Đa Hội vào thời kỳ sản xuất thu hút hàng vài ngàn lao động ở các nơi về đây thamgia sản xuất ,các hoạt động cung ứng dịch vụ và tiêu thụ sản phẩm tăng ,việc gia tăngnguồn lao động nói ri
Trang 1BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA MÔI TRƯỜNG
BÁO CÁO ĐỒ ÁN THÔNG TIN MÔI TRƯỜNG
Đồ án:
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ
SẮT THÉP ĐA HỘI- BẮC NINH
Nhóm 6_Lớp ĐH1KM
GVHD:Th.S Trịnh Thị Thủy
HÀ NỘI, THÁNG - NĂM 2014
Trang 2MỤC LỤC
Trang 3DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1 Nguồn phát loại từ các phân đoạn sản xuất
Bảng 2: Kết quả đo độ ồn tại làng sắt thép Đa Hội
Bảng 3: Thông số về chất lượng không khí khu vực dân cư( Đơn vị: μg/m3)g/m3)
Bảng 4: Vị trí lấy mẫu nước ngầm
Bảng 5: Kết quả phân tích chất lượng nước giếng
Bảng 6: Vị trí lấy mẫu nước mặt
Bảng 7: Kết quả phân tích chất lượng nước mặt
Bảng 8: Vị trí lấy mẫu nước thải
Bảng 9 : Kết quả phân tích nước thải sản xuất làng nghề Đa Hội
Bảng 10: Kết quả phiếu điều tra môi trường làm việc
Bảng 11: Kết quả sức khỏe người dân theo số liệu của phiếu điều tra (200 người ):Bảng 12: Thực trạng sức khoẻ người dân tại làng nghề
Bảng 13: Điều tra tình trạng tai nạn lao động trong làng nghề :
Bảng 14: Kết quả phiếu điều tra về quản lí giám sát
Bảng 15: Điều tra về người dân muốn tham gia vào hoạt động cải thiện môi trườngBảng 16: Điều tra đề xuất giải pháp để phát triển làng nghề và bảo vệ môi trường:Bảng 17: Nội dung quy hoạch làng Đa Hội
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1: Quy trình sản xuất sắt thép
Hình 2: Sơ đồ công nghệ xử lý nước thải sản xuất sắt Đa
Trang 4DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 6
1 Vũ Lệ Trang Chương I Động Lực , Tổng hợp, chỉnh sửa
5 Bùi Thu Ngân Chương VI : Tác động của môi trường tới
các hoạt động kinh tế - xã hội
Trang 5CHƯƠNG I : TỔNG QUAN VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN , KINH TẾ XÃ HỘI
1.1 Điều kiện tự nhiên
Làng nghề Đa Hội thuộc xã Châu Khê huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh nằm bên bờsông Ngũ Huyên Khê dọc đường quốc lộ 1A Hà Nội - Lạng Sơn cách Hà Nội 20 km vềphía Đông Bắc, làng nằm ở phía Tây huyện Từ Sơn, cuối tỉnh Bắc Ninh, phía Nam vàphía Bắc giáp thủ đô Hà Nội, tiếp giáp với huyện Đông Anh và Gia Lâm Toàn thôn ĐaHội có tổng diện tích đất tự nhiên là 195 ha
Nhiệt độ không khí hàng năm dao động trong khoảng từ 24,7oC – 26,8 oC Tháng
có nhiệt độ trung bình thấp nhất là tháng 1 (nhiệt độ từ 15,2 oC –17,1 oC) Tháng có nhiệt
độ trung bình lớn nhất là tháng 7 (nhiệt độ từ 33,2 oC – 38 oC), (tính trung bình qua nhiềunăm)
Số giờ nắng trong năm:
- Tổng số giờ nắng trong năm từ 1530 – 1776 giờ
Trang 6Nước sản xuất nông nghiệp chủ yếu lấy từ sông Ngũ Huyện Khê Ngoài ra dânlàng còn sử dụng nước ao, hồ nằm rải rác trong làng làm nguồn tưới tiêu tại chỗ.
Nước sản xuất chủ yếu phục vụ trong công đoạn làm mát cho các máy cán, kéo,đúc ở các xưởng sản xuất phần lớn là lấy từ nước giếng bằng máy bơm và một phần ít lấy
từ nước sông
Nước sinh hoạt trước đây các hộ trong làng dùng nước giếng đào để sinh hoạt vàmột ít dùng nước ao (để giặt giũ) nhưng hiện nay không còn sử dụng nữa mà hầu hết tất
cả đều dùng nước giếng khoan (UNIEF) để dùng vào mục đích sinh hoạt
1.2 Điều kiện kinh tế xã hội
1.2.1 Tình hình dân số
Theo số liệu thống kê của xã 31/12/2001 dân số toàn thôn là 6912 người, gồm
1214 hộ, trung bình mỗi năm dân số tăng 101 người Cơ cấu dân số: Nam 3732 người(chiếm 54 %) Nữ: 3179 (chiếm 46%) Sự chênh lệch giữa nam và nữ ở trong thôn cũng làđiều dễ hiểu Vì công việc sản xuất sắt thép phải làm trong điều kiện vất vả khắc nghiệt.Với diện tích đất canh tác 101 ha và số dân trên thì diện tích đất canh tác trên đầu người làquá ít Đây cũng chính là yếu tố thúc đẩy nghề sản xuất sắt thép phát triển
1.2.3 Giao thông
Toàn xã có một trục giao thông chính tuy đã được dải nhựa nhưng do lượng xe ô tôtải qua lại một ngày quá nhiều nên đã xuống cấp, nhiều ổ gà lại thêm rác thải không đượcthu gom quét dọn cẩn thận hàng ngày để vương vãi ra đường càng làm đường thêm bẩn,lầy lội ngay cả những ngày không có mưa làm cản trở việc đi lại nhất là vào những ngàymưa
Hiện tượng tắc đường hàng tiếng đồng hồ sảy ra thường xuyên ở đây, do lượng xe
ô tô và công nông đứng chờ xếp hàng lên xe quá nhiều cộng thêm lượng phế thải và thumua và than được đổ ngay cạnh lòng đường rộng 8m
1.2.4 Cơ cấu ngành nghề và tình hình sản xuất
Toàn bộ người dân trong làng sinh sống chủ yếu bằng nghề sản xuất sắt thép vànông nghiệp
