Trước những yêu cầu của thực tiễn, việc tiếp tục nghiên cứu các quy định của pháp luật về thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết các vụ án KDTM nhằm góp phần làm sáng tỏ thêm về lý
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HUỲNH THỊ KIM HUỆ
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HUỲNH THỊ KIM HUỆ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác
và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn này chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Huỳnh Thị Kim Huệ
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ VỀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN KINH DOANH, THƯƠNG MẠI 7
1.1 Khái niệm về tranh chấp kinh doanh thương mại và giải quyết các vụ án kinh doanh, thương mại 71.2 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thủ tục giải quyết các vụ án kinh doanh thương mại tại Tòa án 101.3 Nội dung thủ tục giải quyết các vụ án kinh doanh, thương mại 141.4 Thủ tục giải quyết các vụ án kinh doanh, thương mại theo pháp luật Việt Nam trước ngày 01/01/2012 191.5 Thủ tục giải quyết các vụ án kinh doanh, thương mại theo pháp luật của một số nước trên thế giới 26
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN KINH DOANH THƯƠNG MẠI VÀ THỰC TIỄN
ÁP DỤNG TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 30
2.1 Thực trạng quy định pháp luật về thủ tục giải quyết các vụ án kinh doanh, thương mại 302.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật về thủ tục giải quyết các vụ án kinh doanh thương mại tại thành phố Đà Nẵng 43
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN THỦ TỤC GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN KINH DOANH, THƯƠNG MẠI TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 58
3.1 Nhu cầu hoàn thiện thủ tục giải quyết các vụ án kinh doanh, thương mại
từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng 58
Trang 53.2 Phương hướng hoàn thiện thủ tục giải quyết các vụ án kinh doanh, thương mại từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng 603.3 Các giải pháp hoàn thiện thủ tục giải quyết các vụ án kinh doanh, thương mại từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng 62
KẾT LUẬN 71 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLTTDS : Bộ luật tố tụng dân sự
HĐXX : Hội đồng xét xử
KDTM : Kinh doanh thương mại
TCKDTM : Tranh chấp kinh doanh thương mại TTTM : Trọng tài thương mại
TAND : Tòa án nhân dân
VKS : Viện kiểm sát
Trang 845
Biểu đồ 2.2
Biểu đồ số liệu thụ lý giải quyết sơ thẩm các vụ án tranh chấp KDTM của ngành Tòa án nước ta qua các năm
46
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tình cấp thiết của đề tài
Trong giai đoạn hiện nay, cùng với việc tiếp tục đẩy nhanh quá trình cải cách kinh tế và cải cách nền hành chính quốc gia, công cuộc cải cách tư pháp
đã và đang đặt ra một loạt vấn đề lý luận và thực tiễn cần được giải quyết một cách hợp lý và thoả đáng, trong đó có vấn đề xây dựng và hoàn thiện pháp luật kinh tế nói chung cũng như tạo lập khuôn khổ pháp lý điều chỉnh pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng cho các chủ thể kinh doanh Trong điều kiện kinh tế ngày càng phát triển đặc biệt khi nước ta đã gia nhập
tổ chức thương mại thế giới, các quan hệ KDTM ngày càng đa dạng, phong phú Tương ứng với sự đa dạng phong phú của các quan hệ này, các vụ án KDTM ngày càng tăng lên nhanh chóng Vấn đề đặt ra là làm thế nào để nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động xét xử của Toà án đối với việc giải quyết các vụ án KDTM Đây là một trong số những nội dung cơ bản, quan trọng trong việc cải cách và trên nền tảng đó, hoàn thiện cơ chế bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức, góp phần thúc đẩy phát triển kinh
tế, giữ vững an ninh chính trị và hội nhập quốc tế
Đáp ứng yêu cầu giải quyết các vụ án KDTM của cá nhân, tổ chức trong nền kinh tế thực tiễn đã hình thành nhiều phương thức giải quyết như: thương lượng, hòa giải, giải quyết theo thủ tục Trọng tài, giải quyết theo thủ tục tư pháp Tại Đà Nẵng, hều hết các đương sự thường lựa chọn hình thức giải quyết các vụ án KDTM bằng Toà án như một giải pháp cuối cùng để bảo vệ
có hiệu quả các quyền và lợi ích của mình khi thất bại trong việc sử dụng cơ chế thương lượng, hoà giải Tuy nhiên, việc giải quyết tranh chấp bằng con đường Toà án vẫn còn nhiều vấn đề đáng quan tâm đó là: thủ tục phức tạp, rườm rà hay thời gian giải quyết kéo dài, việc bảo mật thông tin không được
Trang 10đảm bảo, các quy định của pháp luật chưa phù hợp, dẫn đến việc áp dụng không đạt được tính thuyết phục; hướng dẫn của ngành không thống nhất, quan điểm giải quyết không thống nhất giữa các cấp giải quyết, điều đó làm cho hoạt động xét xử của Toà án gặp nhiều khó khăn vướng mắc Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã được ban hành nhưng các quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết tranh chấp KDTM của Tòa án vẫn chưa được khắc phục Hơn nữa, trong Nhà nước pháp quyền cũng đòi hỏi hoạt động xét
xử của Toà án phải đảm bảo công minh, nhanh chóng, chính xác và kịp thời tránh tình trạng tồn đọng án, giải quyết án kéo dài, dễ gây phiền hà, mệt mỏi cho các bên đương sự
Trước những yêu cầu của thực tiễn, việc tiếp tục nghiên cứu các quy định của pháp luật về thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết các vụ án KDTM nhằm góp phần làm sáng tỏ thêm về lý luận cũng như thực tiễn, tìm ra những hạn chế, vướng mắc trong quy định pháp luật và thực tiễn thi hành, từ
đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả công tác giải quyết các vụ án kinh tế theo tinh thần cải cách tư pháp là hết sức cần thiết và rất được quan tâm trong khoa học pháp lý ở Việt Nam hiện nay Bên cạnh đó, sự gia tăng không ngừng của các tranh chấp trong lĩnh vực KDTM ngày càng đa dạng và phức tạp, đòi hỏi sự không ngừng nghiên cứu và làm mới các yêu cầu luật pháp cũng như chuyên môn trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp loại này để giải quyết ổn thỏa, đảm bảo quyền lợi cho các bên là
việc làm không phải đơn giản Do vậy, tác giả đã chọn đề tài “Thủ tục giải
quyết các vụ án kinh doanh thương mại từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” làm
luận văn thạc sĩ Luật học của mình
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Liên quan đến đề tài thủ tục giải quyết các vụ án kinh doanh thương mại
thì đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu trên những khía cạnh khác
Trang 11nhau như:
Giáo trình Luật thương mại, Đại học Luật Hà Nội, năm 2006; Giáo trình Luật kinh tế Việt Nam, Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2001 … Các bài tạp chí chuyên ngành luật học như: Giải quyết TCKDTM theo quy định của BLTTDS 2004 (Viên Thế Giang, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 12/2005); Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh doanh theo BLTTDS và các vấn
đề đặt ra trong thực tiễn thi hành (Phan Chí Hiếu, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 6/2005); Một số kiến nghị liên quan đến quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại theo điều 29 BLTTDS (ThS.Nguyễn Thị Vân Anh - Giảng viên khoa Đào tạo Thẩm phán Học viện Tư pháp); Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng con đường Tòa án (Nguyễn Vũ Hoàng, NXB Thanh niên, năm 2003) Các luận án tiến sỹ như luận án “Pháp luật giải quyết tranh chấp kinh tế bằng con đường Toà án ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Kim Vinh; luận án “Thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân đối với các vụ việc KDTM theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam” của tác giả Nguyễn Văn Tiến Một số luận văn thạc sĩ liên quan đến vấn đề thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết TCKDTM như: “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án nhân dân cấp huyện” của tác giả Nguyễn Vũ Hoàng; “Giải quyết tranh chấp thương mại bằng Tòa án theo tinh thần cải cách tư pháp ở Việt Nam” của tác giả Vũ Quốc Hùng…
Tuy nhiên, các công trình trên chưa tập trung nghiên cứu chuyên sâu về thủ tục giải quyết các vụ án kinh doanh thương mại, nhất là gắn với một địa
phương cụ thể như thành phố Đà Nẵng Chính vì vậy, đề tài “Thủ tục giải
quyết các vụ án kinh doanh thương mại từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng”
không trùng lặp với các công trình đã công bố, cả ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn
Trang 123 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành liên quan trực tiếp đến vấn đề thủ tục giải quyết các vụ án KDTM tại Tòa án để đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả của pháp luật về thủ tục giải quyết các vụ án KDTM tại tòa án nói riêng và pháp luật giải quyết tranh chấp về KDTM nói chung nhằm đảm bảo mọi tranh chấp KDTM đều được giải quyết một cách thuận lợi và triệt để
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, Luận văn có nhiệm vụ làm sáng
tỏ các vấn đề cơ bản sau:
- Hệ thống được cơ sở lí luận về thủ tục giải quyết các vụ án KDTM tại Tòa án Đây là cơ sở để hiểu rõ hơn về đặc điểm, vai trò cũng như các quy định của pháp luật về thủ tục giải quyết các vụ án KDTM
- Phân tích nội dung các quy định của pháp luật hiện hành về thủ tục giải quyết các vụ án KDTM tại Toà án, vướng mắc trong quy định của pháp luật cũng như thực tiễn thi hành pháp luật tại thành phố Đà Nẵng Trên cơ sở đó chỉ ra những bất cập, hạn chế, vướng mắc trong thực thi pháp luật về thủ tục giải quyết các vụ án KDTM tại Toà án
- Hoàn thiện pháp luật về thủ tục giải quyết các vụ án KDTM tại Toà án nhằm hoàn thiện công cụ pháp lý trong lĩnh vực kinh doanh, tiền đề cho cải cách tư pháp, tiến tới xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xã hội dân chủ, bình đẳng, văn minh
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu đối tương chính là các quy phạm pháp luật hiện hành liên quan trực tiếp đến vấn đề thủ tục giải quyết các vụ án
Trang 13KDTM tại Tòa án
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Thủ tục giải quyết các vụ án kinh doanh thương mại từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng có thể được phân tích ở nhiều mức độ và khía cạnh khác nhau Tuy nhiên, trong phạm vi một bản Luận văn thạc sỹ không thể đi sâu phân tích được tất cả các vấn đề đó Luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của các quy định về thủ tục giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại ở cấp sơ thẩm từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng với phạm vi nghiên cứu các số liệu từ năm 2012 đến nay
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa triết học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về phát triển kinh tế xã hội, về xây dựng và hoàn thiện pháp luật trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp được sử dụng chủ yếu để nghiên cứu đề tài bao gồm các phương pháp nghiên cứu khoa học nói chung và phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý nói riêng như phương pháp phân tích, tổng hợp, đối chiếu,
so sánh, hệ thống hóa pháp luật
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa l luận
Việc nghiên cứu này cố gắng góp phần hoàn chỉnh thêm sự hiểu biết về:
khái niệm tranh chấp KDTM; khái niệm thủ tục giải quyết tranh chấp KDTM, đặc điểm, vai trò của thủ tục giải quyết các vụ án KDTM; khái niệm thủ tục giải quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án, đặc điểm của thủ tục giải quyết các
vụ án KDTM tại Tòa án; các yếu tố cấu thành thủ tục giải quyết các vụ án
Trang 14KDTM; thủ tục giải quyết các vụ án kinh doanh, thương mại theo pháp luật của một số nước trên thế giới
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn đã đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về thủ tục giải quyết các vụ án KDTM tại Tòa án góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động xét xử của Tòa án tại thành phố Đà Nẵng nói riêng và cả nước nói chung
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm có ba chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và lịch sử về thủ tục giải quyết các vụ
án kinh doanh thương mại
Chương 2: Thực trạng pháp luật về thủ tục giải quyết các vụ án kinh doanh thương mại và thực tiễn áp dụng tại thành phố Đà Nẵng
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện thủ tục giải quyết các
vụ án kinh doanh thương mại từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
Trang 15CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ VỀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN KINH DOANH, THƯƠNG MẠI
1.1 Khái niệm về tranh chấp kinh doanh thương mại và giải quyết các vụ
án kinh doanh, thương mại
1.1.1 Khái niệm về tranh chấp kinh doanh thương mại
Theo Triết học Mác-Lê nin, mâu thuẫn là quy luật chung của xã hội, là nguồn gốc, là động lực của sự phát triển Mâu thuẫn luôn luôn tồn tại như một tất yếu tự nhiên trên mọi lĩnh vực của xã hội, tạo nên sự phát triển của xã hội Tranh chấp là những xung đột thường phát sinh từ những mâu thuẫn và từ những lợi ích riêng Tuy nhiên, mâu thuẫn và tranh chấp lại tạo nên những phát triển của xã hội, góp phần xây dựng xã hội ngày càng hiện đại, văn minh
Theo định nghĩa của từ điển Tiếng Việt, “Tranh chấp là đấu tranh, giằng
co khi có mâu thuẫn, bất đồng, thường là trong vấn đề quyền lực giữa hai bên” Tranh chấp KDTM được hiểu là những tranh chấp trong lĩnh vực kinh
doanh và thương mại, cụ thể:
Theo quy định tại khoản 16 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014: “Kinh
doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình, đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi” [16]
Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005 (LTM
2005): “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm
mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác” [17]
Như vậy, cả hai hoạt động kinh doanh và thương mại nêu trên có cùng nội hàm về việc các chủ thể kinh doanh cùng hoạt động đầu tư, kinh doanh,
Trang 16cung ứng các dịch vụ…nhằm mục đích sinh lợi, do đó hai hoạt động này đã được BLTTDS 2015 gọi chung là hoạt động kinh doanh, thương mại và đưa vào cùng một quy trình khi giải quyết tranh chấp là hoàn toàn phù hợp
BLTTDS 2015 không dùng khái niệm “tranh chấp về hợp đồng kinh tế” như Pháp lệnh giải quyết các vụ án kinh tế 1994 mà dùng khái niệm “tranh chấp
về kinh doanh, thương mại”
Có thể nhận thấy rằng, khái niệm tranh chấp KDTM thực chất là những mâu thuẫn phát sinh từ việc các chủ thể đăng ký kinh doanh có sự bất đồng đến mức trái ngược nhau trong hoạt động kinh doanh, thương mại gọi chung
là trong hoạt động KDTM
Cách định nghĩa này mặc dù còn nhiều hạn chế song cũng đã chỉ ra được bản chất của tranh chấp KDTM là mâu thuẫn, xung đột về những lợi ích phát sinh khi tham gia các hoạt động KDTM Tuy nhiên, phạm vi giữa mâu thuẫn, xung đột và tranh chấp là khác nhau, chỉ khi nào mâu thuẫn và xung đột lớn, đến mức không thể điều hòa thì tranh chấp mới xảy ra
Ngoài các định nghĩa trên về tranh chấp kinh doanh thương mại thì Giáo trình Luật Thương mại, tập 2 của trường Đại học Luật Hà Nội cũng đưa ra quan điểm về tranh chấp thương mại: “Tranh chấp thương mại là những mâu thuẫn (bất đồng hay xung đột) về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quá
trình thực hiện các họat động thương mại” [2] Từ những phân tích trên, có
thể thấy hiện nay, vẫn chưa đưa ra được cách hiểu thống nhất, đặc biệt là chưa
có văn bản pháp lý nào quy định cụ thể khái niệm tranh chấp kinh doanh thương mại mà mới chỉ dừng lại ở vấn đề quan điểm của một số tác giả trên
cơ sở tiếp cận nó thông qua luật nội dung và luật tố tụng
Như vậy, có thể hiểu khái niệm tranh chấp KDTM là những mâu thuẫn, bất đồng giữa các chủ thể phát sinh trong việc thực hiện các hoạt động có liên quan đến lĩnh vực kinh doanh, đầu tư và thương mại Và có thể định nghĩa
Trang 17một cách ngắn gọn đối với tranh chấp KDTM như sau: “Tranh chấp KDTM
là những mâu thuẫn, bất đồng hay xung đột về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia các quá trình của hoạt động KDTM”
1.1.2 Khái niệm giải quyết các vụ án kinh doanh, thương mại
Có thể nhận thấy, mối quan hệ trong hoạt động KDTM vừa mang tính xung đột vừa hợp tác Vì thế, khi xảy ra tranh chấp các bên luôn tìm cách nhanh chóng để giải quyết các xung đột, mâu thuẫn này để sớm đưa hoạt động kinh doanh, sản xuất của mình trở lại bình thường ổn định Do đó, việc giải quyết tranh chấp KDTM đòi hỏi các bên tranh chấp cũng như cơ quan giải quyết tranh chấp phải tiến hành nhanh chóng, kín đáo, không làm ảnh hưởng đến quá trình sản xuất kinh doanh của các bên, đồng thời phải luôn đảm bảo được sự hợp tác trong hoạt động KDTM
Giải quyết tranh chấp thương mại theo nghĩa chung nhất có thể được hiểu là cách thức, phương pháp hay các hoạt động để điều chỉnh các bất đồng, các xung đột nhằm khắc phục và loại trừ các tranh chấp đã phát sinh, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các thương nhân và các chủ thể kinh doanh khác, bảo vệ trật tự kỷ cương của xã hội
Như đã phân tích, tranh chấp KDTM là việc phát sinh các mâu thuẫn, bất đồng từ hoạt động sản xuất, kinh doanh giữa các chủ thể đăng ký kinh doanh (được gọi chung là các hoạt động KDTM) Đây là một trong các loại việc thuộc lĩnh vực tư, do đó các bên có quyền thỏa thuận lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp kinh doanh ngay từ trước khi nó xảy ra (quyền định liệu trước) hoặc sau khi tranh chấp xảy ra Việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp của các bên được thực hiện trên cơ sở sự nhanh chóng, ít tốn kém
và phải đảm bảo các quyền tự do kinh doanh của các chủ thể, không cản trở các hoạt động kinh doanh của chủ thể và không làm mất cơ hội kinh doanh của họ
Trang 18Việc giải quyết tranh chấp KDTM là các bên tranh chấp thông qua hình thức, thủ tục thích hợp tiến hành các giải pháp nhằm loại bỏ những mâu thuẫn, xung đột, bất đồng về lợi ích kinh tế nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình Pháp luật giải quyết tranh chấp KDTM là các quy định điều chỉnh quy trình tiến hành giải quyết các tranh chấp KDTM, bao gồm các quy trình từ khi có tranh chấp đến khi quá trình giải quyết tranh chấp hoàn thiện
Vậy nên, có thể định nghĩa khái niệm giải quyết các vụ án kinh doanh
thương mại như sau: “Giải quyết các vụ án KDTM là quá trình phân xử để
làm rõ quyền và nghĩa vụ hợp pháp của các bên, buộc bên vi phạm nghĩa vụ phải thực hiện trách nhiệm của mình đối với bên bị vi phạm, việc giải quyết tranh chấp KDTM được tiến hành khi có ít nhất một bên cho rằng mình có quyền lợi hợp pháp bị bên kia xâm phạm và có yêu cầu được giải quyết Kết quả là các quyền và nghĩa vụ của các bên được xác định lại hoặc mâu thuẫn hay xung đột giữa các bên được dung hòa thông qua các phán quyết của người đứng ra giải quyết tranh chấp”
1.2 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thủ tục giải quyết các vụ án kinh doanh thương mại tại Tòa án
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của thủ tục giải quyết các vụ án kinh doanh thương mại tại Tòa án
Thủ tục giải quyết các vụ án KDTM bằng Tòa án là hình thức giải quyết các tranh chấp thuộc phạm vi hoạt động KDTM do cơ quan tài phán của nhà nước thực hiện, mang ý chí quyền lực nhà nước, được tiến hành theo trình tự, thủ tục nghiêm ngặt, chặt chẽ, các phán quyết của Tòa án mang tính cưỡng chế cao, được cơ quan Nhà nước bảo đảm thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước có hiệu lực giá trị pháp lý cao, buộc các bên phải thực hiện
Bản chất của thủ tục giải quyết tranh chấp KDTM bằng Tòa án:
Trang 19- Thủ tục giải quyết các vụ án KDTM tại Tòa án mang tính chất nghiêm ngặt, theo quy trình được quy định chặt chẽ bởi pháp luật tố tụng dân sự
- Mang bản chất cưỡng chế cao của cơ quan thi hành pháp luật của Nhà nước, bắt buộc các bên khi tham gia tố tụng phải tuân theo và thực thi
- Được hỗ trợ bởi các cơ quan bổ trợ tư pháp thông qua các hoạt động
bổ trợ tư pháp khác nhau như hoạt động giám định, định giá, các hoạt động trợ giúp pháp lý, cơ quan thi hành án,… góp phần tạo điều kiện cho Tòa án giải quyết tranh chấp KDTM được nhanh chóng, thuận lợi hơn so với các thủ tục khác
Thứ nhất, thủ tục giải quyết các vụ án KDTM bằng Tòa án được bắt đầu
khi một trong các bên tranh chấp khởi kiện ra Tòa án yêu cầu giải quyết các nội dung tranh chấp của họ khi các lợi ích của họ bị xâm phạm
Khi một trong các bên tranh chấp cho rằng quyền lợi của mình bị xâm phạm thì họ có quyền nộp đơn khởi kiện đến Tòa án yêu cầu giải quyết tranh chấp Tòa án căn cứ vào các quy định của pháp luật cũng như các chứng cứ kèm theo để lấy cơ sở thụ lý đơn khởi kiện cuả đương sự Đây chính là giai đoạn đầu tiên của thủ tục giải quyết các vụ án KDTM tại Tòa án
Thứ hai, trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp KDTM phải tuân theo
các quy định của Bộ luật tố dụng dân sự 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành Bao gồm các thủ tục tại nhiều cấp xét xử (sơ thẩm, phúc thẩm) và thủ tục xem xét lại bản án, quyết định (giám đốc thẩm hoặc tái thẩm)
Thủ tục giải quyết tranh chấp KDTM được thực hiện thông qua thủ tục
tố tụng tại Tòa án, chịu sự điều chỉnh của BLTTDS 2015, thông qua các cấp
sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm
Thứ ba, thủ tục giải quyết tranh chấp KDTM thường không phụ thuộc
vào ý chí của các bên đương sự
Trang 20Quy trình giải quyết tranh chấp KDTM chịu sự chi phối bởi các quy định pháp luật nội dung cụ thể của từng loại tranh chấp mà không phụ thuộc vào ý chí của các bên đương sự hay Hội đồng xét xử Tòa án giải quyết tranh chấp theo nguyên tắc xét xử công khai, minh bạch và chỉ tuân theo pháp luật
Thứ tư, bản án hay quyết định có hiệu lực của Tòa án bắt buộc thi hành
đối với các bên và có thể được cưỡng chế thi hành nếu các bên không tự nguyện thi hành Đây là đặc điểm khác biệt với các phương thức giải quyết tranh chấp KDTM bằng hòa giải, thương lượng hay trọng tài thương mại
So sánh với các phương thức giải quyết tranh chấp khác như hòa giải, thương lượng hay trọng tài thương mại thì việc thực hiện nội dung giải quyết tranh chấp chủ yếu dựa trên sự tự nguyện, tôn trọng và tự định đoạt của các bên chứ chưa có một cơ chế cưỡng chế thi hành Đây chính là điềm khác biệt
so với phương thức giải quyết tranh chấp tại Tòa án Thủ tục giải quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án được thực hiện theo quy định của pháp luật, do cơ quan quyền lực Nhà nước thực hiện, mang tính pháp lý cao và có thể được cưỡng chế thi hành nếu các bên không tự nguyện thi hành
1.2.3 Vai trò của thủ tục giải quyết các vụ án kinh doanh, thương mại
Thứ nhất, thủ tục giải quyết các vụ án kinh doanh, thương mại là một
phương thức giải quyết các tranh chấp, mâu thuẩn, xung đột giữa các bên khi một bên cho rằng lợi ích của mình bị xâm phạm
Thủ tục giải quyết tranh chấp KDTM bằng Tòa án thường phát sinh khi một trong các bên cho rằng quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm nên khởi kiện ra Tòa án yêu cầu tòa án giải quyết các tranh chấp và là một trong các phương thức giải quyết tranh chấp được các bên tranh chấp lựa chọn Qua đó, buộc bên vi phạm nghĩa vụ buộc phải thực hiện trách nhiệm với bên bị vi phạm, khôi phục lại tình trạng ban đầu
Thứ hai, giúp các bên giải quyết các tranh chấp nhanh chóng, có hiệu
Trang 21quả, công bằng và hợp pháp, đảm bảo hiệu quả thực thi thông qua hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước
Giải quyết các tranh chấp KDTM theo thủ tục tố tụng tại Tòa án được tiến hành theo những quy định, trình tự, thủ tục chặt chẽ của pháp luật đảm bảo tính pháp lý thông qua hệ thống cơ quan thực thi quyền lực nhà nước
Thứ ba, là cách thức thể hiện và bảo đảm quyền tự do lựa chọn cơ quan
giải quyết tranh chấp
Giải quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án cũng là một trong các cách thức
để các bên tự do lựa chọn giải quyết tranh chấp, xung đột dựa trên nguyên tắc tôn trọng quyền lựa chọn phương thức giải quyết, đảm bảo quyền con người, quyền công dân
Thứ tư, tạo ra môi trường pháp lý cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng, thúc
đẩy đảm bảo tự do kinh doanh
Khi các tranh chấp giữa các chủ thể kinh doanh được giải quyết một cách công bằng, nghiêm minh, đúng pháp luật thì sẽ tạo ra một môi trường pháp lý bỉnh đẳng, thúc đẩy hoạt động kinh doanh phát triển, tự do
Thứ năm, hoạt động xét xử của nó mang tính quyền lực Nhà nước nhằm
thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước và đóng vai trò là cơ quan bảo
vệ pháp luật
Thủ tục giải quyết các vụ án KDTM bằng Tòa án là hình thức giải quyết các tranh chấp thuộc phạm vi hoạt động KDTM do cơ quan tài phán của nhà nước thực hiện, mang ý chí quyền lực nhà nước, được tiến hành theo trình tự, thủ tục nghiêm ngặt, chặt chẽ, các phán quyết của Tòa án mang tính cưỡng chế cao, được cơ quan Nhà nước bảo đảm thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước có hiệu lực giá trị pháp lý cao, buộc các bên phải thực hiện Do
đó, Tòa án vừa thực hiện chức năng thực thi pháp luật vừa đóng vai trò là cơ quan bảo vệ pháp luật
Trang 221.3 Nội dung thủ tục giải quyết các vụ án kinh doanh, thương mại
Để hình thành nên thủ tục giải quyết các vụ án KDTM tại Tòa án thì cần phải tiến hành theo trình tự, thủ tục, các bước tiến hành để giải quyết một vụ
án dựa trên các quy định của pháp luật về nội dung và hình thức thực hiện Cụ thể, bao gồm các bước bắt đầu từ giai đoạn khởi kiện và thụ lý vụ án kinh doanh thương mại, giai đoạn hòa giải và chuẩn bị xét xử tại Tòa án, giai đoạn đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm, giai đoạn kháng cáo của đương sự, kháng nghị của VKS nếu như đương sự không đồng ý với bản án của Tòa sơ thẩm đã tuyên hay phát hiện vi phạm thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết, giai đoạn xét xử phúc thẩm và cuối cùng là giai đoạn thi hành án
Trong quá trình giải quyết, các cơ quan Tòa án cũng như đương sự phải chấp hành chặt chẽ các quy định từ khi phát sinh tranh chấp đến khi quá trình giải quyết tranh chấp kết thúc:
Giai đoạn khởi kiện và thụ lý vụ án kinh doanh thương mại
Đây là giai đoạn đầu tiên để bắt đầu quy trình giải quyết mỗi tranh chấp, một trong các bên có quyền đưa Đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp của họ, yêu cầu hoặc buộc bên còn lại phải thực hiện nghĩa vụ đối với mình Quyền khởi kiện của cá nhân, tổ chức chỉ phát sinh khi các lợi ích của họ bị xâm phạm, khi họ thực hiện hành vi khởi kiện đến Tòa án yêu cầu
cơ quan Tòa án trực tiếp phân định đúng sai cũng như để bảo vệ các quyền lợi của họ Việc khởi kiện của người khởi kiện được thực hiện bởi hành vi gửi đơn khởi kiện đến Tòa án Đơn khởi kiện là hình thức biểu đạt yêu cầu của người khởi kiện đến Tòa án nhằm mục đích yêu cầu Tòa án giải quyết mâu thuẫn phát sinh trong hoạt động KDTM Đơn khởi kiện phải thể hiện rõ nội dung vụ việc và những yêu cầu của người khởi kiện đối với Tòa án, và là cơ
sở quan trọng để Tòa án xem xét, quyết định việc có thụ lý hay không thụ lý Hình thức và nội dung đơn khởi kiện được quy định chung BLTTDS
Trang 23Hồ sơ khởi kiện bao gồm đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ gửi kèm theo đơn khởi kiện Đơn khởi kiện là chứng thư pháp lý quan trọng để Tòa án xem xét và giải quyết các yêu cầu của nguyên đơn, do đó nó phải được chuẩn
bị thật kỹ lưỡng và phải đáp ứng hai yêu cầu sau:
Thứ nhất, về hình thức đơn khởi kiện phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm
viết đơn, tên Tòa án yêu cầu giải quyết và người ký trong đơn kiện phải đúng thẩm quyền
Thứ hai, về nội dung đơn khởi kiện phải có đầy đủ các nội dung theo
quy định Thông tin về nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, tóm tắt nội dung vụ kiện, yêu cầu cụ thể của nguyên đơn Nội dung của đơn kiện phải trình bày đầy đủ, ngắn gọn, rõ ràng, lập luận chặt chẽ và thật logic
Hồ sơ khởi kiện được nộp tại Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án Sau khi xem xét thấy có đủ các điều kiện thụ lý vụ án thì Tòa án sẽ thụ lý và thông báo cho người nộp đơn kiện biết mức tạm ứng án phí phải nộp, còn nếu như chưa đủ điều kiện thụ lý thì Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện
Sau khi nộp tạm ứng án phí, người nộp đơn xuất trình cho Tòa án biên lai nộp tạm ứng án phí, Tòa án sẽ thụ lý vụ án và ghi vào sổ thụ lý và như vậy
vụ án đã được đưa vào quy trình giải quyết của Tòa án
Các quy định của BLTTDS trong giai đoạn khởi kiện và thụ lý vụ án tranh chấp KDTM nhìn chung đã đầy đủ và đảm bảo cho một quy trình tố tụng chung tại tòa án, tính chất nghiêm ngặt và chặt chẽ song khi áp dụng thực tế vẫn gặp rất nhiều khó khăn mà sau đây luận văn sẽ phân tích sâu hơn
Giai đoạn hòa giải và chuẩn bị xét xử tại Tòa án
Các quy định trong giai đoạn này chủ yếu đề cập đến thời hạn chuẩn bị xét xử và những công việc mà Tòa án cần phải thực hiện trước khi mở phiên tòa công khai
Trang 24Trong giai đoạn này, hồ sơ sẽ được phân cho Thẩm phán thụ lý nghiên cứu để tiến hành xét xử vụ án và Thẩm phán thụ lý có thể yêu cầu các bên thực hiện các công việc sau: yêu cầu các bên xuất trình thêm các giấy tờ, tài liệu cần thiết liên quan đến vụ việc; triệu tập lên Tòa án để lấy lời khai hoặc
để đối chất; triệu tập đến để hòa giải Nếu các bên tranh chấp hòa giải được với nhau thì Tòa án sẽ lập biên bản hòa giải thành và ra quyết định công nhận
sự thỏa thuận của các bên Trường hợp hòa giải không thành thì Tòa án lập biên bản hòa giải không thành và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử Tuy nhiên, cũng có một số trường hợp không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được Khi vụ án ở trong trường hợp không thể hòa giải được thì Tòa
án quyết định đưa vụ án ra xét xử mà không cần phải hòa giải
Thực tiễn công tác xét xử cho thấy đặc biệt là ở cấp sơ thẩm, hòa giải là giai đoạn hết sức quan trọng, từ đây có thể cho thấy mức độ mâu thuẫn của tranh chấp cũng như khả năng hàn gắn mâu thuẫn của các bên tranh chấp, đòi hỏi người giải quyết phải nỗ lực, các bên phải có thiện chí tháo gỡ mâu thuẫn Tuy nhiên, kỹ năng hòa giải và đứng ở vị trí trung gian giải quyết vụ án của các thẩm phán hiện nay lại không được hướng dẫn, đào tạo có bài bản cho các thẩm phán Việc hòa giải hiện nay hoàn toàn dựa vào kinh nghiệm của các Thẩm phán Xu hướng chung của các thẩm phán là hướng tới việc làm rõ đúng sai giữa các doanh nghiệp; chưa hoặc chưa biết quan tâm đúng mức đến vấn đề mà các đương sự hướng tới là lợi nhuận (nhiều hay ít nhưng phải có lợi) đó là điều kiện tiên quyết để đi tới xu hướng nhân nhượng hợp tác trong kinh doanh của các bên đương sự Nếu việc hòa giải không thành có thể dẫn đến căng thẳng, khi hòa giải không thành thì mâu thuẫn sẽ tăng lên bội phần
và việc thúc đẩy sự thương lượng tự thỏa thuận giữa các đương sự trong các giai đoạn tố tụng tiếp sau sẽ kém hiệu quả
Kết thúc việc hòa giải tại Tòa án đồng thời kết thúc giai đoạn chuẩn bị
Trang 25xét xử Tòa án ra một trong các quyết định:
- Tòa án tổ chức hòa giải và các bên tranh chấp hòa giải thành, các vấn
đề tranh chấp được các bên thỏa thuận với nhau về cách thức giải quyết thì tòa án lập biên bản hòa giải thành
- Trong trường hợp các đương sự không thể thỏa thuận với nhau được, thì Tòa án lập biên bản hòa giải không thành và có quyết định đưa vụ án ra xét xử
- Ở giai đoạn này, trong trường hợp vì những lý do khách quan Tòa án có
quyền ra quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định
Giai đoạn đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm
Trong trường hợp đương sự trong vụ án không có thay đổi nào khác cũng như không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết các nội dung tranh chấp thì thẩm phán trực tiếp thụ lý vụ án ban hành quyết định đưa vụ án
ra xét xử công khai tại tòa án Quyết định này được giao cho các đương sự và VKS cùng cấp, ngay sau khi ra quyết định Tòa án phải mở phiên tòa xét xử công khai vụ án
Trường hợp đương sự không có thỏa thuận nào khác hoặc không có thay đổi nào khác thì Tòa án quyết định phân xử trên cơ sở các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án, sự đánh giá và nhận định của HĐXX Kết quả giải quyết vụ
án được thể hiện trên bản án, có nội dung và hình thức được quy định theo BLTTDS
Giai đoạn kháng cáo của đương sự, kháng nghị của VKS, chuyển hồ sơ đến Tòa phúc thẩm
- Về quyền kháng cáo của các đương sự được quy định: “Đương sự,
người đại diện hợp pháp của đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện
có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm, quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm
Trang 26để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm”
- Về quyền kháng nghị của VKS được quy định: “Viện trưởng Viện kiểm
sát cùng cấp và cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án sơ thẩm, quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết vụ
án dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm”
Đối với các vụ án tranh chấp KDTM thì VKS chỉ tham gia kiểm sát pháp luật đối với các trường hợp vụ án có liên quan đến tài sản hoặc lợi ích công hoặc đối với các vụ án mà đương sự khiếu nại việc thu thập chứng cứ của tòa
án hoặc các vụ án so cấp trên xử hủy án đồng thời trả án về cho cấp sơ thẩm thụ lý và giải quyết lại từ đầu theo thủ tục sơ thẩm
Giai đoạn xét xử phúc thẩm
Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét lại phần của bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị hoặc có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị Đối với những phần không có kháng cáo, kháng nghị, hoặc không có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị thì hội đồng xét xử phúc thẩm không được quyền xem xét và quyết định về
những phần này
Giai đoạn thi hành án
Trường hợp bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, các bên phải tự nguyện thi hành Nếu một bên không tự nguyện thi hành, bên được thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự cưỡng chế thi hành Bên được thi hành án làm đơn gửi tới phòng thi hành án dân sự thuộc tỉnh, thành phố đối với bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật do Tòa án cấp tỉnh, thành phố tuyên Trong trường hợp bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật do Tòa án cấp quận, huyện tuyên thì bên được thi hành án làm đơn đề nghị thi hành án gửi tới đội thi hành án dân sự thuộc quận, huyện
Trang 27Bên được thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự nơi người phải thi hành án cư trú (nếu người phải thi hành án là cá nhân) hoặc yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự nơi bên phải thi hành án có trụ sở hoặc nơi có tài sản (nếu bên phải thi hành án là pháp nhân)
1.4 Thủ tục giải quyết các vụ án kinh doanh, thương mại theo pháp luật Việt Nam trước ngày 01/01/2012
Dưới góc nhìn lịch sử, có thể nhận thấy rằng pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc của điều kiện kinh tế, xã hội và những biến động trong dòng chảy lịch sử nước nhà Trước thời Pháp thuộc, pháp luật Việt Nam dường như không có sự phân biệt rạch ròi giữa dân sự và hình sự, cơ quan tài phán và cơ quan quản lý Các tranh chấp về dân sự được giải quyết bởi người đứng đầu bộ máy cai trị các cấp theo các quy tắc chung về tố tụng được thiết lập để giải quyết các việc kiện cáo trong dân Dưới thời Lê (1428 – 1788) các quy định này được ghi nhận trong Quốc triều Hình luật (1483) và Quốc triều khám tụng điều lệ (1777) Đến thời Nguyễn (1802 – 1858 và 1858 – 1945) các quy định này tiếp tục được kế thừa trong bộ Hoàng Việt luật lệ (1812) Do chịu ảnh hưởng sâu sắc của nho giáo nên pháp luật về tố tụng trong thời kỳ này đã hạn chế quyền đi kiện của một số thành viên trong gia đình Tuy nhiên, nhiều quy định về tố tụng được xây dựng trong thời kỳ này
đã thể hiện những triết lý về tố tụng được trải nghiệm và đúc kết từ thực tế cuộc sống Chẳng hạn như quy định về sự phân cấp thẩm quyền xét xử, về thời hạn xét xử theo tính chất của vụ việc, quy định về hoà giải nhằm giảm bớt việc kiện tụng, về lệ tạ phạt nếu quan xét xử không đúng, về việc từ chối
xử kiện của quan xét xử nếu không bảo đảm tính khách quan…v.v Những quy định này đã thể hiện những triết lý về tính linh hoạt, mềm dẻo của thủ tục
tố tụng và tính minh bạch, công bằng trong phán xét của quan xử kiện nhằm bảo vệ quyền lợi cho dân chúng So với kỹ thuật lập pháp của các nước
Trang 28phương Tây thời bấy giờ thì có thể xem đây là những thành tựu và di sản lập pháp đáng tự hào mà ông cha ta để lại
Việc nghiên cứu cho thấy các quy định về thủ tục tố tụng dân sự với tư cách là một thủ tục tố tụng riêng biệt có lẽ chỉ chính thức được du nhập vào miền Nam Việt Nam dưới thời Pháp thuộc bằng Nghị định 16/3/1910 Tiếp theo đó là Bộ dân sự tố tụng Bắc ban hành năm 1917 và Bộ Hộ sự thương sự
tố tụng Trung Việt năm 1942, áp dụng tại Bắc Kỳ và Trung Kỳ Có thể nhận xét rằng các quy định về tố tụng dân sự của Việt Nam dưới thời Pháp thuộc được xây dựng trên cơ sở tham chiếu và giản lược các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự Pháp 1807 cho phù hợp với đời sống của người dân bản địa Do vậy, các quy định về tố tụng dân sự trong những bộ luật này chịu nhiều ảnh hưởng của pháp luật tố tụng dân sự Pháp
Sau cách mạng tháng 8/1945, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã ban hành Sắc lệnh số 47 ngày 10/10/1945 cho giữ tạm thời các luật lệ hiện hành của chế độ cũ Sau năm 1954, đất nước bị chia cắt thành hai miền Nam, Bắc Ở miền Nam, nhà lập pháp của chế độ Sài Gòn đã pháp điển hoá các quy định về tố tụng dân sự và xây dựng Bộ luật dân sự thương sự tố tụng năm
1972 Tuy nhiên, năm 1975 đất nước thống nhất, do vậy các quy định của Bộ luật này cũng không được áp dụng nữa Ở miền Bắc, do hoàn cảnh lịch sử để lại, cho nên trong một thời gian tương đối dài (1954 – 1989) chúng ta chưa có một văn bản chính thức về tố tụng dân sự, các vấn đề liên quan đến thủ tục kiện tụng về dân sự chỉ được quy định tản mạn trong các văn bản hướng dẫn của Toà án nhân dân tối cao
Sự đổi mới cơ chế và mở cửa đất nước đã thúc đẩy sự ra đời của 3 văn bản về thủ tục tố tụng trong lĩnh vực tư pháp dân sự: Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 và Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động
Trang 29năm 1996
Trên cơ sở Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994, theo đó các tranh chấp về hợp đồng kinh tế được áp dụng theo các quy định theo văn bản này Các quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế 1994 về thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế được áp dụng trong thời
kỳ này khá chặt chẽ, nghiêm ngặt Trình tự giải quyết các vụ án kinh tế tuân thủ một quy trình chung từ việc khởi kiện, thụ lý, hòa giải, chuẩn bị xét xử đến lúc đưa vụ án ra xét xử phải tuân theo các bước tố tụng Kể từ thời điểm này chấm dứt hoạt động của Cơ quan trọng tài kinh tế nhà nước các cấp và các tranh chấp kinh tế thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo thủ tục tố tụng kinh tế Qua 10 năm hoạt động và thực hiện Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế 1994 có thể nói TAND các cấp có thẩm quyền đã vận dụng tốt các quy định của pháp luật để giải quyết các tranh chấp kinh tế Việc giải quyết đã mang lại quyền và lợi ích hợp pháp cho các chủ thể kinh doanh, đảm bảo công khai, trực tiếp, bước đầu đã tạo niềm tin cho các chủ thể vào hình thức giải quyết tranh chấp kinh tế mới tại toà án theo thủ tục tố tụng tư pháp Sau một thời gian dài thực hiện, các quy định của Pháp lệnh cũng dần bộc lộ nhiều điều chưa phù hợp, bất cập thủ tục quá cứng nhắc và kéo dài thời gian Vậy nên, trong quá trình thực thi giải quyết càng bộc lộ nhiều bất cập, hạn chế, gây khó khăn cho hoạt động xét xử
Trên cơ sở Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, BLTTDS 2004
đã được ban hành về quy trình giải quyết tranh chấp KDTM nhìn chung vẫn vận dụng những quy định Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế 1994
và trên cơ sở bổ sung thêm nhiều quy định mới, khắc những hạn chế vướng mắc trong thời kỳ này
Theo đó, thủ tục giải quyết các tranh chấp về KDTM cũng được tiến hành theo các bước, trình tự thủ tục bao gồm các giai đoạn: Khởi kiện; Chuẩn
Trang 30bị xét xử; xét sử sơ thẩm; Giai đoạn kháng cáo, kháng nghị; xét xử phúc thẩm; Giám đốc thẩm hoặc tái thẩm; Gia đoạn thi hành án
BLTTDS 2004 là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, pháp nhân nước ngoài có quan hệ thương mại với Việt Nam Tuy nhiên, thực tiễn giải quyết các tranh chấp tại Toà án
đã cho thấy một số quy định về thủ tục tố tụng được mô phỏng từ pháp luật nước ngoài khi áp dụng tại Việt Nam lại không phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tế của xã hội Việt Nam Điển hình là một số quy định về nghĩa vụ chứng minh, thủ tục cung cấp, thu thập chứng cứ, thời hạn xét xử, còn có những hạn chế cần phải được hoàn thiện Các quy định về thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của chúng ta hiện nay tuy đã có nhiều sửa đổi nhưng cũng chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu về tính có hiệu quả trong việc bảo vệ quyền lợi của đương sự, đặc biệt là trong các tranh chấp thương mại hiện nay Cụ thể:
Thứ nhất, chưa thống nhất cách hiểu và vận dụng các quy định của
BLTTDS 2004 và các văn bản liên quan trong toàn ngành Tòa án
Thực tiễn công tác giải quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án các cấp cho thấy, một trong những nguyên nhân dẫn đến có sai lầm trong các bản án, quyết định là việc thẩm phán thiếu hiểu biết và vận dụng pháp luật khi xét xử, việc ban hành văn bản pháp luật có những điểm chưa đầy đủ và chưa phù hợp với thực tiễn, trong khi đó công tác hướng dẫn, giải thích pháp luật của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và của Chánh án tại Hội nghị tổng kết, nên tính ổn định của các hướng dẫn Toà án nhân dân tối cao lại không kịp thời hoặc chỉ hướng dẫn dưới dạng công văn, kết đó rất hạn chế và không có tính pháp lý bắt buộc Thông qua các văn bản hướng dẫn thi hành đối với BLTTDS 2004 có thể dẫn chứng, diễn giải cách hiểu và vận dụng một cách thống nhất đối với các quy định về thủ tục giải quyết đối với từng loại án
Trang 31tranh chấp KDTM Vì vậy, cần phải có sự thống nhất cách hiểu trong việc ban hành văn bản để áp dụng trong quá trình giải quyết
Thứ hai, BLTTDS 2004 chưa có quy định về cách phân loại vụ án đơn
giản, phức tạp hay đặc biệt phức tạp trong giai đoạn thụ lý vụ án
BLTTDS 2004 hiện nay chưa có sự phân biệt loại vụ án như trên, đây là khiếm khuyết dẫn đến trên thực tế đã có rất nhiều trường hợp hao phí thời gian, công sức, tiền bạc của cả đương sự lẫn Nhà nước Do đó, cần có hướng điều chỉnh sao cho ở giai đoạn khởi kiện và thụ lý vụ án cách nhận biết việc phân loại các vụ việc đơn giản, phức tạp hoặc đặc biệt phức tạp Trên cơ sở
đó, BLTTDS mới nên quy định thêm thủ tục rút gọn trong trường hợp giải quyết đối với các vụ án đơn giản và rút ngắn thời gian giải quyết vụ án so với quy định của BLTTDS 2004, còn đối với các vụ án phức tạp hơn thì cần giữ thời gian giải quyết như hiện nay là phù hợp; riêng đối với một số vụ án đặc biệt phức tạp thì cần được bổ sung để có thể gia hạn giải quyết, hoặc chuyển đến tòa án cấp trên giải quyết, tạo điều kiện cho việc giải quyết vụ án vẫn đảm bảo nhanh chóng nhưng cũng để đảm bảo việc nâng cao chất lượng giải quyết
án của tòa án, giảm tải lượng án đầu vào cho cấp dưới và có cách thức giải quyết đúng hướng cho từng loại vụ việc, thu hút sự quan tâm của các Doanh nghiệp trong việc đưa tranh chấp KDTM ra tố tụng tòa án để giải quyết
Thứ ba, bất cập về nội dung của thông báo thụ lý quy định tại Điều 175
BLTTDS 2004
Ở giai đoạn thụ lý vụ án hiện nay, trên thực tế cho thấy việc thông báo thụ lý vụ án đến đương sự và VKS chỉ mang tính chất hình thức Về mặt lý thuyết pháp luật, việc thông báo thụ lý vụ án chính là lúc Tòa án chính thức xác nhận thẩm quyền thụ lý và giải quyết vụ án, trên cơ sở thông báo đến bị đơn và người có quyền lợi liên quan buộc họ phải biết việc tranh chấp và có nghĩa vụ chứng minh hoặc có quan điểm phản hồi đến tòa án và nguyên đơn
Trang 32Các quy định về nội dung của thông báo thụ lý tại Điều 174 BLTTDS 2004
và trên thực tế thông báo thụ lý của tòa án hiện nay rất đơn giản và ngắn gọn, chỉ nêu yêu cầu của nguyên đơn và các tài liệu nguyên đơn gửi Trong nhiều trường hợp thông báo thụ lý này lại không đầy đủ các nội dung cần thiết nên không thể đảm bảo để bị đơn cũng như VKS nắm được hết nội dung tranh chấp
Thứ tư, các quy định của BLTTDS 2004 cần quy định buộc các bên
đương sự có trách nhiệm cung cấp chứng cứ trung thực để Tòa án có căn cứ giải quyết vụ án đồng thời cần tạo điều kiện để các đương sự chủ động tranh luận tại Tòa án
Hiện tại, BLTTDS 2004 quy định về nghĩa vụ chứng minh của các đương sự còn rất đơn giản, đặc biệt thực tế xét xử cho thấy việc cung cấp chứng cứ và nghĩa vụ chứng minh từ phía bị đơn khá thụ động Trong các quy định của thủ tục tố tụng cũng như trên thực tế xét xử cho thấy chủ yếu bị đơn chỉ đưa ra ý kiến và các tài liệu, chứng cứ khi có yêu cầu của Tòa án, điều này tạo nên sự bị động ở bị đơn, dường như là để trả lời và đáp ứng yêu cầu của tòa án chứ không phải để tranh luận hay đáp trả ý kiến của nguyên đơn Do
đó, các quy định của BLTTDS 2004 cần mở rộng có tính chất khuyến khích
để các bên chủ động cung cấp chứng cứ và nắm bắt được chứng cứ của bên còn lại để việc tranh luận được khách quan
Thứ năm, chưa có những biện pháp thích hợp bảo đảm việc bị đơn phải
có mặt tại phiên tòa
BLTTDS 2004 quy định việc triệu tập đương sự nhất là bị đơn và người liên quan tham gia tố tụng tại tòa án trong tất cả các giai đoạn tố tụng nhưng chưa có quy định về biện pháp bảo đảm cũng là khiếm khuyết lớn Về mặt pháp luật, đương sự tham gia tố tụng tại Tòa án là yêu cầu bắt buộc đặc biệt là
sự có mặt tại buổi hòa giải và xét xử tại tòa án Việc hòa giải phải được thực
Trang 33hiện trên cơ sở ý chí tự nguyện của các bên, khi một trong các bên không tham gia hòa giải cho thấy họ không có mong muốn hòa giải, do đó Tòa án trên cơ sở sự không có mặt của đương sự để quyết định việc hòa giải không thành Biên bản hòa giải không thành là căn cứ quan trọng để Tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử Do đó, thay vì buộc có mặt của tất cả các bên đương
sự để đảm bảo buổi hòa giải được khách quan và việc có hòa giải được hay không phụ thuộc vào ý muốn của các bên thì trường hợp đương sự vắng mặt không lý do cũng được xem là hòa giải không thành Đây là bất cập trong thực tế hoạt động tố tụng tại tòa án bởi nhiều trường hợp bị đơn hoặc người
có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cố tình chống đối và không tham gia tố tụng từ giai đoạn đầu thì lẽ đương nhiên sẽ không tham gia hòa giải và cũng không tham gia xét xử
Thứ sáu, việc cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng đến đương sự
gặp nhiều trở ngại
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã xác định địa vị pháp lý của các bên như
bị đơn, người có quyền và nghĩa vụ liên quan, những người tham gia tố tụng khác và tòa án tiến hành giao thông báo thụ lý vụ án cho các bên Sau đó, là tiến hành giao quyết định đưa vụ án ra xét xử trong trường hợp vụ án đã đến giai đoạn xét xử Việc cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng đến đương sự cũng là vấn đề không chỉ ở giai đoạn xét xử vụ án mà trong tất cả các giai đoạn tố tụng kinh tế Theo quy định tại khoản 1 Điều 150 BLTTDS
2004 “Việc cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng được thực hiện theo
quy định của Bộ luật này thì được coi là hợp lệ” Tuy nhiên, việc tống đạt
(giao) các văn bản tố tụng này đến đương sự sẽ là đơn giản trong trường hợp đương sự hợp tác cùng Tòa án, nhưng trên thực tế đương sự trong vụ án KDTM là những người kinh doanh, rất kỵ việc phải tiếp xúc với Tòa án thậm chí sợ phải tiếp xúc với tòa án Do đó,việc cấp tống đạt văn bản tố tụng của
Trang 34tòa án đến các đương sự cũng cần quy định thêm về các chế tài của việc đương sự cố tình chống lại tòa án, không tiếp nhận các văn bản này, gây mất thời gian của quá trình giải quyết án
Trước những vướng mắc, bất cập trong công tác giải quyết tranh chấp KDTM nên BLTTDS 2004 tiếp tục sửa đổi, bổ sung 2011 với những quy định mới về thủ tục giải quyết tranh chấp KDTM theo hướng sửa đổi, hoàn thiện hơn các han chế, bất cập trong các quy định của pháp luật
1.5 Thủ tục giải quyết các vụ án kinh doanh, thương mại theo pháp luật của một số nước trên thế giới
Hầu hết các nước trên thế giới cũng áp dụng cơ chế tòa án để giải quyết các tranh chấp KDTM và không tách biệt tranh chấp dân sự Theo đó, toà án dân sự có chức năng giải quyết cả tranh chấp về dân sự và các tranh chấp KDTM Tuy nhiên, cũng có một số quốc gia tổ chức các tòa án chuyên trách
để giải quyết các loại án tranh chấp KDTM, điển hình như:
Ở một số quốc gia như Pháp, Đức, Anh, có toà thương mại chuyên biệt
để giải quyết các tranh chấp KDTM đối với các chủ thể là thương gia, hoạt động kinh doanh thương mại vì mục tiêu lợi nhuận Tuy nhiên, tổ chức, thẩm quyền và thủ tục tố tụng của mỗi nước có sự khác nhau tuỳ theo hệ thống pháp luật của mỗi nước Ví dụ ở nước Đức, Toà án thương mại được thành lập nhằm xét xử sơ thẩm đối với các tranh chấp liên quan đến một hành vi thương mại theo quy định của Bộ luật thương mại Đức Toà thương mại nằm trong toà án tỉnh hoặc không thuộc toà án tỉnh mà ở một nơi cơ quan tư pháp bang xét thấy có yêu cầu Thành phần xét xử vụ án kinh tế gồm 1 Thẩm phán chuyên nghiệp làm chủ toạ và 2 Hội thẩm Các hội thẩm do phòng thương mại và công nghiệp bổ nhiệm cho từng nhiệm kỳ 3 năm và có thể được tái bổ nhiệm Hội thẩm phải từ 30 tuổi trở lên, là thương gia hoặc thành viên Hội đồng quản trị của công ty cổ phần hoặc thành viên Ban quản lý của công ty
Trang 35TNHH được đăng ký trong bản danh sách thương mại Các Hội thẩm của tòa
án thương mại ngang quyền với thẩm phán chuyên nghiệp trong hoạt động xét
xử, được hưởng thù lao và các chi phí ăn ở đi lại trong thời gian xét xử
Ở Pháp, Toà án thương mại được tổ chức độc lập ở cấp tỉnh Ở những tỉnh ít có nhu cầu, ít tranh chấp thì không có toà án thương mại mà toà án dân
sự sẽ xét xử luôn các tranh chấp thương mại (nếu có) Thẩm phán của toà án thương mại được lựa chọn trong giới kinh doanh có kiến thức và uy tín trong lĩnh vực này Nhìn chung, thủ tục tố tụng của Toà án thương mại ở các nước này cũng linh hoạt mềm dẻo và nhanh chóng đáp ứng yêu cầu của hoạt động kinh doanh
Có thể thấy ở một số quốc gia trên thế giới nhất là ở các nước Anh, Đức
thì vai trò của các Thẩm phán và Luật sư được đánh giá rất cao, “Thẩm phán
vừa là người sáng tạo ra luật pháp (người ta thường gọi Common law là hệ thống pháp luật được tạo nên bởi các Thẩm phán judge – made law), vừa là người giải thích và áp dụng luật pháp, kiểm soát các thủ tục tố tụng” [14]
Thẩm phán được lựa chọn từ một tổ chức gồm các Luật sư thực hành, có kinh nghiệm thực tế Những luật sư thực hành được phân cấp thành nhiều bậc và Thẩm phán chỉ được lựa chọn từ những Luật sư thực hành cấp cao hơn, giỏi
và giàu kinh nghiệm (thường phải có từ 10 năm kinh nghiệm trở lên) Tố tụng tòa án được xem là tố tụng dành riêng cho các Luật sư, các Luật sư này rất được coi trọng Khi tham gia tố tụng tại tòa án, các Luật sư thay các bên tham gia vào thủ tục tố tụng cùng tranh tụng với nhau và Thẩm phán chỉ có vai trò
là người trung gian phân xử, không tham gia vào quá trình tranh tụng nhưng lại là người đưa ra phán xét cho vụ án tranh chấp KDTM Họ phân xử căn cứ trên chứng cứ và sự tranh tụng tại tòa án Đây là ưu điểm của quốc tế khi họ lựa chọn tòa án hầu như chỉ là cơ quan phân xử dựa trên nhưng tài liệu thực tế
và tranh luận trước Hội đồng xét xử, tòa án rất ít khi phải trực tiếp thu thập
Trang 36chứng cứ và tìm hiểu chân tướng sự thật Đây là ưu điểm làm nổi bật công tác xét xử thông qua chế định tòa án tại các quốc gia phát triển mà Việt Nam cần phải học tập
Ở Singapore, giải quyết các tranh chấp KDTM được thực hiện thông qua
cơ chế trọng tài thuộc về Trung tâm trọng tài quốc tế của Singapore (viết tắt là SIAC - Singapore International Arbitration Centre) Quá trình giải quyết được tuân theo quy tắc trọng tài dựa trên luật mẫu do Ủy ban luật thương mại quốc
tế của Liên hợp quốc (UNCITRAL) ban hành và được luật pháp Singapore thừa nhận (Luật trọng tài quốc tế của Singapore) Việc lựa chọn Trung tâm trọng tài quốc tế của Singapore để giải quyết tranh chấp hợp đồng 50 là hoàn toàn tự nguyện đối với các bên liên quan và thường được quy định trong điều khoản về giải quyết tranh chấp của hợp đồng
Chẳng hạn, ở Pháp các tranh chấp thương mại có thể yêu cầu tòa án thương mại giải quyết Tuy nhiên, tòa án thương mại là một tòa chuyên trách, chỉ xét xử sơ thẩm Chánh án của tòa thương mại không phải là các thẩm phán chuyên nghiệp mà là những thương gia và được các bên bầu ra thực hiện chức năng của họ và không được trả thù lao, không hưởng lương Nếu bản án sơ thẩm bị kháng cáo thì vụ án sẽ được đưa ra xét xử ở tòa thượng thẩm dân sự như các vụ việc dân sự Đối với các vụ án nhỏ (Tranh chấp thương mại giá trị
từ 13.000 F trở xuống) thì tòa án thương mại sơ thẩm có quyền xét xử sơ và chung thẩm
Kết luận Chương 1
Sự phát triển của nền kinh tế cùng lúc với quá trình hội nhập của đất nước tạo ra muôn mặt của xã hội doanh nhân vì vậy, tranh chấp trong hoạt động KDTM thường xuyên xảy ra là điều không thể tránh khỏi và đương nhiên việc giải quyết tranh chấp là tất yếu và cần thiết Tuy nhiên, việc lựa
Trang 37chọn phương thức nào để giải quyết tranh chấp KDTM lại hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của các bên tranh chấp, do các bên tự lựa chọn Mỗi phương thức giải quyết tranh chấp đều có những ưu và nhược điểm khác nhau nên việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp nào là tối ưu sẽ được các bên cân nhắc và áp dụng Không thể phủ nhận rằng giải quyết tranh chấp KDTM bằng Tòa án là con đường có nhiều ưu điểm Tuy nhiên, giải quyết tranh chấp KDTM bằng tòa án phụ thuộc rất nhiều yếu tố, các doanh nghiệp thường ít lựa chọn con đường này bởi lẽ các quy trình giải quyết của tòa án tuân thủ chặt chẽ theo khuôn mẫu được pháp luật quy định, rập khuôn, cứng nhắc, thời gian, chi phí cao Hơn nữa, còn có các yếu tố khác ảnh hưởng đến quá trình xét xử đã được phân tích ở chương 1 cùng với thực trạng pháp lý và thực tiễn
áp dụng pháp luật tại đơn vị được tác giả cập nhật thêm ở chương 2 dưới đây
sẽ làm rõ hơn các nguyên nhân khiến doanh nghiệp hiện đại hiện nay ít chọn tòa án để giải quyết tranh chấp KDTM Từ đó, có những phương hướng để thay đổi, hoàn thiện phương thức giải quyết có nhiều ưu điểm này, đưa nó trở thành phương thức giải quyết phổ biến hơn trên thực tế
Trang 38CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN KINH DOANH THƯƠNG MẠI VÀ THỰC TIỄN
Trang 39Giai đoạn khởi kiện và thụ lý vụ án kinh doanh thương mại
Đây là giai đoạn đầu tiên để bắt đầu quy trình giải quyết mỗi tranh chấp, một trong các bên có quyền đưa Đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp của họ, yêu cầu hoặc buộc bên còn lại phải thực hiện nghĩa vụ đối với mình Quyền khởi kiện này được quy định tại Điều 186 BLTTDS 2015
như sau: “Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua người
đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình” Quyền khởi kiện của cá nhân, tổ chức chỉ phát sinh khi các lợi ích của
họ bị xâm phạm, khi họ thực hiện hành vi khởi kiện đến Tòa án yêu cầu cơ quan Tòa án trực tiếp phân định đúng sai cũng như để bảo vệ các quyền lợi của họ Pháp luật dân sự Việt Nam chỉ thừa nhận đối với những chủ thể có thực quyền khởi kiện mới có thể khởi kiện tranh chấp tại Tòa án (quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp để khởi kiện) Đây là yêu cầu bắt buộc để hạn chế các tranh chấp bị đưa ra Tòa án không đúng thực quyền Việc khởi kiện của người khởi kiện được thực hiện bởi hành vi gửi đơn khởi kiện đến Tòa án Đơn khởi kiện là hình thức biểu đạt yêu cầu của người khởi kiện đến Tòa án nhằm mục đích yêu cầu Tòa án giải quyết mâu thuẫn phát sinh trong hoạt động KDTM Đơn khởi kiện phải thể hiện rõ nội dung vụ việc
và những yêu cầu của người khởi kiện đối với Tòa án, và là cơ sở quan trọng
để Tòa án xem xét, quyết định việc có thụ lý hay không thụ lý Hình thức và nội dung đơn khởi kiện được quy định chung tại Điều 164 BLTTDS 2015 Ngoài đơn khởi kiện ra, khi một bên yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp của mình họ còn phải gửi kèm các tài liệu, chứng cứ để chứng minh căn
cứ khởi kiện Tuy mỗi tranh chấp khác nhau có một nội dung khởi kiện khác nhau song hầu hết mỗi vụ án tranh chấp KDTM được tòa án chấp nhận thụ lý giải quyết đều phải đáp ứng đủ các tài liệu cơ bản như:
Trang 40- Đơn khởi kiện do người có quyền khởi kiện hoặc người đại diện hợp pháp của người có quyền khởi kiện bị xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp
- Tài liệu về tư cách pháp lý của người khởi kiện, của các đương sự và người có liên quan khác như: giấy phép kinh doanh, quyết định thành lập doanh nghiệp, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; điều lệ hoạt động, quyết định bổ nhiệm hoặc cử người đại diện doanh nghiệp, văn bản ủy quyền…
- Hợp đồng kinh tế hoặc văn bản, tài liệu giao dịch có giá trị như hợp đồng kinh tế kèm theo phụ lục hợp đồng (nếu có)
- Tài liệu về bảo đảm thực hiện hợp đồng như: hợp đồng cầm cố, thế chấp tài sản, biên bản giao nhận hàng, các biên bản nghiệm thu, các chứng từ thanh toán, biên bản thanh lý hợp đồng, các biên bản làm việc về công nợ …
- Trong từng trường hợp cụ thể còn có các tài liệu giao dịch khác
Phương thức gửi đơn và thủ tục nhận đơn khởi kiện của Tòa án được quy định tại Điều 190 và Điều 191 BLTTDS 2015:
Toà án phải nhận đơn khởi kiện do đương sự nộp trực tiếp tại Toà án hoặc gửi qua bưu điện hoặc gửi trực tuyến bằng hình thức điện tử qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có) Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể
từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Toà án phải xem xét và có một trong các quyết định sau đây:
a) Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện;
b) Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án theo thủ tục thông thường hoặc theo thủ tục rút gọn nếu vụ án có đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn quy định tại khoản 1 Điều 317 của Bộ luật này;
c) Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người khởi kiện nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác; d) Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện nếu vụ việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án