1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Những điểm khác biệt giữa tư tưởng nho giáo và ấn độ giáo tiểu luận cao học

43 424 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 189 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU1. Giới thiệu khái quát và lý do chọn đề tàiNền đạo học phương đông đã dâng tặng cho nhân loại một kho tàng tri thức vô tận về vũ trụ và nhân sinh. Trong mấy ngàn năm qua, nền đạo học này đã và đang cống hiến cho nhân loại nhiều bài học vô giá về đạo đức, về triết lý nhân sinh…. và nó như suối nguồn tuôn chảy bất tận vào hàng triệu triệu trái tim con người trên khắp thế giới. Phương đông cũng là nơi cho ra đời nhiều tôn giáo nhất như Phật Giáo, Ấn độ giáo, Đạo giáo, Khổng giáo, Hồi giáo…. Nền đạo học ấy đã và đang ảnh hưởng sâu sắc đến xã hội. Như Sử gia người Pháp Y.Michelet (17981874) đã hết lời ca ngợi: “ Ở phương tây cái gì cũng chật hẹp. Hy lạp nhỏ bé làm cho tôi ngột ngạt. Xứ Do Thái khô khan làm cho tôi khó thở. Hãy để cho tôi hướng về châu Á cao cả và phương đông thâm trầm trong giây lát. Chính nơi đó đã phát sinh ra bài thơ vĩ đại của tôi, mênh mang như Ấn Độ Dương ngập tràn ánh nắng mặt trời rực rỡ, tốt lành… tạo nên không khí thái hòa và tình thương vô bờ bến ngay giữa những cảnh tượng xung đột”.Nói đến phương đông không thể không nhắc đến Ấn Độ. Ấn Độ là một trong những cái nôi của nền triết học phương đông. Và cũng chính nơi đây đã khai sinh ra nhiều trường phái triết học và tôn giáo lớn trên thế giới “một tiểu vũ trụ của các tôn giáo và các nền triết học” . Nói đến Ấn Độ người ta liền nghĩ ngay đến Phật giáo và Ấn Độ giáo. Đây là hai tôn giáo lớn của Ấn độ nói riêng và của nhân loại nói chung. Mặc dù ra đời cách đây hơn mấy nghìn năm, trải qua biết bao thăng trầm lịch sử, sự nghiệt ngã của dòng thời gian…nhưng nó vẫn luôn mang tính thực tiễn cao và có thể đương đầu với mọi vấn đề của xã hội hiện đại; Như nhà vật lý học nổi tiếng người Đức Albert Einstein (18791955) đã nói về Phật giáo : “Nếu có một tôn giáo nào đương đầu với các nhu cầu của khoa học hiện đại thì đó là Phật Giáo hay tôn giáo của tương lai sẽ là tôn giáo toàn cầu vượt lên mọi thần linh giáo điều và thần học. Tôn giáo ấy phải bao quát cả phương diện tự nhiên lẫn siêu nhiên đặt trên căn bản của ý thức đạo lý phát sinh từ kinh nghiệm tổng thể gồm mọi phương diện trên. Trong cái nhất thể đầy ý nghĩa đó chỉ có Đạo Phật đáp ứng đủ các điều kiện đó”.Có một điều chúng ta không thể phủ nhận là Ấn Độ giáo và Phật giáo đều ra đời tại Ấn độ nhưng về tư tưởng cũng như về giáo pháp có nhiều điểm khác biệt. Với mong muốn nghiên cứu về những điểm khác biệt ấy nên người viết mạnh dạn chọn đề tài “Những điểm khác biệt giữa tư tưởng Ấn Độ giáo và Phật giáo” làm luận văn tốt nghiệp của mình. Có thể nói đây là đề tài mới mẽ mà Giáo sư Minh Chi gợi ý và hướng dẫn. Với luận văn này, Người viết chỉ xem đây như là một công việc tự nghiên cứu, tìm hiểu cho chính bản thân mình và có thể chia sẻ một phần nào đó cho những ai muốn tiếp cận với hai tôn giáo ấy. Tuy nhiên, sự nỗ lực cũng có giới hạn, cho nên luận văn này không sao tránh khỏi những khuyết điểm , ngưỡng mong các bậc thiện tri thức từ bi chỉ giáo.2. Giới hạn đề tài và phương pháp thực hiện“Những điểm khác biệt giữa tư tưởng Ấn độ giáo và Phật giáo” là một đề tài lớn, có thể viết thành một cuốn sách mấy trăm trang. Vì luận văn tốt nghiệp có độ dài giới hạn nên người viết chỉ giới thiệu đôi nét về sự khác biệt giữa hai tôn giáo ấy mà thôi.Để thực hiện luận văn, người viết dựa vào kiến thức đã học tập ở trường, cũng như một số tư liệu hiện có để so sánh và đối chiếu. Với đề tài trên, người viết sẽ trình bày khái quát về các quan niệm, tư tưởng của Phật giáo và Ấn độ giáo và sau đó chỉ ra nhưng điểm sai khác.

Trang 1

ĐỀ TÀI: NHỮNG ĐIỂM KHÁC BIỆT GIỮA TƯ TƯỞNG ẤN ĐỘ

GIÁO VÀ PHẬT GIÁO

MỞ ĐẦU

1 Giới thiệu khái quát và lý do chọn đề tài

Nền đạo học phương đông đã dâng tặng cho nhân loại một kho tàng trithức vô tận về vũ trụ và nhân sinh Trong mấy ngàn năm qua, nền đạo học này

đã và đang cống hiến cho nhân loại nhiều bài học vô giá về đạo đức, về triết lýnhân sinh… và nó như suối nguồn tuôn chảy bất tận vào hàng triệu triệu trái timcon người trên khắp thế giới Phương đông cũng là nơi cho ra đời nhiều tôn giáonhất như Phật Giáo, Ấn độ giáo, Đạo giáo, Khổng giáo, Hồi giáo… Nền đạohọc ấy đã và đang ảnh hưởng sâu sắc đến xã hội Như Sử gia người PhápY.Michelet (1798-1874) đã hết lời ca ngợi: “ Ở phương tây cái gì cũng chật hẹp

Hy lạp nhỏ bé làm cho tôi ngột ngạt Xứ Do Thái khô khan làm cho tôi khó thở.Hãy để cho tôi hướng về châu Á cao cả và phương đông thâm trầm trong giâylát Chính nơi đó đã phát sinh ra bài thơ vĩ đại của tôi, mênh mang như Ấn ĐộDương ngập tràn ánh nắng mặt trời rực rỡ, tốt lành… tạo nên không khí thái hòa

và tình thương vô bờ bến ngay giữa những cảnh tượng xung đột”

Nói đến phương đông không thể không nhắc đến Ấn Độ Ấn Độ là mộttrong những cái nôi của nền triết học phương đông Và cũng chính nơi đây đãkhai sinh ra nhiều trường phái triết học và tôn giáo lớn trên thế giới “một tiểu vũtrụ của các tôn giáo và các nền triết học” Nói đến Ấn Độ người ta liền nghĩngay đến Phật giáo và Ấn Độ giáo Đây là hai tôn giáo lớn của Ấn độ nói riêng

và của nhân loại nói chung Mặc dù ra đời cách đây hơn mấy nghìn năm, trảiqua biết bao thăng trầm lịch sử, sự nghiệt ngã của dòng thời gian…nhưng nóvẫn luôn mang tính thực tiễn cao và có thể đương đầu với mọi vấn đề của xã hộihiện đại; Như nhà vật lý học nổi tiếng người Đức Albert Einstein (1879-1955)

đã nói về Phật giáo : “Nếu có một tôn giáo nào đương đầu với các nhu cầu củakhoa học hiện đại thì đó là Phật Giáo hay tôn giáo của tương lai sẽ là tôn giáo

Trang 2

toàn cầu vượt lên mọi thần linh giáo điều và thần học Tôn giáo ấy phải bao quát

cả phương diện tự nhiên lẫn siêu nhiên đặt trên căn bản của ý thức đạo lý phátsinh từ kinh nghiệm tổng thể gồm mọi phương diện trên Trong cái nhất thể đầy

ý nghĩa đó chỉ có Đạo Phật đáp ứng đủ các điều kiện đó”

Có một điều chúng ta không thể phủ nhận là Ấn Độ giáo và Phật giáo đều

ra đời tại Ấn độ nhưng về tư tưởng cũng như về giáo pháp có nhiều điểm khácbiệt Với mong muốn nghiên cứu về những điểm khác biệt ấy nên người viết mạnh dạn chọn đề tài “Những điểm khác biệt giữa tư tưởng Ấn Độ giáo và Phậtgiáo” làm luận văn tốt nghiệp của mình Có thể nói đây là đề tài mới mẽ màGiáo sư Minh Chi gợi ý và hướng dẫn Với luận văn này, Người viết chỉ xemđây như là một công việc tự nghiên cứu, tìm hiểu cho chính bản thân mình và cóthể chia sẻ một phần nào đó cho những ai muốn tiếp cận với hai tôn giáo ấy Tuynhiên, sự nỗ lực cũng có giới hạn, cho nên luận văn này không sao tránh khỏinhững khuyết điểm , ngưỡng mong các bậc thiện tri thức từ bi chỉ giáo

2 Giới hạn đề tài và phương pháp thực hiện

“Những điểm khác biệt giữa tư tưởng Ấn độ giáo và Phật giáo” là một đềtài lớn, có thể viết thành một cuốn sách mấy trăm trang Vì luận văn tốt nghiệp

có độ dài giới hạn nên người viết chỉ giới thiệu đôi nét về sự khác biệt giữa haitôn giáo ấy mà thôi

Để thực hiện luận văn, người viết dựa vào kiến thức đã học tập ở trường,cũng như một số tư liệu hiện có để so sánh và đối chiếu Với đề tài trên, ngườiviết sẽ trình bày khái quát về các quan niệm, tư tưởng của Phật giáo và Ấn độgiáo và sau đó chỉ ra nhưng điểm sai khác

3 Bố cục của luận văn

Luận văn này được trình bày theo bố cục sau :

DẪN NHẬP

NỘI DUNG

Chương 1 : Giới Thiệu Khái Lược Về Ấn Độ Giáo và Phật Giáo

1.1 Bối cảnh xã hội Ấn độ cổ đại

1.2 Ấn độ giáo

Trang 3

1.3 Phật giáo

Chương 2: Những Điểm Khác Biệt Giữa Tư Tưởng Ấn Độ Giáo VàPhật Giáo

2.1 Quan niệm về giá trị con người

2.2 Quan niệm về Linh Hồn

2.3 Tư tưởng Nghiệp

2.4 Tư tưởng Giải thoát

KẾT LUẬN

Trang 4

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 : GIỚI THIỆU KHÁI LƯỢC VỀ ẤN ĐỘ GIÁO

VÀ PHẬT GIÁO 1.1 BỐI CẢNH XÃ HỘI ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI

Ấn độ cổ đại là một bán đảo có diện tích lớn nằm ở miền Nam châu Á.Đông nam và tây nam giáp với Ấn độ dương; Phía bắc là dãy núi Hymalaya và

có hai con sông lớn: sông Ấn và sông Hằng Từ hai con sông này đã hình thànhnên đồng bằng phù sa thuận lợi cho việc trồng trọt, đồng thời cũng là nơi sảnsinh ra nền văn hóa cổ xưa và rực rỡ nhất châu Á Phía nam Ấn độ là caonguyên Decan, là vùng đất nghèo nàn, cằn cõi, khô hạn, quanh năm nắng nóng

Do vậy, khí hậu giữa các miền của Ấn độ không đồng nhất với nhau, cónơi quanh năm tuyết phủ, có nơi lại khô hạn, nắng nóng

Thời cổ đại, Ấn độ có nhiều dân tộc sinh sống nên có nhiều ngôn ngữkhác nhau Đông nhất và có vị trí quan trọng là tộc người Dravidiens ở phía nam

và người Aryan sống ở phía bắc Trong quá trình phát triển, có những quốc gia

và các dân tộc khác bên ngoài xâm nhập vào Ấn độ rồi định cư như người Ba tư,

Hi lạp….Những dân tộc này sống hòa lẫn với nhau xây dựng nên một nền vănminh vĩ đại cho nhân loại, thể hiện qua các mặt sau:

Về kinh tế

Nông nghiệp lúa nước là ngành kinh tế chủ yếu của người Ấn độ cổ đại

Họ biết đắp đê dẫn nước vào ruộng, biết dùng trâu cày và các công cụ bằngđồng….Ngoài ra ngành chăn nuôi cũng phát triển mạnh, các súc vật được nuôithành từng đàn, từng bầy như ngựa, dê, lợn, gia cầm… Vì nhu cầu cuộc sốngnên nghề làm đồ gốm, đồ đồng cũng phát triển; từ đây quan hệ buôn bán, traođổi xuất hiện ở hình thức sơ khai Theo đà phát triển của xã hội, nghề thủ côngnghiệp đã xuất hiện và gặt hái những thành tựu đáng kể “những thợ thủ côngnghiệp đã tụ tập thành những tổ chức đặc biệt kiểu như phường hội Những nghềthủ công nghiệp phát đạt nhất thời đó là nghề dệt bông, đay, tơ lụa, nghề làm đồgốm và đồ trang sức” [10, 25]

Về chính trị

Trang 5

Vào khoảng 1500 đến 1000 năm trước CN, tộc người Aryan đã di cư vào

Ấn độ Lúc đầu họ sinh sống bằng nghề chăn nuôi, du mục Khi tấn công vàchiếm đoạt được nhiều vùng đồng bằng tươi tốt của người Dravidien, họ đã họctập được kỹ thuật canh tác của người dân bản xứ và thay đổi lối sống từ chănnuôi du mục sang định cư làm ruộng Về sau người Aryan tổ chức ra các công

xã nông thôn và phân chia ruộng đất cho các thành viên trong công xã Đứngđầu công xã là xã trưởng và hội đồng bô lão của công xã Họ vừa là người quản

lý công xã, vừa là người đại diện cho công xã giao thiệp với các cấp trên (tùtrưởng, sau khi thành lập quốc gia là vua)

Khoảng 1000 đến 600 năm trước CN, thế lực người Aryan bành trướngdẫn đến kinh tế phát triển nhanh chóng, từ đây sự phân hóa giai cấp gay gắt tạođiều kiện hình thành các quốc gia Như ở miền bắc Ấn độ, thế kỷ thứ VI trước

CN có đến mười sáu quốc gia, hùng mạnh nhất là quốc gia Magadha ở hạ lưusông Hằng

Về sau, vương triều Magadha bị lật đổ, thành lập nên triều đại Maurya(312 trCN), Asoka đã thống nhất và kiểm soát toàn bộ Ấn độ Sau khi Asokamất vương triều này suy sụp và dẫn đến diệt vong vào năm 28 trCN Ấn độ lại bịngoại bang xâm lược, mãi đến thế kỷ IV thì mới mới được thống nhất dưới triềuGupta và triều đại Harsa

Về văn hóa

Về văn hóa, Ấn độ cổ đại đã thành tựu được một số lãnh vực sau:

- Ngôn ngữ và chữ viết: khi người Aryan xâm nhập vào Ấn độ họ đã dùngtiếng nói của mình để sáng tác ra bộ Kinh Veda (ngôn ngữ Veda) Đến thế kỷthứ IV trước công nguyên Panini đã sáng tác ra ngôn ngữ Sanskrit (ngôn ngữnày chỉ sử dụng trong tầng lớp quý tộc) Dân chúng mỗi vùng có một thứ tiếngkhác nhau Do vậy ở Ấn độ có rất nhiều ngôn ngữ bình dân như Pali (ngôn ngữcủa Phật Giáo), tiếng Tamin của người Dravidien ở miền Nam Ấn

- Thiên văn học: xuất hiện từ thời Veda, họ đã quy định được một thánggồm ba mươi ngày, một năm gồm có mười hai tháng… và phỏng đoán được trái

Trang 6

đất hình cầu và quay quanh trục của nó Cuối thế kỷ thứ V trước CN, Thiên vănhọc đã giải thích được hiện tượng nhật thực, nguyệt thực.

- Toán học: người Ấn độ đã phát hiện ra chữ số thập phân và hình tượngcác chữ số Đặc biệt là họ đã tính được số Pi khá chính xác, biết được định lýPitago, biết giải phương trình bậc hai, bậc ba…

- Y học: Người Ấn đã biết chữa bệnh bằng cách dùng các loại cây và cácphương pháp trị bệnh đơn giản Về sau y học ngày càng phát triển, họ đã biếtđiều trị bệnh lâm sàng một cách thuần thục và chính xác…

- Kiến trúc: nổi bật nhất là lối kiến trúc xây dựng chùa chiền, đền tháp

- Văn học: dân Ấn đã sáng tác ra các áng văn chương bất hủ như bộ Veda

và các bộ sử thi: Mahabharata, Ramayana… đây là niềm tự hào của nền văn hóa

1.2.1.1 Vệ Đà giáo hay Phệ Đà Giáo

Đây là tôn giáo được hình thành sớm nhất ở Ấn độ, cũng là giai đoạn đầutiên của Ấn Độ giáo Nó ra đời dựa trên triết lý thánh kinh Vệ Đà

Người ta thường gọi tôn giáo này là đa thần giáo, bởi họ thờ cúng rấtnhiều các vị thần như: Indra (thần sấm), surya (thần mặt trời), agni (thần lửa), apas (thần nước), rudra (thần bảo tố), vayu (thần gió)…Có thể nói, hầu hết cáchiện tượng thiên nhiên đều có một vị thần trông coi, cai quản Việc thờ cúng các

vị thần linh, đối với dân tộc Ấn độ cổ đại, không phải là mê tín mà do lòng tintưởng chân thành Họ cho rằng cúng bái thần linh là lẽ sống, là nhu cầu thiếtyếu, cần thiết của con người Do đó, “Bất cứ việc gì, đối với bản thân, gia đìnhhay với bộ tộc, hơi động một tí là cúng bái trước đã Thắng trận, thu được chiếnlợi phẩm dù ít hay nhiều, làm lễ cưới vợ, sinh được con cái, mua may bán đắt,gia súc không bệnh tật và sinh đẻ nhiều, mưa nắng điều hòa, mùa màng tươi tốt,trong nhà an vui khoẻ mạnh….nhất nhất đều cúng tế trước để tạ ơn hay kêu cầu

Trang 7

rồi sau đó có làm gì thì làm Hoặc giả là làm điều gì không phải mà ăn năn, sámhối, biết mình phạm tội nên cầu xin thần linh tha thứ đừng giáng tai họa trừngphạt đều đến trước bệ thờ kêu cầu, khấn vái, rồi lựa những bài thánh tán ca xưngtụng công đức từ bi của vị thần mình cầu xin để ca hát” [15, 31-32]

Qua đây chúng ta thấy được rằng, các vị thần linh có nhiệm vụ chở che và

hộ trì mọi người, chuyển họa thành phúc…Do đó, người Ấn cổ đại bao giờ cũngđặt trọn niềm tin của mình vào các vị thần linh

1.2.1.2 Bà La Môn giáo

Đến những thế kỷ đầu của thiên niên kỷ thứ nhất trước CN, do xã hội pháttriển dẫn đến sự bất bình đẳng về giai cấp ngày càng sâu sắc; và dựa trên nềntảng Vệ đà, cũng như các hình thức dân gian… đã tập hợp thành một tôn giáomới gọi là Bà La Môn Đây cũng là giai đoạn chuyển bị thứ hai của quá trìnhhình thành Ấn độả giáo sau này

Lúc đầu, Bà La Môn giáo phát triển rất mạnh mẽ và có ảnh hưởng rất sâusắc đối với xã hội Ấn độ cổ đại Nếu như Vệ đà giáo thờ cúng rất nhiều thần linhthì Bà La Môn giáo chỉ tập trung tôn thờ ba vị thờ chính yếu như sau:Brahma(Phạm thiên hay Đại Phạm Thiên),Visnu (Tì nữu), Shiva (Thấp bà thiên) Ngoài

ra Bà La Môn giáo còn thờ các vị thần khác như thần Agni, thần Indra, thầnsurya… và họ cũng sùng bái nhiều loại động vật như voi, khỉ và nhất là bò…

Bà la môn cũng đã góp công thiết lập và duy trì chế độ giai cấp xã hội Dovậy, xã hội Ấn độ thời bấy giờ được chia ra làm bốn giai cấp:Giai cấp Brahmin(Bà la Môn), giai cấp Kshatriya (Sát đế lợi), giai cấp Vaisya (Vệ xá), giai cấpSudra (Thủ đà la) Ngoài các giai cấp trên còn có một giai cấp nữa gọi là Paria,

là những người nô lệ, cùng khổ

Để củng cố cũng như bảo vệ hệ thống giai cấp trên, người Aryan còn tạo

ra một bộ luật Manu-đây là bộ luật nghiêm khắc và có rất nhiều điểm cực đoan.Nói về các giai cấp, luật Manu viết: “Vì sự phồn vinh của cả thế giới, từ mồm,tay, đùi và bàn chân của mình (Brahma) đã tạo ra Brahmin, Kshatriya, Vaisya,Sudra” hay : “Do sinh ra từ bộ phận cao quý nhất của thân thể Brahma, do sinhsớm nhất, do hiểu biết Veda, Bà la môn có quyền là chúa tể của tất cả các tạo vật

Trang 8

ấy” [20, 88] Trong bộ luật này cũng khẳng định: “Bà la môn mười tuổi và vuamột trăm tuổi nên được coi là cha con nhưng trong ấy cha là Bà la môn” [20,88]

Vào thời kỳ này có đến sáu phái triết học: Sankhya (Số luận), Yoga (Dugià), Vaisesika (Thắng luận), Nyaya (Chánh lý), Mimansa (Di man tát) vàVedanta (Phệ đàn đà) Các phái triết học này được xem thuộc hệ thống của Bà lamôn giáo

Qua đây chúng ta thấy được rằng chế độ giai cấp ở Ấn độ thời bấy giờthật là nặng nề, khắc khe; nó buộc con người phải sống đúng thân phận củamình và phải tuân thủ theo bộ luật Manu và những gì đạo Bà la môn quy định

Bà la môn phát triển rộng rãi ở Ấn độ nhưng khi Phật giáo xuất hiện thì

bị suy tàn trong một thời gian dài

1.2.1.3 Ấn Độ Giáo

Sau một thời gian dài suy vi, đến thế kỷ VII Bà la môn dần dần được chấnhưng trở lại Sau đó họ bổ sung thêm nhiều vấn đề mới như về đối tượng sùngbái, về kinh điển, về nghi thức tế tự… Về đối tượng sùng bái, họ tập trung và đềcao ba vị thần : Brahma, shiva và visnu; về kinh điển họ tiến hành biên soạn lạikinh điển như bộ Brahmana (Phạm thư)- bộ này nhầm chú giải và thuyết minhnhững tinh hoa của Veda Cũng từ đây các bộ lớn khác như Aranyaka (Lâmtrung thư), Upanishad (Áo nghĩa thư) cũng được biên soạn Thời kỳ này người

ta gọi là Ấn độ giáo (hay Bà la môn canh tân) So với Bà la môn, thánh điển Ấn

độ giáo có phần khác hơn nhưng nền tảng chung thì vẫn là căn cứ vào bộ Veda

và chế độ giai cấp nặng nề, khắt khe của Bà la môn giáo gần như được giữnguyên

Nói chung: Ấn độ giáo là một tôn giáo đa thần Lúc đầu họ thờ cúng rấtnhiều vị thần linh, về sau được hệ thống hóa lại chỉ còn có ba vị thần chủ yếu

mà thôi Các bộ thánh điển của tôn giáo này có ảnh hưởng rất lớn đối với đờisống văn hoá xã hội cũng như các tôn giáo được khai sinh sau đó Điểm đặc biệtcủa Ấn độ giáo là không có một vị giáo chủ nào sáng lập rõ cả Sự duy trì vàtruyền bá của tôn giáo này hoàn toàn phụ thuộc vào các giáo sĩ mà thôi Có một

Trang 9

điều chúng ta không thể phủ nhận, dù Ấn độ giáo không được truyền bá rộng rãinhư Phật giáo nhưng ở tại Ấn độ nó có ảnh hưởng rất lớn Theo số liệu thống kêcủa các nhà nghiên cứu vào năm 1991 thì ở Ấn độ có tới 83% dân số là tín đồcủa Ấn giáo, trong khi đó tín đồ Phật giáo chỉ chiếm 0.76% mà thôi.

1.2.2 Kinh điển của Ấn Độ Giáo

Kinh điển của Ấn độ giáo chủ yếu có ba bộ lớn như sau:

Bốn tập Samhitas (Sam có nghĩa là cùng với nhau, hita là sắp xếp hay sưutập), cũng gọi là bốn bộ Veda

Rig Veda (thường được phiên âm là Lê câu vệ đà): gồm có 1028 bài thánh

ca nhằm ca tụng, tán dương các vị thần linh “Những bài thánh ca này ngoài ýnghĩa tín ngưỡng, nó còn là tác phẩm văn học có giá trị và thông qua đây chúng

ta cũng hiểu được về nhân sinh quan và vũ trụ quan của người Ấn độ cổ đại”[27, 11]…Đây là quyển xưa nhất và quan trọng nhất trong bốn quyển Veda

Sama Veda (Sa ma vệ đà): gồm có 1549 bài tán ca được trích ra từ RigVeda kết hợp với một ít bài mới Nó được coi là “tri thức về các giai điệu cachầu, cầu nguyện thần linh khi hành lễ”

Yajur Veda (Da du vệ đà): bộ này tập hợp những nghi thức khấn vái thầnlinh và cách bố trí các lễ vật trong khi cúng tế Có nhiều đoạn trong này được rút

ra từ Rig Veda Tuy nhiên Yajur Veda lại có những đoạn văn xuôi ngắn và một

số đoạn tán ca có chung một đề tài

Atharva Veda (A thát bà vệ đà): là bộ ghi chép những câu thần chú, mathuật…dùng để cầu phúc, cầu an, giải hạn, cầu cho mọi người tai họa được tiêu

Trang 10

trừ… nhằm đem lại điều may mắn tốt lành cho bản thân, gia đình và xã hội Mặtkhác nó còn có thể gây thương tổn cho kẻ thù, nguyền rủa kẻ thù….

1.2.2.2 Upanishad (Áo nghĩa thư) có ba nghĩa chủ yếu

- Theo Max Muller, Upanishad có nghĩa là lớp học trong rừng, ở đâynhững người học trò ngồi xung quanh thầy và nghe thầy giảng

- Theo Deussen, thì Upanishad có nghĩa là giáo lý bí mật, mà người thầychỉ truyền trao cho một số ít học trò đã được thử thách và lựa chọn

- Theo Sankara, nhà sớ giải nổi tiếng của tập Upanishad, thì Upanishad cónghĩa là đoạn trừ, tiêu hủy tức là triết lý này đoạn trừ sự si mê, ngu dốt và mởđường cho chánh kiến và giác ngộ, giải thoát

Upanishad có tổng cộng 180 cuốn, được biên soạn vào cuối thời kỳ Veda.Cho nên nó còn có tên là Vedanta, nghĩa là sự kết thúc của Veda (sự kết thúc ởđây tức là sự hoàn chỉnh, hoàn thiện của tư tưởng Veda)

Nội dung chủ đạo của Upanishad là nhất nguyên và duy tâm

Nhất nguyên là vì các tác giả của Upanishad cho rằng: “Atman làBrahman, ẩn sâu trong con người” [5, 25] Cũng có nghĩa bản thể của vũ trụvạn hữu là cái bí mật của con người và biết được Atman tức cũng biết đượcBrahman Mà muốn “hiểu biết về Atman không thể đạt được bởi lý luận Atman

sẽ trở nên dễ dàng lĩnh hội khi được giảng giải bằng cách khác (nhận thức trựcgiác, hướng nội hay thực nghiệm tâm linh) Bây giờ ngươi đã đạt được sự hiểubiết đó” [8, 100] Như vậy muốn nhận ra được Atman, chúng ta phải quay vềbên trong bằng con đường thực nghiệm tâm linh thì mới có thể thấy được bảnchất của con người tức là Atman Có khi người ta còn đồng nhất Atman với hơithở

Duy tâm là vì Atman là cái nằm ẩn sâu bên trong, là cái bản chất của conngười, của mỗi chúng sanh, “Atman ẩn dấu sâu kín trong trái tim của vạn vậtđang sinh tồn Người thoát khỏi sự ràng buộc của dục vọng và thế giới vật dục làngười thấy được vẻ uy nghiêm của Atman qua sự yên tĩnh của tri giác và trí tuệ,người đó sẽ đạt được tự do từ khổ đau” [8, 103]

Trang 11

Trong Upanishad, chúng ta cũng tìm thấy được những thuyết nghiệp(Karma), luân hồi và các phương pháp thực tập đưa đến giải thoát……

1.2.2.3 Bhagavad Gita (Chí Tôn Ca )

Mahabharata là tác phẩm sử thi của Ấn độ nói riêng và của nhân loại nóichung, được xem là cuốn “Bách khoa toàn thư” Ngạn ngữ Ấn cũng đã khẳngđịnh: “Cái gì không được thấy trong Mahabharata thì cũng không thể thấy được

ở Ấn độ” Bộ sử thi này gồm có 200.000 câu thơ, dài gấp bảy lần tổng số câucủa hai bộ sử thi cổ Hy Lạp Iliade và Odyssee cộng lại Nó được biên soạn vàokhoảng năm 500 trước công nguyên, đây là công trình sáng tác tập thể của nhiềuthi nhân và trải qua nhiều thế hệ

Dưới triều đại các vua của Gupta, Bhagavad Gita được bổ sung vào bộ sửthi này và trở thành cuốn VI của toàn tập Mahabharata Theo một số học giả thì Bhagavad Gita gồm có 700 câu thơ và được chia thành 18 đoạn

Bhagavad Gita là bộ thánh điển quan trọng của Ấn độ giáo Nó khôngnhững là tác phẩm văn học có giá trị mà còn cô đúc được hầu như tất cả nhữngnguyên lý chính của đời sống tâm linh ấn độ cổ đại Nội dung chủ yếu của thánh

ca này là trình bày về :

- Con đường tri thức

“Nhờ ánh sáng của Jnana (tri thức), nhà ngươi sẽ nhận biết Brahma trongchính Atman của mình và ở trong Ta” [13, 149]

- Con đường của hành động:

“Hành động của ai thoát khỏi dục vọng, được ngọn lửa của tri thức soisáng, người đó xứng đáng là bậc hiền giả ở đời” [13, 149]

- Con đường của sự sùng tín:

“… Những ai có lòng thành kính, vọng tưởng đến Ta… những người đómới thật là tông đồ mộ đạo, hiện hữu gần nhất bên Ta” [13, 151]

1.3 PHẬT GIÁO

1.3.1 Quá trình hình thành

Trước khi Phật ra đời, xã hội Ấn độ rơi vào cuộc khủng hoảng trầm trọng

về mọi mặt của đời sống xã hội Thời kỳ này tầng lớp Bà La Môn được kính

Trang 12

trọng, tôn sùng tuyệt đối; bởi họ là những người được coi là có tri thức, có khảnăng giảng dạy đạo lý và cúng tế thần linh Còn giai cấp Sát Đế lợi (vua chúa,tướng lĩnh….) thống trị quốc gia, thâu tóm gần như toàn bộ đất đai Trong khi

đó, các giai cấp dưới phải lao động vất vả, chịu mọi sự khổ cực để cung phụngcho các giai cấp trên Chính những lý do này khiến cho đời sống xã hội ngàycàng nảy sinh mâu thuẫn sâu sắc và dẫn đến sự phản kháng của đông đảo quầnchúng nhân dân lao động, đòi quyền tự do, bình đẳng Cũng chính vào thời điểmnày ánh sáng từ bi trí tuệ của Phật giáo đã xuất hiện “Phật giáo xuất hiện như là

sự đáp ứng nhu cầu tinh thần phản kháng xã hội; một mặt nó phản ánh nỗi bấthạnh, đau khổ thực tế của nhân dân Ấn độ; mặt khác nó phản kháng chế độ đẳngcấp nghiệt ngã, chống lại sự áp bức, bất bình đẳng giữa con người Nó công khaichống lại giáo lý truyền thống của kinh Veda và đạo Bà la môn, bác bỏ uy quyềnthần thánh, xây dựng niềm tin vào chính con người”

Vậy Ai là người khai sáng ra Phật giáo ?

Đó chính là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni-Người đã khai sáng ra Phật giáo

ra đời vào năm 563 trCN tại vườn Lumbini (Lâm Tỳ Ni), trong thànhKapilavastu (Ca tỳ la vệ) ở gần biên giới Nepan ngày nay Ngài được đặt tên làSiddhattha (có nghĩa là người được toại nguyện), họ Gotama Cha là quốcvương suddhodana (Tịnh Phạn)-trị vì vương quốc Kapilavastu; mẹ là hoàng hậuMàyà (Ma Gia) Sau khi Siddhattha chào đời được bảy ngày thì hoàng hậu độtngột qua đời, việc nuôi dưỡng thái tử được giao lại cho em gái là PajàpatiGotamì

Thời niên thiếu, thái tử được chăm sóc và dạy dỗ một cách toàn diện cảhai lĩnh vực văn và võ Không bao lâu Ngài đã tinh thông tất cả, đến nỗi các vịdanh sư nổi tiếng phải cúi đầu thán phục Ngoài sự thông minh, văn võ toàn tài,Thái tử còn được mọi người yêu mến vì sự hiếu thảo, tính khiêm cung và lòngthương người…

Khi mười sáu tuổi, vâng lời vua cha, thái tử kết hôn với công chúaYasodhara (Da du đà la)-một người em cô cậu cùng tuổi với Ngài, ít lâu saucông chúa đã hạ sinh một hoàng nam tuấn tú đặt tên Ràhula

Trang 13

Mặc dù sống trong cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con xinh nhưng lúc nàoThái tử cũng trầm ngâm, suy tư nhiều về kiếp sống nhân sinh “chính ta phải chịucảnh sanh, già, bịnh, chết, phiền não và nhiễm ô” hay Ngài suy niệm: “cuộcsống tại gia rất tù túng chật hẹp, là chỗ ẩn náu của bụi trần ô trược”.

Do không chấp nhận chế độ phân biệt chủng tộc, đẳng cấp của xã hội, vì

sự khát khao tìm cầu chân lý, nên thái tử Siddhattha từ bỏ tất cả, quyết chí ra đitìm đạo cứu đời Trải qua bảy năm tầm sư học đạo, thái tử đã thọ học với các vịdanh sư nổi tiếng như Alàràma Kàlamà và Uddaka Ràmaputta và cũng đã kinhqua đời sống tu hành khổ hạnh với năm anh em Kiều Trần Như; nhưng tất cảđiều không giải quyết thoả đáng ý nguyện của Ngài Sau đó Thái tử quyết định tĩnh toạ dưới gốc cây Tất bát la và thệ nguyện rằng: Nếu như không chứng đượcđạo Vô thượng bồ đề, thà thịt nát xương tan Ta cũng không rời khỏi chỗ này.Suốt bốn mươi chín ngày đêm suy tư thiền quán, cuối cùng khi sao mai vừa mọcThái tử hoát nhiên đại ngộ, sạch hết phiền não, chứng được đạo quả Vô thượng

Bồ đề hiệu Thích Ca Mâu Ni khi vừa tròn ba mươi lăm tuổi

Sau khi viên thành đạo quả, Đức Phật liền đem giáo pháp của mình chứngngộ được truyền bá cho tất cả mọi người Trước tiên, Ngài dự định hóa độ chohai vị danh sư Alàrà Kàlamà và Uddaka Ràmaputta Sau khi thiền quán để xemcác vị ấy cư ngụ ở đâu, Phật biết được hai vị ấy vừa mới qua đời Kế đến Ngàinghĩ đến năm người bạn tu khổ hạnh, và biết họ đang vẫn còn tu tập tại Sarnath(Vườn Nai) Ở đây Ngài đã tuyên dương chánh pháp bằng bài giảng Tứ Diệu

Đế Sau khi nghe pháp năm anh em Kiều Trần Như đều xin quy y và trở thành

đệ tử xuất gia đầu tiên của Phật, cũng từ đây Ba ngôi Tam Bảo được hình thành

Sau đó, Ngài tiếp độ Yasa-con vị thương gia giàu có cùng 54 người bạncủa ông trở thành đệ tử xuất gia Không bao lâu những bậc vua chúa như vuaBimbisara, Pasenadi….những bậc trí thức, đạo đức như uruvela kassapa, nadìkassapa, Gaya kassapa, tôn giả Sariputta, Mogallana, Mahà Kassapa hay các vị

tỷ phú thương gia như Anàthpindika, visàkhà….đều lần lượt trở thành đệ tử xuấtsắc của ĐứcPhật

Trang 14

Để hoàn thành hiếu đạo cũng như lợi ích cho hoàng gia, đức Phật trở vềquê hương Capilavastu thuyết pháp hóa độ cho vua cha và tiếp độ vô số hoàngthân quốc thích như Ananda, Devadatta, Ràhula, Anuridha….Đặc biệt là ĐứcPhật õ cho phép di mẫu Pajapati xuất gia làm tỳ kheo ni và cho phép thành lập

Ni đoàn

Khi bước vào tuổi tám mươi, nhận thấy con đường giáo hóa đã viên mãn,đức Phật cùng chúng tỳ kheo du hành về thị trấn Kusinàra, ở đây Ngài đã hóa độcho vị đệ tử cuối cùng là Subbadra, đồng thời cũng tuyên bố nhập niết bàn.Trước khi từ giã cõi đời, Phật cho phép các tỳ kheo nêu lên những thắc mắc vềgiáo pháp : “ Có nghi ngờ, thắc mắc, phân vân gì liên quan đến Phật, Pháp,Tăng, đến đạo, đến phương pháp, hãy hỏi đi, đừng để sau này hối tiếc” Và Ngàicũng không quên khuyến khích các đệ tử hãy nổ lực tinh tấn thực hành giáopháp “Hỡi các đệ tử, Như Lai khuyên các con, các pháp hữu vi đều là vôthường, hãy tận lực, liên tục chuyên cần” Sau khi Phật nhập diệt, tôn giả MahàKassapa đã chủ trì lễ trà tỳ Xá lợi Phật được chia làm tám phần, được vua quan

và Phật tử các nước xây tháp phụng thờ

Sau khi Phật nhập niết bàn, Phật giáo được các vị đại đệ tử của Ngàitruyền bá đi khắp nơi trên xứ Ấn độ Đặc biệt là vào thế kỷ thứ III trước côngnguyên, dưới triều đại của vua Asoka, vị Hoàng đế này có công rất lớn trong sựnghiệp hoằng dương thánh giáo Asoka gởi các đoàn truyền giáo đi khắp nơi,trong ấy có đại đức Mahinda-con của ông cùng với bốn vị tu sĩ khác được gởisang Tích Lan truyền bá Phật giáo Đến thế kỷ thứ II trước công nguyên, vuaKanishaka cũng nhiệt tình ủng hộ Phật giáo Ông đã ra lệnh cho khắc tam tạngkinh điển lên lá đồng và cho người bảo quản một cách cẩn thận

Trong quá trình phát triển, để phù hợp với từng thời đại, thích nghi vớitừng dân tộc, Phật giáo dần dần phân hóa thành hai bộ phái lớn đó là tiểu thừa

và đại thừa hay còn gọi là Phật giáo nam truyền và Phật giáo bắc truyền Mặc dùtrên hình thức họ không đồng nhất với nhau về giáo lý cũng như về quan điểm…nhưng mục đích cứu cánh của hai truyền phái này là xiển dương thánh giáonhằm đem lại lợi ích cho bản thân, tha nhân và xã hội

Trang 15

Phật giáo nam truyền được truyền bá qua hầu hết các nước đông nam ánhư Tích lan, Miến điện, Thái lan, Lào, Campuchia, Việt nam….còn Phật giáobắc truyền thì được truyền bá qua các nước như Trung Quốc, Nhật bản, TriềuTiên….trong đó có Việt nam

Ngày nay, do sự nhiệt tình hoằng pháp của các vị tổ sư nên Phật giáocũng đã được truyền bá sang các nước như Mỹ, Pháp, Anh, Đức…

1.3.2 Kinh Điển Cơ Bản Của Phật Giáo

Nói đến kinh điển Phật giáo thì phải đề cập đến Tam Tạng kinh điển

Kinh Trung Bộ : đây là bộ kinh tập hợp những bài kinh trung bình gồm có

152 kinh, tương đương với Trung A Hàm thuộc Hán tạng

Kinh Tăng Chi Bộ: bộ kinh này được sắp xếp theo pháp số, có mười mộtchương gồm 171 phẩm, có 2203 bài kinh, tương đương với Tăng Nhất A Hàmthuộc Hán tạng

Kinh Tương Ưng Bộ: đây là bộ kinh tập hợp những bài kinh có cùngchung thể loại theo sự tương quan của từng vấn đề, gồm có 7762 bài kinh, tươngđương với Kinh Tăng Nhất A Hàm thuộc Hán tạng

Kinh Tiểu Bộ: đây là bộ kinh tập hợp những bài kinh ngắn, và không cótương đương trong Hán tạng Nội dung của kinh này chia làm mười lăm loạisau: kinh Tiểu Tụng, kinh Pháp Cú, kinh Tự Thuyết, Như Thị Ngữ, Kinh Tập,Thiên Cung Sự, Ngạ Quỷ Sự, Trưởng Lão Kệ, Trưởng Lão Ni Kệ, Thí Dụ, KinhBổn Sanh, Vô Ngại Giải Đạo, Kinh Phật Chủng Tánh, Sở Hành Tàng, NghĩaThích

1.3.2.2 Luật Tạng: là những giới điều mà Phật đã chế định, về sau đượcđúc kết thành các bộ như:

Trang 16

Tứ Phần Luật: gồm có 60 quyển

Ngũ Phần Luật: gồm có 30 quyển

Thập Tụng Luật: 60 quyển

Ma ha Tăng Kỳ Luật: gồm 40 quyển

Căn Bản Nhất Thiết Hữu Bộ Tỳ Nại Da: gồm 50 quyển

1.3.2.3 Luận Tạng: không phải do Phật trực tiếp nói ra mà là những giảithích về Kinh, Luật do các vị đệ tử sáng tác, gồm có các bộ sau:

Pháp Tập Luận: bộ này nhằm phân loại, giải thích tất cả pháp

Phân Biệt Luận: bộ này cũng nhằm phân loại, giai thích tất cả pháp trên,

có người cho rằng đây là bộ tục biên của Pháp Tập Luận

Giới luận: trình bày về mối quan hệ giữa Uẩn, Xứ và Giới

Nhân Thi Thiết Luận: bộ này nhầm thuyết minh về sáu phần: Uẩn, Xứ,Giới, Căn, Đế, Nhân

Song Luận: gồm có mười phẩm nhầm nói rõ các mối hỗ tương của cácpháp và các mối quan hệ sinh khởi và biến diệt

Phát Trí Luận: bộ này nhằm nói rõ mối liên hệ của 122 môn và 24 duyên.Luận Sự: gồm có 313 phẩm, 217 luận nhằm đả phá những chấp trước sailầm của các bộ phái

Trên đây là những kinh điển căn bản của Phật Giáo, được nói ra từ kimkhẩu của Đức Phật hay các vị đệ tử xuất sắc của Ngài Ngoài ra, sau khi đại thừaPhật Giáo phát triển đã hình thành nên một số bộ Kinh, luận lớn như sau: BộKinh Đại Bát Nhã, Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Pháp Hoa, Kinh Duy Ma, KinhLăng Già, Kinh Đại Bát Niết Bàn….về luận thì có Bộ Đại Trí Độ Luận, TrungQuán Luận, Thập Nhị Môn Luận, Thành Duy Thức Luận, Du Già Sư ĐịaLuận…

Nói chung: Phật Giáo là một tôn giáo lớn của nhân loại, do Đức PhậtThích Ca Mâu Ni sáng lập Dù ra đời cách đây hơn hai mươi thế kỷ, nhưngnhững lời dạy bất hủ của Phật vẫn còn thiết thực, đã và đang có ảnh hưởng rấtlớn đến đời sống văn hóa của châu Á nói riêng và cho toàn nhân loại nói chung

Trang 17

Chương 2: NHỮNG ĐIỂM KHÁC BIỆT GIỮA TƯ TƯỞNG ẤN ĐỘGIÁO VÀ PHẬT GIÁO

2.1 QUAN NIỆM VỀ GIÁ TRỊ CON NGƯỜI

2.1.1 Quan niệm về giá trị con người của Ấn độ giáo

Là con người thì ai cũng muốn có được một cuộc sống hạnh phúc trên haiphương diện vật chất và tinh thần Trong xã hội Ấn độ cổ đại, nhất là vào thời

kỳ Bà La Môn Giáo (giai đoạn thứ hai của quá trình hình thành Ấn độ Giáo),không phải người nào cũng có quyền được mong cầu như thế, chỉ có nhữngtầng lớp thượng lưu, những người của đẳng cấp trên, cụ thể là Bà la môn và Sát

đế lợi Thời kỳ này đạo Bà La Môn phát triển rất mạnh, chiếm địa vị độc tôntrên vũ đài tư tưởng, chi phối gần như toàn bộ đời sống tinh thần của xã hội Vì

để củng cố thế lực cũng như địa vị ấy nên Bà La Môn đã phân chia xã hội ralàm bốn giai cấp lớn như sau:

Giai cấp Brahmin (Bà la Môn): đây là giai cấp cao nhất gồm toàn bộ giớităng lữ, là những người có khả năng đảm trách tín ngưỡng, lo việc cúng tế, lễnghi và có quyền thay mặt xã hội giao tiếp với các đấng thần linh

Giai cấp Kshatriya (Sát đế lợi): là giai cấp của những người nắm quyền xãhội, thống trị lãnh thổ

Giai cấp Vaisya (Vệ xá): gồm các thành phần thương gia, địa chủ…

Giai cấp Sudra (Thủ đà la): là giai cấp của những người tiện dân, cùngkhổ, tôi tớ…

Ngoài các giai cấp trên còn có một giai cấp nữa gọi là Paria, là nhữngngười nô lệ, cùng khổ Họ không được phép sống trong cộng đồng của bốn giaicấp trên, họ chỉ được sống ở những nơi bìa rừng hay ở xa làng xóm Họ cũngkhông được phép nói chuyện hoặc quan hệ hôn nhân với các người thuộc giaicấp trên Hằng ngày những người thuộc giai cấp này làm những việc khó nhọcnhư thiêu xác người, đổ phân, quét đường…

Nói về sự phân chia giai cấp trong Rig Veda cũng đã khẳng định : giai cấp

Bà la môn được sinh ra từ miệng của Brahma, hai tay của Ngài tạo thành đẳng

Trang 18

cấp sát đế lợi Hai bắp đùi của ngài là đẳng cấp Phệ xá Từ hai bàn chân củaNgài là giai cấp thủ đà la.

Qua đây cho chúng ta thấy được rằng, Ấn độ giáo quan niệm về giá trịcon người hết sức bất công và không có sự bình đẳng Đây là sự phân biệt chủngtộc, màu da, cũng như về nguồn gốc xuất thân Những người thuộc giai cấp dướiphải tuân thủ nghiêm ngặt và phải tin tưởng tuyệt đối vào sự an bài này, cụ thể

là của những giáo sĩ Bà là môn Bà là môn sở dĩ được coi là giai cấp tối cao, bởi

vì họ là người độc quyền về tri thức Họ không nhữngỉ giải thích, chú giải các

bộ kinh về Veda, dạy dỗ mọi người mà còn có quyền thay mặt mọi người tiếpxúc với các đấng thần linh Thời bấy giờ không phải ai cũng được học, đọc, haynghe kinh thánh Nếu người sudra mà nghe thánh kinh thì tai sẽ bị điếc, bị đổ chìvào Nếu họ tụng thánh kinh thì sẽ bị cắt lưỡi Còn người nào học thuộc lòngthánh kinh thì thân thể sẽ bị chặt làm hai Đạo Bà la môn lúc ấy chỉ là đạo riêngcủa những người Bà la môn mà thôi, họ không cho bất cứ tầng lớp nào len lỏivào

Không những thế, trong quan hệ giao tiếp, hôn nhân cũng được quy địnhrất chặt chẽ Những người thuộc giai cấp thấp, nhất là giai cấp Puria không đượcquyền giao tiếp, sinh hoạt với những người thuộc giai cấp trên Họ còn cho rằng,nếu người nào thuộc giai cấp Bà la môn không may bị người Paria giẫm lên cáibóng của mình thì người ấy phải làm lễ tẩy trần bằng cách nhịn ăn, và tắm nướcthánh cả ngày hôm đó hay những người thuộc giai cấp thấp muốn đi qua mộtkhu phố hay một khu chợ thì phải báo hiệu cho mọi người biết để tránh xa họ…

Về hôn nhân họ cấm không cho các giai cấp khác nhau kết hôn với nhau Thậmchí các vương tôn công tử thuộc giai cấp Sát đế lợi không được phép kết hôn vớicon gái của Bà la môn Còn nếu người Bà la môn cưới một người vợ thuộc giaicấp sudra thì con cái của họ sinh ra bị giáng xuống đẳng cấp hèn hạ nhất

Sự phân chia giai cấp này hết sức nghiệt ngã và quá bất công Nếu aikhông may sinh ra trong giai cấp hèn hạ, họ phải chấp nhận số phận đó cho đếnkhi nhắm mắt lìa đời mà không cóù cơ hội vươn lên địa vị cao hơn Sự an bàicác giai cấp trên đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các giai cấp dưới nên gây

Trang 19

ra một cuộc phản kháng hết sức dữ dội nhằm đòi lại quyền tự do bình đẳng từ tay của những người thuộc giai cấp trên đã chèn ép, áp đặt cho họ.

Như vậy, theo Ấn giáo, cụ thể là Bà la môn giáo thì thân phận con ngườikhông được tôn trọng như nhau, những người thuộc giai cấp trên thì được tôntrọng tuyệt đối, còn những người thuộc giai cấp dưới được coi là những kẻ nô lệ.Đời sống vật chất của những người thuộc giai cấp thấp còn chưa đầy đủ, thì làm

gì có cơ hội thăng hoa trong đời sống tinh thần Đây là quan điểm của Ấn giáo

về giá trị con người

2.1.2 Quan điểm của Phật giáo về giá trị con người

Vì nhận ra được cuộc đời là chuổi dài của khổ đau, luôn bị sanh, lão,bệnh, tử chi phối nên thái tử Tất Đạt Đa từ bỏ tất cả cung vàng điện ngọc, vợđẹp con thơ, quyết chí ra đi tìm đạo cứu đời Sau khi chứng được quả vị Vôthượng chánh đẳng chánh giác, Đức Phật đã lên đường giáo hóa chúng sinh,mang đến cho xã hội Ấn độ một luồng gió mới, một tư tưởng cách mạng mới.Như chúng ta biết, thời bấy giờ đạo Bà la môn chiếm địa vị độc tôn và họ đãthiết lập ra các giai cấp nhằm tước đoạt mọi quyền sống khiến cho con người rơivào cảnh lầm than, khổ sở… Vì lòng từ bi vô hạn cũng như với tuệ giác siêuviệt Đức Phật từng bước thiết lập lại xã hội và đưa ra nhiều quan điểm đặc sắc

để “chống lại” những tư tưởng tiêu cực và khắt khe của xã hội lúc bấy giờ Vềthân phận con người cũng như nói về các giai cấp, Đức Phật khẳng định:

“Không có đẳng cấp trong dòng máu cùng đỏ, không có đẳng cấp trong giọtnước mắt cùng mặn Một người được coi là quý tộc hay hạ tiện là ở nơi hành vicủa họ mà không phải ở đẳng cấp sinh ra” Như vậy, Phật đã xác định sự bìnhđẳng giữa người với người, không có ai là quý tộc và cũng không có ai là hạtiện Quý tộc hay hạ tiện không phải do nơi giai cấp quy định Đây là một tưtưởng hết sức mới mẻ, độc đáo và nó được thể hiện rất rõ trong suốt quá trìnhhoằng dương thánh giáo của Ngài Đức Phật mở rộng cánh cửa giải thoát nhằmtiếp nhận tất cả mọi người bất kể sang giàu, cao thượng hay hèn hạ… Do vậy,trong tăng đoàn của Ngài có đủ mọi tầng lớp của xã hội, như Xá Lợi Phất, MụcKiền Liên thuộc tầng lớp Bà la môn, A Nan thuộc tầng lớp Sát đế lợi, Ưu Ba Li

Trang 20

thuộc tầng lớp Thủ đà la… Đức Phật nói rõ rằng: “Này các tỳ kheo, các consông lớn đổ về đại dương thì mất tên trước kia của chúng và chỉ được gọi là đạidương Cũng vậy, bốn giai cấp Bà la môn, Sát đế lợi, Vệ xá và Thủ đà la xuấtgia, từ bỏ gia đình vào Pháp luật này được Như Lai tuyên bố, đều mất danh tánh

và dòng dõi trước kia và chỉ còn được xem là Sa môn Thích tử”

Hơn thế nữa, Đức Phật luôn đề cao giá trị của con người, bất luận là namhay nữ Ngài cho rằng ai cũng có thể tu tập và đạt được quả vị giác ngộ giảithoát Nghĩa là một người cho dù xuất thân từ giai cấp Bà la môn cao quý hay ởnhững giai cấp thấp, nếu thực hành theo giáo pháp của Ngài thì đều được thưởngthức hương vị thánh đạo, “Này các tỳ kheo, đại dương chỉ có một vị, đó là vịmặn Cũng vậy, Pháp và Luật của Ta cũng chỉ có một vị, đó là vị giải thoát”

Điểm đặc biệt nhất là Đức Phật tiếp nhận nữ giới vào trong giáo đoàn VìNgài thấy rõ “người nữ có khả năng thành tựu các đạo và các quả” Có thể nóiđây là một cuộc cách mạng về giới tính đầy tính nhân văn của Phật Bởi người

nữ xưa kia không được trọng đãi, tôn trọng Đạo Bà la môn xem phụ nữ như làvật sở hữu của nam giới, sinh ra để phục tùng cho nam giới mà thôi và “cuốithời Veda và thời kỳ sử thi, phụ nữ phải chết theo chồng”[30,176] Còn đạo Jainthì cho rằng “Phụ nữ là ngọn đèn chiếu sáng con đường dẫn đến cánh cửa địangục” Trước khi Phật ra đời, người phụ nữ không được hưởng quyền tự do,bình đẳng nên họ không có cơ hội thăng hoa về đời sống tâm linh của mình Saukhi Ni đoàn được thành lập, hầu hết các vương phi, công chúa cho đến hàng thứdân, gái giang hồ… bất luận ở đẳng cấp nào cũng hưởng được “mùi vị” tự do,bình đẳng ấy Cũng có rất nhiều cô gái, đáng lẽ mãi mãi bị lãng quên trong bóngtối khổ đau đã tỏ ra xuất sắc và đã thành tựu được giác ngộ giải thoát sau khinương tựa vào giáo pháp của Như Lai

Nói chung: Phật giáo nhìn nhận giá trị thật của con người, không phải dosanh ra hay nguồn gốc xuất thân mà quyết định sự cao thượng Sự cao thượnghay hèn hạ đều phụ thuộc vào hành động, nhân cách của con người Và ĐứcPhật cũng khẳng định : Tất cả chúng sinh đều có tánh Phật, có khả năng thành

Trang 21

Phật Đây là điểm khác biệt chủ yếu về giá trị con người giữa Phật giáo và Ấngiáo

2.2 QUAN ĐIỂM VỀ LINH HỒN

Ngoại trừ Phật giáo, hầu hết các tôn giáo ở Ấn độ đều chấp nhận có mộtlinh hồn bất biến tồn tại trong mỗi con người Ấn độ giáo cho rằng linh hồn bấtbiến ấy chính là Atman hay Purusa, Jiva, chính là cái Ta, cái Ngã hay là cái thựcthể tuyệt đối trường cửu trong con người Trong kinh Upanishad đề cập nhiều

ví dụ nói về linh hồn :

Chàndoya Upanishad nói:

“Này con, nếu có ai chích vào rễ của một cây lớn thì cây sẽ chảy nhựanhưng cây vẫn sống, thậm chí đốn ngang cây, thì cây vẫn sống, chặt hết đọt câythì cây vẫn sống trong nó và cây tiếp tục dần dần hút nước và thức ăn từ lòng đất

Như vậy, bản chất linh hồn là vĩnh cửu, vô tận; dù thân xác có bị tiêu hủynhưng linh hồn vẫn tồn tại từ kiếp này đến kiếp khác “Sau cái chết của thân xác,linh hồn đi về một trạng thái siêu việt khác mà phẩm chất của trạng thái đó đượcxác định tùy vào hành nghiệp (karma) quá khứ, trong đó bản chất nguyên thủycủa tự ngã có thể được khám phá Nhưng từ tình trạng siêu việt này, Atman cóthể quay về thế giới vật chất nếu chưa thành tựu được thực tại tối hậu” [14, 48]

Trong The Bhagavad Gita có đề cập đến sự bất tử , vĩnh cửu của linh hồn:

“Này Ajuna, linh hồn đã hiện thân thì vĩnh cữu, vô hủy diệt, bất khả tri và

vô tận chứ không tạm bợ như thân xác Vậy thì hãy chiến đấu Kẻ nào có thể chorằng linh hồn có thể giết được và kẻ nào có thể cho rằng linh hồn có thể bị giết,

cả hai kẻ ấy đều ngu xuẩn Linh hồn không thể giết được ai và cũng không hề bịgiết Linh hồn không sinh thì không tử Linh hồn đã hiện hữu sẽ không ngừng

Ngày đăng: 01/06/2017, 18:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[6] Minh Chi, Các Vấn Đề Phật Học, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các Vấn Đề Phật Học
Tác giả: Minh Chi
Nhà XB: Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam
Năm: 1995
[7] Minh Chi, Thuyết Bốn Đế, Trường Cao Cấp Tp HCM, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuyết Bốn Đế
Tác giả: Minh Chi
Nhà XB: Trường Cao Cấp Tp HCM
Năm: 1996
[9] Doãn Chính, Tư tưởng giải thoát trong triết học Ấn độ, NXB Thanh Niên, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng giải thoát trong triết học Ấn độ
Tác giả: Doãn Chính
Nhà XB: NXB Thanh Niên
Năm: 1999
[15] Thích Mãn Giác, Lịch sử triết học Ấn độ, Ban tu thư Viện Đại Học Vạn Hạnh, 1967 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử triết học Ấn độ
Tác giả: Thích Mãn Giác
Nhà XB: Ban tu thư Viện Đại Học Vạn Hạnh
Năm: 1967
[29] Lương Duy Thứ chủ biên, Đại cương văn hóa phương đông, NXB Đại Học Quốc Gia Tp HCM, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương văn hóa phương đông
Tác giả: Lương Duy Thứ
Nhà XB: NXB Đại Học Quốc Gia Tp HCM
Năm: 2000
[3] Thích Minh Châu dịch, Kinh Tăng Chi Bộ III, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, 1996 Khác
[4] Thích Minh Châu dịch, Kinh Pháp Cú, Thiền Viện Vạn Hạnh, 1996 Khác
[8] Doãn Chính chủ biên, Veda Upanishad-những bộ kinh triết lý tôn giáo cổ Ấn độ, NXB Đại Học Quốc Gia Hà Nội, 2001 Khác
[10] Doãn Chính, Lịch sử triết học Ấn độ cổ đại, NXB Thanh Niên, 1999 Khác
[11] Doãn Chính chủ biên, Kinh văn của các trường phái triết học Ấn độ, NXB Đại Học Quốc Gia Hà Nội, 2003 Khác
[12] Will Durant-Nguyễn Hiến Lê dịch, Lịch sử văn minh Ấn độ, NXB Văn Hóa Thông Tin, 2004 Khác
[13] Nguyễn Tấn Đắc, Văn hóa Ấn độ, NXB Tp HCM, 2000 Khác
[14] Michael Jordan-Phan Quang Định dịch, Minh triết phương đông, NXB Mỹ Thuật, 2004 Khác
[16] Nguyễn Đức Hàn, Tư tưởng triết học và đời sống văn hóa văn học Ấn độ, NXB Văn Học, 1998 Khác
[17] Cscott Littleton-Trần Văn Huân dịch, Trí tuệ phương đông, NXB Văn Hóa Thông Tin, 2002 Khác
[19] Vũ Dương Ninh, Lịch sử văn minh thế giới, NXB Giáo Dục, 2000 Khác
[20] Nguyễn Gia Phu, Lịch sử tư tưởng phương đông và Việt nam, Tủ sách Đại Học Tổng Hợp, 1996 Khác
[21] W. Rahula-Thích Nữ Trí Hải dịch, Con đường thoát khổ, Viện Đại Học Vạn Hạnh, 1966 Khác
[22] H.W.Schumann-Trần Phương Lan dịch, Đức Phật lịch sử, NXB Tp HCM, 2000 Khác
[23] Nàrada Thera-Phạm Kim Khánh dịch, Đức Phật và Phật pháp, NXB Tôn Giáo, 2003 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w