1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự việt nam từ thực tiễn thành phố đà nẵng

89 540 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 811,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình nghiên cứu đề tài Trong những năm qua, các tội xâm phạm sở hữu đã được đề cập trong một số công trình khoa học nghiên cứu về luật hình sự, trong các tập bình luận khoa học về

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS.TS HỒ SỸ SƠN

HÀ NỘI, năm 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong Luận văn Thạc sĩ

Luật học “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” là hoàn toàn trung thực, không trùng lặp với các đề tài

khác trong cùng lĩnh vực Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của PGS TS Hồ Sỹ Sơn

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình

Tác giả luận văn

Phạm Thị Kiều Hạnh

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 6

1.1 Khái niệm, các dấu hiệu pháp lý hình sự và phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với một số tội phạm khác 61.2 Lịch sử hình thành và phát triển của các quy phạm pháp luật hình sự Việt Nam

về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 21

CHƯƠNG 2 ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 34

2.1 Định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng 342.2 Quyết định hình phạt đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng 492.3 Những vi phạm, sai lầm trong hoạt động định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và các nguyên nhân 66

CHƯƠNG 3 CÁC YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG ĐÚNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN 68

3.1 Các yêu cầu đối với áp dụng đúng quy định của pháp luật hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 683.2 Các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng quy định của pháp luật hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 70

KẾT LUẬN 79 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLHS : Bộ luật hình sự BLTTHS : Bộ luật tố tụng hình sự CQĐT : Cơ quan điều tra CTTP : Cấu thành tội phạm HĐTP : Hội đồng Thẩm phán HSST : Hình sự sơ thẩm QĐHP : Quyết định hình phạt

TA : Tòa án TAND : Tòa án nhân dân TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao THTT : Tiến hành tố tụng TNHS : Trách nhiệm hình sự TTHS : Tố tụng hình sự

TP : Thành phố VKSND : Viện kiểm sát nhân dân VKSNDTC : Viện kiểm sát nhân dân tối cao VAHS : Vụ án hình sự

XHCN : Xã hội chủ nghĩa

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu

2.1 Cơ cấu và tỷ lệ % bị cáo phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo

các mức hình phạt (CTTP cơ bản và CTTP tăng nặng) quy định tại

Điều 139 BLHS 1999

39

2.2 Hình phạt được áp dụng đối với bị cáo phạm tội lừa đảo chiếm

đoạt tài sản từ năm 2012-2016 trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

54

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, tình hình kinh tế xã hội nước ta đã có những bước phát triển mạnh mẽ, kéo theo sự thay đổi về mọi mặt trong đời sống xã hội, đưa đất nước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng về kinh tế, từ đó tạo ra vị thế ổn định và phát triển đi lên Nhu cầu càng lớn thì sự hấp dẫn của chủ thể đối với lợi ích càng lớn, do đó, động cơ tư tưởng thúc đẩy hành động của con người càng mạnh mẽ Tất cả các lợi ích sẽ thúc đẩy và quyết định động cơ hành động của con người Bên cạnh những mặt tích cực, năng động do nền kinh tế thị trường mang lại thì mặt trái của cơ chế thị trường đã có những tác động tiêu cực đến đời sống xã hội như: sự tha hoá trong lối sống, tiêu cực, tệ nạn xã hội và đặc biệt là tội phạm có điều kiện phát sinh, tồn tại Trong đó, có tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, đây là một trong những tội xâm phạm sở hữu có diễn biến phức tạp, xảy ra thường xuyên và ngày càng gia tăng với nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt Từ chủ thể thực hiện tội phạm đến các đối tượng bị xâm hại đều rất đa dạng, tài sản bị chiếm đoạt có giá trị rất lớn, có những vụ lên đến hàng chục tỷ đồng, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển kinh tế - xã hội, an ninh trật tự của đất nước Trong đó, thành phố Đà Nẵng không phải là ngoại lệ

Đà Nẵng là một thành phố biển nằm ở miền Trung Việt Nam, là một cửa ngõ quốc tế, trung tâm văn hoá, kinh tế, chính trị của khu vực miền Trung - Tây Nguyên với nhiều năm liền là quán quân năng lực cạnh tranh thu hút đầu tư cả nước Với sự phát triển của nền kinh tế thị trường và xu hướng hội nhập quốc tế, kéo theo là tình trạng lao động nhập cư tăng đột biến trong thời gian qua, làm cho tình hình an ninh trật tự xã hội bị tác động lớn, tình hình tội phạm nhóm xâm phạm sở hữu nói chung, đặc biệt là tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói riêng tại TP Đà Nẵng ngày càng gia tăng cả về số vụ và mức độ hành vi, gây thiệt hại lớn về tài sản của cá nhân và tổ chức xã hội

Trước tình hình tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản tác động tiêu cực trên tất

Trang 8

cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội,… cũng như trước sự đòi hỏi mới của cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm Những năm qua cùng với các cơ quan bảo vệ pháp luật của nước ta, các cơ quan bảo vệ pháp luật của TP Đà Nẵng đã tích cực đấu tranh nhằm ngăn chặn các hành vi xâm phạm sở hữu và cũng đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận Tuy nhiên, với diễn biến phức tạp của loại tội phạm này, các cơ quan tiến hành tố tụng của TP Đà Nẵng đã nỗ lực nhưng vẫn còn những hạn chế nhất định như: chưa kịp thời, chưa toàn diện và từ đó mới chỉ đáp ứng phần nào công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm Việc nghiên cứu tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản dưới một góc nhìn thực tiễn tại địa phương không chỉ có ý nghĩa quan trọng về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa trong thực tiễn áp dụng của công tác định tội danh và QĐHP, hiệu quả phòng chống tội phạm nhằm đưa ra những giải pháp hoàn

thiện chế định này trong BLHS Việt Nam Chính vì vậy, tác giả đã chọn đề tài: “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố

Đà Nẵng” để nghiên cứu làm đề tài luận văn Thạc sĩ Luật học của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong những năm qua, các tội xâm phạm sở hữu đã được đề cập trong một

số công trình khoa học nghiên cứu về luật hình sự, trong các tập bình luận khoa học

về luật hình sự, các luận văn thạc sĩ, tiến sĩ của một số tác giả nghiên cứu các nội dung liên quan đến đề tài xâm phạm sở hữu trên các phương diện khác nhau về đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này, như luận án tiến sĩ của Đặng Quang Phúc về

“Hoạt động của lực lượng Cảnh sát nhân dân trong phòng ngừa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, hay một số luận văn thạc sĩ như luận văn của tác giả Dương Thị Ngọc Thuỷ về “Đấu tranh phòng chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại địa bàn thành phố Hồ Chí Minh”; luận văn của tác giả Trần Thị Phương Hiền về “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản - Những vấn đề lý luận và thực tiễn” Ngoài ra, còn có một số bài

viết đăng trên các tạp chí của Toà án, Viện kiểm sát… Qua nghiên cứu cho thấy, nhìn chung các tác giả đã đề cập khá sâu sắc và toàn diện về các dấu hiệu pháp lý của loại tội phạm này, phân biệt rõ các trường hợp phạm tội này với một số tội phạm khác có chung đặc điểm là dấu hiệu gian dối Tuy nhiên, chưa có công trình

Trang 9

khoa học nào nghiên cứu sâu về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ thực tiễn TP Đà Nẵng dưới góc độ pháp lý hình sự Nói một cách cụ thể hơn, chưa có một công trình nghiên cứu nào đề cập vấn đề định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ thực tiễn TP Đà Nẵng

Với cách tiếp cận riêng của mình, tác giả tập trung nghiên cứu những nội dung lý luận của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản dựa trên những số liệu từ thực tiễn

TP Đà Nẵng trong 5 năm qua (từ năm 2012 đến năm 2016) Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện BLHS 2015 đồng thời đưa ra các biện pháp nâng cao nhận thức và hiệu quả áp dụng các quy định của BLHS

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở phân tích khái niệm, các dấu hiệu pháp

lý và hình phạt của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam, nghiên cứu thực tiễn định tội danh và thực tiễn QĐHP đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn TP Đà Nẵng để đưa ra những đề xuất các giải pháp bảo

đảm áp dụng đúng pháp luật hình sự Việt Nam về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích trên, trong quá trình thực hiện đề tài tác giả đặt ra cho mình các nhiệm vụ sau đây:

Một là, nêu và phân tích rõ khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo

chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam; Phân tích quy định về dấu hiệu định khung đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự hiện hành; Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với các tội xâm phạm sở hữu

có tính chất chiếm đoạt khác; Khái quát lịch sử lập pháp hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Hai là, trình bày những vấn đề lý luận về áp dụng các quy định đối với tội

lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ thực tiễn TP Đà Nẵng trong 05 năm từ năm 2012 đến năm 2016

Ba là, nêu và phân tích các yêu cầu đối với áp dụng các quy định của pháp

luật hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ đó đưa ra các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng quy định của pháp luật hình sự về loại tội phạm này

