Các nghiên cứu tại Việt Nam Đến nay, các công trình nghiên cứu trong nước về mức độ công bố thông tin có một số các nghiên cứu như sau: Lê Trường Vinh 2008 nghiên cứu “Các yếu tố ảnh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
HOÀNG THỊ THU HOÀI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẶC ĐIỂM DOANH NGHIỆP
NIÊM YẾT VÀ MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN
TRÊN BÁO CÁO THƯỜNG NIÊN TẠI SÀN GIAO
DỊCH CHỨNG KHOÁN TP.HỒ CHÍ MINH
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu đƣợc sử dụng trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, đƣợc thống kê, tổng hợp và phân tích từ kết quả khảo sát thực tiễn Những kết luận của luận văn chƣa đƣợc công bố trong bất cứ công trình nào
Tp Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 10 năm 2014
( Ký tên và ghi rõ họ tên)
HOÀNG THỊ THU HOÀI
Trang 3MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục viết tắt
Danh mục bảng biểu
Danh mục hình vẽ
Trang
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
2.1 Mục tiêu chung: 2
2.2 Mục tiêu cụ thể: 2
3 Câu hỏi nghiên cứu 2
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 2
4.1 Đối tượng nghiên cứu 2
4.2 Phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
5.1 Phương pháp định tính: 3
5.2 Phương pháp định lượng: 3
6 Đóng góp của nghiên cứu 4
7 Kết cấu dự kiến của luận văn 4
CHƯƠNG 1:TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 5
1.1 Các nghiên cứu thế giới 5
1.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam 7
1.3 Điểm mới của nghiên cứu 8
Kết luận chương 1: 9
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 10
2.1 Tổng quan về CBTT 10
Trang 42.1.1 Khái niệm 10
2.1.2 Lý do cho việc lựa chọn Báo cáo thường niên 11
2.1.3 Yêu cầu về CBTT đối với các doanh nghiệp niêm yết 13
2.1.4 Đo lường mức độ CBTT 14
2.2 Các lý thuyết về CBTT 16
2.2.1 Lý thuyết người đại diện (agency theory) 17
2.2.2 Lý thuyết tín hiệu (signaling theory) 18
2.3 Các đặc điểm của doanh nghiệp ảnh hưởng đến mức độ CBTT 18
2.3.1 Loại ngành 19
2.3.2 Công ty kiểm toán 20
2.3.3 Tính thanh khoản 21
2.3.4 Lợi nhuận 21
2.3.5 Thành phần HĐQT 22
2.3.6 Tỷ lệ sở hữu của HĐQT 23
2.3.7 Quy mô 23
2.3.8 Đòn bẩy tài chính 24
2.3.9 Tỷ lệ sở hữu nước ngoài 24
Kết luận chương 2: 26
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
3.1 Quy trình nghiên cứu 27
3.2 Giả thuyết nghiên cứu 28
3.2.2 Công ty kiểm toán 29
3.2.3 Tính thanh khoản 29
3.2.3 Lợi nhuận 29
3.2.5 Thành phần HĐQT 29
3.2.6 Tỷ lệ sở hữu của HĐQT 30
3.2.7 Quy mô 30
3.2.8 Đòn bẩy tài chính 30
3.2.9 Tỷ lệ sở hữu nước ngoài 30
Trang 53.3 Mô hình nghiên cứu và đo lường các biến 31
3.3.1 Mô hình nghiên cứu 31
3.3.2 Đo lường các biến 33
3.4 Mẫu nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu 39
3.4.1 Mẫu nghiên cứu 39
3.4.2 Dữ liệu nghiên cứu 40
3.5 Phương pháp phân tích số liệu 41
3.5.1 Thống kê mô tả 41
3.5.2 Phân tích tương quan 41
3.5.3 Kiểm định t-test 42
3.5.4 Phân tích hồi quy đa biến 42
Kết luận chương 3: 43
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 44
4.1 Đánh giá mức độ CBTT trên báo cáo thường niên 44
4.1.1 Kết quả khảo sát Bộ tiêu chí CBTT 44
4.1.2 Thống kê mô tả chỉ số CBTT 44
4.1.3 Đánh giá mức độ CBTT 46
4.2 Phân tích các đặc điểm công ty ảnh hưởng đến mức độ CBTT 47
4.2.1 Thống kê mô tả các biến độc lập 47
4.2.2 Kiểm định giả thuyết về trị trung bình giữa hai tổng thể (kiểm định t-test) 49
4.2.3 Phân tích mối tương quan giữa các biến trong mô hình 51
4.2.4 Kết quả hồi quy bội 53
4.2.5 Bàn luận về kết quả nghiên cứu 55
Kết luận chương 4: 59
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 60
5.1 Kết luận 60
5.2 Các kiến nghị 61
5.2.1 Các kiến nghị nhằm tăng cường mức độ CBTT 61
Trang 65.2.2 Kiến nghị đối với nhà đầu tư 65
5.2.3 Kiến nghị đối với cơ quan quản lý NN 66
5.3 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 67
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
PHỤ LỤC 72
Trang 7HNX: Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội
IFC: Tổ chức tài chính quốc tế
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
Error! Bookmark not defined 40
Bảng 4.1: Kết quả thống kê mô tả chỉ số CBTT các doanh nghiệp niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TP.HCM 44
Bảng 4 2: Thống kê mô tả theo từng chỉ mục 45
Bảng 4.3 Kết quả trình bày của các nhóm chỉ mục thông tin 46
Bảng 4.4: Bảng kết quả thống kê mô tả các biến độc lập định lượng 48
Bảng 4.5: Kết quả kiểm định t-test để đánh giá sự khác biệt về mức độ CBTT giữa nhóm các DN sản xuất và phi sản xuất 50
Bảng 4.6: Kết quả kiểm định t-test để đánh giá sự khác biệt về mức độ CBTT giữa nhóm các DN Big4 và non Big4 50
Bảng 4.7: Ma trận tương quan giữa các biến độc lập trong mô hình 52
Bảng 4.8: Kết quả hồi quy đa biến 54
Trang 9DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu 27Hình 3.2: Mô hình nghiên cứu 32
Trang 10LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Môi trường kinh doanh quốc tế không chỉ đang chuyển dịch theo hướng ngày càng toàn cầu hóa hơn mà còn đồng thời phải đối mặt với các cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính và lạm phát Đặc biệt là ở thị trường chứng khoán Việt Nam, khi mà đây mới chỉ là một thị trường còn rất non trẻ trình độ hiểu biết về các báo cáo công ty, các quy định tài chính còn rất hạn chế Do đó, để bắt kịp với tốc độ phát triển nhanh và sự cạnh tranh khốc liệt, các công ty Việt Nam, đặc biệt là các công ty niêm yết đang cố gắng thỏa mãn ở mức tối đa những gì mà những đối tượng sử dụng thông tin bên ngoài doanh nghiệp cần, mà trong đó, việc tăng cường mức độ công bố các thông tin trên báo cáo thường niên đang được lưu ý
Bên cạnh đó, trước những thất bại của các công ty niêm yết lớn trong hai năm gần đây (như CTCP Kỹ nghệ Khoáng sản Quảng Nam, Tổng công ty xây lắp Dầu khí Nghệ An…), nhu cầu về công bố thông tin của công ty niêm yết đã tăng lên đồng thời đặt thêm áp lực trên các công ty niêm yết trong việc nâng cao chất lượng báo cáo của mình Điều này là do những lý do sau:
Thứ nhất, CBTT giống như “một cây cầu” kết nối một công ty với rất nhiều
đối tượng sử dụng thông tin khác nhau bên ngoài doanh nghiệp, những thông tin được trình bày trong các báo cáo thường niên của công ty đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc cung cấp những thông tin hữu ích giúp cho người sử dụng thông tin ra quyết định
Thứ hai, mức độ CBTT cao có thể giúp thu hút các cổ đông mới qua đó giúp
duy trì một nhu cầu tích cực đối với cổ phiếu và giá cổ phiếu phản ánh đầy đủ hơn giá trị nội tại của nó
Thứ ba, báo cáo chất lượng cao là điều cần thiết để duy trì một hệ thống thị
trường vốn hiệu quả Một thị trường vốn tính thanh khoản cao đòi hỏi sự sẵn có của thông tin minh bạch và đầy đủ để tất cả những người tham gia có thể đưa ra quyết định khi họ phân bổ vốn giữa các lựa chọn thay thế cạnh tranh Việc tăng cường CBTT giúp giảm bớt nguy cơ bất cân xứng thông tin và do đó làm giảm chi phí vốn
Trang 11vì nó có vai trò quan trọng trong việc huy động vốn, cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng, tạo môi trường giúp Chính Phủ thực hiện chính sách vĩ mô
Xuất phát từ thực tiễn nêu trên, tôi quyết định chọn đề tài “Nghiên cứu mối quan hệ giữa đặc điểm doanh nghiệp niêm yết và mức độ công bố thông tin trên báo cáo thường niên tại sở giao dịch chứng khoán TPHCM”
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đề xuất các kiến nghị dựa trên kết quả nghiên cứu
3 Câu hỏi nghiên cứu
- Thứ nhất: Các lý thuyết liên quan đến mức độ CBTT là gì?
