tỉnh cần linh động, sáng tạo và đa dạng hóa các nguồn vốn huy động triển khai thực hiện xây dựng nông thôn mới bằng lồng ghép nguồn vốn của các trương trình, dự án hỗ trợ có mục tiêu trên địa bàn; huy động các nguồn lực từ ngân sách của tỉnh, của huyện và xã Huy động vốn của các doanh nghiệp trên địa bàn đầu tư cho nông thôn mới Công tác quy hoạch có vai trò quan trọng và phải đi trước một bước, tạo quỹ đất xây dựng các công trình giao thông, thủy lợi, công trình văn hóa, khu dân cư, chú trọng đào tạo nghề cho lao động nông thôn và tác giả khảng định xây dựng nông thôn mới không phải là công việc một sớm, một chiều mà là quá trình lâu dài, thường xuyên, với mục đích cuối cùng là mang lại và bảo đảm thụ hưởng vật chất, tinh thần ngày càng cao và bền vững cho nhân dân

- Tác giả Nguyễn Thành Lợi trong bài: “Xây dựng nông thôn mới của Nhật Bản và một số gợi ý cho Việt Nam” [71] đã khẳng định: Để công cuộc xây dựng nông thôn mới sớm thành công, chúng ta phải nghiên cứu những kinh nghiệm của một số nước đã đạt được trong lĩnh vực này Và Nhật Bản là một ví

dụ cụ thể mà chúng ta có thể tham khảo trong quá trình xây dựng nông thôn mới

đó là: Lựa chọn mô hình xây dựng nông thôn mới ở Nhật Bản; Các giai đoạn xây dựng nông thôn mới ở Nhật Bản; Kinh nghiệm của Nhật Bản trong xây dựng nông thôn mới; Và từ đó tác giả đưa ra một số gợi ý cho Việt Nam đó là: Phát huy tối đa vai trò chỉ đạo của Nhà nước; Lấy phát triển kinh tế nông thôn, tăng thu nhập cho người nông dân làm cốt lõi; Nêu cao tinh thần tự lực, tự cường, lòng tin và lòng quyết tâm cho người nông dân

- Tác giả Nguyễn Sinh Cúc trong bài: “Vài nét về xây dựng nông thôn mới ở Hải Phòng” [27] đã nêu lên một số kết quả bước đầu trong xây dựng nông thôn mới ở Hải Phòng thời gian qua Trên cơ sở đó tác giả nêu những hạn chế như: trong triển khai thực hiện còn lúng túng, chậm, không đồng bộ; Kết quả đạt được chưa tương xứng với chủ trương lớn của đảng, chưa tương xứng với tiềm năng thế mạnh của Hải Phòng Đồng thời tác giả đã chỉ ra những nguyên nhân của hạn chế

cả về chủ quan và khách quan Từ đó tác giả đề xuất một số giải pháp đối với Hải

Trang 29

Phòng và đối với Ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới của Trung ương nhằm thực hiện tốt chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới

- Hồ Ngọc Hy trong bài: “Mô hình sản xuất lớn trong nông nghiệp - động lực của quá trình tái cơ cấu, xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Quảng Trị” [61] đã phân tích trực trạng của các mô hình sản xuất nông nghiệp ở tỉnh Quảng Trị qua ba năm (2011 - 2013) như: mô hình trong cơ giới hóa đồng ruộng ở xã Gio Quang, huyện Gio Linh; mô hình vùng Sắn nguyên liệu tập trung ở huyện Hướng Hóa, huyện Đa Krông; mô hình sản xuất nông nghiệp ở xã Vĩnh Thủy, huyện Vĩnh Linh;

mô hình cây công nghiệp dài ngày ở các huyện: Hướng Hóa, ĐaKrông, miền tây Cam Lộ, Gio Linh, Vĩnh Linh… Trong bài viết phân tích yêu cầu của các mô hình trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Đồng thời đưa ra một số giải pháp

mở hướng cho phát triển mô hình sản xuất lớn trong nông nghiệp ở Quảng Trị như:

Có quy hoạch, hoạch định chiến lược dài hạn để dẫn dắt mô hình phát triển theo kinh tế thị trường định hướng XHCN; Xây dựng cơ chế chính sách, giải pháp đồng bộ; Phát triển các hình thức lên kết doanh nghiệp - nông dân; Phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ, các hình thức dịch vụ cung ứng cho “đầu tư” đầu vào và bao tiêu sản phẩm; Có chương trình dự án đầu tư cụ thể, tập trung chỉ đạo