Trang 10

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu: Luận văn lấy các quan điểm khoa học pháp lý

hình sự, các quy định của pháp luật hình sự, thực tiễn định tội danh và thực tiễn QĐHP đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn TP Đà Nẵng để nghiên

cứu các vấn đề thuộc nội dung của luận văn

4.2 Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

dưới góc độ chuyên ngành luật hình sự và tố tụng hình sự Về khía cạnh thực tiễn,

áp dụng pháp luật bao hàm rất nhiều vấn đề, song trong khuôn khổ của luận văn thạc sĩ, luận văn chỉ tập trung phân tích thực tiễn hoạt động định tội danh cũng như quyết định hình phạt đối với loại tội phạm này trên địa bàn TP Đà Nẵng trong thời

gian từ năm 2012-2016

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận: Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của

chủ nghĩa Mác - Lênin về Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử; Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về Nhà nước và pháp luật, về

tội phạm, hình phạt và về phòng ngừa tội phạm

5.2 Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình làm luận văn, tác giả đã sử

dụng một số phương pháp nghiên cứu của khoa học luật hình sự, cụ thể như: Phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp lịch sử và hệ thống, phương pháp phân tích và so sánh,… Tác giả đã sử dụng các phương pháp một cách

linh hoạt, đan xen lẫn nhau để đạt được kết quả nghiên cứu cao nhất

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận: Đề tài nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc với cái

nhìn tổng quan nhất, đặt trong mối quan hệ biện chứng các vấn đề lý luận góp phần làm phong phú thêm lý luận nhận thức về các dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, làm tài liệu tham khảo trong công tác đào tạo và nghiên cứu

khoa học pháp lý hình sự

6.2 Ý nghĩa thực tiễn: Đề tài này được nghiên cứu và đánh giá một cách

khách quan, toàn diện qua thực tiễn hoạt động định tội danh và thực tiễn quyết định

Trang 11

hình phạt của cơ quan tiến hành tố tụng đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn TP Đà Nẵng Kết quả nghiên cứu là sự đánh giá về thực trạng các vấn đề tích cực cần phát huy và qua nghiên cứu phát hiện được những hạn chế, tìm hiểu nguyên nhân, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hoạt động tố tụng, đảm bảo các nguyên tắc của Luật hình sự, mục đích của hình phạt, góp phần nâng cao hiệu quả

trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài Phần mở đầu, Phần kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Danh mục các từ viết tắt, Danh mục bảng biểu, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về tội lừa đảo chiếm đoạt tài

sản theo pháp luật hình sự Việt Nam

Chương 2: Áp dụng các quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa

bàn thành phố Đà Nẵng

Chương 3: Các yêu cầu và giải pháp bảo đảm áp dụng đúng quy định của

pháp luật hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Trang 12

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM

ĐOẠT TÀI SẢN THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.1 Khái niệm, các dấu hiệu pháp lý hình sự và phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với một số tội phạm khác

1.1.1 Khái niệm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Các tội xâm phạm sở hữu được quy định tại Chương XIV từ Điều 133 đến Điều 145 của BLHS 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 BLHS không có khái niệm

cụ thể thế nào là các tội xâm phạm sở hữu Khái niệm này chỉ thể hiện trong các tài liệu khoa học Khoa học luật hình sự đã đưa ra khái niệm chung với các tội xâm

phạm sở hữu như sau: Các tội xâm phạm sở hữu là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS; do người có năng lực TNHS thực hiện một cách cố

ý hoặc vô ý, xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của Nhà nước, tổ chức và cá nhân

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong các tội phạm xâm phạm sở hữu

Vì vậy, khái niệm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản phải thoả mãn khái niệm chung của các tội xâm phạm sở hữu, đồng thời phải thoả mãn các dấu hiệu đặc thù riêng

Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam viết: “Lừa đảo là hành vi gian dối để làm người khác tin nhằm thực hiện những mục đích vụ lợi, trái pháp luật Động cơ của người thực hiện hành vi lừa đảo là nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác Để thực hiện thành công việc chiếm đoạt tài sản của người khác thì người có hành vi lừa đảo thường sử dụng những lời nói gian dối như: Thuyết trình, quảng cáo hay, tốt,… Nhưng tất cả những việc làm đó không đúng với bản chất của vật hoặc sự việc; Người lừa đảo còn sử dụng các thủ đoạn và các hành vi gian dối khác như: Giả danh những người có uy tín có trách nhiệm quyền hạn, có địa vị cao trong xã hội hoặc làm giả các loại công văn, giấy tờ, chữ ký của những người có thẩm quyền để

làm cho người có tài sản tin tưởng vào họ và giao tài sản” [22]

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người phạm tội đã dùng những thủ đoạn gian dối, đưa ra những thông tin sai sự thật, có thể bằng lời nói hoặc hành động

Trang 13

khiến người có tài sản hoặc người có trách nhiệm trông giữ, quản lý tài sản vì tin nhầm, tưởng giả là thật, tưởng kẻ gian là người ngay nên tự nguyện giao tài sản cho người phạm tội

Điều 139 BLHS 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

“1 Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến

ba năm

2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm: a) Có tổ chức; b) Có tính chuyên nghiệp; c) Tái phạm nguy hiểm; d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức; đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt; e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng; g) Gây hậu quả nghiêm trọng

3 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm: a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng; b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng

4 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân: a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị năm trăm triệu đồng trở lên; b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng

5 Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm” [4]

Từ những nội dung trình bày trên, có thể hiểu khái niệm tội lừa đảo chiếm

đoạt tài sản như sau: “Tội lừa đảo chiếm đoạt là một trong những tội xâm phạm sở hữu, có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác, do người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý, xâm phạm đến quan hệ sở hữu về tài sản”

Trang 14

Tuy nhiên, tội phạm là thể thống nhất của bốn yếu tố: Khách thể của tội phạm; Mặt khách quan của tội phạm; Chủ thể của tội phạm; Mặt chủ quan của tội phạm Vì vậy, để hiểu hơn về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, ngoài khái niệm trên thì chúng ta cần làm rõ hơn các dấu hiệu pháp lý đặc trưng được quy định trong bốn yếu tố cấu thành nói trên của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1.1.2 Các dấu hiệu pháp lý hình sự của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1.1.2.1 Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và

bị tội phạm xâm hại Thuật ngữ tội phạm được sử dụng ở đây là cho một cấu thành tội phạm nhất định, vì vậy việc sử dụng thuật ngữ biểu thị một hành vi phạm tội được quy định trong BLHS là tội phạm không có nghĩa là người thực hiện hành vi

đó là người phạm tội, nếu nó không đủ các yếu tố cấu thành tội phạm và không có bản án có hiệu lực pháp luật của Toà án

Các tội xâm phạm sở hữu được quy định trong Chương XIV BLHS 1999 có khách thể bị xâm hại là quan hệ sở hữu, có nghĩa là các tội xâm phạm sở hữu phải là những hành vi gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu và sự gây thiệt hại này phải phản ánh được đầy đủ bản chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi

đó Sở hữu là quan hệ xã hội trong đó bao gồm quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản Theo Điều 105 Bộ luật dân sự năm 2015 thì tài sản bao gồm: Vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản Tài sản là đối tượng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có thể thuộc bất cứ hình thức sở hữu nào được pháp luật thừa nhận và phải được thể hiện dưới dạng vật chất, vì những gì không thuộc về vật chất thì không thể là đối tượng của hành vi chiếm đoạt Vì thế, không phải mọi trường hợp của quyền tài sản đều là đối tượng tác động của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Ví dụ: Bản di chúc về quyền thừa kế tài sản thì không phải là đối tượng tác động của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản còn những giấy tờ thể hiện về quyền tài sản như hoá đơn lĩnh hàng… vẫn có thể là đối tượng tác động của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cũng tương tự như các tội xâm

Trang 15

phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt khác, nhưng tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không xâm phạm đến quan hệ nhân thân mà chỉ xâm phạm đến quan hệ sở hữu Đây cũng là một điểm khác với các tội cướp tài sản (Điều 133), tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 134), tội cướp giật tài sản (Điều 136) BLHS 1999 Đặc điểm khác biệt này được thể hiện trong cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, các nhà làm luật không quy định về thiệt hại tính mạng, sức khoẻ là tình tiết định khung hình phạt Cụ thể hơn, nếu sau khi đã chiếm đoạt được tài sản, người phạm tội bị đuổi bắt mà có hành vi chống trả để tẩu thoát, gây chết người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà người phạm tội còn phải bị truy cứu TNHS về tội giết người hoặc tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

Tuy nhiên, cần phải lưu ý các đặc điểm xuất phát từ tính năng, công dụng đặc biệt của tài sản, một số tài sản không thể được coi là đối tượng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, mà là đối tượng của hành vi phạm tội khác Ví dụ: tài nguyên rừng, phương tiện giao thông vận tải, các chất ma tuý, các loại vũ khí quân dụng…

Đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu là các tài sản thuộc sở hữu của Nhà nước, cá nhân, pháp nhân và chủ thể khác… Nếu đối tượng bị xâm hại là tài sản của Nhà nước thì đó là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, khoản 3, Điều 48 BLHS 1999

Như vậy, pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng luôn bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp và chỉ bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp nên về nguyên tắc tài sản được luật hình sự bảo vệ phải là tài sản hợp pháp Nhưng điều đó không có nghĩa những hành vi xâm phạm tài sản bất hợp pháp khác không bị coi là tội phạm

mà vẫn bị coi là trái pháp luật và có thể cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1.1.2.2 Mặt khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Mặt khách quan của tội phạm là một trong bốn yếu tố của tội phạm, nếu không có mặt khách quan thì cũng không có các yếu tố khác của tội phạm, do vậy cũng không có tội phạm

Mặt khách quan của tội phạm là biểu hiện ra bên ngoài của tội phạm bao

Trang 16

gồm các dấu hiệu: hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả nguy hiểm cho xã hội, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả, công cụ, phương tiện, thủ đoạn, thời gian, hoàn cảnh, địa điểm phạm tội Tùy thuộc vào các tội phạm cụ thể mà các dấu hiệu trong mặt khách quan là không giống nhau

Mặt khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có các dấu hiệu đặc trưng sau:

a Dấu hiệu hành vi khách quan

Hành vi khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi dùng thủ đoạn gian dối nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản Người phạm tội dùng thủ đoạn gian dối làm cho người có tài sản tin đó là sự thật nên đã tự nguyện giao tài sản cho người có hành vi gian dối Ta có thể hiểu, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được thể hiện bởi hai yếu tố đó là: hành vi chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn gian dối

Gian dối là cố ý đưa ra thông tin không đúng sự thật nhằm để người khác tin

đó là sự thật, tự nguyện trao tài sản cho người phạm tội Cụ thể, người phạm tội đã dùng lời nói dối trá; giấy tờ giả mạo; giả danh người có chức vụ quyền hạn; giả danh các tổ chức để ký kết hợp đồng không ngay thẳng; nói có thành không, ít thành nhiều, xấu thành tốt hoặc kết hợp tất cả các cách làm nói trên nhằm để cho chủ tài sản tin đó là sự thật mà trao tài sản

Đặc điểm nổi bật của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người bị hại tự nguyện giao tài sản cho người phạm tội vì tin tưởng vào những thông tin không đúng sự thật ấy Đây cũng là dấu hiệu đặc trưng để phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt khác Tuy nhiên, cần phải lưu

ý rằng, hành vi gian dối trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là nhằm chiếm đoạt tài sản, những hành vi lừa dối nhằm mục đích khác, dù mục đích này có tư lợi cũng không cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Ví dụ: gian dối khi cân, đo, đong, đếm, cấu thành tội lừa dối khách hàng - Điều 162 BLHS 1999

Như vậy, để thực hiện được hành vi chiếm đoạt tài sản thì người phạm tội phải có ý định chiếm đoạt tài sản từ trước, sau đó mới dùng thủ đoạn gian dối làm cho người quản lý tài sản tin mà trao tài sản cho người phạm tội Nếu thủ đoạn gian dối có sau khi người phạm tội nhận được tài sản thì không phải là lừa đảo chiếm

Trang 17

đoạt tài sản mà có thể là hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Đây cũng là các dấu hiệu hay bị nhầm lẫn với nhau khi áp dụng trên thực tế

Hành vi chiếm đoạt tài sản: là hành vi cố ý dịch chuyển một cách trái pháp

luật tài sản của người khác thành tài sản của mình Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được coi là hoàn thành khi có hậu quả xảy ra, người phạm tội đã chiếm đoạt được tài sản Coi là chiếm đoạt được khi:

Thứ nhất: Nếu tài sản bị chiếm đoạt đang trong sự chiếm hữu của chủ tài sản

thì hành vi chiếm đoạt được là hành vi nhận tài sản từ người bị lừa dối

Ví dụ: Biết B có chiếc xe máy nên A nảy sinh ý định chiếm đoạt xe máy của

B A sang nhà B chơi và mượn xe của B với lý do đi đón con đi học về, B tưởng thật nên đã đồng ý giao xe cho A mượn Sau khi được B giao xe, A đem ra tiệm cầm đồ cầm lấy 8 triệu đồng Như vậy, hành vi của A đã phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và hành vi chiếm đoạt được là hành vi nhận xe của B

Thứ hai: Nếu tài sản bị chiếm đoạt đang trong sự chiếm hữu của người phạm

tội thì hành vi chiếm đoạt được là hành vi giữ lại tài sản đáng lẽ phải giao cho người

bị lừa dối Vì đã tin vào thông tin của người phạm tội nên người bị lừa dối đã nhận nhầm tài sản (nhận thiếu, nhận sai loại tài sản được nhận) Do đó thủ đoạn gian dối phải gắn liền với hành vi chiếm đoạt tài sản

Qua đó thấy được hành vi khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tương tự với hành vi khách quan của nhiều tội phạm khác Vì vậy, để định tội danh chính xác phải đặt hành vi khách quan trong mối liên hệ với các yếu tố khác, nghiên

cứu một cách toàn diện các yếu tố cấu thành tội phạm [16]

b Dấu hiệu hậu quả

Hậu quả của tội phạm là thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra cho quan hệ xã hội, là khách thể bảo vệ của luật hình sự, hậu quả của tội phạm nói chung có thể là thiệt hại về vật chất, về tinh thần, về trật tự quản lý Nhà nước, Thiệt hại gây ra cho khách thể được thể hiện thông qua sự biến đổi tình trạng bình thường của các bộ phận cấu thành quan hệ xã hội là khách thể của tội phạm

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là tội có cấu thành vật chất, nghĩa là trong cấu

Trang 18

thành tội phạm có phản ảnh dấu hiệu hậu quả nguy hiểm cho xã hội Trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản khi có hậu quả xảy ra thì tội phạm hoàn thành Tuy nhiên, trong những trường hợp hậu quả chưa xảy ra vẫn có thể cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, ví dụ như trường hợp chuẩn bị phạm tội hoặc phạm tội chưa đạt Như vậy, dấu hiệu hậu quả trong tội này có ý nghĩa định tội danh và xác định tội hoàn thành hay chưa hoàn thành

c Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của tội phạm

Để định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không chỉ xác định hậu quả là giá trị tài sản bị chiếm đoạt mà còn đòi hỏi phải làm rõ mối quan hệ nhân quả giữa hành vi lừa đảo với hậu quả mà hành vi đó gây ra

Người chịu TNHS về hậu quả nguy hiểm cho xã hội khi hậu quả đó do chính hành vi của mình gây ra Mối quan hệ nhân quả được hiểu là quan hệ lệ thuộc giữa nguyên nhân và kết quả trong chuỗi hành vi, cụ thể trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì thủ đoạn gian dối phải diễn ra trước hành vi chiếm đoạt và thủ đoạn gian dối

là cơ sở chủ yếu quyết định việc chiếm đoạt được tài sản của người phạm tội

Mối quan hệ nhân quả trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được hiểu như sau: Thủ đoạn gian dối phải diễn ra trước hành vi chiếm đoạt tài sản; Hành vi gian

dối là cơ sở chủ yếu quyết định việc chiếm đoạt được tài sản của người phạm tội

Do đó, việc xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản vừa có ý nghĩa về mặt định tội danh, vừa có ý nghĩa trong việc QĐHP vì việc chiếm đoạt được tài sản của người phạm tội có thể gây ra những hậu quả nguy hiểm khác cho xã hội

1.1.2.3 Chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Tại Điều 2 BLHS 1999 quy định: “Chỉ người nào phạm tội hay nhiều tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự” và tại Điều 8 BLHS 1999 về khái niệm tội phạm: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm đến chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc

Trang 19

phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức,…”[4]

Từ khái niệm trên đây về tội phạm, có thể thấy chủ thể của tội phạm là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi luật định và đã thực hiện hành vi phạm tội

cụ thể Ngoài ra, ở những tội nhất định còn đòi hỏi chủ thể phải có các dấu hiệu khác thể hiện những đặc điểm nhất định của chủ thể “Bất cứ tội phạm cụ thể nào

cũng phải có chủ thể, không có chủ thể thì không có tội phạm” [3]

Tội phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam phải có tính có lỗi, chỉ những người có lỗi trong khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mới có thể là chủ thể của tội phạm, đó là người có năng lực TNHS và đạt độ tuổi luật định

Người có năng lực TNHS là người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có khả năng nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình và có khả năng điều khiển được hành vi ấy Theo luật hình sự Việt Nam, người có năng lực TNHS là người đạt độ tuổi chịu TNHS và không thuộc trường hợp ở trong tình trạng không có năng lực TNHS quy định tại Điều 13 BLHS 1999

Điều 12 BLHS 1999 quy định độ tuổi chịu TNHS như sau:

“1 Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm

2 Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình

sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”.[4]

Phân tích quy định trên đây có thể thấy chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ngoài việc thoả mãn về năng lực TNHS phải thoả mãn cả về độ tuổi: Trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu TNHS trong mọi trường hợp phạm tội - quy định từ khoản 1 đến khoản 4 Điều 139 BLHS 1999; Người từ đủ 14 tuổi trở lên đến dưới 16 tuổi phải chịu TNHS về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 3 (đây là tội rất nghiêm trọng - mức cao nhất của khung hình phạt đến 15 năm tù), khoản 4 (là tội đặc biệt nghiêm trọng - mức cao nhất của khung hình phạt là chung thân) Điều 139 BLHS 1999

Chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là chủ thể thường nên không có sự ngoại lệ đối với người nước ngoài, người không quốc tịch khi thực hiện hành vi lừa

Trang 20

đảo chiếm đoạt tài sản trên lãnh thổ Việt Nam, trừ một số người được hưởng quyền miễn trừ tư pháp, TNHS của họ được giải quyết bằng con đường ngoại giao

Như vậy, chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người từ 14 tuổi trở lên, có năng lực TNHS và đã thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 139 BLHS 1999

1.1.2.4 Mặt chủ quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Tội phạm là một thể thống nhất giữa mặt khách quan và mặt chủ quan, mặt khách quan là biểu hiện bên ngoài của tội phạm, còn mặt chủ quan lại là hoạt động tâm lý bên trong của tội phạm Mặt chủ quan của người phạm tội là trạng thái tâm

lý của người phạm tội đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả do hành vi

đó gây ra

Những dấu hiệu cơ bản của mặt chủ quan của tội phạm là: Lỗi, động cơ và mục đích phạm tội Lỗi là dấu hiệu cơ bản nhất của mặt chủ quan của tội phạm và biểu hiện dưới hai hình thức là lỗi cố ý và lỗi vô ý, nó là hạt nhân về mặt chủ quan của tội phạm dù không bao hàm hết mặt chủ quan, nhưng yếu tố lỗi trả lời cho câu hỏi vì sao, động cơ nào người đó lại thực hiện hành vi phạm tội, và trong mọi trường hợp, lỗi chính là yếu tố chủ quan bắt buộc trong mọi cấu thành tội phạm Ngoài ra, động cơ là nhân tố tâm lý bên trong thúc đẩy người phạm tội thực hiện tội phạm Mục đích phạm tội là cái đích mà người phạm tội mong muốn đạt được Mặt chủ quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được thực hiện do lỗi cố ý, mục đích của người phạm tội là mong muốn chiếm đoạt được tài sản

* Dấu hiệu lỗi trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:

Trong luật hình sự Việt Nam, nguyên tắc lỗi được coi là nguyên tắc cơ bản Theo nguyên tắc này, luật hình sự Việt Nam không chấp nhận việc truy cứu TNHS một người chỉ dựa trên cơ sở hành vi khách quan mà không xét đến lỗi của họ

“Một hành vi gây thiệt hại cho xã hội sẽ bị coi là có lỗi, nếu hành vi đó là kết quả của sự lựa chọn và quyết định của chủ thể trong khi chủ thể có đủ điều kiện khách quan và chủ quan để lựa chọn và quyết định một xử sự khác phù hợp với đòi hỏi

của xã hội”.[10]

Trang 21

Điều 139 BLHS 1999 quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhưng không nêu dấu hiệu lỗi của người phạm tội Tuy nhiên, xét theo bản chất và tính chất của hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì về mặt chủ quan của tội phạm được thể hiện do lỗi cố ý trực tiếp với mục đích chiếm đoạt tài sản

Về mặt hình thức, lỗi gồm hai yếu tố cấu thành đó là: Lý trí - thể hiện khả năng nhận thức của chủ thể; Ý chí - thể hiện khả năng điều chỉnh hành vi của chủ thể, quá trình ý chí thể hiện khả năng định hướng các hành động nhằm đạt được mục đích đề ra Lý trí và ý chí là hai quá trình tồn tại song song, không đối lập nhau trong thực hiện tội phạm Lỗi cố ý trực tiếp trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được biểu hiện như sau:

Về lý trí: Người phạm tội nhận thức rõ tính chất nguy hiểm cho xã hội của

hành vi mà mình thực hiện là xâm phạm sở hữu của người khác, nhận thức rõ thủ đoạn gian dối đưa ra là hoàn toàn không có thật, nhằm làm cho chủ tài sản tin đó là

sự thật, trước khi thực hiện hành vi lừa dối đã có ý thức muốn chiếm đoạt được tài sản của người khác

Về ý chí: Người phạm tội mong muốn hành vi lừa dối có kết quả là chiếm

đoạt được tài sản của người khác

* Dấu hiệu động cơ, mục đích phạm tội trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:

Động cơ và mục đích phạm tội là những dấu hiệu độc lập trong mặt chủ quan, động cơ và mục đích thường xuất hiện trước khi thực hiện tội phạm, vì bản chất động cơ và mục đích đều là các yếu tố bên trong và thông qua mặt khách quan của tội phạm, các hoạt động phạm tội mới hiện thức hoá động cơ mục đích đó

Động cơ phạm tội được hiểu là động cơ bên trong thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội Người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có thể có nhiều động cơ khác nhau khi thực hiện hành vi phạm tội, có người để thoả mãn nhu cầu cá nhân, hay vì tham lam… và đó là động cơ tư lợi Dấu hiệu động cơ luôn có trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhưng đó không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Vì vậy, nó không có ý nghĩa với định tội danh như một số tội khác, mà nó chỉ có ý nghĩa trong việc QĐHP

Trang 22

Mục đích phạm tội là kết quả trong ý thức chủ quan mà người phạm tội hướng tới nhằm đạt được khi thực hiện tội phạm Mục đích này bao giờ cũng có trước khi thực hiện hành vi phạm tội Có thể nói, mục đích chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Nếu mục đích chiếm đoạt tài sản có sau khi nhận được tài sản thì đó sẽ không phải là cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Tuy nhiên, người phạm tội có thể có những mục đích khác cùng với mục đích chiếm đoạt hay chấp nhận mục đích chiếm đoạt của đồng phạm khác thì người phạm tội cũng bị truy cứu TNHS về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Việc nghiên cứu khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có ý nghĩa rất lớn trong việc phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với một số tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt khác

1.1.3 Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với một số tội phạm khác

Việc phân tích các dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cho thấy đặc trưng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là bằng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản Song, trên thực tế, việc nhận biết thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản không đơn giản vì không phải trường hợp nào, hành vi nào cũng thể hiện một cách rõ ràng và thống nhất Trong nhiều trường hợp, nếu các cơ quan tiến hành tố tụng không nắm rõ bản chất hành vi phạm tội sẽ dẫn đến việc định tội danh không đúng Vì vậy, khi nghiên cứu về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, không những cần nắm rõ về các dấu hiệu pháp lý của tội phạm mà còn cần phải phân biệt được tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với một số tội phạm khác nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm

1.1.3.1 Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 139 BLHS 1999 và tội lạm dụng tín nhiệm tài sản quy định tại Điều 140 BLHS 1999 có nhiều điểm giống nhau nhưng đây là hai tội độc lập với nhau

Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hành vi vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó, hoặc sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản

Trang 23

Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn gian dối

Ở hai tội này về cơ bản là có các yếu tố khách thể, mặt chủ quan, chủ thể của tội phạm là giống nhau, chỉ khác nhau ở mặt khách quan Do vậy chỉ cần phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội lạm dụng chiếm đoạt tài sản ở mặt khách quan,

cụ thể là bằng hình thức hợp đồng mà có sự gian dối như sau:

Ở tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản: Người phạm tội có mục đích chiếm đoạt tài

sản trước khi thực hiện việc ký kết hợp đồng, việc ký kết này thực chất là phương thức để chiếm đoạt tài sản Hợp đồng này là hoàn toàn giả mạo, người bị hại tin tưởng người phạm tội mà giao tài sản cho người phạm tội Khi người phạm tội nhận được tài sản từ hợp đồng cũng là thời điểm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoàn thành Hành vi ký kết hợp đồng giả tạo là hành vi lừa dối và hành vi nhận tài sản là hành vi chiếm đoạt Hành vi gian dối của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là cơ sở quyết định việc chiếm đoạt tài sản nên hành vi gian dối là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Ở tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản: Ban đầu người phạm tội chưa

có ý định chiếm đoạt tài sản, việc giao kết hợp đồng chỉ nhằm mục đích vay, mượn, thuê được tài sản Người phạm tội nhận tài sản một cách ngay thẳng, hợp pháp, và trong khi nhận tài sản không có ý thức muốn chiếm đoạt tài sản Do đó, việc ký kết hợp đồng hay nhận tài sản từ hợp đồng đã giao kết không bị coi là hành vi phạm tội Sau khi nhận được tài sản, người phạm tội mới thực hiện hành vi gian dối chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn phải trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả hoặc đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không còn khả năng trả lại tài sản hoặc người phạm tội bỏ trốn Như vậy, mục đích chiếm đoạt nảy sinh sau khi đã nhận được tài sản trên cơ sở hợp đồng

Để thực hiện ý định chiếm đoạt, người phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có thể sẽ có hành vi gian dối như giả đánh mất, đánh tráo tài sản, rút bớt tài sản, những hành vi gian dối này có mục đích che giấu hành vi chiếm đoạt tài sản Hành vi gian dối không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Để chiếm đoạt được tài sản, người phạm tội có thể

Trang 24

dùng những thủ đoạn khác như bỏ trốn hoặc chây ỳ, không trả lại tài sản, Có thể thấy, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là sự chuyển hóa từ giao dịch dân sự (theo nghĩa rộng) hợp pháp sang hành vi phạm tội khi có sự vi phạm giao dịch dân

sự hoặc có hành vi sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản kèm theo mục đích chiếm đoạt

Từ những phân tích trên, ta có thể thấy, việc xem xét người nào đó phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản cần phải xem xét đến những căn cứ chứng minh người phạm tội ban đầu trước khi ký kết hợp đồng đã có ý định chiếm đoạt tài sản hay chưa, và đặc biệt hợp đồng được ký kết là hoàn toàn ngay thẳng hay là gian dối Người phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản dựa vào lòng tin sẵn có của người có tài sản Còn người phạm tội lừa đảo chiếm đọat tài sản thì chiếm đoạt tài sản dựa vào lòng tin của người có tài sản

do hành vi gian dối của người phạm tội tạo ra

Qua đó ta thấy: Cả hai tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản đều có thủ đoạn “gian dối” và hành vi “tự nguyện giao tài sản” (dựa trên sự tín nhiệm) của người bị hại

Đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản: Việc giao và nhận hoàn toàn ngay thẳng dựa trên hợp đồng (vay, mượn, thuê ) và sự tín nhiệm (người quen biết, ) Sau khi có được tài sản mới xuất hiện hành vi chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn đánh tráo hoặc bỏ trốn, hoặc gian dối là đã bị mất Không trả lại tài sản do không có khả năng hoàn trả vì đã sử dụng vào mục đích bất hợp pháp

Ví dụ: Nguyễn Văn A ký kết hợp đồng tín dụng vay của ngân hàng 1 tỷ đồng

để kinh doanh dịch vụ vận tải Tuy nhiên, khi được ngân hàng cho vay, A đã không kinh doanh vận tải theo cam kết trong đơn đề nghị vay và hợp đồng tín dụng đã ký

mà A đã đem số tiền đó đi đánh bạc và thua hết nên A đã bỏ trốn khỏi địa phương Hành vi của A phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1.1.3.2 Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạn tài sản với tội trộm cắp tài sản

Trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của chủ sở hữu hoặc người có trách nhiệm quản lý trông coi tài sản, người phạm tội thường lợi dụng sự

Trang 25

mất cảnh giác của người quản lý tài sản để lấy tài sản mà người quản lý tài sản không hề biết

Ở hai tội này đều có khách thể là quan hệ sở hữu tài sản (tài sản thuộc sở hữu của người khác - không phải là của người phạm tội) Lỗi của người phạm tội đều là lỗi cố ý trực tiếp Tức là người phạm tội biết hành vi của mình nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn mong muốn thực hiện Cả hai tội đều có cấu thành vật chất, hậu quả

là thiệt hại về tài sản là dấu hiệu bắt buộc được phản ánh trong cấu thành tội phạm

Điểm khác nhau cơ bản của hai tội này đó là về hành vi khách quan: Trộm cắp tài sản là chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn lén lút còn lừa đảo chiếm đoạt tài sản

là chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn gian dối

Ở tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, thủ đoạn gian dối là dấu hiệu đặc trưng luôn được người phạm tội thực hiện trước khi thực hiện hành vi phạm tội, là tiền đề để thực hiện việc chiếm đoạt Còn ở tội trộm cắp tài sản, người phạm tội lén lút (bí mật) lấy tài sản mà chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản không biết mình bị mất tài sản, chỉ sau khi mất tài sản họ mới biết bị mất tài sản Tính chất lén lút (bí mật) của hành vi trộm cắp tài sản thể hiện ở chỗ người phạm tội giấu diếm hành vi phạm tội của mình Tuy nhiên, lén lút không phải đặc trưng duy nhất của tội trộm cắp tài sản Trong nhiều tội phạm, người phạm tội cũng lén lút nhưng để thực hiện một mục đích khác như: Lẻn vào nhà người khác để đặt mìn nhằm mục đích giết hại những người trong gia đình họ; Lẻn vào phòng ngủ của phụ nữ để thực hiện hành vi hiếp dâm, v.v Vì vậy, khi nói đến tội trộm cắp tài sản thì không thể không đi kèm với hành vi chiếm đoạt tài sản, nếu hành vi lén lút không nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản thì không phải là trộm cắp tài sản

Ví dụ: B theo dõi thấy anh D để xe máy ở vỉa hè vào cây ATM rút tiền, lợi dụng sự sơ hở của anh D, B đã dùng chìa khóa vạn năng mở được xe và nổ máy phóng đi Hành vi của B phạm tội trộm cắp tài sản

1.1.3.3 Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tội cướp giật tài sản

Cướp giật tài sản là hành vi công khai chiếm đoạt tài sản một cách nhanh chóng để tránh sự phản kháng của chủ tài sản hoặc của người quản lý tài sản

Trang 26

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội cướp giật tài sản giống nhau về lỗi của người phạm tội, cả hai tội này đều có lỗi cố ý trực tiếp; tội phạm đều do chủ thể thường, có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định thực hiện

Điểm khác nhau giữa hai tội này, trước hết là về khách thể của tội phạm - Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là quan hệ sở hữu tài sản, còn khách thể của tội cướp giật tài sản là quan hệ sở hữu tài sản và quan hệ nhân thân Ở hai tội này còn khác nhau về mặt khách quan - Hành vi khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi gian dối chiếm đoạt tài sản, còn ở tội cướp giật tài sản

là hành vi công khai, nhanh chóng chiếm đoạt tài sản rồi tẩu thoát nhanh chóng

Dấu hiệu công khai, nhanh chóng là dấu hiệu đặc trưng của tội cướp giật tài sản Được hiểu như sau: Công khai - về mặt khách quan, hành vi chiếm đoạt ở tội này cho phép chủ tài sản có khả năng biết ngay khi hành vi này xảy ra Về ý thức chủ quan của người phạm tội, khi thực hiện hành vi chiếm đoạt biết hành vi này của mình có tính chất công khai và hoàn toàn không hề che giấu hành vi đó Nhanh chóng - là dấu hiệu của người phạm tội Đó là thủ đoạn lợi dụng sơ hở của chủ tài sản, nhanh chóng tiếp cận, nhanh chóng chiếm đoạt và nhanh chóng lẩn tránh

Còn đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì chủ tài sản tự nguyện giao tài sản cho người phạm tội vì nghĩ rằng việc giao tài sản đó là đúng, nghĩa là chủ tài sản không biết mình đang bị lừa mà chỉ đến khi mất tài sản thì mới biết mình bị lừa

Về dấu hiệu hậu quả nguy hiểm: Đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, thiệt hại về tài sản được quy định là dấu hiệu bắt buộc trong CTTP, điều luật quy định mức tối thiểu giá trị tài sản bị chiếm đoạt làm cơ sở truy cứu TNHS Còn đối với tội cướp giật tài sản do tính chất nguy hiểm cao của tội phạm nên dấu hiệu hậu quả không được phản ánh trong CTTP, không quy định mức tối thiểu giá trị tài sản bị chiếm đoạt mà chỉ cần có hành vi cướp giật đã là phạm tội

Ví dụ: V và Q đi xe máy đến ngã tư thì phát hiện chị H đi xe máy phía trước, trên cổ có đeo 1 sợi dây chuyền V đi xe máy áp sát xe của chị H, để Q ngồi sau giật sợi dây chuyền Sau đó, V kéo ga cho xe phóng nhanh để tẩu thoát Hành vi của V

và Q phạm tội cướp giật tài sản

Trang 27

1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của các quy phạm pháp luật hình

sự Việt Nam về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1.2.1 Khái quát lịch sử lập pháp hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Bảo vệ quyền sở hữu cá nhân, tổ chức, chống lại các hành vi xâm phạm sở hữu là mối quan tâm hàng đầu của Chính phủ Việt Nam kể từ khi giành được Chính quyền Do đó, chỉ sau một thời gian ngắn, mặc dù bận nhiều công việc nhưng Chính phủ dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật để nghiêm trị các hành vi này

Để tìm hiểu kỹ hơn về lịch sử hình thành và phát triển của các quy phạm pháp luật hình sự Việt Nam về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tác giả đã chia làm 03 giai đoạn như sau:

1.2.1.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến trước năm 1985

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, nước ta đã ban hành những văn bản pháp luật hình sự quy định việc trừng trị các tội xâm phạm tài sản XHCN, như:

- Sắc lệnh số 26-SL ngày 25/2/1946 về các tội phá hoại công sản;

- Sắc lệnh số 223-SL ngày 27/11/1946 về tội biển thủ công quỹ;

- Sắc lệnh số 267-SL ngày 15/6/1956 về các âm mưu và hành động phá hoại tài sản của Nhà nước, của Hợp tác xã và của nhân dân làm cản trở việc chính sách,

kế hoạch Nhà nước

Năm 1970, Nhà nước đã ban hành 02 Pháp lệnh vào ngày 23/10/1970 Đó là: Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản XHCN do Lệnh số 149-LCT ngày 23/10/1970 công bố, trong đó Điều 10 quy định tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản XHCN như sau:

“1 Kẻ nào dùng giấy tờ giả mạo, gian lận trong việc cân, đong, đo, đếm, tính hoặc dùng thủ đoạn gian dối khác chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa thì phạt

tù từ 6 tháng đến 5 năm

2 Phạm tội trong những trường hợp sau đây: a) Có tính chất chuyên nghiệp hoặc tái phạm nguy hiểm; b) Có tổ chức; c) Có móc ngoặc; d) Giả danh hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, xí nghiệp Nhà nước, đơn vị bộ đội, đoàn thể nhân dân, hợp tác xã hoặc dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm khác; đ) Chiếm đoạt tài sản

Trang 28

với số lượng lớn hoặc tài sản có giá trị đặc biệt; e) Dùng tài sản chiếm đoạt vào việc kinh doanh, bóc lột, đầu cơ, đút lót hoặc vào những việc phạm tội khác thì bị phạt tù từ 3 năm đến 12 năm;

3 Phạm tội trong trường hợp số tài sản bị xâm phạm rất lớn hoặc có nhiều tình tiết nghiêm trọng, hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc bị xử tử hình” [25]

Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Lệnh số 150-LCT ngày 23/10/1970 công bố, trong đó Điều 9 quy định tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản riêng của công dân như sau:

“1 Kẻ nào dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản riêng của công dân thì

bị phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm

2 Phạm tội trong những trường hợp sau đây: a) Có tính chất chuyên nghiệp hoặc tái phạm nguy hiểm; b) Có tổ chức; c) Giả danh hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, xí nghiệp Nhà nước, đơn vị bộ đội, đoàn thể nhân dân, hợp tác xã hoặc dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm khác; d) Gây hậu quả nghiêm trọng đến đời sống của người bị thiệt hại hoặc gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ 02 năm đến

10 năm” [26]

Về cơ bản hai tội trên đều có hành vi giống nhau đó là hành vi gian dối chiếm đoạt tài sản đang do người khác quản lý Hai hành vi này có cùng tính chất nhưng lại tác động lên hai loại tài sản khác nhau đó là tài sản XHCN và tài sản của công dân Về trách nhiệm pháp lý, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản XHCN có mức hình phạt cao nhất là tử hình, còn tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản riêng của công dân

có mức hình phạt cao nhất là 10 năm tù, điều này cũng có thể do yếu tố lịch sử với tính chất của nền kinh tế lúc này là tập trung bao cấp đối với toàn xã hội, tài sản của Nhà nước cần được bảo vệ đặc biệt vì khi nó bị xâm phạm thì hậu quả tác động đến

xã hội là rất cao, tính nguy hiểm của hành vi này có mức độ nghiêm trọng hơn

Hai Pháp lệnh trên cũng đã hoàn chỉnh hai cấu thành tội phạm về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản XHCN và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản riêng của công dân, quy định cụ thể các tình tiết tăng nặng định khung trong điều luật, các khung hình phạt tương ứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm

Trang 29

Sau ngày 30/4/1975 thống nhất đất nước, Nhà nước ta đã ban hành thêm một

số văn bản pháp luật hình sự mới để phù hợp với tình hình của đất nước lúc bấy giờ, trong đó có một quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Cụ thể ở miền Nam, Hội đồng Chính phủ Cách mạng lâm thời đã ban hành Sắc lệnh số 03-SL/76 ngày 15/3/1976 Trong đó, Điều 4 quy định về tội xâm phạm đến tài sản của công cộng như sau: “Tài sản công cộng bao gồm tài sản của Nhà nước và của Hợp tác xã, của

tổ chức xã hội và của tập thể nhân dân Tài sản công cộng là thiêng liêng, tuyệt đối không ai được xâm phạm Trường hợp nghiêm trọng thì bị phạt tù đến 15 năm Phạm tội trộm cắp, tham ô tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản rất lớn, hoặc có nhiều tình tiết nghiêm trọng hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù đến 20

năm, tù chung thân hoặc bị xử tử hình”.[30]

Như vậy, cho tới thời điểm năm 1976, Nhà nước ta đã áp dụng tới 3 loại văn bản pháp luật khác nhau cùng xử lý về một tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Tại miền Bắc vẫn áp dụng hai Pháp lệnh ngày 21/10/1970 còn ở miền Nam thì áp dụng Sắc luật số 03-SL/76 là chính

1.2.1.2 Giai đoạn từ năm 1985 đến trước năm 1999

Ngày 09/7/1985, Bộ luật hình sự năm 1985 đã được Quốc hội khóa VI ban hành và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1986, đây là Bộ luật đầu tiên được ban hành, nó đã khắc phục được tình trạng các văn bản pháp luật chồng chéo, áp dụng không thống nhất trước đó, tăng cường tính pháp chế và đồng thời bảo vệ được quyền tài sản của công dân

Các quy định về tội xâm phạm sở hữu ở BLHS 1985 được ghi nhận ở hai chương: “Chương IV: Các tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa” và “Chương V:

Các tội xâm phạm sở hữu công dân” [3]

Điều 134 BLHS 1985 quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản XHCN như sau:

“1 Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm

2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm: a) Có tổ chức; b) Dùng thủ đoạn xảo quyệt nguy hiểm; c) Chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn; d) Tái phạm nguy hiểm

Trang 30

3 Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân” [3]

Tại Điều 157 BLHS 1985 quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản riêng của công dân như sau:

“1 Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác, thì

bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm

2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ hai năm đến mười năm: a) Có tổ chức; b) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm; c) Chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn; d) Tái phạm nguy hiểm

3 Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm” [3]

Mặc dù vẫn còn tồn tại hai tội danh lừa đảo chiếm đoạt tài sản có sự phân chia đối tượng là tài sản XHCN và tài sản công dân, nhưng có sự khác biệt Cụ thể: tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản XHCN được quy định tại Điều 134 BLHS 1985 đã bỏ hình phạt tử hình Điều 157 BLHS 1985 quy định tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân đã tăng mức hình phạt cao nhất từ 10 năm đến 15 năm Điều này thể hiện cái nhìn về quyền sở hữu được xem trọng gần như nhau

Qua quá trình áp dụng, BLHS năm 1985 đã bộc lộ những hạn chế nhất định cần phải được điều chỉnh Do đó, BLHS năm 1985 đã được sửa đổi 04 lần vào các năm 1990, 1991, 1993 và 1997 Cụ thể:

Lần thứ nhất: Năm 1990, bổ sung vào điểm a khoản 2 Điều 134 và Điều 157 tình tiết “hoặc có tính chất chuyên nghiệp” Vì vậy, điểm a khoản 2 Điều 134 và Điều 157 được quy định “Có tổ chức hoặc có tính chất chuyên nghiệp”

Lần thứ hai: Năm 1991, sửa đổi bổ sung hình phạt tử hình vào khoản 3 Điều

134 như sau: “3 Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình” Khoản 3 Điều 157 cũng

được sửa đổi, bổ sung tăng mức hình phạt tối đa của các khung và bổ sung hình phạt tù chung thân và tử hình

Như vậy, ở cả hai tội: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản XHCN (Điều 134) và lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân (Điều 157) BLHS năm 1985, sửa đổi bổ sung năm 1991 đã quy định hình phạt cao nhất cho cả hai tội là tử hình

Trang 31

Lần thứ ba: Vào năm 1993, bổ sung vào khoản 2 Điều 134 - Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản XHCN thêm tình tiết định khung tăng nặng là: “Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức” và tình tiết "gây hậu quả nghiêm trọng”

Lần thứ tư: Lần sửa đổi cuối cùng của BLHS năm 1985 là vào năm 1997, lần sửa đổi này đã sửa đổi bổ sung Điều 134a, Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức để lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Dù qua nhiều lần sửa đổi bổ sung, BLHS năm 1985 vẫn duy trì 2 Chương về các tội xâm phạm sở hữu - XHCN và công dân, trong khi trên thực tế tồn tại 07 hình thức sở hữu khác nhau, đó là: Sở hữu toàn dân; Sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; Sở hữu tập thể; Sở hữu tư nhân; Sở hữu của tổ chức xã hội,

tổ chức xã hội nghề nghiệp; Sở hữu hỗn hợp; Sở hữu chung Do đó, để phù hợp hơn với chính sách kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước trong thời kỳ mới, BLHS

1999 đã ra đời, đánh dấu sự thay đổi tương đối toàn diện của luật hình sự Việt Nam

1.2.1.3 Giai đoạn từ năm 1999 (Bộ luật hình sự 1999 có hiệu lực) đến nay

Tại kỳ họp thứ VI, Quốc hội khóa 10, BLHS mang số hiệu 15/1999/QH10 đã được thông qua (gọi tắt là Bộ luật hình sự năm 1999), có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2000 thay thế BLHS 1985 BLHS 1999 được xây dựng dựa trên cơ sở sửa đổi, bổ sung một cách tương đối toàn diện của BLHS 1985 nhưng có kế thừa những nội dung hợp lý, tích cực của BLHS này qua 4 lần sửa đổi, bổ sung trước đó

BLHS năm 1999 đã nhập hai chương (Chương IV: Các tội xâm phạm sở hữu XHCN và Chương V: Các tội xâm phạm sở hữu của công dân) của BLHS 1985 thành Chương XIV với tên gọi “Các tội xâm phạm sở hữu” và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 139 Theo đó, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 139 BLHS 1999 là tội được nhập từ tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản XHCN quy định tại Điều 134; Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn lừa đảo chiếm đoạt tài sản XHCN quy định tại điều 134a; Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân quy định tại Điều 157 của BLHS 1985, được áp dụng cho tất cả các hình thức sở hữu

Điều 139 BLHS 1999 quy định tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

“1 Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có

Trang 32

giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm

2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm: a) Có tổ chức; b) Có tính chất chuyên nghiệp; c) Tái phạm nguy hiểm; d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức; đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt; e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng; g) Gây hậu quả nghiêm trọng

3 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm: a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng; b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng

4 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình: a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên; b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng

5 Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm”.[1]

So với BLHS năm 1985 thì Điều 139 BLHS năm 1999 quy định về hình phạt vẫn nghiêm khắc như quy định của BLHS 1985 về tội phạm này với mức hình phạt cao nhất vẫn là tử hình Song, từng khung hình phạt cụ thể có thể giảm mức hình phạt xuống hoặc tăng mức hình phạt lên so với quy định của BLHS 1985 Tuy nhiên, những quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 139 BLHS 1999 có nhiều điểm mới so với BLHS 1985, đó là: Trong cấu thành cơ bản, nhà làm luật quy định giá trị tài sản bị chiếm đoạt làm ranh giới giữa hành vi lừa đảo được coi là tội phạm với hành vi lừa đảo chỉ bị xử phạt hành chính, các tình tiết định khung hình phạt cũng được quy định cụ thể hơn trước; hình phạt bổ sung cũng được quy định ngay trong điều luật

BLHS 1999 là công cụ sắc bén của Nhà nước, của nhân dân, nó đã phát huy vai trò, tác dụng to lớn trong công cuộc bảo vệ những thành quả của cách mạng, bảo

Trang 33

vệ chế độ XHCN, bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN Song song với sự phát triển của nền kinh tế, một số hành vi phạm tội mới cũng phát sinh như tội rửa tiền, tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, kinh doanh chứng khoán, đặt ra yêu cầu sửa đổi bổ sung một số điều của BLHS 1999 nhằm thể chế hóa những quan điểm, chủ trương mới của Đảng về cải cách tư pháp được thể hiện trong Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới và Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến 2020, trong đó đáng chú ý là chủ trương “Hạn chế

áp dụng hình phạt tử hình theo hướng chỉ áp dụng đối với một số ít loại tội phạm

đặc biệt nghiêm trọng ”.[8]

Vì lẽ đó, việc sửa đổi, bổ sung BLHS 1999 là một đòi hỏi khách quan và cấp thiết trong điều kiện phát triển về kinh tế và xã hội lúc bấy giờ của nước ta, nhằm góp phần khắc phục những bất cập, hạn chế nói trên, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn

và bảo đảm hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, đồng thời đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế

Ngày 19/6/2009, tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật số 37/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS 1999 và có hiệu lực thi hành

từ ngày 01/01/2010 Trong đó, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 139

đã nâng mức giá trị tài sản bị chiếm đoạt ở cấu thành cơ bản từ 500.000 đồng (BLHS 1985) lên 2.000.000 đồng và bỏ hình phạt tử hình ở khoản 4 Nghĩa là, mức hình phạt cao nhất đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo BLHS 1999 chỉ ở mức chung thân Việc bỏ hình phạt tử hình đối với tội này thể hiện sự nhân đạo của Nhà nước và cũng phù hợp với xu hướng chung của các nước trên thế giới là dần thu hẹp

và tiến tới xóa bỏ hình phạt tử hình

1.2.2 Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự hiện hành

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 139 BLHS 1999, được xây dựng theo bốn CTTP tương ứng với bốn khung hình phạt áp dụng đối với người

Trang 34

phạm tội và sắp xếp theo trình tự tăng dần về độ nghiêm khắc Đó là CTTP cơ bản (khoản 1), CTTP tăng nặng thứ nhất (khoản 2), CTTP tăng nặng thứ hai (khoản 3), CTTP tăng nặng thứ ba (khoản 4)

1.2.2.1 Cấu thành tội phạm cơ bản (khoản 1 Điều 139 Bộ luật hình sự 1999)

Cấu thành tội phạm này bao gồm dấu hiệu định tội Tại khoản 1 Điều 139 BLHS 1999, quy định chế tài lựa chọn giữa hình phạt cải tạo không giam giữ và hình phạt tù Đây là hai loại hình phạt khác nhau trong cùng một khung Người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo CTTP cơ bản có thể bị áp dụng biện pháp cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm khi thoả mãn một trong hai dấu hiệu sau:

Thứ nhất, chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến

dưới năm mươi triệu đồng

Thứ hai, chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị dưới hai triệu đồng

nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm

Cấu thành cơ bản của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại khoản 1 Điều 139 BLHS 1999 như đã nhấn mạnh có các tình tiết là yếu tố định tội, làm ranh giới phân biệt giữa hành vi phạm tội với hành vi chỉ bị xử lý hành chính Những dấu

hiệu này được trình bày cụ thể trong phần “Thực tiễn định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo cấu thành tội phạm cơ bản” (Mục 2.1.2.1 Chương 2)

1.2.2.2 Cấu thành tội phạm tăng nặng thứ nhất (khoản 2 Điều 139 Bộ luật hình sự 1999)

Đây là cấu thành tội phạm ngoài dấu hiệu định tội còn có các dấu hiệu định khung tăng nặng Theo quy định tại khoản 2, đó là các dấu hiệu:

Thứ nhất: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản “có tổ chức” - Đây là trường hợp

phạm tội có đồng phạm và có sự cấu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện

tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Theo khoản 3 Điều 2 BLHS 1999 thì “Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự cấu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực

Trang 35

hiện tội phạm” [4] Nghĩa là, giữa những người đồng phạm vừa có sự liên kết chặt

chẽ với nhau vừa có sự phân hoá vai trò, phân công nhiệm vụ tương đối rõ ràng và

cụ thể Nhóm tội phạm được hình thành với phương hướng hoạt động có tính lâu dài, bền vững Trong nhóm tồn tại quan hệ chỉ huy - phục tùng Trong đó, có người

tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức Tuy nhiên, tuỳ trường hợp có thể chỉ có người tổ chức và người thực hành mà không có người xúi giục hoặc người giúp sức nhưng nhất định phải có người tổ chức và người thực hành thì mới thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức Người thực hành trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người trực tiếp thực hiện thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản

Thứ hai: Lừa đảo tài sản “có tính chất chuyên nghiệp” - Tức là người phạm

tội lấy việc lừa đảo chiếm đoạt tài sản làm nguồn thu nhập chính và là phương tiện sinh sống của chính mình, người phạm tội phải thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhiều lần Nếu phạm tội nhiều lần nhưng họ không lấy việc phạm tội là phương tiện sinh sống chủ yếu thì không coi là có tính chất chuyên nghiệp mà lại thuộc trường hợp phạm tội nhiều lần (tình tiết tăng nặng TNHS quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 BLHS 1999)

Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của HĐTP TANDTC đã

hướng dẫn cụ thể chỉ áp dụng tình tiết “phạm tội có tính chuyên nghiệp” khi có đầy

đủ các điều kiện sau:

- Cố ý phạm tội từ năm lần trở lên về cùng một tội phạm không phân biệt đã

bị truy cứu TNHS hay chưa bị truy cứu TNHS, nếu chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS hoặc chưa được xoá án tích

- Người phạm tội đều lấy các lần phạm tội làm nghề sinh sống và lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính

Thứ ba: Người phạm tội thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm” - Cũng

giống như mọi trường hợp tái phạm nguy hiểm khác, đây là trường hợp người phạm tội đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 3 Điều 139 BLHS

1999 hoặc đã tái phạm chưa được xoá án tích mà lại phạm tội này (theo khoản 2

Điều 49 BLHS 1999) [4]

Trang 36

Thứ tư: Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức” - Đây là trường hợp người phạm tội sử dụng chức vụ, quyền hạn của mình

như phương tiện để lừa dối hoặc núp dưới danh nghĩa cơ quan, tổ chức để thực hiện hành vi lừa dối nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác Đây là tình tiết định khung hình phạt mới được quy định trên cơ sở tên tội danh của Điều 134a BLHS năm

1985 là điều được sửa đổi bổ sung vào ngày 10/5/1997 (Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn lừa đảo chiếm đoạt tài sản XHCN)

Thứ năm: “Dùng thủ đoạn xảo quyệt” để lừa đảo chiếm đoạt tài sản - Đây là

trường hợp người phạm tội có những thủ đoạn tinh vi hoặc gian dối cao làm cho người bị hại và những người khác khó lường trước để đề phòng và cơ quan công an cũng khó điều tra, phát hiện

Thứ sáu: “Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng” - Đây là trường hợp lấy giá trị tài sản định khung hình phạt

Thứ bảy: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản “gây hậu quả nghiêm trọng” - Là hành

vi phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản đã gây ra những thiệt hại khác ngoài những thiệt hại mà điều luật đã quy định để cấu thành tội phạm

Theo khoản 2 Điều 139 BLHS 1999 quy định: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm tù khi khoả mãn một hoặc nhiều dấu hiệu sau: “a) Có tổ chức; b) Có tính chất chuyên nghiệp; c) Tái phạm nguy hiểm; d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức; đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt; e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm triệu

đồng đến dưới hai trăm triệu đồng; g) Gây hậu quả nghiêm trọng” [4]

1.2.2.3 Khung tăng nặng thứ hai (khoản 3 Điều 139 Bộ luật hình sự 1999)

Trong cấu thành tội phạm này, bên cạnh dấu hiệu định tội, còn có dấu hiệu định khung tăng nặng Ngoài tình tiết chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu

đồng đến dưới năm trăm triệu đồng, thì tình tiết lừa đảo chiếm đoạt tài sản “gây hậu quả rất nghiêm trọng” được hiểu là trường hợp hành vi tội lừa đảo chiếm đoạt tài

sản đã gây thiệt hại về thể chất, về tài sản, thiệt hại phi vật chất cho người bị hại cũng như cho xã hội (ngoài những thiệt hại mà bộ luật quy định đủ để cấu thành tội

Trang 37

phạm), cụ thể: “Làm chết hai người; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của ba đến bốn người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 61% trở lên; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của năm đến bảy người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% đến 60%; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người với tổng tỷ lệ thương tật của những người này từ 101% đến 200%, nếu không thuộc các trường hợp nêu trên; Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng đến dưới một tỷ năm trăm triệu đồng; Gây thiệt hại về tính mạng,

sức khoẻ và tài sản mà hậu quả bao gồm từ hai đến ba tình tiết nêu trên” [33]

Ngoài những thiệt hại về sức khoẻ hoặc tài sản có thể xác định được nêu trên còn những thiệt hại phi vật chất cũng cần được xác định để đánh giá hậu quả do hành vi phạm tội gây ra như: Ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước; Gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự, an toàn xã hội

Tại khoản 3 Điều 139 BLHS 1999 nhà làm luật quy định chế tài lựa chọn từ

07 năm đến 15 năm tù khi thoả mãn một trong các dấu hiệu sau: “a Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng; b Gây hậu quả

rất nghiêm trọng” [4]

1.2.2.4 Khung tăng nặng thứ ba (khoản 4 Điều 139 Bộ luật hình sự 1999)

Theo khoản 4 Điều 139 BLHS 1999, trong cấu thành tội phạm này ngoài các dấu hiệu định tội còn có một trong những các dấu hiệu:

“a Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” [4]

Tình tiết “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” được hiểu là trường hợp hành

vi phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản đã gây ra những thiệt hại về thể chất, về tài sản, thiệt hại phi vật chất cho người bị hại cũng như cho xã hội (ngoài những thiệt hại mà điều luật quy định để cấu thành tội phạm), gồm những trường hợp sau: “Làm chết ba người trở lên; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của năm người trở lên với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 61% trở lên; Gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khoẻ của tám người trở lên với tỷ lệ thương tật của mỗi người

từ 31% đến 60%; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người với tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 201% trở lên, nếu không

Trang 38

thuộc một trong các trường hợp nêu trên; Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ một tỷ năm trăm triệu đồng trở lên; Gây thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ và tài sản mà hậu quả thuộc bốn điểm trở lên (Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của một đến hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 61% trở lên; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của ba đến bốn người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% đến 60%; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người với tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 61% đến 100%, nếu không thuộc các trường hợp nêu trên; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người với tổng tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% và còn gây thiệt hại

về tài sản có giá trị từ 30 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng; Gây thiệt hại về tài sản

có giá trị từ 50 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng); Gây thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ và tài sản mà hậu quả thuộc hai điểm trở lên (trong phần khung tăng nặng thứ

hai nêu trên) [33]

Người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại khoản 4 Điều 139 BLHS năm 1999 bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân

1.2.2.5 Hình phạt bổ sung (khoản 5 Điều 139 Bộ luật hình sự 1999)

Theo quy định tại khoản 5 Điều 139 BLHS thì ngoài hình phạt chính, người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức

vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những tội có tính chất xâm phạm đến sở hữu, nó trực tiếp gây thiệt hại về vật chất cho chủ sở hữu, do vậy trong chế tài của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản đã quy định hình phạt tiền là hình phạt bổ sung Việc áp dụng chế tài này là tước đi một khoản tiền nhất định của người phạm tội để sung vào công quỹ Nhà nước

Việc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản của người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản phải chú ý quy định tại Điều 40 BLHS 1999 Chỉ thu tài sản thuộc quyền sở hữu của người phạm tội, không thu các loại tài sản là đồ trang sức, vật kỷ niệm của người phạm tội và khi tịch thu tài sản của người phạm tội vẫn phải

để lại cho người phạm tội và gia đình họ có điều kiện sinh sống

Trang 39

Kết luận Chương 1

Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích những vấn đề lý luận và pháp luật về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam, tác giả đã đưa ra những khái niệm cụ thể về các tội xâm phạm sở hữu nói chung và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói riêng theo khoa học luật hình sự Đồng thời, khái quát lại lịch sử lập pháp của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cũng như phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với các tội khác trong nhóm tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt, phân tích rõ các dấu hiệu định khung tăng nặng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Việc nghiên cứu sâu sắc các vấn đề lý luận và pháp luật của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có ý nghĩa to lớn và là tiền đề để đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về tội này, cụ thể là thực tiễn định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng mà luận văn đề cập nghiên cứu tại Chương 2 tiếp theo

Trang 40

2.1 Định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ thực tiễn thành phố

Đà Nẵng

2.1.1 Các yêu cầu đối với định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

a Cần nắm vững khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của định tội danh

Định tội danh là một vấn đề quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án hình

sự, là tiền đề cho việc phân hóa TNHS và cá thể hóa hình phạt một cách công minh, chính xác, đồng thời làm cơ sở cho việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn, xác định thẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan THTT góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ pháp luật, bảo vệ pháp chế XHCN, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

Định tội danh đúng là tiền đề cho việc phân hóa TNHS và cá thể hóa hình phạt một cách công minh, có căn cứ pháp luật Định tội danh sai sẽ dẫn đến một loạt các hậu quả tiêu cực như: Không đảm bảo được tính công minh, tính căn cứ đúng pháp luật, truy cứu TNHS người vô tội, bỏ lọt người phạm tội,

Quá trình áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự diễn ra phức tạp và đa dạng, được thể hiện ở 3 giai đoạn: Định tội danh, định khung hình phạt và QĐHP Trong đó, định tội danh là giai đoạn quan trọng nhất trong ba giai đoạn trên của toàn bộ quá trình áp dụng pháp luật hình sự Bởi vì, định tội danh được tiến hành thực hiện ở tất cả các giai đoạn của quá trình TTHS từ giai đoạn khởi tố đến giai đoạn thi hành án Trong khi đó, bước QĐHP chỉ được tiến hành thực hiện ở giai

Ngày đăng: 01/06/2017, 16:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ luật hình sự 1999 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1999), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật hình sự 1999 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Bộ luật hình sự 1999 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1999
2. Bộ luật dân sự 2005 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật dân sự 2005 của nước "C"ộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Bộ luật dân sự 2005 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2005
3. Bộ luật hình sự 1985 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1985), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật hình sự 1985 của nước" C"ộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Bộ luật hình sự 1985 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1985
4. Bộ luật hình sự 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2009), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật hình sự 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Bộ luật hình sự 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2009
5. Bộ luật tố tụng hình sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2003), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật tố tụng hình sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Bộ luật tố tụng hình sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2003
9. Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội (Tập 1), Nxb CAND, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam
Nhà XB: Nxb CAND
10. Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội (Tập 2), Nxb CAND, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam
Nhà XB: Nxb CAND
11. Trường Đại học Luật Hà Nội (2005), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung)
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2005
12. Bộ Tư pháp (1995), Hình phạt trong luật hình sự Việt Nam, Viện nghiên cứu khoa học pháp lý, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Tư pháp "(1995), "Hình phạt trong luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Bộ Tư pháp
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1995
14. PGS.TS Nguyễn Ngọc Hoà (1993), Quyết định hình phạt trong luật hình sự Việt Nam, Tạp chí Luật học số 05 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định hình phạt trong luật hình sự Việt Nam
Tác giả: PGS.TS Nguyễn Ngọc Hoà
Năm: 1993
15. Nguyễn Ngọc Hoà (1996), Mô hình luật hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hoà
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 1996
16. Nguyễn Ngọc Hoà (1999), Tội phạm học trong luật hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội phạm học trong luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hoà
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 1999
17. PGS.TS Nguyễn Ngọc Hoà (2000), Trách nhiệm hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm hình sự Việt Nam
Tác giả: PGS.TS Nguyễn Ngọc Hoà
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2000
18. Dương Tuyết Miên (2007), Định tội danh, quyết định hình phạt, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định tội danh, quyết định hình phạt
Tác giả: Dương Tuyết Miên
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2007
21. Từ điển Bách khoa Công an nhân dân (2000), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Bách khoa Công an nhân dân
Tác giả: Từ điển Bách khoa Công an nhân dân
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2000
22. Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, Nxb Từ điển Bách khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam
Nhà XB: Nxb Từ điển Bách khoa
24. Từ điển pháp luật hình sự (2006), Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển pháp luật hình sự (2006)
Tác giả: Từ điển pháp luật hình sự
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2006
27. Đinh Văn Quế (2003), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự, Phần các tội xâm phạm sở hữu, Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật hình sự, Phần các tội xâm phạm sở hữu
Tác giả: Đinh Văn Quế
Nhà XB: Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2003
29. Quốc hội (2014), Luật Tổ chức Toà án nhân dân, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Tổ chức Toà án nhân dân
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2014
31. Hồ Sỹ Sơn (2007), Nguyên tắc nhân đạo trong luật hình sự Việt Nam, Tóm tắt luận án Tiến sỹ luật học, Viện Nhà nước và Pháp luật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên tắc nhân đạo trong luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Hồ Sỹ Sơn
Năm: 2007

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  Tên bảng  Trang - Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự việt nam từ thực tiễn thành phố đà nẵng
ng Tên bảng Trang (Trang 6)
Bảng 2.1. Cơ cấu và tỷ lệ % bị cáo phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo các mức  hình phạt (CTTP cơ bản và CTTP tăng nặng) quy định tại Điều 139 BLHS 1999 - Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự việt nam từ thực tiễn thành phố đà nẵng
Bảng 2.1. Cơ cấu và tỷ lệ % bị cáo phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo các mức hình phạt (CTTP cơ bản và CTTP tăng nặng) quy định tại Điều 139 BLHS 1999 (Trang 45)
Hình phạt đã áp dụng - Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự việt nam từ thực tiễn thành phố đà nẵng
Hình ph ạt đã áp dụng (Trang 60)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm