Việt Nam đang xây dựng nền kinh tế thị trường, có sự quản lý và điều tiết của nhà nước thì các chế định về NHTM được Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm và không ngừng hoàn thiện qua các vă
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRƯƠNG THỊ HỒNG HẰNG
QUYỀN TỰ DO KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số: 60.38.01.07
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2Công trình được hoàn thành tại
Học viện Khoa học Xã hội
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN ĐỨC MINH
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Luận văn được bảo vệ trước hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp tại: Học viện khoa học xã hội giờ ngày tháng năm
Có thể tìm hiểu luận văn tại Thư viện Học viện Khoa học Xã hội
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quyền tự do kinh doanh là một trong những quyền cơ bản của con người, nhất là trong bối cảnh nền kinh tế thị trường như hiện nay Trong các xã hội khác nhau và ở trong từng thời kỳ lịch sử cụ thể, quyền tự do kinh doanh cũng được quy định khác nhau Trước đây với nền kinh tế kế hoạch tập trung thì tự do kinh doanh đã không được nhắc đến và bị xem như một phạm trù không thể chấp nhận Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện đường lối đổi mới thì quyền
tự do kinh doanh đã được ghi nhận và từng bước mở rộng Tại Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI (12/1986), quyền tự do kinh doanh của công dân mới được ghi nhận Đến Hiến pháp năm 1992 thì quyền tự do kinh doanh trở thành quyền hiến định: “Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật” (Điều 57) và tiếp tục được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm” (Điều 33) Việc ghi nhận và đảm bảo quyền tự do kinh doanh của công dân có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc huy động nguồn lực để phát triển kinh tế Vì vậy, việc đảm bảo quyền tự do kinh doanh của các chủ thể trong nền kinh tế là một vấn đề hết sức cấp thiết Một trong những chủ thể quan trọng nhất góp phần không nhỏ vào sự phát triển của nền kinh tế đất nước đó chính là các NHTM Do đó, việc đảm bảo quyền tự do kinh doanh của NHTM là vấn đề quan trọng để đưa đất nước phát triển phồn thịnh
Ngân hàng thương mại đã tồn tại và phát triển gắn liền với sự
Trang 4phát triển của nền kinh tế hàng hóa Sự phát triển của hệ thống NHTM đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế Ngược lại, kinh tế hàng hóa phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất là nền kinh tế thị trường cũng tác động rất lớn đến hoạt động của các NHTM Việt Nam đang xây dựng nền kinh tế thị trường, có sự quản lý và điều tiết của nhà nước thì các chế định về NHTM được Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm và không ngừng hoàn thiện qua các văn bản pháp luật để tạo ra khung pháp lý quan trọng, đảm bảo quyền tự do kinh doanh và tạo điều kiện thúc đẩy nền kinh tế phát triển
Quyền tự do kinh doanh của các NHTM và bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng là hai mặt của một vấn đề trong sự tồn tại và phát triển của NHTM Trước hết, quyền tự do kinh doanh của NHTM
có thể tác động tích cực hoặc hạn chế đến an toàn hoạt động ngân hàng căn cứ vào việc chúng được quy định phù hợp hay không Về phần mình, bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng cũng có tác động rất đáng kể đến quyền tự do kinh doanh của NHTM căn cứ vào các quan điểm về bảo đảm an toàn cũng như mục tiêu, phạm vi của nó
Vì vậy, việc nghiên cứu quyền tự do kinh doanh của NHTM là một yêu cầu hết sức cần thiết Chính vì lý do như trên, tác giả đã
quyết định lựa chọn đề tài “Quyền tự do kinh doanh của ngân hàng
thương mại theo pháp luật Việt Nam” làm đề tài luận văn tốt nghiệp
thạc sĩ Luật kinh tế của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Cho đến nay, có một số công trình nghiên cứu liên quan đến quyền tự do kinh doanh của NHTM
Trang 5Các công trình nghiên cứu đã phần nào làm sáng tỏ những quy định của pháp luật hiện hành và thực trạng quyền tự do kinh doanh của công dân, quyền cơ bản và quan trọng trong nền kinh tế thị trường hội nhập như hiện nay Tuy nhiên, hầu hết các công trình nêu trên đều tiếp cận vấn đề quyền tự do kinh doanh nói chung và vấn đề bảo đảm an toàn của các tổ chức tín dụng gần như chưa có công trình khoa học nào đề cập đến quyền tự do kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng nói chung và quyền tự do kinh doanh của NHTM nói riêng Các công trình nghiên cứu này đã đem lại cho tác giả những tri thức lí luận và thực tiễn rất sâu sắc để tiếp tục đi sâu nghiên cứu vấn đề pháp luật về quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại Chính vì vậy, trong đề tài nghiên cứu của mình, tác giả mong muốn làm rõ, cụ thể, chi tiết các quy định của pháp luật cũng như thực trạng quyền tự do kinh doanh của ngân hàng nói chung và đặc biệt là NHTM nói riêng theo pháp luật Việt Nam Từ đó, có thể chỉ ra những hạn chế, bất cập ảnh hưởng đến quyền tự do kinh doanh của các NHTM và đề ra những phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện hơn pháp luật về quyền tự do kinh doanh của NHTM theo pháp luật Việt Nam
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của đề tài là nhằm hoàn thiện pháp luật, tăng cường, bảo đảm thực hiện có hiệu quả quyền tự do kinh doanh của NHTM
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Phân tích quyền tự do kinh doanh của NHTM theo quy định của pháp luật Việt Nam
Trang 6+ Phân tích thực trạng quyền tự do kinh doanh của NHTM theo pháp luật Việt Nam
+ Đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm tăng cường quyền
tự do kinh doanh của ngân hàng Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là pháp luật về quyền tự do kinh doanh của NHTM
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Tác giả tập trung nghiên cứu trên những phạm vi sau đây: + Đề tài chỉ nghiên cứu quyền tự do kinh doanh của NHTM theo pháp luât Việt Nam
+ Đề tài không nghiên cứu toàn thể những quy định về quyền
tự do kinh doanh của NHTM theo pháp luật Việt Nam, mà chỉ giới hạn nghiên cứu về một số quyền tự do cơ bản như: quyền tự do thành lập NHTM, quyền tự do lựa chọn đối tác, quyền tự do ký kết và thực hiện hợp đồng, quyền tự do thỏa thuận các phương thức giải quyết tranh chấp, quyền tự do thỏa thuận áp dụng các biện pháp bảo đảm tiền vay
+ Đề tài tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về quyền tự do kinh doanh của NHTM theo pháp luật Việt Nam (Tính đến tháng 01/2017)
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của Chủ nghĩa
Trang 7Mác – Lênin cũng như trên cơ sở các quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Bên cạnh đó, đề tài áp dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau:
+ Phương pháp phân tích: chủ yếu được áp dụng khi nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về quyền tự do kinh doanh của NHTM theo pháp luật Việt Nam
+ Phương pháp thống kê: chủ yếu được áp dụng khi nghiên cứu thực tiễn triển khai thực hiện các văn bản pháp luật quy định về quyền tự do kinh doanh của NHTM theo pháp luật Việt Nam
+ Phương pháp so sánh: chủ yếu được áp dụng khi nghiên cứu các quy định về mối quan hệ giữa quyền tự do kinh doanh của NHTM theo pháp luật Việt Nam và các nước trên thế giới
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Ngoài ra, đề tài đặt ra những giải pháp tăng cường quyền tự
do kinh doanh của NHTM trong mối liên hệ với đảm bảo an toàn của hoạt động ngân hàng ở Việt Nam
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Trong giới hạn nhất định, luận văn này không chỉ là một công trình nghiên cứu khoa học tạo điều kiện cho việc nghiên cứu khoa
Trang 8học sau này của tác giả, mà thông qua quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả cũng mong muốn sẽ tạo nguồn tham khảo cho những nhà làm luật, của các bạn học viên và các NHTM trong hoạt động thực tiễn của mình
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của luận văn bao gồm ba chương:
Chương 1 Những vấn đề lý luận pháp luật về quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại
Chương 2 Thực trạng pháp luật về quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại ở Việt Nam
Chương 3 Quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN TỰ DO KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Bàn luận về quyền tự do kinh doanh và quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại
Các nhà tư tưởng Mác xít cổ điển đã chứng minh: “Để phát triển thuận lợi tư bản thì phải để cho tự do buôn bán” và “cạnh tranh
là phương thuốc duy nhất chống lại nhà tư bản, một phương thuốc
mà các nhà kinh tế chính trị học cho là ảnh hưởng tốt đến cả việc nâng cao tiền công lẫn hạ giá hàng hóa, có lợi cho công chúng tiêu thụ”
Trang 9Trong “Những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản” Ph.Ănghen viết: “Đại công nghiệp là khả năng sản xuất vô hạn Do đó, nó tạo ra,
sẽ cho phép xây dựng một chế độ xã hội, trong đó tất cả các vật phẩm cần thiết cho đời sống sẽ được sản xuất nhiều đến nỗi mỗi thành viên trong xã hội đều có thể hoàn toàn tự do phát triển và sử dụng mọi lực lượng của mình”
Lênin cũng nhấn mạnh: “chúng ta phải và nhất định lấy đại công nghiệp làm cơ sở cho nền kinh tế của chúng ta Nếu không thì không thể nói một cơ sở thực sự xã hội chủ nghĩa nào cho đời sống kinh tế của chúng ta cả”
Jonh Locke đã từng khẳng định: “Mục đích của pháp luật không phải là loại bỏ và hạn chế tự do, mà là bảo vệ và pháp triển tự do”
Dưới góc độ kinh tế, kinh doanh là một phạm trù gắn liền với sản xuất hàng hóa, là tổng thể các hình thức, phương pháp và biện pháp nhằm tổ chức các hoạt động kinh tế, phản ánh quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng của cải vật chất, xã hội nhằm mục đích thu về một giá trị lớn hơn giá trị đã bỏ ra ban đầu
Ở nước ta khái niệm kinh doanh được quy định tại khoản 16, Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định: “kinh doanh là việc liên tục thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình, đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch
vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”
Theo tác giả Bùi Xuân Hải ở nghĩa rộng, tự do kinh doanh có thể được hiểu là: “khả năng mà các tổ chức, cá nhân có thể làm
Trang 10những gì mà họ muốn, có thể lựa chọn, có thể tự quyết định mọi vấn
đề liên quan đến hoạt động kinh doanh nhằm mục đích sinh lợi, trong
đó có quyền thành lập cơ sở kinh doanh, lựa chọn mô hình doanh nghiệp, lựa chọn ngành nghề, quy mô kinh doanh và địa bàn kinh doanh; được tự do lựa chọn đối tác, bạn hàng, được tự chủ kinh doanh, tự quyết định các vấn đề phát sinh trong hoạt động kinh doanh và kể cả quyền tổ chức lại doanh nghiệp, giải thể, nộp đơn xin phá sản doanh nghiệp ”
Các quyền tự do của công dân rất đa dạng, liên quan đến mọi mặt của đời sống xã hội Trong hệ thống các quyền tự do đó thì quyền tự do kinh doanh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
Theo nghĩa chủ quan hay nhìn nhận dưới góc độ quyền chủ thể: quyền tự do kinh doanh được hiểu là khả năng hành động một cách
có ý thức của cá nhân hay pháp nhân trong quá trình hoạt động, sản xuất kinh doanh
Theo nghĩa khách quan hoặc được xem xét dưới góc độ là một chế định pháp luật: quyền tự do kinh doanh là hệ thống các quy phạm pháp luật và những bảo đảm pháp lý do nhà nước ban hành nhằm tạo điều kiện cho các cá nhân hay pháp nhân thực hiện quyền chủ thể nói trên
Quyền tự do kinh doanh được thể hiện ở rất nhiều mặt: quyền
tự do lựa chọn thành lập loại hình kinh doanh, ngành nghề kinh doanh, địa điểm kinh doanh, quyền lựa chọn đối tác kinh doanh, quyền tự do thỏa thuận các điều khoản trong hợp đồng, quyền lựa chọn các phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh
1.2 Bàn luận về pháp luật về quyền tự do kinh doanh của
Trang 11ngân hàng thương mại và bảo đảm quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại bằng pháp luật
1.2.1 Định nghĩa pháp luật về quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại, bảo đảm quyền tự do kinh doanh của ngân hàng thương mại
Ngân hàng là một doanh nghiệp đặc biệt, hoạt động và kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ và tín dụng Bên cạnh đó, ngân hàng là một định chế tài chính trung gian, huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội và dùng chính tiền đó cho các cá nhân, tổ chức vay lại Với tính chất như vậy, ngân hàng có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia nói chung và đặc biệt là quốc gia đang phát triển như Việt Nam
Căn cứ vào chức năng, mục đích và tính chất hoạt động thì ngân hàng bao gồm nhiều loại hình khác nhau: NHTM, ngân hàng phát triển, ngân hàng chính sách xã hội, ngân hàng hợp tác xã Trong các loại hình ngân hàng thì NHTM chiếm tỷ trọng lớn về quy mô, tài sản, thị phần, số lượng
Ở Mỹ, NHTM là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính
Ở Pháp, Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng đã định nghĩa: NHTM là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính
Ở Ấn Độ, Luật Ngân hàng của Ấn Độ (1959) đã nêu: ngân
Trang 12hàng là cơ sở nhận các khoản tiền ký thác để cho vay hay tài trợ, đầu
tư
Ở Ba Lan, theo Luật ngân hàng Ba Lan, ngân hàng là một tổ chức có tư cách pháp nhân để hoạt động theo quy định của pháp luật cũng như theo điều lệ của ngân hàng đó
Ở Việt Nam, Luật Tổ chức tín dụng năm 2010 quy định: NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của pháp luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận
Ngân hàng thương mại với bản chất là một pháp nhân thực hiện hoạt động kinh doanh nhằm mục đích lợi nhuận trong nền kinh
tế, vì vậy NHTM được tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự bình đẳng như các chủ thể khác và đương nhiên có quyền tự do kinh doanh Do đó, dựa vào khái niệm quyền tự do kinh doanh nêu trên có thể hiểu quyền tự do kinh doanh của NHTM như sau:
Dưới góc độ quyền chủ thể, quyền tự do kinh doanh của NHTM là khả năng tự định đoạt mọi vấn đề của NHTM khi thực hiện các hoạt động ngân hàng nhằm mục đích lợi nhuận trên cơ sơ phù hợp với quy định của pháp luật
Dưới góc độ chế định pháp luật, quyền tự do kinh doanh của NHTM là tập hợp các quy phạm pháp luật và những đảm bảo của Nhà nước đưa ra nhằm tạo điều kiện cho NHTM thực hiện quyền chủ thể của mình
Nhìn chung, quyền tự do kinh doanh của NHTM cũng tương
tự so với quyền tự do kinh doanh của các chủ thể doanh nghiệp, tổ chức kinh tế khác Tuy nhiên, vì lý do hoạt động trong lĩnh vực kinh
Trang 13doanh đặc thù có ảnh hưởng mật thiết tới nền kinh tế, do vậy quan điểm quản lý của Nhà nước đối với quyền tự do kinh doanh của NHTM cũng sẽ có những khác biệt riêng Điều này làm nên đặc
điểm của quyền tự do kinh doanh của NHTM
1.2.2 Đặc điểm, vai trò của việc bảo đảm quyền tự do kinh doanh của bằng pháp luật
Quyền tự do kinh doanh của NHTM phải luôn gắn liền với bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng
Quyền tự do kinh doanh được áp dụng đối với các NHTM NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ, cho nên đối tượng kinh doanh trực tiếp là tiền
Quyền tự do kinh doanh của NHTM chịu sự chi phối của quản
lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng
Do đó, sự khác biệt điển hình nhất của quyền tự do kinh doanh của NHTM so với các doanh nghiệp khác là mức độ hạn chế nhiều hơn Với đặc thù của NHTM, để ngăn ngừa những nguy cơ xấu xảy
ra, Nhà nước buộc phải sử dụng pháp luật để hạn chế các tác động tiêu cực có thể xảy ra, đảm bảo an toàn cho chính các NHTM và cho nền kinh tế
Quyền tự do kinh doanh của NHTM có đặc điểm là bị tác động và ảnh hưởng trực tiếp bởi khá nhiều quy định điều chỉnh của pháp luật Nếu so với các doanh nghiệp khác trên thị trường, quyền
tự do của NHTM có thể nói là tương đối bị hạn chế
Mặc dù NHTM chịu sự chi phối của nhà nước nhưng không làm mất đi quyền tự do kinh doanh của các NHTM Nếu không có các quy định của pháp luật thì sẽ không đảm bảo an toàn trong quá