Ngoài ra, còn có các bài viết trên một số tạp chí nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, kinh tế nông nghiệp

và kinh tế nông thôn ở Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; đề xuất phương hướng, giải pháp xây dựng nông thôn, về phát triển kinh tế nông thôn đăng trên các tạp chí như: Tạp chí Cộng sản, Tạp chí nghiên cứu kinh tế, Tạp chí nghiên cứu lý luận, Tạp chí Kinh tế và phát triển, Tạp chí Văn phòng cấp uỷ ; và trên các báo như Báo Nhân dân, Thời báo Ngân hàng, Báo Nông nghiệp, Báo Ninh Bình

1.3 NHỮNG KHOẢNG TRỐNG NGHIÊN CỨU VÀ VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU

1.3.1 Những khoảng trống nghiên cứu

Liên quan đến đề tài luận án đã có nhiều nhà khoa học ở trong và ngoài nước nghiên cứu, luận bàn nhiều vấn đề khác nhau về kinh tế nông thôn Các

Trang 30

nhà khoa học đã đưa ra những quan điểm mang tính khoa học, kết hợp cả lý luận

và thực tiễn để thấy được vai trò của phát triển kinh tế nông thôn ở Việt Nam Nhìn chung kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học nghiên cứu liên quan đến kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam thời gian qua đã đề cập đến một số nội dung ở các góc độ khác nhau, cụ thể là:

- Luận giải sự cần thiết của phát triển kinh tế nông nghiệp, kinh tế nông thôn

- Nêu vai trò của kinh tế nông thôn nói chung; đặc điểm của kinh tế nông thôn trong phát triển kinh tế - xã hội

- Phân tích thực trạng kinh tế nông thôn ở nước ta nói chung, cũng như ở một số tỉnh nói riêng trên một số khía cạnh để thấy được những thành tựu đạt được và những hạn chế cần tập trung giải quyết

- Nêu một số phương hướng và giải pháp để phát triển kinh tế nông thôn

- Luận giải những lý luận về xây dựng nông thôn mới; Phân tích thực trạng xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam để thấy được hiệu quả của việc xây dựng nông thôn mới và những bất cập, hạn chế trong thời gian vừa qua

- Đưa ra một số giải pháp xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam

Tuy nhiên, những khoảng trống mà luận án tập trung nghiên cứu luận giải

đó là:

- Những vấn đề lý luận và thực tiễn về KTNT trong XDNTM

- Thực trạng KTNT trong XDNTM ở huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình

- Đề xuất giải pháp nhằm phát triển KTNT trong XDNTM ở huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình thời gian tới

1.3.2 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu

Từ những kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học và thực tiễn kinh tế nông thôn của huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình, tác giả luận án kế thừa để tiếp tục nghiên cứu tập trung giải quyết những vấn đề sau:

* Về cơ sở lý luận và thực tiễn

- Luận giải rõ khái niệm kinh tế nông thôn trong xây dựng nông thôn mới

- Luận giải vai trò của phát triển kinh tế nông thôn đối với xây dựng nông thôn mới trên một số khía cạnh chủ yếu để thấy sự cần thiết khách quan của nó

Trang 31

- Phân tích những nội dung của phát triển kinh tế nông thôn trong xây dựng nông thôn mới ở cấp huyện

- Phân tích các tiêu chí đánh giá và các yếu tố ảnh hưởng phát triển kinh tế nông thôn trong xây dựng nông thôn mới

- Đề xuất quan điểm và giải pháp chủ yếu để phát triển kinh tế nông thôn trong xây dựng nông thôn mới ở huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình thời gian tới Đặc biệt những nội dung như: Cơ cấu kinh tế nông thôn; Nguồn nhân lực ở nông thôn; Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế kỹ thuật ở nông thôn và các hình thức tổ chức sản xuất, dịch vụ ở nông thôn

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu và bài viết đã công bố tuy có nhiều nghiên cứu về lý luận và thực tiễn về kinh tế nông nghiệp, KTNT trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, có nghiên cứu về xây dựng và phát triển nông thôn mới; nhưng chưa có công trình nào phân tích một cách có hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn về kinh tế nông thôn đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới theo chủ trương của Đảng và Nhà nước những năm gần đây, nhất là chưa có công trình nghiên cứu sâu về KTNT trong xây dựng nông thôn mới ở huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình ở góc độ kinh tế chính trị, để làm rõ vai trò và nội dung của phát triển KTNT trong xây dựng nông thôn mới ở cấp huyện Bởi vậy, việc lựa chọn nghiên cứu đề tài trên là mới, không trùng với các công trình khoa học, luận án đã được công bố

Trang 32

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KINH TẾ NÔNG THÔN

TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

2.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KINH TẾ NÔNG THÔN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

