Qua những hiểu biết về khái niệm quyền ta có thể xem xét khái niệm quyền khai thác lâm sản của chủ rừng như sau: Quyền khai thác lâm sản của chủ rừng là khả năng của mỗi chủ rừng tiến hà
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS.TRẦN QUANG HUY
HÀ NỘI – 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Đàm Quang Kiên
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU………1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN KHAI THÁC LÂM SẢN CỦA CHỦ RỪNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN KHAI THÁC LÂM SẢN CỦA CHỦ RỪNG……….5
1.1 Cơ sở lý luận về quyền khai thác lâm sản của chủ rừng… ……… …… 5 1.2 Điều chỉnh pháp luật về quyền khai thác lâm sản của chủ rừng……… …9
Chương 2: THỰC TRẠNG QUYỀN KHAI THÁC LÂM SẢN CỦA CHỦ RỪNG TỪ THỰC TIỄN TỈNH BẮC KẠN……… 19
2.1 Quyền khai thác lâm sản của chủ rừng theo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm
KẾT LUẬN……… 70 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BVR Bảo vệ rừng
BV&PTR Bảo vệ và phát triển rừng
NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn UBND Ủy ban nhân dân
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Hệ thống một số văn bản về quản lý, bảo vệ và phát triển rừng quan trọng của Nhà nước……….……… 10 Bảng 2.1 Diện tích các loại đất tỉnh Bắc Kạn năm 2014……….……….34 Bảng 2.2 Diện tích đất đai và dân số tỉnh Bắc Kạn năm 2014……….…37 Bảng 2.3 Độ che phủ rừng của tỉnh Bắc Kạn so với các tỉnh Đông Bắc giai đoạn
2011 – 2013 ……… ……… 44 Bảng 2.4 Hiện trạng đất lâm nghiệp tỉnh Bắc Kạn……… …45 Bảng 2.5 Số vụ vi phạm và diện tích rừng bị tàn phá, bị cháy tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2010 – 2013……… 47
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Rừng đóng vai trò rất quan trọng, vô cùng to lớn trong việc cân bằng hệ sinh
thái và sự đa dạng sinh học, duy trì tính ổn định, màu mỡ của đất, hạn chế lũ lụt, hạn hán, ngăn chặn xói mòn đất, làm giảm nhẹ sức tàn phá khốc liệt của thiên tai, bảo tồn nguồn nước mặt, nước ngầm…Rừng còn là nơi cung cấp những cây gỗ quý, sản vật thiên nhiên, cây thuốc …có giá trị kinh tế Dưới tác động của các điều kiện kinh tế, xã hội, nhu cầu của đất nước về lâm sản, về đất canh tác đã làm cho diện mạo của rừng thay đổi rất nhiều so với trước đây
Theo số liệu thống kê hiện tại đến 31/12/2015 (ban hành theo Quyết định số
3158 của Bộ NN&PTNT) thì cả nước có hơn 14 triệu ha rừng, trong đó rừng tự nhiên là 10 triệu ha (chiếm 74% diện tích đất rừng) Diện tích rừng tự nhiên được quy hoạch thành 3 loại: Rừng phòng hộ : 4.4 triệu ha, Rừng đặc dụng : 2.1 triệu ha
và Rừng sản xuất : 6.6 triệu ha Diện tích rừng để tính độ che phủ toàn quốc là 13.5 triệu ha với độ che phủ là 40,84%[16] Độ che phủ của tán rừng tăng lên theo hàng năm là những kết quả tương đối khả quan sau những nỗ lực của nước ta trong việc ban hành các văn bản pháp luật, chính sách, dự án BV&PTR
Bắc Kạn là tỉnh thuộc khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam, có thế mạnh về phát triển kinh tế rừng, theo số liệu năm 2015 độ che phủ rừng của tỉnh Bắc Kạn đạt 71% cao nhất cả nước[16] Trong nhiều năm qua công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng ở tỉnh Bắc Kạn đã được quan tâm chú ý, thông qua các chương trình , dự án đã đạt được những kết quả bước đầu như diện tích rừng sản xuất đều tăng hàng năm, độ che phủ rừng tăng dần qua các năm từ 35,5% năm 2000 lên 55,18% năm 2011, 70,6% năm 2013 và 71% năm 2015
Tuy vậy, từ thực tế cho thấy chất lượng rừng vẫn ngày càng suy giảm do khai thác rừng quá mức cho phép, khai thác bất hợp pháp, chuyển đổi mục đích sử dụng rừng và đất rừng, làm nương rẫy… Bên cạnh đó sự tăng trưởng của ngành Lâm nghiệp thấp và chưa bền vững, lợi nhuận thấp, sức cạnh tranh yếu, tiềm năng tài
Trang 7nguyên rừng chưa được khai thác tổng hợp và hợp lý, nhất là lâm sản ngoài gỗ và các dịch vụ môi trường Rừng trồng cũng như rừng tự nhiên năng suất thấp và chất lượng thấp đặc biệt là gỗ lớn cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu Nguyên nhân chủ yếu là hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh trong lĩnh vực khai thác tài nguyên rừng vẫn còn thiếu đồng bộ, pháp luật chưa đảm bảo được quyền hưởng lợi
từ rừng của những người làm nghề rừng, chưa giúp họ sống được bằng nghề rừng, làm giàu được từ rừng hệ quả tất yếu là làm những chủ thể được giao quản lý và bảo vệ rừng phải tìm cách nhanh chóng khai thác rừng vì lợi ích trước mắt mà gây những ảnh hưởng nặng nề đến môi trường rừng Đây là vấn đề cấp bách cần phải nghiên cứu xây dựng hệ thống pháp luật BV&PTR phù hợp với điều kiện kinh tế xã
hội và nền kinh tế thị trường Vì vậy, đề tài nghiên cứu “ Quyền khai thác lâm sản theo luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 từ thực tiễn tỉnh Bắc Kạn” có ý
nghĩa thiết thực về cả mặt lý luận và thực tiễn
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Thời gian qua cũng có những đề tài nghiên cứu về lĩnh vực bảo vệ và phát triển
rừng ở nhiều ngành khoa học khác nhau như: lâm nghiệp, kinh tế, môi trường… Tuy nhiên, nghiên cứu về khía cạnh luật học thì chưa có nhiều, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu như:
- Luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Hải Âu – Trường Đại học Luật Hà
Nội, năm 2001 với tựa đề “Pháp luật bảo vệ môi trường rừng ở Việt Nam, thực trạng và phương hướng hoàn thiện”
- Luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Thanh Huyền – Khoa Luật- Đại học
Quốc gia Hà Nội, năm 2004 với tựa đề “Một số vấn đề cơ bản về pháp luật bảo vệ rừng ở Việt Nam hiện nay”
Ngoài ra còn một số luận văn, khóa luận tốt nghiệp… có nghiên cứu về pháp luật BV&PTR ở Việt Nam Tuy nhiên các công trình này mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu một số khía cạnh cơ bản của pháp luật bảo vệ rừng hay đánh giá quản lý nhà nước bằng pháp luật chứ chưa đi sâu vào nghiên cứu ở góc độ quyền của chủ
Trang 8ích từ lâm sản là không nhiều, kể cả lý luận lẫn thực tiễn Kết quả nghiên cứu của các công trình nói trên cũng là nguồn tham khảo hữu ích cho học viên trong quá
trình nghiên cứu, thực hiện đề tài luận văn này
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài này là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và
thực tiễn về quyền khai thác lâm sản của chủ rừng theo Luật BV&PTR năm 2004;
từ đó đề xuất, định hướng và đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và đảm bảo thực hiện pháp luật của chủ rừng
Để thực hiện được các mục đích nói trên, đề tài cần giải quyết được các nhiệm
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là:
- Các quy định của pháp luật về quyền khai thác lâm sản của chủ rừng theo Luật BV&PTR năm 2004
- Thực tiễn thực hiện pháp luật về quyền khai thác lâm sản của chủ rừng
Phạm vi: Nghiên cứu các quy định của pháp luật theo Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật này Phạm vi nghiên cứu về quyền khai thác lâm sản của chủ rừng từ thực tiễn tỉnh Bắc Kạn, lấy số liệu thực tế
Trang 9đồng thời luận văn vận dụng các tư tưởng chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta về đổi mới tư duy chính trị pháp lý về cải cách hành chính, cải cách tư pháp
Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng chủ yếu khi phân tích cơ sở lý luận và các quy định nội dung của pháp luật về quyền khai thác lâm sản của chủ rừng trong chương 1 và chương 2 của luận văn như: phân tích các khái niệm, đặc điểm, phân tích các quy định của pháp luật về quyền khai thác lâm sản của chủ rừng Ngoài ra các phương pháp giải thích, phương pháp so sánh, thống kê được tác giả dùng nhiều ở chương 2 và chương 3 để làm rõ được thực trạng về quyền khai thác lâm sản của chủ rừng
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Các kết quả nghiên cứu của đề tài này có thể là những tài liệu tham khảo bổ ích
trong các cơ sở nghiên cứu và đào tạo về pháp luật tài nguyên, luật bảo vệ và phát triển rừng
Ý nghĩa thực tiễn: các giải pháp nghiên cứu của đề tài có thể là tài liệu tham khảo hữu ích đối với các cơ quan, tổ chức trong quá trình nghiên cứu, nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về quyền khai thác lâm sản của chủ rừng nói riêng
và Luật BV&PTR nói chung
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn
Trang 10Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN KHAI THÁC LÂM SẢN CỦA CHỦ RỪNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN KHAI THÁC LÂM SẢN
CỦA CHỦ RỪNG
1.1 Cơ sở lý luận về quyền khai thác lâm sản của chủ rừng
1.1.1 Khái niệm về quyền khai thác lâm sản của chủ rừng
a Khái niệm về rừng
Theo Luật BV&PTR số 29/2004/QH11 ban hành ngày 09/03/2004 định nghĩa:
Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên Rừng gồm rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất , đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng
Căn cứ vào mục đích sử dụng chủ yếu, rừng được phân thành các loại sau đây:
1 Rừng phòng hộ được sử dụng chủ yếu để bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn, chống sa mạc hóa, hạn chế thiên tai, điều hòa khí hậu góp phần bảo
vệ môi trường, bao gồm:
a) Rừng phòng hộ đầu nguồn;
b) Rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay;
c) Rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biển;
d) Rừng phòng hộ bảo vệ môi trường;
2 Rừng đặc dụng được sử dụng chủ yếu để bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn
hệ sinh thái rừng của quốc gia, nguồn gen sinh vật rừng; nghiên cứu khoa học; bảo
vệ di tích lịch sử, văn hóa , danh lam thắng cảnh; phục vụ nghỉ ngơi, du lịch, kết hợp phòng hộ, góp phần bảo vệ môi trường, bao gồm:
a) Vườn quốc gia;
b) Khu bảo tồn thiên nhiên gồm khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài – sinh cảnh; c) Khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học;
Trang 113 Rừng sản xuất được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh gỗ, lâm sản ngoài gỗ và kết hợp phòng hộ, góp phần bảo vệ môi trường, bao gồm:
a) Rừng sản xuất là rừng tự nhiên;
b) Rừng sản xuất là rừng trồng;
c) Rừng giống gồm rừng trồng và rừng tự nhiên qua bình tuyển, công nhận Ngoài ra, rừng còn được phân loại theo một số trường hợp sau: Theo điều kiện lập địa, gồm: rừng núi đất, rừng núi đá, rừng ngập nước, rừng trên đất cát; theo các loại cây, gồm rừng gỗ, rừng tre nứa, rừng cau dừa, rừng hỗn giao gỗ và tre nứa
b Khái niệm lâm sản
Theo Luật BV&PTR năm 2004 quy định: Lâm sản là sản phẩm khai thác từ rừng gồm thực vật rừng, động vật rừng và các sinh vật rừng khác Lâm sản gồm gỗ
và lâm sản ngoài gỗ
Các sản phẩm gỗ cung cấp cho cả ngành công nghiệp, nông nghiệp, công nghiệp xây dựng cơ bản, giao thông vận tải và nhu cầu trong mỗi gia đình Ngày nay hầu hết các ngành công nghiệp đều dùng đến gỗ vì các tính năng ưu việt mà gỗ đem lại như dễ gia công, chế biến…Trong quá trình phát triển của xã hội, dưới tác động của khoa học công nghệ, con người đã sản xuất ra nhiều sản phẩm nhằm thay thế cho gỗ Tuy nhiên, nhu cầu về gỗ và các sản phẩm về gỗ vẫn không ngừng gia tăng cả về số lượng lẫn chất lượng
Ngoài các sản phẩm gỗ, rừng còn cung cấp các loại lâm sản ngoài gỗ như: tre, nứa, song, mây, các loại đặc sản rừng, động vật rừng, thực vật rừng có giá trị cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Các động vật từ rừng là những sản phẩm quý hiếm và có giá trị kinh tế cao Đặc biệt là các loại lâm sản ngoài gỗ được coi như các dược liệu quý hiếm phục vụ cho nhu cầu chữa bệnh và nâng cao sức khỏe con người được săn đón rất nhiều và ngày càng khan hiếm
Khai thác lâm sản phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu tạo nên nguồn thu nhập tài chính cho ngân sách nhà nước, góp phần tích lũy cho nền kinh tế quốc dân Rừng cũng là nguồn thu nhập chủ yếu của bộ phận cư dân sống gần rừng
Trang 12Lâm nghiệp là ngành kinh tế rất đặc thù, không chỉ giữ vai trò phát triển kinh tế
mà còn giữ vai trò quan trọng trong việc bảo vệ môi trường Khai thác rừng một cách hợp lý có thể đảm bảo sự phát triển bền vững của quốc gia, phát triển kinh tế sản xuất, tạo việc làm, sinh kế ổn định cho cộng đồng dân cư sống gần rừng còn có thể khuyến khích tái tạo rừng, có giá trị phòng hộ, điều hòa khí hậu hạn chế thiện tai lũ lụt, hạn hạn, chống thoái hóa đất và hoang mạc hóa, góp phần bảo tồn đa dạng sinh học, cung cấp nguồn nhiên liệu, nguyên liệu góp phần ứng phó với biến đổi khí hậu
c Khái niệm chủ rừng
Theo Luật BV&PTR năm 2004 đã định nghĩa: Chủ rừng: là tổ chức, hộ gia đình,
cá nhân được Nhà nước giao rừng, cho thuê rừng, giao đất để trồng rừng, cho thuê đất
để trồng rừng, công nhận quyền sử dụng rừng, công nhận quyền sở hữu rừng sản xuất
là rừng trồng; nhận chuyển nhượng rừng từ chủ rừng khác.[29, Điều 3]
“Quyền” nói chung theo Từ điển luật học của Viện khoa học pháp lý Bộ Tư pháp, nhà xuất bản Từ điển Bách khoa và Nhà xuất bản Tư pháp là những việc mà một người được làm mà không bị ai ngăn cản, hạn chế Qua những hiểu biết về khái niệm quyền
ta có thể xem xét khái niệm quyền khai thác lâm sản của chủ rừng như sau: Quyền khai thác lâm sản của chủ rừng là khả năng của mỗi chủ rừng tiến hành các hoạt động thu lợi từ nguồn tài nguyên thực vật rừng, động vật rừng và các sinh vật rừng khác gắn liền với rừng của chủ rừng được giao, được thuê theo quy định của pháp luật về bảo vệ
và phát triển rừng, quyền khai thác lâm sản của chủ rừng được Nhà nước ghi nhận
trong pháp luật và được bảo đảm bằng quyền lực Nhà nước
1.1.2 Khái niệm pháp luật về quyền khai thác lâm sản của chủ rừng
Pháp luật về quyền khai thác lâm sản của chủ rừng là một bộ phận của pháp
luật bảo vệ và phát triển rừng, được hình thành để góp phần bảo vệ và phát triển rừng nói chung và tạo hành lang pháp lý để chủ rừng thực hiện quyền quản lý, sử dụng rừng
Theo quy định tại Điều 59 Luật BV&PTR năm 2004 chủ rừng có 8 quyền cơ bản sau đây:
Trang 131 Được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng
2 Được sử dụng rừng ổn định, lâu dài phủ hợp với thời hạn giao rừng, cho thuê rừng và thời hạn giao đất, cho thuê đất
3 Được sản xuất lâm nghiệp – nông nghiệp – ngư nghiệp kết hợp theo quy chế quản lý rừng, trừ rừng đặc dụng
4 Được hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên diện tích được giao, được thuê; bán thành quả lao động, kết quả đầu tư cho người khác
5 Được kết hợp nghiên cứu khoa học, kinh doanh cảnh quan, nghỉ dưỡng , du lịch sinh thái – môi trường theo dự án được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt
6 Được bồi thường thành quả lao động, kết quả đầu tư để bảo vệ và phát triển rừng theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan khi Nhà nước có quyết định thu hồi rừng
7 Được hướng dẫn về kỹ thuật, hỗ trợ về vốn theo chính sách của Nhà nước để bảo vệ và phát triển rừng và được hưởng lợi ích do các công trình công cộng bảo vệ, cải tạo rừng mang lại
8 Được nhà nước bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp đối với rừng được giao, được thuê.[29, Điều 59]
Theo Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 tại Điều 3, đã đưa ra khái niệm
về quyền sử dụng rừng là quyền chủ rừng được khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ rừng; được cho thuê quyền sử dụng rừng thông qua hợp đồng theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng Pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng có nhiều quy định khác nhau về quyền khai thác lâm sản của chủ rừng, đối với từng loại chủ rừng khác nhau:
Có thể hiểu pháp luật về quyền khai thác lâm sản của chủ rừng là tổng hợp các quy phạm pháp luật của Nhà nước quy định về quyền của chủ rừng trong việc tổ chức tiến hành khai thác lâm sản trong rừng của chủ rừng được giao, được thuê theo quy định của
Trang 141.2 Điều chỉnh pháp luật về quyền khai thác lâm sản của chủ rừng