a Nông nghiệp:
Trang 7Theo báo cáo của uỷ ban nhân dân xã Châu Khê, Đa Hội có tổng diện tích 195 ha,trong đó đất ở và sản xuất là 70 ha, đất nông nghiệp là 101 ha, đất ao, hồ là 24 ha Là mộtvùng có diện tích đất canh tác thấp nhất tỉnh, sản lượng lương thực làm ra chưa đủ đápứng cho nhu cầu sinh hoạt nên việc đầu tư thâm canh cho lĩnh vực sản xuất nông nghiệp
Theo sau sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước là cơ hội về kinh tế cho làngnghề Đa Hội Sản phẩm của Đa Hội không chỉ dừng ở phạm vi địa phương mà đã vươn
ra nhiều tỉnh trong cả nước thậm chí đã được xuất khẩu sang một số nước trong khu vực
Sản phẩm của làng có tính cạnh tranh cao Bởi giá sắt ở Đa Hội rẻ hơn giá sắt củacác cơ sở sản xuất Nhà nước Do một số nguyên nhân sau:
- Họ không cần chi cho lao động gián tiếp hay kỹ thuật (không có giám đốc, kếtoán, thủ kho, thủ quỹ chuyên trách các đoàn thể hay kỹ sư nào trong làng);
- Lương công nhân có vẻ cao, nhưng thực tế vẫn rẻ hơn lương của Nhà nước, vìcông nhân không có quyền lợi gì ngoài tiền trả cho sản phẩm theo cơ chế khoán (khôngphải trả cho ngày nghỉ cuối tuần, nghỉ phép, ốm đau hay tai nạn lao động)
- Việc kiểm soát thuế đối với cơ sở tư nhân còn nhiều sơ hở nên ít nhiều họ vẫnchịu mức thuế ít hơn các doanh nghiệp Nhà nước
Đa Hội vào thời kỳ sản xuất thu hút hàng vài ngàn lao động ở các nơi về đây thamgia sản xuất ,các hoạt động cung ứng dịch vụ và tiêu thụ sản phẩm tăng ,việc gia tăngnguồn lao động nói riêng và dân số nói chung của làng nghề đang từng ngày ảnh hưởngđến môi trường
Từ khi đất nước đổi mới, Đa Hội phát triền mạnh mẽ trở thành làng “ công nghiệpsản xuất thép “ Quy mô lớn Hiện nay, Đa Hội có gần 200 doanh nghiệp và gần 1000 cơ
sở sản xuất thép tương đương với quy mô doanh nghiệp Lợi nhuận không ngừng tănglên , đời sống vật chất nâng cao , trong làng có đến hàng trăm tỷ phú sắt thép Tuy nhiên
do sự phát triển quá nóng , không kiểm soát được , trong khi đó công tác xử lý bảo vệ môitrường bị xem nhẹ làm môi trường bị ô nhiễm nguồn nước , không khí ngày càng nặng nề
Trang 8Như vậy động lực về dân số & vấn đề di cư ,duy trì & phát triển của làng nghề lànguyên nhân gây ô nhiễm môi trường nước , không khí của làng nghề Đa Hội
Trang 9CHƯƠNG II : SỨC ÉP ĐỐI VỚI MÔI TRƯỜNG TỪ CÁC HOẠT ĐỘNG
KINH TẾ- XÃ HỘI
2.1 Các nguồn gây ô nhiễm
2.1.1 Hoạt động giao thông
Theo số liệu thống kê của xã Châu Khê ngày 31/12/2003, dân số toàn thôn Đa Hội
là 6912 người, gồm 1214 hộ và đến 31/12/2013 dân số toàn thôn là 8173 người Trungbình mỗi năm dân số tăng 101 người trên tổng diện tích đất ở là 70ha Dân số gia tăngdẫn đến việc gia tăng thêm các loại phương tiện giao thông, gây phát thải các loại khí như
CO2, SO2, NOx…
Bên cạnh đó, việc kiểm soát các phương tiện giao thông không hợp lý, lạm dụngviệc trở nguyên vật liệu, sử dụng các loại xe thô sơ, xe không đạt chất lượng phát thảicũng là nguyên nhân gây ô nhiễm không khí khói, bụi, CO, CO2, bụi chì, tiếng ồnphương tiện,…dẫn đến khu vực sinh sống bị ô nhiễm, không đảm bảo cho sức khỏe conngười và môi trường tự nhiên Theo thống kê của ủy ban nhân dân xã Châu Khê cả xã cóhơn 100 xe tải, gần 20 xe con và hàng chục công nông, khiến cho mật độ đi lại luôn quátải Vào những giờ cao điểm, lúc học sinh tan học, tắc ngẽn kéo dài hàng tiếng Chỉ số ônhiễm về tiếng ồn, bụi, đều vượt mức cho phép Có thể thấy, hoạt động giao thông tạiđây thải ra một lượng lớn khói bụi, và khí thải ô nhiễm, gây nguy hại đến môi trườngkhông khí xung quanh
Kết cấu hạ tầng nông thôn, cơ sở hạ tầng thấp kém Trong làng nghề, tình trạng hệthống đường xá ít về chất lượng kém về số lượng vẫn là phổ biến trong khi nhu cầu vậnchuyển lại rất lớn Đường từ cổng làng nghề vào 2km có hàng trăm xe tải lớn nhỏ chởphôi, chở nguyên liệu từ xưởng này sang xưởng khác, gây ùn tắc giao thông Mùi khói,bụi từ các xưởng sản xuất thép, khói của các phương tiện cơ giới hoà quyện với bụi củađường, gây ô nhiễm không khí nghiêm trọng
2.1.2 Hoạt động xây dựng và dân sinh
Trang 10hiểu là đầu tư lâu dài và cần thiết cho đời sống và sức khoẻ của con người Ở đây tư tưởngtiểu nông của người sản xuất đã phá vỡ tính cộng đồng trong quá trình phát triển bềnvững Vấn đề môi trường ít được quan tâm với tính chất tập thể trong một làng nghề Bêncạnh đó, sự thiếu hiểu biết về các lĩnh vực kinh tế, xã hội pháp luật là nguyên nhân dẫnđến hành vi phạm pháp một cách vô ý thức của người dân trong việc gây ra các hiểm hoạ
về môi trường
Tăng thêm nguồn nhân công cho làng nghề, đáp ứng được khoảng hơn 3000 laođộng cho nghề sản xuất sắt thép, tuy nhiên mức lương công nhân có vẻ cao nhưng trênthực tế vẫn rẻ hơn lương Nhà nước vì công nhân không được hưởng bất cứ quyền lợi nàongoài việc trả thù lao theo lượng sản phẩm làm ra Điều này làm cho mức thu nhập củangười dân vẫn còn thấp và đời sống chưa được nâng cao nên ý thức bảo vệ môi trường rấthạn chế (gần như là chưa có ý thức bảo vệ và giữ gìn môi trường)
Hàng năm dân cư ở các tỉnh khác tập trung về Đa Hội làm nghề , vào mùa có ngàytăng tới nghìn công nhân, công việc đáp ứng được khoảng hơn 3000 lao động cho nghềsản xuất sắt thép, thu hút hơn 4000 lao động từ các tỉnh khác.Vấn đề tăng nguồn lao độngđồng nghĩa với tăng nơi ở , sinh hoạt không theo quy hoạch gây ô nhiễm môi trường.Nhìn qua thấy mức lương công nhân có vẻ cao nhưng trên thực tế vẫn rẻ hơn lương Nhànước vì công nhân không được hưởng bất cứ quyền lợi nào ngoài việc trả thù lao theolượng sản phẩm làm ra Điều này làm cho mức thu nhập của người dân vẫn còn thấp vàđời sống chưa được nâng cao nên ý thức bảo vệ môi trường rất hạn chế (gần như là chưa
có ý thức bảo vệ và giữ gìn môi trường)
Dân số gia tăng không chỉ dẫn đến việc nơi ở chật chội, mất vệ sinh mà bên cạnh
đó còn dẫn đến việc xả thải ra môi trường nhiều hơn Những cụm dân cư sinh sống tại khuvực làng nghề Đa Hội thải ra nhiều rác thải và nước thải sinh hoạt, không qua xử lý mà xảtrực tiếp ra 4 ao tù trong làng và một khúc sông Ngũ Huyện Khê chảy qua làng, gây ônhiễm nghiêm trọng nguồn nước mặt tại đây
b Hoạt động xây dựng
Dân số gia tăng dẫn đến việc nơi ở chật chội nhu cầu thiết yếu về nhà ở cũng là vấn
đề được quan tâm, tuy nhiên các khu nhà ở được xây dựng tràn lan, không quy hoạch, các
Trang 11chất thải từ xây dựng như gạch ngói, vụn tường, gạch đá, xi măng vứt bừa bãi không cónơi tập kết và xử ý dẫn đến ô nhiễm môi trường.
Bụi và tiếng ồn cũng ảnh hưởng đến sức khỏe người dân và môi trường
2.1.3 Hoạt động sinh hoạt và nông nghiệp
Nước thải ở các hộ dân cư, thải ra từ tất cả các hoạt động ăn uống, nấu nướng, tắmgiặt, vệ sinh, nên chứa rất nhiều các chất khó xử lý Các thành phần ô nhiễm chính đặctrưng thường thấy là BOD5, COD, Nitơ và Phốt pho Trong nước thải sinh hoạt, hàmlượng Nitơ và Phốt pho rất lớn, nếu không được loại bỏ thì sẽ làm cho nguồn tiếp nhậnnước thải bị phú dưỡng - một hiện tượng thường xảy ra ở nguồn nước có hàm lượng Nitơ
và Phốt pho cao Ngoài ra dầu mỡ, xà phòng cũng rất khó xử lý, vì có những tính chất đặctrưng riêng nên phải tách riêng thành phần các chất Nước thải từ nhà vệ sinh, chứa phầnlớn các chất ô nhiễm, chủ yếu là: các chất hữu cơ như phân, nước tiểu, các vi sinh vật gâybệnh và cặn lơ lửng.vệ sinh thải hoàn toàn ra môi trường nước mặt như ao, hồ, gây mùihôi, tanh, ô nhiễm nguồn nước mặt, và làm chết các động vật thủy sinh
Những hoạt động này tiểm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm cao, vì vậy Đảng và nhà nướccần phải có những biện pháp cụ thể đến người dân, nhằm xử lý và giảm thiểu và đưa racác biện pháp phòng ngừa ô nhiễm
Tại làng nghề Đa Hội hiện nay vẫn chưa có hệ thống cấp thoát nước, vẫn hoàn toàn
sử dụng nước tự nhiên (nước ao, hồ, sông, ngòi) cho mục đích sinh hoạt Hệ thống xử lýnước thải, điểm tập kết chất thải… rất yếu kém hoặc không đáp ứng được nhu cầu củaphát triển sản xuất; chất thải không được thu gom và xử lý, dẫn đến nhiều làng nghề bị ônhiễm nghiêm trọng, cảnh quan bị phá vỡ Thay đổi việc sử dụng đất Cùng với việc pháttriển làng nghề, Diện tích đất, ao hồ bị bỏ hoang ngày càng nhiều Con sông Ngũ HuyệnKhê trở thành túi đựng nước thải, chất thải với dòng nước đen đặc, có nguy cơ bị bồi lấptrong thời gian tới Diện tích ao hồ, cánh đồng bị bỏ hoang ngày càng nhiều
Các nguyên nhân gây ô nhiễm không khí nảy sinh từ các khu vực nước thải sinhhoạt ao, hồ,… không được xử lý, tích tụ lâu ngày, khí thải từ bãi rác thải sinh hoạt, sẽ sinh
ra các khí ô nhiễm như CH4, H2S, các khí gây mùi ô nhiễm, khí thải phát sinh từ hoạtđộng giao thông, bay hơi các khí NH3 , từ hệ thống vệ sinh, dẫn đến ô nhiễm không khí
và các vi sinh vật gây bệnh dễ khuếch tán, gây ô nhiễm không khí
Trang 12Với đặc thù của làng nghề mang tính thuần nông, một phần không nhỏ các hộ gia đìnhvẫn còn sử dụng bếp than tổ ông để đun nấu, tuy với tần suất không lớn nhưng bếp than tổong nhưng khí thải có nguy cơ gây ô nhiễm cao như: CO, CO2, NO2, SO2,…Gây ônhiễm nghiêm trọng môi trường không khí.
Ngoài ra trên thực tế dân cư sống tại khu vực làng Đa Hội đang khai thác mộtlượng nước ngầm khá lớn vì chủ yếu người dân hầu hết dùng nước giếng khoan để phục
vụ cho mục đích sinh hoạt, dẫn đến môi trường nước ngầm tại khu vực bị ảnh hưởngnghiêm trọng
Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên vốn có của làng nghề Đa Hội có ảnh hưởng lớnđến việc vận chuyển nguyên liệu, nhiên liệu đầu vào, khả năng chứa đựng, phát tán, xử lýchất thải và khả năng tiêu thụ hàng hoá hay quy mô phát triển của sản suất Không gianchật hẹp là điều kiện lý tưởng cho việc tích luỹ chất thải, tăng nguy cơ ô nhiễm môitrường
2.2 Sức ép từ động lực chi phối duy trì và phát triển làng nghề sắt thép truyền thống đến môi trường.
Thôn Đa Hội, phường Châu Khê (Từ Sơn), có nghề rèn từ gần 500 năm nay Đếnnay nghề rèn ở đây vẫn phát triển mạnh và đã có nhiều dân làng lên Thăng Long lậpnghiệp (nay thuộc phố Lò Sũ) Xưa vốn là một làng nghèo, sản phẩm rèn của làng sảnxuất ra để phục vụ cho nông nghiệp như: lưỡi cuốc, xẻng, liềm cắt lúa, thuổng, mai, cày,bừa… Cho tới năm 1986, người làng Đa Hội dần chuyển từ nghề rèn thuyền thống sanglàm sắt thép để bắt kịp với nhu cầu xây dựng Các công cụ sản xuất còn thô sơ, không,kinh nghiệm rèn ắt cũng đều do các nghệ nhân tự truyền lại cho các thế hệ, chưa bắt kịpvới công nghệ tiên tiến, nên tạo sức ép lớn đến môi trường Nghề rèn ở Đa Hội, theo nhưdân làng kể đã có từ năm lập làng 1598 do một nhóm quan đại thần nhà Mạc đi lánh nạn Đứng đầu là ông Trần Đức Huệ - Con trai một thợ rèn ( hiện được nhân dân lập miếu thờtại làng) Từ khi hình thành nghề cho đến năm 1975, làng đã trải qua nhiều thăng trầm ,cũng có khi tham gia sản xuất vũ khí cho kháng chiến chống Pháp (1947 – 1954), chống
Mỹ (1963 – 1968) chủ yếu là dụng cụ đào công sự, lưỡi lê, móc cầu phao Dân làng cũngsản xuất phụ tùng xe đạp, cân gia công, liên doanh với các cơ sở của Nhà nước
Trang 13Như vậy làng nghề đã có từ rất lâu đời, Các sản phẩm sản xuất chủ yếu phục vụsản xuất nông nghiệp như: lưỡi cày, cuốc, liềm, công cụ sản xuất Từ khi đất nước đổimới, nhu cầu sắt thép xây dựng tăng cao, làng Đa Hội chuyển sang làm nghề sắt thépcung cấp cho thị trường Từ đó đến nay, Đa Hội phát triển mạnh mẽ trở thành làng "côngnghiệp sản xuất thép” qui mô lớn Có thể thấy làng Đa Hội đã và đang rất phát triển đikèm với sự phát triển là gánh nặng đè nén lên môi trường Tạo nhiều thách thức trong xử
ô nhiễm nguồn nước
Việc lạm dụng sử dụng nguồn nước ngầm cho sinh hoạt, và phục vụ hoạtđộng sản xuất dẫn đến suy kiệt nguồn tài nguyên, mặt khác việc phát thải các chất thải ônhiễm như dầu, mỡ,…vào nguồn nước mặt qua thời gian chất lượng nước ngầm cũng bịảnh hưởng và ô nhiễm
Quy mô sản xuất tại làng nghề đang từng bước phát triển trở thành một khu công
nghiệp nhỏ vẫn còn nhiều hạn chế Việc sản xuất sắt thép ở Đa Hội như hiện nay là do tựphát từ các hộ gia đình, tự các gia đình đứng lên thành lập xưởng và thuê lao động sảnxuất, việc thuê các lao động sản xuất ở Đa Hội không có một hợp đồng nào cả, lao động
ở đây không được hưởng các chế độ như: Nghỉ cuối tuần; nghỉ ốm nghỉ phép như laođộng cho các cơ sở của Nhà nước Trong một xưởng sản xuất không có giám đốc, không
Trang 14có kế toán mà chỉ có một người trong gia đình chuyên ghi chép lượng đầu vào, đầu ra
và giám sát công nhân của mình làm việc
Đa Hội hiện nay ước tính có 660 hộ có xưởng sản xuất, chiếm gần 1/2 số hộ, hơn1/2 còn lại là thuần nông do không có vốn và lao động hoặc đi làm thuê cho những hộ cóxưởng Trong 660 xưởng sản xuất chỉ có 84 xưởng cán là xưởng sản xuất chính và làxưởng trung tâm cho các loại xưởng khác, vốn mỗi xưởng khoảng 300 – 500 triệu đồng
Để phục vụ cho 84 xưởng cán này trong làng đã hình thành một loạt các xưởng khác.Trong đó có 14 xưởng tiện, mài, phay và cửa hàng buôn bán máy móc, dịch vụ có thể sửachữa, sản xuất và lắp đặt dây truyền mới; 36 xưởng hàn chập; 15 xưởng cắt hơi; 142xưởng cắt phế liệu bằng máy cắt cóc; 5 xưởng luyện trong làng và 35 xưởng luyện khác ởcác làng lân cận cung cấp phôi có cùng kích cỡ dùng được cho các xưởng cán Các xưởngsản xuất hoạt động có liên quan đến nhau thành chuỗi các mắt xích sản xuất dài ngắn
Nhiều cơ sở sản xuất sử dụng nguyên liệu rẻ tiền như các loại phế liệu đã qua táichế nhiều lần, hóa chất độc hại, làm tăng nguy cơ và mức độ ô nhiễm của làng nghề, tácđộng tiêu cực tới môi trường, sức khỏe cộng đồng và chính bản thân người lao động Cácnguyên liệu đốt chủ yếu sử dụng nguyên liệu từ thiên nhiên, với số lượng lớn là nguy cơgây suy thoái môi trường Cụ thể, theo báo cáo đánh giá của Sở Tài nguyên và Môitrường Bắc Ninh, mỗi ngày làng nghề sản xuất sắt thép Châu Khê sử dụng khoảng 40.000tấn than củi các loại và 18.000 m3 nước, thải ra môi trường 150 tấn rác thải công nghiệp(gồm các loại xỉ than, phế liệu, vẩy sắt) và trên dưới 1 tấn rác thải sinh hoạt, khoảng15.000m3 nước thải
Do sản xuất mang tính thủ công quy mô nhỏ (hộ gia đình), nhiều hộ giađình chỉ thực hiện một số công đoạn nhất định trong quy trình sản suất các sản phẩm sắtthép khác nhau theo hình thức phân công lao động, với công nghệ sản xuất lạc hậu vớimáy móc thiết bị cũ kĩ và chắp vá Quy hoạch sản xuất mang tính tự phát, nơi sản xuấtngay cạnh nơi sinh hoạt gia đình do đó điều kiện vệ sinh công nghiệp cũng như chấtlượng môi trường sống không đảm bảo
Trình độ sản xuất thấp và do lợi nhuận trước mắt nên chỉ quan tâm được đến sản
xuất, còn nhận thức về tác hại của ô nhiễm đến sức khỏe và ý thức trách nhiệm bảo vệmôi trường rất hạn chế
Trang 15Mặc dù môi trường làm việc bị ô nhiễm và điều kiện làm việc khắc nghiệt, nhưngcũng chỉ có gần 50% số công nhân trong làng nghề dùng các thiết bị bảo hộ lao động.Trong các xưởng mạ, nhiều công nhân không sử dụng gang tay, ủng, khẩu trangng m , nhi u công nhân không s d ng gang tay, ng, kh u trangạ, nhiều công nhân không sử dụng gang tay, ủng, khẩu trang ều công nhân không sử dụng gang tay, ủng, khẩu trang ử dụng gang tay, ủng, khẩu trang ụng gang tay, ủng, khẩu trang ủng, khẩu trang ẩu trang
ch ng hóa ch t Công nhân trong các xưởng mạ, nhiều công nhân không sử dụng gang tay, ủng, khẩu trangng n u, cán, và rút thép cũng ch dùng cácỉ dùng các
lo i gang tay thô s Không có thói quen dùng b o h lao đ ng cùng v i môi trạ, nhiều công nhân không sử dụng gang tay, ủng, khẩu trang ơ Không có thói quen dùng bảo hộ lao động cùng với môi trường ảo hộ lao động cùng với môi trường ộ lao động cùng với môi trường ộ lao động cùng với môi trường ới môi trường ườngnglàm vi c kh c nghi t và th i gian làm vi c kéo dài là nh ng nguyên nhân gây nên tờng ững nguyên nhân gây nên tỷ ỷ
l các b nh ngh nghi p và các tai n n lao đ ng trong làng ngh ều công nhân không sử dụng gang tay, ủng, khẩu trang ạ, nhiều công nhân không sử dụng gang tay, ủng, khẩu trang ộ lao động cùng với môi trường ều công nhân không sử dụng gang tay, ủng, khẩu trang
Không quan tâm đến xử lý chất thải và nhận thức về tác hại của ô nhiễm đến sứckhỏe và ý thức trách nhiệm bảo vệ môi trường rất hạn chế
Mặc dù môi trường làm việc bị ô nhiễm và điều kiện làm việc khắc nghiệt, nhưngcũng chỉ có gần 50% số công nhân trong làng nghề dùng các thiết bị bảo hộ lao động.Trong các xưởng mạ, nhiều công nhân không sử dụng gang tay, ủng, khẩu trang chốnghóa chất Công nhân trong các xưởng nấu, cán, và rút thép cũng chỉ dùng các loại gangtay thô sơ Không có thói quen dùng bảo hộ lao động cùng với môi trường làm việc khắcnghiệt và thời gian làm việc kéo dài là những nguyên nhân gây nên tỷ lệ các bệnh nghềnghiệp và các tai nạn lao động trong làng nghề
Tuỳ thuộc vào từng loại sản phẩm, trong chuỗi mắt xích đó mỗi xưởng chuyênđảm nhận một loại sản phẩm Với quy mô của từng xưởng thì không phải là lớn, nhưngvới số lượng 660 xưởng lớn nhỏ trong làng, đã hình thành nên làng công nghiệp có phầnsầm uất và ồn ào hơn cả nhiều khu công nghiệp của Nhà nước
Đồng nghĩa với việc phát triển quy mô sản xuất là sự gia tăng về lượng chất thải,nước thải, khí thải ra môi trường, nguy cơ ô nhiễm môi trường cao hơn rất nhiều lần
Sự phân bố sản xuất trong các xóm còn chưa đồng đều Chính vì vậy, sự phát triểnsản xuất còn bị hạn chế, năng xuất, chất lượng và giá thành sản phẩm đôi khi còn chưahợp lý, và chưa sản xuất được các mặt hàng có chất lượng cao Vấn đề này cũng gây giatăng ô nhiễm cho môi trường
Công nghệ sản xuất lạc hậu, thủ công, thiết bị thuộc thế hệ cũ được nâng cấp sửa
chữa Để rèn ra các sản phẩm ở làng Đa Hội xưa công cụ sản xuất rất đơn giản Công cụ
có máy móc cóc, máy đột, dập, máy bo để tuốn, cán máy cán nẹp, bể mạ… các loại công
cụ búa, đe, chạm, máy cắt hơi, máy tiện, nhiều công cụ do chính người thợ nơi đây sáng
Trang 16tạo ra như máy dập Nguyên liệu rèn sắt của làng Đa Hội được các lái buôn từ các làngbuôn mua về hoặc các gia đình tự mua về để sản xuất hay người dân tự mang tới để yêucầu thợ rèn sản phẩm theo yêu cầu Ngoài ra, một số trang thiết bị trong dây truyền sảnxuất là gia công chế tạo Bên cạnh ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm, tiêu hao nhiênliệu, điện, nước, còn kéo dài thời gian sản xuất và phát sinh ô nhiễm, đặc biệt là tiếng ồn,bụi, nhiệt.
Đây vừa là hậu quả tất yếu, vừa là do sự thiếu vốn thiếu thông tin, thừa lao động.Tính đặc thù này một mặt tạo nên những ưu thế có giá trị và không thể phủ nhận cho nghềtruyền thống Đó là hàng hoá đa dạng, độc đáo và có bản sắc văn hoá riêng Tuy nhiên nócũng là cản trở lớn cho việc chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, cải tiến công nghệ và phổ biếnnhững kiến thức, phát minh Công nghệ thủ công lậc hậu thường tiêu tốn nhiều nguyênnhiên liệu, chất lượng sản phẩm thấp và không ổn định, lượng xả thải, phế phẩm nhiều
Do đó làm cho giá thành sản phẩm tăng lên, khó cạnh tranh, giảm thu lãi, gây ô nhiễmmôi trường
Quan hệ sản xuất mang nét đặc thù là quan hệ họ hàng, dòng tộc, làng xã, không
hề có một hương ước của làng nào quy định cách thức xử lý và thu gom rác thải Phươngpháp thường áp dụng là vứt rác xuống ao, xuống bờ sông trong hoặc xung quanh làng.Các biện pháp đó không còn phù hợp với lượng rác thải ra tăng nhanh chóng cùng vớiquy mô sản xuất hiện nay cũng như trong tương lai gần Từ đó gây lãng phí tài nguyên vàphát sinh nhiều chất thải gây ô nhiễm môi trường
Quá trình vận chuyển nguyên vật liệu tới làng nghề tạo ra một lượng lớn Bụi từ
khói thải của các xe chuyên chở Ngoài ra một phần bụi bám trên bề mặt kim loại do chứanhiều tạp chất đất đá…cũng phát tán và môi trường không khí
Lợi nhuận từ việc sản xuất thép của làng nghề có xu hướng tăng, Nhiều hộ sảnxuất của Đa Hội đang xây dựng những nhà máy sản xuất thép công suất hàng trăm nghìntấn thép/năm Theo bà Phạm Thị Nghĩa, Phó Chủ tịch UBND phường Châu Khê, do làngnghề phát triển nhanh nên hiện nay, 95% số hộ và nhân khẩu của phường đã chuyên nghềthép và kinh doanh dịch vụ Thu nhập bình quân của Đa Hội đã đạt 2.600USD/người/năm Số lượng hộ gia đình “tỉ phú” của Đa Hội (vốn từ 10 tỉ đồng/hộ trở lên)
Số lượng các hộ sản xuất tăng là nguyên nhân dẫn đến việc sản xuất tràn lan, dẫn đến tình
Trang 17trạng cung quá cầu Thừa sản phẩm tiêu thụ, sản xuất sản phẩm tràn lan, gây ô nhiễmnghiêm trọng đến môi trường.
Thiếu vốn đầu tư cho sản xuất dẫn đến sự tạm bợ trong đầu tư phát triển sản
xuất, xây dựng nhà xưởng, mua sắm công cụ, trang thiết bị Đây là một trong nhữngnguyên nhân gây trở ngại cho đầu tư thay đổi công nghệ, cải thiện môi trường Hiện nayvốn sản xuất được huy động từ nhiều nguồn khác nhau Ngoài nguồn vốn tự tạo, ngườisản xuất có thể vay vốn của ngân hàng, vốn ứng trước của bạn hàng, hoặc qua con đườngliên kết, liên doanh Tuy nhiên nguồn vốn này cũng chỉ mới góp phần đầu tư phát triểnsản xuất, tạo thêm công ăn việc làm cho người dân, chứ chưa đủ để cải tạo và xây dựng
cơ sở hạ tầng, đầu tư quy hoạch tổng thể Do vậy, vấn đề quy hoạch xử lý chất thải chưađược đặt ra và đây cũng là vấn đề bức xúc trong làng nghề
Vốn đầu tư cho sản xuất hạn hẹp nên việc đầu tư xử lý ô nhiễm là hầu như không
có Các chất ô nhiễm không được xử lý tích tụ ngày càng nhiều gây ô nhiễm cho môitrường và người dân trong làng nghề
Dân số gia tăng không chỉ dẫn đến việc nơi ở chật chội, mất vệ sinh mà bên cạnh
đó còn dẫn đến việc xả thải ra môi trường nhiều hơn Những cụm dân cư sinh sống tại khuvực làng nghề Đa Hội thải ra nhiều rác thải và nước thải, không qua xử lý mà xả trực tiếp
ra 4 ao tù trong làng và một khúc sông Ngũ Huyện Khê chảy qua làng, gây ô nhiễmnghiêm trọng nguồn nước mặt tại đây
Sự phát triển thiếu quy hoạch Cho đến nay sự phát triển của làng nghề vẫn
mang tính chất tự phát Trong từng khâu sản xuất từ đầu vào đến đầu ra đều do từng hộquyết định Việc thu hẹp hay mở rộng quy mô sản xuất tuỳ thuộc rất lớn vào khả năngsản xuất và khả năng tiêu thụ của từng hộ gia đình Sự phát triển sản xuất vẫn theo kiểu
tự do mạnh ai người ấy làm, các cơ sở sản xuất được xây dựng một cách chắp vá, lộn xộnngay trên đất thổ cư Quy mô sản xuất nhỏ mang tính chất gia đình là đặc trưng cơ bảntrong tổ chức sản xuất kinh doanh ở các làng nghề Do vậy, có thể nói rằng, ở các làngnghề, sự phát triển sản xuất mới chỉ là con số cộng các hộ gia đình làm nghề sản xuất chứchưa tạo thành một chỉnh thể với những mối quan hệ chặt chẽ về kinh tế kỹ thuật và tổchức sản suất Đó là nguyên nhân khiến cho sự phát triển làng nghề chưa đi vào thế ổnđịnh, chưa có một định hướng tổng thể ở tầm vĩ mô cũng như tầm vi mô, cũng chưa thể
Trang 18có được quy hoạch xử lý chất thải phù hợp với quy trình sản xuất nhằm khắc phục tìnhtrạng ô nhiễm môi trường trong làng nghề hiện nay
- Các nguồn gây ô nhiễm ở một số công đoạn trong quy trình sản xuất.
Quá trình vận chuyển nguyên vật liệu tới làng nghề tạo ra một lượng lớn Bụi từkhói thải của các xe chuyên chở Ngoài ra một phần bụi bám trên bề mặt kim loại do chứanhiều tạp chất đất đá…cũng phát tán và môi trường không khí
Sản xuất thép có rất nhiều công đoạn trong đó các sản phẩm thải gây ô nhiễm môitrường nghiêm trọng cho khu vực làng nghề, và ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng dân
cư xung quanh, cụ thể các công đoạn như sau
Phân loại: Nguyên liệu sắt thép phế liệu được đưa đến từ các nơi bằng các loại
chuyên trở khác nhau, chúng được tập trung ở các bãi phế liệu xung quanh các xưởng sảnxuất Tại đây phế liệu sắt thép được những người công nhân của các xưởng sản xuấtphân loại thủ công bằng tay thành các loại có kích thước khác nhau Đây cũng là mộtnguyên nhân gây ra ô nhiễm nước, vì mỗi lần mưa xuống, nước mưa đem theo một lượnglớn những gỉ sắt, mạt sắt suống sông và ao hồ trong làng
Cắt : Ở công đoạn này những loại phế liệu sắt có kích thước lớn (chiều rộng có từ
10 –12 cm); phôi; sắt tấm, được đưa tới các máy cắt tạo kích thước nhỏ hơn (chiều rộng
từ 3 – 5 cm ), tạo điều kiện thuận lợi để đưa vào các lò nung Tại công đoạn này nước thảichủ yếu là nước làm mát có chứa dầu và mạt sắt Ô nhiễm bụi và tiếng ồn cũng phát sinhtại đây
Nung luyện phôi: Sắt phế liệu có kích thước phù hợp được đưa vào luyện để đúc
phôi Trong công đoạn này thải ra rất nhiều loại khí thải, COx, SOx, và đặc biệt là cácloại phế liệu có dính hoá chất hoặc sơn, khi nung các hoá chất, sơn cháy đem lại mùi rấtkhó chịu và độc hại
Nung cán: Sắt phế liệu có kích thước phù hợp và sắt qua cắt được gia công nhiệt
trong lò nung tuỳ theo mục đích mà được ủ chín 100% để rút sắt buộc hay chỉ nung chín30% để sản xuất thép xây dựng Trong công đoạn này nước thải chủ yếu là nước làm mátsản phẩm nên trong nước thải có lượng lớn mạt sắt và có nhiệt độ lớn Các loại khí thảiCOx , SOx, NOX, được sinh ra trong qúa trình đốt than cốc, và than đá Trung bình một
Trang 19ngày các xưởng sản xuất trong làng đốt 1000 – 1100 tấn than các loại, làm cho nhiệt độtrong xưởng sản xuất cao hơn bình thường từ 4oc – 5oc.
Cán: Thép sau nung và sau hàn chập được đưa tới các máy cán tạo thành hình yêu
cầu Nước trong công đoạn này được dùng để làm nguội sản phẩm do đó nước thải cónhiệt độ cao và chứa một lượng lớn các mạt sắt và dầu bôi trơn Tại đây sinh ra một lượnglớn bụi và nhiệt độ cao
Mạ: Thép kích thước nhỏ ( = 3 – 5 cm) sau khi được ủ đưa đi mạ để làm dây
thép gai và đinh Trong quá trình mạ đã thải ra nhiều chất thải độc như: HCL, H2SO4, Cr,
Ni, Zn
Ngoài ra trên thực tế các xưởng sản xuất thép của làng Đa Hội, xưởng cán sắt, ủthép (hay đúc thép) đều sử dụng nguồn nước ngầm tự khai thác Nước ngầm được hút lênbằng máy bơm liên tục trong thời gian làm việc, tức mỗi ngày một xưởng bơm 10 – 12giờ Theo tính toán để hút một khối nước thì một máy bơm phải hút mất 45 phút Như vậytrung bình mỗi ngày làm việc một xưởng khai thác một lượng nước ngầm là: (12x60)/45
16 m3 theo điều tra thì toàn làng Đa Hội có 84 xưởng cán thép và 5 xưởng mạ thép lànhững xưởng sử dụng nhiều nước nhất Vậy trung bình một ngày đêm toàn làng Đa Hộikhai thác một lượng nước từ 1226 m3 đến 1600 m3 dùng cho sản xuất
Nước thải ra từ quá trình sản xuất chủ yếu từ công đoạn làm mát Nước thải làmmát máy cán và làm mát sản phẩm chứa nhiều mạt sắt và dầu bôi trơn, dễ gây ô nhiễmnguồn nước mặt tiếp nhận
Trang 20§inh
Cắt hơiPhôi nga
Tiếng ồn
Bụi,tiếngồn
CO x , NO x , t 0 , SO 2 , bụi
Tiếng ồn
Trang 21Từ quy trình sản xuất trên, các nguồn thải phát thải vào môi trường từ các phân đoạn chính như sau:
Bảng 1 Nguồn phát loại từ các phân đoạn sản xuất
Phân loại: Tại đây phế liệu sắt
thép được những người công nhâncủa các xưởng sản xuất phân loạithủ công bằng tay thành các loại
có kích thước khác nhau
Nước mưa đem theo mộtlượng lớn những gỉ sắt, mạtsắt suống sông và ao hồ tronglàng
Nung cán: Sắt phế liệu có kích
thước phù hợp và sắt qua cắt đượcgia công nhiệt trong lò nung tuỳtheo mục đích mà được ủ chín100% để rút sắt buộc hay chỉ nungchín 30% để sản xuất thép xâydựng
Nước thải chủ yếu là nướclàm mát sản phẩm nên trongnước thải có lượng lớn mạt sắt
và có nhiệt độ lớn
Cán: Thép sau nung và sau hàn
chập được đưa tới các máy cán tạothành hình yêu cầu Nước trongcông đoạn này được dùng để làmnguội sản phẩm
Nước thải có nhiệt độ cao vàchứa một lượng lớn các mạtsắt và dầu bôi trơn
Môi không
khí
Cắt : Ở công đoạn này những loại
phế liệu sắt có kích thước lớn(chiều rộng có từ 10 –12 cm);
phôi; sắt tấm, được đưa tới cácmáy cắt tạo kích thước nhỏ hơn(chiều rộng từ 3 – 5 cm ), tạo điềukiện thuận lợi để đưa vào các lònung
Ô nhiễm bụi và tiếng ồn phátsinh tại đây
Nung cán: Sắt phế liệu có kích Các loại khí thải COx , SOx,
Trang 22thước phù hợp và sắt qua cắt được
gia công nhiệt trong lò nung tuỳ
1000 – 1100 tấn than các loại,làm cho nhiệt độ trong xưởngsản xuất cao hơn bình thường
từ 4oc – 5oc
Lò nung
Lò đúc
COx, NOx, Nhiệt , SO2, bụi
nguồn gốc gây ô nhiễm khí
Bụi, SO2, NOx, CO và tiếngồn
Trang 23CHƯƠNG 3 : HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC KHÔNG KHÍ
Ô nhiễm môi trường tại làng nghề là dạng ô nhiễm phân tán trong phạm vi mộtkhu vực (thôn, làng, xã) Do quy mô sản xuất nhỏ, đan xen với khu khu sinh hoạt nên đây
là loại hình ô nhiêm khó quy hoạch và kiểm soát hơn nữa ô nhiễm môi trường tại làngnghề mang nét đặc thù của hoạt động sản xuất theo làng nghề và loại hình sản phẩm vàtác động trực tiếp tới môi trường trong khu vực
3.1 Hiện trạng môi trường không khí
Các đặc trưng về môi trường không khí trong làng nghề tái chế kim loại bao gồmtiếng ồn, khí độc như CO, SO2, NOx và bụi
Để đánh giá hiện trang môi trường làng nghề nhóm tiến hành quan trắc phân tích 4 mẫu tại 4 vị trí khác nhau xung quanh làng
Tiếng ồn tại khu chợ và xung quanh khu sản xuất vượt tiêu chuẩn cho phép 14-15dBA vào khoảng thời gian từ 6 21h, ngay cả vào khung giờ nhảy cảm từ 21-6h tiếng ồngần khu sản xuất cũng vượt quá QCVN 26:2010 9dBA Điều này ảnh hưởng trực tiếp tớisức khỏe của người lao động và những người xung quanh luôn phải chịu đựng độ ồn vượtquá quy chuẩn
3.1.2 Bụi và khí độc
Bảng 3: Thông số về chất lượng không khí khu vực dân cư(Đơn vị: μg/m3)g/m3)
Trang 24TT Kí hiệu
mẫu
Vị trí lấy mẫu
105°55'13"E
760 600
105°55'13"E
920 700
sản xuất
21°7'17"N 105°55'29"E
890 780
0,45
Tương tự như trong khu vực sản xuất, hàm lượng CO trong không khí vượt tiêu chuẩncho phép trung bình 1 giờ từ 1 đến 1.3 lần
Ngoài khu sản xuất thì tại cánh đồng hay chùa, chợ làng hàm lượng bụi và CO ởmức xấp xỉ quy chuẩn còn Pb và SO2 nằm dưới giới hạn cho phép Nguyên nhân khôngchỉ là do khí thải từ các khu sản xuất khuếch tán tới mà còn do các phương tiện giaothông vận chuyển vật liệu và những người trong làng
Do không có quy chuẩn đánh giá hàm lượng bụi sắt nên ảnh hưởng của loại bụi này tớimôi trường rất khó kiểm soát
3.2 Hiện trạng môi trường nước
Đặc trưng của môi trường nước làng nghề Đa Hội là ô nhiễm các thông số COD, BOD5,kim loại và Coliform
3.2.1 Nước ngầm.
Cũng như nhiều khu vực khác trong tỉnh, thôn Đa Hội nhân dân sử dụng nướcgiếng khoan vào mục đích sinh hoạt Do hàng ngày khai thác với lượng lớn nước do đónước ngầm ở đây tụt khá sâu vào mùa khô, cho nên hầu hết các hộ phải khoan giếng sâudưới 25 m mới có nước sử dụng