2.1.1 Khái niệm kinh tế nông thôn và kinh tế nông thôn trong xây dựng nông thôn mới

2.1.1.1 Khái niệm kinh tế nông thôn

Nông thôn theo nghĩa truyền thống, là một khái niệm chỉ một bộ phận của đất nước dùng để phân biệt với khái niệm thành thị Đó là một địa bàn không gian rộng lớn mà đại bộ phận dân cư là những người nông dân, sản xuất nông nghiệp là chủ yếu; quan hệ xã hội chủ yếu trong lũy tre làng với cây đa, giếng nước, sân đình, trên cơ sở huyết thống, dòng họ… Tuy nhiên ngày nay cùng với quá trình phát triển của xã hội những yếu tố truyền thống có sự biến động Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất về nông thôn cũng có sự thay đổi

Theo định nghĩa trong từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học và Bách khoa Việt Nam: “nông thôn là phần lãnh thổ của một nước hay một đơn vị hành chính nằm ngoài lãnh thổ đô thị, có môi trường tự nhiên, hoàn cảnh kinh tế - xã hội, điều kiện sống khác biệt với đô thị và dân cư chủ yếu làm nghề nông” Như

vậy, chúng ta có thể hiểu: Nông thôn là một địa bàn mà ở đó sản xuất nông

nghiệp là chủ yếu, thu nhập của dân cư từ sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn Tên gọi của địa bàn nông thôn thường là xã, thôn, làng, ấp, bản Nông thôn

có thể được xem xét trên nhiều góc độ: Kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội … Về mặt kinh tế - xã hội, dân cư nông thôn có mức sống, trình độ dân trí, điều kiện tiếp cận với tiến bộ khoa học - công nghệ trên thế giới thấp hơn dân cư đô thị; tỷ

lệ hộ nghèo cao hơn đô thị Trên phương diện ngành, lĩnh vực và vùng, để phân biệt với kinh tế thành thị, KTNT được quan niệm là tổng thể các hoạt động KT -

XH diễn ra trên địa bàn nông thôn, bao gồm các ngành nông - lâm - ngư nghiệp, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ trên địa bàn đó

Trang 33

Theo Giáo trình Kinh tế học chính trị Mác - Lê nin:

Kinh tế nông thôn là một phức hợp những nhân tố cấu thành của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong nông - lâm - ngư nghiệp, cùng với các ngành như công nghiệp truyền thống, các ngành tiểu - thủ công nghiệp, công nghiệp chế biến và phục vụ nông nghiệp, các ngành thương nghiệp và dịch vụ tất cả có quan hệ hữu cơ với nhau trong kinh tế vùng

và lãnh thổ và trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân [52, tr.484]

Trước đây, khi nói tới nông thôn, ta thường nghĩ đến địa bàn mà ở đó hoạt động sản xuất nông nghiệp được coi là bao trùm Nhưng ngày nay, với sự phát triển cao của LLSX và phân công lao động thì khu vực nông thôn không đơn thuần chỉ có hoạt động nông nghiệp mà còn có cả công nghiệp và dịch vụ KTNT là khu vực kinh tế quan trọng, là khu vực sản xuất vật chất cung cấp tư liệu tiêu dùng thiết yếu để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của con người, để tái sản xuất ra sức lao động cho xã hội, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp… Quá trình phát triển của mỗi quốc gia luôn gắn liền với quá trình đô thị hoá, nhưng không vì vậy

mà khu vực KTNT mất đi, mà trái lại nó luôn tồn tại và phát triển

Như vậy, có nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm kinh tế nông

thôn, nhưng dù hiểu thế nào thì Kinh tế nông thôn là một khu vực của nền kinh tế

gắn liền với địa bàn nông thôn Nó là tổng thể các quan hệ kinh tế diễn ra trên địa bàn nông thôn, có quan hệ chặt chẽ với nông nghiệp, nông dân

2.1.1.2 Khái niệm kinh tế nông thôn trong xây dựng nông thôn mới

Xây dựng nông thôn mới là một cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để cộng đồng dân cư ở nông thôn cùng đồng lòng xây dựng địa bàn nông thôn và gia đình của mình khang trang, sạch đẹp, dân chủ, giàu mạnh, văn minh; phát triển sản xuất toàn diện (Nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ); có nếp sống văn hóa, môi trường và an ninh nông thôn được đảm bảo; thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần của cư dân nông thôn được nâng cao Trong tổng thể phát triển kinh tế đất nước ta hiện nay thì vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn phải được giải quyết đồng bộ gắn với quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu

Trang 34

và là nhân tố bảo đảm thành công của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Công nghiệp hóa phải hỗ trợ mạnh mẽ cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn

Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng cộng sản Việt Nam nhấn mạnh:

Xây dựng nông thôn mới: qui hoạch phát triển nông thôn và phát triển

đô thị và bố trí các điểm dân cư Phát triển mạnh công nghiệp, dịch vụ

và làng nghề gắn với bảo vệ môi trường Triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới phù hợp với đặc điểm từng vùng theo các bước đi

cụ thể, vững chắc trong từng giai đoạn; giữ gìn và phát huy những truyền thống văn hóa tốt đẹp của nông thôn Việt Nam Đẩy mạnh xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn Tạo môi trường thuận lợi để khai thác mọi khả năng đầu tư vào nông nghiệp và nông thôn, nhất là đầu tư của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, thu hút nhiều lao động Triển khai có hiệu quả chương trình đào tạo nghề cho một triệu lao động nông thôn mỗi năm [42, tr.123]

Xây dựng nông thôn mới gắn với xây dựng các cơ sở công nghiệp, dịch

vụ và phát triển đô thị theo quy hoạch căn bản, phát triển toàn diện nông nghiệp, hiện đại hoá nông nghiệp là then chốt

KTNT là một khu vực của nền kinh tế gắn liền với địa bàn nông thôn Nó vừa mang đặc trưng chung của nền kinh tế, vừa mang đặc điểm riêng gắn liền với nông nghiệp, nông thôn Tuy nhiên, ngày nay ranh giới giữa đô thị và nông thôn chỉ có tính tương đối, không rõ ràng và có tính động Và do đó, xét về phương diện kinh tế - xã hội thì một vùng hay một địa phương được gọi là nông thôn hay thành thị không hoàn toàn phụ thuộc vào các quyết định hành chính, nó phải được xác định trước hết là ở nội hàm của nó như phân vùng, cấu trúc dân

cư, ngành nghề, mô hình thiết chế hành chính được thực hiện… Tác giả luận án

cho rằng: Kinh tế nông thôn trong xây dựng nông thôn mới là một phức hợp

những nhân tố cấu thành của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong nông, lâm, ngư nghiệp, cùng với các ngành công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn gắn với chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới Là tổng thể

Trang 35

các quan hệ kinh tế có quan hệ hữu cơ với nhau trong khu vực nông thôn và trong toàn bộ vùng, địa phương, nền kinh tế quốc dân; nhằm làm cho khu vực nông thôn có cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp sản xuất hàng hoá với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông nghiệp với phát triển đô thị theo qui hoạch; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao

Như vậy, KTNT trong XDNTM, là nhằm xây dựng nền nông nghiệp hiện đại gắn với phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ nông thôn; chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng tích cực; KH - CN là khâu đột phá để phát triển KTNT góp phần chuyển dịch cơ cấu KTNT bền vững;

đa dạng hóa các hình thức tổ chức sản xuất, phát triển kết cấu hạ tầng KT - XH hiện đại phục vụ phát triển kinh tế nông thôn; hình thành các cụm công nghiệp - dịch vụ, các khu chế xuất, khu du lịch sinh thái, kết cấu hạ tầng KT - XH hiện đại, phát triển đô thị nông thôn

2.1.2 Đặc điểm và những yếu tố ảnh hưởng đến kinh tế nông thôn trong xây dựng nông thôn mới

2.1.2.1 Đặc điểm của kinh tế nông thôn trong xây dựng nông thôn mới

Kinh tế nông thôn trong XDNTM vừa mang những đặc trưng chung của nền kinh tế về LLSX và QHSX, về cơ chế kinh tế… vừa có đặc điểm riêng gắn liền với địa bàn nông thôn, nông nghiệp và nông dân trong thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia XDNTM có những đặc điểm cơ bản sau:

Một là, hoạt động của KTNT là hoạt động kinh tế; trước hết bao trùm vẫn

là nông, lâm, ngư nghiệp KTNT trước hết có nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp đảm bảo nhu cầu về lương thực, thực phẩm cho xã hội, nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, sản xuất ra các sản phẩm hàng hoá cho thị trường trong và ngoài nước KTNT nhất thiết phải có công nghiệp gắn với nông, lâm, ngư nghiệp, trước hết là công nghiệp chế biến Cùng với sự phát triển của KTNT, công nghiệp ở nông thôn không chỉ dừng lại ở khâu công nghiệp chế biến mà còn có thể phát triển những ngành công nghiệp phục vụ đầu vào của sản xuất nông nghiệp như công nghiệp cơ khí sửa chữa máy móc nông nghiệp, thuỷ lợi…

Trang 36

Công nghiệp ở nông thôn còn bao gồm một bộ phận tiểu thủ công nghiệp với các công nghệ trình độ khác nhau, sản xuất các hàng hoá cho tiêu dùng trong nước

và xuất khẩu Nh­ vậy, công nghiệp ở nông thôn làm cho công nghiệp và nông nghiệp kết hợp ngay tại chỗ thành cơ cấu ngành nghề

Hai là, KTNT ngoài nông, lâm, ngư nghiệp và công nghiệp còn có các loại

hình dịch vụ thương nghiệp, tín dụng, khoa học - công nghệ … Các loại hình dịch vụ này cùng với các cơ sở hạ tầng ở nông thôn (điện, đường, trường, trạm…) sẽ là những bộ phận hợp thành của KTNT và sự phát triển mạnh mẽ và hợp lý của chúng là biểu hiện trình độ phát triển của KTNT

Ba là, Các hoạt động KTNT gắn bó chặt chẽ với điều kiện tự nhiên, môi

trường, sinh thái Dưới góc độ nào đó có thể gọi KTNT là kinh tế sinh thái, kinh tế vùng Đối tượng cơ bản của hoạt động kinh tế ở nông thôn là cây trồng, vật nuôi, đất đai, khí hậu, nguồn nước, các sản phấm nông nghiệp gắn với môi trường tự nhiên Đơn vị sản xuất kinh doanh chủ yếu là hộ gia đình và các quan hệ kinh tế chịu tác động rất lớn của quan hệ huyết thống Quy mô vừa và nhỏ, mang tính tản mạn, rời rạc Sự chuyển đổi từ kinh tế hiện vật sang kinh tế thị trường mới diễn ra nên những quan hệ hàng - tiền ở nông thôn chưa phát triển, chưa gắn bó chặt chẽ Hoạt động sản xuất kinh doanh còn mang tính tự phát, không có quy hoạch Nông dân với trình độ hạn chế thường có tâm lý chạy theo lợi ích trước mắt do đó thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh theo cảm tính là chủ yếu

Bốn là, Về công nghệ sản xuất của các cơ sở; có sự kết hợp nhiều trình

độ công nghệ: từ công nghệ truyền thống nói chung còn lạc hậu cho đến công nghệ bán hiện đại và hiện đại Hiện nay kỹ thuật, công nghệ sản xuất của các cơ

sở chủ yếu là cũ, lạc hậu cho nên năng suất lao động thấp, thu nhập thấp cùng những bất cập về kiến thức khoa học và công nghệ Vì vậy công nghiệp hóa nông nghiệp, hiện đại hóa nông thôn là nội dung quan trọng trong thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia XDNTM

Năm là, Các đơn vị sản xuất kinh doanh chủ yếu là các hộ gia đình; hoạt

động của các đơn vị kinh tế còn mang tính kép kín và quan hệ thị trường ở nông thôn trình độ phát triển chưa cao

Trang 37

2.1.2.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến kinh tế nông thôn trong xây dựng nông thôn mới

Một là: Điều kiện tự nhiên Theo kiến tạo địa hình, nước ta có thể chia

thành 3 vùng lớn: Miền núi và trung du; đồng bằng; ven biển và hải đảo Mỗi vùng có điều kiện tự nhiên (địa hình, thổ nhưỡng, tiểu khí hậu ) khác nhau, điều

đó đã quyết định không nhỏ tới khả năng phát triển kinh tế nói chung và KTNT

ở mỗi vùng nói riêng

Miền núi và Trung du có lợi thế đất rộng, khí hậu đa dạng… có thế mạnh

về phát triển kinh tế rừng, các vùng chuyên canh cây công nghiệp, cây ăn quả, phát triển chăn nuôi đại gia súc, các nghề thủ công truyền thống… nhưng bất lợi

là hạ tầng kém phát triển, trình dộ dân trí thấp, dân cư phân bố thưa…

Vùng đồng bằng tuy đất hẹp nhưng có lợi thế là hạ tầng phát triển, lao động có trình độ cao, tương đối dồi dào tạo thuận lợi cho thâm canh các loại cây

có trình độ canh tác cao như: rau, hoa, lúa gạo, nuôi thuỷ sản và phát triển các loại nghề công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp

Vùng ven biển, hải đảo có nhiều thủy hải sản phong phú, đa dạng sinh học

và nguồn tài nguyên phong phú ở thềm lục địa, tạo điều kiện cho phát triển nghề đánh bắt hải sản, công nghiệp chế biến, hệ thống các cảng biển và các ngành dịch vụ biển

Vấn đề của các nhà hoạch định chính sách là phải xác định đúng lợi thế của mỗi vùng để bố trí sản xuất phù hợp và tạo các điều kiện để khai thác hiệu quả tiềm năng lao động, đất đai, khí hậu…

Hai là: Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội Lịch sử phát triển kinh tế hàng

hoá đã chứng minh rằng hạ tầng KT - XH đóng vai trò đặc biệt quan trọng đến

sự phát triển KT - XH của mỗi quốc gia Nó đóng vai trò to lớn trong việc tạo sự liên kết giữa nông thôn với thành thị, giữa các vùng xa xôi với các trung tâm, tạo

cơ hội cho phát triển các vùng khó khăn và điều kiện để khai thác được nguồn lực từ các vùng sâu, vùng xa, nó tác động đến sự phát triển đồng đều trong cả nước và làm giảm bớt sự cách biệt giữa đô thị và nông thôn Vì vậy, tốc độ phát

triển kết cấu hạ tầng được coi là tiêu chí đánh giá sự phát triển của một quốc gia

Trang 38

Trong hệ thống kết cấu hạ tầng KT - XH nông thôn thì kết cấu hạ tầng kinh tế - kỹ thuật nông thôn có vai trò đặc biệt quan trọng, đó là giao thông, điện, thuỷ lợi, thông tin liên lạc, trạm y tế, trường học… ở các nước thành công trong CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn đều đã tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng đi trước để làm môi trường hấp dẫn, lôi kéo các nhà đầu tư về nông thôn

Trung Quốc đã tổng kết: “đường to thì phát triển lớn” Thực tế ở nước ta

đã chứng minh: Nơi khó khăn đều là nơi yếu kém về kết cấu hạ tầng nhất là giao thông và ngược lại giao thông đi đến đâu thì phát triển kinh tế xã hội đến đó, điện đi đến đâu văn minh đến đó Hạ tầng KT - XH nước ta trong giai đoạn vừa qua tuy đã được quan tâm đầu tư nhưng chất lượng còn thấp và thiếu, đặc biệt là vùng đồng bằng sông Cửu long và miền núi Nói chung hạ tầng KT - XH ở nước

ta chưa đáp ứng được yêu cầu về CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn

Ba là: Việc ứng dụng thành tựu của khoa học - công nghệ vào sản xuất và dịch vụ Bài học của các nước phát triển đã cho chúng ta thấy họ đều thành công

trong việc đầu tư mạnh để tiếp thu và ứng dụng thành tựu mới nhất của KH -

CN Ngày nay họ có điều kiện để ra sức sử dụng các thành quả trí thức, thông tin, công nghệ mới để tiếp tục củng cố vị thế của mình và áp đặt trật tự cho kinh

tế thế giới

Do đó, đối với nước ta là nước đang phát triển, muốn không bị tụt hậu, không có cách nào khác là phải chủ động tiếp thu ứng dụng KH - CN vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội trong đó có KTNT Chuyển dịch cơ cấu KTNT theo hướng CNH, HĐH là một cuộc cách mạng, trong đó KH - CN giữ vai trò chủ yếu Nhiệm vụ hàng đầu đặt ra là phải tận dụng được lao động, đất đai để phát triển sản xuất, nhưng nếu không có trí thức mới, không đổi mới công nghệ

và cách tổ chức sản xuất kinh doanh thì lao động và đất đai cũng sẽ không được khai thác và sử dụng tốt kéo theo hình thức sản xuất và đời sống nông dân sẽ không nâng lên được

Nước ta lại có bình quân đất nông nghiệp trên đầu người ở mức thấp nhất thế giới (0,13 ha/người), như vậy chỉ có cách tốt nhất để nâng cao thu nhập cho nông dân bằng cách tăng giá trị sản xuất/ha Trong điều kiện năng suất lao động,

Trang 39

năng suất đất đai, năng suất sinh học trong nông nghiệp của nước ta đều còn thấp thì việc ứng dụng KH - CN cần tập trung vào một số vấn đề như: áp dụng công nghệ sinh học để tạo giống tốt; đưa nhanh công nghệ mới vào tất cả các khâu sản xuất, thu hoạch, bảo quản, chế biến, vận chuyển và tiêu thụ nông phẩm; ứng dụng công nghệ sạch trong nuôi trồng và chế biến rau quả thực phẩm; xây dựng các khu nông nghiệp công nghệ cao dựa vào công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, để tạo ra những hình mẫu thúc đẩy ứng dụng tiến bộ kỹ thuật cao vào sản xuất nông nghiệp