Rừng là tài nguyên quý báu của đất nước, không chỉ có giá trị to lớn đối với
nền kinh tế quốc dân mà còn giữ vai trò quan trọng trong việc bảo vệ môi trường Việc khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên từ rừng luôn gắn liền với công
ổn định, lâu dài[28] Như vậy là Luật Bảo vệ và phát triển rừng (năm 1991) đã thể chế hoá một bước chủ trương giao đất, giao rừng với đối tượng được giao là tổ chức
và cá nhân, sau này trong Luật bảo vệ và phát triển rừng 2004 mở rộng thêm các đối tượng chủ rừng khác Tuy nhiên để quy định rõ quyền và nghĩa vụ của chủ rừng thì phải đến Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 mới được cụ thể hóa
Nền kinh tế đất nước cũng chuyển từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường nên quá trình chuyển đổi quyền chủ sở hữu rừng cũng được thay đổi theo
Từ việc chủ trương phát triển sản xuất lâm nghiệp dựa vào các tổ chức quốc doanh
Trang 15là chính thì đã chuyển sang phát triển sản xuất ngành lâm nghiệp dựa trên cơ sở xã hội hóa ngày càng cao Nhà nước cùng nhân dân bảo vệ và phát triển rừng Sự thay đổi đó đã góp phần mở rộng đối tượng giao rừng, cho thuê rừng
Từ quan điểm, chủ trương của Đảng định hướng công tác bảo vệ và phát triển rừng sang nhiều mục tiêu trong đó có việc xã hội hóa sản xuất kinh doanh và sở hữu trong ngành lâm nghiệp Nhà nước quan tâm hơn đến việc bảo vệ và phát triển rừng, đã có những chính sách và chương trình mục tiêu đầu tư lớn như chính sách giao đất giao rừng, Chương trình 327, Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng trong đó có quy định các quyền và nghĩa vụ của chủ rừng tương ứng với từng loại rừng
Công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng được Nhà nước ta đặc biệt quan tâm và chú trọng Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng được ban hành tương đối đầy đủ và ngày càng hoàn thiện, tạo cơ
sở hành lang pháp lý cho các chủ rừng có thể thực hiện quyền sử dụng rừng của mình nói chung và quyền khai thác lâm sản nói riêng
Dưới đây là hệ thống một số văn bản của Nhà nước trong lĩnh vực quản
lý bảo vệ rừng qua từng thời kỳ
Bảng 1.1 Hệ thống một số văn bản về quản lý, bảo vệ và phát triển rừng quan
trọng của Nhà nước
1 21/12/1998
Quyết định số: 245/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ
về thực hiện trách nhiệm quản lý nhà nước của các cấp
Trang 164 10/10/2005
Quyết định 59/2005/QĐ-BNN ngày 10/10/2005 của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT về việc ban hành quy định việc kiểm tra kiểm soát lâm sản
10 14/08/2006 Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14/8/2006 của
Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế quản lý rừng
Trang 17vệ rừng và quản lý lâm sản
15 14/01/2008 Nghị định số 05/2008/NĐ-CP ngày 14/01/2008 của
Chính phủ về Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng
16 02/04/2008
Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh
xử lý vi phạm Hành Chính của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội số 04/2008/UBTVQH12
17 10/06/2009
Thông tư 34/2009/TT-BNNPTNT ngày 10/6/2009 của BNN&PTNT Quy định tiêu chí xác định và phân loại rừng
18 02/11/2009
Nghị định số 99/2009/NĐ-CP ngày 02/11/2009 của Chính phủ Về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản
19 18/11/2009
Chỉ thị số 3767/CT-BNN của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT về việc tăng cường các biện pháp cấp bách trong công tác BVR và PCCCR
20 12/07/2010
Nghị định 74/2010/NĐ-CP ngày 12/07/2010 của Chính phủ quy định về phối hợp hoạt động giữa lực lượng dân quân tự vệ với lực lượng công an xã, phường, thị trấn, lực lượng kiểm lâm và các lực lượng khác trong công tác giữ gìn an ninh chính trị, trật tự
21 24/09/2010 Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Chính
Trang 1822 24/12/2010
Nghị định số 117/2010/NĐ-CP ngày 24/12/2010 của Chính phủ Về tổ chức quản lý hệ thống rừng đặc dụng
23 24/06/2011
Quyết định số 34/2011/QĐTTg ngày 24/06/2011 của thủ tướng chính phủ Sửa đổi, bổ sung một số điều Quy chế quản lý rừng ban hành kèm theo Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg
24 27/09/2011
Chỉ thị số 1685/CT-TTg, ngày 27/9/2011 của thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường chỉ đạo thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng, ngăn chặn tình trạng phá rừng
và chống người thi hành công vụ
25 11/11/2011
Thông tư số 78/2011/TT-BNNPTNT ngày 11/11/2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Quy định chi tiết thi hành Nghị định số 117/2010/NĐ-CP ngày 24/12/2010 của Chính phủ về tổ chức và quản lý hệ thống rừng đặc dụng
26 08/02/2012 Quyết định ban hành một số chính sách tăng cường công
tác bảo vệ rừng
27 05/04/2012
Nghị định số 26/2012/NĐ-CP ngày 05/4/2012 của Chính phủ quy định trình tự, thủ tục, thẩm quyền và kinh phí phục vụ việc tiếp nhận, thu gom, phân loại, bảo quản, thanh lý, tiêu hủy vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ
Trang 1928 26/07/2013
Thông tư liên tịch số 100/2013/TTLT-BTC-BNN&PTNT ngày 26/7/2013 Hướng dẫn thực hiện một số điều của Quyết định số 24/2012/QĐ-TTg ngày 01/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách đầu tư rừng đặc dụng giai đoạn 2011 – 2020
29 28/08/2013
Thông tư của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn
số 90/2008/TT-BNN ngày 28/8/2008 hướng dẫn xử lý tang vật là động vật rừng sau khi xử lý tịch thu
30 26/7/2013
Thông tư liên tịch số 100/2013/TTLT-BTC-BNN&PTNT ngày 26/7/2013 Hướng dẫn thực hiện một số điều của Quyết định số 24/2012/QĐ-TTg ngày 01/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách đầu tư rừng đặc dụng giai đoạn 2011 – 2020
31 11/11/2013
Nghị định số 157/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013 của Chính phủ Quy định xử phạt vi phạm hành chính về quản lý rừng , phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản
32 06/05/2014
Nghị định số 18/VBHN-BNNPTNT của Bộ NN&PTNT
về thi hành Luật Bảo vệ và Phát triển rừng
33 27/01/2015
Tổng cục Lâm nghiệp ban hành văn bản số
101/TCLN-KL ngày 27/01/2015 về tăng cường công tác phòng cháy, chữa cháy rừng
Trang 2034
29/01/2015
Quyết định Số 29/QĐ-KL-VP ngày 29 tháng 01 năm 2015 Quy định chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của các Phòng, Văn phòng và Đội Kiểm lâm đặc nhiệm thuộc Cục Kiểm lâm
35 27/06/2016
Thông tư Số 20/2016/TT-BNNPTNT ngày 27/06/2016 của Bộ NN&PTNT sửa đổi, bổ sung một số điều của các Thông tư: 38/2007/TT-BNNPTNT, 78/2011/TT-BNNPTNT, 25/2011/TT-BNNPTNT, 47/2012/TT-BNNPTNT, 80/2011/TT-BNNPTNT, 99/2006/TT-BNNPTNT
36 28/06/2016
Thông tư Số 21/2016/TT-BNNPTNT ngày 28/06/2016 của Bộ NN&PTNT Quy định về khai thác chính và tận dụng, tận thu lâm sản
37 30/06/2016
Thông tư Số 23/2016/TT-BNNPTNT ngày 30/06/2016 của Bộ NN&PTNT Hướng dẫn một số nội dung quản lý công trình lâm sinh
38 23/08/2016
Nghị định 119/2016/NĐ-CP ngày 23/08/2016 của Chính phủ về một số chính sách quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững ven biển ứng phó với biến đổi khí hậu
39 19/10/2016
Quyết định số 44/2016/QĐ-TTg ngày 19/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ Quyết định về lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách của chủ rừng
( Nguồn: tác giả tự tổng hợp)
Trang 21Trên đây chỉ là những quy định cơ bản, quan trọng nhất còn hệ thống các quy định pháp luật liên quan đến vấn đề khai thác và sử dụng rừng ở nước ta hiện nay hết sức đồ sộ quy định rất nhiều vấn đề về bảo vệ và phát triển rừng Trong đó, Luật bảo vệ và phát triển rừng được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 6, Khóa XI ngày 03/12/2004 với 8 chương, 88 Điều, quy định về quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng, quyền và nghĩa vụ của chủ rừng Đây là văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất trong lĩnh vực lâm nghiệp, ngoài ra còn có khoảng 100 văn bản dưới luật để quy định chi tiết các yêu cầu đặt ra quy định áp dụng đối với quản lý rừng tại Việt Nam Nội dung các văn bản luật trên cũng đã phần nào làm rõ đảm bảo được yêu cầu của pháp luật về quyền của chủ rừng, cụ thể:
- Các chính sách trên đảm bảo được tính công khai minh bạch, dân chủ, tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ rừng khi thực hiện các quyền khai thác và sử dụng rừng của mình Hệ thống văn bản dưới Luật cũng đã hướng dẫn, quy định khá rõ ràng minh bạch trình tự, cách thức, hồ sơ cũng như thẩm quyền các cơ quan xử lý thủ tục hành chính để các chủ rừng thực hiện các quyền của mình
- Đảm bảo dự đoán trước được các xu thế phát triển của thế giới để kịp thời điều chỉnh chính sách phù hợp, phát triển bền vững với kinh tế - xã hội – môi trường, quốc phòng an ninh ; phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, chiến lược phát triển lâm nghiệp, đúng quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng
- Đảm bảo gắn liền hoạt động khai thác của chủ rừng với việc bảo vệ và phát triển rừng theo nguyên tắc quản lý rừng bền vững; kết hợp bảo vệ và phát triển rừng với khai thác hợp lý để phát huy hiệu quả tài nguyên rừng, làm giàu rừng với bảo
vệ diện tích rừng hiện có; kết hợp lâm nghiệp với nông nghiệp và ngư nghiệp; đẩy mạnh trồng rừng kinh tế gắn với phát triển công nghiệp chế biến lâm sản nhằm nâng cao giá trị sản phẩm rừng; thực hiện quyền và nghĩa vụ trong công tác phòng cháy, chữa cháy rừng theo quy định của pháp luật
- Các chính sách đưa ra phần nào đảm bảo được quyền lợi và nghĩa vụ của chủ rừng là các tổ chức kinh tế Định hướng cho các chủ rừng thực hiện bảo vệ và phát triển rừng phải phù hợp với quy hoạch, phát triển, kinh doanh, khai thác lâm sản và không làm ảnh hưởng đến lợi ích của các chủ rừng khác
Trang 22Xã hội ngày càng phát triển nên nhận thức của xã hội, của các tầng lớp nhân dân và chính quyền các cấp về bảo vệ và phát triển rừng được nâng lên Tuy nhiên, nhận thức về lâm nghiệp của các ngành các cấp chưa đầy đủ và toàn diện, chưa đánh giá đúng các giá trị môi trường của rừng đem lại cho xã hội, chưa xác định rõ
vị thế lâm nghiệp là một ngành kinh tế hoàn chỉnh từ khâu tạo rừng, khai thác, chế biến lâm sản và cung cấp các dịch vụ từ rừng Đặc biệt nhận thức của một bộ phận cán bộ quản lý nhà nước chưa có chuyển biến về vai trò, vị trí của ngành trong cơ chế mới, trong quá trình đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn và hội nhập quốc tế; chưa thấy lâm nghiệp là một ngành kinh tế kỹ thuật đặc thù và quan trọng, cần có sự đầu tư thoả đáng về ngân sách và phải có các cơ chế chính sách riêng Hệ thống chính sách lâm nghiệp thiếu đồng bộ, chưa phù hợp với chủ trương xã hội hoá nghề rừng và cơ chế thị trường Chưa bổ sung kịp thời những cơ chế chính sách mới đầu tư cho phát triển rừng sản xuất, chế biến gỗ và lâm sản ngoài gỗ để tạo động lực thúc đẩy các thành phần kinh tế tham gia phát triển rừng;dẫn đến các chính sách đưa ra cũng chưa đảm bảo được đầy đủ quyền lợi của chủ rừng
Sự tăng trưởng liên tục và bền vững của nền kinh tế quốc dân trước hết là kinh tế nông nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển lâm nghiệp Tuy nhiên, việc thực hiện xã hội hóa lâm nghiệp chưa có chuyển biến rõ rệt, quản lý rừng và đất rừng còn nhiều bất cập, tiến độ giao đất, giao rừng chậm; nhiều địa phương chưa mạnh dạn tổ chức giao rừng tự nhiên và rừng trồng cho dân, đặc biệt giao cho cộng đồng, hộ gia đình và tư nhân (tính đến ngày 31 tháng 3 năm 2006 mới giao và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gần 20% diện tích đất lâm nghiệp cho các
hộ gia đình); sự tham gia các hoạt động lâm nghiệp của khu vực ngoài quốc doanh chưa tương xứng với tiềm năng
Yếu tố quốc tế cũng tác động mạnh đến quyền và nghĩa vụ của chủ rừng Nhờ sự hỗ trợ đáng kể của cộng đồng quốc tế mang đến quyền lợi kinh tế cho chủ rừng trong công tác bảo vệ, phát triển rừng và xóa đói, giảm nghèo ở nông thôn miền núi Để tham gia hội nhập quốc tế nhà nước mình cũng dần hoàn thiện, điều chỉnh các quy định, chính sách pháp luật phù hợp với Luật, các công ước quốc tế trong đó cũng quy định rất rõ trách nhiệm, quyền lợi, nghĩa vụ của chủ rừng
Trang 23Cho đến nay, phát triển lâm nghiệp chủ yếu dựa vào vốn ngân sách nhà nước, chưa huy động tối đa các nguồn lực của khu vực ngoài quốc doanh và dịch vụ môi trường Đầu tư cho ngành Lâm nghiệp và nghề rừng còn rất thấp so với nhu cầu; quản lý sử dụng các nguồn lực đầu tư chưa chặt chẽ, dàn trải và hiệu quả chưa cao
Cơ cấu đầu tư chưa cân đối, đầu tư nhiều cho rừng phòng hộ và đặc dụng, ít chú trọng đến rừng sản xuất; chưa quan tâm đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ tầng lâm nghiệp Vấn đề đảm bảo quyền của chủ rừng nói chung và quyền khai thác lâm sản của chủ rừng nói riêng còn nhiều bất cập, những ưu đãi về đầu tư và khai thác lâm sản còn chưa thực sự thiết thực, điều này cũng dẫn đến nhiều chủ rừng không còn động lực trong việc quản lý và khai thác rừng, nhiều đối tượng chủ rừng chưa thực
sự làm giàu được từ rừng Bên cạnh đó vì đặc thù rừng là phải bảo vệ vì vậy không thể chỉ tập trung phát triển kinh tế trồng rừng dẫn đến việc phát triển kinh tế bị hạn chế nhiều
Kết luận chương 1
Nhà nước nhận thức được rất sớm vai trò của chủ rừng trong công tác bảo vệ
và phát triển rừng Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật đã công nhận quyền sử dụng, khai thác rừng của chủ rừng
Tại chương 1, tác giả đã đề cập các nội dung cơ bản về quyền khai thác lâm sản của chủ rừng Trình bày một số khái niệm, yêu cầu về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng, đặc biệt là khái niệm về quyền khai thác lâm sản của chủ rừng Bên cạnh
đó tại chương này cũng nêu ra cơ sở pháp lý của pháp luật về quyền khai thác lâm sản của chủ rừng nói riêng và quyền và nghĩa vụ của chủ rừng nói chung, nội dung này sẽ được làm rõ tại các chương sau Nội dung các vấn đề lý luận và pháp lý về quyền khai thác lâm sản của chủ rừng đã được nêu ra và làm rõ là tiền đề giúp cho quá trình phân tích thực trạng quyền khai thác lâm sản của các chủ rừng theo luật bảo vệ và phát triển rừng được chính xác và hiệu quả
Trang 24Chương 2 THỰC TRẠNG QUYỀN KHAI THÁC LÂM SẢN CỦA CHỦ RỪNG
TỪ THỰC TIỄN TỈNH BẮC KẠN
2.1 Quyền khai thác lâm sản của chủ rừng theo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004
2.1.1 Quyền khai thác lâm sản của chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân
Hiện nay, hộ gia đình, cá nhân là đối tượng đặc biệt được nhà nước ưu tiên,
khuyến khích giao, cho thuê rừng để bảo vệ, quản lý và phát triển rừng Vì đây là những chủ thể có lợi ích gắn kết với rừng hơn cả, tại nhiều địa phương khai thác lâm sản là nguồn sinh kế chính của nhiều hộ gia đình và cá nhân, đặc biệt là các cư dân sống gần rừng Vì vậy, nhà nước rất chú trọng tới việc giao rừng, cho thuê rừng cho các hộ gia đình, cá nhân tại địa phương có rừng Theo số liệu thống kê, hiện nay, chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân đang quản lý 22% tổng diện tích rừng và đất rừng trong cả nước, riêng diện tích rừng và đất rừng sản xuất, hộ gia đình, cá nhân đang quản lý 1.808.005 ha [16]
Theo quy định của pháp luật hiện hành, hộ gia đình, cá nhân được nhà nước giao đất rừng, giao rừng (rừng sản xuất, rừng phòng hộ, vùng đệm của rừng đặc dụng) không thu tiền sử dụng đất, sử dụng rừng Đây là các chính sách ưu đãi của Nhà nước nhằm khuyến khích những hộ gia đình, cá nhân có khả năng quản lý, bảo
vệ, phát triển kinh doanh rừng Bên cạnh việc thực hiện các trách nhiệm quản lý rừng, hộ gia đình, cá nhân được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận quyền
sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng; được sử dụng rừng ổn định, lâu dài phù hợp với thời hạn giao rừng, cho thuê rừng và thời hạn giao đất, cho thuê đất; được sản xuất lâm nghiệp – nông nghiệp – ngư nghiệp kết hợp theo quy chế quản lý rừng (trừ rừng đặc dụng) Hộ gia đình , cá nhân được hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên diện tích đất được giao, được thuê; bán thành quả lao động, kết quả đầu tư cho người khác; được bồi thường thành quả lao động, kết quả đầu tư khi nhà nước có quyết định thu hồi rừng
Trang 25Ngoài ra, tuỳ thuộc vào loại rừng được giao hay được cho thuê hoặc diện tích rừng được sở hữu hay được sử dụng mà hộ gia đình, cá nhân được hưởng các
quyền khai thác khác nhau
2.1.1.2 Quyền khai thác lâm sản của hộ gia đình, cá nhân được nhà nước giao rừng phòng hộ
Ngoài các quyền và lợi ích chung của chủ rừng như đã ghi nhận tại Điều 59 Luật BV&PTR 2004 Họ được quyền chuyển đổi diện tích rừng được giao cho các
hộ gia đình, cá nhân khác trong cùng xã, đối với cá nhân được để lại thừa kế quyền
sử dụng rừng theo quy định của pháp luật; Quyền khai thác lâm sản của chủ rừng là
hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao rừng phòng hộ được quy định rõ ràng tại khoản 3 Điều 69 Luật BV&PTR năm 2004 theo đó chủ rừng này được khai thác, sử dụng rừng, tận thu lâm sản theo quy định như sau:
Đối với rừng phòng hộ là rừng tự nhiên được phép khai thác cây đã chết, cây sâu bệnh, cây đứng ở nơi mật độ lớn hơn mật độ quy định theo quy chế quản lý rừng Được phép khai thác các loại lâm sản ngoài gỗ mà không làm ảnh hưởng đến khả năng phòng hộ của rừng, khai thác măng, tre nứa trong rừng phòng hộ theo quy chế quản lý rừng; không được phép khai thác các loài thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm bị cấm khai thác theo quy định của Chính phủ về Chế độ quản lý, bảo vệ những loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý , hiếm và Danh mục những loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm
Đối với rừng phòng hộ là rừng trồng, chủ rừng được quyền khai thác các cây phụ trợ, chặt tỉa thưa khi rừng trồng có mật độ lớn hơn mật độ quy định theo quy chế quản lý rừng Được phép khai thác cây trồng chính khi đạt tiêu chuẩn khai thác theo phương thức khai thác chọn hoặc chặt trắng theo băng, theo đám rừng Sau khi khai thác, chủ rừng phải thực hiện việc tái sinh hoặc trồng lại rừng ngay trong vụ trồng rừng kế tiếp và tiếp tục quản lý, bảo vệ
Việc khai thác lâm sản trong rừng phòng hộ phải được thực hiện theo quy chế quản lý rừng, thực hiện đúng quy trình, quy phạm kỹ thuật của Bộ NN&PTNT,
Trang 262.1.1.3 Quyền khai thác lâm sản của hộ gia đình, cá nhân được nhà nước giao rừng sản xuất
Nếu rừng được giao là rừng tự nhiên thì chủ rừng muốn khai thác phải có kế hoạch quản lý, bảo vệ và sản xuất, kinh doanh rừng theo hướng dẫn của UBND cấp
xã hoặc của cán bộ kiểm lâm và được chủ tịch UBND cấp huyện phê duyệt; được khai thác gỗ và các thực vật khác trừ các loài động thực vật bị cấm không được khai thác theo quy định của chính phủ Việc khai thác rừng phải theo quy chế quản lý rừng và chấp hành quy phạm, quy trình kỹ thuật BV&PTR, sau khi khai thác phải tổ chức bảo vệ, nuôi dưỡng, làm giàu rừng cho đến kỳ khai thác sau
Nếu hộ gia đình, cá nhân được giao rừng sản xuất là rừng trồng thì chủ rừng phải có kế hoạch chăm sóc, nuôi dưỡng, trồng rừng mới, bảo vệ rừng, kết hợp kinh doanh lâm nghiệp, nông nghiệp, ngư nghiệp, cảnh quan, nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái, môi trường trong khu rừng phù hợp với quy hoạch theo quy chế quản lý rừng Trường hợp chủ rừng tự bỏ vốn gây trồng và chăm sóc rừng thì được quyền tự quyết định việc khai thác rừng trồng, các sản phẩm được khai thác từ rừng trồng được tự do lưu thông trên thị trường, riêng các cây gỗ quý khai thác từ rừng trồng thì khi khai thác chủ rừng phải thực hiện theo quy định của chính phủ
Vấn đề giao rừng sản xuất cho hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước ta đặc biệt chú trọng và quan tâm trong những năm gần đây Nhà nước đặt ra mục tiêu trồng 2 triệu ha rừng sản xuất trong giai đoạn 2007 - 2015 (bình quân mỗi năm trồng 250 nghìn ha), giải quyết việc làm, tăng thu nhập nhằm ổn định đời sống cho đồng bào miền núi [37, Điều 2 khoản 1 và 2] Như vậy, chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân là đối tượng chủ yếu thực hiện mục tiêu này Hộ gia đình, cá nhân tham gia trồng rừng sản xuất cũng được nhà nước hỗ trợ kinh phí từ 2 triệu đến 4 triệu đồng tùy theo loại cây và vùng trồng rừng sản xuất.[37, Điều 5]
2.1.1.4 Quyền khai thác lâm sản hộ gia đình, cá nhân được nhà nước cho thuê rừng sản xuất
Theo quy định của Luật BV&PTR thì hộ gia đình, cá nhân được nhà nước cho thuê rừng sản xuất có quyền được hưởng giá trị tăng thêm của rừng do chủ rừng tự
Trang 27đầu tư trong thời gian được thuê theo quy định của pháp luật; được quyền thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng giá trị rừng sản xuất là rừng trồng do mình tự đầu tư
Nếu rừng sản xuất được thuê là rừng trồng bằng vốn ngân sách nhà nước thì hộ gia đình, cá nhân muốn khai thác phải lập hồ sơ khai thác trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt nguồn vốn quyết định Được quyền khai thác các lâm sản từ rừng trồng của chủ rừng, trường hợp cây rừng trồng là cây gỗ quý, hiếm thì khai thác phải thực hiện theo quy định của chính phủ Ngoài ra, chủ rừng còn được chuyển nhượng, cho thuê lại quyền sử dụng rừng theo quy định của pháp luật; tuy nhiên chỉ được thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng rừng tăng thêm do chủ rừng tự đầu tư so với giá trị quyền sử dụng được xác định tại thời điểm được thuê theo quy định của pháp luật
Nếu rừng sản xuất được thuê là rừng tự nhiên thì chủ rừng có quyền khai thác
gỗ và các thực vật khác của rừng sản xuất là rừng tự nhiên, trừ các loài thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm bị cấm khai thác theo quy định của pháp luật Trước khi tiến hành khai thác hộ gia đình, cá nhân phải có đơn, báo cáo Ủy ban nhân dân xã
để tổng hợp trình Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh phê duyệt
Việc quy định chủ rừng sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng có toàn quyền quyết định đối với việc khai thác rừng là chưa hợp lý vì trong thực tế đối với diện tích rừng trồng lớn nếu chủ rừng khai thác trắng toàn bộ diện tích rừng sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến việc bảo vệ đất, đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường Nên chăng cần có quy phạm hướng dẫn các chủ rừng này về quy trình khai thác, vừa bảo đảm tối đa lợi ích của họ, vừa bảo vệ được các lợi ích sinh thái Về quyền sử dụng rừng là quyền của chủ rừng được khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ rừng, được cho thuê quyền sử dụng rừng thông qua hợp đồng theo quy định của pháp luật về BV&PTR và pháp luật dân sự [29, Điều 3 khoản 6]
2.1.1.5 Quyền khai thác lâm sản của hộ gia đình, cá nhân được nhà nước cho thuê đất để trồng rừng phòng hộ
Trang 28Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước cho thuê đất để trồng rừng phòng hộ thì được sở hữu cây trồng, vật nuôi và tài sản trên đất trồng rừng; được quyền khai thác lâm sản theo quy định của pháp luật, cụ thể: được phép khai thác các cây phụ trợ, chặt tỉa thưa khi rừng trồng có mật độ lớn hơn mật độ quy định theo quy chế quản
lý rừng; được phép khai thác cây trồng chính khi đạt tiêu chuẩn khai thác theo phương thức khai thác chọn hoặc chặt trắng theo băng, theo đám rừng Sau khi khai thác, chủ rừng có trách nhiệm thực hiện việc tái sinh hoặc trồng lại rừng ngay trong
vụ trồng rừng kế tiếp và tiếp tục bảo vệ, quản lý theo quy định của pháp luật
Mặc dù , chủ rừng là hộ gia đình , cá nhân được giao rừng , cho thuê rừng đối với các loại rừng phòng hộ , rừng sản xuất , vùng đệm của rừng đặc dụng nhưng tổng diện tích rừng do hộ gia đình, cá nhân quản lý và khai thác còn khá khiêm tốn
