Những nội dung chính bao gồm:(mỗi phần đều kèm theo vd) Các khái niệm, định nghĩa Đặc điểm Những hình thức và cấp độ Những cách thông dụng để tạo tình huống gợi vấn đề 3.Thế nào là dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề? Dạy học phát hiện và GQVĐ là kiểu dạy học mà ở đó thầy giáo tạo ra những tình huống gợi vấn đề, điều khiển HS phát hiện vấn đề, hoạt động tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo để giải quyết vấn đề, thông qua đó kiến tạo tri thức rèn luyện kỹ năng và đạt được các mục tiêu học tập khác. IV.Đặc điểm của dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề. Học sinh được đặt vào một tình huống gợi vấn đề. Học sinh hoạt động tự giác, tích cực, chủ động sáng tạo, huy động tri thức và khả năng để giải quyết vấn đề. Mục tiêu dạy học không phải chỉ là làm cho HS lĩnh hội kết quả của quá trình PHVGQVĐ mà còn ở chỗ làm cho họ phát triển khả năng tiến hành những quá trình như vậy. =>Bản chất của dạy học PHVGQVĐ là quá trình nhận thức độc đáo dưới sự chỉ đạo hướng dẫn của GV , HS nắm được tri thức và cách thức hoạt động trí tuệ mới thông qua quá trình tự lực giải quyết các tình huống có vấn đề.
Trang 1Đề tài: Phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề
Áp dụng vào chương trình lớp 11
Trang 2- Dạy học giải quyết vấn đề
- Dạy học nêu và giải quyết vấn đề
- Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề
- Dạy học đặt và giải quyết vấn đề
Trang 32.Lịch sử hình thành và phát triển
a.Trên thế giới:
Phương pháp kiến tìm tòi –”Orixtic”
(A.Ja Ghecđơ, B.E Raicôp,…)
Đưa HS vào hoạt động tìm kiếm ra tri thức,
HS là chủ thể, là người sáng tạo ra hoạt động
M.I Mackmutov đã đưa ra đầy đủ cơ sở lý luận
của PPDH và giải quyết vấn đề
Những năm 70
của TK XX
Trước TK XIX
Trang 4b Ở Việt Nam:
- Người đầu tiên đưa ra phương pháp này là dịch giả Phan Tất Đắc Về sau, nhiều nhà khoa học nghiên cứa phương pháp này như Lê Khánh Bằng, Vũ Văn Tảo,Nguyễn Bá Kim… Tuy nhiên, những nghiên
cứu này chủ yếu chỉ nghiên cứu cho phổ thông và Đại học
- Gần đây, Nguyễn Kỳ đã đưa phương pháp phát
hiện và giải quyết vấn đề vào nhà trường tiểu học và thực nghiệm ở một số môn như Toán, Tự nhiên xã hội, Đạo đức…
Trang 5II.Cơ sở lý luận:
1.Cơ sở triết học:
Mâu thuẫn là động lực thúc đẩy quá trình phát triển
Một vấn đề được gợi ra cho học sinh học tập chính là
một mâu thuẫn giữa yêu cầu nhiệm vụ nhận thức với tri thức và kinh nghiệm sẵn có
2.Cơ sở tâm lý:
Con người chỉ bắt đầu tư duy tích cực khi nảy sinh nhu cầu tư duy.”Tư duy sáng tạo luôn luôn bắt đầu bằng một tình huống gợi vấn đề”
3.Cơ sở giáo dục học:
Phù hợp với nguyên tắc đảm bảo tính tích cực tự giác
của người học
Trang 6
III.Những khái niệm cơ bản:
1.Vấn đề:
Trong trường hợp vấn đề có thể là 1 câu hỏi hoặc 1 yêu cầu mà người học chưa có sẵn câu trả lời hoặc cách thực hiện
-Tình huống gợi vấn đề phải thỏa mãn:
+Tồn tại một vấn đề
+Gợi nhu cầu nhận thức
+Khơi gợi niềm tin ở khả năng bản thân
Trang 7VD: (Tình huống gợi vấn đề)
Cho hàm số y= tính đạo hàm của hàm số trên [2;3]?
Đây là một tình huống gợi vấn đề vì:
+Thứ nhất, tồn tại vấn đề vì: Học sinh chưa biết câu trả lời và cũng chưa có thuật giải trong tay để tìm ra lời giải cho bài toán trên
+Thứ hai, nó gợi nhu cầu nhận thức, HS đã biết tính đạo hàm của hàm số trên 1 khoảng
+Thứ ba, HS đã giải quyết thành công việc tính đạo hàm của hàm số trên 1 khoảng, nên khi tính đạo hàm của
hàm số trên 1 đoạn HS sẽ thấy có đôi chút khó khăn
hơn.Nhưng với hy vọng có thể suy nghĩ huy động vận dụng kiến thức về tính đạo hàm trên 1 khoảng và tại 1 điểm đã học để giải quyết bài toán
Trang 8
3.Thế nào là dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề?
Dạy học phát hiện và GQVĐ là kiểu dạy học mà ở đó thầy giáo tạo ra những tình huống gợi vấn đề, điều
khiển HS phát hiện vấn đề, hoạt động tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo để giải quyết vấn đề, thông qua đó kiến tạo tri thức rèn luyện kỹ năng và đạt được các
mục tiêu học tập khác
Trang 9IV.Đặc điểm của dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề.
- Học sinh được đặt vào một tình huống gợi vấn đề
- Học sinh hoạt động tự giác, tích cực, chủ động sáng tạo, huy động tri thức và khả năng để giải quyết vấn đề
- Mục tiêu dạy học không phải chỉ là làm cho HS lĩnh hội kết quả của quá trình PHVGQVĐ mà còn ở chỗ làm cho họ phát triển khả năng tiến hành những quá trình như vậy
=>Bản chất của dạy học PHVGQVĐ là quá trình nhận thức độc đáo dưới sự chỉ đạo hướng dẫn của GV , HS nắm được tri thức và cách thức hoạt động trí tuệ mới thông qua quá trình tự lực giải quyết các tình huống có vấn đề
Trang 10V.Những hình thức và cấp độ dạy học PHVGQVĐ.
Người học hợp tác phát hiện và giải quyết vấn đề
Thầy trò vấn đáp phát hiện và giải quyết vấn đề
Hình thức dạy học PHVGQVĐ
A.Hình thức
Trang 111.Người học độc lập phát hiện và giải quyết vấn đề.
Trong hình thức dạy học này thầy giáo chỉ tạo ra tình huống gợi vấn đề, người học tự phát hiện và giải
quyết vấn đề đó
VD:Giáo viên đưa ra bài toán:
Tính đạo hàm của các hàm số sau:
a.y=b.y=
Và yêu cầu học sinh độc lập giải quyết bài toán trên
Trang 12
2 Người học hợp tác phát hiện giải quyết vấn đề.
Hình thức này khác hình thức trên ở chỗ quá trình giải quyết vấn đề không diễn ra một cách đơn lẻ ở một người học mà có sự hợp tác giữa các người học với nhau chẳng hạn dưới hình thức học nhóm , học
Trang 13
3 Thầy trò vấn đáp phát hiện và giải quyết vấn đề.
Học trò làm việc không hoàn toàn độc lập mà có sự gợi ý dẫn dắt của thầy cô khi cần thiết Phương tiện
để thực hiện hình thức này là những câu hỏi của
thầy và những câu trả lời của trò Có sự đan kết,
thay đổi sự hoạt động của thầy và trò dưới hình thức vấn đáp
Trang 14VD:Giáo viên hướng dẫn học sinh giải phương rình sau bằng hình thức đàm thoại phát hiện và giải quyết vấn đề.
GV: Vậy ta sẽ tách theo công thức hạ bậc, còn
sinxcosx ta sẽ sử dụng công thức nào?
Trang 15
HS: Ta sử dụng công thức nhân đôi
với cost=, sint=
HS: Biến đổi nhận thấy: sin(2x+=
GV: Đến đây các em giải phương trình này bình
thường và rút ra kết luận
Trang 16
4 Giáo viên thuyết trình phát hiện và giải quyết vấn đề.
Thầy giáo tạo ra tình huống gợi vấn đề, sau đó chính bản thân thầy phát hiện vấn đề và trình bày quá trính suy nghĩ giải quyết chứ không phải đơn thuần nêu lời giải
Trang 17B.Cấp độ:
Những hình thức nêu trên đã được sắp xếp theo mức
độ độc lập của học sinh giảm dần vì vậy đó cũng là những cấp độ dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề
Trang 18VI.Thực hiện dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề.
Bước 1:Phát hiện và thâm nhập vấn đề
-Đề xuất và thực hiện hướng giải quyết
-Kiểm tra giải pháp
Việc này thường được thực hiện theo sơ đồ sau:
Trang 19Kết thúc
+ -
Trang 20Bước 3: Trình bày giải pháp.
Khi đã giải quyết được vấn đề đặt ra, người học trình bày lại toàn bộ từ việc phát biểu cho tới giải pháp Nếu vấn đề là bài toán cho sẵn thì không cần phát biểu lại vấn đề
Bước 4:Nghiên cứu sâu giải pháp
-Tìm hiểu khả năng ứng dụng kết quả
-Đề xuất những vấn đề mới có liên quan nhờ xét tương
tự, khái quát hóa, lật ngược vấn đề…và giải quyết (nếu
có thể)
Trang 21VD1:Khi hướng dẫn học sinh giải bài toán:
Cho tứ diện OABC có cạnh OA, OB, OC đôi một
vuông góc Gọi H là chân đường cao hạ từ O đến mặt phẳng ABC CMR:
a H là trực tâm của
tam giác ABC
b
Trang 22
Những cách thông dụng để tạo tình huống gợi vấn đề.
Lật ngược vấn đề
Dự đoán nhờ nhận xét trực quan và thực nghiệm.
Tìm sai lầm trong
lời giải.
Khai thác kiến thức
cũ, đặt vấn đề hình thành kiến thức mới.
Khái quát hóa
Xem xét tương
tự
Nêu lên một bài toán
mà việc giải quyết bài
toán đến kiến thức mới.
II.Những cách thông dụng để tạo tình huống gợi vấn đề
Trang 231.Dự đoán nhờ nhận xét trực quan và thực
nghiệm(tính toán, đo dạc,…)
VD:Tạo tình huống có vấn đề khi dạy quy tắc tính đạo hàm
Cho các hàm số: y=,y=,y=
a.Hãy tính đạo hàm các hàm số trên bằng định nghĩa?b.Hãy so sánh đạo hàm được tính bằng định nghĩa với biểu thức n,trong đó n là số mũ của x trong từng trường hợp
Trang 242.Lật ngược vấn đề.
VD1.Khi dạy bài 2 mặt phẳng song song, ta biết định lý Ta-lét: “Ba mặt phẳng đôi một song song chắn trên hai cát tuyến bất kì những đoạn thẳng tương ứng tỷ lệ”
Trang 25-Nếu d và d’ là 2 cát tuyến bất kì cắt 3 mặt phẳng song song (P),(Q),(R) lần lượt tại các điểm A,B,C và
A’,B’,C’ như hình trên thì:
=
-Ta có thể lật ngược vấn đề:
Cho 2 đường thẳng d và d’ chéo nhau và các điểm
A,B,C thuộc d, A’,B’,C’ thuộc d sao cho:
==
Khi đó, 3 đường thẳng AA’,BB’,CC’ lần lượt nằm trên
3 mặt phẳng song song tức là chúng cùng song song với một mặt phẳng hay không?
Trang 27
H M
Liệu tương tự trong không gian: Cho điểm O và mặt phẳng ().Gọi H là hình chiếu của O trên ().Khi đó khoảng cách của O đến () có bằng độ dài đoạn OH không?
Trang 284 Khái quát hóa.
VD.Khi dạy bài “Quy tắc tính đạo hàm” dùng định nghĩa tính đạo hàm của hàm số y=,y=,y= tại điểm tùy ý Dự đoán đạo hàm của hàm số y=
HS tính đạo hàm các hàm số trên theo định nghĩa
Để biết dự đoán trên có đúng hay không chúng ta cùng
đi vào bài học hôm nay “Quy tắc tính đạo hàm”
Trang 29
5.Khai thác kiến thức cũ, đặt vấn đề hình thành kiến
Trang 306.Nêu lên một bài toán mà việc giải quyết bài toán dẫn đến kiến thức mới.
VD Khi dạy bài “phương pháp quy nạp toán học” giáo
viên có thể ra bài toán:
Xét 2 mệnh đề chứa biến P(n) : “” và Q(n)=“” với n-Với n=1,2,3,4,5 thì P(n), Q(n) đúng hay sai?
HS có thể thay các giá trị của n vào P(n), Q(n)
-Nhưng nếu thay bằng với mọi giá trị của n thì
P(n),Q(n) đúng hay sai?
Vậy làm thế nào để cm mệnh đề trên?
Þ Hình thành “phương pháp quy nạp toán học”.
Trang 31
7 Tìm sai lầm trong lời giải.
VD: Cho HS tìm sai lầm và đưa ra lời giải đúng cho bài toán sau: “Gieo ngẫu nhiên một con súc sắc cân đối và
đồng chất hai lần Tính xác suất của biến cố tổng số chấm xuất hiện trên mặt của con súc sắc hai lần là 8”
Giải:
Tổng số chấm xuất hiện trên mặt của con súc sắc hai lần chỉ có thể là 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8,9, 10, 11, 12 nên không gian mẫu của phép thử này gồm 11 kết quả đồng khả năng
Trong đó chỉ có 1 kết quả cho tổng là 8 nên xác suất của biến cố này là:
Trang 32
▪ GV có thể hướng dẫn HS tìm sai lầm như sau:
▪ GV : Không gian mẫu là gì?
▪ HS : không gian mẫu là tập hợp tất cả các kết quả
có thể có của một phép thử.
▪ GV : Vậy các kết quả có thể có của phép thử
trong bài toán này là gì?
▪ HS : Kết quả của phép thử ở đây là con súc sắc thứ nhất xuất hiện mặt mấy chấm, con súc sắc thứ hai xuất hiện mặt mấy chấm.
▪ GV: Vậy các em có phát hiện ra lời giải của bài toán này sai ở chỗ nào không?
▪ HS : Lời giải trên sai về không gian mẫu.
▪GV: Yêu cầu HS sửa lại cho đúng.
Trang 33▪ HS: Có 6 khả năng xảy ra đối với con súc sắc
thứ nhất và 6 khả năng xảy ra đối với con súc xắc thứ hai do đó không gian mẫu của phép thử này
có 36 phần tử
Trong đó biến cố tổng số chấm xuất hiện trên
mặt của con súc sắc hai lần là 8 là 5 nên xác suất
là
Trang 34
VII.Yêu cầu về dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề trong toàn bộ quá trình học tập.
1.Vấn đề đòi hỏi học sinh tự khám phá lại toàn bộ tri thức trong chương trình
2.Mức độ yêu cầu học sinh phát hiện và giải quyết vấn
đề trong quá trình dạy học
Trang 35CẢM ƠN CÔ VÀ CÁC BẠN ĐÃ CHÚ Ý
LẮNG NGHE