Đặc điểm dân số và lao động Nguồn lao động của làng An Hòa tương đối dồi dào, tính đến năm 2013, trong làng có 465 hộ dân, với 2463 nhân khẩu,chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, số lao
Trang 1CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI 1.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
1.1.1 Vị trí địa lý
Thôn An Hòa là một thôn nằm ở vị trí trung tâm của huyện Thanh Liêm, tỉnh HàNam, có ranh giới như sau:
- Phía Đông giáp xã Thanh Bình;
- Phía Nam giáp xã Thanh Phong;
- Phía Tây giáp xã Thanh Tuyền;
- Phía Bắc giáp thôn Hòa Ngãi, xã Thanh Hà
Làng An Hòa thuộc xã Thanh Hà, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam có vị trí thuậnlợi trong việc lưu thông hàng hóa: nằm gần trung tâm huyện Thanh Liêm, có đường Quốc
lộ 1A đi qua, cách đường Quốc lộ 21A và thị xã Phủ Lý 5 km về phía Nam… Vì vậy rất
có lợi thế để phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt là tiêu thụ hàng hóa tiểu thủ công nghiệp
1.1.2 Điều kiện khí hậu
Khí hậu thôn An Hòa, xã Thanh Hà, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam nằm trongvùng đồng bằng sông Hồng nên có đầy đủ các đặc trưng của khí hậu vùng đồng bằngsông Hồng, đó là nhiệt đới gió mùa ấm, có mùa đông lạnh
Mùa đông lạnh bắt đầu từ tháng 11 năm trước kết thúc vào tháng 4 năm sau, thuộckhí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa đông lạnh, khô hanh Hướng gió chính là gió Đông Bắc
và gió Đông Nam
Mùa hè bắt đầu từ tháng 5 kết thúc vào tháng 10, số giờ nắng trong năm khoảng
1300 giờ nắng Nhiệt độ trung bình năm 24°C, nhiệt độ cao nhất lên đến 39,8°C Chế độmưa thay đổi nhiều trong năm, mưa tập trung vào mùa hè (mùa mưa) bắt đầu từ tháng 5kéo dài đến tháng 10, tổng lượng mưa trung bình trong năm là 1582 mm Độ ẩm trungbình năm khoảng 82,42%
1.1.3 Địa hình thổ nhưỡng
Thôn An Hòa có địa hình bằng phẳng, thành phần đất chủ yếu là đất phù sa, thànhphần cơ giới nhẹ, đất tơi xốp Nhìn chung đất đai của thôn thuộc loại có độ phì nhiêu cao.thích hợp cho trồng rau màu, cây ăn quả, có điều kiện phát triển trang trại Vùng đồngthích hợp cho cấy lúa và có thể phát triển một số cây ăn quả như: cam canh, nhãn, vải
Trang 21.2 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ XÃ HỘI
1.2.1 Đặc điểm dân số và lao động
Nguồn lao động của làng An Hòa tương đối dồi dào, tính đến năm 2013, trong làng
có 465 hộ dân, với 2463 nhân khẩu,chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, số lao động hamgia vào các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu lao động và
có xu hướng tăng lên Nếu như năm 2012, lao động tham gia vào các công đoạn của làngnghề thêu ren là 1957 người, thì năm 2013 đã tăng lên 2240 người
Tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp ngày càngtăng, tỷ trọng ngành tiểu thủ công nghiệp đã chiếm ưu thế.Theo chiến lược phát triển kinh
tế của xã Thanh Hà, trong những năm tới phấn đấu ngành thủ công nghiệp đóng góp 60%GDP của xã, đồng thời trở thành trung tâm thủ công nghiệp của huyện Thanh Liêm
1.2.2 Đất đai và tình hình sử dụng đất đai
Thôn An Hòa có diên tích là 127,28 ha, trong) đó đất nông nghiệp: 85,67 ha, diệntích đất phi nông nghiệp là 41,61 ha (trong đó diên tích đất ở: 15,26 ha, diện tích đấtchuyên dùng là 22,54 ha…)
Bảng 1 Diện tích đất theo mục đích sử dụng năm 2013 (đơn vị: ha)
2.5 Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng SMN 3,45
(thống kê năm 2013 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hà Nam)
1.2.3 Cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của mỗi địa phương, cơ sở
hạ tầng cũng phản ánh trình độ phát triển của mỗi địa phương
Trang 3- Đường giao thông: Làng An Hòa có vị trí địa lý khá thuận lợi trong việc lưu thông hànghóa: nằm gần trung tâm huyện Thanh Liêm, có đường Quốc lộ 1A và đường liên huyệnchạy dọc theo chiều dài của làng, cách đường Quốc lộ 21A và thị xã Phủ lý 5 km về phíaNam.
- Năng lượng điện: Hiện tại làng An Hòa có 4 trạm biến áp với công suất 4790 KVA, mỗinăm được cung cấp 15,7 triệu KW Hệ thống điện đã được đầu tư cải tạo liên tục nhưngvào những thời điểm, cao điểm lượng tiêu thụ trên địa bàn lớn nên thường xảy ra quá tải
- Hệ thống thủy lợi: Hệ thống tưới tiêu của làng đã được đổ bê tông với chiều dài 16 km
Hệ thống thoát nước, cống rãnh được xây dựng kiên cố, nhưng hiện nay do sự phát triểnquy mô sản xuất nên tình trạng ùn tắc, ứ đọng xảy ra thường xuyên, nhiều khi tràn lên mặtđường, gây ô nhiễm môi trường Ngoài ra việc đầu tư cho hệ thống thủy lợi không đượcđồng bộ, đã làm cho hệ thống nhanh xuống cấp Đây chính là điểm cần quan tâm giảiquyết vì nó gây ảnh hưởng rất lớn tới vấn đề môi trường trong thôn
1.2.4 Kết quả sản xuất kinh doanh của làng nghề thêu ren An Hòa
An Hòa là một thôn đứng đầu về sự phát triển kinh tế của xã Thanh Hà Với bảnchất cần cù, chịu khó, không ngừng học hỏi vươn lên của người dân, nên kinh tế của làng
An Hòa đã phát triển mạnh với việc duy trì và phát triển nghề thêu ren Nền kinh tế củalàng đang phát triển với sự gia tăng giá trị tất cả các ngành, cơ cấu kinh tế, thay đổi dầntheo hướng giảm tỷ trọng trong ngành nông nghiệp, tăng dần các ngành thủ công nghiệp
và dịch vụ.Doanh thu của làng nghề An Hòa được thể hiện qua bảng sau
Bàng 2 Doanh thu từ làng nghề qua các năm (đơn vị: triệu đồng)
TT Loại sản phẩm Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
1 Khăn trải bàn các loại 8.562 9.735 10.548
(Nguồn: phòng thống kê huyện Thanh Liêm)
CHƯƠNG 2 SỨC ÉP ĐỐI VỚI MÔI TRƯỜNG TỪ HOẠT ĐỘNG
KINH TẾ - XÃ HỘI 2.1 HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT
Trang 4Nền kinh tế của xã Thanh Hà cũng như làng An Hòa đang phát triển với sự giatăng giá trị tất cả các ngành, cơ cấu kinh tế, thay đổi dần theo hướng giảm tỷ trọng ngànhnông nghiệp, tăng dần các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ.
Làng nghề thêu ren luôn là một thế mạnh phát triển kinh tế Năm 2013 giá trị ngành thêuren của làng đạt trên 25,93 tỉ đồng, tăng 2,44 tỉ so với 2012 (23,49 tỷ) Thu nhập bìnhquân một lao động là trên 8,428 triệu/năm Đã giải quyết việc làm cho 2240 lao động địaphương Thu nhập bình quân một hộ là khoảng 33,91 triệu/năm
Làng nghề thêu ren An Hòa làm ra nhiều sản phẩm đáp ứng nhu cầu của thị trường nhưng
có 3 loại sản phẩm thêu ren chủ yếu là khăn trải bàn, ga gối, túi thêu các loại sản lượngcủa các sản phẩm năm 2013:
Khăn trải bàn các loại: 970.000 bộ
Ga, gối các loại: 790.000 bộ
Túi thêu các loại: 1.300.000 bộ
Năm 2013 giá trị sản xuất các mặt hàng thêu ren đạt doanh thu 10,55 tỉ đồng,chiếm tỷ trọng khoảng 18% tổng doanh thu của xã
Nông nghiệp và hoạt động thương mại đóng góp hơn 1/3 tổng doanh thu của làng, gópphần ổn định và nâng cao đời sống của nhân dân
Tuy nhiên, song song với sự phát triển kinh tế mạnh mẽ ở xã Thanh Hà cũng nhưlàng thêu ren An Hòa, vấn nạn ô nhiễm môi trường đang là vấn đề được quan tâm nhiều.Các hoạt động sản xuất trên thải ra một lượng lớn khí thải, nước thải, chất thải rắn gây tácđộng xấu đến môi trường xung quanh và gây ô nhiễm môi trường ở khu vực
Đặc biệt, vì là làng nghề thêu ren và gia công nên môi trường nước là môi trường
bị ảnh hưởng nặng nề nhất Trong đó giai đoạn giặt là là giai đoạn sử dụng nhiều nước vàhóa chất Cụ thể, một số bước chính trong giai đoạn này:
- Nấu tẩy bằng soda;
- Ngâm nước oxi già công nghiệp;
- Đánh ố;
- Giặt sạch chủ yếu bằng xà phòng;
- Hồ cứng vải bằng tinh bột
Trang 5Lượng nước thải từ các công đoạn khác là không đáng kể so với công đoạn giặt lànên chúng tôi chỉ đánh giá về nước thải của các cơ sở giặt là trong làng Trong làng cókhoảng 10 cơ sở giặt là, trong đó có 6 cơ sở quy mô lớn, các cơ sở còn lại có quy mô nhỏ.Lượng nước sử dụng tại các cơ sở có quy mô lớn khoảng 5-7 m3/ngày/cơ sở Vì vậy trungbình một tháng sử dụng khoảng 1560m3.
Căn cứ vào quy trình sản xuất ta có thể tính toán được lượng chất gây ô nhiễmnước của công đoạn gia công, giặt, tẩy Trong giai đoạn này, có một số hóa chất được sửdụng như: oxi già, soda, xà phòng và một số ít hóa chất tẩy rửa khác
Các cơ sở đều không có hệ thống xử lý nước Nước theo các ống dẫn chảy ra cốngchung của làng sau đó thoát ta mương tiêu nước hoặc ao tù trong làng Các chất ô nhiễmchính trong nước thải của các cơ sở giặt là là độ kiềm cao, hàm lượng các chất hữu cơ,đặc biệt là nồng độ amoni rất cao
Hơn nữa, vốn đầu tư cho sản xuất hạn hẹp nên việc đầu tư xử lý ô nhiễm là hầunhư không có Ngay cả trong trường hợp nhiều cơ sở sản xuất liên doanh theo hướng hìnhthành các doanh nghiệp, hợp tác xã lớn, có doanh thu không nhỏ nhưng vẫn không đầu tưcho xử lý chất thải và bảo vệ môi trường
Một vấn đề có ảnh hưởng rất lớn đến môi trường mà ít được đề cập sâu đó là ýthức của người dân làng nghề, những người gây ra ô nhiễm nhưng cũng là nạn nhân của ônhiễm, ví dụ:
Trình độ sản xuất thấp và do lợi nhuận trước mắt nên chỉ quan tâm được đến sảnxuất, còn nhận thức về tác hại của ô nhiễm đến sức khỏe và ý thức trách nhiệm bảo
vệ môi trường rất hạn chế
Nhiều cơ sở sản xuất sử dụng nguyên liệu rẻ tiền, hóa chất độc hại, làm tăng nguy
cơ và mức độ ô nhiễm của làng nghề, tác động tiêu cực tới môi trường, sức khỏecộng đồng và chính bản thân người lao động
2.2 SỨC ÉP DÂN SỐ VÀ ĐÔ THỊ HÓA
2.2.1 Tốc độ gia tăng dân số
Trang 6Giai đoạn 2001-2008, dân số xã Thanh Hà tăng thấp hơn thời kỳ trước và trungbình mỗi năm tăng khoảng 800 người Tốc độ gia tăng dân số tăng khoảng 0,27%/năm.
Dự báo sự gia tăng dân số đến năm 2015 và 2020: Dự báo đến năm 2015 dân sốcủa xã Thanh Hà là 10.200 người và đến năm 2020 dân số là 12.500 người Dân số tănglên kèm theo tốc độ đô thị hoá, di dân và phát triển kinh tế - xã hội mạnh mẽ sẽ tạo ra sức
ép đối với môi trường
Môi trường tự nhiên có khả năng chịu tải nhất định, khi dân số tăng nhanh và chấtthải không được xử lý xả thải vào môi trường sẽ làm vượt quá khả năng tự làm sạch vàphục hồi của môi trường tự nhiên, tất yếu sẽ dẫn đến ô nhiễm môi trường
2.2.2.Quá trình đô thị hóa
Sự phát triển nhanh chóng của xã cũng như các làng nghề đã thu hút lao độngtrong vùng dẫn đến quá trình đô thị hóa diễn ra ở khu vực diễn ra nhanh, cùng với đó làrất nhiều hệ lụy với môi trường sống cũng như hệ sinh thái tự nhiên trong khu vực
Quá trình tập trung dân cư đô thị: tốc độ tập trung dân cư tại ở những nơi công nghiệpphát triển cũng diễn tương đối nhanh tập trung nhất là ở xã Thanh Hà Quá trình di dândẫn đến việc phân bố dân cư theo lãnh thổ không đồng đều, có sự chênh lệch về mật độdân cư giữa các khu vực trong xã Sự chuyển biến về cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mục đích
sử dụng đất: giảm tỷ lệ người dân tham gia vào sản xuất nông nghiệp và tăng tỷ lệ laođộng trong các lĩnh vực công nghiệp
Hơn nữa, kết cấu hạ tầng nông thôn như hệ thống đường sá, hệ thống cấp nước,thoát nước,xử lý nước thải, điểm tập kết chất thải… rất yếu kém hoặc không đáp ứngđược nhu cầu của phát triển sản xuất; chất thải không được thu gom và xử lý, dẫn đếnlàng nghề bị ô nhiễm nghiêm trọng, cảnh quan bị phá vỡ
2.3 Phát triển giao thông vận tải
Từ năm 2009-2013 số lượng các phương tiện tham gia giao thông tăng lên rấtnhanh nhất là ô tô và xe máy Theo thống kê năm 2008, số lượng ô tô trong làng là 5 xe
và số lượng xe máy trong làng là 68 xe, thì tính đến năm 2013 số lượng ôtô là 8 xe (tăngkhoảng 60%), số lượng xe máy là 108 xe (tăng khoảng 58,8%) Sự tăng trưởng hàng nămcủa xe máy và ô tô là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường không khí chủ yếu ở tuyếnđường giao thông khu vực
Trang 7Bên cạnh đó ý thức người dân và chất lượng phương tiện giao thông cũng lànguyên nhân tăng nồng độ chất ô nhiễm Cùng với việc phát triển kinh tế thì hệ thốnggiao thông trong địa phương cũng phát triển rất nhanh đặc biệt là việc mở mới và nângcấp các tuyến đường liên thôn, liên huyện, do đó làm cho môi trường không khí ngàycàng bị ô nhiễm do khói bụi, tiếng ồn.
CHƯƠNG 3 HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC TẠI LÀNG AN HÒA
Trang 8Theo phản ánh của người dân tại làng và theo điều tra của nhóm lập báo cáo, thìhiện tại chất lượng môi trường nước mặt và nước ngầm tại làng nghề thêu ren An Hòa bị
ô nhiễm rất nghiêm trọng
3.1 HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT
Nguồn nước mặt trong làng chủ yếu là các ao, hồ Hoạt động sản xuất, cũng nhưsinh hoạt của nhân dân đã ảnh hưởng nhiều đến chất lượng môi trường nước mặt tại làng
An Hoà Các ao trong làng đều là những ao tù, là nơi chứa nước thải từ hoạt động chănnuôi, sinh hoạt của nhân dân và sản xuất tiểu thủ công nghiệp Do đó nhóm phân tích sẽtiến hành quan trắc vào mùa mưa và mùa khô, tiến hành lấy mẫu tại các vị trí như sau:Tên
M1 Cạnh đình làng An Hoà 105o92’69” 20o49’25”M2 Ao nhà bà Nguyễn Thị Hợi 105o92’74” 20o49’16”M3 Ao nhà ông Phạm Văn Tạo 105o93’03” 20o49’20”M4 Ao nhà ông Nguyễn Đình Trung 105o93’10” 20o49’42”M5 Ao nhà ông Nguyễn Viết Dũng 105o93’52” 20o49’40”Sau khi lấy mẫu và đem phân tích, kết quả phân tích được thể hiện ở như sau
Bảng 3 Chất lượng nước mặt vào mùa mưa
(Thời điểm lấy mẫu ngày 08/5/2014)
Bảng 4 Chất lượng nước mặt vào mùa khôThông số Đơn
vị
QCVN08:2008/BTNMT
Trang 9(Thời điếm lấy mẫu 08/11/2014)
Từ hai bảng số liệu trên có thể thấy chất lượng nước ao trong làng đều không đạttiêu chuẩn loại B1 theo QCVN 08:2008/BTNMT, không đủ tiêu chuẩn để dùng cho mụcđích tưới tiêu thủy lợi hoặc các mục đích khác có yêu cầu chất lượng nước tương tự
Đối với thông số DO (mg/l)
0 0.5 1 1.5 2 2.5 3 3.5 4 4.5 5
Mùa mưa Mùa khô QCVN 08:2008
mg/l
Theo QCVN 08:2008/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượngnướcmặt.Thông số DO quy định tại mục B1 là lớn hơn 4 Tuy nhiên, tại các điểm quan
Trang 10trắc chất lượng nước ta có thể thấy vào mùa mưa thông số DO thấp hơn từ 1,5 đến 3,5 lần.Vào mùa khô thông số DO tại tất cả các điểm quan trắc đầu lớn hơn 4 mg/l, đạt yêu cầu
về chất lượng nước mặt theo quy chuẩn Do vào mùa mưa, nước mặt tại các khu vực quantrắc thường xuyên bị xáo trộn và pha loãng do nước mưa Điều này cho thấy, chất lượngnước mặt của làng nghề đang ngày càng bị suy giảm
Ngoài ra, So với QCVN 38:2011/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chấtlượng nước mặt bảo vệ đời sống thủy sinh vật, đối với hàm lượng DO là lớn hơn 4 mg/lthì các vị trí đều vượt quy chuẩn cho phép về chất lượng nước mặt bảo vệ đời sống thủysinh.Tại vị trí thứ 2, lượng oxy hòa ta trong nước là thấp nhất ở cả hai đợt quan trắc mùakhô và mùa mưa (4.6 mg/l và 2,6 mg/l)
Đối với thông số COD
0 10 20 30 40 50 60
Mùa mưa Mùa khô QCVN 08:2008
mg/l
Từ biểu đồ trên ta có thể thấy so với QCVN 08:2008/BTNMT đối với hàm lượngCOD (cột B1) là bằng 30 mgN/l thì vào mùa khô, và mùa mưa tất cả các mẫu trên đềuvượt tiêu chuẩn cho phép về chất lượng nước mặt Vào mùa mưa, hàm lượng COD tại các
vị trí quan trắc vượt từ 1,0 đến 1,2 lần Vào mùa khô, hàm lượng COD vượt từ 1,1 đến 1,6lần Điều này chứng tỏ các ao hồ đang bị ô nhiễm chất hữu cơ mà nguyên nhân chủ yếu là
do sự tiếp nhận nước thải sinh hoạt và nước thải sản xuất chưa qua xử lý của các hộ dânsống xung quanh Tại vị trí thứ 2, lượng COD tại hai đợt quan trắc vượt so với quy chuẩncao nhất trong cả hai đợt quan trắc mùa mưa và mùa khô (35 mg/l và 48 mg/l)
Đối với thông số BOD5
Trang 11
0 5 10 15 20 25
Mùa mưa Mùa khô QCVN 08:2008
mg/l
Theo QCVN 08:2008/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nướcmặt đối với hàm lượng BOD5 (Cột B1) là 15mg/l thì tất cả các mẫu tại các điểm quan trắctrong cả hai đợt quan trắc đều vươt quá quy chuẩn Điều này chứng tỏ chất lượng nướcmặt tại các ao hồ đang bị ô nhiễm chất hữu cơ mà nguyên nhân chủ yếu là do tiếp nhậnnước thải chăn nuôi, sinh hoạt và sản xuất (quá trình hồ cứng vải) chưa qua xử lý của các
hộ dân sống xung quanh Tại vị trí thứ 2 là vượt quá so với quy chuẩn cao nhất (mùa mưa:23,4 mg/l , mùa khô 20,4 mg/l)
Đối với thông số Flo
0 0.2 0.4 0.6 0.8 1 1.2 1.4 1.6
Mùa mưa Mùa khô QCVN 08:2008
mg/l