so với các chủ rừng khác Pháp luật quy định về loại rừng được giao, được thuê đối với hộ gia đình, cá nhân là rất phong phú, cả rừng phòng hộ, rừng sản xuất và vùng đệm rừng đặc dụng nhưng thực tế chủ thể này chủ yếu được giao loại rừng nghèo kiệt hoặc đất trống đồi núi trọc để trồng rừng còn rừng sản xuất là rừng tự nhiên thường được nhà nước giao cho tổ chức kinh tế quản lý và khai thác theo số liệu thống kê của Bộ NN&PTNT năm 2015 chủ rừng là hộ gia đình quản lý 3.1 triệu ha rừng trong đó chỉ có 1.3 triệu ha là rừng tự nhiên.[16]
Nguyên nhân trước tiên cần phải kể đến việc thiếu các quy định về quyền quản lý và khai thác của chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân đối với loại rừng được giao, được thuê trong nhiều năm qua, việc đảm bảo quyền của chủ thể này hiện nay vẫn còn yếu nên hiệu quả khai thác và quản lý rừng do chủ thể này mang lại vẫn còn khá khiêm tốn và họ cũng chính là đối tượng vi phạm pháp luật lâm nghiệp nhiều nhất trong những năm vừa qua Năm 2010, đối tượng vi phạm pháp luật lâm nghiệp là hộ gia đình cá nhân là 19.701, năm 2011 là 14.825 và 8 tháng đầu năm
2012 số hộ gia đình, cá nhân vi phạm là 9.886
Luật BV&PTR xác định trách nhiệm bảo vệ tài nguyên rừng đầu tiên thuộc
về chính chủ rừng - người có tài sản hay được giao quản lý tài sản Tuy nhiên, loại
tài sản này không hề dễ bảo vệ vì rừng có diện tích lớn, không có “cửa” hay “hàng
Trang 29rào” bảo vệ và luôn phải đối mặt với các nguy có xâm hại từ nhiều phía, thậm chí từ chính ông chủ của mình Vì vậy, nếu chỉ quy định một cách chung chung như “Chủ rừng có trách nhiệm bảo vệ rừng của mình; xây dựng và thực hiện phương án, biện pháp bảo vệ hệ sinh thái rừng; phòng, chống chặt phá rừng; phòng, chống săn, bắt, bẫy động vật rừng trái phép; phòng cháy, chữa cháy rừng; phòng, trừ sinh vật gây hại rừng ” [29, Điều 37] thì khó có thể xác định trách nhiệm bảo vệ rừng của chủ rừng khi
họ vi phạm Việc quy định và thực hiện trách nhiệm của chủ rừng đối với việc bảo vệ tài nguyên rừng trong thực tế là hết sức khó khăn Nếu chúng ta không đề ra được các giải pháp phù hợp thì những quy định này chỉ tồn tại trên giấy mà thôi
2.1.2 Quyền khai thác lâm sản của chủ rừng là các tổ chức sự nghiệp của Nhà nước
Các chủ rừng này gồm các Ban quản lý rừng đặc dụng, Ban quản lý rừng
phòng hộ, các tổ chức nghiên cứu khoa học dạy nghề về lâm nghiệp Các chủ rừng này trong quá trình quản lý rừng phải bảo toàn vốn rừng và phát triển rừng bền vững, sử dụng rừng đúng mục đích, đúng ranh giới đã quy định trong quyết định giao rừng và theo quy chế quản lý rừng; tổ chức BV&PTR theo quy hoạch, kế hoạch, dự án, phương án đã được phê duyệt; định kỳ báo cáo cơ quan nhà nước có thẩm quyền về diễn biến tài nguyên rừng và các hoạt động liên quan đến khu rừng như kiểm kê rừng, thống kê rừng, theo dõi diễn biến khu rừng Để thuận lợi trong công tác quản lý rừng, các chủ rừng này được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận quyền sử dụng rừng, được sử dụng rừng ổn định, lâu dài; được hướng dẫn về kỹ thuật, hỗ trợ về vốn theo chính sách của nhà nước để BV&PTR và được hưởng lợi ích do các công trình công cộng bảo vệ, cải tạo rừng mang lại
Hiện nay, các Ban quản lý rừng được thành lập có biên chế nhân sự ít, nhưng quản lý diện tích rừng rộng lớn theo số liệu thống kê đến 31/12/2015 (ban hành theo Quyết định số 3158 của Bộ NN&PTNT) thì diện tích rừng mà Ban quản
lý rừng là chủ rừng là 4,8 triệu ha (chiếm 34% tổng diện tích đất rừng toàn quốc)[16] Vì vậy, để BV&PTR nhà nước cho phép các Ban quản lý rừng này được
Trang 30Đối với chủ rừng là Ban quản lý rừng đặc dụng: trong quá trình quản lý tài nguyên rừng được khoán bảo vệ rừng theo kế hoạch BV&PTR cho các hộ gia đình,
cá nhân; được cho các tổ chức kinh tế thuê cảnh quan để kinh doanh du lịch sinh thái – môi trường theo dự án đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt; được tiến hành hoặc hợp tác với tổ chức, nhà khoa học trong việc nghiên cứu khoa học theo kế hoạch đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; được tổ chức thực hiện các hoạt động hợp tác quốc tế trong phạm vi quyền hạn của mình; xây dựng và tổ chức thực hiện nội quy bảo vệ khu rừng; lập và trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt phương án quản lý, BV&PTR và thực hiện phương
án đã được phê duyệt
Đối với chủ rừng là Ban quản lý rừng phòng hộ: trong quá trình quản lý tài nguyên rừng được quyền khai thác lâm sản như cây đã chết, cây sâu bệnh ở rừng phòng hộ rất xung yếu là rừng tự nhiên; được phép khai thác các loại măng, tre, nứa, các loài lâm sản ngoài gỗ trong rừng phòng hộ khi đã đạt yêu cầu phòng hộ theo quy chế quản lý rừng Ở rừng phòng hộ là rừng trồng, chủ rừng được quyền khai thác cây phụ trợ, chặt tỉa thưa khi rừng trồng có mật độ lớn hơn quy định theo quy chế quản lý rừng; được quyền khai thác cây trồng chính khi đạt tiêu chuẩn khai thác Việc khai thác lâm sản trong rừng phòng hộ phải được thực hiện chính xác theo đúng quy chế quản lý rừng, thực hiện đúng quy trình, kỹ thuật của Bộ NN&PTNT, đảm bảo duy trì khả năng phòng hộ bền vững của rừng Trong trường hợp có diện tích rừng sản xuất xen kẽ trong khu rừng phòng hộ được giao cho Ban quản lý khu rừng phòng hộ thì việc khai thác, sử dụng rừng sản xuất phải bảo đảm duy trì diện tích, trữ lượng, chất lượng của rừng và tuân theo quy chế quản lý rừng Việc BV&PTR sản xuất chủ yếu nhằm mục đích phát triển kinh tế nên chủ rừng quản lý loại rừng này được quyền cho thuê lại rừng theo hợp đồng hoặc giao khoán dài hạn theo hợp đồng Vì vậy, quyền sử dụng của các chủ rừng cũng cần phải được làm rõ và hướng dẫn chi tiết, tránh hiện tượng cho thuê rừng tràn lan, thậm chí cả rừng phòng hộ mà nhà nước không quản lý được Theo quy định của Luật BV&PTR năm 2004 và Nghị định số 117/2010/NĐ-CP về tổ chức và quản lý rừng đặc
Trang 31dụng thì các chủ rừng được phép cho thuê rừng để kinh doanh du lịch sinh thái Đây là một hướng phát triển tốt cả về kinh tế và bảo vệ rừng nếu được quản lý và tổ chức thực thi tốt Tuy nhiên, hiện nay chưa có hướng dẫn cụ thể nên trong thực tế việc cho thuê rừng nói chung và cho thuê rừng đặc dụng để kinh doanh nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái đang gây ra một số quan ngại từ nhiều phía về chính sách này
Việc sử dụng chung thuật ngữ “chủ rừng” cho cả hai đối tượng là người có
quyền sở hữu rừng và người không có quyền sở hữu rừng mà chỉ được Nhà nước giao rừng để sử dụng được xem là chưa chuẩn xác về khía cạnh học thuật Chưa kể đến Ban quản lý rừng đặc dụng, Ban quản lý rừng phòng hộ cũng được xác định là chủ rừng, trong khi pháp luật lại có các quy định rất chặt chẽ về tổ chức bộ máy, về tiêu chuẩn lãnh đạo của các Ban quản lý rừng, khiến cho không ít người hình dung
các Ban này tồn tại với tư cách là chủ thể quản lý rừng hơn là với tư cách chủ rừng 2.1.3 Quyền khai thác lâm sản của chủ rừng là các tổ chức kinh tế trong nước Chủ rừng là tổ chức kinh tế trong nước có thể được nhà nước giao, cho thuê
diện tích rừng sản xuất là rừng tự nhiên, rừng sản xuất là rừng trồng, rừng phòng hộ hoặc khu bảo vệ cảnh quan của rừng đặc dụng Vì vậy, tuỳ thuộc vào loại rừng được giao, được thuê, thậm chí tuỳ thuộc vào phương thức và nguồn gốc số tiền trả cho việc giao và thuê rừng mà chủ rừng này có các quyền và nghĩa vụ khác nhau Chủ rừng này được nhà nước giao, cho thuê rừng chủ yếu với mục đích sản xuất kinh doanh nhưng cũng phải đảm bảo bảo toàn vốn rừng và phát triển rừng bền vững; sử dụng rừng đúng mục đích, đúng quy hoạch, kế hoạch; được nhà nước công nhận quyền sử dụng rừng hoặc quyền sở hữu rừng
Đối với rừng sản xuất là rừng giống được nhà nước giao không thu tiền sử dụng rừng thì chủ rừng này trong quá trình quản lý rừng có các quyền lợi như sau: được bán sản phẩm rừng giống, giống cây rừng theo quy chế quản lý rừng; được thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng giá trị rừng sản xuất là rừng giống bằng vốn của mình; không được chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê rừng, quyền sử dụng rừng; không được thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng rừng
Trang 32sản xuất là rừng tự nhiên, quyền sử dụng rừng sản xuất là rừng trồng có nguồn gốc
từ ngân sách nhà nước [29, Điều 63]
Đối với rừng sản xuất mà nhà nước giao có thu tiền sử dụng rừng, nhận chuyển nhượng rừng sản xuất, tuỳ thuộc vào nguồn gốc số tiền đã trả mà chủ rừng
có các quyền lợi như sau: trường hợp tiền sử dụng rừng, tiền chuyển nhượng rừng
đã trả có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước thì chủ rừng được hưởng giá trị tăng thêm của rừng, có quyền khai thác lâm sản trong rừng sản xuất theo quy định của pháp luật nhưng phải đảm bảo duy trì diện tích, phát triển trữ lượng, chất lượng của rừng và tuân thủ theo quy chế quản lý rừng; được cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thuê rừng để kết hợp sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp, kinh doanh cảnh quan, nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái môi trường, nghiên cứu khoa học theo quy chế quản lý rừng Chủ rừng này không được chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng, chỉ được thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng rừng tăng thêm do chủ rừng tự đầu tư so với giá trị quyền sử dụng rừng được xác định tại thời điểm giao rừng [29, Điều 64, khoản 1] Trường hợp số tiền đã trả không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước, ngoài các quyền trên, chủ rừng được chuyển nhượng quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng, được thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng rừng, giá trị rừng sản xuất là rừng trồng; được phép khai thác lâm sản trong rừng sản xuất theo quy định Tuy nhiên, trước khi khai thác, chủ rừng phải có hồ sơ được
cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt gồm dự án đầu tư, phương án quản lý bảo vệ và sản xuất, kinh doanh rừng; phải có phương án điều chế rừng đã được cơ quan quản lý nhà nước về BV&PTR phê duyệt [29, Điều 64, khoản 2]
Đối với rừng phòng hộ mà nhà nước giao cho các tổ chức kinh tế thì chủ rừng này có quyền khai thác lâm sản trong rừng phòng hộ theo quy định của pháp luật, cụ thể chủ rừng được phép khai thác lâm sản trong rừng phòng hộ là rừng tự nhiên được phép khai thác cây chết, cây sâu bệnh, cây đứng ở nơi có mật độ lớn hơn mật độ quy định theo quy chế quản lý rừng; được phép khai thác các loại lâm sản khác ngoài gỗ mà ko ảnh hưởng đến khả năng phòng hộ của rừng Nếu rừng
Trang 33phòng hộ được giao là rừng trồng chủ rừng này có quyền khai thác các cây phụ trợ, chặt tỉa thưa khi rừng có mật độ lớn, khai thác cây trồng chính khi đạt tiêu chuẩn khai thác theo quy chế quản lý rừng Chủ rừng trong trường hợp này không được phép chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê quyền sử dụng rừng phòng hộ, rừng đặc dụng [29, Điều 65]
Đối với đất trồng rừng được nhà nước giao cho các tổ chức kinh tế trồng rừng sản xuất, trồng rừng phòng hộ không bằng vốn ngân sách nhà nước, ngoài các quyền chung, chủ rừng được sở hữu cây trồng, vật nuôi và tài sản trên đất trồng rừng, được khai thác lâm sản theo quy định; được chuyển nhượng, cho thuê, tặng cho quyền sử dụng đất; thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai; được chuyển nhượng, cho thuê, tặng cho, góp vốn bằng giá trị rừng sản xuất là rừng trồng [29, Điều 68, khoản 1]
Đối với đất trồng rừng được nhà nước cho các tổ chức thuê đất để trồng rừng sản xuất, trồng rừng phòng hộ, chủ rừng được sở hữu cây trồng, vật nuôi và tài sản trên đất thuê; được chuyển nhượng, tặng cho rừng sản xuất là rừng trồng; thế chấp, bảo lãnh bằng giá trị rừng sản xuất là rừng trồng tại tổ chức tín dụng hoạt động tại Việt Nam; góp vốn bằng giá trị rừng sản xuất là rừng trồng với các tổ chức,
hộ gia đình, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài [29, Điều
68, khoản 2]
Hiện nay nhiều chuyên gia cho rằng đối với các lâm trường, nếu đang quản
lý chủ yếu rừng sản xuất cần tiếp tục đầu tư thâm canh, sử dụng giống mới, gắn với nhà máy chế biến; nếu quản lý rừng tự nhiên và diện tích đất được quy hoạch trồng rừng phòng hộ , rừng đặc dụng thì chuyển hẳn sang đơn vị sự nghiệp có thu Lâm trường quản lý ít đất lâm nghiệp, nằm xen trong dân thì nên thu hẹp diện tích chuyển thành doanh nghiệp có thu, làm dịch vụ sản xuất giống, xây dựng mô hình ứng dụng, chuyển giao tiến bộ kĩ thuật Lâm trường không cần giữ lại thì giải thể, thu hồi đất
Trang 342.1.4 Quyền khai thác lâm sản của chủ rừng là Người Việt Nam định cư ở nước ngoài
Người Việt Nam định cư ở nước ngoài khi đầu tư vào lĩnh vực kinh doanh
rừng tại Việt Nam, theo quy định hiện hành chỉ được nhà nước giao có thu tiền sử dụng rừng hoặc cho thuê rừng sản xuất là rừng trồng Đối với các diện tích rừng được giao hoặc được thuê chủ rừng này cũng phải bảo toàn vốn rừng và phát triển bền vững tài nguyên rừng Ngoài ra, tuỳ thuộc vào việc được giao rừng có thu tiền
sử dụng rừng hoặc phương thức trả tiền thuê rừng mà chủ rừng này có các quyền lợi
và trách nhiệm khác nhau
Nếu chủ rừng được nhà nước giao rừng có thu tiền sử dụng rừng hoặc được thuê rừng trả tiền một lần cho cả thời gian thuê thì quyền và nghĩa vụ tương tự như
hộ gia đình, cá nhân trong nước được giao rừng sản xuất là rừng trồng đó là: được
sở hữu cây trồng, vật nuôi và tài sản trên đất rừng sản xuất là rừng trồng do chủ rừng tự đầu tư; được thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng giá trị rừng sản xuất là rừng trồng tại tổ chức tín dụng hoạt động tại Việt Nam; được chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê lại rừng theo quy định của pháp luật, cá nhân được để lại thừa kế theo quy định của pháp luật [29, Điều 75, khoản 1]
Nếu chủ rừng này được nhà nước cho thuê rừng sản xuất là rừng trồng trả tiền hàng năm thì được được sở hữu cây trồng, vật nuôi và tài sản trên đất rừng sản xuất
là rừng trồng do chủ rừng tự đầu tư; được cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thuê lại rừng để kết hợp sản xuất lâm nghiệp, nông nghiệp, ngư nghiệp, kinh doanh cảnh quan, nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái môi trường, nghiên cứu khoa học; được thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng giá trị rừng sản xuất là rừng trồng do mình đầu tư theo
quy định của pháp luật [29, Điều 75, khoản 2]
2.1.5 Quyền khai thác lâm sản của chủ rừng là tổ chức, cá nhân nước ngoài Chủ rừng là tổ chức, cá nhân nước ngoài khi thực hiện dự án đầu tư vào kinh
doanh trồng rừng chỉ được nhà nước cho thuê rừng sản xuất là rừng trồng hoặc cho thuê đất chưa có rừng được quy hoạch để trồng rừng sản xuất
Trang 35Trường hợp chủ rừng là tổ chức, cá nhân nước ngoài thuê rừng sản xuất là rừng trồng thì được khai thác sử dụng rừng nhưng phải đảm bảo duy trì diện tích, phát triển trữ lượng, chất lượng của rừng và tuân theo quy chế quản lý rừng, phần diện tích rừng do chủ rừng tự bỏ vốn gây trồng thì được tự quyết định việc khai thác rừng và các sản phẩm được tự do lưu thông trừ những loài quý hiếm khi khai thác phải theo quy định của Chính phủ [29, Điều 76]
Nếu chủ rừng này trả tiền thuê đất trồng rừng cho cả thời gian thuê thì được chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê lại quyền sử dụng đất; thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai Chủ rừng được chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê lại, rừng sản xuất là rừng trồng, góp vốn bằng giá trị rừng sản xuất là rừng trồng với các tổ chức, cá nhân khác để phát triển sản xuất kinh doanh Cá nhân được để lại thừa kế rừng sản xuất là rừng trồng theo quy định của pháp luật [29, Điều 78, khoản 1] Nếu chủ rừng này trả tiền thuê đất hàng năm để trồng rừng thì chỉ được quyền sở hữu cây trồng vật nuôi, tài sản trên đất trồng rừng, được khai thác đối với phần diện tích rừng tự bỏ vốn đầu tư; được chuyển nhượng, tặng cho rừng trồng; thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng giá trị rừng sản xuất là rừng trồng [29, Điều 78, khoản 2]
Pháp luật về quyền tài sản của chủ rừng vẫn còn nhiều bất cập Việc thừa nhận quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng là một điểm tiến bộ của Luật
BV&PTR năm 2004 Luật này giải thích “ Quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng là quyền của chủ rừng được chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với cây trồng, vật nuôi, tài sản gắn liền với rừng trồng do chủ rừng tự đầu tư trong thời hạn được giao, được thuê để trồng rừng theo quy định của pháp luật về BV&PTR và các quy định khác của pháp luật có liên quan” [29, Điều 3 khoản 5] Tuy nhiên, các quy
định về quyền sở hữu này chưa rõ ràng đối với các chủ rừng Nhà nước chỉ thừa nhận quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng đối với các chủ rừng là hộ gia đình,
cá nhân đầu tư trồng rừng trên đất được nhà nước giao, cho thuê đất rừng sản xuất; đối với tổ chức kinh tế trong nước thì chỉ có những tổ chức nào đầu tư trồng rừng
Trang 36xuất mà tiền đã trả không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước; đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư trồng rừng trên đất rừng sản xuất được nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất rừng sản xuất; đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư trồng rừng trên đất được nhà nước cho thuê đất rừng sản xuất Vốn đầu tư của nhà nước vào doanh nghiệp thì vốn đó thuộc về doanh nghiệp
- doanh nghiệp có tư cách pháp nhân và chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi số
vốn của doanh nghiệp Chính vì vậy, cần quy định “quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng” của doanh nghiệp tuy nhiên vấn đề này không hề được đề cập đến trong
bất kì văn bản pháp luật nào Việc không thừa nhận quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng đối với các doanh nghiệp lâm nghiệp có vốn đầu tư nhà nước làm cho các doanh nghiệp vốn đã rất khó khăn vì thiếu vốn đầu tư lại càng khó khăn hơn trong việc tiếp cận vốn vay từ các tổ chức tín dụng vì không có tài sản thế chấp Những doanh nghiệp này không thể tự chủ nếu nhà nước không trao quyền, trong khi đó tất cả các doanh nghiệp có vốn đầu tư nhà nước ở nhiều lĩnh vực khác thì lại được nhà nước trao quyền sử dụng đất và quyền sở hữu đối với các tài sản khác do
nhà nước đầu tư
2.2 Thực trạng quyền khai thác lâm sản của chủ rừng từ thực tiễn tỉnh Bắc Kạn 2.2.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Bắc Kạn
2.2.1.1 Đặc điểm tự nhiên
a Vị trí địa lý
Bắc Kạn là một tỉnh nằm ở vị trí trung tâm vùng Đông Bắc Việt Nam, có tọa
độ địa lý ở 210 30‟ đến 210 47‟ vĩ Bắc và 1050 20‟ đến 1060 10‟ kinh độ Đông, tiếp giáp với 4 tỉnh: Phía Bắc giáp tỉnh Cao Bằng; Phía Đông giáp tỉnh Lạng Sơn; Phía Nam giáp tỉnh Thái Nguyên; Phía Tây giáp tỉnh Tuyên Quang
Tỉnh Bắc Kạn có lợi thế là trung tâm của vùng Đông Bắc, có điều kiện giao lưu với nhiều tỉnh trong vùng, đặc biệt là các tỉnh biên giới Cao Bằng và Lạng Sơn, giúp cho việc trao đổi hàng hóa được thuận lợi, trong đó hàng hóa nông – l â m sản ngày càng có điều kiện tham gia càng sâu vào thị trường nội địa và quốc tế
Trang 37Tuy nhiên với vị trí đó, Bắc Kạn gặp khó khăn hơn so với các tỉnh trong vùng, đó là địa bàn nằm ở vùng sâu, vùng xa các trung tâm kinh tế lớn của vùng, lại không có cửa khẩu biên giới nên việc giao lưu buôn bán hạn chế, đặc biệt là thu hút nguồn lực đầu tư từ bên ngoài gặp khó khăn
b Đặc điểm địa hình
Bắc Kạn có địa hình phân dị lớn, đa dạng, phức tạp, chia cắt mạnh do có sự
kiến tạo bởi cánh cung Ngân Sơn - Yên Lạc ở phía Đông Bắc và cánh cung Sông Gâm ở phía Tây Nam Do đặc điểm đó đã hình thành nên các tiểu vùng sinh thái khác nhau
Địa hình tỉnh Bắc Kạn có độ cao trung bình 500 – 600m so với mặt nước biển, với sự chia cắt bởi nhiều dạng địa hình: đồi núi đất, núi đá, triền bãi, thung lũng nằm xen kẽ nhau Độ cao địa hình có độ chênh lệnh lớn giữa các vùng do địa hình có sự giảm dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, có nơi cao nhất khoảng 1.640m (dãy nam Khiếu Thượng), có nơi thấp nhất là 40m (Quảng Chu - Chợ Mới) Một đặc điểm nữa là đồi núi ở đây không dốc cao, trung bình từ 26 -30% (trừ núi đá) là điều kiện thuận lợi cho canh tác cây trồng, vật nuôi
Có thể khái quát địa hình tỉnh Bắc Kạn theo hệ canh tác nông nghiệp gồm 4 chân đất: chân đất đồi, núi, chân đất bãi, chân đất ruộng, trong đó chân đất đồi núi
là rừng, chân đất đồi là nương rẫy (ngô, lúa nương), chân đất bãi trồng màu và chân đất ruộng trồng 1-2 vụ lúa nước
Địa hình tỉnh Bắc Kạn về cơ bản là thuận lợi cho sản xuất nông lâm nghiệp, có nhiều yếu tố thuận lợi cho việc hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, đa dạng về sản phẩm, phong phú về tính đặc thù của tiểu vùng sinh thái Tuy nhiên với đặc điểm địa hình đó dẫn đến hạn chế về bố trí hệ thống cây trồng, vật nuôi cũng như tổ chức sản xuất và tiêu thụ nông sản
c Đặc điểm khí hậu
Bắc Kạn nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, một năm có 2 mùa rõ rệt: Mùa đông lạnh khô kéo dài từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, mùa hè nóng ẩm kéo dài từ
Trang 38tháng 4 đến tháng 9 Do điều kiện địa hình đa dạng, phức tạp và vị trí địa lý cho nên khí hậu ở Bắc Kạn mang tính chất lục địa, chịu ảnh hưởng của địa hình đó
Nhiệt độ trung bình hàng năm giai đoạn 2008-2012 vào khoảng 22,590C trung bình năm thấp nhất là 21,80C, năm cao nhất là 23,30C; tháng nóng nhất là tháng 6 nhiệt độ lên tới trên 300C, tháng lạnh nhất vào khoảng tháng 12 nhiệt
độ xuống thấp vào khoảng 100C, có nơi xuống âm - 10C Tuy nhiên do địa hình chia cắt, cùng với chế độ nhiệt như vậy đã hình thành nhiều tiểu vùng sinh thái khác nhau, mỗi tiểu vùng đó lại thích hợp với mỗi loại cây trồng khác nhau tạo nên thế mạnh của mỗi tiểu vùng với những sản phẩm đặc trưng
Nhìn chung khí hậu, thời tiết ở tỉnh Bắc Kạn về cơ bản là thuận lợi cho sản xuất nông lâm ngư nghiệp, cho phép cây trồng vật nuôi sinh trưởng và phát triển thuận lợi cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao Tuy nhiên tác hại của nó đến đời sống dân cư và cây trồng vật nuôi không ít Nhận thức được quy luật tự nhiên của
nó, đặc biệt là sự biến đổi khí hậu trong những năm gần đây giúp cho chúng ta bố trí cây trồng vật nuôi thích hợp cho từng vùng trên địa bàn tỉnh đạt hiệu quả kinh tế cao và bền vững
d Tài nguyên đất
Tổng diện tích tự nhiên của tỉnh Bắc Kạn năm 2013 là: 485.941 ha, trong
đó diện tích đất nông lâm nghiệp là 413.044 ha, chiếm 85% tổng diện tích tự nhiên, đất phi nông nghiệp là 21.159 ha, chiếm 4,35% và đất chưa sử dụng là: 51.738 ha, chiếm 10,65% Trong đất nông nghiệp, đất sản xuất nông nghiệp 36.650
ha, chiếm 8,88%, diện tích đất lâm nghiệp có rừng là 375.337 ha, chiếm 90,87%, đất nuôi trồng thủy sản có 1.043 ha, chiếm 0,25% và đất nông nghiệp khác là 14 ha.[25]
Đất lâm nghiệp có rừng của Bắc Kạn khá lớn, lớn nhất so với các tỉnh miền núi Trung du phía Bắc Trong đất lâm nghiệp có rừng, đất rừng sản xuất có 245.836 ha, chiếm 65,5% tổng diện tích, rừng phòng hộ có 107.513 ha, chiếm 28,64% tổng diện tích và rừng đặc dụng 21.988 ha chiếm 5,86%[25] Đây là thế
Trang 39mạnh và lợi thế của tỉnh Bắc Kạn trong việc phát triển kinh tế rừng trong thời gian sắp tới
Bảng 2.1 Diện tích các loại đất tỉnh Bắc Kạn năm 2014
Trong đó:
( Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bắc Kạn năm 2014)
Diện tích đất chưa sử dụng có khả năng đưa vào sử dụng có tới 3.366 ha, chiếm 6,50% đất chưa sử dụng và đất đồi núi chưa sử dụng 45.120 ha, chiếm 87,21% đất chưa sử dụng[25] Trong tương lai có thể lựa chọn để cải tạo phần diện tích này đưa vào sử dụng cho trồng rừng, trồng cây ăn quả, cây công nghiệp dài ngày
e Tài nguyên rừng