Để đáp ứng nhu cầu lương thực, thực phẩm cho loài người trên thế giới thì đầu thế kỷ XX HCBVTV đã được đưa vào sử dụng, hàng loạt nhà máy sản xuất HCBVTV xây dựng, từ những năm 70 của th
Trang 3Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, em đã nghiên cứu để tài: “Đánh giá
ảnh hưởng của tồn dư hóa chất bảo vệ thực vật tại kho 206 – Công ty Cổ phần giống vật nuôi cây trồng Đông Triều - Thôn Bắc Sơn, xã Bình Khê, thị xã Đông Triều tỉnh Quảng Ninh’’
Để hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến ban chủ nhiệm khoa Môi trường, toàn thể các thầy cô giáo trong khoa, đặc biệt là thầy giáo Th.s Hà Đình Nghiêm đã tận tình hướng dẫn chỉ bảo và giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Em xin cám ơn Viện kỹ thuật và công nghệ môi trường đã tạo điều kiện giúp đỡ em hoàn thành tốt đề tài
Cuối cùng, em xin được gửi đến gia đình, bạn bè đã động viên giúp đỡ
và tạo niềm tin cho em trong quá trình học tập, nghiên cứu cũng như trong thời gian thực hiện đề tài những lời cảm ơn chân thành nhất
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, 2016
Sinh viên thực hiện
Mạc Đức Bách
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Giá trị xuất, nhập khẩu hóa chất bảo vệ thực vật ở Việt Nam 19
Bảng 3.1: Mẫu đất lấy tại vị trí trung tâm nền kho hóa chất 24
Bảng 3.2: Mẫu đất lấy tại phía Bắc nền kho hóa chất 24
Bảng 3.3: Mẫu đất lấy tại phía Nam nền kho hóa chất 24
Bảng 3.4: Mẫu đất lấy tại phía Tây và Tây Bắc kho hóa chất 25
Bảng 3.5: Mẫu đất lấy tại phía Tây Nam kho hóa chất 25
Bảng 3.6: Mẫu đất lấy tại phía Đông kho hóa chất 25
Bảng 3.7: Mẫu đất lấy tại phía Đông Nam kho hóa chất 26
Bảng 3.8: Mẫu đất lấy tại phía Đông Bắc kho hóa chất 26
Bảng 3.9: Mẫu đất lấy tại khu vực ô nhiễm 27
Bảng 3.10: Quan trắc môi trường không khí xung quanh 27
Bảng 4.1 Số lượng gia súc, gia cầm trên địa bàn thị xã Đông Triều 32
Bảng 4.2: Kết quả phân tích mẫu đất tại khu vực nền kho 37
Bảng 4.3: Kết quả phân tích mẫu đất phía Bắc của kho hóa chất 38
Bảng 4.4: Kết quả phân tích mẫu đất phía Nam kho hóa chất 39
Bảng 4.5 Kết quả phân tích mẫu đất phía Tây và Tây Bắc kho hóa chất 41
Bảng 4.6: Kết quả phân tích mẫu đất phía Tây Nam kho hóa chất 42
Bảng 4.7: Kết quả phân tích mẫu đất phía Đông kho hóa chất 43
Bảng 4.8 Kết qảu phân tích mẫu đất phía Đông Nam kho hóa chất 44
Bảng 4.9: Kết quả phân tích mẫu đất phía Đông Bắc khoa hóa chất 45
Bảng 4.10: Kết quả phân tích kim loại nặng trong đất tại khu vực ô nhiễm 46
Bảng 4.11: Kết quả phân tích mẫu không khí xung quanh khu vực ô nhiễm 47
Bảng 4.12: Kết quả điều tra xã hội học các bệnh liên quan đến việc tiếp xúc lâu dài với hóa chất BVTV 47
Bảng 4.13: Kết quả điều tra xã hội học các bệnh liên quan đến phơi nhiễm HCBVTV 48
Trang 5DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình 4.1: Kết quả phân tích mẫu đất tại trung tâm nền kho hóa chất 37
Hình 4.2: Kết quả phân tích mẫu đất phía Bắc kho hóa chất 38
Hình 4.3: Kết quả phân tích mẫu đất phía Nam kho hóa chất 40
Hình 4.4: Kết quả phân tích mẫu đất phía Tây và Tây Bắc kho hóa chất 41
Hình 4.5: Kết quả phân tích mẫu đất phía Tây Nam kho hóa chất 42
Hình 4.6: Kết quả phân tích mẫu đất phía Đông kho hóa chất 43
Hình 4.7: Kết quả phân tích mẫu đất phía Đông Nam kho Hóa chất 44
Hình 4.8: Kết quả phân tích mẫu đất phía Đông bắc kho hóa chất 45
Hình 4.9 Các bệnh liên quan đến việc tiếp xúc lâu dài với hóa chất BVTV 48 Hình 4.10 Các bệnh liên quan đến phơi nhiễm HCBVTV 49
Trang 63 KH&CN Khoa học và công nghệ
4 NN & PTNN Nông nghiệp và phát triển nông thôn
7 UNDP Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc
8 WHO Tổ chức y tế thế giới
Trang 7MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC HÌNH iii
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT iv
MỤC LỤC v
PHẦN 1 : MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 2
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.4 Ý nghĩa của đề tài 3
1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu 3
1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 3
PHẦN 2 : TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở khoa học 4
2.1.1 Cơ sở lý luận 4
2.1.2 Cơ sở pháp lý 6
2.1.3 Căn cứ kĩ thuật 7
2.2 Cơ sở thực tiễn 8
2.2.1 Giới thiệu chung về hóa chất bảo vệ thực vật 8
2.2.2 Ảnh hưởng của hóa chất bảo vệ thực vật 12
2.2.3 Tình hình sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật trên thế giới và Việt Nam 15
2.2.4 Thực trạng về các kho lưu trữ hóa chất bảo vệ thực vật tại Việt Nam 19
Trang 82.2.5 Thực trạng về kho hóa chất bảo vệ thực vật tại kho 206 –
Công ty Cổ phần giống vật nuôi cây trồng Đông Triều 20
PHẦN 3 : ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 22
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 22
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 22
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 22
3.3 Nội dung nghiên cứu 22
3.3.1 Điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội thị xã Đông Triều tỉnh Quảng Ninh 22
3.3.2 Đánh giá ảnh hưởng của tồn dư HCBVTV tại khu vực nghiên cứu 22
3.3.3 Đánh giá ảnh hưởng của HCBVTV tồn dư trong đất đến sức khỏe người dân 22
3.3.4 Đề xuất công nghệ xử lý ô nhiễm HCBVTV trên địa bàn nghiên cứu 22
3.4 Phương pháp nghiên cứu 22
3.4.1 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp 22
3.4.2 Phương pháp lấy mẫu và phân tích 23
3.4.3 Phương pháp điều tra phỏng vấn 27
PHẦN 4 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 28
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội Thị xã Đông Triều 28
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 28
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 30
4.2 Kết quả đạt được 37
4.2.1 Kết quả đánh giá tồn dư HCBVTV trong đất 37
Trang 94.2.2 Kết quả đánh giá ảnh hưởng của tồn dư HCBVTV tới môi
trường không khí 47
4.3 Kết quả đánh giá ảnh hưởng của HCBVTV tồn dư trong đất đến sức khỏe người dân 47
4.4 Đề xuất công nghệ xử lý ô nhiễm HCBVTV trên địa bàn nghiên cứu 49
PHẦN 5 : KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 51
5.1 Kết luận 51
5.2 Đề nghị 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
Trang 10PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Môi trường đất là nơi trú ngụ của con người và hầu hết các sinh vật cạn, là nền móng cho các công trình xây dựng dân dụng, công nghiệp, văn hóa của con người Đất là một nguồn tài nguyên vô cùng quý giá của con người Con người sử dụng tài nguyên đất chủ yếu vào các hoạt động sản xuất nông nghiệp để đảm bảo cung cấp đầy đủ nguồn lương thực thực phẩm cho con người Tuy nhiên qua hoạt động sống của con người môi trường đất đã và đang ngày càng suy thoái và ô nhiễm nghiêm trọng Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến ô nhiễm môi trường đất là do hóa chất bảo vệ thực vật (HCBVTV) Ô nhiễm đất HCBVTV (ở khu vực lân cận các điểm lưu trữ HCBVTV quá hạn, cấm sử dụng) dẫn đến sự phát tán ra xung quanh, bị rửa trôi vào lưu vực, xâm nhập vào nguồn nước ngầm và trầm tích Từ môi trường đất, nước, trầm tích, HCBVTV sẽ xâm nhập vào chuỗi thức ăn, đặc biệt là các động vật đáy (như
cá, sò, cua, ốc, hến…) gây lo lắng sức khỏe cho người tiêu thụ Tác động bất lợi cho động vật trên cạn, hủy hoại môi trường và ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng
Để đáp ứng nhu cầu lương thực, thực phẩm cho loài người trên thế giới thì đầu thế kỷ XX HCBVTV đã được đưa vào sử dụng, hàng loạt nhà máy sản xuất HCBVTV xây dựng, từ những năm 70 của thế kỷ XX nước ta đã thành lập các kho trung chuyển mặt hàng này, đảm bảo kịp thời vụ, hầu như mỗi đơn vị từ tuyến huyện, tỉnh, đến trung ương đều có kho lưu giữ hóa chất
Một vài năm trở lại đây vấn đề ô nhiễm HCBVTV tồn dư tại các kho
cũ trên địa bàn thị xã Đông Triều – tỉnh Quảng Ninh đang thu hút sự quan tâm lớn từ dư luận và các cơ quan quản lý môi trường Hiện nay các kho chứa HCBVTV cũ đã được dỡ bỏ từ lâu, tuy nhiên hầu hết các kho hàng được xác
Trang 11định gây ô nhiễm nghiêm trọng đến môi trường, tác động đến sức khỏe người dân và ảnh hưởng không nhỏ tới quy hoạch
Thực tế cho thấy do thiếu sự hiểu biết, ít thông tin nên hầu hết khu vực HCBVTV trước đây đã trở thành công trình công cộng, ruộng, vườn canh tác, thậm chí là đất ở, vì vậy việc phơi nhiễm HCBVTV đối với người dân là rất lớn, có thể gây những căn bệnh rất nguy hiểm như ung thư, quái thai, dị dạng, giảm khả năng sinh nở… Tuy nhiên đến nay chưa có một hoạt động nghiên cứu cụ thể nào tiến hành rà soát một cách tổng thể trên phạm vi toàn thị xã có thể khoanh vùng, đánh giá mức độ ô nhiễm của các khu vực tồn lưu hóa chất bảo vệ thực vật và đề ra các phương án xử lý triệt để ô nhiễm cho từng khu vực
Xuất phát từ những vấn đề trên được sự đồng ý của Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Khoa Môi Trường, dưới sự hướng
dẫn của Th.s Hà Đình Nghiêm Tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá ảnh hưởng của tồn dư hóa chất bảo vệ thực vật tại kho 206 – Công ty Cổ phần giống vật nuôi cây trồng Đông Triều - Thôn Bắc Sơn, xã Bình Khê, thị xã Đông Triều tỉnh Quảng Ninh’’
1.2 Mục đích nghiên cứu
Đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường do tồn dư của hóa chất bảo vệ thực vật, tại kho trung chuyển hóa chất đến môi trường đất…từ đó đánh giá các ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân địa phương và đưa ra các giải pháp khuyến cáo, xử lý triệt để ô nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá ô nhiễm môi trường đất do HCBVTV tồn dư tại khu vực nghiên cứu
- Đánh giá ảnh hưởng của việc ô nhiễm HCBVTV đến sức khỏe của người dân địa phương
Trang 12- Đề xuất biện pháp xử lý triệt để ô nhiễm môi trường do HCBVTV
1.4 Ý nghĩa của đề tài
1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu
Nhằm nâng cao nhận thức, hiểu biết về mức độ nguy hiểm của hóa chất BVTV đối với sức khỏe và hệ sinh thái
1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
Việc thực hiện đề tài có ý nghĩa thực tiễn rất quan trọng Kết quả của đề tài có thể sử dụng để khuyến cáo các hoạt động sản xuất, sinh hoạt của người dân địa phương xung quanh khu vực nghiên cứu Có thể làm tư liệu thực hiện các giải pháp triệt để ô nhiễm môi trường do hóa chất bảo
vệ thực vật
Trang 13PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học
2.1.1 Cơ sở lý luận
2.1.1.1 Một số khái niệm và thuật ngữ liên quan
Hóa chất bảo vệ thực vật (HCBVTV) xuất phát từ thuật ngữ tiếng anh
“Pesticide” có nghĩa là chất để diệt loài gây hại Dịch sang tiếng Việt các tác giả sử dụng nhiều thuật ngữ khác nhau như: Thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật, hóa chất trừ sâu, hóa chất bảo vệ thực vật Như vậy HCBVTV là danh từ chung để chỉ một chất hoặc một hợp chất bất kỳ có tác dụng dự phòng, tiêu diệt hoặc kiểm soát các sinh vật gây hại kể cả các Vector gây bệnh cho người
và động vật, các loại côn trùng khác hay động vật có hại trong quá trình sản xuất, chế biến, dự trữ, xuất khẩu, tiếp thị lương thực, sản phẩm trong nông nghiệp, sản phẩm của gỗ, thức ăn gia súc hoặc phòng chống các loại côn trùng, ký sinh trùng
Hóa chất bảo vệ thực vật được coi là những hợp chất có nguồn gốc
tự nhiên hay chất tổng hợp nhân tạo được dùng để phòng trừ các sinh vật hại cây trồng, người ta quen gọi hóa chất bảo vệ thực vật là Pesticide-thuốc trừ dịch hại Dựa theo đối tượng phòng trừ, có thuốc trừ sâu (insecticide), thuốc trừ nấm (herbicide), thuốc trừ dong tảo (algicide) và một số loại khác như trừ chuột, ve, rệp… Con người phải dùng tất cả các loại thuốc trên để đối phó với tất cả các loại đối tượng gây bệnh trên
Chất độc: Là những chất khi xâm nhập vào cơ thể sinh vật một lượng
nhỏ cũng có thể gây biến đổi sâu sắc về cấu trúc hay chức năng trong cơ thể sinh vật, phá hủy nghiêm trọng những chức năng của cơ thể, làm cho sinh vật
Trang 14bị ngộ độc hoặc bị chết [8] Theo từ điển bách khoa Việt Nam: Chất có khả năng ức chế, phá hủy hoặc làm chết cơ thể sống: khi đưa một lượng nhỏ chất độc vào cơ thể (qua miệng, dạ dày, thở hít qua phổi, thấm qua da…) hoặc khi được hấp thụ vào máu trong những điều kiện nhất đinh, gây ra những rối loạn sinh lý của cơ thể, làm nguy hại cho sức khỏe hoặc gây nguy hiểm đến tính mạng con người Hiện tượng này còn gọi là ngộ độc
Khái niệm về độc tính
Độc tính: Là khả năng gây độc của một chất đối với cơ thể sinh vật ở
một lượng nhất định của chất độc đó [8] Theo từ điển Bách khoa Việt Nam: Độc tính là tính gây độc của một chất đối với cơ thể sinh vật Độc tính được chia ra các dạng:
Độc cấp tính: Chấp độc xâm nhập vào cơ thể gây nhiễm độc tức thì, kí
hiệu LD50 (letal dosis 50), biểu thị lượng chất độc (mg) đối với 1 kg trọng lượng cơ thể có thể gây chết 50% cá thể vật thí nghiệm (thường là chuột hoặc thỏ) LD50 khác nhau tùy loại chất độc, con đường xâm nhập (qua miệng, qua da…) vào vật thí nghiệm Nếu chất độc lẫn với không khí (hơi độc, hay ở trong nước) thì được kí hiệu LC50 (letal concentration 50) biểu thị lượng chất độc (mg) trong 1m3
không khí hoặc 1 lít nước có thể gây chết 50% cả thể thí nghiệm LD50 và LC50 càng thấp chứng tỏ độc độc tính càng cao
Độc mãn tính: Chỉ khả năng tích lũy chất độc trong cơ thể, khả năng
gây đột biến, gây ung thư hoặc quái thai, dị dạng Nếu thường xuyên làm việc nơi có chất độc (xưởng hóa chất, xử lý chất phế thải, xản xuất và phun thuốc trừ sâu…) thì cần đầy đủ quy trình bảo hộ lao động, quy định kiểm tra độ độc nơi làm việc và khám sức khỏe thường xuyên
Ô nhiễm môi trường là sự biến đối của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người
và sinh vật [9]
Trang 15 Khái niệm về ô nhiễm môi trường đất
Ô nhiếm môi trường đất là đưa vào môi trường đất các chất thải nguy hại hoặc năng lượng đến mức ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống sinh vật, sức khỏe con người hoặc làm suy thoái chất lượng môi trường đất Đất được xem
là ô nhiễm khi nồng độ các chất độc tăng lên quá mức an toàn, vượt lên khả năng tự làm sạch của môi trường đất
Ô nhiễm không khí là do các thành phần khác nhau của loại chất rắn, lỏng, khí khi mà chúng phân tán ra rất nhanh vào khí quyển khi chúng có điều kiện thuận lợi, với nồng độ vừa đủ gây ảnh hưởng tới sức khỏe con người, gây ảnh hưởng xấu tới sự sinh trường, phát triển của động vật, thực vật, phá hủy vật liệu, làm giảm cảnh quan môi trường
Khái niệm về sự cố môi trường
Sự cố môi trường là các tai biến hoặc rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt động của con người hoặc biến đổi bất thường của thiên nhiên, gây suy thoái môi trường nghiêm trọng
2.1.2 Cơ sở pháp lý
- Luật Bảo vệ Môi trường số 55/2014/QH13 được Quốc hội nước
CHXHCN Việt Nam thông qua ngày 23/06/2014
- Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 được Quốc hội nước CHXHCN
Việt Nam thông qua ngày 18/6/2014
- Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 02 năm 2015 của Chính
phủ quy định chi tiết thi hành 1 số điều của Luật bảo vệ môi trường
- Nghị định số 18/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 02 năm 2015 của Chính
phủ quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường
Trang 16- Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18 tháng 06 năm 2015 của Chính
phủ quy định về quản lý dự án đầu tư xây dựng
- Nghị định số 46/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 05 năm 2015 của Chính
phủ quy định về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng
- Thông tư số 10/2013/TT-BXD của Bộ Xây dựng hướng dẫn một số
nội dung vể Quản lý chất lượng công trình xây dựng
- Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT của Bộ Tài Nguyên và Môi
Trường quy định về quản lý chất thải nguy hại
- Thông tư liên tịch số 01/2008/TTLT-BTNMT-BTC ngày 29/04/2008
của Bộ Tài Nguyên và Môi Trường và Bộ Tài Chính về việc hướng dẫn lập
dự toán công tác bảo vệ môi trường thuộc nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường
- Thông tin liên tịch số 45/2010/TTLT-BTC-BTNMT ngày
30/03/2010 của Bộ Tài Chính và Bộ Tài Nguyên và Môi Trường về việc Hướng dẫn quản lý kinh phí sự nghiệp môi trường
- QCVN 07:2009/BTNMT-Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ngưỡng
chất thải nguy hại
- Quyết định về việc phê duyệt danh mục cho sự nghiệp môi trường
Trang 17- TCVN 6663 – 3: 2008 – Chất lượng nước – Lấy mẫu – Phần 1: Hướng dẫn cách bảo quản và xử lý mẫu;
- TCVN 7876: 2008 – Nước: Xác định hàm lượng thuốc trừ sâu clo hữu cơ Phương pháp sắc chiết khí lỏng;
- TCVN 6000:1995 – Chất lượng nước – Lấy mẫu: Hướng dẫn lấy mẫu nước ngầm;
- QCVN 54:2013/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ngưỡng
xử lý hóa chất bảo vệ thực vật hữu cơ khó phân hủy tồn lưu theo mục đích sử dụng đất;
- QCVN 08:2008/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt
- Thông tư 30/2011/TT-BTNMT – Quy định quy trình kỹ thuật quan trắc môi trường nước dưới đất
- Thông tư 33/2011/TT-BTNMT – Quy định quy trình kỹ thuật quan trắc môi trường đất
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Giới thiệu chung về hóa chất bảo vệ thực vật
Đặc tính của HCBVTV trong môi trường: Dễ bay hơi, dễ hòa tan trong nước và dung môi, bền với quá trình biến đổi sinh học HCBVTV cũng được những cây cối và động vật hấp thụ và theo chuỗi thức ăn sẽ xâm nhập và tích lũy trong cơ thể người Đặc biệt, trong chuỗi thức ăn này cứ qua mỗi bậc dinh dưỡng, HCBVTV lại được tích lũy với số lượng theo cấp số nhân và được gọi
là khuếch đại sinh học
2.2.1.1 Dichlo – Dibenzen – Trichlothan (DDT)
a Đặc điểm
Thuốc trừ sâu DDT là chữ viết tắt tiếng Anh của hóa chất Dichlo – Dibenzen – Trichlothan, được phát minh năm 1872 DDT có tính năng trừ sâu
Trang 18rất tốt, dùng để diệt các loài sâu phá hoạt lương thực, cây ăn quả, rau xanh và các loài côn trùng gây bệnh DDT còn được biết đến với cái tên thương mại Anfex, Arkotin, Dicofol, Genitox, Ixodex, Neoxid, Pentachlorin, Peprothion, 7~erdane… DDT ở dạng bột trắng hay xám nhạt, không tan trong nước, rất tan trong cychlorhexanon, tan ít hơn trong xylen và aceton, ít tan trong dầu hỏa
Tính chất của DDT khá ổn định, có hiệu quả lâu dài, hơn nữa DDT không dễ hòa tan trong nước (sau khi phun thuốc không bị nước mưa rửa sạch) cho nên về kinh tế, nó đã thể hiện tính ưu việt so với các loài thuốc trừ sâu khác Bắt đầu từ năm 1943 thuốc trừ sâu DDT đã được sử dụng rộng rãi với số lượng lớn trên toàn thế giới
b Độc tính với con người
Liều gây độc đối với người là 30 gam DDT có tác dụng tích lũy Tuy nhiên khoảng cách an toàn giữa nồng độ diệt được côn trùng và liều gây độc cho người khá lớn
Độc cấp tính
Theo phân loại của Tổ chức sức khỏe thế giới (WHO), DDT có độc tính trung bình Đường xâm nhập chủ yếu của DDT là qua hô hấp, tiêu hóa và qua da, hiếm gặp nhiễm độc gây tử vong ở người Liều nhỏ DDT gây rối loạn tiêu hóa (nôn, tiêu chảy) kèm theo nhức đầu, suy nhược, lo lắng, mất trí nhớ Các biểu hiện thần kinh chủ yếu ở các chi: Giảm các giác sờ mó, vô cảm ngoài da, chuột rút, dị cảm, giật cơ Ở liều cao hơn, có thế gây co giật liên tục
và tử vong
Độc mãn tính
DDT có thể gây ung thư Trong các thí nghiệm trên động vật, DDT và chất chuyển hóa của nó đã được chứng minh gây khối u ở phổi và gan động vật thí nghiệm DDT làm giảm số lượng tinh trùng, hạ thấp tỷ lệ sinh sản ở người và động vật, còn gây đẻ non, sảy thai và trẻ sơ sinh nhẹ cân
Trang 19Tác hại do phơi nhiễm lâu dài với DDT là tổn thương gan, thoái hóa hệ thần kinh trung ương, viêm da, suy nhược… Tác hại của DDT đặc biệt nghiêm trọng với những người tiếp xúc thường xuyên (ví dụ như công nhân sản xuất trực tiếp)
Thực tế ở các tồn lưu (ví dụ như khu vực Núi Căng, Phú Bình) đã ghi nhận nhiều trường hợp những người dân trực tiếp tham gia đục phá các thùng chứa, đào đất nhiễm về vãi ruộng bị mắc các chứng rối loạn da (nứt nẻ chảy nước vàng), ung thư gan, mất trí nhớ [10]
c Lan truyền và ảnh hưởng đến môi trường
Với đặc tính khó phân giải trong môi trường DDT có thể tồn lưu trong đất hàng chục năm Từ ô nhiễm đất tất yếu sẽ dẫn tới ô nhiễm hồ ao, sông ngòi do lan truyền qua nước mưa
DDT tồn tại trong môi trường, qua sinh vật tích lũy và thông qua các chuỗi thức ăn, có thể được phóng đại và khuếch tán có tính nguy hại rất lớn đối với con người và các loài sinh vật khác DDT phá hoại sự hấp thụ và đào thải bình thường đối với các chất Canxi, khiến cho vỏ trứng mỏng hơn, dễ vỡ
và làm cho trứng không nở thành chim non DDT phá hoại môi trường và sinh thái ở mức độ rất lớn Bắt đầu từ những năm 60 của thế kỷ XX, rất nhiều nước đã cấm sử dụng thuốc trừ sâu DDT
2.2.1.2 HCH và Lindan (hay thuốc trừ sâu 666)
Tên chung: BHC (Benzene hexachloride)
- HCH (Hexachlorcychlorhexane)
- Lindan: tên chung của 99% đồng phân gamma HCH
Tên thương mại:
- HCH: Benzex, Denzex, Dolmox
- Hexaful, Hexyclan, Kotol, Submar.v.v…
- Lindan: Exaggama, Forlin, Gammex, Inexit
Trang 20- Isotox Lindanrgam, Lindanlo, Bovigam.v.v…
HCH – 666 là bột trắng mùi sốc, không tan trong nước, dễ tan trong cồn, benzen aceton, xylen, dầu hỏa… Sản phẩm thương nghiệp là hỗn hợp 5 đồng phân, trong đó đồng phân gamma, hay lindan, còn gọi là gammexan, không vị, không mùi
a Độc cấp tính
- Theo cấp phân loại của WHO, HCH và Lindan có độc tính vừa
Đường hấp thu chủ yếu của Lindan và các đồng phân khác của HCH là đường hô hấp, tiêu hóa và qua da Tác động chủ yếu do phơi nhiễm với lindan
là kích thích hệ thần kinh gây co giật Các dấu hiệu và triệu chứng của nhiễm độc lindan và HCH từ nhẹ đến vừa là: chóng mặt, buồn nôn, đau dạ dày, nôn, suy yếu, dễ kích thích, lo âu và dễ cáu giận Ở thể nhiễm độc nặng hơn có thể gây giật cơ, co giật, khó thở Tiếp xúc với da có thể thấy phát ban
b Độc mãn tính
- Gây ung thư
- Gây quái thai và giảm tỷ lệ sinh sản
- Tác hại khác gồm hại đến thận, tủy, phá hủy niêm mạc mũi, suy nhược, cao huyết áp, co giật, thiếu máu Lindan còn gây giảm sản hay bất sản tủy xương, gan nhiễm mỡ, thoái hóa cơ tim, hoại tử mạch máu ở thận,
phổi, não
c Ảnh hưởng tới môi trường
Có tính tồn lưu và phát tán mạnh, dư lượng HCH và lindan có thể ghi nhận ở khắp thế giơi, cả ở những khu vực xa nơi sử dụng như ở Nam Cực và Bắc Cực Lindan và các sản phẩm phân giải cũng đã gây ô nhiễm nguồn nước ngầm và nước bề mặt
Trang 212.2.2 Ảnh hưởng của hóa chất bảo vệ thực vật
2.2.2.1 Ảnh hưởng của hóa chất bảo vệ thực vật đến môi trường
2.2.2.1.1 Tác động đến môi trường đất
Sự tồn tại và vận chuyển HCBVTV trong đất phụ thuộc vào nhiều yếu
tố cấu trúc hóa học của hoạt chất, các dạng thành phẩm, loại đất, điều kiện tiết thủy lợi, loại cây trồng và các vi sinh vật trong đất
Hóa chát bảo vệ thực vật có thể hấp thụ từ đất vào cây trồng, đặt biệt các loại rễ của rau như củ cà rốt và cỏ HCBVTV được hấp thu từ đất vào cỏ, súc vật ăn cỏ như trâu bò sẽ hấp thu toàn bộ dư lượng HCBVTV trong cỏ vào thịt và sữa
Nhiều thuốc bảo vệ thực vật có thể tồn lưu lâu dài trong đất, ví dụ DDT
và các chất clo hữu cơ sau khi đi vào môi trường sẽ tồn tại ở các dạng hợp chất liên kết trong môi trường, mà những chất mới thường có độc tính hơn hẳn, xâm nhập vào cây trồng và tích lũy ở quả, hạt, củ sau đó di truyền theo thực phẩm vào gây hại cho người, vật như ung thư, quái thai, đột biến gen Khi thuốc bảo vệ thực vật (chủ yếu là nhóm lân hữu cơ) xâm nhập vào môi trường đất làm cho tính chất cơ lý của đất giảm sút (đất cứng), cũng giống như tác hại của phân bón hóa học dư thừa trong đất Do khả năng diệt khuẩn cao nên thuốc bảo vệ thực vật đồng thời cũng diệt nhiều sinh vật cơ lợi cho đất, làm hoạt tính sinh học trong đất giảm Ở trong đất HCBVTV tác động vào khu hệ
vi sinh vật (VSV) đất, giun đất và những động vật khác làm hoạt động của chúng giảm chất hữu cơ không được phân hủy, đất nghèo dinh dưỡng
2.2.2.1.2 Tác động đến môi trường nước
Nước có thể bị ô nhiễm bởi việc đổ các HCBVTV thừa sau khi phun xong Đổ nước rửa dụng cụ sau khi phun xuống ao hồ Cây trồng được phun HCBVTV ngay cạnh mép nước, sự rò rỉ, xói mòn từ đất đã xử lý bằng HCBVTV hoặc HCBVTV rơi xuống từ không khí bị ô nhiễm, sử dụng HCBVTV cho xuống các sông hồ để giết cá, vớt cá để ăn
Trang 22Nghiên cứu của Bùi Vĩnh Diên, dư lượng HCBVTV là 58,33% số mẫu,
và 20% mẫu có dư lượng vượt quá tiêu chuẩn cho phép Nước giếng đào có 60% số mẫu có dư lượng HCBVTV và 20% mẫu có dư lượng vượt quá tiêu chuẩn cho phép Nước hồ thủy lợi 53,33% số mẫu có dư lượng HCBVTV và 26,66% mẫu có dư lượng vượt quá tiêu chuẩn cho phép Nước ruộng có 66,6% số mẫu có dư lượng HCBVTV và 33,3% số mẫu có dư lượng HCBVTV và không có mẫu nào vượt quá tiêu chuẩn cho phép [3]
2.2.2.1.3 Tác động đến môi trường không khí
Ô nhiếm không khí do HCBVTV chủ yếu do phun thuốc Ngay trong quá trình phun thuốc, các hạt nhỏ bay hơi tạo thành những hạt mù lỏng có thể bay rất xa theo gió Thông thường HCBVTV loại tương đối ít bay hơi như DDT cũng bay hơi trong không khí rất nhanh khi ở vùng khí hậu nóng gây ô nhiễm không khí và rất nguy hiểm nếu hít phải HCBVTV trong không khí Ở các vùng nhiệt đới, khoảng 90% HCBVTV photpho hữu cơ có thể bay hơi nhanh hơn Các thuốc diệt cỏ cũng dễ bị bay hơi nhanh trong quá trình phun thuốc, tuy nhiên theo Ewards có rất ít bằng chứng về tiếp xúc HCBVTV trong không khí gây ảnh hưởng nghiêm trọng lên sức khỏe con người trừ những nơi
mà HCBVTV được sử dụng trong những khu bị vây kín, không khí không được thông thoáng Tuy vậy HCBVTV cũng có thể bám dính theo các hạt bụi
và xâm nhập cơ thể con người qua hít thở hoặc bám lên rau quả xâm nhập cơ thể người qua ăn uống [4]
2.2.2.2 Ảnh hưởng của HCBVTV đến sức khỏe con người
Ảnh hưởng của HCBVTV đến sức khỏe con người bao gồm:
- Nhiễm độc cấp thường gặp là: các vụ tự tử, các vụ nhiễm độc hàng loạt do thức ăn bị nhiễm HCBVTV, các vụ tai nạn hóa chất trong công nghiệp
và sự tiếp xúc nghề nghiệp trong nông nghiệp là nguyên nhân của phẩn lớn các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng có liên quan tới HCBVTV [16]
Trang 23Các ảnh hưởng mạn tính do sự tiếp xúc với HCBVTV với liều lượng nhỏ trong thời gian dài có liên quan tới nhiều sự rối loạn và các bệnh khác nhau Các nghiên cứu khoa học đã tìm thấy những bằng chứng về mối liên quan giữa HCBVTV với bệnh ung thư não, ung thư vú, ung thư gan, dạ dày, bàng quang, thận Các hậu quả sinh sản: đẻ non, vô sinh, thai dị dạng, quái thai, ảnh hưởng chất lượng tinh dịch và dị ứng, tăng cảm giác da [8] Đặc biệt
là những liên quan của HCBVTV với ung thư, bạch cầu cấp ở trẻ em
Nguyễn Duy Thiết điều tra 100 hộ gia đình tại 5 đội xã Tam Hiệp, huyện Thanh Trì, Hà Nội thấy 73% có biểu hiện chứng như nôn nao, khó chịu, choáng váng, nhức đầu, mệt mỏi, buồn nôn, khó ngủ, ngứa và nóng rát các vùng da hở [14]
Cao Thúy Tạo tiến hành một nghiên cứu ngang, mô tả nguy cơ nhiễm độc HCBVTV trên người sử dụng tại một số vùng chuyên canh khác nhau
Kết quả cho thấy người sử dụng HCBVTV thường có biểu hiện mệt mỏi chóng mặt, tăng tiết nước bọt, mất ngủ Nồng độ HCBVTV/cm2
da sau khi phun gấp 2 lần trước khi phun, 32,4% đối tượng nghiên cứu có biểu hiện cường phó giao cảm [12]
Trần Như Nguyên, nghiên cứu trên 500 hộ gia đình ngoại thành Hà Nội thấy dấu hiệu phổ biến nhất sau khi sử dụng HCBVTV là chóng mặt, nhức đầu, buồn nôn thấy ở 70% đối tượng ngoài ra còn các triệu chứng ăn kém, hoa mắt, đau bụng (rối loạn giấc ngủ) [7]
Có thể nói nhiễm độc HCBVTV là một thực tế diễn ra thường xuyên liên tục ở tất cả các địa phương trong nước và trở thành một vấn đề lớn trong CSBVSK người lao động nông nghiệp ở nước ta hiện nay
Lê Kế Sơn tiến hành khám lâm sàng, cận lâm sàng cho 128 người thường xuyên tiếp xúc trực tiếp với HCBVTV và 47 người không tiếp xúc Kết quả thấy tỉ lệ bệnh khách nhau có ý nghĩa thống kê giữa nhóm tiếp xúc
Trang 24với HCBVTV và nhóm chứng là: hội chứng suy nhược thần kinh, hội chứng rối loạn thần kinh thực vật,viêm đường hô hấp trên mạn tính, hội chứng thiếu máu, tổn thương gan mạn tính và bệnh ngoài da Có sự liên quan chặt chẽ giữa tỉ lệ bệnh với nghề nghiệp và tuổi nghề [11]
2.2.3 Tình hình sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật trên thế giới và Việt Nam
2.2.3.1 Tình hình sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật trên thế giới
Trước thế kỷ XX, theo một số triết gia cổ đại cho biết thì việc sử dụng
HCBVTV đã có từ xa xưa qua việc dùng lá cây dải xuống chỗ nằm để tránh côn trùng đốt Tài liệu của Hassall mô tả việc sử dụng các chất vô cơ để tiêu diệt các loại côn trùng đã có từ thời Hy Lạp cổ đại, con người cũng đã biết sử dụng các loài cây độc và lưu huỳnh trong tro núi lửa để trừ sâu bệnh [4], [6] Giữa thế kỷ XVI người Trung Quốc đã biết dùng các chất thạch tín sau đó là Nicotin chiết suất từ cây thuốc lá để bảo vệ cây trồng [13] Cuối thế kỷ XIX các HCBVTV đã được sử dụng rộng rãi nhưng biện pháp hóa học lúc này vẫn chưa có vai trò đáng kể trong sản xuất nông nghiệp
Từ đầu thế kỷ XX đến năm 1960, HCBVTV hữu cơ ra đời làm thay
đổi vai trò của biện pháp hóa học trong sản xuất nông nghiệp Thuốc trừ nấm thủy ngân hữu cơ đầu tiên ra đời vào năm 1913, tiếp theo là các thuốc trừ nấm lưu huỳnh rồi đến các nhóm khác DDT đã được Zeidler tìm ra tại Thụy Sỹ năm 1924 Hàng loạt HCBVTV ra đời sau đó: Hợp chất phốt pho hữu cơ đã được phát minh năm 1942 [4] Clo hữu cơ (1940-1950), các hóa chất lân hữu
cơ, các hóa chất cacbamat (1945-1950) Hóa chất trừ cỏ xuất hiện muộn hơn, năm 1945 chất diệt cỏ carbamat lần đầu tiên được phát hiện ở Anh Biện pháp hóa học bị khai thác ở mức tối đa, từ cuối những năm 1950 những hậu quả xấu của HCBVTV gây ra cho con người và môi trường được phát hiện [8]
Từ năm 1960-1980, việc lạm dụng HCBVTV đã để lại những hậu quả
rất xấu cho môi trường và sức khỏe cộng đồng Trong nhân dân tư tưởng sợ
Trang 25hãi, không dám dùng HCBVTV xuất hiện, thậm chắ có người cho rằng cần loại bỏ không dùng HCBVTV trong sản xuất nông nghiệp Chắnh vì điều này các nhà khoa học đã đầu tư nghiên cứu các loại HCBVTV mới an toàn hơn đối với môi trường và sức khỏe con người Nhiều HCBVTV mới ra đời như hóa chất trừ cỏ mới, các HCBVTV nhóm perethroid tổng hợp, các HCBVTV bệnh có nguồn gốc sinh học hay tác động sinh học, các chất điều tiết sinh trưởng côn trùng và cây trồng Lượng HCBVTV được dùng trên thế giới không những không giảm mà còn liên tục tăng lên [8]
Từ những năm 1980 đến nay, vấn đề bảo vệ môi trường được quan
tâm hơn, vai trò của biện pháp hóa học vẫn đýợc thừa nhận Tý týởng sợ HCBVTV cũng bớt dần [8] Do hiểu biết tốt hõn về tác động qua lại của côn trùng và cây trồng, các loại HCBVTV đã được phát triển lên một tm cao mới cũng như đã có một chiến lược mới về công thức hóa học và các phương pháp
sử dụng Nhiều loại hóa chất mới, trong đó có nhiều HCBVTV sinh học có hiệu quả cao với dịch hại nhưng an toàn với môi trường ra đời [15] Sự phát triển mới này đã tạo ra cơ hội giảm bớt nguy cơ nhiễm độc HCBVTV Sản lượng HCBVTV thế giới tăng lên theo thời gian, năm 1955 thế giới sản xuất
ra faafn 400 nghìn tấn, thập niên 90 của thế kỷ XX sản xuất ra hơn 3 triệu tấn mỗi năm [16] Đến nay thế giới sản xuất khoảng 4,4 triệu tấn/năm với 2.537 loại HCBVTV [1] Những quốc gia có sản lượng, kim ngạch xuất nhập khẩu
và sử dụng HCBVTV đứng đầu thế giới là Trung Quốc và Hoa Kỳ
Trên đây là 2 quốc gia hàng đầu thế giới về sản lượng, kim ngạch xuất nhập khẩu và sử dụng HCBVTV:
Tại Trung Quốc để tăng cường tự chủ về HCBVTV, chắnh phủ Trung
Quốc đã gia tăng đầu tư vào ngành công nghiệp HCBVTV CHắnh vì vậy ngành công nghiệp sản xuất HCBVTV phát triển mạnh, hiện tại có hơn 2500 nhàm áy sản xuất lớn, nhỏ Sản lượng HCBVTV của Trung Quốc đã tăng
Trang 26trưởng nhanh, năm 2007 đạt 1731 nghìn tấn, năm 2008 đạt 1902 nghìn tấn Trung Quốc là nhà sản xuất lớn nhất trong ngành công nghiệp HVCBVTV toàn cầu Năn 2007 lần đầu tiên Trung Quốc vượt qua Hoa Kỳ, Trung Quốc đứng đầu thế giới về sản xuất, sử dụng HCBVTV và cũng là nước xuất khẩu lượng HCBVTV đứng hàng đầu thế giới Theo Tổng cục Hải quan Trung Quốc tổng lượng xuất khẩu HCBVTV năm 2008 là 485 nghìn tấn với kim ngạch hơn 2 tỷ USD
Tại Hoa Kỳ, từ 1966 đến 1986 nhu cầu đối với HCBVTV của nông
dân tăng rất mạnh, diện tích cây trồng được phun HCBVTV và chất diệt cỏ tăng gấp đôi 75% diện tích canh tác nông nghiệp của Hoa Kỳ đã và đang sử dụng HCBVTV Số HCBVTV nông dân sử dụng tăng từ 353 triệu kên 475 triệu Pound Ở Hoa Kỳ sản lượng HCBVTV được chi phối bởi khoảng 28 công ty lớn, Hoa Kỳ là một quốc gia xuất khẩu HCBVTV lớn, năm 2008 xuất khẩu 115 nghìn tấn, kim ngạch hơn 2 tỷ USD
Ngoài ra một số nước sử dụng nhiều như: Thái Lan, Nhật Bản, Brazil… Tuy vậy, mức đầu tư và cơ cấu tiêu thụ của các nhóm hóa chất tùy thuộc trình
độ phát triển và đặc điểm canh tác của từng nước [8] Trong 10 năm gần đây đã có những thay đổi trong ngành công nghiệp HCBVTV thế giới là những hóa chất có độc tính cao đã từng bước được loại ra khỏi thị trường
và thay vào đó là các loại HCBVTV ít độc hại hơn đối với môi trường và sức khỏe cộng đồng
2.2.3.2 Tình hình sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật tại Việt Nam
Giai đoạn trước năm 1957, biện pháp hóa học hầu như không có vị trí
trong sản xuất nông nghiệp Tháng 1 năm 1956 thành lập tổ hóa bảo vệ thực vật của Viện Khảo cứu trồng trọt đã đánh dấu sự ra đời của ngành Hóa BCTV
ở Việt Nam Năm 1961 Cục Bảo vệ thực vật được thành lập, là một cơ quan quản lý nhà nước thuộc bộ NN & PTNN HCBVTV được dùng lần đầu trong
Trang 27sản xuất nông nghiệp ở miền Bắc tại Hưng Yên (vụ đông xuân 1956-1957), miền Nam HCBVTV được sử dụng từ năm 1962 [10]
Giai đoạn từ năm 1957-1990, thời kỳ bao cấp việc nhập khẩu quản lý
và phân phối HCBVTV hoàn toàn do nhà nước thực hiện Lượng HCBVTV dùng không nhiều, khoảng 15.000 tấn thành phẩm/năm với hơn 20 chủng loại chủ yếu là thuốc trừ sâu và thuốc trừ bệnh [8] Thời kỳ 1976-1980 mỗi năm
cả nước sử dụng 16.000 tấn HCBVTV Thời kỳ 1986-1990 trung bình mỗi năm sử dụng 14.000 tấn HCBVTV, trong đó 55% là lân hữu cơ, 13% là clo hữu cơ, 12% là hợp chất carbamat còn lại là hợp chất thủy ngân, asen Đa phần là các hóa chất tồn lưu lâu trong môi trường hay có độ độc cao [13]
Giai đoạn từ 1990 đến nay, kể từ khi có chính sách đổi mới năm 1986,
thị trường HCBVTV đã thay đổi cơ bản Nền kinh tế thị trường nguồn hàng phong phú, nhiều chủng loại được cung cấp kịp thời, nông dân có điều kiện lựa chọn HCBVTV, giá cả ổn định có lợi cho nông dân [8] Lượng hóa chất
sử dụng trong nông nghiệp ở Việt Nam ngày càng tăng Trong đó phần lớn là hóa chất trừ sâu và còn lại là trừ cỏ, trừ bệnh, nhóm phosphore hữu cơ chiếm khoảng 56%, phổ biến nhát là Wolfatox và Monitor Đó là những loại thuốc độc hại cho môi trường và con người Giai đoạn gần đây cơ cấu tỉ lệ các loại HCBVTV đã được thay đổi đáng kể, nhiều loại hóa chất mới hiệu quả hơn, an toàn hơn với môi trường được nhập khẩu và sử dụng Năm 1991 hóa chất trừ sâu chiếm 83,3%, hóa chất trừ nấm chiếm 9,5%, hóa chất diệt cỏ 4,1%, những loại khác 3,1% [5] Đến năm 2008 tỉ lệ là hóa chất trừ sâu chiếm 37,9%, hóa chất trừ nấm 21,12%, hóa chất diệt cỏ 13,77%, hóa chất diệt côn trùng 23,46% và những loại khác 3,75% Lượng HCBVTV tiêu thụ qua các năm tăng dần, kin ngạch nhập khẩu HCBVTV tăng mạnh [5] Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, kim ngạch nhập khẩu HCBVTV và nguyên liệu năm
2007 là 382.830.015 USD tăng 25,4% so với cùng kỳ năm 2006, năm 2008 là
Trang 28473.760.692 USD tăng 23,8% so với cùng kỳ năm 2007 Nguồn HCBVTV được nhập khẩu về trong năm 2008 chủ yếu từ: Trung Quốc (200.262.568 USD), Singapore (91.412.585 USD) Hiện nay số lượng và chủng loại HCBVTV sử dụng ở nước ta tương đối cao so với khu vực [8]
Bộ NN & PTNN đã ban hành Quyết định sô 88/CT-BNN-BVTV quy định danh mục HCBVTV trên cây chè Theo quyết định các HCBVTV được
sử dụng trên cây chè bao gồm: HCBVTV (11 hoạt chất với 13 tên thương mại) Hóa chất trừ bệnh (4 hoạt chất với 3 tên thương mại) Hóa chất trừ cỏ (các loại hóa chất trừ cỏ được đăng kí sử dụng cho cây chè trong danh mục HCBVTV được phép sử dụng ở Việt Nam) [2] Một số loại HCBVTV đang được sử dụng phổ biến tại Thái Nguyên Tất cả các HCBVTV đều có thể gây
ra những ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người, do đó việc sử dụng HCBVTV cần được quản lý và sử dụng đúng kỹ thuật Những loại độc hại quá cần được hạn chế hoặc cấm một cách nghiêm ngặt Tuy nhiên những HCBVTV này ở một số nước đang phát triển vẫn được sử dụng rộng rãi nên tình trạng nhiễm độc hàng loạt vẫn đang xảy ra ở mức báo động [5]
Bảng 2.1: Giá trị xuất, nhập khẩu hóa chất bảo vệ thực vật ở Việt Nam
(Nguồn: Theo trang Faostat.Fao.Org)
2.2.4 Thực trạng về các kho lưu trữ hóa chất bảo vệ thực vật tại Việt Nam
Theo báo cáo từ Dự án Xây dựng năng lực nhằm loại bỏ hóa chất bảo
vệ thực vật (BVTV) tồn lưu tại Việt Nam do Bộ Tài nguyên – Môi trường, Chương trình Phát triển Liên Hiệp quốc (UNDP) và Tổ chức Lương Nông
Trang 29Liên Hiệp Quốc (FAO) thực hiện từ tháng 10-2009 đến nay, hiện có 1.153 điểm ô nhiễm hóa chất BVTV tồn lưu trên địa bàn 39 tỉnh, thành Trong đó,
có 240 điểm bị ô nhiễm đặc biệt nghiêm trọng, nguy hiểm hơn là có gần 300 điểm ô nhiễm nhưng đã được cải tạo làm nhà ở, xây dựng trường học, nhà văn hóa…
Cũng theo báo cáo này, hiện các kho hóa chất BVTV trên cả nước đang lưu giữ hơn 216 tấn, 37.000 lít hóa chất BVTV và 29 tấn bao bì thuộc loại độc hại, cấm sử dụng, kém phẩm chất dễ bị rò rỉ ra ngoài môi trường
Tại hội nghị, các ngành chức năng đã đặt mục tiêu đến năm 2015 sẽ xử
lý 240 điểm ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng do hóa chất BCTV tồn lưu gây ra Trong đó, Nghệ An 189 điểm; Hà Tĩnh 8 điểm; Quảng Bình, Quảng Trị, Thanh Hóa mỗi tình 7 điểm… (Danh mục điểm tồn lưu hóa chất bảo vệ thực vật gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
và đặc biệt nghiêm trọng Ban hành kèm theo Quyết định số 1946/QĐ-TTg ngày 21 tháng 10 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ) [1]
2.2.5 Thực trạng về kho hóa chất bảo vệ thực vật tại kho 206 – Công ty Cổ phần giống vật nuôi cây trồng Đông Triều
Kho hóa chất BVTV tồn lưu tại xã Bình Khê nằm trên khu đất của
“Công ty cổ phần giống vật nuôi và cây trồng Đông Triều ” có tọa độ địa lý là: X: 0379722, Y: 2335578, diện tích đã sử dụng làm kho chứa là 20,16 m2
Vị trí tiếp giáp kho thuốc:
- Tây Nam: Giáp với ao nuôi cá của người dân Độ dài từ nền kho hóa chất đến kè ao là 10m Độ cao từ nền kho đến kè ao là 2m Độ cao từ nền kho đến mặt nước là 2,5m Hiện tại ao vẫn được sử dụng để nuôi cá Ngay cạnh kho
có cây xà cừ
- Tây Bắc: Giáp với khu vườn trồng sắn của người dân Cửa vào kho thuốc nối liền với bờ tường bao quanh khu vườn trồng sắn của người dân, tường có độ dài 20m cao 2m, tường được xây lâu đã bị mục
Trang 30- Đông Nam: Giáp với vườn trồng xả và trồng nhãn của người dân Độ cao từ nền kho hóa chất đến vườn là 3m
- Đông Bắc: Có cửa ra vào của kho Trước cửa ra vào đã bị bao phủ bởi cây le, dương xỉ
Năm 1982 kho hóa chất thuốc BVTV được xây dựng nằm trong “Nông trường quốc doanh Đông Triều” Kho được xây dựng nhằm phục vụ cho nông nghiệp của nông trường lúc bấy giờ Năm 1986 kho đóng cửa và không được
sử dụng cho tới hiện tại Tường nhà kho đã bị mục diện tích đất bên trong kho
đã bị bỏ hoang nhiều năm, trong kho vẫn còn tồn lưu hóa chất BVTV DDT, thuốc trừ sâu 666, volfatox gồm có 1 thùng, 7 can và 6 bao tất cả đều bị hư hại Khi tới gần kho mùi hóa chất BVTV rất nồng Diện tích đất xung quanh kho hóa chất vẫn được người dân sử dụng để trồng trọt
Theo thông tin thu thập từ người dân khi đi đến gần kho mùi hóa chất bốc lên rất khó chịu đặc biệt là những ngày thời tiết thay đổi thất thường Môi trường không khí ô nhiễm nghiêm trọng, theo kết quả phân tích mẫu đất thì đều vượt so với QCVN 54:2013/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ngưỡng xử lý hóa chất bảo vệ thực vật hữu cơ khó phân hủy tồn lưu theo mục đích sử dụng đất, cho nên khi thời tiết nắng mưa, nóng lạnh thất thường nên mùi thuốc BVTV bốc nên gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng là điều tất yếu
Trong một thời gian dài không được sử dụng tất cả các dụng cụ chứa hóa chất BVTV DDT đều bị hư hỏng nghiêm trọng dẫn đến việc rò rỉ hóa chất
ra nền kho Theo thời gian, lượng hóa chất ngấm dần xuống đất và lan tỏa ra khu vực xung quanh đã gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
Trang 31PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Môi trường đất xung quanh kho hóa chất bảo vệ thực vật trong đất tại kho 206 – Công ty Cổ phần giống vật nuôi cây trồng Đông Triều trên địa bàn thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Các vấn đề môi trường đất và sức khỏe người dân liên quan đến việc tồn dư HCBVTV tại kho hóa chất bảo vệ thực vật trong đất tại kho 206 – Công ty Cổ phần giống vật nuôi cây trồng Đông Triều
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
* Địa điểm : Đề tài được thực hiện tại xã Bình Khê, thị xã Đông Triều
tỉnh Quảng Ninh
* Thời gian nghiên cứu : Từ tháng 9/2015 đến tháng 12/2015
3.3 Nội dung nghiên cứu
3.3.1 Điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội thị xã Đông Triều tỉnh Quảng Ninh
3.3.2 Đánh giá ảnh hưởng của tồn dư HCBVTV tại khu vực nghiên cứu
3.3.2.1 Đánh giá tồn dư HCBVTV trong đất
3.3.2.2 Đánh giá ảnh hưởng của tồn dư HCBVTV tới môi trường không khí
3.3.3 Đánh giá ảnh hưởng của HCBVTV tồn dư trong đất đến sức khỏe người dân
3.3.4 Đề xuất công nghệ xử lý ô nhiễm HCBVTV trên địa bàn nghiên cứu
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp
+ Điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội : Thu thập, sử dụng các tài liệu
có sẵn tại cơ sở thực tập, có liên quan tới đề tài nghiên cứu
Trang 32+ Số liệu: Thu thập và tổng hợp các số liệu đã phân tích trước đây để đánh giá khái quát về khu vực nghiên cứu
+ Tài liệu tham khảo: Tìm hiểu, thu thập, tổng hợp và sử dụng các tài liệu có sẵn trước đây liên quan tới đề tài để làm cơ sở nghiên cứu
3.4.2 Phương pháp lấy mẫu và phân tích
Đề tài tập trung tìm hiểu, khảo sát đánh giá mức độ ảnh hưởng của hóa chất bảo vệ thực vật dựa trên kết quả quan trắc lấy mẫu để xác định được mức
độ và phạm vi ô nhiễm tại địa điểm nghiên cứu như sau:
_Tiến hành lấy mẫu tại các vị trí: trong kho chứa hóa chất lấy 3 vị trí, bên ngoài kho chứa hóa chất chỗ giáp với khu vục trồng sắn của người dân tiến hành lấy 2 vị trí, trước cửa kho ta lấy tất cả 7 vị trí, về phía Tây Nam lấy
1 vị trí phía sau nhà kho ta lấy 2 vị trí
Tại mỗi vị trí lấy mẫu, tiến hành lấy mẫu đất theo tầng phẫu diện đất tùy theo mức độ phân bố hóa chất BVTV theo từng tầng phẫu diện: tầng đất trên không tính phần đất mới đã đổ (0 – 100cm), tầng đất giữa (100 – 150 cm); (150 -200cm); và tầng sâu (200 – 300cm) tùy theo mức độ xâm nhập của hóa chất BVTV
Mẫu được lấy tại các độ sâu khác nhau tại mỗi vị trí lấy mẫu đất nhằm phân tích đánh giá mức độ ảnh hưởng của hóa chất thuốc BVTV đến các tầng đất
để đóng gói và bảo quản