- Thứ hai: Các đặc điểm nào của công ty ảnh hưởng tới mức độ CBTT?
- Thứ ba: Các đặc điểm công ty ảnh hưởng đến mức CBTT trên BCTN như thế nào?
- Thứ tư: Các kiến nghị để tăng cường mức độ CBTT?
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng được nghiên cứu: Nghiên cứu mức độ công bố thông tin và các đặc điểm DN ảnh hưởng tới mức độ CBTT trên BCTN của DN niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán TP.HCM
Trang 124.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Các DN niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán
TP.HCM
- Phạm vi thời gian: năm 2013
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp định tính:
Dựa vào các lý thuyết có liên quan, tác giả xác định các đặc điểm doanh nghiệp ảnh hưởng tới mức độ CBTT
Thông qua việc tham khảo Bộ tiêu chí CBTT mà sàn giao dịch chứng khoán
Hà Nội dùng để xếp hạng CBTT các DN, tác giả tiến hành đánh giá lại thông qua khảo sát, gửi bảng câu hỏi đến các đối tượng có liên quan để khẳng định lại Bộ tiêu chí CBTT Từ đó, sử dụng phương pháp chỉ số CBTT bằng cách dựa vào Bộ tiêu chí để tính toán chỉ số CBTT của mỗi DN bằng phương pháp đo lường không trọng
số
5.2 Phương pháp định lượng:
Nghiên cứu được thực hiện nhằm nghiên cứu mối quan hệ giữa đặc điểm DN
và mức độ CBTT, được thực hiện qua các giai đoạn:
- Chọn mẫu nghiên cứu là các doanh nghiệp niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TP.HCM
- Thu thập báo cáo thường niên của các doanh nghiệp theo mẫu đã chọn
- Đo lường các biến đặc điểm DN dựa trên dữ liệu thu thập từ BCTN
- Thiết lập chỉ số phản ánh mức độ CBTT trên báo báo thường niên của các
doanh nghiệp thông qua phương pháp chỉ số CBTT theo cách tiếp cận không trọng
số
- Sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích tương quan, kiểm định t-test
và phân tích hồi quy bội để đo lường ảnh hưởng của các biến đặc điểm DN lên mức
độ CBTT
Trang 136 Đóng góp của nghiên cứu
Về mặt khoa học: Nghiên cứu củng cố và bổ sung cơ sở lý thuyết về các
nhân tố ảnh hưởng tới mức độ CBTT thông tin trên BCTN của DN
Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu là căn cứ khoa học để các DN cung
cấp thông tin trên BCTN, đồng thời nghiên cứu còn là tài liệu giúp các đối tượng sử dụng BCTN của doanh nghiệp hiểu rõ hơn về các thông tin mà doanh nghiệp công
bố Đồng thời các đề xuất nghiên cứu đưa ra góp phần giúp doanh nghiệp cải thiện mức độ CBTT, cung cấp thông tin hữu ích cho người sử dụng thông tin ra quyết định
7 Kết cấu dự kiến của luận văn
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Trang 14CHƯƠNG 1:TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Nội dung CBTT đã được nghiên cứu tại nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam với nhiều khía cạnh, thời điểm và các phạm vi khác nhau Có thể kể đến các nghiên cứu trên thế giới và trong nước như sau:
1.1 Các nghiên cứu thế giới
Hiện nay, một hạn chế lớn khi nghiên cứu về CBTT là cách tiếp cận để đo
lường mức độ CBTT Theo Francesca Citro (2013) với nghiên cứu “Disclosure
level evaluation and disclosure determinant analysis: a literature review” đã chỉ ra
rằng cho đến nay có hai cách tiếp cận chính đã được sử dụng để hình thành một
bảng chấm điểm mức độ CBTT của các công ty: phân tích nội dung và chỉ số
CBTT Trong đó, phân tích nội dung là phương pháp sử dụng các kỹ thuật nghiên
cứu suy luận từ dữ liệu, nghiên cứu ngôn ngữ để lượng hóa chúng và từ đó xếp hạng CBTT Tuy nhiên phương pháp này tốn rất nhiều công sức nên hạn chế có cỡ
mẫu lớn Cách tiếp cận thứ hai là phương pháp chỉ số CBTT Theo đó, người nghiên
cứu sẽ xây dựng bộ tiêu chí CBTT Bộ tiêu chí này bao gồm một danh sách các khoản mục thông tin được lựa chọn, có thể được công bố trong báo cáo của các công ty Đây là cách được đa số các nhà nghiên cứu sử dụng Sau đó, các mục thông tin sẽ được đo lường trong các biến giả theo phương pháp không trọng số (lưỡng phân) hoặc phương pháp có trọng số
Sau khi hiểu rõ được cách thức đo lường mức độ CBTT, các nhà nghiên cứu
sẽ có cơ sở để phát triển nghiên cứu tìm hiểu về các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT
Bhayani (2012) nghiên cứu về “The Relationship between comprehensiveness of corporate disclosure and firm characteristics in India” Tác
giả nghiên cứu ảnh hưởng của quy mô, lợi nhuận, cơ cấu sở hữu, công ty kiểm toán,
đòn bẩy tài chính tác động lên mức độ CBTT Cũng áp dụng phương pháp chỉ số
CBTT với đo lường không trọng số, nghiên cứu chỉ ra rằng các công ty có quy mô
lớn, lợi nhuận cao, đòn bẩy cao, được kiểm toán bởi các công ty kiểm toán lớn có
xu hướng minh bạch thông tin hơn
Trang 15Nandi and Ghosh (2012) nghiên cứu về “Corporate governance attributes,
firm characteristics and the level of corporate disclosure: Evidence from the Indian listed firms” Bài nghiên cứu này cũng sử dụng phương pháp chỉ số CBTT nhưng
dựa trên mô hình của Standard & Poor để đo lường mức độ CBTT Kết quả cho thấy quy mô, lợi nhuận và tính thanh khoản ảnh hưởng tích cực đến mức độ CBTT Tuy nhiên đòn bẩy và thành phần HĐQT lại ảnh hưởng tiêu cực đến mức độ CBTT
Yanesari et al (2012) nghiên cứu về “Board Characteristics and Corporate
Voluntary Disclosure: An Iranian Perspective” Cũng với phương pháp chỉ số CBTT, nghiên cứu dựa trên thực nghiệm để kiểm tra mối quan hệ giữa thành phần
HĐQT, tỷ lệ sở hữu vốn của HĐQT với mức độ CBTT Kết quả cho thấy công ty
có tỷ lệ thành viên HĐQT càng cao thì mức độ CBTT càng cao Tuy nhiên, nghiên cứu lại không tìm thấy mối quan hệ giữa tỷ lệ sở hữu vốn của HĐQT và mức độ CBTT
Fathi (2013) với nghiên cứu “Corporate Governance and the Level of
Financial Disclosure by Tunisian Firm” đã phân tích mức độ CBTT của các công
ty ở Tunisian Nghiên cứu cũng chọn cách tiếp cận thứ hai là chỉ số CBTT Kết quả
nghiên cứu cho thấy các công ty có quy mô, lợi nhuận, tỷ lệ sở hữu vốn của HĐQT khác nhau thì điểm số CBTT cũng khác nhau
Nghiên cứu của Aljifri and Alzarouni (2013) về “The assosiation between
firm characteristics and corporate financial disclosures: evidence from UAE companies” Tác giả cũng sử dụng phương pháp chỉ số CBTT để nghiên cứu tác
động của loại ngành, lợi nhuận, quy mô, tính thanh khoản, tỷ lệ sở hữu nước ngoài,
tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập lên mức độ CBTT Nghiên cứu cho thấy các doanh nghiệp trong lĩnh vực ngân hàng có mức độ CBTT cao hơn ngành sản xuất và dịch
vụ Ngoài ra, quy mô của công ty cũng được tìm thấy là có liên quan đáng kể với mức độ công bố thông tin
Nghiên cứu của Sartawi et al (2014) về “Board Composition, Firm
Characteristics, and Voluntary Disclosure: The Case of Jordanian Firms Listed on the Amman Stock Exchange” Tác giả sử dụng phương pháp phân tích nội dung để
đo lường mức độ CBTT Nghiên cứu cho thấy yếu tố loại ngành có mối quan hệ
Trang 16tích cực đến mức độ CBTT, các công ty trong lĩnh vực bảo hiểm có xu hướng CBTT nhiều hơn các công ty trong ngành công nghiệp và dịch vụ Ngoài ra, các công ty có tỷ lệ sở hữu của HĐQT cao có mức độ minh bạch thông tin càng thấp
1.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam
Đến nay, các công trình nghiên cứu trong nước về mức độ công bố thông tin
có một số các nghiên cứu như sau:
Lê Trường Vinh (2008) nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến mức
độ minh bạch thông tin của doanh nghiệp niêm yết theo cảm nhận của nhà đầu tư”
Trong nghiên cứu của mình, tác giả đã đưa ra 2 nhóm đặc điểm ảnh hưởng đến mức
độ công bố thông tin Loại thứ nhất bao gồm các đặc điểm thuộc về tài chính và loại thứ hai là các đặc điểm thuộc về quản trị doanh nghiệp Những đặc điểm thuộc về tài chính bao gồm: quy mô doanh nghiệp, đòn bẩy tài chính, tình hình tài chính, tài sản cầm cố, hiệu quả sử dụng tài sản Những đặc điểm về quản trị doanh nghiệp: mức độ tập trung vốn chủ sở hữu, cơ cấu HĐQT, quy mô HĐQT Và do giới hạn về
đề tài nên tác giả chỉ đi sâu vào tìm hiểu về nhóm đặc điểm tài chính ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin
Tương tự như vậy, Huỳnh Thị Vân (2013) nghiên cứu “Mức độ CBTT
kế toán của các doanh nghiệp ngành xây dựng yết giá tại sở giao dịch chứng khoán
Hà Nội” Tác giả cũng chỉ nghiên cứu tác động của các biến thuộc đặc điểm tài
chính lên việc CBTT bắt buộc như quy mô, khả năng sinh lời, đòn bẩy, khả năng thanh toán, tốc độ tăng trưởng doanh thu và công ty kiểm toán đến mức độ CBTT Kết quả cho thấy chỉ có Quy mô doanh nghiệp có tác động tích cực đến mức độ CBTT, các biến còn lại không có ý nghĩa
Đề tài nghiên cứu của tác giả Phạm Thị Thu Đông (2013)“Các nhân
tố tác động đến mức độ công bố thông tin trên báo cáo tài chính của các DN niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán Hà Nội” Luận văn nghiên cứu tác động của bảy
biến tới mức độ công bố thông tin như quy mô, khả năng sinh lời, đòn bẩy nợ, khả năng thanh toán, chủ thể kiểm toán, thời gian hoạt động, tài sản cố định Kết quả nghiên cứu cho thấy có hai nhân tố là khả năng sinh lời và tài sản cố định có ảnh hưởng thuận chiều tới mức độ CBTT Tuy nhiên, cũng như hai nghiên cứu trước
Trang 17đó, nghiên cứu cũng bỏ qua tác động của nhóm yếu tố thuộc đặc điểm quản trị DN
1.3 Điểm mới của nghiên cứu
Như vậy, rõ ràng là đã có những công trình nghiên cứu sâu rộng về công bố thông tin trên toàn thế giới và ở Việt Nam cũng đang ngày càng có nhiều nghiên cứu chú ý đến vấn đề này Tuy nhiên, việc lựa chọn các danh mục CBTT để đánh giá ở các nước thì không giống nhau Hầu hết các nhà nghiên cứu sử dụng phương
pháp chỉ số CBTT và luận văn này cũng được sử dụng phương pháp tương tự
Dựa trên tìm hiểu về các nghiên cứu trước đây, luận văn có kế thừa một số đặc điểm như tìm hiểu về các nhân tố tác động lên mức độ CBTT và phân tích tác động của chúng thông qua mô hình định lượng
Đồng thời, luận văn bổ sung thêm những điểm mới trong nghiên cứu Cụ thể
là tác giả tiến hành nghiên cứu mức độ CBTT trên BCTN, trên cả thông tin bắt buộc và tự nguyện chứ không chỉ gói gọn trong các thông tin bắt buộc trên BCTC Ngoài ra, tác giả tiến hành nghiên cứu toàn diện về các đặc điểm của doanh nghiệp ảnh hưởng lên mức độ CBTT, bao gồm cả những đặc điểm liên quan đến quản trị
DN như thành phần HĐQT, tỷ lệ sở hữu vốn của HĐQT Đồng thời, để tạo cơ sở
vững chắc cho bộ tiêu chí CBTT, tác giả xây dựng Bộ tiêu chí dựa trên sự tham khảo Thẻ điểm quản trị công ty do IFC ban hành
Trang 18Kết luận chương 1:
Qua việc giới thiệu về tính cấp thiết, mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu toàn luận văn, tác giả đã giúp người đọc
thấy được cái nhìn khái quát về nghiên cứu
Bên cạnh đó, tác giả đã liệt kê và phân tích sơ bộ các công trình nghiên cứu liên quan Qua đó, nhận thấy các khe hở của nghiên cứu trước như:
Mới chỉ tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của đặc điểm tài chính lên mức độ CBTT mà chưa có một cái nhìn toàn diện trên đặc điểm của doanh nghiệp
Tập trung nghiên cứu mức độ CBTT trên phạm vi báo cáo tài chính, nghĩa là mới chỉ dừng lại ở các thông tin bắt buộc mà chưa nghiên cứu trên phạm vi các thông tin tự nguyện
Do đó, dựa trên các nghiên cứu trước đây, kết hợp với cơ sở các lý thuyết về CBTT và các quy định hiện hành của Việt Nam sẽ làm cơ sở để hình thành luận văn
với đề tài “Nghiên cứu mối quan hệ giữa đặc điểm doanh nghiệp niêm yết và
mức độ công bố thông tin trên báo cáo thường niên tại sở giao dịch chứng khoán TPHCM”
Trang 19CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1 Tổng quan về CBTT
2.1.1 Khái niệm
Tính minh bạch và CBTT đại diện cho một trong những trụ cột của quản trị doanh nghiệp Các bên liên quan khác nhau sử dụng các thông tin công bố trong BCTN của công ty trong quá trình ra quyết định của họ Theo HNX (2014), CBTT được hiểu là phương thức để thực hiện quy trình minh bạch của doanh nghiệp nhằm đảm bảo các cổ đông và công chúng đầu tư có thể tiếp cận thông tin một cách công
bằng và đồng thời
Theo Francesca Citro (2013), công bố thông tin bao gồm hai loại là công bố thông tin bắt buộc và công bố thông tin tự nguyện Công bố thông tin bắt buộc (Madatory disclosure) là những công bố thông tin kế toán theo yêu cầu bởi luật pháp và những quy định của một quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ Những công bố này phải được trình bày theo những quy định của Luật Kinh doanh, Ủy ban chứng khoán, các cơ quan quản lý về kế toán và các chuẩn mực kế toán Công bố tự nguyện (Voluntary disclosure) được hiểu là các thông tin tài chính và phi tài chính được đề cập trên báo cáo thường niên mà không bắt buộc phải công bố, luật pháp không yêu cầu Việc CBTT tự nguyện bên cạnh các thông tin bắt buộc đã và đang nhận được một lượng ngày càng tăng của sự chú ý trong các nghiên cứu kế toán gần đây Thông tin tự nguyện là các thông tin được công bố bên cạnh những thông tin tài chính và phi tài chính bắt buộc để nâng cao niềm tin và nhận thức của nhà đầu tư
về tương lai của doanh nghiệp Thông tin tự nguyện giúp cho các nhà đầu tư quyết đoán hơn trong các quyết định của mình Các thông tin tự nguyện được tiết lộ trong báo cáo hàng năm là một nguồn thông tin tuyệt vời thu hút đối với các nhà nghiên cứu và các bên liên quan (Tufail et al., 2013)
Nhiều nhà nghiên cứu đã tập trung nghiên cứu của họ về CBTT kế toán bắt buộc như Aljifri and Alzarouni (2013) hay nói cách khác là tập trung vào nghiên cứu mức độ CBTT trên BCTC vì báo cáo tài chính đại diện cho các nguồn thông tin chính thức duy nhất có sẵn cho người sử dụng Tuy vậy, cách tiếp cận này có thể
Trang 20gây nhiều tranh luận: nếu các DN đều có nghĩa vụ công bố một lượng thông tin nhất định mang tính bắt buộc, vậy lý do tại sao một số công ty lại CBTT bắt buộc nhiều hơn công ty khác? Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu đã tìm thấy sự khác biệt đáng
kể trên mức độ CBTT bắt buộc của các công ty, do các công ty đã linh hoạt trong việc lựa chọn cách thức và mức độ công bố thông tin cần thiết Một số nhà nghiên cứu khác lại tập trung nghiên cứu của họ về CBTT tự nguyện vì việc công bố các thông tin khác ngoài các yêu cầu tối thiểu có thể làm giảm sự bất đối xứng thông tin cũng như xung đột giữa nhà quản lý và các nhà đầu tư bên ngoài (Healy and Palepu, 2001)
Một BCTN kết hợp cả thông tin bắt buộc và tự nguyện thì chúng liên tục tương tác với nhau CBTT bắt buộc là nghĩa vụ của một công ty để CBTT trong báo cáo của công ty, trong khi đó tiết lộ tự nguyện là một điều khoản bổ sung thông tin khi CBTT bắt buộc không thể cung cấp một bức tranh trung thực về giá trị của công
ty và hoạt động quản lý CBTT bắt buộc và tự nguyện không nên được xem là các mục khác nhau của báo cáo thường niên, mà chúng tương tác với nhau liên tục và chúng ta cần hiểu rõ tầm quan trọng của mỗi khoản mục thông tin (Popova et al., 2013) Khi yêu cầu CBTT bắt buộc là hạn chế hoặc quy định mơ hồ và khó khăn để giải thích, các công ty có thể bổ sung bằng các thông tin tự nguyện Một mối quan
hệ tích cực giữa CBTT tự nguyện và bắt buộc đã được tìm thấy bởi Naser et al (2003) Vì vậy, trong nghiên cứu này, tác giả nghiên cứu cả CBTT bắt buộc và tự nguyện để có một cái nhìn toàn diện, bao quát nhất về mức độ minh bạch thông tin trên thị trường chứng khoán TP.HCM hiện nay
2.1.2 Lý do cho việc lựa chọn Báo cáo thường niên
Theo sổ tay CBTT mà Bộ tài chính ban hành, các công ty niêm yết có thể CBTT trên hai phương tiện:
Báo cáo thường niên: là ấn phẩm thường niên cung cấp thông tin toàn diện về tình hình hoạt động kinh doanh và tài chính của công ty trong năm tài chính liền trước
Trang 21 Trang thông tin điện tử (website): là kênh truyền thông hiệu quả và kinh tế trong thời đại công nghệ cao như hiện nay Đây được xem là một trong những kênh thông tin chính thống của tổ chức niêm yết
Hoặc là, có rất nhiều kênh khác nhau mà qua đó công ty có thể phổ biến thông tin của họ cho công chúng như báo cáo thường niên, thông cáo báo chí, các trang web, bản tin công ty và các cuộc họp của công ty
Trong đó, BCTN được coi là nguồn thông tin quan trọng nhất cho các đối tượng sử dụng khác nhau ( như các nhà quản lý, cổ đông, nhà đầu tư, cơ quan chính phủ, nhà nghiên cứu…) Báo cáo này cung cấp các thông tin định tính và định lượng, tài chính và phi tài chính, hiện tại và tương lai về các đơn vị kinh tế Có nhiều lý do để lựa chọn BCTN như là một phương tiện thích hợp để nghiên cứu về công bố thông tin Thứ nhất, BCTN là tài liệu hàm chứa tình hình và kết quả hoạt động toàn diện về một công ty Thứ hai, các bên liên quan có thể truy cập thông tin trên BCTN một cách dễ dàng và vào bất cứ lúc nào, được công bố thường xuyên Thứ ba, các thông tin trên báo cáo này đã được kiểm toán hoặc được đảm bảo ở mức đáng tin cậy Báo cáo thường niên được lập theo quy định tại mẫu BCTN ban hành kèm theo thông tư số 52/2012/TT-BTC ngày 05/04/2012 của Bộ trưởng Bộ tài chính hướng dẫn về việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán Nội dung
cơ bản gồm:
Tóm lược lịch sử hoạt động của công ty;
Báo cáo của Hội đồng quản trị;
Báo cáo của Ban giám đốc;
Báo cáo tài chính;
Bản giải trình báo cáo tài chính và báo cáo kiểm toán;
Các công ty con và công ty liên quan;
Tổ chức và nhân sự của công ty;
Thông tin cổ đông, thành viên góp vốn và Quản trị công ty;
Các thông tin khác;
Trang 222.1.3 Yêu cầu về CBTT đối với các doanh nghiệp niêm yết
Đối với các công ty niêm yết, nhu cầu tìm hiểu thông tin về doanh nghiệp không chỉ dừng ở các chủ sở hữu mà còn là các nhà đầu tư Chính vì vậy, yêu cầu công bố thông tin đặt ra cho các công ty niêm yết luôn nghiêm ngặt hơn so với các công ty đại chúng Các quy định chặt chẽ này nhằm ngăn chặn những ảnh hưởng to lớn từ các hành vi che giấu thông tin, gian lận có thể xảy ra và để duy trì cơ chế giám sát hiệu quả từ các bên có liên quan và công chúng đầu tư đối với hoạt động của công ty niêm yết Việc công bố thông tin chính xác có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc tạo lập và duy trì niềm tin của công chúng đầu tư đối với doanh nghiệp Sự sụp đổ của những công ty đa quốc gia từng là biểu tượng thành công một thời trong những năm gần đây đã hướng sự chú ý của công chúng đầu tư vào tầm quan trọng của độ tin cậy của thông tin Các gian lận bị phát hiện sau này trong những vụ việc đó đã cảnh tỉnh giới đầu tư về tầm quan trọng của việc công bố thông tin không chỉ là kịp thời mà còn phải đầy đủ, rõ ràng và chính xác
Các yêu cầu của CBTT được quy định tại thông tư 52/2012/TT – BTC ngày
05/04/2012 nhấn mạnh việc CBTT phải đầy đủ, chính xác và kịp thời theo quy
định của pháp luật, hoạt động CBTT phải do Giám đốc hoặc người ủy quyền CBTT thực hiện, Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc phải chịu trách nhiệm về nội dung thông tin do người được ủy quyền
Tính đầy đủ thể hiện ở các quy định cụ thể về thể loại, nội dung và hình
thức công bố, cả thông tin công bố thường niên và mang tính bất thường có khả năng ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng
Tính chính xác tức là các thông tin phải hàm chứa tính trung thực, khách
quan, và đáng tin cậy Đặc biệt ở đây quy định cụ thể việc công bố phải do người đại diện theo pháp luật hoặc người được ủy quyền công bố thực hiện, chính là nhà quản trị doanh nghiệp
Ngoài ra, trong thị trường chứng khoán, mọi sự chậm trễ đều làm thông tin
mất đi hoặc giảm phần lớn tác dụng Chính vì thế, yêu cầu về tính kịp thời của
thông tin không thể chỉ mang tính tự nguyện từ các doanh nghiệp Việc quy định chặt chẽ thời gian tối đa để công bố các thông tin trong từng trường hợp, chẳng hạn
Trang 23trong CBTT định kỳ, các công ty đại chúng phải cung cấp BCTC năm đã được kiểm toán chậm nhất là 10 ngày kể từ ngày tổ chức kiểm toán kí báo cáo kiểm toán, thể hiện yêu cầu về tính kịp thời được đưa lên rất cao
2.1.4.1 Phương pháp phân tích nội dung:
Phân tích nội dung là phương pháp sử dụng các kỹ thuật nghiên cứu suy
luận từ dữ liệu, nghiên cứu ngôn ngữ để mã hóa chúng và từ đó xếp hạng CBTT
Phân tích nội dung bao gồm hai phạm vi là phân tích từng phần hoặc phân tích
toàn diện Trong đó, phân tích từng phần chỉ tập trung phân tích một vài mục thông tin cụ thể hoặc các từ khóa được lựa chọn, còn phân tích toàn diện xét trên toàn bộ tài liệu Sau khi lựa chọn được phạm vi phân tích, người nghiên cứu có thể tiến
hành phân tích cú pháp hoặc phân tích chuyên đề tùy theo mục tiêu và hướng nghiên cứu của từng đề tài Phân tích cú pháp tập trung nghiên cứu từng câu, từ mà
được sử dụng để mô tả một mục thông tin cụ thể nào đó, bên cạnh đó, phân tích
chuyên đề tập trung vào đặc điểm của văn bản và độ dài của mỗi câu
Mặc dù mang lại độ tin cậy cao, nhưng phân tích nội dung là phương pháp
tốn rất nhiều công sức, do vậy số mẫu sẽ không được lớn Để hạn chế điều này, việc
sử dụng phần mềm để phân tích nội dung một cách tự động đã được phát triển Tuy nhiên, việc phân tích tự động bằng phần mềm sẽ không lưu ý được các cụm từ, từ khóa đồng nghiã hoặc từ có nhiều ý nghĩa
2.1.4.2 Phương pháp chỉ số CBTT:
Chỉ số CBTT là một công cụ nghiên cứu để đo lường mức độ thông tin báo
cáo trong các tài liệu cụ thể theo một danh sách các mục thông tin đã được lựa chọn Danh sách này còn được gọi là bộ tiêu chí CBTT Các loại thông tin được lựa chọn có thể bao gồm thông tin bắt buộc hoặc thông tin tự nguyện Số lượng các
Trang 24khoản mục thông tin trong bộ tiêu chí có thể từ một vài khoản mục đến vài trăm khoản mục tùy theo từng nghiên cứu Người nghiên cứu có thể tự xây dựng các khoản mục thông tin đưa vào bộ tiêu chí hoặc dựa vào bộ tiêu chí có sẵn từ các tổ chức chuyên nghiệp như AIMR (Association for Investment Management and Research) hoặc FAF (Financial Analysts Federation)
Khi sử dụng phương pháp này, kết quả phụ thuộc nhiều vào bộ tiêu chí
CBTT mà nghiên cứu đó sử dụng, tuy nhiên, phương pháp chỉ số CBTT đã đơn giản hóa được phương pháp phân tích nội dung và có thể nghiên cứu trên số mẫu lớn Vì vậy, nghiên cứu này chọn phương pháp chỉ số CBTT để tiếp cận đo lường
mức độ CBTT
Bước tiếp theo, để đo lường chỉ số CBTT, có hai phương pháp thường được
sử dụng như sau:
a Phương pháp đo lường không trọng số (lưỡng phân)
Theo phương pháp này, điều quan trọng là các thông tin có được công bố trên BCTN hay không Nếu mục thông tin được công bố, sẽ được gán giá trị là 1, ngược lại nếu không được công bố sẽ nhận giá trị là 0 Việc xác định chỉ số CBTT
có thể được tóm tắt như sau:
Trong đó:
- Ij : chỉ số công bố thông tin của công ty j
- dij = 1 nếu mục thông tin i được công bố, = 0 nếu mục thông tin không được công bố
- n: Số lượng mục thông tin công ty có thể công bố
- 0< Ij < 1
Trang 25Theo đó các chỉ mục thông tin được theo dõi ở giác độ có được trình bày hay không và việc tính chỉ số công bố là trên góc độ bình đẳng như nhau để tính ra giá trị trung bình Có thể kể đến các nghiên cứu của Aljifri and Alzarouni (2013), Fathi (2013) sử dụng cách tiếp cận này
b Phương pháp đo lường có trọng số
Phương pháp này yêu cầu các mục thông tin được chọn lọc đồng thời với việc đánh giá tầm quan trọng của mỗi chỉ mục theo các mức độ khác nhau từ thấp lên cao, thông thường là năm mức độ Việc đo lường được thực hiện như cách một, nhưng sau khi gán giá trị chúng được nhân với trọng số đã được xây dựng
Ngoài ra, một cách tiếp cận có trọng số theo hướng khác đó là trong nghiên cứu của Al-Janadi et al (2012) Để mở rộng phương pháp đo mức độ CBTT, người nghiên cứu đã gán giá trị cho các mục thông tin theo ba mức độ, mức 1: nếu mục thông tin không được công bố, mức 2: được trao cho các mục nếu được công bố định tính hoặc định lượng và mức 3: được trao cho các mục nếu được công bố bằng
cả thông tin định tính và định lượng
Tuy vậy, hạn chế lớn khi đo lường mức độ CBTT theo phương pháp có trọng số là mỗi cá nhân nghiên cứu sẽ có những quan điểm khác nhau khi đánh giá trọng số của mỗi khoản mục thông tin, dẫn đến kết quả nghiên cứu mang tính chủ quan cao sẽ cho ra những kết quả khác biệt Các nghiên cứu trước đây cũng cho thấy việc sử dụng phương pháp đo lường có trọng số hay không trọng số cho các khoản mục trình bày trong báo cáo thường niên của các công ty cũng cho ra kết quả không khác biệt lắm (Hossain and hammami, 2009) Vì vậy, để đảm bảo tính khách quan, nghiên cứu này chọn cách đo lường chỉ số CBTT theo phương pháp đo lường không trọng số
2.2 Các lý thuyết về CBTT
Các lý thuyết thường được sử dụng trong nghiên cứu trước để giải thích CBTT chủ yếu là lý thuyết người đại diện và lý thuyết tín hiệu
Trang 262.2.1 Lý thuyết người đại diện (agency theory)
Sự phát triển của các công ty hiện đại và sự phân tách giữa sở hữu và quản lý
ở các nước tư bản phương Tây đã là tiền đề vật chất cho việc xuất hiện các lý thuyết
về mối quan hệ giữa người chủ và người thừa hành Trong nửa cuối của thế kỷ 20, nhiều học thuyết về mối quan hệ giữa người chủ và người thừa hành đã xuất hiện và đáng chú ý nhất là học thuyết về vấn đề đại diện (agency theory) Một trong những công trình nghiên cứu đầu tiên về lý thuyết đại diện xuất phát từ Jensen và Meckling năm 1976, lý thuyết người đại diện tập trung vào mối quan hệ tương tự như một hợp đồng theo đó người chủ thuê người thừa hành (Jensen and Meckling, 1976)
Lý thuyết người đại diện mô tả các mối quan hệ giữa người quản lý và các
cổ đông, giữa các cổ đông và chủ nợ Các nhà cung cấp vốn ủy thác việc ra quyết định, chiến lược và điều hành hoạt động cho các nhà quản lý Lý tưởng nhất, các nhà quản lý sẽ hành động và đưa ra quyết định tối đa hóa giá trị cổ đông và đảm bảo rằng nợ sẽ được hoàn trả Tuy nhiên, như lý thuyết người đại diện mô tả, nhà quản lý có động cơ sử dụng các vị trí và quyền lực của họ, vì lợi ích riêng của
họ Vấn đề người đại diện xảy ra bởi vì việc tách bạch giữa quyền sở hữu và kiểm soát công ty và được phóng đại bởi các vấn đề bất đối xứng thông tin từ các nhà quản lý có kiến thức tốt hơn về giá trị tương lai của công ty so với các cổ đông và chủ nợ Điều này có thể gây ra lựa chọn bất lợi và các vấn đề rủi ro đạo đức bởi vì các nhà cung cấp vốn không chắc chắn liệu các nhà quản lý đang hành động vì lợi ích tốt nhất của họ Chi phí đại diện xuất phát từ giả định rằng hai bên, người quản
lý và cổ đông của công ty có mâu thuẫn về lợi ích Chi phí giám sát được trả bởi người chủ, các cổ đông để giám sát các hoạt động bất thường của người quản lý Đồng thời, chi phí ràng buộc thì lại được trả bởi người đại diện, để đảm bảo rằng các hành động và quyết định của nhà quản lý không gây hại đến lợi ích của chủ công ty, các cổ đông Mâu thuẫn về lợi ích cũng tạo ra những mất mát phụ trội do phúc lợi không được tối đa hóa Tổng chi phí giám sát, chi phí ràng buộc và mất mát phụ trội được gọi là chi phí đại diện vì chi phí này xuất phát từ mối quan hệ giữa cổ đông và người quản lý (Jensen and Meckling, 1976)
Trang 27Để hạn chế chi phí đại diện, CBTT được sử dụng như là một phương tiện giảm thiểu các vấn đề đại diện, việc người quản lý CBTT nhiều hơn giúp giảm chi phí đại diện và cũng là để thuyết phục người sử dụng thông tin bên ngoài doanh nghiệp về tình hình hoạt động của công ty
2.2.2 Lý thuyết tín hiệu (signaling theory)
Lý thuyết tín hiệu được hình thành vào đầu những năm 1970 và được dựa trên nghiên cứu của Spence năm 1973 để làm rõ sự bất đối xứng thông tin trong thị trường lao động Lý thuyết cho thấy các vấn đề thông tin bất đối xứng có thể được giảm thiểu nếu các bên báo hiệu thông tin cho nhau
Nó cũng đã được Ross (1977) sử dụng để giải thích CBTT trên báo cáo của công ty Theo lý thuyết tín hiệu, các nhà quản lý là những người mong đợi một tín hiệu tăng trưởng cao trong tương lai sẽ có động cơ phát tín hiệu này tới các nhà đầu
tư CBTT là một trong những phương tiện phát tín hiệu, nơi các công ty sẽ công bố nhiều thông tin hơn để báo hiệu cho các nhà đầu tư, để cho thấy rằng họ là tốt hơn
so với các công ty khác trên thị trường với mục đích thu hút đầu tư và nâng cao danh tiếng của mình Cho nên, lý thuyết tín hiệu cũng được xem là nền tảng lý thuyết cho vấn đề công bố thông tin của doanh nghiệp
2.3 Các đặc điểm của doanh nghiệp ảnh hưởng đến mức độ CBTT
Theo Lê Trường Vinh (2008), tổng hợp các nghiên cứu trước đây trên thế giới, có hai loại đặc điểm lớn của một doanh nghiệp mà có thể ảnh hưởng đến mức
độ của CBTT Loại thứ nhất bao gồm các đặc điểm thuộc về tài chính của một doanh nghiệp, còn loại thứ hai bao gồm các đặc điểm thuộc về quản trị doanh nghiệp Tuy nhiên, nghiên cứu của tác giả mới chỉ tập trung vào các đặc điểm thuộc
về tài chính doanh nghiệp mà bỏ qua tác động của các nhân tố thuộc quản trị doanh nghiệp Bên cạnh đó, trong nghiên cứu của mình, Aljifri và Alzarouni năm 2013 đã phân đặc điểm doanh nghiệp thành bốn loại nhân tố:
Các nhân tố liên quan đến thị trường
Các nhân tố tiên quan đến hiệu suất hoạt động công ty
Các nhân tố tiên quan đến cấu trúc công ty
Trang 28 Các nhân tố tiên quan đến quản trị doanh nghiệp
Dựa trên tìm hiểu này, luận văn này sẽ khái quát lại các đặc điểm của công
ty thường được các nhà nghiên cứu hay đề cập và nhấn mạnh trong các công trình nghiên cứu Đặc biệt, nghiên cứu xem xét các đặc điểm của một doanh nghiệp trên nhiều phương diện để có được kết quả toàn diện về mối liên hệ giữa đặc điểm doanh nghiệp và mức độ CBTT Các đặc điểm này bao gồm:
Các nhân tố liên quan đến thị trường như: loại ngành, công ty kiểm
Các nhân tố liên quan đến cấu trúc công ty như: Quy mô, Tỷ lệ sở hữu
nước ngoài, Đòn bẩy
Từng đặc điểm như trên của công ty sẽ được trình bày chi tiết sau đây:
Các nhân tố liên quan đến thị trường: Các nhân tố liên quan đến thị
trường thường gắn liền với yếu tố thời gian và DN có thể không kiểm soát được các nhân tố này Các nhân tố thị trường được sử dụng trong nghiên cứu này là loại
ngành và công ty kiểm toán
2.3.1 Loại ngành
Tùy theo từng ngành nghề cụ thể mà mỗi doanh nghiệp sẽ áp dụng các chính sách kế toán, hình thức tổ chức công tác kế toán khác nhau Vì vậy, các công ty trong những ngành khác nhau sẽ có mức độ CBTT khác nhau
Phạm vi hoạt động kinh doanh của một ngành cũng ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin của ngành đó Các công ty sản xuất nhiều loại sản phẩm, quy trình sản xuất phức tạp thì có xu hướng CBTT nhiều hơn Bên cạnh đó, một công ty chủ đạo trong một ngành nào đó có mức độ CBTT cao thì các công ty còn lại trong
Trang 29ngành có xu hướng học tập theo hay người ta hay gọi đó là “theo chân nhà lãnh đạo” (Aljifri and Alzarouni, 2013)
Ngoài ra các DN trong cùng một ngành có các lợi ích sản xuất như nhau có mức độ CBTT như các DN khác trong cùng ngành để tránh bị đánh giá tiêu cực của thị trường Lập luận này phù hợp với lý thuyết tín hiệu
2.3.2 Công ty kiểm toán
Kiểm toán luôn có vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin tài chính giữa các doanh nghiệp và người sử dụng, đồng thời đảm bảo cho báo cáo của các doanh nghiệp phù hợp với luật pháp Hoạt động kiểm toán là yếu tố quan trọng đảm bảo tính trung thực và khách quan của các thông tin tài chính, làm cơ sở cho việc ra các quyết định đầu tư và quản lý kinh doanh
Lý thuyết đại diện cho rằng kiểm toán độc lập bên ngoài đóng một vai trò trong việc giảm thiểu các xung đột lợi ích giữa nhà quản lý và các nhà đầu tư Công
ty kiểm toán lớn hoạt động như một cơ chế để giảm chi phí đại diện và phát huy nhiều hơn một vai trò giám sát bằng cách hạn chế hành vi cơ hội của các nhà quản
lý (Jensen and Meckling, 1976) Điều này cho thấy các công ty kiểm toán để duy trì danh tiếng của mình đòi hỏi khách hàng phải có mức độ CBTT cao
Bhayani (2012) cho rằng các công ty được kiểm toán bởi các công ty kiểm toán lớn chấp hành các yêu cầu, tiêu chuẩn CBTT nghiêm ngặt hơn các công ty khác, bởi vì, có thất bại xảy ra trong việc kiểm toán, các công ty kiểm toán lớn sẽ thiệt hại nhiều hơn các công ty kiểm toán nhỏ Mặt khác, các công ty kiểm toán nhỏ không có sức ảnh hưởng lớn đến hoạt động công bố thông tin của khách hàng và họ
có xu hướng làm vừa lòng các khách hàng hơn là đặt chất lượng CBTT lên hàng đầu Vì vậy, việc lựa chọn công ty kiểm toán lớn như là một tín hiệu để doanh nghiệp nói với các nhà đầu tư rằng các nội dung của BCTN đảm bảo được tính minh bạch thông tin
Trang 30 Các nhân tố liên quan đến hiệu suất hoạt động
và ngược lại, một công ty có tính thanh khoản thấp thường kín đáo trong CBTT để
hạn chế thông tin yếu kém của mình công bố ra bên ngoài
2.3.4 Lợi nhuận
Theo lý thuyết đại diện, với khả năng sinh lời cao hơn, nhà quản trị sẵn sàng công bố nhiều thông tin hơn để chứng minh cho các thành quả quản trị của ban giám đốc Đồng thời, giám đốc các DN hoạt động có lợi nhuận cao thường có xu hướng CBTT nhiều hơn để quảng bá về các thành tích của mình và gây ấn tượng tích cực cho các nhà đầu tư
Còn theo lý thuyết tín hiệu, các DN có lợi nhuận cao, muốn phân biệt mình với các doanh nghiệp có lợi nhuận thấp, thông qua lý thuyết tín hiệu giúp họ tăng
giá trị cổ phiếu và thu hút nhà đầu tư
Trang 31 Các nhân tố liên quan đến quản trị công ty
2.3.5 Thành phần HĐQT
Lý thuyết đại diện cho rằng trong các công ty cổ phần luôn tồn tại nguy cơ xung đột về lợi ích giữa một bên là cổ đông với tư cách người sở hữu vốn với một bên là những người quản lý điều hành công ty với tư cách người trực tiếp quản lý
sử dụng vốn Trốn tránh, đặc quyền quá mức và các khoản đầu tư không tối ưu là những ví dụ của các hành động lạm dụng bởi các nhà quản lý (Jensen and Meckling, 1976) Vì vậy, một yếu tố quan trọng của quản trị doanh nghiệp là vai trò của hội đồng quản trị trong việc giám sát quản lý Chức năng giám sát quản lý của HĐQT là cần thiết vì các nhà quản lý có sở thích riêng của họ và có thể không luôn luôn hành động thay mặt cho các cổ đông HĐQT có thể làm giảm xung đột theo lý thuyết đại diện do thực hiện quyền lực của mình để theo dõi và kiểm soát quản lý HĐQT đóng vai trò kiểm soát và ra các quyết định quan trọng đối doanh nghiệp
Theo Yanesari et al (2012) vai trò này sẽ bị hạn chế nếu các thành viên HĐQT đều giữ quyền quản lý hoặc có mối quan hệ về nhân thân, quyền sở hữu với công ty Khi đó, các thành viên HĐQT có thể có khả năng dùng tiền của mình để tác động đến các chính sách và hoạt động của công ty sao cho có lợi cho mình chứ không có lợi cho các cổ đông khác Do đó, luật về quản trị doanh nghiệp của các quốc gia cũng như những quy định của các thị trường niêm yết Việt Nam yêu cầu trong cơ cấu HĐQT công ty phải có ít nhất 1/3 các thành viên HĐQT là độc lập Các thành viên này có vai trò rất quan trọng trong việc giám sát, làm giảm nguy cơ lạm dụng quyền hạn của những người quản lý công ty, góp phần bảo vệ lợi ích chính đáng của cổ đông, nhất là những cổ đông nhỏ Một công ty có tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập cao có thể dẫn đến giám sát tốt hơn về hành vi của nhà quản lý
và giảm bớt mâu thuẫn đại diện giữa chủ sở hữu và nhà quản lý Ngoài ra, các thành viên HĐQT độc lập có xu hướng khuyến khích và hỗ trợ công bố thông tin nhiều hơn cho người sử dụng BCTN Vì vậy, thành phần HĐQT trong nghiên cứu này
được hiểu là tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập
Trang 322.3.6 Tỷ lệ sở hữu của HĐQT
Tỷ lệ sở hữu của HĐQT là một cơ chế gắn lợi ích của các cổ đông và các nhà quản lý với nhau Lý thuyết đại diện phát biểu rằng nơi có một sự tách biệt quyền sở hữu và quyền kiểm soát của một công ty là tiềm năng cho các chi phí đại diện phát sinh do sự xung đột lợi ích giữa các bên ký kết hợp đồng Theo đó, các công ty có tỷ lệ sở hữu của HĐQT càng thấp thì nhà quản lý cung cấp thêm thông tin để báo hiệu rằng họ làm việc vì lợi ích tốt nhất của các cổ đông Ngược lại, nếu các công ty có tỷ lệ sở hữu của HĐQT cao thì có xu hướng có thể tiết lộ ít thông tin
vì lúc này quyền quản lý và quyền sở hữu được kết hợp và công ty sẽ không quan
tâm trong việc CBTT vì trong trường hợp này chi phí đại diện thấp
Các nhân tố liên quan đến cấu trúc công ty: Biến cấu trúc giải thích
những đặc điểm của công ty được biết đến rộng rãi, được cho là khá ổn định và liên
tục theo thời gian
2.3.7 Quy mô
Trong hầu hết các nghiên cứu về CBTT, quy mô doanh nghiệp là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến mức độ CBTT Theo đó, quy mô có tác động đáng kể tới mức độ CBTT vì những lí do sau:
Thứ nhất, việc công bố thông tin cần một khoản chi phí không nhỏ, và do đó
có thể không hợp lý cho các công ty nhỏ Các doanh nghiệp lớn thường đa dạng hơn về phạm vi kinh doanh, các loại sản phẩm và phạm vi địa lý, vì vậy, có đủ nguồn lực và chuyên môn cần thiết để đáp ứng chi phí của việc công bố thông tin trên báo cáo thường niên Ở các doanh nghiệp lớn, một số lượng đáng kể các thông tin được yêu cầu cho mục đích quản lý và có thể được tạo ra trong nội bộ Do đó, chi phí biên của công bố thông tin đối với các doanh nghiệp lớn là thấp
Thứ hai, theo lý thuyết đại diện, chi phí đại diện có liên quan đến sự phân quyền giữa nhà quản lý và người sở hữu Do đó, chi phí đại diện có xu hướng gia tăng cùng với quy mô của công ty vì các công ty với số lượng cổ đông lớn thường
nỗ lực hơn trong việc giám sát người quản lý Các công ty có quy mô lớn có khả năng sẽ cung cấp thông tin nhiều hơn để làm giảm chi phí này
Trang 33Thứ ba, các công ty lớn có xu hướng đến thị trường tài chính để huy động vốn thường xuyên hơn những công ty nhỏ Dựa trên lý thuyết tín hiệu, các doanh nghiệp lớn nhận thức được rằng việc tăng gía trị cổ phiếu và thu hút nhiều nhà đầu
tư phụ thuộc vào phát tín hiệu, công bố thêm thông tin cho người sử dụng Mặt khác, công bố thông tin chi tiết có thể đặt các công ty nhỏ vào thế bất lợi cạnh tranh với các công ty lớn khác trong cùng ngành
2.3.8 Đòn bẩy tài chính
Đòn bẩy là một biến giải thích mà thường được sử dụng trong các nghiên cứu để rà soát các yếu tố quyết định CBTT của công ty Nghiên cứu của Bhayani (2012) đã tìm thấy mối quan hệ tích cực đáng kể giữa đòn bẩy mà mức độ CBTT
Theo lý thuyết đại diện, các công ty có đòn bấy cao phát sinh chi phí giám sát cao, họ tiết lộ thêm thông tin để giảm chi phí và đáp ứng nhu cầu của các chủ
nợ, giảm bất đối xứng thông tin với các chủ nợ Vì vậy, CBTT giúp giảm chi phí đại diện và tạo điều kiện cho các chủ nợ đánh giá rủi ro của công ty Các chủ nợ có thể đòi hỏi thêm thông tin để bảo đảm nguồn vốn của họ Các nhà quản lý nên CBTT thường xuyên hơn và triệt để hơn để đảm bảo cho chủ nợ về khả năng thanh
toán nợ của công ty
2.3.9 Tỷ lệ sở hữu nước ngoài
Theo lý thuyết đại diện, sự mâu thuẫn lợi ích giữa chủ sở hữu (cổ đông) và người quản lý của một công ty là tiềm năng cho các chi phí phát sinh Cổ đông tăng cường giám sát các hành vi quản lý nhằm đảm bảo lợi ích của mình Chi phí giám sát ảnh hưởng đến lợi nhuận, và do đó các nhà quản lý có thể giảm chi phí giám sát bằng cách cung cấp thêm thông tin cho các cổ đông Cổ đông, cũng khác nhau về nhu cầu thông tin của họ Một số cổ đông có thể là quan tâm đến lợi nhuận, một số
có thể tìm kiếm thông tin dự báo, trong khi những người khác muốn thông tin về trách nhiệm xã hội Do vậy, các công ty có số lượng cổ đông lớn thì nhu cầu CBTT
có thể cao hơn và theo đó, nhu cầu về thông tin dự kiến cũng sẽ cao hơn từ các nhà đầu tư nước ngoài do sự tách biệt về địa lý giữa nhà quản lý và chủ sở hữu
Trang 34Theo Sartawi et al (2012), phạm vi của quyền sở hữu đã được chứng minh
là một biến quan trọng trong việc giải thích sự thay đổi của công khai tài chính của các công ty, và nhu cầu về thông tin dự kiến sẽ lớn hơn khi một tỷ lệ lớn cổ phiếu được tổ chức bởi các nhà đầu tư nước ngoài Ngoài ra, nó phù hợp với lập luận rằng các công ty có xu hướng công bố thêm thông tin để làm giảm mức độ bất đối xứng thông tin phải đối mặt với các nhà đầu tư nước ngoài và do đó, thu hút các nhà đầu
tư nước ngoài Hơn nữa, các nhà đầu tư nước ngoài có thể giám sát quản lý một cách hiệu quả và sử dụng quyền bỏ phiếu của mình để tác động đến vấn đề công bố
thông tin
Trang 35Kết luận chương 2:
Chương 2 trình bày về cơ sở lý thuyết về CBTT và các đặc điểm doanh nghiệp ảnh hưởng tới mức độ CBTT Các lý thuyết được đưa ra bao gồm tổng quan
về CBTT, các lý thuyết có liên quan và các đặc điểm công ty ảnh hưởng đến mức
độ CBTT Trong đó, các lý thuyết chính làm cơ sở cho việc CBTT gồm: lý thuyết đại diện và lý thuyết tín hiệu
Có nhiều nhân tố tác động đến mức độ CBTT Tuy nhiên, nghiên cứu đưa ra chín nhân tố tác động do kế thừa từ các nghiên cứu trước ở những nước mà tình hình kinh tế tương đồng với Việt Nam, đồng thời để thấy được toàn diện nhất các đặc điểm doanh nghiệp ảnh hưởng lên mức độ CBTT Như vậy, chín đặc điểm DN
được nghiên cứu bao gồm: loại ngành, công ty kiểm toán, lợi nhuận, tính thanh
khoản, thành phần HĐQT, tỷ lệ sở hữu vốn của HĐQT, quy mô, đòn bẩy, tỷ lệ sở hữu nước ngoài cùng với một nhân tố bị tác động là chỉ số công bố thông tin
Trang 36CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Quy trình nghiên cứu
Luận văn này được thực hiện nhằm nghiên cứu các đặc điểm của công ty và mức độ công bố thông tin trong báo cáo thường niên thông qua phương pháp định tính và định lượng theo các bước như sau:
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu
Xác định vấn đề nghiên cứu, mục tiêu, phương pháp, phạm vi
và ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết các
nghiên cứu trước đây
Phân tích, đánh giá các nhân tố ảnh hưởng sau đó đưa ra giả thuyết nghiên
cứu
Đưa ra mô hình nghiên cứu Cách thức đo lường các biến
Mô tả cách lấy mẫu và cách thức xử lý dữ liệu
Kết quả nghiên cứu:
Thống kê mô tả mẫu quan sát phân tích tương quan, phân tích hồi quy, kiểm định tính phù hợp của mô hình nghiên cứu
Kiểm định các giả thiết nghiên cứu
Đề xuất và hướng nghiên cứu tiếp theo
Trang 373.2 Giả thuyết nghiên cứu
Dựa vào nội dung phân tích về đặc điểm công ty đã trình bày ở phần trên, các nhân tố trên sẽ được xem xét trong bối cảnh của nền kinh tế Việt Nam, cụ thể là tại Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh đồng thời với việc xác định giả thuyết nghiên cứu và phương pháp đo lường từng nhân tố ảnh hưởng
tổ chức… lớn hơn, đa dạng và chuyên nghiệp hơn các công ty trong lĩnh vực khác Dựa trên cơ sở đó, trong nghiên cứu này, người nghiên cứu thực hiện phân loại lĩnh vực hoạt động thành hai loại chính là sản xuất và phi sản xuất nhằm mục đích kiểm định có hay không sự khác biệt về CBTT giữa các doanh nghiệp hoạt động trong ngành sản xuất công nghiệp và các lĩnh vực còn lại Đồng thời, với mục tiêu năm
2020 hướng đến nền kinh tế công nghiệp, các doanh nghiệp sản xuất sẽ được nhà nước kiểm soát và quan tâm nhiều hơn Lý do này hướng tới kỳ vọng cao hơn về CBTT của ngành sản xuất công nghiệp với các ngành khác Vì vậy, nghiên cứu này tiến hành kiểm tra giả thuyết:
Giả thuyết H1: Các doanh nghiệp hoạt động trong ngành sản xuất cung cấp
thông tin nhiều hơn các doanh nghiệp hoạt động trong những ngành khác
Trang 383.2.2 Công ty kiểm toán
Về quy mô, công ty kiểm toán có thể được chia thành hai loại là nhóm các công ty kiểm toán lớn và nhóm các công ty kiểm toán nhỏ Công ty kiểm toán lớn được xác định là một trong những công ty Big Four (hoặc Big Five hay Six trước đây), các công ty kiểm toán còn lại là các công ty kiểm toán nhỏ Nhiều nghiên cứu
đã tìm thấy mối quan hệ tích cực giữa công ty kiểm toán và mức độ CBTT như Bhayani (2012) và Fathi (2013) Trên cơ sở đó, giả thiết 2 được đưa ra là:
Giả thuyết H2: Nếu được kiểm toán bởi Big4, báo cáo thường niên các
doanh nghiệp sẽ công bố nhiều thông tin hơn
3.2.3 Tính thanh khoản
Nandi and Ghosh (2012) đã tìm thấy mối liên hệ tích cực giữa tính thanh khoản và mức độ CBTT Giả thuyết thứ ba được lập như sau:
Giả thuyết H3: Các công ty trên sàn HOSE với tính thanh khoản cao có xu
hướng công bố nhiều thông tin hơn các công ty có tính thanh khoản thấp
3.2.3 Lợi nhuận
Nghiên cứu của Fathi (2013), Bahayani (2012), Nandi and Ghosh (2012) …
đã tìm thấy mối quan hệ tích cực đáng kể giữa lợi nhuận và mức độ CBTT Giả thuyết thứ tư nói rằng:
Giả thuyết H4: Các công ty có tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu cao có
mức độ công bố thông tin nhiều hơn các công ty có lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu thấp
3.2.5 Thành phần HĐQT
Một mối quan hệ tích cực giữa tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập và CBTT đã được tìm thấy trong nghiên cứu của Yanesari et al (2012) Từ những giải thích được trích dẫn ở trên, tác giả đề xuất giả thuyết sau đây:
Giả thuyết H5 : Công ty có tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập càng cao thì mức
độ công bố thông tin càng cao
Trang 393.2.6 Tỷ lệ sở hữu của HĐQT
Mối quan hệ ngược chiều giữa tỷ lệ sở hữu của HĐQT và mức độ CBTT đã được kiểm chứng trong nghiên cứu của Sartawi et al (2012) Giả thuyết được đưa
ra như sau:
Giả thuyết H6: Có mối quan hệ ngược chiều giữa tỷ lệ sở hữu vốn của
HĐQT với mức độ công bố thông tin trên báo cáo tài chính
3.2.7 Quy mô
Aljifri and Alzarouni (2013), Bhayani (2012), Nandi and Ghosh (2012) đã chỉ ra rằng DN có quy mô càng lớn thì mức độ CBTT càng cao Tại Việt Nam, nghiên cứu của Huỳnh Thị Vân (2013) cũng cho kết quả tương tự Vì vậy, giả thiết được đưa ra là:
Giả thuyết H7: Các công ty với quy mô lớn có xu hướng công bố nhiều
thông tin hơn các công ty có quy mô nhỏ
Giả thuyết H9: Các công ty có tỷ lệ quyền sở hữu nước ngoài cao thì công
bố nhiều thông tin hơn những công ty có tỷ lệ quyền sở hữu nước ngoài thấp
Trang 403.3 Mô hình nghiên cứu và đo lường các biến
3.3.1 Mô hình nghiên cứu
Từ những lý thuyết kinh tế đến thực tiễn nghiên cứu cụ thể đã được công bố
về nghiên cứu mối quan hệ giữa đặc điểm công ty và mức độ CBTT của các quốc gia trên thế giới đều đi đến kết luận chung là có sự tác động của đặc điểm công ty lên mức độ CBTT Từ nền tảng của các lý thuyết và những nghiên cứu trước đây, nghiên cứu đưa ra các kỳ vọng tương quan giữa biến độc lập và biến phụ thuộc Có rất nhiều đặc điểm doanh nghiệp ảnh hưởng lên mức độ CBTT của các công ty Tác giả chọn ra 9 loại đặc điểm DN với các lý do như sau:
Thứ nhất, dựa vào nghiên cứu của Aljifri and Alzarouni (2013) đã xem xét
sự tác động của đặc điểm công ty lên mức độ CBTT của các quốc gia trong khối UAE Trong đó, nghiên cứu đã chạy phương trình hồi qui nhằm đo lường sự tác động của đặc điểm công ty đến mức độ CBTT, thông qua các biến như: loại ngành, tình trạng niêm yết, lợi nhuận, tính thanh khoản, quy mô, sở hữu nước ngoài, thành phần HĐQT và ủy ban kiểm toán Đối với các nền kinh tế tiên tiến và mới nổi qua nghiên cứu thực nghiệm của Aljifri và Alzarouni thì kết quả có thể chấp nhận được với điều kiện của nền kinh tế Việt Nam Do đó, mô hình cho nghiên cứu đề nghị sẽ
kế thừa được một số nhân tố của mô hình nghiên cứu trên Cụ thể, nghiên cứu sẽ
xem xét các yếu tố về: loại ngành, lợi nhuận, tính thanh khoản, quy mô, sở hữu
nước ngoài, thành phần HĐQT Ngoài ra, tác giả còn đưa vào trong mô hình một số
nhân tố như công ty kiểm toán, đòn bẩy, tỷ lệ sở hữu vốn của HĐQT Các yếu tố
này đưa ra dựa vào các nghiên cứu của Fathi (2013)
Thứ hai, do khả năng thu thập số liệu và thời gian nghiên cứu có hạn cũng như nhằm mục đích nghiên cứu một cách toàn diện nhất về đặc điểm doanh nghiệp ảnh hưởng lên mức độ CBTT nên tác giả tiến hành chọn các biến đặc trưng nhất
liên quan đến các nhóm đặc điểm khác nhau như: các biến liên quan đến thị trường,
hiệu suất hoạt động, quản trị doanh nghiệp và cấu trúc công ty
Như vậy, nghiên cứu tiến hành đo lường tác động của chín đặc điểm doanh nghiệp lên mức độ CBTT Dựa trên các giả thuyết được đưa ra, mô hình hồi quy