Trong quá trình làm luận văn em đã thực sự dành nhiều thời gian cho việc tìm kiếm cơ sở lý luận, thu thập dữ liệu; vận dụng kiến thức để phân tích, đánh giá và đề xuất một số giải pháp n
Trang 1Bộ GIáO DụC Và ĐàO TạO TRường đại học bách khoa hà nội
-o0o -
NGUYỄN MINH VIỆT
Đề tài luận văn : MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO TẠI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CễNG NGHIỆP HÀ NỘI
luận văn thạc sỹ khoa HọC
Chuyên Ngành quản trị kinh doanh
Trang 2NGUYỄN MINH VIỆT
Đề tài luận văn:
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
Chuyên ngành : QUẢN TRỊ KINH DOANH
TS NGUYỄN THỊ LỆ THÚY
Trang 3
LỜI CAM ĐOAN
Hội nhập kinh tế toàn cầu, các doanh nghiệp Việt Nam đứng trước những cơ hội mới cùng những thách thức mới, Trường ĐH Công nghiệp cũng đang gặp những khó khăn thách thức trong tiến trình hội nhập chung Sau quá trình học tập và nghiên cứu tại Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội em đã chủ động đề nghị và được chấp nhận cho làm tốt
nghiệp theo đề tài: “Một số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo tại
trường Đại học Công nghiệp Hà Nội”
Trong quá trình làm luận văn em đã thực sự dành nhiều thời gian cho việc tìm kiếm cơ sở lý luận, thu thập dữ liệu; vận dụng kiến thức để phân tích, đánh giá và đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo tại trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
Em xin cam đoan: luận văn này là của em tự làm và chưa được công bố ở bất kỳ dạng nào
Trang 4
MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH VẼ VÀ BIỂU ĐỒ 4
PHẦN MỞ ĐẦU 6
1 Lý do chọn đề tài 6
2 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 8
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
4 Phương pháp nghiên cứu 9
5 Ý nghĩa của đề tài 9
6 Bố cục của luận văn 9
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO 11
1.1 Các khái niệm cơ bản về chất lượng và chất lượng dịch vụ 11
1.1.1 Quan niệm về chất lượng và chất lượng dịch vụ 11
1.1.2 Chất lượng dịch vụ và mô hình khoảng cách chất lượng dịch vụ 13
1.1.3 Chất lượng trong giáo dục đào tạo đại học 15
1.2 Các mô hình quản lý chất lượng đào tạo 21
1.2.1 Mô hình BS5750/ISO 9000 21
1.2.2 Mô hình quản lý chất lượng tổng thể (TQM-total Quality Management) 23
1.2.3 Mô hình các yếu tố tổ chức (Organizational Elements Model) 26
1.2.4 Mô hình tổng thể quá trình đào tạo 28
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo 28
1.3.1 Nhóm các yếu tố bên trong 28
1.3.2 Nhóm các yếu tố bên ngoài 36
1.4 Đánh giá chất lượng đào tạo 38
1.4.1 Mục đích của việc đánh giá chất lượng đào tạo 38
1.4.2 Nội dung đánh giá 38
1.4.3 Quy trình kiểm định và đánh giá chất lượng đào tạo 39
1.5 Phương pháp đánh giá chất lượng đào tạo 39
1.5.1 Đánh giá điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo 39
1.5.2 Khảo sát sự hài lòng của người học 44
1.5.3 Đánh giá chất lượng đào tạo của người sử dụng lao động 45
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI 46
2.1 Khái quát chung về trường Đại học Công nghiệp Hà Nội 46
2.1.1 Lịch sử phát triển của Nhà trường 46
2.1.2 Về cơ sở vật chất 47
2.1.3 Về Quản lý tài chính 49
2.1.3 Chức năng nhiệm vụ chính của trường 49
2.1.4 Nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của nhà trường 51
2.2 Phân tích thực trạng chất lượng đào tạo tại trường Đại học Công nghiệp Hà Nội 56
2.2.1 Về công tác tuyển sinh 56
2.2.2 Về đội ngũ cán bộ, giáo viên, công nhân viên 59
2.2.3 Phân tích về chất lượng quá trình đào tạo của trường 65
2.2.4 Phân tích công tác rèn luyện của học sinh sinh viên 73
2.2.5 Công tác biên soạn chương trình, giáo trình 74
2.2.6 Chương trình và kế hoạch đào tạo của trường 76
2.3 Đánh giá về chất lượng đào tạo tại Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội 76
Trang 52.3.1 Đánh giá công tác tuyển sinh đầu vào 77
2.3.2 Đánh giá cơ sở vật chất của trường 79
2.3.3 Công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho sinh viên 80
2.3.4 Học tập của sinh viên trên lớp và công tác giáo viên chủ nhiệm 82
3.3.5 Đánh giá kết quả sinh viên ra trường 83
2.3.6 Đánh giá về công tác quản lý của cán bộ trong trường 86
2.3.7 Đánh giá chất lượng đào tạo từ phía các nhà doanh nghiệp 89
CHƯƠNG 3 : MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI 96
3.1 Định hướng phát triển của nhà trường trong thời gian tới 96
3.1.1 Phương hướng phát triển chung 96
3.1.2 Các nhiệm vụ chính 99
3.2 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo của trường Đại học Công nghiệp Hà Nội 100
3.2.1 Giải pháp thứ nhất: Nâng cao trình độ, chất lượng của đội ngũ giáo viên 100
3.2.2 Giải pháp thứ hai: Đổi mới mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo 108
3.2.3 Giải pháp thứ ba: Tăng cường việc kiểm tra của giáo viên đối với học sinh sinh viên 115
3.2.4 Giải pháp thứ tư: Kiểm tra đánh giá công tác giảng dạy của giáo viên 118
3.2.5 Giải pháp thứ năm: Nâng cấp trang thiết bị, cơ sở vật chất hạ tầng 121
3.2.6 Giải pháp thứ sáu: Xây dựng mối liên hệ với các doanh nghiệp 124
3.2.7 Giải pháp thứ bảy: Giáo dục phẩm chất, nhân cách và thái độ nghề nghiệp cho sinh viên- sinh viên 126
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 128
TÀI LIỆU THAM KHẢO 130
PHỤ LỤC 131
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH VẼ VÀ BIỂU ĐỒ
Trang
Bảng 1.1: Quản lý chất lượng tổng thể trong giáo dục đại học ……….24
Bảng 2.1: Quản lý tài chính của nhà trường .49
Bảng 2.2: Số lượng hồ sơ đăng kỳ vào trường năm 2009-2011……….56
Bảng 2.3: Các cấp đào tạo của nhà trường……… 58
Bảng 2.4: Số lượng giáo viên của trường qua các năm …….……….… 59
Bảng 2.5: Đội ngũ giáo viên giáo viên của trường 2010 ……….………….… 60
Bảng 2.6: Kết quả thi đua cán bộ viên chức năm 2010- 2011……… … ….61
Bảng 2.7: Kết quả thi giáo viên dạy giỏi các cấp năm 2010 ……… ….… 62
Bảng 2.8: Đề tài nghiên cứu khoa học của trường năm 2010-2011……… … 64
Bảng 2.9: Kết quả bồi dưỡng cán bộ giáo viên năm 2010-2011 ……… 65
Bảng 2.10: Bảng kết quả học tập của trường năm 2010-2011 ……….… 68
Bảng 2.11 : Bảng tổng kết HSSV tốt nghiệp ra trường năm 2010-2011 ……… 69
Bảng 2.12: Kết quả thi Sinh viên giỏi của trường năm 2010-2011……… 70
Bảng 2.13: Chất lượng đào tạo lý thuyết và thực hành 72
Bảng 2.14: Bảng xếp loại kết quả rèn luyện toàn trường năm 2010-2011… … 74
Bảng 2.15: Thống kê biên soạn chương trình, giáo trình ……… … 75
Bảng 2.16: Số lượng hồ sơ đăng ký vào trường năm 2009-2011……… 77
Bảng 2.17: Thời gian, khối thi và môn thi tuyển sinh đầu vào của trường……… 78
Bảng 2.18: Điều kiện đảm bảo cơ sở vật chất……… 80
Bảng 2.19: Tình hình học tập của HSSV trên lớp……… 82
Bảng 2.20 : Kết quả điều tra sinh viên sinh viên có việc làm……… 83
Bảng 2.21: Kết quả tổng hợp điều tra sinh viên đã tốt nghiệp ………84
Trang 8Bảng 2.22: Đánh giá công tác quản lý các cán bộ của trường ………86
Bảng 2.23: Mức độ quan tâm của doanh nghiệp theo các tiêu chí khi tuyển dụng lao động ……… …… …90
Bảng 2.24: Tổng hợp phiếu điều tra đánh giá các kỹ năng của người lao động từ phía người sử dụng………91
Bảng 3.1: Kế hoạch dự kiến tuyển sinh của trường đến năm 2012 … ………… 98
Bảng 3.2: Thanh toán tiền giảng thêm giờ cho giáo viên 103
Hình 1.1 : Mô hình 5 khoảng cách chất lượng dịch vụ……… 14
Hình 1.2: Mô hình TQM đảo ngược ……… 26
Hình 1.3: Mô hình tổng thể của quá trình đào tạo……… 28
Hình 1.4: Quan hệ giữa mục tiêu chất lương, hiệu quả đào tạo ……… 30
Hình 1.5: Qui trình đánh giá và kiểm định chất lượng ………39
Hình 2.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy nhà trường ĐHCN ……… 54
Hình 2.2: Biểu đồ đánh giá độ đồng đều chất lượng đào tạo ……… 85
Hình 2.3: Kết quả điều tra ý kiến của cán bộ quản lý của Nhà trường………… .88
Hình 3.1 : Sơ đồ về xây dựng tổ chức biết học hỏi trong trường ……….107
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngày nay với sự tăng nhanh của dân số thế giới, nguồn nguyên liệu ngày càng khan hiếm, tiềm lực của mỗi quốc gia không còn phụ thuộc vào nguồn tài nguyên thiên nhiên sẵn có, vào nguồn nhân công rẻ Sức mạnh đó giờ đây phụ thuộc vào kiến thức, kỹ năng và chất lượng của nguồn nhân lực
mà họ sở hữu để từ đó tìm ra các nguồn năng lượng mới và các công nghệ hiện đại Hơn nữa, xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đang là thời cơ và cũng là thách thức lớn, mở ra cơ hội giao lưu và phát triển Các quốc gia kém phát triển có thể tranh thủ thời cơ, bằng chiến lược đi tắt đón đầu để tiếp cận, tiếp nhận khoa học công nghệ kỹ thuật tiên tiến và học tập những kinh nghiệm quản lý, điều hành của các quốc gia phát triển Các nước phát triển mở rộng thị trường, thị phần và giảm chi phí sản xuất bằng việc sử dụng nhân công bản địa với giá rẻ, tăng dịch vụ bán và chuyển giao công nghệ, chuyên gia Trong bối cảnh đó, để trở thành cường quốc chính là đào tạo được, sở hữu được lực lượng lao động có trình độ cao, thích ứng nhanh với sự thay đổi của khoa học công nghệ và nền kinh tế toàn cầu hướng vào thị trường
Việt Nam là một đất nước đang phát triển ở trình độ bình thường Đảng
và nhà nước ta ý thức được tầm quan trọng của phát triển giáo dục và khoa học công nghệ Báo cáo chính trị của BCH Trung Ương Đảng Cộng sản Việt
Nam tại đại hội IX đã chỉ rõ: “phát triển kinh tế, công nghiệp hoá, hiện đại
hoá là nhiệm vụ trung tâm Con đường công nghiệp hoá của Việt Nam cần và
có thể rút ngắn thời gian so với các nước đi trước… gắn công nghiệp hoá với hiện đại hoá, tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ tiên tiến, hiện đại về khoa học – công nghệ, từng bước phát triển kinh tế tri thức Phát huy nguồn lực trí tuệ và sức mạnh tinh thần của người Việt Nam, đặc biệt coi trọng phát
Trang 10triển giáo dục, khoa học và công nghệ, xem đây là nền tảng và động lực của
sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá” Trong Báo cáo chính trị của BCH
Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam tại đại hội IX còn khẳng định “Đưa
nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá tinh thần tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường; thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về căn bản; vị thế của nước ta trên trường quốc tế được nâng cao”
Bước vào thế kỷ mới, do bước tiến nhảy vọt của khoa học - công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin, thế giới đi vào nền văn minh trí tuệ với sự hình thành và phát triển của kinh tế tri thức Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế vừa mở ra thời cơ vừa đặt các nước đang phát triển đứng trước những thách thức lớn của quá trình cạnh tranh mang tính toàn cầu Trong bối cảnh chung đó, các nước đều coi trọng nguồn lực con người và coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, và đầu tư cho giáo dục được coi như đầu tư cho sự phát triển bền vững Với nhận thức giáo dục là cánh cửa đi vào CNH - HĐH Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã dạy rằng " Vì lợi ích mười năm ta phải trồng cây, vì lợi ích
trăm năm ta phải trồng người" là có ý nghĩa như vậy
Từ lời dạy của Bác và nhiệm vụ đặt ra ở trên cho giáo dục là một trách nhiệm nặng nề, trong đó có trách nhiệm xây dựng nguồn nhân lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đào tạo được đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật có trình độ cao, nắm vững và ứng dụng các tri thức trong thực tiễn, đổi mới và chuyển giao công nghệ, thực hiện thắng lợi công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Để làm được điều đó Bộ giáo dục và Đào tạo đang nỗ lực cố gắng đưa
ra các giải pháp tích cực giúp giáo dục Đại học, Cao đẳng, Trung cấp chuyên
Trang 11nghiệp tiến kịp các nước trong khu vực và trên thế giới, còn bản thân tại các trường Đại học, Cao đẳng phải làm gì thiết thực nhất? Phải có những giải pháp để không ngừng nâng cao chất lượng dạy và học của mình Là một giáo viên hiện đang giảng dạy tại trường Đại học Công nghiệp Hà Nội đồng thời cũng đang theo học thạc sỹ chuyên ngành Quản trị Kinh doanh tôi nhận thấy chất lượng đào tạo có ý nghĩa vô cùng quan trọng đến sự tồn tại và phát triển của trường Đại học Công Nghiệp trong thời gian tới Được sự giúp đỡ, hướng
dẫn tận tình của TS: Nguyễn Thị Lệ Thúy tôi đã mạnh dạn chọn đề tài “Một
số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo tại trường Đại học Công nghiệp
Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu luận văn tốt nghiệp của mình với mong muốn
đóng góp một phần công sức nhỏ bé của mình vào sự phát triển chung của nhà trường
2 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo tại trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
Xuất phát từ mục đích trên luận văn giải quyết các vấn đề:
Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản có liên quan đến chất lượng đào tạo TCCN – CĐ – ĐH
Phân tích và đánh giá thực trạng chất lượng đào tạo hiện nay tại trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
Xây dựng một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo tại trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đánh giá và đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo là một công việc có ý nghĩa rất quan trọng hiện nay đối với các đơn vị nhà trường trong cả nước nhằm cung cấp cho xã hội nguồn nhân lực có trình độ,
Trang 12có phẩm chất, có tư duy, có đạo đức Đó là chìa khoá để thực hiện sự nghiệp CNH- HĐH trong giai đoạn hiện nay
Nâng cao chất lượng đào tạo là một đề tài rộng lớn, và phức tạp mang tính thời đại Do thời gian, kinh nghiệm và kiến thức còn hạn chế, luận văn này chỉ tập trung vào việc phân tích và đề ra các giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng đào tạo tại trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài này sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp lý luận
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp phân tích tổng hợp
5 Ý nghĩa của đề tài
Đối với nhà trường và các khoa có ý nghĩa thiết thực trong việc giám sát, đánh giá, đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo
Giúp cho các phòng ban chức năng, các khoa ban có những căn cứ và phương pháp đánh giá nhằm xây dựng kế hoạch cho mình
Cung cấp thông tin cho những ai muốn biết về chất lượng đào tạo và định hướng phát triển trong tương lai của trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
6 Bố cục của luận văn
Nội dung của luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng đào tạo
Chương 2: Phân tích thực trạng chất lượng đào tạo tại trường Đại học
Công nghiệp Hà Nội
Trang 13Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo tại trường
Đại học Công nghiệp Hà Nội
Tôi xin cảm ơn các phòng ban trong nhà trường, cùng toàn thể các thầy
cô giáo trường đại học Công nghiệp Hà Nội đã cung cấp nhiều thông tin quý báu cho đề tài Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn cô giáo TS: Nguyễn Thị
Lệ Thúy đã tận tình giúp đỡ, quan tâm hướng dẫn chu đáo để em hoàn thành
đề tài này
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình học tập và nghiên cứu song
do kiến thức còn hạn chế, chắc chắn luận văn của em còn nhiều thiếu sót Em xin lĩnh hội, tiếp thu những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy, các cô trong khoa Kinh Tế và Quản Lý trường ĐHBK HN để luận văn tốt nghiệp của
em được hoàn thiện hơn nữa
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 14CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO 1.1 Các khái niệm cơ bản về chất lượng và chất lượng dịch vụ
1.1.1 Quan niệm về chất lượng và chất lượng dịch vụ
Khi nói đến hai chữ “chất lượng” ta thường nghĩ đến sản phẩm hoặc dịch vụ hảo hạng, hay sản phẩm đạt được điều quá mong đợi của khách hàng, điều mong đợi này dựa trên mức độ sử dụng, mong muốn và giá bán Khi một sản phẩm vượt quá điều ta mong đợi thì ta coi sản phẩm này có chất lượng vì vậy chất lượng luôn là vấn đề quan trọng, là một phạm trù phức tạp mà con người thường hay gặp trong các lĩnh vực hoạt động của mình Việc phấn đấu nâng cao chất lượng được xem là một trong các nhiệm vụ quan trọng nhất của bất kể một cơ sở hoạt động nào Vậy chất lượng là gì? Thuật ngữ “chất lượng” có nhiều quan điểm khác nhau trong cách tiếp cận và đã có nhiều định nghĩa khác nhau:
Theo từ điển tiếng Việt chất lượng là: “cái làm lên phẩm chất, giá trị
của sự vật” hoặc là “cái tạo nên bản chất sự vật, làm cho sự vật này khác với
sự vật kia”.Như vậy chất lượng là: “tổng thể những tính chất, thuộc tính cơ
bản sự vật (sự việc)…làm cho sự vật (sự việc) này phân biệt với sự vật (sự việc) khác” [2-305]
Như vậy, định nghĩa nêu trong từ điển trên chưa nói đến “khả năng thoả mãn nhu cầu”, một điều quan trọng mà các nhà quản lý rất quan tâm
Theo quan điểm triết học: Là kết quả của quá trình tích luỹ về lượng [2-305]
Theo quan điểm kinh doanh: Chất lượng là sản phẩm được đặc trưng về các yếu tố nguyên vật liệu chế tạo, quy trình và công nghệ sản xuất, các đặc tính về sử dụng, mẫu mã, thị hiếu, mức độ đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng [2-305]
Trang 15Chất lượng là: Một điều gì hơi mơ hồ dựa vào nhận thức [7-2]
Nếu ta cố gắng lượng hoá chất lượng thì có thể biểu hiện như sau:
Theo tổ chức kiểm tra chất lượng của Châu Âu "Chất lượng sản phẩm
là năng lực của một sản phẩm hoặc một dịch vụ thoả mãn những nhu cầu của người sử dụng” [6-21]
Theo tiêu chẩn của Pháp NF X 50-109 “Chất lượng là tiềm năng của
một sản phẩm hay dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu người sử dụng” [4-257]
Theo ISO 8402(1994): “Chất lượng là một tập hợp các đặc tính của một thực thể tạo cho thực thể đó khả năng làm thoả mãn nhu cầu đã xác định hoặc tiềm ẩn” [4-257]
Chất lượng phải dựa trên căn bản là đào tạo, huấn luyện và giáo dục thường xuyên Chính vì vậy trách nhiệm về chất lượng phụ thuộc 80 - 85% vào ban lãnh đạo
Trên đây là một định nghĩa tiêu biểu về chất lượng Mỗi định nghĩa được nêu ra dựa trên những cách tiếp cận khác nhau về vấn đề chất lượng và
do đó mỗi một quan niệm đều có mặt mạnh mặt yếu riêng Mặc dù vậy tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hoá ISO đưa ra định nghĩa trong ISO 5841:1994:
Q: Chất lượng P: Đặc tính sử dụng E: Độ mong đợi
Trang 16“Chất lượng là một tập hợp các tính chất và đặc trưng của một thực thể, tạo cho nó có khả năng thoả mãn những nhu cầu đã được nêu rõ hoặc còn tiềm ẩn”.[6-22] là một định nghĩa khá hợp lý, hoàn chỉnh và thông dụng nhất hiện
nay
Như vậy chất lượng sản phẩm không những chỉ là tập hợp các thuộc tính mà còn là mức độ các thuộc tính ấy thoả mãn nhu cầu người tiêu dùng trong những điều kiện cụ thể, hay nói một cách khác nó vừa có tính chủ quan vừa có tính khách quan Quan niệm về chất lượng như trên vừa thể hiện một lập luận khoa học toàn diện về vấn đề khảo sát chất lượng thể hiện chức năng của sản phẩm trong mối quan hệ “Sản phẩm – xã hội – con người”
1.1.2 Chất lượng dịch vụ và mô hình khoảng cách chất lượng dịch vụ
Khái niệm chất lượng dịch vụ: Chất lượng dịch vụ là mức độ hài lòng
của khách hàng trong quá trình cảm nhận tiêu dùng dịch vụ, là dịch vụ tổng thể của doanh nghiệp mang lại chuỗi lợi ích và thỏa mãn đầy đủ nhất giá trị mong đợi của khách hàng trong hoạt động sản xuất cung ứng và trong phân phối dịch vụ đầu ra [8-16]
Chất lượng dịch vụ không chỉ được đánh giá so sánh ở đầu ra với giá trị mong đợi của khách hàng mà nó còn bao gồm hoạt động của toàn bộ hệ thống cung cấp Sự hoạt động đó hình thành nên cách phân phối Từ đó dẫn đến việc thừa nhận có sự tồn tại hai loại chất lượng dịch vụ: Chất lượng kỹ thuật và chất lượng chức năng
Chất lượng kỹ thuật (Technical quality) bao gồm những giá trị mà hàng
hoá thực sự nhận được từ dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp
Chất lượng chức năng (Functional quality) bao gồm phương cách phân
phối dịch vụ tới người tiêu dùng dịch vụ đó
Trang 17Vào năm 1985, Parasuraman, Zeithaml và Berry đã xây dựng mô hình
chất lượng dịch vụ (SERVQUAl) và làm nổi bật những yêu cầu chính để đảm
bảo chất lượng mong đợi của dịch vụ Trong mô hình này có 5 khoảng trống
(GAP) làm cho việc cung ứng dịch vụ trở nên khó khăn
Hình 1.1 : Mô hình 5 khoảng cách chất lượng dịch vụ
Những khoảng trống đó là:
Khoảng trống giữa mong đợi của khách hàng và nhận thức của ban lãnh đạo doanh nghiệp: Không phải bao giờ ban lãnh đạo doanh nghiệp cũng
nhận thức đúng đắn những gì khách hàng kỳ vọng, từ đó làm xuất hiện khoảng trống này
Khoảng trống giữa nhận thức của ban lãnh đạo doanh nghiệp và kết quả thực hiện dịch vụ: Ban lãnh đạo doanh nghiệp có thể nhận thức đúng
Kinh nghiệm quá khứ
Kỳ vọng về dịch vụ của khách hàng
Cảm nhận chất lượng dịch
vụ
Cung cấp dịch vụ( bao gồm các mối liên
hệ trước và sau thực hiện)
Chuyển đổi từ nhận thức vào đặc tính chất lượng của dịch vụ
Nhận thức của ban lãnh đạo Doanh nghiệp
về kỳ vọng của khách hàng
Thông tin đối ngoại với khách hàng
Khoảng trống 5
Khoảng trống 3
Khoảng trống 2
Khoảng trống 4
Khách hàng
Trang 18những kỳ vọng của khách hàng nhưng không định ra tiêu chuẩn cụ thể cho các kỳ vọng đó
Khoảng trống giữa yêu cầu của chất lượng dịch vụ và kết quả thực hiện dịch vụ: Mặc dù có thể chỉ dẫn để thực hiện các dịch vụ được tốt và đối sử với
các khách hàng đúng đắn, song chưa hẳn đã có dịch vụ chất lượng cao Nhân viên cung cấp dịch vụ có ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng dịch vụ mà khách hàng cảm nhận được Quá trính thực hiện và chuyển giao dịch vụ của nhân viên không đồng đều và khó có thể tiêu chuẩn hóa được
Khoảng trống giữa thực tế cung ứng dịch vụ và thông tin đối ngoại với khách hàng: Phương tiện quảng cáo và các hình thức truyền thông khác của
doanh nghiệp về dịch vụ sẽ ảnh hưởng tới sự mong đợi của khách hàng Nếu
sự mong đợi giữ vai trò quan trọng trong việc tiếp nhận chất lượng dịch vụ của khách hàng thì doanh nghiệp không nên hứa hẹn nhiều bằng giao tiếp mà phải phân phối nó trên thực tế
Khoảng trống giữa dịch vụ nhận thức và dịch vụ kỳ vọng: Khoảng
trống này phát sinh khi khách hàng lượng định kết quả thực hiện của doanh nghiệp theo một cách khác và nhận thức sai chất lượng dịch vụ Vấn đề mấu chốt bảo đảm chất lượng dịch vụ là những giá trị khách hàng cảm nhận được trong hoạt động chuyển giao phải đạt được hoặc vượt quá những gì mà khách hàng chờ mong
Như vậy, sự đánh giá chất lượng dịch vụ cao hay thấp phụ thuộc vào khách hàng đã nhận được dịch vụ thực tế như thế nào và trong bối cảnh họ mong đợi những gì
1.1.3 Chất lượng trong giáo dục đào tạo đại học
Trang 19Ngày nay vẫn còn những cách hiểu khác nhau về khái niệm chất lượng đào tạo, do từ “chất lượng” được dùng chung cho cả hai quan niệm, chất lượng tuyệt đối và chất lượng tương đối
Với quan niệm chất lượng tuyệt đối thì từ “chất lượng” được dùng cho những sản phẩm, những đồ vật hàm chứa trong nó những phẩm chất, những tiêu chuẩn cao nhất khó có thể vượt qua được Nó được dùng với định nghĩa chất lượng cao, hoặc chất lượng hàng đầu
Với quan niệm chất lượng tương đối thì từ “chất lượng” dùng để chỉ một số thuộc tính mà người ta “gán cho” sản phẩm, đồ vật Theo quan điểm này thì một vật, một sản phẩm, hoặc một dịch vụ được xem là có chất lượng khi nó đáp ứng được các mong muốn mà người sản xuất định ra, và các yêu cầu người tiêu thụ đòi hỏi Từ đó nhận rằng chất lượng tương đối có hai khía cạnh:
Thứ nhất: Đạt được mục tiêu (phù hợp với tiêu chuẩn) do người sản
xuất đề ra Khía cạnh này chất lượng được xem là “chất lượng bên trong”
Thức hai: Chất lượng được xem là sự thoả mãn tốt nhất những đòi hỏi
của người dùng, khía cạnh này chất lượng được xem là “chất lượng bên ngoài”
Chất lượng đào tạo là sự phù hợp với mục tiêu giáo dục, là chất lượng người học được hình thành từ các hoạt động giáo dục theo những mục tiêu định trước Sự phù hợp được thể hiện thông qua mục tiêu giáo dục, phù hợp với nhu cầu người học, với gia đình cộng đồng và xã hội
Chất lượng đào tạo luôn là vấn đền quan trọng nhất của tất cả các nhà trường Việc phấn đấu nâng cao chất lượng đào tạo bao giờ cũng được xem là nhiệm vụ quan trọng nhất của tất cả các cơ sở có đào tạo Trong giáo dục đào tạo chất lượng là một khái niệm khó định nghĩa, khó xác định, khó đo lường Dưới đây là một số quan niệm khác nhau về chất lượng đào tạo
Trang 201.1.3.1 Chất lượng đánh giá bằng “Đầu vào”
Trong lĩnh vực giáo dục, chất lượng với đặc trưng sản phẩm là ”Con người lao động” có thể hiểu là kết quả đầu ra của quá trình giáo dục và được thể hiện cụ thể, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay kỹ năng thực hành, thực tế của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu của từng ngành đào tạo
Một số nước phương tây có quan niệm cho rằng “Chất lượng môi trường phụ thuộc vào chất lượng hay số lượng của môi trường đó “quan điểm này gọi là quan điểm nguồn lực có nghĩa là:
Nguồn lực = chất lượng
Nếu một trường tuyển được sinh viên giỏi, có đội ngũ cán bộ giảng dạy
uy tín, có nguồn tài chính cần thiết để trang bị các phòng thí nghiệm, giảng đường, các thiết bị tốt nhất được xem là trường có chất lượng cao
Theo quan điểm này đã bỏ qua sự tác động của quá trình đào tạo diễn ra rất đa dạng và liên tục trong một thời gian dài Sẽ khó giải thích một trường hợp có nguồn lực “đầu vào” dồi dào nhưng lại có những hoạt động đào tạo hạn chế, hoặc một trường có nguồn lực khiêm tốn, nhưng đã cung cấp cho
sinh viên một chương trình hiệu quả [1-23]
1.1.3.2 Chất lượng được đánh giá bằng “đầu ra”
Một quan điểm khác về chất lượng trong đào tạo lại cho rằng “đầu ra” của quá trình đào tạo có tầm quan trọng hơn nhiều so với “đầu vào” “Đầu ra” chính là sản phẩm của đào tạo được thể hiện bằng mức độ hoàn thành công việc của sinh viên tốt nghiệp hay khả năng cung cấp các hoạt động đào tạo của trường đó
Có thể hiểu là kết quả của quá trình đào tạo và được thể hiện ở các phẩm chất, giá trị nhân cách, năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu đào tạo của từng ngành đào tạo Với yêu cầu đáp ứng nhu
Trang 21cầu nhân lực của thị trường lao động, quan niệm về chất lượng đào tạo không chỉ dừng lại ở kết quả của quá trình đào tạo trong nhà trường mà còn phải tính đến mức độ thích ứng và phù hợp của người tốt nghiệp với thị trường lao động như tỷ lệ có việc làm sau khi ra trường, khả năng làm chủ và vị trí của người đó trong doanh nghiệp [1-24]
Với quan niệm này, hệ thống các tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo bao gồm các tiêu chí sau: [4-266]
1 Phẩm chất đạo đức, nghề nghiệp
2 Các chỉ số về sức khoẻ, tâm - sinh lý
3 Trình độ kiến thức, kỹ năng chuyên môn
4 Năng lực hành nghề, khả năng giao tiếp
5 Khả năng thích ứng với thị trường lao động
6 Khả năng thực hành, tổ chức và thực hiện công việc
1.1.3.3 Chất lượng được đánh giá bằng “văn hoá tổ chức riêng”
Quan điểm này dựa trên nguyên tắc các trường phải tạo ra được “văn hoá tổ chức riêng” hỗ trợ cho quá trình liện tục cải tiến chất lượng vì vậy, môi trường được đánh giá là có chất lượng khi nó có được “văn hoá tổ chức riêng” với nét đặc trưng quan trọng là không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo Quan điểm này bao hàm cả các giả thiết về bản chất của chất lượng và bản chất của tổ chức Quan điểm này được mượn từ công nghiệp và thương mại nên khó có thể áp dụng trong lĩnh vực giáo dục đào tạo Từ đó tạo ra một
hình ảnh cụ thể trong những khách hàng [1-25]
1.1.3.4 Chất lượng đánh giá bằng “giá trị gia tăng”
Quan điểm này cho rằng một trường có tác động tích cực tới sinh viên khi trường đó tạo ra được sự khác biệt trong sự phát triển về trí tuệ và cá nhân của sinh viên “giá trị gia tăng” được xác định bằng giá trị của “Đầu ra” trừ đi
Trang 22giá trị của “Đầu vào” kết quả thu được là “giá trị gia tăng” mà trường đã mang lại cho sinh viên và được cho là chất lượng đào tạo của trường
Nếu theo quan điểm này về chất lượng trong đào tạo, hàng loạt vấn đề
về phương pháp luận nan giải sẽ nảy sinh Khó có thể thiết kế một thước đo thống nhất để đánh giá chất lượng “Đầu vào” và “Đầu ra” để tìm ra được hiệu
số của chúng và đánh giá chất lượng của trường đó Hơn nữa trong các trường
hệ thống giáo dục lại rất đa dạng không thể dùng một bộ công cụ đo duy nhất
cho tất cả các trường đại học [1-24]
1.1.3.5 Chất lượng được đánh giá bằng “Giá trị học thuật”
Đây là quan điểm truyền thống của nhiều trường học phương tây, chủ yếu dựa vào sự đánh giá của các chuyên gia về năng lực học thuật của đội ngũ giảng viên trong từng trường trong quá trình thẩm định, công nhận chất lượng đào tạo của trường Điều này có ý nghĩa là trường nào có nhiều giảng viên có học vị, học hàm cao, có uy tín khoa học lớn thì được xem là trường có chất lượng cao
Hạn chế của quan niệm này, cho dù năng lực học thuật có thể được đánh giá một cách khách quan, thì cũng có thể đánh giá những cuộc cạnh tranh của các trường để nhận tài trợ cho các công trình nghiên cứu trong môi trường không thuần học thuật Ngoài ra, liệu có thể đánh giá được năng lực chất xám của đội ngũ giảng dạy và nghiên cứu có xu hướng chuyên ngành
hoá ngày càng sâu, phương pháp luận ngày càng đa dạng [1-25]
1.1.3.6 Chất lượng được đánh giá bằng “Kiểm toán”
Quan điểm này về chất lượng trong đào tạo được xem trong quá trình bên trong của một trường và nguồn thông tin cung cấp cho việc ra quyết định Nếu kiểm toán tài chính xem xét các tổ chức có duy trì chế độ sổ sách tài chính hợp lý không, thì kiểm toán chất lượng quan tâm xem xét các trường có thu thập đủ thông tin cần thiết hay không, quá trình thực hiện các quyết định
Trang 23về chất lượng có hợp lý và hiệu quả không Quan niệm này cho rằng, nếu một
cá nhân có đủ thông tin cần thiết thì có thể có được các quyết định chính xác,
và chất lượng giáo dục được đánh giá qua quá trình thực hiện, còn “đầu vào”
và “đầu ra” chỉ là các yếu tố phụ
Điểm yếu của cách đánh giá này là sẽ khó lý giải những trường hợp khi một cơ sở đào tạo có đầy đủ phương tiện thu thập thông tin, song vẫn có thể
có những quyết định chưa tối ưu [1-25]
1.1.3.7 Một số quan niệm khác
Theo tác giả Lê Đức Ngọc, Lâm Quang Thiệp- Đại học Quốc Gia Hà
Nội: "Chất lượng đào tạo được đánh giá qua mức độ đạt được mục tiêu đào
tạo đã đề ra đối với một chương trình" [4-259]
Theo tác giả Trần Khánh Đức- Viện nghiên cứu phát triển giáo dục:
"Chất lượng đào tạo là kết quả của qúa trình đào tạo được phản ánh ở các đặc trưng về phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương xứng với mục tiêu, chương trình đào tạo theo các ngành nghề cụ thể " [4-259]
Theo tổ chức UNESCO: Chất lượng giáo dục được thể hiện trong bốn
trụ cột là “Học để biết, học để làm, học để chung sống và tồn tại” [4-261]
Mỗi cơ sở đào tạo luôn có những nhiệm vụ cụ thể Từ những nhiệm vụ này, nhà trường sẽ xây dựng và xác định các mục tiêu đào tạo của mình sao cho phù hợp với nhu cầu sử dụng của xã hội để đạt được chất lượng bên ngoài, đồng thời các hoạt động của nhà trường sẽ được hướng vào nhằm đạt được mục tiêu đó, đạt chất lượng bên trong
Nhìn một cách thực tiễn, sản phẩm cuối cùng và cũng là sản phẩm quan trọng nhất của quá trình giáo dục là nhân cách, phẩm chất, năng lực nghề nghiệp của người học Nhưng không phải chỉ có một loại sản phẩm đó Có sản phẩm cuối cùng thì trước đó cũng phải có các sản phẩm bộ phận, trung
Trang 24gian cùng nằm trong chuỗi quá trình đào tạo Nhờ chất lượng của hệ thống các sản phẩm bộ phận ấy đóng góp và tác động mà hình thành nên chất lượng của sản phẩm cuối cùng là nhân cách của người học Nói như vậy bởi khi xem xét việc đào tạo là một quá trình tổng thể thì quá trình ấy phải bao gồm rất nhiều hoạt động Mỗi hoạt động, một quá trình tạo ra một kết quả và cho ta một sản phẩm
Như vậy, khi nói đến chất lượng giáo dục của một nhà trường, ta vừa nói đến chất lượng của người học, đồng thời cũng phải tính đến chất lượng của hệ thống các sản phẩm trung gian cấu thành lên sản phẩm cuối cùng đó
Ta vẫn khẳng định chất lượng của cơ sở vật chất, của trang thiết bị, của đội ngũ những người thầy, của phương pháp dạy học, chất lượng của mỗi bài học, mỗi hoạt động giáo dục, đều tham gia cấu thành chất lượng đào tạo
Trong lĩnh vực đào tạo, chất lượng đào tạo với đặc trưng sản phẩm là
“con người lao động” có thể là kết quả (đầu ra) của quá trình đào tạo với yêu cầu đáp ứng nhu cầu nhân lực của thị trường lao động, quan niệm về chất lượng đào tạo không chỉ dừng ở kết quả của quá trình đào tạo trong nhà trường với những điều kiện đảm bảo nhất định như: cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên… mà còn phải tính đến mức độ phù hợp và thích ứng của người tốt nghiệp đối với cơ quan, các tổ chức sản xuất – dịch vụ, khả năng phát triển nghề nghiệp của bản thân họ trong tương lai
1.2 Các mô hình quản lý chất lượng đào tạo
Có các mô hình quản lý chất lượng được các nhà quản lý giáo dục đại học thế giới nghiên cứu và sử dụng rộng rãi
1.2.1 Mô hình BS5750/ISO 9000
Khoảng đầu thập kỷ 90 giới quản lý giáo dục đại học quan tâm tới tiêu chuẩn Anh BS 5750 và tương đương với nó là tiêu chuẩn quốc tế ISO 9000
Trang 25BS 5750 lần đầu tiên được công bố với tên gọi các hệ thống chất lượng
nó có nguồn gốc từ tổ chức các quy trình đảm bảo chất lượng đồng minh của
bộ quốc phòng Anh và NATO
BS 5750 bao gồm bốn phần
Phần 1: Áp dụng cho các tổ chức lấy việc thiết kế và phát triển sản phẩm là
phần quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh
Phần 2: Áp dụng chủ yếu cho các tổ chức khác nhau trong đó có các cơ sở
mã quy cách các thông số kỹ thuật quy định trước đó với mục tiêu là tạo một đầu ra phù hợp với mục đích
BS 5750/ISO 900 đưa ra một kỷ luật nghiêm ngặt đới với những người
sử dụng đồng thời đòi hỏi sự đầu tư về nhân lực, tài lực và thời gian, mọi người phải nắm được các yêu cầu đặt ra và tuân thủ các quy trình một cách nghiêm túc
BS 5750/ISO 9000 còn xa lạ với giáo dục đại học Do có nguồn gốc từ lĩnh vực sản xuất nên ngôn ngữ dùng trong bộ tiêu chuẩn này không phù hợp
Một trong những quan điểm cơ sở của BS 5750/ISO 9000 là hệ thống chất lượng phải có khả năng tạo ra các sản phẩm có chất lượng nhất quán, điều này khó có thể áp dụng trong giáo dục đại học bởi lẽ khó có thể gọi người học hay người thụ hưởng giáo dục đại học là sản phẩm, hơn nữa cho dù
có định nghĩa thế nào về sản phẩm của giáo dục đại học đi chăng nữa thì cũng khó có thể tạo ra được nhiều sản phẩm có chất lượng như nhau Tất cả các
Trang 26giáo viên đều thấy rõ rằng không có hai lớp học nào hoàn toàn giống nhau bởi các cá nhân của hai lớp đó là khác nhau, các mối tác động qua lại giữa thầy và trò, giữa trò với nhau, động lực, thái độ, năng lực của họ cũng rất khác khau
kỳ thời điểm nào cũng đều là người quản lý chất lượng của phần việc mình được giao và hoàn thành nó một cách tốt nhất, với mục đích tối cao là thoả mãn nhu cầu của khách hàng
Đến đây cần nói đôi điều về hai khái niệm rất quan trọng có liên quan đến quản lý chất lượng tổng thể
Một là: Sản phẩm của giáo dục đại học là gì? Có quan niệm cho rằng
GDĐH cung cấp cho xã hội những sinh viên được đào tạo ở trình độ nhất định, quan niệm này xem GDĐH như một dây chuyền sản xuất và sinh viên tốt nghiệp là khâu cuối cùng với tư cách là sản phẩm của quá trình sản xuất
Theo quan niệm này, trước khi có sản phẩm nhà sản xuất phải xác định nguồn “nguyên liệu” sau đó nguyên liệu phải trải qua một hay nhiều quá trình
xử lý để có thể trở thành sản phẩm thoả mãn các thông số kỹ thuật đã định
Mô hình này tỏ ra không phù hợp với GDĐH, không thể theo một bộ tiêu chuẩn duy nhất, và lại sinh viên là những cá thể hết sức khác nhau về tính cách, năng lực, động cơ học tập, hoàn cảnh gia đình
Trang 27Để giải đáp vấn đề này nhiều học giả cho rằng không nên xem GDĐH như một quá trình sản xuất, mà tốt hơn là coi giáo dục như một công nghệ cung ứng dịch vụ
Chất lượng dịch vụ:
Sự khác nhau cơ bản giữa sản xuất ra sản phẩm và cung ứng dịch vụ là
ở chỗ, cung ứng dịch vụ bao gồm cả các yếu tố chủ quan Sản phẩm bị xem là phế phẩm là do lỗi của nguyên liệu hay thiết kế sản phẩm, máy móc hư hỏng Còn dịch vụ có chất lượng thấp thường do thái độ, hành vi của người cung ứng dịch vụ Hơn nữa, cung ứng dịch vụ bao gồm giao tiếp trực tiếp giữa người cung ứng và người thụ hưởng Vì thế chất lượng của dịch vụ được quyết định bởi mối quan hệ qua lại giữa người cung ứng và người tiếp nhận
Do vậy để phân tích khái niệm chất lượng quan điểm coi giáo dục là ngành cung ứng dịch vụ đúng đắn hơn là coi nó như một quy trình sản xuất Hơn nữa đây là ngành cung ứng một loại dịch vụ đặc biệt, bởi lẽ ngành dịch vụ này thường mang tính phúc lợi xã hội, phi lợi nhuận Mức độ “phúc hợp” trong ngành cung ứng loại dịch vụ đặc biệt này tuỳ thuộc và trình độ phát triển KTXH chế độ chính trị
Hai là: Khách hàng trong GDĐH là ai? Theo Edward Sallis trong quản
lý chất lượng tổng thể trong giáo dục đại học (1993) đưa ra mô hình sau:
Bảng 1.1: Quản lý chất lượng tổng thể trong giáo dục đại học
Người học = Khách hàng bên ngoài đầu tiên
Cha mẹ sinh viên = Khách hàng bên ngoài thứ hai
Thị trường lao động, xã hội = Khách hàng bên ngoài
Giáo viên, cán bộ phục vụ = Khách hàng bên trong
Điều quan trọng ở đây là phải dung hoà các nhu cầu khác nhau của các loại khách hàng Một trong những biện pháp giải quyết mâu thuẫn, lợi ích giữa các loại khách hàng là công nhận sự tồn tại của chúng và xem xét cốt lõi
Trang 28các vấn đề ở các bên liên quan Trong quản lý chất lượng tổng thể điều quan
trọng là trường đại học luôn đặt nhu cầu của người học ở vị trí trung tâm
trong quá trình lập kế hoạch chiến lược, không đặt vấn đề kinh doanh vì mục đích lợi nhuận Song điều đó cũng không có nghĩa là những lợi ích của khách hàng khác bị xem nhẹ
Thực chất của quản lý chất lượng tổng thể là:
Thứ nhất: Cải tiến liên tục, không ngừng và có thể đạt được do quần
chúng và thông qua quần chúng Sự cải tiến liên tục này được thể hiện trong
kế hoạch chiến lược của trường đại học bằng các chu kỳ cải tiến, nâng cao dần theo vòng xoáy trôn ốc từ lợi ích trước mắt đến lợi ích lâu dài, từ trình độ xuất phát ở một điểm nhất định tới trình độ cao hơn
Thứ 2: Cải tiến từng bước, quản lý chất lượng tổng thể được thực hiện
bằng một loạt dự án quy mô nhỏ có mức độ tăng dần Về tổng thể quản lý chất lượng tổng thể có quy mô rộng, bao quát toàn bộ hoạt động của môi trường đại học, song việc thực hiện nhiệm vụ đó trong thực tế lại có quy mô hẹp, khả thi, thiết thực và có mức độ tăng dần Sự can thiệp mạnh không phải
là phương sách tốt để tạo sự chuyển biến lớn trong quản lý chất lượng tổng
Thứ 3: Hệ thống tổ chức phải hướng tới khách hàng, chìa khoá của sự
thành công trong quản lý chất lượng tổng thể là tạo ra sự gắn bó hữu cơ giữa cung và cầu, giữa các bộ phận trong trường với nhau và với xã hội
Trong hệ thống tổ chức của nhà trường, vai trò của các cán bộ quản lý cấp trường là hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ giáo viên viên chức, sinh viên, chứ không phải là lãnh đạo kiểm tra Trong quản lý chất lượng tổng thể mô hình cấp bậc trong hệ thống tổ chức quản lý nhà trường phải là mô hình đảo ngược
Trang 29Hình 1.2: Mô hình TQM đảo ngược
Sự đảo ngược về thứ tự trong hệ thống tổ chức quản lý của trường đại học theo mô hình quản lý chất lượng tổng thể không làm phương hại đến cấu hình quyền lực của trường đại học, cũng không làm giảm sút vai trò của cán
bộ lãnh đạo trường, khoa Trong thực tế, sự lãnh đạo của cán bộ quản lý vẫn giữ vai trò quyết định của quản lý chất lượng tổng thể Đảo ngược thứ bậc nhằm nhấn mạnh mối tương quan trong quá trình đào tạo hướng sinh viên như
nhân vật trung tâm [1-49]
1.2.3 Mô hình các yếu tố tổ chức (Organizational Elements Model)
Mô hình này đưa ra 5 yếu tố đánh giá như sau:
(1) Đầu vào: Sinh viên, cán bộ trong trường, cơ sở vật chất, chương trình đào tạo, quy chế, luật định, tài chính
Cán bộ phục vụ Cán bộ giảng dạy Cán bộ quản lý Khoa
Lãnh đạo trường
Quản lý chất lượng tổng thể trong GD ĐH
Sinh viên CBộ giảng dạy Lãnh đạo trường, Khoa
Trang 30(2) Quá trình đào tạo: Phương pháp và quy trình đào tạo, quản lý đào tạo
(3) Kết quả đào tạo: Mức độ hoàn thành khoá học, năng lực đạt được và khả năng thích ứng của sinh viên
(4) Đầu ra: Sinh viên tốt nghiệp, kết quả nghiên cứu và các dịch vụ khác đáp ứng nhu cầu kinh tế và xã hội
(5) Kết quả: Kết quả của GDĐH và ảnh hưởng của nó đối với xã hội Dựa vào 5 yếu tố đánh giá trên, các học giả đã đưa ra 5 khái niệm về chất lượng GD ĐH như sau:
(1) Chất lượng đầu vào: Trình độ đầu và thoả mãn các tiêu chí, mục tiêu đề
(4) Chất lượng sản phẩm: Mức độ đạt và yêu cầu công tác của các sinh viên tốt nghiệp qua đánh giá của chính bản thân sinh viên, của cha mẹ, của các cơ quan công tác và xã hội
(5) Chất lượng giá trị gia tăng: Mức độ năng lực của sinh viên tốt nghiệp (kiến thức, kỹ năng, quan điểm) đóng góp cho xã hội và đặc biệt hệ thống GDĐH
Như vậy các mô hình quản lý chất lượng GDĐH nêu trên, nếu xem
“chất lượng GDĐH là sự trùng khớp với mục tiêu” thì sử dụng mô hình quản
lý chất lượng tổng thể TQM là phù hợp hơn cả Mô hình này cho phép nghiên cứu đề ra các mục tiêu chiến lược của GDĐH trong từng thời kỳ trên cơ sở trình độ phát triển KTXH của đất nước và các chính sách lớn của chính phủ
Trang 31đối với GDĐH Từ đó tuỳ thuộc vào nguồn lực hiện có, các nhà quản lý chất lượng GDĐH có thể chủ động tác động tới những khâu, những lĩnh vực quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng và từ đó nâng cao dần chất lượng GDĐH theo kế hoạch đã đề ra [1-58]
1.2.4 Mô hình tổng thể quá trình đào tạo
Mô hình tổng thể của quá trình đào tạo là cơ sở để xây dựng các tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo và các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo theo các loại hình đào tạo khác nhau Dưới đây là mô hình tổng thể của quá trình đào tạo [2-312]
Hình 1.3: Mô hình tổng thể của quá trình đào tạo
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo
Có nhiều các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo tuy nhiên trong khuôn khổ luận văn này chỉ xem xét những nhân tố cơ bản tác động và gây ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo
1.3.1 Nhóm các yếu tố bên trong
1.3.1.1 Chương trình mục tiêu và nội dung đào tạo
- Quản lý và đánh giá
- Đào tạo
- Nghiên cứu
- Dịch vụ
- Phát triển chương trình và chương trình nghiên cứu, dịch
vụ sản xuất
Kết quả đào tạo
- Kiến thức, kỹ năng, thái độ nghề nghiệp
- Năng lực nghề nghiệp
- Hiểu biết xã hội
- Ngoại ngữ
- Kỹ năng sử dụng máy tính
- Kỹ năng sử dụng thiết bị, công nghệ mới
Tham gia thị trường lao động
- Hiện trạng việc làm
- Thích ứng nghề nghiệp
- Thu nhập
- Cơ hội phát triển
- Tự tạo việc làm
Thông tin phản hồi
Trang 32Mục tiêu đào tạo: Đó là kết quả, là sản phẩm mong đợi của quá trình
dạy học Mục tiêu đào tạo hay sản phẩm đào tạo chính là người sinh viên tốt nghiệp với nhân cách đã được phát triển, hoàn thiện thông qua quá trình dạy học Nhân cách người sinh viên hiểu theo cấu trúc đơn giản gồm có phẩm chất (phẩm chất của người công dân, người lao động nói chung, lao động ở một lĩnh vực nhất định) và năng lực (Hệ thống kiến thức khoa học - công nghệ, kỹ năng - kỹ xảo thực hành chung và riêng)
Nội dung đào tạo: Để thực hiện được mục tiêu người học cần phải
lĩnh hội một hệ thống các nội dung đào tạo bao gồm: Chính trị - xã hội; Khoa học - kỹ thuật - công nghệ; Giáo dục thể chất và quốc phòng Nội dung đào tạo được phân chia thành các môn học cụ thể
Chương trình đào tạo là nội dung cơ bản, cần thiết và quan trọng trong quá trình đào tạo Nó là chuẩn mực để đánh giá chất lượng đào tạo trong các đơn vị nhà trường
Đầu ra của quá trình đào tạo là người lao động Người lao động đó có đáp ứng được nhu cầu của thị trường không? Đó là câu trả lời rất khó Để trả lời câu hỏi này thì chỉ có người sử dụng lao động mới trả lời chính xác nhất Như vậy đòi hỏi các cơ sở đào tạo phải coi chất lượng đào tạo là sự phù hợp,
ở kết quả sản phẩm đầu ra Vì thế các cơ sở đào tạo cần phải nghiên cứu nhu cầu của người sử dụng lao động Trên cơ sở đó xây dựng khung chương trình sao cho phù hợp Chương trình đào tạo phải đảm bảo mục tiêu đào tạo, phải thiết kế sao cho vừa cả điều kiện chung (chương trình khung) là phần cứng do
cơ quan chủ quản cấp trên đã phê duyệt và thống nhất Bên cạnh đó các nhà trường phải xây dựng phần mềm (bao gồm các tiết thảo luận, phần mềm mô phỏng, tham quan thực tế, nói chuyện theo chủ đề) để tạo ra tính đa dạng, phong phú theo từng ngành nghề cụ thể, tạo bản sắc riêng cho mỗi nhà trường
Trang 33Chương trình đào tạo phải tuỳ thuộc theo từng ngành nghề mà bố trí số môn học, thời gian học sao cho phù hợp với mục tiêu đào tạo Trong từng môn học cũng tuỳ theo từng chuyên ngành cụ thể mà bố trí số tiết giảng cho hợp lý Việc sắp xếp thứ tự các môn học trong từng học kỳ cũng hết sức quan trọng, nó phải được sắp xếp theo một trình tự logic cụ thể, hợp lý Có như vậy sinh viên mới tiếp thu các môn học một cánh dễ dàng
Hình 1.4: Quan hệ giữa mục tiêu chất lương, hiệu quả đào tạo [2-307]
1.3.1.2 Đội ngũ giáo viên
Đội ngũ giáo viên đóng vai trò quyết định trong việc đảm bảo nâng cao chất lượng đào tạo của các đơn vị nhà trường Thầy là người truyền thụ kiến thức, thiết kế và tổ chức các hoạt động của người học, hướng nghiệp và khơi nguồn cảm hứng, hứng thú trong quá trình học tập của sinh viên Người Thầy còn có vai trò hết sức quan trọng trong việc phát triển kích thích khả năng sáng tạo của sinh viên, giúp sinh viên hình thành những kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường
Giá trị sức lao động Năng lực hành nghề Trình độ chuyên môn nghề nghiệp
Năng lực thích ứng với thị trường lao động Năng lực phát triển nghề nghiệp
Quá trình đào tạo
Người tốt nghiệp
Trang 34Vai trò của người thầy là rất quan trọng điều này được thể hiện ở chỗ: dạy nghề và dạy người, trang bị kiến thức, hướng dẫn kỹ năng, nhân cánh, đạo đức, thái độ nghề nghiệp và phẩm chất giúp cho người học có thể tự tin khi ra trường nhằm đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi của thị trường lao động Đó cũng là cơ sở để khẳng định vị thế và chất lượng đào tạo của nhà trường trong điều kiện hiện nay nếu như muốn tồn tại và phát triển
Để làm được điều này thì đội ngũ giáo viên tối thiểu phải đạt chuẩn theo qui định, nghĩa là tất cả giáo viên tham gia giảng dạy phải tốt nghiệp đại học trở lên Tất cả giáo viên giảng dạy phải có chứng chỉ sư phạm do Bộ giáo dục qui định
Có thể nói chất lượng của đội ngũ giáo viên có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo Do vậy để nâng cao chất lượng đào tạo trước hết phải lưu
ý đến việc xây dựng đội ngũ giáo viên Đội ngũ giáo viên không những phải
đủ về mặt số lượng mà còn phải có chất lượng Trong trường hợp này các đơn
vị nhà trường phải có kế hoạch cụ thể trong việc tuyển dụng, sử dụng và có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ và năng lực của đội ngũ giáo viên
Sản phẩm trong quá trình đào tạo, hay nói cách khác đầu ra trong quá trình đào tạo là người lao động Để người lao động đáp ứng được đòi hỏi của thị trường lao động thì các yếu tố đầu vào phải tốt Trong đó chất lượng, năng lực và trình độ của đội ngũ giáo viên là điều kiện kiên quyết Do vậy, các trường học sẽ có biện pháp cụ thể để nâng cao chất lượng của đội ngũ giáo viên trên cơ sở đó sẽ nâng cao chất lượng đầu ra
1.3.1.3 Qui mô đào tạo
Hàng năm trên cơ sở về nhu cầu của thị trường lao động thì chỉ tiêu tuyển sinh cũng sẽ tăng theo Mặt khác do nhu cầu của người học cũng sẽ tăng theo dẫn tới qui mô đào tạo sẽ gia tăng Do vậy có thể thấy qui mô đào
Trang 35tạo có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng đào tạo Khi nhu cầu của người học tăng cao các trường sẽ tăng qui mô đào tạo Mặt khác để tăng thêm thu nhập cho đội ngũ giáo viên cũng như cải thiện nguồn thu của trường cũng sẽ tăng qui mô đào tạo Việc tăng qui mô đào tạo sẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo bởi vì khi đó số lượng học sinh sinh viên của mỗi lớp sẽ rất đông điều
đó làm cho người giáo viên sẽ không thể bao quát hết cũng như không thể đánh giá chính xác kết quả học tập của mỗi thành viên trong lớp
1.3.1.4 Cơ sở vật chất - trang thiết bị kỹ thuật
Cơ sở vật chất - trang thiết bị giảng dạy có vai trò tích cực trong việc
hỗ trợ Thầy và trò để nâng cao chất lượng đào tạo Việc nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật là yêu cầu cấp thiết trong công tác đào tạo ở nước
ta hiện nay
Cơ sở hạ tầng trong giáo dục- đào tạo chủ yếu bao gồm các công trình (lớp học, phòng thí nghiệm, phòng nghiên cứu, khu văn hóa- thể thao, xưởng thực hành, KTX, thư viện ) và các trang thiết bị phục vụ cho hoạt động dạy học như bảng, bàn ghế, hệ thống máy chiếu, máy vi tính, các mô hình thiết bị Đây là những điều kiện quan trọng góp phần đảm bảo chất lượng đào tạo của nhà trường bên cạnh các điều kiện đảm bảo khác như đội ngũ giáo viên, chương trình, tài liệu học tập
Có thể nói hiện nay cơ sở vật chất phục vụ cho quá trình đào tạo được rất nhiều trường quan tâm Nhiều trường đã có những khu giảng đường lớp học khang trang, hiện đại đáp ứng được nhu cầu của người học Tuy nhiên bên cạnh đó nhiều trường do kinh phí còn hạn hẹp nên không thể đầu tư xây mới được khu giảng đường lớp học, cơ sở vật chất trang thiết bị phục vụ cho quá trình đào tạo
Trang thiết bị kỹ thuật là nhân tố quan trọng trong việc đảm bảo nâng cao chất lượng đào tạo Học phải gắn với hành kết hợp với thực hành Việc
Trang 36đảm bảo đủ số lượng máy móc, và các phương tiện dạy học cho sinh viên thực tập là vấn đề cấp thiết hiện nay Thực tế hiện nay cho thấy chỉ cần đủ về mặt số lượng máy móc cho sinh viên thực tập đã là vấn đề khó, chứ chưa nói
gì đến chất lượng của máy móc thiết bị Đa phần các máy móc phục vụ cho đào tạo hiện nay ở các trường đều đã lạc hậu so với các doanh nghiệp và trên thế giới Điều đó đã làm cản trở trong việc nâng cao chất lượng đào tạo ở nước ta hiện nay
Do vậy, các nhà trường muốn thu hút sinh viên đến học tập thì cần phải
nỗ lực rất nhiều để nâng cấp hệ thống nhà xưởng, trang thiết bị giảng dạy, phòng chuyên môn hoá, phòng thí nghiệm, khu giảng đường, lớp học
1.3.1.5 Tài liệu giảng dạy
Giáo trình là tài liệu môn học, thông qua bài giảng kết hợp với giáo trình môn học giúp cho sinh viên có thể tiếp thu bài giảng sâu hơn Hiện nay ngoài giáo trình tham khảo thì các nhà trường đều khuyến khích tất cả giáo viên tham gia giảng dạy viết tài liệu tham khảo lưu hành nội bộ Có thể nói giáo trình lưu hành nội bộ là tài liệu chuẩn mực vì nó là kết quả thực tiễn của trường đó được kết tinh qua nhiều năm học Tuy nhiên để giáo trình đạt chuẩn thì đòi hỏi người biên soạn phải có kinh nghiệm, có trình độ Mặt khác trong từng năm học, tài liệu phải luôn luôn được sửa đổi, hiệu chỉnh bổ xung kịp thời để phù hợp với sự phát triển của thời đại nhằm không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo
Giáo án là kế hoạch chuẩn bị bài giảng của người Thầy Thông qua kế hoạch giáo án người Thầy sẽ truyền thụ kiến thức đến với sinh viên vì vậy việc chuẩn bị giáo án phải được thực hiện một cánh nghiêm túc và cẩn thận nếu như muốn nâng cao chất lượng đào tạo Thực tế cho thấy nếu như giáo án không được chuẩn bị kỹ, cũng như việc bố trí thời gian không hợp lý với những nội dung cụ thể cần truyền đạt thì chắc chắn bài giảng hôm đó sẽ
Trang 37không đạt yêu cầu về chất lượng Có thể nói hiện nay việc chuẩn bị giáo án của giáo viên là chưa tốt do đó ít nhiều sẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nhất là đối với những giáo viên trẻ Cho nên để nâng cao chất lượng đào tạo các trường cần phải coi trọng vấn đề này, phải luôn luôn có sự kiểm tra sát sao đối với giáo viên và có biện pháp xử lý kịp thời đối với những giáo viên không chuẩn bị kỹ giáo án cũng như không có giáo án khi lên lớp
1.3.1.6 Các nguồn lực tài chính
Tài chính trong giáo dục là sử dụng chính sách tiền tệ, quản lý tiền tệ theo mục đích của giáo dục mà nhà nước có trách nhiệm Nhà trường, các cơ
sở đào tạo đều do nhà nước thống nhất quản lý nên phải tuân thủ các quy định
do nhà nước ban hành Với mục tiêu là hình thành “Nhân cách - sức lao động” với quan điểm “giáo dục là quốc sách hàng đầu“ Đồng tiền vận động vào hoạt động giáo dục đào tạo nó góp phần củng cố hình thái ý thức xã hội và thúc đẩy sự hình thành và phát triển sức lao động để có thể tham gia vào thị trường lao động trong bối cảnh toàn cầu hoá
Người ta thường minh hoạ luận đề: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu” Qua công thức: [4-39]
Giáo dục là quốc
sách hàng đầu =
Chính sách giáo dục về mặt tổ chức sư phạm +
Ngân sách giáo dục
Chất lượng đào tạo phụ thuộc vào nguồn lực tài chính Đây là nhân tố gián tiếp ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo Nếu không có nguồn tài chính dồi dào chắc chắn không thể đầu tư cho việc xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học phục vụ cho quá trình đào tạo
Mặt khác muốn có đội ngũ giáo viên giỏi, có trình độ, có năng lực thực
sự thì nhà trường phải đưa ra mức thù lao hấp dẫn, cũng như chính sánh đãi ngộ thoả đáng
Trang 38Tuy nhiên thực tế hiện nay mức thù lao cho giáo viên là rất thấp, do đó không thể thu hút được đội ngũ tri thức có trình độ chuyên môn thực sự
Hơn nữa khi không đủ nguồn lực tài chính chắc chắn vật tư, trang thiết
bị máy móc phục vụ cho quá trình đào tạo cũng thiếu Với hiện trạng này dễ hiểu vì sao chất lượng đào tạo còn chưa cao
Như vậy tăng nguồn kinh phí là điều cần thiết để tăng chất lượng đào tạo hiện nay Nhưng tăng nguồn bằng cánh nào thì không hề đơn giản Tăng mức học phí là khả thi để tăng nguồn thu nhưng mức học phí là cố định, được
Bộ tài chính qui định nên xem ra giải pháp này không thể thực hiện được
Để đa dạng các nguồn lực tài chính các trường chỉ còn cách liên doanh liên kết trong đào tạo, vay mượn từ các tổ chức Trong tương lai gần có thể tiến hành việc cổ phần hoá các đơn vị trường học Có như vậy mới tăng được nguồn thu để bổ xung vào việc mua sắm trang thiết bị, vật tư phục vụ cho quá trình đào tạo
1.3.1.7 Chất lượng tuyển sinh đầu vào
Các đối tượng này phần lớn ở lứa tuổi từ 18, do đó họ có những đặc điểm chung của lứa tuổi thanh niên mới lớn, đa phần ý thức học tập là chưa cao, cuộc sống tự lập còn hạn chế Do vậy khi rời gia đình để đi học các em rất cần đến sự quan tâm của đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý Các ảnh hưởng tiêu cực cũng tác động mạnh đến lứa tuổi này Việc tổ chức quản lý giáo dục học sinh sinh viên là rất cần thiết giúp các em có thái độ đúng đắn trong quá trình học tập và rèn luyện
Mặt khác, việc xét tuyển hoặc thi đầu vào đối với hệ đại học, cao đẳng
và trung học chuyên nghiệp nhiều khi chỉ là hình thức do yêu cầu là phải tuyển đủ số lượng Hơn nữa, trình độ học vấn của học sinh khi vào học cũng
có sự chênh lệch do đó chất lượng đầu vào là không cao
Trang 39Do sự phát triển của các trường về số lượng sinh viên, qui mô đào tạo
do đó việc tổ chức giờ lên lớp thường là học lý thuyết sáu tiết trong một buổi
Số lượng sinh viên thường rất đông do vậy việc quản lý sinh viên trong từng lớp học là rất quan trọng Nhiều lúc các em còn xem nhẹ việc học và thực hành trên lớp, nếu quản lý không tốt sẽ có hiện tượng đi muộn, về sớm trốn tiết, không tích cực trong học tập và rèn luyện
Vấn đề giờ tự học trong sinh viên là chưa cao, ý thức tự học tập còn hạn chế Chưa xác định đúng nhiệm vụ học tập Về phía giáo viên chưa giao
và kiểm tra khối lượng bài tập cho sinh viên về nhà làm
1.3.2 Nhóm các yếu tố bên ngoài
1.3.2.1 Các yếu tố về cơ chế, chính sách của nhà Nước
Đại hội X của Đảng đã khẳng định mục tiêu tổng quát của chiến lược phát triển kinh tế xã hội đến 2015 là “Đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp
theo hướng hiện đại hoá” [4-108]
Mục tiêu phát triển của bậc học cao đẳng, đại học là: Đáp ứng nhu cầu nguồn lực có trình độ cao phù hợp với cơ cấu kinh tế xã hội của thời kỳ CNH – HĐH Tăng cường năng lực thích ứng với việc làm trong xã hội, tạo việc làm cho mình, cho người khác, nâng tỷ lệ sinh viên trên một vạn dân từ 118 lên 200 vào năm 2015, tăng quy mô đào tạo Thạc sỹ từ 11727 lên 38.000,
nghiên cứu sinh từ 3.870 lên 15.000 vào năm 2015
Cơ chế, chính sách của Nhà Nước ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển của giáo dục đại học, cao đẳng và THCN cả về quy mô, cơ cấu và chất lượng đào tạo Sự tác động của cơ chế, chính sách của Nhà nước đến chất lượng đào tạo thể hiện ở các khía cạnh sau:
Trang 40Khuyến khích hoặc kìm hãm mức độ cạnh tranh trong đào tạo, tạo ra môi trường bình đẳng cho các cơ sở đào tạo cùng phát triển nâng cao chất lượng
Khuyến khích hay kìm hãm việc huy động các nguồn lực để tiến hành nâng cao chất lượng cũng như việc mở rộng liên kết, hợp tác quốc tế trong đào tạo
Các chính sách về đầu tư, về tài chính đối với các cơ sở có đào tạo; hệ thống đánh giá, kiểm định, các chuẩn mực đánh giá chất lượng đào tạo, quy định về quản lý chất lượng đào tạo và cơ quan chịu trách nhiệm giám sát việc kiểm định chất lượng đào tạo
Các chính sách về lao động, việc làm và tiền lương của lao động qua đào tạo, chính sách đối với giáo viên và sinh viên ở bậc giáo dục
Các quy định trách nhiệm và mối quan hệ giữa cơ sở đào tạo và người
sử dụng lao động, quan hệ giữa nhà trường và các cơ sở sản xuất
Tóm lại: cơ chế chính sách tác động đến tất cả các khâu từ đầu vào, đến quá trình đào tạo và đầu ra của các trường
1.3.2.2 Các yếu tố về môi trường
Xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tác động đến tất cả các mặt đời sống xã hội của đất nước, đòi hỏi chất lượng đào tạo của Việt Nam phải được nâng lên để sản phẩm tạo ra đáp ứng nhu cầu của thị trường, của khu vực và trên thế giới Đồng thời cũng tạo cơ hội cho giáo dục nghề nghiệp Việt Nam nhanh chóng tiếp cận trình độ tiên tiến
Phát triển khoa học, công nghệ yêu cầu người lao động phải nắm bắt kịp thời và thường xuyên học tập để làm chủ công nghệ mới, đòi hỏi các nhà trường phải đổi mới trang thiết bị cho nghiên cứu và học tập
Kinh tế xã hội phát triển làm cho nhận thức của xã hội và công chúng
về giáo dục nghề nghiệp được nâng lên, người học ngày càng khẳng định