Tuy nhiên, tác giả chưa đưa ra các phương pháp xác định chi phí môi trường, chưa đề cập đến kế toán tài chính môi trường trong doanh nghiệp, chưa nhận diện, xác định, ghi nhận và cung cấ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TÀI CHÍNH
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
- -
PHẠM HOÀI NAM
HOÀN THIỆN TỔ CHỨC CÔNG TÁC
KẾ TOÁN MÔI TRƯỜNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TÀI CHÍNH
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
- -
PHẠM HOÀI NAM
HOÀN THIỆN TỔ CHỨC CÔNG TÁC
KẾ TOÁN MÔI TRƯỜNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI
Chuyên ngành : Kế toán
Mã số : 62.34.03.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS NGUYỄN VŨ VIỆT
2 PGS.TS LÊ HUY TRỌNG
HÀ NỘI - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi; các số liệu và kết quả trong Luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận án
Phạm Hoài Nam
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tác giả luận án xin chân thành cảm ơn Tập thể lãnh đạo, Thầy cô giáo
và tập thể cán bộ lãnh đạo Khoa sau đại học của Học viện Tài chính
Tác giả đặc biệt xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến tập thể cán
bộ hướng dẫn khoa học PGS.TS Nguyễn Vũ Việt và PGS.TS Lê Huy Trọng
đã nhiệt tình hướng dẫn và động viên tác giả hoàn thành luận án
Tác giả xin cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp, những người thân trong gia đình đã tạo điều kiện, chia sẻ khó khăn và luôn động viên tác giả trong quá trình học tập và thực hiện Luận án
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận án
Phạm Hoài Nam
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan Lời cảm ơn Mục lục Danh mục các bảng, sơ đồ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN MÔI TRƯỜNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 19
1.1 TỔNG QUAN VỀ MÔI TRƯỜNG VÀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG MÔI TRƯỜNG 19
1.1.1 Môi trường 19
1.1.2 Quản lý hoạt động môi trường 20
1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KẾ TOÁN MÔI TRƯỜNG TRONG DOANH NGHIỆP 23
1.2.1 Khái niệm, bản chất kế toán môi trường trong doanh nghiệp 23
1.2.2 Đối tượng sử dụng thông tin kế toán môi trường trong doanh nghiệp 28
1.2.3 Nội dung và phương pháp kế toán môi trường 30
1.2.4 Vai trò và nhiệm vụ của của kế toán môi trường trong doanh nghiệp 35
1.3 TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN MÔI TRƯỜNG TRONG DOANH NGHIỆP 36
1.3.1 Mô hình kế toán tài chính và kế toán quản trị môi trường 37
1.3.2 Nhận diện - xác định tài sản, nợ phải trả, chi phí, thu nhập môi trường trong doanh nghiệp 38
1.3.3 Tổ chức ghi nhận tài sản, nợ phải trả, chi phí, thu nhập môi trường trong doanh nghiệp 62
1.3.4 Tổ chức cung cấp thông tin và sử dụng thông tin tài sản, nợ phải trả, chi phí, thu nhập môi trường trong doanh nghiệp 66
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 71
Trang 6Chương 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN MÔI TRƯỜNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI 72
2.1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG MÔI TRƯỜNG VÀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG MÔI TRƯỜNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI 72 2.1.1 Hoạt động môi trường tại các doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn
tỉnh Quảng Ngãi 72 2.1.2 Quản lý hoạt động môi trường tại các doanh nghiệp sản xuất trên
địa bàn tỉnh Quảng Ngãi 76 2.2 NHU CẦU SỬ DỤNG THÔNG TIN KẾ TOÁN MÔI TRƯỜNG TẠI CÁC
DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI 79 2.2.1 Nhu cầu dụng thông tin kế toán môi trường của các đối tượng sử
dụng thông tin bên ngoài doanh nghiệp 79 2.2.2 Nhu cầu sử dụng thông tin kế toán môi trường phục vụ công tác
quản trị của các đối tượng sử dụng thông tin bên trong doanh nghiệp 81 2.3 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN MÔI TRƯỜNG
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI 82 2.3.1 Mô hình tổ chức kế toán tài chính và kế toán quản trị môi trường 82 2.3.2 Thực trạng nhận diện - xác định tài sản, nợ phải trả, chi phí, thu
nhập môi trường 83 2.3.3 Thực trạng tổ chức ghi nhận tài sản, nợ phải trả, chi phí, thu nhập
môi trường 88 2.3.4 Thực trạng tổ chức cung cấp và sử dụng thông tin tài sản, nợ phải
trả, chi phí, thu nhập môi trường 92 2.4 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG NHU CẦU SỬ DỤNG THÔNG TIN VÀ
TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN MÔI TRƯỜNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI 94 2.4.1 Đánh giá thực nhu cầu sử sử dụng thông tin kế toán môi trường
của các đối tượng bên trong và bên ngoài doanh nghiệp 94
Trang 72.4.2 Đánh giá thực trạng nhận diện - xác định tài sản, nợ phải trả, chi phí, thu nhập liên quan đến hoạt động môi trường 95 2.4.3 Đánh giá thực trạng tổ chức ghi nhận tài sản, nợ phải trả, chi phí,
thu nhập môi trường 97 2.4.4 Đánh giá thực trạng tổ chức cung cấp và sử dụng thông tin về tài
sản, nợ phải trả, chi phí, thu nhập từ hoạt động môi trường trong doanh nghiệp 100 2.5 NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG TỒN TẠI 101 2.6 CHUẨN MỰC KẾ TOÁN QUỐC TẾ LIÊN QUAN ĐẾN KẾ TOÁN MÔI
TRƯỜNG TRONG DOANH NGHIỆP - KẾ TOÁN MÔI TRƯỜNG TẠI MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN MÔI TRƯỜNG TRONG DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 103 2.6.1 Kế toán môi trường tại một số nước trên thế giới 103 2.6.2 Chuẩn mực kế toán quốc tế liên quan đến kế toán môi trường trong
doanh nghiệp 105 2.6.3 Bài học kinh nghiệm cho tổ chức công tác kế toán môi trường
trong doanh nghiệp Việt Nam 109 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 111
Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN MÔI TRƯỜNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI 112
3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI GẮN VỚI BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CỦA TỈNH QUẢNG NGÃI 112 3.1.1 Định hướng phát triển kinh tế xã hội Quảng Ngãi đến năm 2020 112 3.1.2 Định hướng bảo vệ môi trường đối với Khu kinh tế, Khu công
nghiệp, cơ sở công nghiệp phân tán trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
từ năm 2015 đến năm 2020 113 3.1.3 Giải pháp bảo vệ môi trường đối với khu công nghiệp, cơ sở công
nghiệp phân tán trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi từ năm 2015 đến năm 2020 114
Trang 83.2 YÊU CẦU VÀ NGUYÊN TẮC HOÀN THIỆN TỔ CHỨC CÔNG TÁC
KẾ TOÁN MÔI TRƯỜNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN
XUẤT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI 116
3.2.1 Yêu cầu hoàn thiện tổ chức công tác kế toán môi trường 116
3.2.2 Nguyên tắc hoàn thiện tổ chức công tác kế toán môi trường trong các doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi 117
3.3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN MÔI TRƯỜNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI 119
3.3.1 Xác định mô hình tổ chức kế toán tài chính và kế toán quản trị môi trường 119
3.3.2 Hoàn thiện nhận diện, xác định tài sản, nợ phải trả, chi phí, thu nhập môi trường 122
3.3.3 Hoàn thiện tổ chức ghi nhận tài sản, nợ phải trả, chi phí, thu nhập môi trường 137
3.3.4 Hoàn thiện tổ chức cung cấp thông tin và sử dụng thông tin tài sản, nợ phải trả, chi phí, thu nhập môi trường trong doanh nghiệp 147
3.4 CÁC KIẾN NGHỊ CẦN THIẾT TẠO ĐIỀU KIỆN THUẬN LỢI CHO VIỆC THỰC HIỆN TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN MÔI TRƯỜNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 158
3.4.1 Kiến nghị với các doanh nghiệp 158
3.4.2 Đối với các cơ quan quản lý nhà nước 160
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 162
KẾT LUẬN 163
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 165
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 166
PHỤ LỤC 170
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1: Các loại kế toán môi trường theo USEPA 23
Bảng 2.1: Đặc trưng chất thải, khí thải từ hoạt động môi trường của các doanh nghiệp thuộc các nhóm ngành nghề 75
Bảng 2.2: Nhu cầu thông tin chi phí môi trường theo nhóm ngành nghề 81
Bảng 2.3: Khảo sát mô hình kế toán tài chính và kế toán quản trị môi trường 82
Bảng 3.1: Bảng kê chi phí vật liệu trong chất thải 138
Trang 10DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Trang
Sơ đồ 1.1: Tập hợp và phân bổ chi phí môi trường dựa trên cơ sở hoạt
động (ABC) 55
Sơ đồ 1.2: Sơ đồ xác định dòng vật liệu 58
Sơ đồ 1.3: Xác định chi phí môi trường thông qua sự kết hợp giữa phương
pháp dòng luân chuyển vật liệu và phương pháp ABC 60
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong vài thập niên gần đây, tình trạng ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường, sự cố môi trường và những biến đổi bất lợi của thiên nhiên đang ảnh hưởng tới chất lượng sống của con người Việt Nam là quốc gia đang phát triển cũng phải đối mặt với nhiều vấn đề môi trường Bảo vệ môi trường ngày càng trở thành một trong những chính sách rất quan trọng Vì vậy, Đảng và Nhà nước đã xây dựng chiến lược quốc gia về bảo vệ môi trường đến 2020, tầm nhìn đến 2030 nhằm xác định lại những định hướng, ưu tiên trong công tác bảo vệ môi trường cũng như hạn chế sự khai thác quá mức nguồn tài nguyên thiên nhiên, đồng thời đã ban hành Luật Bảo vệ môi trường, Luật Thuế bảo vệ môi trường, các nghị định, thông tư hướng dẫn về lĩnh vực bảo vệ môi trường nhằm hạn chế, ngăn ngừa các hành vi vi phạm, hủy hoại môi trường, gây ô nhiễm môi trường
Từ những quy định pháp lý về hoạt động bảo vệ môi trường, các doanh nghiệp phải thực hiện tuân thủ hoạt động bảo vệ môi trường, phải triển khai các giải pháp xử lý môi trường khi thực hiện sản xuất…
Với các nhà quản trị doanh nghiệp vấn đề bảo vệ môi trường luôn được quan tâm, tuân thủ quy định pháp lý môi trường, chi phí đầu tư cho hoạt động môi trường như thế nào để mang lại hiệu quả nhất, xác định và phân bổ chi phí môi trường như thế nào để sản phẩm có giá chính xác … Nhà quản lý cần phải
có thông tin kế toán môi trường phát sinh tại doanh nghiệp, nhằm quản lý hiệu quả hoạt động môi trường và phát triển bền vững doanh nghiệp
Mặt khác, nhà đầu tư, chủ nợ, các bên liên quan khác là những người có lợi ích trực tiếp và gián tiếp đối với doanh nghiệp luôn tìm cách bảo vệ lợi ích của mình trước những rủi ro về môi trường Như một hệ quả tất yếu, họ buộc các doanh nghiệp cần phải công khai thông tin liên quan đến hoạt động môi trường cho các đối tượng sử dụng thông tin, nhằm đánh giá ảnh hưởng của hoạt động môi trường đến tình hình tài chính của đơn vị
Trang 12Sự phát triển kinh tế Quảng Ngãi trong những năm gần đây là kết quả
từ những nỗ lực hoạt động kinh tế của nhiều doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh, trong đó các doanh nghiệp sản xuất đóng vai trò rất quan trọng Trong bối cảnh toàn cầu hoá, bảo vệ môi trường là đồng nghĩa với việc hạn chế các rủi
ro môi trường, thực hiện tốt trách nhiệm xã hội và đảm bảo phát triển bền vững doanh nghiệp Thông tin kế toán môi trường của doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng cho việc quản trị điều hành doanh nghiệp cũng như cung cấp thông tin cho nhóm các đối tượng khác có liên quan
Nhìn chung cho đến nay có nhiều tài liệu đã đề cập đến nhiều khía cạnh của kế toán môi trường trong doanh nghiệp, nhưng chỉ xuất hiện lác đác ở một vài bài báo hoặc một vài công trình nghiên cứu, còn thiếu tính hệ thống và mang tính phiến diện chưa đề cập đầy đủ đến tổ chức công tác kế toán môi trường trong doanh nghiệp Trong hệ thống kế toán Việt Nam hiện nay nội dung kế toán môi trường và tổ chức công tác kế toán môi trường trong doanh nghiệp vẫn còn là một khoảng trống chưa được nghiên cứu và đưa ra các quy
định hướng dẫn cụ thể
Xuất phát từ những lý do trên, việc đặt vấn đề nghiên cứu hoàn thiện tổ chức công tác kế toán môi trường trong các doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi là cần thiết và có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn Do đó
tác giả đã lựa chọn đề tài “ Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán môi trường tại các doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi” làm đề tài nghiên
cứu luận án tiến sĩ
2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến luận án
Môi trường là vấn đề được quan tâm toàn cầu trong quá trình tăng trưởng kinh tế, ảnh hưởng đến lợi ích của nhiều đối tượng trong nền kinh tế Ở các quốc gia trên thế gới, kế toán môi trường đã được quan tâm, nhưng đối với nước ta kế toán môi trường vẫn còn là một lĩnh vực mới Hiện nay, đã có nhiều nghiên cứu
về kế toán môi trường trên thế giới và tại Việt Nam
Trang 13Các nghiên cứu trong nước
Trong nước đã có một vài tài liệu, bài báo viết về các vấn đề liên quan đến
kế toán môi trường, các bài nghiên cứu này có thể phân thành các vấn đề sau: (1) Chi phí môi trường trong doanh nghiệp, (2) Kế toán môi trường
(1) Chi phí môi trường trong doanh nghiệp Liên quan đến chi phi môi trường, có một nghiên cứu đã được công bố
trong luận án tiến sĩ của tác giả Bùi Thị Thu Thủy (2010) “Nghiên cứu mô hình quản lý và hạch toán chi phí môi trường trong doanh nghiệp khai thác than” luận
án Tiến sỹ kinh tế, Trường Đại học Mỏ - Địa chất Đề tài đã nghiên cứu về lý thuyết và thực tiễn quản lý và hạch toán chi phí môi trường trong các doanh nghiệp khai thác than, tập trung vào xây dựng được mô hình hạch toán chi phí môi trường, xác định được các nguyên nhân làm phát sinh chi phí môi trường, nhận diện chi phí môi trường, phân loại chi phí môi trường, tập hợp và phân bổ chi phí môi trường cho các đối tượng chịu chi phí, lập báo cáo chi phí môi trường phục vụ cho công tác quản lý nội bộ Tuy nhiên, tác giả chưa đề cập đến nhận diện, xác định, ghi nhận, cung cấp thông tin chi phí môi trường trên báo cáo tài chính Khi xác định chi phí môi trường phục vụ cho công tác quản trị, tác giả chưa sử dụng các phương pháp mang tính đặc thù riêng có của kế toán môi trường như phương pháp dòng luân chuyển vật liệu (MFCA), phương pháp ABC…
(2) Kế toán môi trường Liên quan đến kế toán môi trường, các nghiên cứu tập trung vào các nội dung sau: Sự cần thiết phải hình thành kế toán môi trường trong doanh nghiệp, định nghĩa kế toán môi trường, kế toán tài chính môi trường, kế toán quản trị môi trường, định hướng phát triển kế toán môi trường trong hệ thống kế toán Việt Nam
- Tài liệu “Kế toán môi trường trong doanh nghiệp”(2012) của tác giả
PGS.TS.Phạm Đức Hiếu - PGS.TS Trần Thị Hồng Mai Tài liệu tập trung làm
rõ các vấn đề lý luận cơ bản về kế toán môi trường trong doanh nghiệp: Khái niệm kế toán môi trường, kế toán tài chính môi trường, kế toán quản trị môi trường, kế toán chi phí môi trường, kế toán lợi ích môi trường và đánh giá hiệu
Trang 14quả hoạt động của môi trường Tác giả cũng đã đưa ra các khái niệm các yếu tố của kế toán môi trường như tài sản môi trường, nợ phải trả môi trường, chi phí môi trường, thu nhập môi trường Đồng thời tác giả cũng đưa ra các phương pháp phân loại và xác định chi phí môi trường trong doanh nghiệp, ghi nhận, cung cấp thông tin chi phí và thu nhập môi trường, Tuy nhiên, trong các yếu tố của kế toán toán môi trường tác giả chưa đề cập đến nhận diện, xác định, ghi nhận, cung cấp thông tin liên quan đến tài sản môi trường, nợ phải trả môi trường, chưa đề cập đến mô hình kế toán môi trường trong hệ thống kế toán doanh nghiệp
- Bài báo “Định hướng phát triển kế toán quản lý môi trường trong hệ thống kế toán Việt Nam” của tác giả PGS.TS Hà Xuân Thạch Bài báo đề cập
đến kế toán quản trị môi trường với các nội dung: Nhận diện, phân loại và ghi nhận các loại chi phí môi trường, các khoản thu nhập và tiết kiệm từ hoạt động môi trường, công bố báo cáo về môi trường, các giải pháp phát triển kế toán quản lý môi trường tại Việt Nam Tuy nhiên, tác giả chưa đưa ra các phương pháp xác định chi phí môi trường, chưa đề cập đến kế toán tài chính môi trường trong doanh nghiệp, chưa nhận diện, xác định, ghi nhận và cung cấp thông tin tài chính về các yếu tố tài sản môi trường, nợ phải trả môi trường, chi phí và thu nhập môi trường
- Bài báo “Lý thuyết về kế toán quản trị môi trường và kinh nghiệm áp dụng tại các quốc gia - Giá trị và lợi ích đối với sự phát triển bền vững của kinh
tế Việt Nam” của tác giả Phạm Quang Huy Tác giả đưa ra quan điểm: Các
doanh nghiệp cần xem xét và giải quyết mục tiêu lợi nhuận kinh tế và mục tiêu tác động của môi trường cùng song hành với nhau Từ đó, các doanh nghiệp cần
có những giải pháp trong quá trình kinh doanh để có thể xác định rõ những yếu
tố thu nhập, chi phí phát sinh do trách nhiệm của doanh nghiệp đối với môi trường, đồng thời cũng cần ghi nhận những nhân tố này vào thông tin trên sổ sách kế toán Tuy nhiên, tác giả chưa đề cập đến các mô hình và các phương pháp kế toán quản trị môi trường trong doanh nghiệp
Trang 15- Bài báo “Kế toán môi trường trong mối quan hệ với tăng trưởng xanh của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn phát triển và hội nhập kinh tế toàn cầu”của tác giả PGS.TS Võ văn Nhị - Ths Nguyễn Thị Đức Loan Bài báo đề
cập đến định nghĩa kế toán môi trường, những thông tin mà kế toán môi trường cung cấp, kế toán môi trường ở Việt Nam cần được tổ chức để cung cấp thông tin hữu ích phục vụ cho đối tượng sử dụng thông tin trong quá trình khai thác, sử dụng và bảo vệ môi trường Đồng thời bài báo nêu ra các điều kiện để tổ chức kế toán môi trường tại Việt Nam, như cần phải thiết kế chứng từ, tài khoản phù hợp
để ghi nhận, phân loại và xử lý các thông tin kế toán môi trường, làm căn cứ cho việc lập các báo cáo có liên quan Tuy nhiên, tác giả chưa đề cập đến kế toán tài chính môi trường, kế toán quản trị môi trường, chưa nhận diện, xác định, ghi nhận và cung cấp thông tin các yếu tố của kế toán môi trường như tài sản, nợ phải trả, chi phí, thu nhập môi trường trong doanh nghiệp Tác giả cũng chưa đề cập đến mô hình kế toán môi trường trong hệ thống kế toán của doanh nghiệp
- Bài báo “Kế toán môi trường đối với các doanh nghiệp Việt Nam”của
tác giả Hà Thị Thu Nga đã nêu lên được sự cần thiết của kế toán môi trường, các nguyên nhân khó khăn để thực hiện kế toán môi trường tại Việt Nam, các điều kiện cần thiết thuộc về phía cơ quan quản lý nhà nước góp phần cho kế toán môi trường phát triển: Như thể chế hóa việc áp dụng kế toán môi trường, xem kế toán môi trường là một bộ phận của hệ thống kế toán, thống kê chính thức và bắt buộc trong hệ thống báo cáo thông tin kinh tế - xã hội ở cấp độ vĩ mô, hoàn thiện
hệ thống thông tin thống kê về môi trường Tuy nhiên, tác giả chưa đề cập đến định nghĩa kế toán môi trường, kế toán tài chính môi trường, kế toán quản trị môi trường, phương pháp xác định, quy trình ghi nhận và cung cấp thông tin về các yếu tố tài sản, nợ phải trả, chi phí, thu nhập môi trường trong doanh nghiệp
- Bài báo “Kế toán quản trị môi trường tại Nhật Bản và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” của tác giả Hoàng Thị Bích Ngọc Tập trung nghiên cứu
kế toán môi trường tại các công ty Nhật Bản, chỉ ra được các lợi ích khi doanh nghiệp áp dụng kế toán môi trường và bài học kinh nghiệm cho việc ứng dụng
kế toán quản lý môi trường trong các doanh nghiệp Việt Nam Tuy nhiên, tác giả
Trang 16chưa đề cập đến định nghĩa kế toán môi trường, kế toán tài chính môi trường, kế toán quản trị môi trường, phương pháp xác định, quy trình ghi nhận và cung cấp thông tin về các yếu tố tài sản, nợ phải trả, chi phí, thu nhập môi trường trong doanh nghiệp, mô hình kế toán môi trường trong hệ thống kế toán doanh nghiệp
Các nghiên cứu ngoài nước
Trên thế giới nhiều quốc gia đã ban hành nhiều văn bản pháp lý hướng dẫn
về kế toán hoạt động bảo vệ môi trường trong các doanh nghiệp Hiện nay đã có nhiều tài liệu giới thiệu, hướng dẫn về kế toán môi trường đã được phát hành, như
Cơ quan Bảo vệ môi trường của Mỹ, Bộ Môi trường Nhật Bản, Bộ Môi trường Cộng hòa liên bang Đức, Ủy ban của Cộng đồng châu Âu (EC) cũng đưa ra các quy định mang tính chỉ đạo và hướng dẫn một số nội dung kế toán môi trường và công khai thông tin môi trường của các doanh nghiệp Một số tổ chức khác như Envirowise của Vương quốc Anh, Tổ chức Môi trường Canada, các trung tâm, viện nghiên cứu và nhiều nhà nghiên cứu cũng đã đưa ra nhiều hướng dẫn cho việc đánh giá và lập báo cáo về các chi phí liên quan đến môi trường Nhìn chung, các bài nghiên cứu tập trung vào nghiên cứu kế toán môi trường trên phương diện
kế toán tài chính môi trường và kế toán quản trị môi trường
Liên quan đến kế toán tài chính môi trường, các nghiên cứu này tập trung vào các nội dung sau: Nhận diện, đo lường, ghi nhận, công khai thông tin chi phí môi trường, nợ phải trả môi trường trên báo cáo tài chính
- Bài báo “Kế toán môi trường và chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS)” của tác giả A Aziz Ansari đề cập sự cần thiết để phải bổ sung yếu tố
môi trường trong báo cáo tài chính của doanh nghiệp Cần có sự thống nhất chung về nhận diện, đo lường và công bố thông tin các yếu tố của kế toán môi trường, gồm tài sản, nợ phải trả, chi phí, thu nhập môi trường trên báo cáo tài chính Các doanh nghiệp nên vận dụng chuẩn mực báo báo tài chính quốc tế để
đo lường và công bố thông tin các yếu tố môi trường trên báo cáo tài chính Tuy nhiên, tác giả bài báo chỉ tập trung vào vận dụng chuẩn mực kế toán báo cáo tài chính quốc tế để đo lường và công bố thông tin các yếu tố môi trường trên báo
Trang 17cáo tài chính của doanh nghiệp, chưa đề cập đến các khái niệm về tài sản, nợ phải trả, chi phí, thu nhập môi trường và các cơ sở để đo lường, ghi nhận, cung cấp thông tin tài chính của các yếu tố của kế toán môi trường
- Tổ chức UNCTAD (2002), đã ban hành và hướng dẫn “Kế toán chi phí,
nợ phải trả môi trường, trình bày các thông tin chi phí, nợ phải trả môi trường trong báo cáo tài chính” tài liệu tập trung vào các vấn đề: Sự cần thiết của kế
toán nợ phải trả môi trường và chi phí môi trường trong doanh nghiệp, ghi nhận,
đo lường, công khai thông tin chi phí môi trường và nợ phải trả môi trường trên báo cáo tài chính Tuy nhiên, tác giả chưa đề cập đến nhận diện, xác định, ghi nhận, cung cấp thông tin về tài sản môi trường và thu nhập môi trường trong doanh nghiệp
Liên quan đến kế toán quản trị môi trường, các nghiên cứu này tập trung vào các nội dung sau: Phân loại chi phí môi trường, các phương pháp kế toán quản trị môi trường, thông tin kế toán quản trị môi trường
- Tổ chức IFAC (2005), đã ban hành “Tài liệu hướng dẫn thực hiện kế toán quản trị môi trường” (EMA) Tài liệu tập trung vào các vấn đề: Sự cần
thiết của kế toán quản trị môi trường, nguyên tắc kế toán môi trường, thông tin kế toán môi trường cung cấp trên cả hai phương diện là thông tin vật lý và thông tin tiền tệ của hoạt động môi trường trong doanh nghiệp Thông tin vật
lý bao gồm thông tin về hiện vật của dòng nguyên vật liệu, năng lượng, nước
sử dụng và chất thải từ hoạt động sản xuất kinh doanh Thông tin tiền tệ bao gồm thông tin về chi phí môi trường trong doanh nghiệp và chi phí môi trường tiết kiệm được từ quản lý tốt hoạt động môi trường Ngoài ra, tài liệu còn đưa ra định hướng trình bày thông tin chi phí và thu nhập môi trường của doanh nghiệp trên báo cáo tài chính Tuy nhiên, tác giả chưa đề cập đến nội dung các phương pháp xác định chi phí môi trường trong doanh nghiệp phục
vụ cho quản trị doanh nghiệp
- Ủy ban liên hợp quốc về phát triển bền vững (2002), đã ban hành
“Nguyên tắc và thủ tục kế toán quản trị môi trường” Tài liệu tập trung vào các
Trang 18nguyên tắc, thủ tục, phương pháp để định lượng chi phí môi trường nhằm cung cấp thông tin trong việc ra các quyết định trong nội bộ đơn vị Các phương pháp được sử dụng kế toán quan trị môi trường gồm: Phương pháp kế toán dòng luân chuyển vật liệu, phương pháp xác định chi phí môi trường dựa trên cơ sở hoạt động, phương pháp kế toán dòng chi phí, phân loại chi phí môi trường trong doanh nghiệp Tuy nhiên, tác giả chưa hướng dẫn các phương pháp tổ chức thu thập, hệ thống hóa, xử lý và cung cấp thông tin chi phí môi trường cho việc ra quyết định trong nội bộ đơn vị
- Bộ môi trường Nhật bản (2005), đã ban hành tài liệu “Hướng dẫn kế toán môi trường” Tài liệu tập trung vào các vấn đề: Định nghĩa kế toán môi
trường, vai trò chức năng của kế toán môi trường, các nhân tố ảnh hưởng đến kế toán môi trường, phân loại chi phí môi trường và lợi ích môi trường, đo lường chi phí môi trường và lợi ích môi trường, phương pháp kế toán chi phí môi trường Đồng thời tài liệu còn hướng dẫn cung cấp thông tin kế toán môi trường cho quản lý nội bộ đơn vị và công khai thông tin kế toán môi trường cho bên ngoài Tuy nhiên, tác giả chưa đề cập đến hệ thống hóa, xử lý thông tin chi phí môi trường phục vụ cho việc ra quyết định trong nội bộ đơn vị
3 Kết quả đạt được và những vấn đề tồn tại trong các nghiên cứu trước
Qua phân tích, đánh giá tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về kế
toán môi trường trong các doanh nghiệp:
Các nghiên cứu trong nước
Đã có luận án, tài liệu chuyên khảo, nhiều bài báo viết về kế toán môi
trường Chủ yếu tập trung vào các vấn đề sau:
- Sự cần thiết và ý nghĩa của kế toán môi trường trong các doanh nghiệp, cần phải tổ chức kế toán tài chính môi trường và kế toán quản trị môi trường
trong các doanh nghiệp, trọng tâm là tập trung vào kế toán quản trị môi trường
- Khái niệm về kế toán môi trường, tài sản môi trường, nợ môi trường, chi phí và thu nhập môi trường trong các doanh nghiệp, các vấn đề kỹ thuật, nghiệp
vụ đặc thù của kế toán môi trường
Trang 19- Nhận diện, xác định chi phí môi trường, phân loại chi phí môi trường, hạch toán chi phí môi trường
- Thông tin môi trường phải được ghi nhận vào sổ sách kế toán và công
bố thông tin tích hợp trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp
- Cần phải thiết kế chứng từ, tài khoản phù hợp để ghi nhận, phân loại và
xử lý các thông tin kế toán môi trường, làm căn cứ cho việc lập các báo cáo có liên quan
- Đề xuất nhiều giải pháp để định hướng cho phát triển kế toán môi trường
tại Việt Nam
Các nghiên cứu ngoài nước
Trên thế giới có nhiều tài liệu ban hành hướng dẫn về kế toán hoạt động bảo vệ môi trường trong các doanh nghiệp Các tài liệu rất đa dạng và tiếp cận kế toán môi trường trên nhiều khía cạnh khác nhau, được ban hành và áp dụng cho phù hợp với yêu cầu về thông tin môi trường của từng quốc gia cụ thể Nội dung
kế toán môi trường tập trung chủ yếu vào các vấn đề sau:
- Nguyên tắc kế toán môi trường, thông tin kế toán môi trường cung cấp trên cả hai phương diện là thông tin vật lý và thông tin tiền tệ của hoạt động môi
trường trong doanh nghiệp
- Nhận diện, xác định, ghi nhận, cung cấp thông tin về tài sản môi trường,
nợ phải trả môi trường, chi phí môi trường, thu nhập môi trường trong báo cáo
tài chính
- Nguyên tắc, trình tự kế toán quản trị môi trường, các phương pháp được
sử dụng kế toán quản trị môi trường Các phương pháp kế toán quản trị môi trường gồm: Phương pháp kế toán dòng luân chuyển vật liệu (MFCA), phương
pháp xác định chi phí môi trường dựa trên cơ sở hoạt động (ABC)
- Thông tin kế toán môi trường phải được thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin cho quản lý nội bộ đơn vị và công khai cho bên ngoài Thông tin môi trường công khai bên ngoài có thể trình bày tích hợp trong báo cáo tài chính
hoặc báo cáo môi trường độc lập
Trang 204 Các vấn đề cần nghiên cứu và giải quyết
Nhìn chung, các tài liệu trong nước đã đề cập nhiều đến kế toán môi trường, tập trung vào sự cần thiết phải thực hiện kế toán môi trường trong doanh nghiệp, vai trò của kế toán môi trường, một số định hướng phát triển kế toán môi trường tại Việt Nam, đồng thời cũng nêu ra một số kiến nghị sửa đối, bổ sung các vấn đề về chi phí và thu nhập môi trường trong chế độ kế toán hiện nay Một
số tài liệu nghiên cứu chi phí môi trường, đưa ra các lý luận cơ bản về kế toán môi trường, phương pháp kế toán môi trường Các nghiên cứu trước đây đã đạt được những kết quả nhất định, tuy nhiên những vấn đề còn tồn tại cần tiếp tục giải quyết như:
- Cần hệ thống hóa một cách đầy đủ hơn về cơ sở lý luận của kế toán môi trường trong doanh nghiệp
- Cần nghiên cứu đầy đủ hơn các vấn đề nhận diện, xác định, ghi nhận
và cung cấp thông tin liên quan đến tài sản, nợ phải trả, chi phí, thu nhập môi trường
- Cần nghiên cứu tổ chức thu nhận, hệ thống hóa, xử lý và cung thông tin môi trường cho các đối tượng có nhu cầu sử dụng thông tin trên phương diện kế toán tài chính và kế toán quản trị môi trường
- Cần khảo sát biểu hiện của tổ chức công tác kế toán môi trường trong các doanh nghiệp sản xuất hiện nay nhằm đánh giá, phân tích thực trạng nhằm
đề xuất các giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác kế toán môi trường
5 Mục đích nghiên cứu
Mục đích cơ bản mà luận án hướng đến là hoàn thiện tổ chức công tác kế toán môi trường trong các doanh nghiệp sản xuất Xuất phát từ mục đích trên, các mục tiêu nghiên cứu cụ thể của của luận án được xác định:
Thứ nhất, hệ thống hóa các vấn đề lý luận về tổ chức công tác kế toán môi
trường trong các doanh nghiệp sản xuất Cụ thể:
- Nhận diện, xác định, ghi nhận thông tin tài sản, nợ phải trả, chi phí, thu nhập môi trường trong doanh nghiệp
Trang 21- Tổ chức quy trình ghi nhận và cung cấp thông tin tài sản, nợ phải trả, chi phí, thu nhập môi trường cho các đối tượng sử dụng thông tin bên trong và bên ngoài doanh nghiệp
Thứ hai, phân tích, đánh giá thực tế tổ chức công tác kế toán môi trường
trong các doanh nghiệp sản xuất tại Quảng Ngãi trên cả phương diện kế toán tài chính và kế toán quản trị
Thứ ba, hoàn thiện tổ chức công tác kế toán môi trường trong các doanh
nghiệp sản xuất trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
Thứ tư, đề xuất một số kiến nghị cần thiết tạo điều kiện thuận lợi cho việc
thực hiện tổ chức công tác kế toán môi trường trong các doanh nghiệp sản xuất
6 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu tổ chức công tác kế toán môi trường
trong các doanh nghiệp sản xuất
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Nghiên cứu tổ chức công tác kế toán môi trường tại các doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi Tập trung nghiên cứu các doanh nghiệp sản xuất trong nước, đang trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh
+ Trọng tâm của luận án là tập trung vào nghiên cứu nhận diện, xác định, quy trình ghi nhận, cung cấp thông tin kế toán môi trường cho các đối tượng sử dụng thông tin Đối với các đối tượng sử dụng thông tin bên ngoài, thông tin kế toán môi trường cung cấp dưới dạng thông tin tài chính Đối với các đối tượng
sử dụng thông tin bên trong, thông tin kế toán môi trường cung cấp tập trung vào thông tin chi phí môi trường phục vụ cho việc ra quyết định trong nội bộ
+ Thời gian nghiên cứu: Luận án nghiên cứu, khảo sát thực tế, thu thập thông tin số liệu sơ cấp và thứ cấp về tổ chức công tác kế toán môi trường tại các doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi từ năm 2012 đến nay
+ Thời gian thực hiện khảo sát thực tế từ tháng 1 năm 2014 đến tháng 12 năm 2014
Tuy nhiên, do thời gian, không gian hạn chế nên luận án tập trung vào nghiên cứu và khảo sát các nhóm doanh nghiệp sản xuất thuộc diện có nguy cơ
Trang 22gây ô nhiễm môi trường, có quy mô vừa và quy mô lớn theo tiêu chuẩn của Việt Nam (những doanh nghiệp có tổng nguồn vốn từ trên 20 tỷ đồng, lao động từ trên 200 người) và có tỉ lệ nguyên giá tài sản cố định sử dụng cho hoạt động môi trường trên tổng nguyên giá tài sản cố định từ 5% trở lên
Số lượng doanh nghiệp gửi phiếu khảo sát là 30 doanh nghiệp, thuộc 10 nhóm ngành nghề có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường theo quy định của
“Thông tư số 04/2012/TT-BTNMT ngày 08/5/2012 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc hướng dẫn phân loại và quyết định danh mục cơ sở sản xuất có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường”
1 Nhóm các ngành nghề sản xuất vật liệu xây dựng
2 Nhóm các ngành nghề khai thác khoáng sản
3 Nhóm các ngành nghề về cơ khí
4 Nhóm các ngành nghề chế biến thực phẩm, đồ uống
5 Nhóm các ngành nghề chế biến nông sản
6 Nhóm các ngành nghề chế biến và chăn nuôi gia súc, gia cầm và thủy sản
7 Nhóm các ngành nghề sản xuất phân hóa học, thuốc bảo vệ thực vật
7 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận án dựa trên nền tảng phương pháp triết học duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, đồng thời sử dụng các phương pháp
hệ thống hóa, điều tra, thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh
Các nội dung cơ sở lý luận được dựa trên những khái niệm, nguyên lý, phương pháp đã được nghiên cứu ở Việt Nam và đang được áp dụng rộng rãi
Trang 23trên thế giới Trong quá trình nghiên cứu luận án, các phương pháp phân tích, so sánh, diễn dịch được sử dụng tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể
Xuất phát từ câu hỏi nghiên cứu của luận án là thực trạng của tổ chức công tác kế toán môi trường tại các doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi hiện nay như thế nào? Tác giả đi sâu vào tìm hiểu thực trạng của tổ chức kế toán môi trường tại các doanh nghiệp sản sản xuất tại Quảng Ngãi qua các nội dung: Biểu hiện tài sản, nợ phải trả, chi phí và thu nhập môi trường, quy trình ghi nhận và cung cấp thông tin kế toán môi trường, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện
Tác giả đã sử dụng phương pháp định tính trong nghiên cứu vấn đề thực tiễn
- Phương pháp thu thập thông tin
Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Dữ liệu thứ cấp bao gồm các tài
liệu liên quan đến công trình trong nước và nước ngoài được thu thập thông qua các nguồn tài liệu tại các thư viện và tìm kiếm trên mạng thông qua việc truy cập các trang website Các trang website tác giả thường truy cập để nghiên cứu là các bài báo, công trình khoa học về kế toán môi trường các trường đại học và các trang website nước ngoài, chủ yếu là các công trình nghiên cứu trên các website nước ngoài như: http://www.ifac.org; http://unctad.org; Ngoài ra các dữ liệu thứ cấp được sử dụng trong luận án còn bao gồm các chứng từ kế toán; các sổ kế toán chi tiết và tổng hợp; các BCTC của các doanh nghiệp sản xuất tại Quảng Ngãi, và các báo cáo tổng kết, báo cáo định hướng cũng như chiến lược bảo vệ môi trường của tỉnh Quảng Ngãi
Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp: Luận án sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp thông qua khảo sát, điều tra về thực tế tổ chức công tác kế toán môi trường, cụ thể: Tổ chức kế toán tài sản, nợ phải trả, chi phí, thu nhập hoạt động môi trường trong các doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi Các phương pháp được sử dụng để khảo sát gồm: Phương pháp điều tra, phỏng vấn các nhà quản lý nhà nước về môi trường, các nhà quản trị doanh
Trang 24nghiệp, các nhân viên kế toán, đặc biệt là nhân viên kế toán trưởng, kế toán tổng hợp tại các doanh nghiệp
- Khảo sát bằng phiếu điều tra
Đối tượng khảo sát bằng phiếu điều tra được chia thành 2 nhóm:
- Nhóm thứ nhất tập trung vào các đối tượng sử dụng thông tin bên ngoài doanh nghiệp, đại diện cho nhóm này là các ngân hàng tại Quảng Ngãi, Cục Thống kê Quảng Ngãi, Chi cục Bảo vệ môi trường Quảng Ngãi, Sở Kế hoạch và Đầu tư Quảng Ngãi Mục đích khảo sát của nhóm này nhằm tìm hiểu nhu cầu thông tin về kế toán môi trường cung cấp cho đối tượng sử dụng thông tin bên ngoài (Bảng câu hỏi khảo sát tại phụ lục 2.1)
- Nhóm thứ hai tập trung vào các đối tượng sử dụng thông tin bên trong doanh nghiệp, đối tượng khảo sát trong nhóm này là các nhà quản trị, kế toán trưởng doanh nghiệp Mục đích khảo sát nhóm này nhằm tìm hiểu nhu cầu thông tin kế toán môi trường phục vụ cho công tác quản trị nội bộ, thực trạng của tổ chức kế toán môi trường tại doanh nghiệp (Bảng câu hỏi khảo sát tại phụ lục 2.2)
Phiếu điều tra khảo sát được thiết kế với 26 câu hỏi được chia làm 3 phần, tập trung vào nhu cầu thông tin kế toán môi trường, tìm hiểu thực trạng của tổ chức công tác kế toán môi trường trong doanh nghiệp, kiến nghị và đề xuất về kế toán môi trường trong doanh nghiệp Các câu hỏi được sử dụng để khảo sát được chia làm 3 phần như sau:
Phần I: Tìm hiểu về thông tin của doanh nghiệp Phần II: Thực trạng tổ chức công tác kế toán môi trường Phần III: Đề xuất, kiến nghị
Các câu hỏi trong bảng khảo sát được thiết kế với các nội dung câu hỏi sau:
Câu hỏi đóng: Là câu hỏi được xây dựng nội dung câu hỏi có phương án
trả lời, yêu cầu người được phỏng vấn, khảo sát được lựa chọn khi trả lời Mục đích của loại câu hỏi này nhằm thu thập thông tin liên quan đến các vấn đề cần
sự khẳng định, hiển nhiên một cách chính xác
Trang 25Câu hỏi mở: Là câu hỏi được xây dựng nội dung câu hỏi không có
phương án trả lời sẵn, người được khảo sát tự điền nội dung trả vào bảng khảo sát Mục đích của câu hỏi này nhằm thu thập thông tin về quan điểm, nhu cầu mang tính định hướng có thể chưa xảy ra
Câu hỏi vừa đóng vừa mở: Là dạng câu hỏi kết hợp vừa bắt buộc người
được phỏng vấn phải trả lời với tất cả nội dung lựa chọn và đưa ra những phương án trả lời được gợi ý thêm từ bảng câu hỏi Mục đích của câu hỏi này dùng để thu thập thông tin mang tính khẳng định và thu thập thông tin chưa được gợi mở để bổ sung thêm nội dung thông tin cho nhau
Tác giả thực hiện khảo sát chủ yếu bằng hình thức phỏng vấn trực tiếp, một số trường hợp phiếu khảo sát được gửi trực tiếp đến đối tượng được khảo sát
- Phương pháp xử lý và phân tích thông tin
Thông qua thu thập các kết quả điều tra, tác giả sẽ kiểm tra để phát hiện những thông tin thiếu sót trong quá trình ghi chép, bổ sung những thông tin còn thiếu sót, sau đó tổng hợp, tính toán bằng phần mềm Excel của Microsoft Office
2007 theo yêu cầu nghiên cứu Kết quả tính toán được trình bày dưới dạng bảng biểu hoặc đoạn văn kết luận Các phương pháp chính được tác giả sử dụng trong quá trình xử lý và phân tích số liệu chủ yếu là phương pháp thống kê mô tả, tác giả mô tả toàn bộ sự vật hiện tượng trên cơ sở số liệu đã được tính toán thông qua việc sử dụng tuyệt đối, số tương đối Từ đó luận án đưa ra các kết quả được trình bày dưới dạng bảng biểu hoặc đoạn văn để tổng kết thực trạng, phân tích làm nổi bật thực trạng các vấn đề nghiên cứu:
- Đánh giá nhu cầu thông tin kế toán môi trường của các đối tượng sử dụng thông tin bên ngoài và các nhà quản trị trong doanh nghiệp
- Đánh giá thực trạng nhận diện và xác định tài sản, nợ phải trả, chi phí, thu nhập môi trường trong các doanh nghiệp sản xuất
- Đánh giá quy trình ghi nhận tài sản, nợ phải trả, chi phí, thu nhập môi trường trong các doanh nghiệp sản xuất
Trang 26- Đánh giá thực trạng cung cấp thông tin kế toán môi trường cho các đối tượng sử dụng thông tin bên trong và ngoài doanh nghiệp
- Đánh giá mô hình tổ chức công tác kế toán môi trường
8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Với nhu cầu sử dụng thông tin kế toán môi trường ngày càng cao của các đối tượng sử dụng thông tin, luận án “Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán môi trường tại các doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi” có ý nghĩa
cả về mặt khoa học và thực tiễn
Về mặt khoa học, luận án hệ thống hóa cơ sở lý luận của tổ chức công tác
kế toán môi trường trong các doanh nghiệp Bao gồm: Khái niệm kế toán môi trường, nhận diện, xác định, ghi nhận, cung cấp thông tin kế toán môi trường trên báo cáo tài chính và báo cáo kế toán quản trị
Về mặt thực tiễn, luận án tổng kết thực trạng tổ chức công tác kế toán môi trường trong các doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi Qua đó, đánh giá thực trạng, chỉ ra được những tồn tại, nguyên nhân của những tồn tại,
đề xuất các giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác kế toán môi trường trong doanh nghiệp sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng thông tin của các đối tượng sử dụng thông tin bên trong và bên ngoài
9 Những điểm mới của luận án và các câu hỏi cần làm rõ
9.1 Những điểm mới của luận án
Thứ nhất, hệ thống hóa cơ sở lý luận về kế toán môi trường trong doanh
nghiệp sản xuất Trên cơ sở phân tích, đánh giá cơ sở lý luận, đưa ra các khái niệm, nhận diện, xác định, ghi nhận và cung cấp thông tin kế toán môi trường trên báo cáo kế toán, tổ chức công tác kế toán môi trường trong doanh nghiệp
Thứ hai, phân tích, đánh giá thực trạng tổ chức công tác kế toán trong các
doanh nghiệp sản xuất tại Quảng Ngãi Trên cơ sở đó, xác định được những tồn tại, nguyên nhân của những tồn tại trong tổ chức công tác kế toán môi trường, nhu cầu sử dụng thông tin kế toán môi trường trong doanh nghiệp làm cơ sở cho việc hoàn thiện tổ chức công tác kế toán môi trường trong doanh nghiệp
Trang 27Thứ ba, trên cơ sở hệ thống hóa cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng tổ
chức công tác kế toán môi trường trong các doanh nghiệp sản xuất, luận án đưa
ra các giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác kế toán môi trường trong các doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi Bao gồm:
- Hoàn thiện mô hình kế toán tài chính và kế toán quản trị môi trường trong doanh nghiệp sản xuất
- Nhận diện, xác định, quy trình ghi nhận và cung cấp thông tin kế toán môi trường trên báo cáo kế toán
- Định hướng cần thiết để tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức công tác kế toán môi trường trong các doanh nghiệp sản xuất
9.2 Câu hỏi nghiên cứu
Trên cơ sở việc phân tích, đánh giá những nghiên cứu trong nước và thế giới về kế toán môi trường trong doanh nghiệp, trên cơ sở các vấn đề tồn tại đã được xác định, luận án trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:
- Tại sao phải tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp sản xuất?
- Dựa trên những cơ sở lý luận nào để tổ chức công tác kế toán môi trường trong doanh nghiệp sản xuất?
- Thực trạng tổ chức công tác kế toán môi môi trường trong các doanh nghiệp sản xuất tại Quảng Ngãi hiện nay như thế nào?
- Các giải pháp gì để hoàn thiện tổ chức công tác kế toán môi trường trong các doanh nghiệp sản xuất?
- Những định hướng cần thiết gì để tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức công tác kế toán môi trường trong các doanh nghiệp sản xuất?
10 Bố cục của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình của tác giả đã công bố liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục nội dung của luận án được kết cấu thành 3 chương:
Trang 28Chương 1: Tổng quan về tổ chức công tác kế toán môi trường trong các
doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng tổ chức công tác kế toán môi trường tại các doanh
nghiệp sản xuất trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác kế toán môi trường tại
các doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
Trang 29Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN MÔI TRƯỜNG
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
1.1 TỔNG QUAN VỀ MÔI TRƯỜNG VÀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG MÔI TRƯỜNG
1.1.1 Môi trường
Môi trường là khái niệm rất rộng và được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau Khái niệm đầu tiên về môi trường tiếp cận ở góc độ rộng với nghĩa môi trường là tất cả những gì bao quanh con người [Sharme, 1988] Theo tác giả [Kalesnik, 1970] Môi trường là một bộ phận của trái đất bao quanh con người,
mà tại thời điểm nhất định xã hội loài người có quan hệ tương hỗ trực tiếp, nghĩa
là môi trường có quan hệ một cách gần gũi nhất với đời sống và hoạt động sản xuất của con người Theo định nghĩa của UNDP, môi trường là tất cả các điều kiện tự nhiên (vật lý, hóa học, sinh học) và xã hội có tác động đến các tổ chức, các cơ thể sống, các hoạt động của con người Theo Luật Bảo vệ môi trường
Việt Nam [Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường, 2014], môi trường là hệ thống các
yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật
Để thống nhất về mặt nhận thức khái niệm môi trường, luận án sử dụng
khái niệm môi trường trong “Luật bảo vệ môi trường” được Quốc hội nước
CHXHCN Việt Nam thông qua ngày 23-06-2014 Khái niệm môi trường được định nghĩa: “ Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo
có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật.”
Môi trường với chức năng cơ bản là nguồn cung cấp tài nguyên cho con người, là nơi chứa đựng phế thải, là không gian sống của con người, các khả năng này của hệ thống môi trường là hữu hạn Hệ thống kinh tế với các hoạt động của doanh nghiệp luôn diễn ra các quá trình khai thác tài nguyên (R
- Resource), chế biến nguyên liệu (P -Production), và phân phối để tiêu dùng (C - Consumer)
Trang 30Tài nguyên (R) được doanh nghiệp khai thác từ môi trường tự nhiên Tài nguyên sau khi khai thác được chế biến thành các sản phẩm phù hợp thông qua quá trình sản xuất (P) Các sản phẩm được phân phối để tiêu dùng (C) Trong quá trình chuyển đổi vật chất và năng lượng từ khai thác đến sản xuất, chế biến
và tiêu dùng đều kèm theo chất thải vào môi trường Doanh nghiệp lựa chọn những công nghệ sản xuất, vật liệu sản xuất ít gây tổn hại đến môi là con đường tốt nhất để truyền bá hình ảnh đến với người tiêu dùng, thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh, mở rộng giao lưu thương mại toàn cầu, tạo cho người tiêu dùng nhiều cơ hội tiếp cận và lựa chọn các sản phẩm xanh, sạch, thân thiện với môi trường Đây là cơ hội tốt nhất để nâng cao trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
và phát triển bền vững
1.1.2 Quản lý hoạt động môi trường
Quản lý nhà nước về hoạt động môi trường
Môi trường có vai trò thiết yếu đối với con người, là cơ sở tồn tại và phát triển của xã hội, là thước đo cho sự phát triển bền vững Để có một môi trường chất lượng tốt không thể thiếu vai trò đặc biệt quan trọng của các cơ quan quản
lý nhà nước về môi trường
Quản lý nhà nước về hoạt động môi trường là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển bền vững kinh tế xã hội
Như vậy, có thể nhận thấy rằng quản lý nhà nước về hoạt động môi trường chủ yếu hướng đến điều hành và kiểm soát hoạt động môi trường trong một quốc gia
Nội dung công tác quản lý nhà nước về hoạt động môi trường của Việt
Nam theo [Điều 139, Luật Bảo vệ môi trường], thể hiện qua các nội dung:
- Ban hành và tổ chức việc thực hiện các văn bản pháp quy về bảo vệ môi trường, ban hành hệ thống tiêu chuẩn môi trường
Trang 31- Xây dựng, chỉ đạo thực hiện chiến lược, chính sách bảo vệ môi trường,
kế hoạch phòng chống, khắc phục suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường, sự
- Cấp và thu hồi giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường
- Giám sát, thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường, giải quyết các khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về bảo vệ môi trường, xử lý
vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường
- Đào tạo cán bộ về khoa học và quản lý môi trường
- Tổ chức nghiên cứu, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
- Thiết lập quan hệ quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
Ngoài các nội dung trên, quản lý nhà nước về hoạt động môi trường còn
sử dụng một số công cụ kinh tế khác như: Thuế và phí môi trường, giấy phép chất thải có thể mua bán được "cota ô nhiễm", ký quỹ môi trường, trợ cấp môi trường, nhãn sinh thái nhằm tác động tới chi phí và lợi ích trong hoạt động của
tổ chức kinh tế, tạo ra các tác động tới hành vi ứng xử của nhà sản xuất nhằm hướng đến có lợi cho môi trường
Việc sử dụng hiệu quả các công cụ kinh tế trên có những tác động tích cực đến các hành vi môi trường, có tác dụng điều chỉnh một cách tự giác hành vi bảo
vệ môi trường của doanh nghiệp, khuyến khích việc nghiên cứu triển khai kỹ thuật công nghệ có lợi cho bảo vệ môi trường, gia tăng nguồn thu cho công tác bảo vệ môi trường và cho ngân sách nhà nước, duy trì tốt giá trị môi trường của quốc gia
Trang 32Quản lý hoạt động môi trường trong doanh nghiệp
Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đều ảnh hưởng đến môi trường, có tác động tích cực và tiêu cực đến vấn đề môi trường và ngược lại môi trường cũng góp phần tạo nên những thuận lợi hay khó khăn trong việc sản xuất Đồng thời, cũng phải khẳng định rằng mọi hoạt động sản xuất kinh doanh đều ảnh hưởng đến môi trường Nếu đòi hỏi hoạt động sản xuất kinh doanh hoàn toàn không ảnh hưởng đến môi trường thì chắc chắn sẽ không có bất kỳ một hoạt động kinh tế nào xảy ra
Trong quá trình sản xuất, kinh doanh các doanh nghiệp ngày càng chịu áp lực gia tăng từ phía cơ quan pháp luật, khách hàng, người lao động, ngân hàng… các doanh nghiệp phải thực hiện có trách nhiệm trong việc bảo vệ môi trường Khách hàng, người tiêu dùng yêu cầu được tiêu dùng những sản phẩm “sạch” được sản xuất bởi các công nghệ thân thiện môi trường, người lao động yêu cầu được làm việc trong môi trường an toàn, vệ sinh hơn…Họ tạo ra các áp lực buộc các cơ quan pháp luật phải ban hành, kiểm soát nghiêm ngặt việc thực hiện quy định về môi trường, nhằm hạn chế những tác động tiêu cực do sản phẩm hay hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp gây ra với cộng đồng và môi trường Những áp lực đó, buộc các doanh nghiệp phải quản lý hoạt động môi trường tại đơn vị Việc quản lý hiệu quả hoạt động môi trường tại đơn vị sẽ giúp doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro môi trường và gia tăng lợi nhuận trong tương lai
Quản lý hoạt động môi trường trong các doanh nghiệp tập trung vào các
vấn đề sau:
Thứ nhất, tuân thủ yêu cầu của luật bảo vệ môi trường và các quy định về
môi trường Hiện nay, Hệ thống pháp luật quy định về bảo vệ môi trường đã điều chỉnh tương đối đầy đủ hoạt động môi trường trong doanh nghiệp Các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường đã quy định từ chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường, quyền và nghĩa vụ cơ bản của mỗi tổ chức, cá nhân trong khai thác, sử dụng và bảo vệ môi trường Quản lý hoạt động môi trường trong doanh nghiệp hướng đến tuân thủ nghĩa vụ pháp lý của chủ thể trong việc bảo vệ môi trường
Trang 33Thứ hai, gia tăng hiệu quả từ hoạt động môi trường mang lại Các doanh
nghiệp nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề môi trường trong doanh nghiệp, đã thấy được lợi ích mà hoạt động bảo vệ môi trường mang lại, quản lý hoạt động môi trường tại đơn vị là cơ sở để đưa ra các quyết định nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường, thực hiện có trách nhiệm đối với xã hội, nâng cao hình ảnh của doanh nghiệp
1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KẾ TOÁN MÔI TRƯỜNG TRONG DOANH NGHIỆP
1.2.1 Khái niệm, bản chất kế toán môi trường trong doanh nghiệp
Theo ủy ban Bảo vệ môi trường của Mỹ (USEPA) [57], kế toán môi trường nói chung là một khái niệm bao trùm ba lĩnh vực khác nhau: Kế toán môi trường của quốc gia, kế toán tài chính môi trường và kế toán quản trị môi trường trong doanh nghiệp Ba lĩnh vực khác nhau của kế toán môi trường phục vụ cho những đối tượng sử dụng thông tin đặc thù sau:
Bảng 1.1: Các loại kế toán môi trường theo USEPA
Loại kế toán môi trường Phạm vi Đối tượng sử dụng thông tin
1 Kế toán môi trường quốc gia Quốc gia, vùng
lãnh thổ
Công chúng, thông tin được công khai
2 Kế toán tài chính môi trường Doanh nghiệp Các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp,
thông tin được công khai
3 Kế toán quản trị môi trường Doanh nghiệp Nội bộ, thông tin không được công khai
Kế toán tài chính môi trường trong doanh nghiệp là quá trình kế toán và
lập các khoản mục nợ phải trả môi trường, chi phí môi trường trên báo cáo tài chính dựa trên các nguyên tắc kế toán được thừa nhận
Kế toán quản trị môi trường trong doanh nghiệp là quá trình nhận diện,
thu thập và phân tích thông tin cơ bản về môi trường trong nội bộ đơn vị Kế toán quản trị môi trường có thể được thiết lập phù hợp theo yêu cầu của nhà quản lý của đơn vị
Theo Liên đoàn kế toán quốc tế IFAC [43]
Trang 34Kế toán môi trường là một khái niệm rộng được sử dụng trong một số hoàn cảnh khác nhau, như: Đánh giá và công bố thông tin tài chính liên quan đến môi trường trong báo cáo tài chính, đánh giá và sử dụng các loại thông tin vật lý
và tiền tệ liên quan đến hoạt động môi trường phục vụ cho quản trị môi trường
Theo phạm vi cung cấp thông tin, kế toán môi trường trong doanh nghiệp được phân thành 2 loại, kế toán tài chính môi trường và kế toán quản trị môi trường
Kế toán tài chính môi trường: Là việc cung cấp các thông tin liên quan đến hoạt động môi trường trong báo cáo tài chính, bao gồm thông tin liên quan như thu nhập và chi phí của các khoản đầu tư liên quan đến môi trường, trách nhiệm pháp lý về môi trường và các chi phí quan trọng khác liên quan đến hoạt động môi trường của doanh nghiệp
Kế toán quản trị môi trường: Là việc cung cấp thông tin để quản lý hiệu quả kinh tế của các hoạt động môi trường thông qua hệ thống kế toán quản trị của doanh nghiệp, tập trung vào cả hai loại thông tin: Thông tin vật lý về dòng luân chuyển của năng lượng, nước, vật liệu và chất thải và thông tin về tiền tệ của chi phí, thu nhập môi trường và khoản chi phí môi trường tiết kiệm được
Theo Schaltegger và Burritt [52]
Kế toán môi trường là một bộ phận kế toán liên quan đến hoạt động của một doanh nghiệp Bao gồm: ghi chép, phân tích và báo cáo thông tin về hoạt động môi trường của doanh nghiệp và hiệu quả kinh tế sinh thái của doanh nghiệp
Theo Bennett và James [29]
Trang 35Kế toán môi trường trong doanh nghiệp liên quan đến hai loại thông tin tài chính và phi tài chính, tính toán và sử dụng đơn vị tiền tệ và hiện vật để phản ánh chi phí môi trường trong doanh nghiệp
Theo Howes [39]
Kế toán môi trường là cầu nối giữa hiệu quả môi trường và hiệu quả tài chính Kế toán môi trường gắn liền với quá trình cung cấp thông tin về môi trường cho các nhà quản lý nhằm tiết kiệm chi phí, giảm rủi ro kinh doanh, đồng thời gia tăng được giá trị
Theo Bộ môi trường Nhật Bản [46]
Kế toán môi trường nhằm mục tiêu đạt tới sự bền vững, duy trì quan hệ tốt đẹp với cộng đồng, nâng cao hiệu quả của các hoạt động bảo vệ môi trường Các phương pháp của kế toán môi trường cho phép doanh nghiệp xác định được chi phí môi trường, xác định được thu nhập môi trường, cung cấp các cách thức hợp lý nhất cho đo lường các chỉ tiêu (tiền tệ và hiện vật) và hỗ trợ cho việc lập các báo cáo kết quả môi trường Vì thế, kế toán môi trường có thể được sử dụng như là một hệ thống thông tin môi trường nhằm phục vụ cho các đối tượng bên trong và bên ngoài doanh nghiệp
Qua các phân tích, đánh giá các khái niệm kế toán môi trường nêu trên, kế toán môi trường có các đặc trưng sau:
- Kế toán môi trường bao gồm các loại kế toán môi trường quốc gia, kế toán tài chính môi trường, kế toán quản trị môi trường
- Kế toán môi trường trong doanh nghiệp là một bộ phận kế toán có liên quan đến các vấn đề môi trường và không thể tách rời khỏi kế toán tài chính và
kế toán quản trị
- Kế toán môi trường cung cấp thông tin để quản lý hiệu quả kinh tế của các hoạt động môi trường, loại thông tin được sử dụng: Thông tin vật lý về dòng luân chuyển của năng lượng, nước, vật liệu và chất thải và thông tin về tiền tệ của chi phí, thu nhập môi trường và khoản chi phí môi trường tiết kiệm được
- Các phương pháp của kế toán môi trường giúp xác định được chi phí môi trường, xác định được thu nhập môi trường, cung cấp các phương pháp đo
Trang 36lường các chỉ tiêu (tiền tệ và hiện vật) và hỗ trợ cho việc lập các báo cáo kết quả môi trường
- Kế toán môi trường cung cấp thông tin về hoạt động môi trường cho nhà quản lý nhằm tiết kiệm chi phí, giảm rủi ro kinh doanh, đồng thời gia tăng giá trị doanh nghiệp
Từ những các đặc trưng của kế toán môi trường, trên phương diện tiếp cận
kế toán môi trường là một nội dung kế toán trong hệ thống kế toán của doanh nghiệp, kế toán các yếu tố có liên quan đến các vấn đề môi trường và không thể tách rời khỏi kế toán tài chính và kế toán quản trị, cung cấp thông tin tiền tệ và hiện vật về hoạt động môi trường trong doanh nghiệp cho các đối tượng sử dụng thông tin bên trong và ngoài đơn vị Theo chúng tôi kế toán môi trường được định nghĩa như sau:
Kế toán môi trường trong doanh nghiệp là một bộ phận trong hệ thống
kế toán doanh nghiệp nhằm thu nhận, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin về hoạt động môi trường trong phạm vi doanh nghiệp dưới hình thức giá trị và hiện vật
Tiếp cận theo đối tượng sử dụng thông tin kế toán, kế toán môi trường trong doanh nghiệp được chia thành kế toán tài chính môi trường và kế toán quản trị môi trường
Kế toán tài chính môi trường là một bộ phận của kế toán tài chính trong doanh nghiệp nhằm thu nhận, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin về hoạt động môi trường của doanh nghiệp trên báo cáo tài chính cho các đối tượng có nhu cầu sử dụng thông tin
Kế toán quản trị môi trường là một bộ phận của kế toán quản trị trong doanh nghiệp nhằm thu nhận, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin về tiền tệ, hiện vật liên quan đến hoạt động môi trường theo yêu cầu quản trị trong nội bộ doanh nghiệp phục vụ cho quản lý hiệu quả hoạt động môi trường trong doanh nghiệp trên góc độ tài chính và môi trường
Kế toán môi trường được hình thành từ nhu cầu sử dụng thông tin và phát triển theo sự thay đổi nhu cầu thông tin của những đối tượng sử dụng Để làm rõ
Trang 37bản chất của kế toán môi trường trong doanh nghiệp, cần thiết phải xác định được khuôn khổ và vị trí của kế toán môi trường trong hệ thống kế toán của doanh nghiệp Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về kế toán môi trường nhưng bản chất kế toán môi trường được thống nhất như sau:
Kế toán môi trường là một nội dung không tách rời với hệ thống kế toán doanh nghiệp, được tích hợp trong hệ thống kế toán của doanh nghiệp, nhưng xuất phát từ nhu cầu cung cấp thông tin kế toán môi trường cho các đối tượng sử dụng nên kế toán môi trường cần được xem xét ở góc độ độc lập hơn về mặt nội dung, bao gồm kế toán tài chính môi trường và kế toán quản trị môi trường
Kế toán tài chính môi trường và kế toán quản trị môi trường cùng sử dụng thông tin đầu vào của hệ thống thông tin ban đầu, gắn liền với các hoạt động kinh tế tài chính và hoạt động bảo vệ môi trường của doanh nghiệp, tuân thủ các quy định trong phản ánh và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính
Kế toán tài chính môi trường cung cấp thông tin môi trường trên báo cáo tài chính, thông tin phải tuân thủ nguyên tắc, chuẩn mực kế toán Các thông tin môi trường trong báo cáo tài chính bao gồm: Tài sản môi trường, nợ phải trả môi trường, thu nhập và chi phí môi trường và các chi phí quan trọng khác liên quan đến hoạt động môi trường của đơn vị
Kế toán quản trị môi trường cung cấp thông tin môi trường theo yêu cầu quản trị môi trường trong nội bộ đơn vị, thông tin không nhất thiết phải tuân thủ các nguyên tắc, chuẩn mực kế toán… Các thông tin môi trường phục vụ cho quản trị nội bộ bao gồm: Thông tin tiền tệ, hiện vật về dòng luân chuyển của vật liệu, năng lượng, nước cũng như thông tin về chi phí môi trường, chi phí môi trường tiết kiệm được
Kế toán môi trường với chức năng thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin hoạt động môi trường trong doanh nghiệp, là công cụ hỗ trợ đắc lực cho nhà quản trị bên trong và các đối tượng sử dụng thông tin bên ngoài đơn vị trong việc ra các quyết định Cụ thể:
- Cung cấp thông tin phục vụ cho quản trị nội bộ: Kế toán môi trường thực hiện chức năng cung cấp thông về chi phí môi trường nhằm hỗ trợ cho các
Trang 38quyết định quản trị nội bộ đáp ứng quản lý hiệu quả các tiêu chí môi trường của
doanh nghiệp
- Cung cấp thông tin cho bên ngoài: Kế toán môi trường thực hiện
chức năng cung cấp thông tin kinh tế, tài chính liên quan đến hoạt động môi trường của doanh nghiệp cho các đối tượng có liên quan bên ngoài Thực hiện chức năng này, kế toán môi trường có ảnh hưởng đáng kể đến các quyết định của người sử dụng thông tin như khách hàng, nhà đầu tư, cơ quan quản
Các đối tượng sử dụng thông tin kế toán của doanh nghiệp thường có lợi ích kinh tế trực tiếp hoặc gián tiếp đến doanh nghiệp Nhu cầu thông tin của các đối tượng sử dụng thông tin sẽ chi phối đến các loại thông tin mà hệ thống kế toán của doanh nghiệp phải cung cấp
Nhà quản lý đơn vị
Nhà quản lý điều hành đơn vị có nghĩa vụ và quyền lợi trực tiếp tại đơn
vị Họ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực cho hoạt động bảo vệ môi trường Do vậy, nhà quản lý cần nắm được thông tin về đầu tư môi trường, chi phí môi trường, khoản chi phí môi trường tiết kiệm được và lợi ích từ hoạt
Trang 39động môi trường…của đơn vị nhằm thực hiện quản lý và kiểm soát hoạt động môi trường
Nhà đầu tư
Nhà đầu tư là người cấp vốn cho đơn vị hoạt động dưới hình thức đầu tư
và chịu rủi ro cao nhất, bởi vì lợi ích của họ phụ thuộc và kết quả hoạt động của đơn vị, các rủi ro về môi trường ảnh hưởng đáng kể đến lợi ích của các nhà đầu
tư Chính vì vậy, nhu cầu thông tin của họ thường có phạm vi rộng hơn so với các đối tượng khác, thông tin kế toán môi trường giúp cho chủ sở hữu đánh giá thực trạng và rủi ro tài chính ảnh hưởng đến chủ sở hữu Những thông tin môi trường cung cấp cho nhà đầu tư bao gồm: Thông tin về tình hình tài sản môi trường, nợ phải trả môi trường, chi phí môi trường, thu nhập môi trường và các thông khác liên quan về hoạt động môi trường
Chủ nợ
Chủ nợ có thể là người bán, người cho vay hoặc người cung cấp dịch
vụ cho đơn vị, Chủ nợ là người có quyền lợi kinh tế hợp pháp tại đơn vị được nhận thanh toán khi khoản nợ đáo hạn, đối tượng chủ nợ của đơn vị rất
đa dạng và phong phú Vấn đề mà các chủ nợ quan tâm hàng đầu là đơn vị có khả năng thanh toán các khoản nợ hay không? Các vấn đề về rủi ro môi trường trong đơn vị có ảnh hưởng lớn đến khả năng thanh toán, đặc biệt các đơn vị có các khoản nợ phải trả về môi trường lớn hoặc các tiềm ẩn về vi phạm môi trường đồng nghĩa với việc sẽ ảnh hưởng đến hoạt động liên tục của đơn vị, có những những trường hợp phải buộc đóng cửa, dừng sản xuất kinh doanh Những rủi ro trên ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng thu hồi
nợ của các chủ nợ, các chủ nợ có quyền yêu cầu công khai đầy đủ và kịp thời thông tin của các khoản nợ môi trường để đánh giá rủi ro tín dụng Để phát hiện và đánh giá rủi ro về tín dụng, các chủ nợ thường quan tâm đến các thông tin: Chi phí thuân thủ hoạt động bảo vệ môi trường, nợ phải trả môi trường, dự phòng nợ phải trả môi trường, nợ tiềm tàng môi trường, chính sách môi trường của đơn vị…
Trang 40Chính phủ
Ở một mức độ nhất định, Chính phủ các quốc gia điều can thiệp vào hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trong nền kinh tế Chính phủ thông qua các cơ quan đại diện như các Bộ (Bộ tài chính, Bộ kế hoạch đầu tư, Bộ tài nguyên và môi trường), Tổng cục thuế, Tổng cục thống kê… để thực hiện vai trò
và chức năng quản lý kinh tế của mình Vấn đề về bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp luôn được các nước quan tâm vì nó ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng môi trường của quốc gia Thông tin kế toán của doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin tài chính liên quan đến các vấn đề môi trường phục vụ cho điều hành nền kinh tế quốc dân, thông tin về hoạt động môi trường tại doanh nghiệp sẽ có ý nghĩa quan trọng trong việc thống kê dữ liệu môi trường, đánh giá hoạt động bảo vệ môi trường tại quốc gia góp phần quản lý hiệu quả hoạt động môi trường Những loại thông tin kế toán môi trường các doanh nghiệp cung cấp chủ yếu tập trung vào khoản đầu tư cho hoạt động môi trường, chi phí môi trường trong doanh nghiệp
Các tổ chức kiểm toán sử dụng thông tin kế toán môi trường của đơn vị trên giác độ là người kiểm tra tính khách quan, trung thực và độ tin cậy của thông tin kế toán môi trường nhằm đảm bảo tuân thủ pháp lý của báo cáo tài chính trước khi được công bố nhằm bảo vệ lợi ích của các bên liên quan
1.2.3 Nội dung và phương pháp kế toán môi trường
Mục đích và nhu cầu thông tin của các đối tượng sử dụng thông tin có thể khác nhau giữa các nhóm sử dụng thông tin (bên trong nội bộ hoặc bên ngoài) và giữa các đối tượng trong nhóm (nhà đầu tư, chủ nợ, chính phủ…) song