Cùng với việc tập trung cao cho ứng dụng KH - CN vào sản xuất nông nghiệp và chế biến nông sản, cần phải đầu tư ứng dụng KH - CN vào các ngành nghề công nghiệp, thủ công nghiệp nông thôn trước hết là các làng nghề truyền thống Thực tế cho thấy nhiều làng nghề bị suy yếu, mai một chính là do không đứng vững trước sự cạnh tranh của công nghệ mới Những làng nghề phát triển được là do biết đầu tư, tiếp thu, ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất Làng gốm Bát Tràng (Hà Nội) là một trong những hình mẫu thành công từ việc chuyển sử dụng than sang khí đốt nên chất lượng sản phẩm được nâng cao, giảm thiểu được ô nhiễm môi trường và sản lượng đã tăng lên nhiều lần Ngoài ra các

hộ làm gốm ở Bát Tràng cũng sớm sử dụng Intenet để tiếp thị với thị trường thế giới và trong nước nên làng nghề ngày càng phát triển, mỗi ngày thu hút hàng ngàn lao động từ nơi khác về làm thuê mà vẫn chưa đáp ứng đủ yêu cầu

Bốn là: Chất lượng nguồn nhân lực nông thôn Quá trình đẩy mạnh CNH,

HĐH chuyển dịch cơ cấu kinh tế sẽ tạo ra nhiều cơ hội có việc làm cho người lao động nhưng đồng thời cũng đòi hỏi một lực lượng lao động có trình độ kỹ thuật và tay nghề cao Ngược lại khi có đông đảo lực lượng lao động trình độ cao

sẽ thúc đẩy mạnh hơn quá trình và hiệu quả CNH, HĐH Đã có kết quả nghiên cứu trong nông nghiệp ở nước ta chứng minh rằng: Năng suất tăng 7% khi nhóm

hộ sản xuất có trình độ học vấn dưới phổ thông trung học; Nhưng tăng 11% đối với nhóm có trình độ tốt nghiệp phổ thông trung học

Khoảng cách về trí thức và thông tin giữa nông thôn và thành thị ở các nước đang phát triển như nước ta thường rất lớn Đó là nguyên nhân của sự cách biệt về

Trang 40

phát triển giữa thành thị và nông thôn Do đó để thúc đẩy phát triển nông thôn nói chung và KTNT nói riêng thì yếu tố hàng đầu phải có chiến lược phát triển tri thức

và sử dụng tri thức cho phát triển Nhân tố quan trọng hàng đầu để thực hiện chiến lược là phát triển con người, phát triển việc giáo dục đào tạo, nâng cao năng lực khoa học và công nghệ, không chỉ cho lao động nông nghiệp mà còn chuẩn bị cho lực lượng lao động trẻ, khoẻ cung cấp cho các ngành công nghiệp, dịch vụ khác

Năm là: Sự phát triển các chủ thể sản xuất hàng hoá ở nông thôn Thực

hiện phát triển kinh tế nông thôn trong quá trình hình thành nền kinh tế thị trường định hướng XHCN tất yếu xuất hiện những chủ thể sản xuất hàng hoá, đó là: Hộ Nông dân, trang trại, tổ hợp tác, HTX, doanh nghiệp nông thôn Các chủ thể sản xuất đó là cơ sở, tiền đề mang tính khách quan đảm bảo cho kinh tế hàng hoá nông thôn ra đời, phát triển Nói cách khác, thiếu những chủ thể đó tất không

thể xây dựng, phát triển kinh tế hàng hoá ở nông thôn được

+Về hộ nông dân, lịch sử của quá trình hình thành, phát triển sản xuất hàng

hoá đã chứng minh, bước khởi đầu của sự phát triển sản xuất hàng hoá được xuất phát từ kinh tế hộ nông dân Thực tiễn phát triển kinh tế hàng hoá nông thôn trên thế giới đã chứng minh vai trò to lớn, không thể thiếu được của kinh tế hộ nông dân - nông trại gia đình Trong các nước khối thị trường chung châu Âu, từ giữa thế kỷ XIX đến nay trong nông nghiệp tồn tại hình thức nông trại gia đình là phổ biến, đại đa số các nông trại có quy mô vừa và nhỏ Thí dụ, ở Hà Lan toàn bộ nền sản xuất nông nghiệp được tổ chức theo nông trại gia đình; ở châu Mỹ, nông trại gia đình là lực lượng chủ yếu cung cấp nông sản cho xã hội Các nước châu

Á như Malaysia, Philippin, ThaiLand…cho rằng “mô hình hộ” là đơn vị kinh tế

cơ sở dễ dàng “xoay sở” để tìm kiếm phương thức khai thác các nguồn lực để tái

sản xuất trong những điều kiện của nền kinh tế lâm vào tình trạng khó khăn

Đối với nước ta, việc thừa nhận hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ, cùng với các chính sách đổi mới của Đảng, Nhà nước về ruộng đất, tín dụng, giá cả…

đã thực sự giải phóng người nông dân, giải phóng sức sản xuất ở nông thôn, tạo

ra động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất nông nghiệp và KTNT phát triển Vai trò của kinh tế hộ đã thể hiện rõ lợi thế ở các mặt sau:

Ngày đăng: 02/06/2017, 16:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Vũ Anh (2001), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Tây Bắc trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Luận án tiến sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Tây Bắc trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả: Lê Vũ Anh
Năm: 2001
2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2008), Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 05/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khoá X), về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 05/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khoá X), về nông nghiệp, nông dân, nông thôn
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Năm: 2008
3. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2012), Nghị quyết số 13-NQ/TW, ngày 16/01/2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khoá XI), về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 13-NQ/TW, ngày 16/01/2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khoá XI), về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Năm: 2012
4. Ban Kinh tế Trung ương (2001), Nghiên cứu sự hình thành và phát triển làng nghề mới gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá vùng đồng bằng sông Hồng, Đề tài khoa học, báo cáo tóm tắt, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sự hình thành và phát triển làng nghề mới gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá vùng đồng bằng sông Hồng
Tác giả: Ban Kinh tế Trung ương
Năm: 2001
5. Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương, Bộ NN&PTNT (2002), Con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương, Bộ NN&PTNT
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
6. Nguyễn Văn Bách, Chu Tiến Quang chủ biên (1999), Phát triển nông nghiệp, nông thôn, trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nông nghiệp, nông thôn, trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Bách, Chu Tiến Quang chủ biên
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1999
7. Nguyễn Văn Bộ (2008), Vai trò của khoa học công nghệ trong phát triển nông nghiệp Việt Nam, Kỷ yếu khoa học, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của khoa học công nghệ trong phát triển nông nghiệp Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Bộ
Năm: 2008
8. Bộ Chính trị (1988), Nghị quyết 10-NQ/TW ngày 05/4/1988 về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 10-NQ/TW ngày 05/4/1988 về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 1988
9. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2011), Kinh tế - xã hội Việt Nam: các tỉnh, thành phố - quận, huyện năm 2010, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế - xã hội Việt Nam: các tỉnh, thành phố - quận, huyện năm 2010
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2011
10. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tổng cục Thống kê (2000), Thông tư liên tịch số 69/2000/TTLT/BNN-TCTK, ngày 23/6/2000 của liên bộ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tổng cục Thống kê, Hướng dẫn xác định kinh tế trang trại, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tịch số 69/2000/TTLT/BNN-TCTK, ngày 23/6/2000 của liên bộ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tổng cục Thống kê, Hướng dẫn xác định kinh tế trang trại
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tổng cục Thống kê
Năm: 2000
11. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2002), Nông nghiệp, nông thôn Trung Quốc trong bối cảnh hội nhập WTO và một số vấn đề đặt ra đối với Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông nghiệp, nông thôn Trung Quốc trong bối cảnh hội nhập WTO và một số vấn đề đặt ra đối với Việt Nam
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
13. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và JICA (2003), Nghiên cứu quy hoạch phát triển ngành nghề thủ công theo hướng công nghiệp hoá nông thôn Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu quy hoạch phát triển ngành nghề thủ công theo hướng công nghiệp hoá nông thôn Việt Nam
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và JICA
Năm: 2003
14. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2006), Phát triển Nông nghiệp, nông thôn bền vững, Hội nghị phát triển bền vững toàn quốc lần thứ 2, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển Nông nghiệp, nông thôn bền vững
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2006
15. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2007), Cam kết của Việt Nam với WTO trong lĩnh vực nông nghiệp và PTNT, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cam kết của Việt Nam với WTO trong lĩnh vực nông nghiệp và PTNT
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2007
16. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2007), Một số chính sách về phát triển ngành nghề nông thôn, Viện Chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số chính sách về phát triển ngành nghề nông thôn
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2007
17. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2009), Thông tư số 54/2009/TT- BNNPTNT ngày 21/8/2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Hướng dẫn thực hiện bộ tiêu chí quốc gia xây dựng nông thôn mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21/8/2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Hướng dẫn thực hiện bộ tiêu chí quốc gia xây dựng nông thôn mới
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2009
19. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2011), Báo của Viện Nghiên cứu khoa học nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo của Viện Nghiên cứu khoa học nông nghiệp
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2011
21. Trần Xuân Châu (2003), Phát triển nền nông nghiệp hàng hoá ở Việt Nam thực trạng và giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nền nông nghiệp hàng hoá ở Việt Nam thực trạng và giải pháp
Tác giả: Trần Xuân Châu
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2003
22. Đặng Kim Chi (Chủ biên) (2005), Làng nghề Việt Nam và môi trường, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng nghề Việt Nam và môi trường
Tác giả: Đặng Kim Chi (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2005
23. Chính phủ (2008), Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Của Ban chấp hành Trung ương Khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Của Ban chấp hành Trung ương Khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2008

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm