1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quyết định hình phạt tù có thời hạn theo pháp luật hình sự việt nam từ thực tiễn huyện ý yên, tỉnh nam định

80 253 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên tựu chung lại cơ thể nhận định: “Quyết định hình phạt là một giai đoạn, một nội dung của áp dụng pháp luật hình sự thể hiện ở việc Tòa án lựa chọn loại và mức hình phạt cụ thể

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRẦN HỮU TRÁNG

HÀ NỘI, 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học theo quy định của Học viện Khoa học xã hội

Vậy tôi xin viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật – Học Viện Khoa học xã hội xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TÙ CÓ THỜI HẠN 7

1.1 Những vấn đề lý luận về quyết định hình phạt tù có thời hạn 7

1.2 Quy định của pháp luật về quyết định hình phạt tù có thời hạn 12

CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TÙ CÓ THỜI HẠN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN Ý YÊN, TỈNH NAM ĐỊNH 27

2.1 Khái quát tình hình quyết định hình phạt tù có thời hạn trên địa bàn huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định 27

2.2 Những kết quả đạt được trong quyết định hình phạt tù có thời hạn trên địa bàn huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định 30

2.3 Những bất cập, hạn chế, vướng mắc trong quyết định hình phạt tù có thời hạn trên địa bàn huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định 34

CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM QUYẾT ĐỊNH ĐÚNG HÌNH PHẠT TÙ CÓ THỜI HẠN 55

3.1 Giải pháp về hoàn thiện quy định của pháp luật 56

3.2 Giải pháp về áp dụng pháp luật 65

3.3 Giải pháp đối với những cơ quan tiến hành tố tụng 67

KẾT LUẬN 71

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 73

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLHS Bộ luật Hình sự

BLTTHS Bộ luật Tố tụng Hình sự HSST Hình sự sơ thẩm

TAND Tòa án nhân dân

TANDTC Tòa án nhân dân tối cao

TNHS Trách nhiệm hình sự

XHCN Xã hội chủ nghĩa

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 đã xác định: Toà án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa

Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp… Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công

lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân

[30] Nhiệm vụ quan trọng trên đặt ra yêu cầu cho Tòa án nhân dân phải nâng cao hơn nữa chất lượng xét xử trong bối cảnh đất nước hội nhập và phát triển, quyền con người ngày được coi trọng và đề cao Hình phạt tù có thời hạn tước

tự do và hạn chế một số quyền nhân thân của người bị kết án, ảnh hưởng rất lớn tới người đó cũng như gia đình họ Vì vậy, quyết định hình phạt tù có thời hạn đòi hỏi cần phải chính xác, hợp tình, hợp lý, đủ sức răn đe giáo dục với người bị kết án và giáo dục phòng ngừa chung trong xã hội

Thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân cho thấy việc quyết định hình phạt còn tồn tại nhiều bất cập, hạn chế; nhất là quyết định hình phạt tù có thời hạn Trong nhiều trường hợp hình phạt đối với bị cáo không tương xứng với tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội Có những trường hợp, những người phạm cùng một tội danh, có cùng tính chất, mức độ nguy hiểm và nhân thân người phạm tội tương tự nhau, nhưng hình phạt do Tòa án quyết định lại rất khác nhau hoặc có trường hợp được hưởng án treo, có trường hợp không được hưởng án treo Điều này làm giảm hiệu quả của hình phạt, gây mất niềm tin của

xã hội vào các cơ quan bảo vệ pháp luật

Mặt khác, Bộ luật hình sự 2015 được ban hành trong đó sửa đổi bổ sung nhiều quy định so với Bộ luật hình sự 1999, tuy nhiên một số điểm hạn chế của luật cũ chưa được khắc phục trong khi những sai sót mới lại phát sinh Do đó,

Quốc hội đã phải ban hành Nghị quyết 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 lùi hiệu

lực thi hành của Bộ luật Hình sự 2015 để sửa đổi bổ sung; kể từ 01/7/2016, các

Trang 6

quy định có lợi cho người phạm tội được quy định trong Bộ luật Hình sự 2015 vẫn được thực hiện Nghiên cứu Bộ luật Hình sự 2015 để tìm ra những ưu điểm

và hạn chế còn tồn tại, nhất là đối với chế định quyết định hình phạt, từ đó đề xuất những giải pháp hoàn thiện là yêu cầu cấp bách hiện nay

Huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định là địa bàn có diện tích rộng, có nhiều tuyến giao thông huyết mạch đi qua, tiếp giáp với nhiều đơn vị hành chính khác, kinh tế tương đối phát triển dẫn tới dân số tăng nhanh về cả tự nhiên và

cơ học; tình hình tội phạm diễn biến rất phức tạp Trong những năm qua, công tác xét xử tại Tòa án nhân dân huyện Ý Yên tỉnh Nam Định về cơ bản đạt kết quả tốt, đóng góp quan trọng vào công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm tại địa phương Tuy nhiên, thực tiễn xét xử cũng phát sinh nhiều bất cập, nhất là trong quyết định hình phạt tù có thời hạn Nguyên nhân xuất phát từ cả yếu tố khách quan và chủ quan dẫn tới quyết định hình phạt không chính xác đối với người phạm tội

Vì vậy, nghiên cứu về mặt lý luận và thực tiễn quyết định hình phạt tù có thời hạn, trên cơ sở đó đề xuất những phương án hoàn thiện pháp luật hình sự, giải quyết những vướng mắc mà thực tiễn xét xử đặt ra, đảm bảo sự nhận thức thống nhất trong thực thi pháp luật là vấn đề mang tính cấp bách, có ý nghĩa

quan trọng Đây cũng là lý do mà tác giả chọn đề tài “Quyết định hình phạt tù

có thời hạn theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định” làm luận văn Thạc sĩ Luật học

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về chế định quyết định hình phạt nói chung và quyết định hình phạt tù nói riêng

Về sách giáo trình, sách chuyên khảo, sách bình luận có các công trình

sau: Chương Quyết định hình phạt trong sách Luật Hình sự Việt Nam Phần

chung, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2014 do GS.TS Võ Khánh Vinh chủ

biên; Chương Quyết định hình phạt trong sách Luật hình sự Việt Nam (phần

Trang 7

chung), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội 2001 do GS.TS Lê Cảm chủ biên;

Chương Quyết định hình phạt trong Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Tập I,

NXB Công an nhân dân, 2011 của Trường Đại học Luật Hà Nội; Chương Quyết

định hình phạt trong Đề tài Bình luận khoa học Bộ luật hình sự Việt Nam năm

1999 (Phần chung), Chủ nhiệm đề tài TS Uông Chu Lưu, NXB Chính trị quốc

gia, Hà Nội - 2001; Sách Định tội danh và quyết định hình phạt trong Luật hình

sự Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, 2010 của tác giả TS Lê Văn Đệ

Các công trình này đã đi sâu nghiên cứu về mặt lý luận cũng như làm rõ các đặc trưng pháp lý của quyết định hình phạt, mối liên hệ giữa quyết định hình phạt với các vấn đề khác của luật hình sự

Ngoài ra, một số bài viết cũng được công bố trên các tạp chí khoa học

chuyên ngành như: Quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của pháp luật hình

sự của tác giả Trần Thị Quang Vinh, Tạp chí Khoa học pháp lý, Số 2/2000, tr

17; Vấn đề quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật Hình sự của tác giả Dương Tuyết Miên, tạp chí Luật học Số 6/2000, tr 30 – 34; Quyết định hình

phạt đối với trường hợp phạm nhiều tội của tác giả Lê Văn Đệ, tạp chí Nhà

nước và Pháp luật, Số 1/2003, tr 58 – 62; Quyết định hình phạt tù đối với người

chưa thành niên phạm tội của tác giả Đinh Văn Quế, Tạp chí Toà án nhân dân,

Số 5/2003, tr 6 – 8

Ở cấp độ luận án Tiến sĩ Luật học và luận văn Thạc sĩ Luật học có các đề tài: Võ Khánh Vinh (1993) Nguyên tắc công bằng trong Luật hình sự Việt Nam, Luận án Phó Tiến sỹ Luật học; Nguyễn Sơn (2002) Các hình phạt chính trong Luật hình sự Việt Nam, Luận án tiến sỹ luật học; Trần Văn Sơn (1996), Quyết định hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Hà Nội; Hoàng Chí Kiên (2004), Quyết định hình phạt trong những trường hợp đặc biệt, Luận văn thạc sĩ luật học, Hà Nội; Đào Tú Hoa (2006), Hình phạt tù trong luật hình sự Việt Nam: Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sĩ luật học,

Hà Nội; Nguyễn Thị Kim Hằng (2014), Các căn cứ quyết định hình phạt trong

Trang 8

Bộ luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Hà Nội; Nguyễn Mạnh Tuấn (2014), Quyết định hình phạt tù có thời hạn theo Luật hình sự Việt Nam

(trên cơ sở số liệu thực tiễn của địa bàn thành phố Hà Nội), Luận văn thạc sĩ luật

học, Hà Nội

Các công trình khoa học trên đã nghiên cứu về chế định quyết định hình phạt trên cơ sở lý luận và từ thực tiễn các địa phương khác nhau Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách độc lập, chuyên sâu về vấn đề quyết định hình phạt tù có thời hạn một cách đầy đủ riêng biệt dưới góc

độ pháp lý hình sự và tố tụng hình sự từ thực tiễn huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định; nhiều nội dung liên quan chưa có được cách giải quyết thống nhất, hơn nữa các công trình này nghiên cứu khi Bộ luật hình sự năm 2015 chưa được ban hành

Do vậy, việc nghiên cứu về quyết định hình phạt tù có thời hạn từ thực tiễn xét

xử tại huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định là đòi hỏi khách quan, cấp thiết vừa có tính

lý luận vừa có tính thực tiễn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu của luận văn

Mục đích nghiên cứu của luận văn là trên cơ sở làm rõ lí luận và thực tiễn của việc quyết định hình phạt tù có thời hạn từ thực tiễn huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định, luận văn hướng đến mục đích kiến nghị các giải pháp bảo đảm quyết định đúng hình phạt tù có thời hạn nhằm nâng cao hiệu quả của hình phạt trong phòng, chống tội phạm

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, luận văn cần thực hiện các nhiệm vụ sau đây:

- Tiếp cận từ lí luận về quyết định hình phạt, luận văn phải làm rõ lí luận quyết định hình phạt tù có thời hạn, trong đó phải làm rõ khái niệm, căn cứ quyết định hình phạt tù có thời hạn, vấn đề quyết định hình phạt tù có thời hạn trong những trường hợp đặc biệt…

Trang 9

- Phân tích làm rõ thực tiễn quyết định hình phạt tù có thời hạn trên địa bàn huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định giai đoạn 2012-2016, từ đó phân tích những hạn chế, vướng mắc, bất cập và nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc, bất cập trong quyết định hình phạt tù có thời hạn trên địa bàn huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định

- Kiến nghị các giải pháp bảo đảm quyết định đúng hình phạt tù có thời hạn nhằm nâng cao hiệu quả của hình phạt trong phòng, chống tội phạm

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài gồm các vấn đề lý luận và thực tiễn về quyết định hình phạt tù có thời hạn theo luật hình sự Việt Nam, từ thực tiễn huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu là các vấn đề lý luận và pháp lý có liên quan tới chế định quyết định hình phạt tù có thời hạn dưới góc độ luật hình sự và thực tiễn quyết định hình phạt tù có thời hạn trên địa bàn huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2016

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin về chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về Nhà nước và pháp luật

Để hoàn thành đề tài, luận văn đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu đặc thù như: Phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp lịch sử và hệ thống, phương pháp phân tích, để giải quyết những vấn đề khoa học được đặt ra một cách linh hoạt, đan xen lẫn nhau để đạt được kết quả nghiên cứu cao nhất của đề tài Quá trình nghiên cứu đề tài tác giả dựa vào các văn bản pháp luật của Nhà nước và những văn bản hướng dẫn do Tòa án nhân dân tối cao ban hành có liên quan đến nội dung của đề tài, những số liệu thống kê, báo

Trang 10

cáo tổng kết năm công tác (từ tháng 01/10 năm trước tới 30/9 của năm liền sau) của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định và Tòa án nhân dân huyện Ý Yên để phân tích, tổng hợp các luận chứng, các vấn đề được nghiên cứu trong luận văn

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Về lí luận: Luận văn hoàn thành sẽ là tài liệu chuyên khảo nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn về quyết định hình phạt

tù có thời hạn Luận văn góp phần hoàn thiện lí luận về quyết định hình phạt tù

có thời hạn

- Về thực tiễn: Luận văn hoàn thành sẽ là tài liệu tham khảo quan trọng trong thực tiễn hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng ở huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định nói riêng và các cơ quan tiến hành tố tụng nói chung trong quyết định hình phạt tù có thời hạn Luận văn sẽ góp phần tích cực trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng của huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định Luận văn cũng là tài liệu tham khảo quan trọng dùng trong quá trình học tập và nghiên cứu của các cơ sở đào tạo luật ở nước ta

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 Những vấn đề lý luận và pháp luật về quyết định hình phạt tù có

Trang 11

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT

VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TÙ CÓ THỜI HẠN 1.1 Những vấn đề lý luận về quyết định hình phạt tù có thời hạn

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm quyết định hình phạt tù có thời hạn

Quyết định hình phạt là một trong những giai đoạn cơ bản, một trong những nội dung của quá trình áp dụng pháp luật hình sự Hiện chưa có một văn bản quy phạm pháp luật nào xác định khái niệm quyết định hình phạt Tuy

nhiên tựu chung lại cơ thể nhận định: “Quyết định hình phạt là một giai đoạn,

một nội dung của áp dụng pháp luật hình sự thể hiện ở việc Tòa án lựa chọn loại và mức hình phạt cụ thể được quy định trong điều luật (khoản điều luật) theo một thủ tục nhất định để áp dụng đối với người phạm tội thể hiện trong bản án buộc tội” [48, tr.386]

Hoạt động xét xử của Tòa án thường được trải qua ba giai đoạn là: Định

tội danh, định khung hình phạt và quyết định hình phạt Quyết định hình phạt

chỉ diễn ra sau khi Tòa án đã tiến hành hoạt động định tội danh và trong trường hợp người phạm tội bị khẳng định là có tội thì mới có thể bị áp dụng hình phạt Nếu lấy giai đoạn định khung hình phạt để so sánh thì định khung hình phạt sai

sẽ dẫn đến quyết định hình phạt sai, nhưng có thể định tội danh vẫn đúng Vì vậy định khung hình phạt là bước đầu tiên quan trọng của quyết định hình phạt,

là cơ sở để quyết định hình phạt đúng nên định khung hình phạt thuộc về quyết định hình phạt Trên cơ sở khung hình phạt đã xác định, Hội đồng xét xử phải tiến hành quyết định hình phạt chính trước, sau đó mới quyết định hình phạt bổ sung Điều này cho thấy trong quyết định hình phạt thì quyết định hình phạt chính có tính chất bắt buộc đối với người phạm tội bị kết án

Nội dung của quyết định hình phạt thể hiện hai điểm sau: 1) Tòa án lựa chọn một trong những hình phạt cụ thể được quy định trong điều luật (khoản

Trang 12

điều luật) tương ứng với hành vi phạm tội của bị cáo 2) xác định một mức hình phạt cụ thể đối với bị cáo căn cứ trên tính chất mức độ nguy hiểm cho hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người phạm tội

Hình phạt tù với tư cách là một hình phạt chính trong hệ thống hình phạt thường được áp dụng đối với tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng cần thiết phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội bình thường một

thời gian nhất định để giáo dục, cải tạo họ Như vậy, có thể định nghĩa: Quyết

định hình phạt tù có thời hạn là hoạt động áp dụng pháp luật hình sự thể hiện ở việc Toà án có thẩm quyền lựa chọn khung và mức phạt tù cụ thể được quy định trong điều luật theo một thủ tục nhất định để áp dụng đối với người phạm tội thể hiện trong bản án buộc tội

Tiếp cận từ khái niệm và các thuộc tính cơ bản của lí luận về quyết định hình phạt, có thể suy ra những đặc điểm cơ bản của quyết định hình phạt tù như sau:

- Quyết định hình phạt tù có thời hạn là một giai đoạn của quá trình xét

xử và chỉ do một cơ quan duy nhất có thẩm quyền tiến hành là Tòa án

- Đối tượng của quyết định hình phạt tù có thời hạn là cá nhân người phạm tội, con người cụ thể đó đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi

là tội phạm và có lỗi trong điều kiện hoàn toàn có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định tại thời điểm thực hiện tội phạm Chính họ sẽ phải chấp hành hình phạt mà Tòa án đã tuyên chứ không ai có thể chấp hành thay được, có như vậy hình phạt mới đạt được mục đích trừng trị và giáo dục, cải tạo người phạm tội Đối tượng này phân biệt với pháp nhân thương mại phạm tội trong BLHS 2015 bởi vì không thể xử phạt tù đối với pháp nhân

- Hậu quả pháp lý sau khi Tòa án quyết định một mức hình phạt tù giam

cụ thể đối với người phạm tội là sẽ tước tự do của người bị kết án trong một thời hạn và một số quyền nhân thân của người đó

Trang 13

- Quyết định hình phạt tù có thời hạn là hoạt động nhận thức và áp dụng pháp luật hình sự của Hội đồng xét xử Trong quan hệ pháp luật hình sự, trách nhiệm hình sự của người phạm tội không mặc nhiên phát sinh nếu không có hoạt động xét xử của Toà án để chứng minh người đó phạm tội và áp dụng các biện pháp chế tài của luật hình sự đối với họ Do đó, quyết định hình phạt luôn

là hoạt động nhận thức và áp dụng pháp luật hình sự do Hội đồng xét xử tiến hành trên cơ sở căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt đối với từng trường hợp phạm tội cụ thể

1.1.2 Nguyên tắc quyết định hình phạt tù có thời hạn

Các nguyên tắc quyết định hình phạt là những tư tưởng xuất phát, tư tưởng chỉ đạo được quy định trong pháp luật hình sự và do giải thích mà có, xác định và định hướng hoạt động của Tòa án khi áp dụng chế tài luật hình sự đối với người phạm tội [48, tr.388]

Các nhà nghiên cứu pháp luật hình sự Việt Nam đều thống nhất quan điểm việc quyết định hình phạt nói chung phải dựa trên bốn nguyên tắc: Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa; nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa, nguyên tắc cá thể hóa hình phạt, nguyên tắc công bằng [48, tr.389] Các nguyên tắc này có tính độc lập tương đối của nó và cùng tồn tại Nhưng mặt khác, các nguyên tắc quyết định hình phạt luôn có những phần, những nội dung xâm nhập nhau, có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung cho nhau, tác động qua lại lẫn nhau và ở dạng tổng thể tạo thành một hệ thống thống nhất

Quyết định hình phạt tù có thời hạn là trường hợp riêng phổ biến của Tòa

án khi quyết định hình phạt, vì vậy cũng phải tuân thủ bốn nguyên tắc nêu trên: nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa, nguyên tắc cá thể hóa hình phạt, nguyên tắc công bằng

* Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa

Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa là một nguyên tắc quan trọng

và cơ bản của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Tư tưởng

Trang 14

cơ bản của nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa là nói đến sự tuân thủ triệt để pháp luật của Nhà nước, các cơ quan tổ chức và công dân Đối với quyết định hình phạt nguyên tắc này được thể hiện ở việc Tòa án chỉ

áp dụng hình phạt đối với những hành vi phạm tội được quy định trong

Bộ luật hình sự Điều 2 BLHS 1999 khẳng định: Chỉ người nào phạm một

tội đã được Bộ luật Hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự

[26] Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa khi quyết định hình phạt tù

có thời hạn thể hiện ở việc Tòa án phải tuân theo trình tự tố tụng nhất định, các điều kiện áp dụng hình phạt tù và đặc biệt Tòa án chỉ có thể tuyên trong phạm vi khung hình phạt được quy định trong BLHS (trừ trường hợp quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật) Mặt khác, nội dung nguyên tắc pháp chế XHCN khi quyết định hình phạt tù có thời hạn đòi hỏi các quy định về mục đích hình phạt, căn cứ lập luận phải được Tòa án ghi rõ trong bản

án định tội

Nguyên tắc pháp chế XHCN trong quyết định hình phạt tù có thời hạn còn thể hiện quy định về phạm vi, điều kiện áp dụng hình phạt tù có thời hạn Ở phần các tội phạm, nguyên tắc pháp chế XHCN thể hiện ở chỗ quy định rõ giới hạn hình phạt từ mức cao nhất đến mức thấp nhất của khung hình phạt cho từng tội cụ thể áp dụng để quyết định hình phạt đúng đắn

* Nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa

Nguyên tắc nhân đạo XHCN là một nguyên tắc tiến bộ thể hiện ở việc khi quyết định hình phạt Tòa án phải xuất phát từ tư tưởng nhân đạo, cân nhắc lợi ích của xã hội, của Nhà nước và của người phạm tội trong một tổng thể thống nhất biện chứng, hài hòa và hợp lý Ở nước ta, tư tưởng nhân đạo luôn thể hiện rõ nét trong đường lối chính sách của Đảng và văn bản pháp luật của Nhà nước Nguyên tắc nhân đạo XHCN trong quyết định hình phạt tù có thời hạn thể

hiện ở Điều 3 BLHS 1999 - Nguyên tắc xử lý tội phạm: "… khoan hồng đối với

người tự thú, thành khẩn khai báo, tố giác người đồng phạm, lập công chuộc tội,

Trang 15

ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra" [26] Bộ

luật hình sự cũng quy định các tình tiết định khung giảm nhẹ trách nhiệm hình

sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và giảm nhẹ hình phạt buộc Tòa án phải cân nhắc khi quyết định hình phạt tù có thời hạn Hình phạt tù có thời hạn bị hạn chế áp dụng đối với một số chủ thể đặc biệt như người chưa thành niên, người già, phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người có bệnh

bị hạn chế khả năng nhận thức khả năng điều khiển hành vi

* Nguyên tắc cá thể hóa hình phạt

Cá thể hóa hình phạt là một trong những nguyên tắc quan trọng của chế định hình phạt và là nguyên tắc đặc thù của quyết định hình phạt nói chung Nội dung của nguyên tắc cá thể hóa khi quyết định hình phạt tù có thời hạn được thể hiện trong BLHS cũng như trong thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự Khi quyết định hình phạt tù, hình phạt mà tòa án tuyên đối với người bị kết án phải phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, mức độ tham gia thực hiện tội phạm Việc các nhà làm luật quy định các khung hình phạt trong một tội danh cũng như quy định mức thấp nhất và mức cao nhất của khung hình phạt chính là quy định khả năng cá thể hóa đối với những đối tượng chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, những đối tượng ngoan cố chống đối, lưu manh, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội và khoan hồng đối với người tự thú, thành khẩn khai báo, tố giác người đồng phạm, lập công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra…

Trong áp dụng pháp luật hình sự, khi quyết định hình phạt tù có thời hạn, Tòa án phải cân nhắc những đặc điểm thuộc về nhân thân người phạm tội như hoàn cảnh gia đình, trình độ học vấn, tiền án, tiền sự và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để cá thể hóa TNHS đối với người bị kết án

* Nguyên tắc công bằng

Trang 16

Trong lĩnh vực hình sự, nguyên tắc công bằng là sự tương xứng giữa tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và trách nhiệm hình sự của người thực hiện hành vi phạm tội phải chịu

Như vậy, thứ nhất nguyên tắc công bằng đòi hỏi việc quyết định hình phạt tù phải tương xứng với hành vi của người phạm tội Thứ hai, khi quyết định hình phạt tù Tòa án phải cân nhắc cả nhân thân người phạm tội và các tình tiết khác có trong vụ án Thứ ba, hình phạt tù được tuyên cần phải phản ánh một cách đúng đắn dư luận xã hội, ý thức pháp luật và đạo đức xã hội, phải có sức thuyết phục mọi người

1.2 Quy định của pháp luật về quyết định hình phạt tù có thời hạn

1.2.1 Quy định của pháp luật về hình phạt tù có thời hạn

Hình phạt tù có thời hạn là một hình phạt chính trong hệ thống hình phạt của Bộ luật hình sự 1999

Theo Bộ luật hình sự 1999, Điều 28 quy định hình phạt bao gồm: hình phạt chính và hình phạt bổ sung Các hình phạt chính gồm có: a) cảnh cáo; b) phạt tiền; c) cải tạo không giam giữ; d) trục xuất; đ) tù có thời hạn; e) tù chung thân; g) tử hình Các hình phạt bổ sung gồm có: a) cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm một công việc nhất định; b) cấm cư trú; c) Quản chế; d) tước một số quyền công dân; đ) tịch thu tài sản; e) phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính; g) trục xuất, khi không áp dụng là hình phạt chính

Tù có thời hạn là việc buộc người bị kết án phải chấp hành hình phạt tại trại giam trong một thời hạn nhất định [26] Hình phạt tù có thời hạn tước quyền tự do và hạn chế một số quyền nhân thân của người bị kết án, cách ly họ khỏi đời sống xã hội bình thường, buộc họ phải sống trong môi trường riêng biệt có sự giám sát, kiểm soát chặt chẽ của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để giáo dục và cải tạo họ Đây là hình phạt phổ biến trong hệ thống hình phạt của mọi quốc gia So với hình phạt cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn có nội dung cưỡng chế nghiêm khắc hơn nhiều Điều này thể hiện ở việc người bị kết

Trang 17

án cải tạo không giam giữ không bị cách ly ra khỏi đời sống xã hội, mọi hoạt động sinh hoạt với gia đình, cộng đồng không bị ảnh hưởng mà chỉ bị chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát giáo dục Trong khi đó người bị kết án tù

bị tước tự do hoàn toàn, bị giam giữ trong một môi trường chịu sự quản lý chặt chẽ và nghiêm khắc, việc tiếp xúc với môi trường sống xã hội bị hạn chế đáng

kể Hạn chế tự do đối với người bị kết án tù có thời hạn là nội dung pháp lý chủ yếu của loại hình phạt này Việc hạn chế tự do của người phạm tội còn có mục đích phòng ngừa chung Khi bị kết án tù và phải chấp hành án tại cơ sở giam giữ, họ không còn có những điều kiện nhất định để phạm tội mới gây thiệt hại đến an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội

Điều 33 Bộ luật hình sự 1999 quy định thời hạn tù tối thiểu là ba tháng, thời hạn tù tối đa là hai mươi năm Theo điều 50 Bộ luật hình sự 1999, trong trường

hợp phạm nhiều tội, mức tối đa của hình phạt tù có thời hạn là ba mươi năm

1.2.2 Căn cứ quyết định hình phạt tù có thời hạn

Khi quyết định hình phạt, Tòa án phải dựa vào những căn cứ cụ thể để đảm bảo hình phạt được tuyên là đúng đắn, chặt chẽ và thống nhất; đồng thời tránh được tình trạng tùy tiện trong quyết định hình phạt và đảm bảo đạt được mục đích của hình phạt Do đó, căn cứ quyết định hình phạt là những đòi hỏi cơ bản có tính nguyên tắc do Bộ luật hình sự quy định hoặc do giải thích luật mà

có, buộc Tòa án phải tuân theo khi quyết định hình phạt đối với người thực hiện tội phạm [48, tr.395]

Điều 45 BLHS 1999 quy định về căn cứ quyết định hình phạt như sau: Khi quyết định hình phạt, Toà án căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự Vì vậy, căn cứ quyết định hình phạt tù có thời hạn cũng bao gồm:

- Các quy định của Bộ luật hình sự;

- Tính chất và mức độ nguy hiểm cho hành xã hội cỉa hành vi phạm tội;

Trang 18

- Nhân thân người phạm tội;

- Các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự

Đây là những căn cứ chung, có tính chất bắt buộc trong mọi trường hợp đối với tòa án khi quyết định hình phạt Các căn cứ này tuy có mối quan hệ chặt chẽ với nhau nhưng đều có tính độc lập tương đối

* Các quy định của Bộ luật hình sự

Khi quyết định hình phạt tù có thời hạn, Tòa án bắt buộc phải căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự để lựa chọn khung và xác định mức hình phạt

cụ thể áp dụng đối với người phạm tội Đó là những quy định liên quan đến nguyên tắc xử lí, đến hình phạt và quyết định hình phạt Thuộc về những quy

định này bao gồm:

- Các quy định trong Phần chung của BLHS 1999 như: Quy định về

Nguyên tắc xử lí (Điều 3), về hình phạt tù có thời hạn (Điều 33), về căn cứ quyết định hình phạt (Điều 45), về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (Điều 46), các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (Điều 48), về tái phạm, tái phạm nguy hiểm (Điều 49), quy định về án treo (Điều 50)

- Các quy định trong phần các tội phạm của BLHS 1999 về khung hình phạt tù có thời hạn cho từng loại tội

Căn cứ vào quy định của BLHS bảo đảm cho việc thực hiện nguyên tắc pháp chế XHCN trong hoạt động xét xử của Tòa án Vì vậy, chỉ quyết định hình

phạt khi đã có đủ căn cứ xác định một người đã phạm vào một tội mà Bộ luật

hình sự quy định, tức là phải định tội danh trước rồi mới quyết định hình phạt sau Khi quyết định hình phạt tù có thời hạn, Toà án phải áp dụng đúng khung hình phạt và không được phạt cao hơn mức cao nhất của khung hình phạt đã quy định Việc áp dụng dưới mức thấp nhất của khung hình phạt phải tuân theo quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự

Trang 19

* Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội

Các quy định của Bộ luật hình sự thuộc căn cứ thứ nhất đã thể hiện tình thần của nguyên tắc cá thể hóa hình phạt Đó là khung hình phạt cũng như hình phạt cụ thể cần quyết định cho từng trường hợp phạm tội phải tương xứng với tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội Áp dụng các quy định trên

để quyết định hình phạt cũng có nghĩa là căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội

Ví dụ: Cùng với hành vi dùng dao xâm phạm tính mạng, sức khỏe của người khác, căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội, người phạm tội có thể bị tuyên phạm tội cố ý gây thương tích hoặc giết người, tùy từng trường hợp có thể bị định khung tăng nặng, khung cơ bản hoặc khung giảm nhẹ tương ứng với mức hình phạt khác nhau

Như vậy trong căn cứ thứ nhất đã chứa đựng một phần nội dung của căn

cứ thứ hai Tuy nhiên, vẫn cần thiết quy định trong Bộ luật Hình sự một căn cứ quyết định hình phạt độc lập đó là: tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội

Tính nguy hiểm cho xã hội được thể hiện ở tổng thể của hai khái niệm

“tính chất” và “mức độ” nguy hiểm của hành vi phạm tội [48, tr.397]

Tính chất nguy hiểm cho xã hội là đặc tính về chất của hành vi phạm tội,

là thuộc tính khách quan của tội phạm [48, tr.398] Mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội là thuộc tính về lượng nhất định của cùng một chất - tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội [48, tr.398] Những tội phạm giống nhau về tính chất nguy hiểm cho xã hội nhưng có thể khác nhau về mức độ nguy hiểm cho xã hội Mức độ nguy hiểm cho xã hội cũng là thuộc tính khách quan của tội phạm

Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội phụ thuộc vào các yếu tố cấu thành tội phạm, bởi vì tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, nếu hành vi đó tuy có dấu hiệu của tội phạm, nhưng tính chất nguy

Trang 20

hiểm cho xã hội không đáng kể, thì không phải là tội phạm (khoản 4 Điều 8 Bộ luật hình sự)

có tính chất mức độ nguy hiểm lớn hơn, khung hình phạt nặng hơn

- Thủ đoạn, công cụ phương tiện, hình thức thực hiện tội phạm: Thủ đoạn công cụ càng tinh vi thì tính chất nguy hiểm càng lớn

- Tính chất và mức độ của hậu quả đã gây ra hoặc đe dọa gây ra

- Tính chất và mức độ lỗi, động cơ, mục đích của hành vi phạm tội Cùng

là lỗi nhưng lỗi cố ý nguy hiểm hơn lỗi vô ý, cùng là lỗi cố ý nhưng lỗi cố ý trực tiếp thì nguy hiểm hơn lỗi cố ý gián tiếp; cùng là lỗi cố ý trực tiếp, nhưng

sự quyết tâm phạm tội của người phạm tội cao nguy hiểm hơn người không có

ý thức quyết tâm phạm tội đến cùng; cùng là vô ý thì vô ý vì quá tự tin nguy hiểm hơn lỗi vô ý vì cẩu thả

- Những tình tiết thuộc về nhân thân có ảnh hưởng tới mức độ nguy hiểm của tội phạm …

Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhà làm luật chia tội phạm ra làm bốn loại: Tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Đối với cùng một loại tội phạm, nhà làm luật cũng chia các khung hình phạt khác nhau: khung cơ bản, khung tăng nặng, khung giảm nhẹ căn cứ trên tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội

Khi quyết định hình phạt, Tòa án bắt buộc phải chỉ ra trong bản án những tình tiết cụ thể để chứng minh tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà Tòa án dựa vào đó để quyết định hình phạt đối với bị cáo

Trang 21

* Nhân thân người phạm tội

Nhân thân người phạm tội là những đặc điểm đặc tính về mặt chính trị -

xã hội, tâm lý, đạo đức, sinh lý của người phạm tội [48, tr.403] Để có căn cứ quyết định hình phạt có rất nhiều đặc điểm được Tòa án cân nhắc tới, trong đó phổ biến là các yếu tố như: độ tuổi, nghề nghiệp, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, quá trình công tác, khen thưởng, kỷ luật, hoàn cảnh gia đình, tiền

án, tiền sự Những đặc điểm này được chia thành các nhóm bao gồm: đặc điểm nhân thân người phạm tội có ảnh hưởng đến mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; những đặc điểm về nhân thân người phạm tội phản ánh khả năng giáo dục, cải tạo người phạm tội; những đặc điểm về nhân thân người phạm tội phản ánh hoàn cảnh đặc biệt của người phạm tội mà Tòa án phải xem xét khi quyết định hình phạt

Khoản 2 Điều 224 BLTTHS 2003 quy định: “Trong bản án cần phải ghi

rõ: … họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi sinh, nơi cư trú, nghề nghiệp, trình độ văn hóa, thành phần xã hội, tiền án, tiền sự của bị cáo; …” [28] Điều này

không những để định danh người phạm tội mà còn buộc Tòa án phải xem xét các yếu tố nhân thân này khi quyết định hình phạt Ngoài những đặc điểm thuộc

về nhân thân người phạm tội có thể được chỉ rõ trong luật (mang tính pháp lý), Tòa án có thể cân nhắc những đặc điểm không được chỉ rõ trong luật nhưng được pháp luật cho phép khi chúng có ý nghĩa đối với việc quyết định hình phạt (không mang tính pháp lý)

* Các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự

Khi quyết định hình phạt nói chung hình phạt tù có thời hạn nói riêng, Tòa án không những phải cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của người phạm tội mà còn cân nhắc các tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Tình tiết giảm nhẹ TNHS là những tình tiết được quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự 1999 với tính chất là tình tiết giảm nhẹ chung hoặc là tình tiết giảm

Trang 22

nhẹ TNHS do Tòa án xem xét, cân nhắc và ghi rõ trong bản án, để khi cá thể hóa TNHS và hình phạt đối với người phạm tội theo hướng giảm nhẹ hơn trong phạm vi một khung hình phạt

Tình tiết tăng nặng TNHS là những tình tiết được quy định tại Điều 48

Bộ luật hình sự 1999 với tính chất là tình tiết tăng nặng chung, để khi cá thể hóa TNHS và hình phạt đối với người phạm tội theo hướng nghiêm khắc hơn trong phạm vi một khung hình phạt nếu trong vụ án hình sự có tình tiết này

Về tính chất pháp lí của các tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng trách nhiệm hình sự, cần lưu ý như sau:

- Tình tiết được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nếu là những tình tiết được luật hình sự quy định tại Điều 46 BLHS 1999 hoặc có thể

là tình tiết khác được Tòa án xác định là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

để cân nhắc khi quyết định hình phạt;

- Tình tiết chỉ được coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nếu được luật hình sự quy định tại Điều 48 BLHS 1999;

- Đối với các loại tội, không phải tất cả các tình tiết được nêu tại Điều 46

và 48 BLHS đều có thể là các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ TNHS bởi vì các tình tiết đã là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi

là tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ;

- Hầu hết các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ TNHS đều chỉ được nêu

một cách khái quát mà không được mô tả cụ thể Riêng tình tiết tăng nặng Tái

phạm, tái phạm nguy hiểm được quy định cụ thể tại Điều 49 BLHS 1999

1.2.3 Quyết định hình phạt tù có thời hạn trong một số trường hợp đặc biệt

Trong nhiều trường hợp khi quyết định hình phạt, Tòa án phải vận dụng các quy định mang tính đặc thù để quyết định hình phạt riêng đối với bị cáo Các quy định đặc thù đó thể hiện tính chất nhân đạo của Nhà nước như quy định đối với người chưa thành niên, quy định mang tính giảm nhẹ hay tăng

Trang 23

nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo hoặc là những quy định thể hiện tính chất hành vi hay kết quả của tội phạm Quyết định hình phạt trong trường hợp này được gọi là quyết định hình phạt trong trường hợp đặc biệt

Theo quy định của pháp luật hình sự hiện hành, quyết định hình phạt tù

có thời hạn trong trường hợp đặc biệt bao gồm một số trường hợp sau đây:

- Quyết định hình phạt tù có thời hạn nhẹ hơn quy định của BLHS

- Quyết định hình phạt tù có thời hạn trong trường hợp phạm nhiều tội

- Tổng hợp hình phạt của nhiều bản án

- Quyết định hình phạt tù có thời hạn trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt

- Quyết định hình phạt tù có thời hạn trong trường hợp đồng phạm

- Quyết định hình phạt tù có thời hạn đối với người chưa thành niên phạm tội

*Quyết định hình phạt tù có thời hạn nhẹ hơn quy định của Bộ luật Hình sự

Quy định về quyết định hình phạt nhẹ hơn của BLHS trước hết xuất phát từ nguyên tắc nhân đạo XHCN mà nhà làm luật đã xây dựng lên nhằm mục đích giáo dục, cải tạo người phạm tội để họ có thể trở thành công dân có ích cho xã hội Đây là mục đích hàng đầu thể hiện thái độ khoan hồng của Đảng và Nhà nước ta đối với người phạm tội khi họ có nhiều tình tiết giảm nhẹ, đồng thời cũng thể hiện rõ nguyên tắc cá thể hoá là hình phạt phải tương xứng với mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội

Điều 47 BLHS 1999 quy định: “Khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy

định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật này, Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật; trong trường hợp điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất của điều luật, thì Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới

Trang 24

mức thấp nhất của khung hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án” [26]

Theo quy định này, khi quyết định hình phạt Toà án có thể không lựa chọn và tuyên một hình phạt cho người phạm tội trong giới hạn của khung hình phạt cho phép tuyên một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc chuyển sang một hình phạt khác nhẹ hơn khi người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS

Căn cứ để Toà án có thể quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của bộ luật là người phạm tội phải có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ TNHS được quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS 1999 Khoản 1 Điều 46 BLHS 1999 đã liệt kê tất cả các tình tiết giảm nhẹ TNHS mang tính chất phổ biến Khi quyết định

hình phạt trong trường hợp đặc biệt này thì căn cứ “có ít nhất hai tình tiết giảm

nhẹ TNHS quy định tại khoản 1 Điều 46” có giá trị pháp lý bắt buộc Đồng thời

lý do của việc giảm nhẹ khi quyết định hình phạt trong trường hợp này phải được ghi vào bản án

* Quyết định hình phạt tù có thời hạn trong trường hợp phạm nhiều tội

Hình phạt tù có thời hạn là một hình phạt chính do đó khi Tòa án khi tổng hợp hình phạt phải tuân theo các quy định tại khoản 1 Điều 50 BLHS

1999 Theo quy định này, Toà án quyết định hình phạt đối với từng tội, sau đó tổng hợp hình phạt Khi quyết định hình phạt trong trường hợp này, hình phạt chính đối với các tội có thể cùng là hình phạt tù có thời hạn hoặc có tội là hình phạt tù có thời hạn, có tội là hình phạt cải tạo không giam giữ Nguyên tắc tổng hợp hình phạt như sau:

- Nếu hình phạt chính đã tuyên cùng là tù có thời hạn, thì các hình phạt

đó được cộng lại thành hình phạt chung, hình phạt chung không vượt quá ba mươi năm

- Nếu các hình phạt chính đã tuyên là cải tạo không giam giữ và tù có thời hạn, thì hình phạt cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành hình phạt

Trang 25

tù theo tỷ lệ cứ ba ngày cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành một ngày tù để tổng hợp thành hình phạt chung theo nguyên tắc nêu trên

* Tổng hợp hình phạt của nhiều bản án

Thực tiễn xét xử cho thấy không phải trong tất cả các trường hợp phạm nhiều tội đều được phát hiện và đưa ra xét xử cùng một lần Nếu tất cả các tội phạm đều được phát hiện và đưa ra xét xử cùng một lần thì quyết định hình phạt trong trường hợp này bao gồm quyết định hình phạt đối với từng tội và quyết định hình phạt chung đối với các tội theo quy định tại Điều 50 BLHS

1999 Nếu tất cả các tội phạm được xét xử ở các lần khác nhau thì việc tổng hợp hình phạt nói chung và hình phạt tù nói riêng ở nhiều bản án sẽ được thực hiện theo quy định tại Điều 51 BLHS 1999

Về bản chất thì đây cũng là quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội nên việc quyết định hình phạt trong trường hợp này được thực hiện giống như quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội nhưng do khác nhau về thời điểm phạm tội và thời điểm xét xử nên việc người phạm tội phải chấp hành hình phạt trong trường hợp tổng hợp hình phạt của nhiều bản án

có sự khác biệt Điều 51 BLHS 1999 quy định việc tổng hợp hình phạt trong nhiều bản án bao gồm 3 trường hợp:

- Trường hợp một người đang phải chấp hành một bản án có hiệu lực pháp luật lại bị đưa ra xét xử về một tội đã phạm trước khi có bản án đó Trường hợp này được quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS 1999

Trong trường hợp này, Tòa án quyết định hình phạt đối với tội đang bị xét xử, sau đó quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 50 BLHS

1999 Do người phạm tội đã chấp hành được một phần hình phạt của bản án trước nên thời gian này được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt chung

- Trường hợp một người đang phải chấp hành một bản án có hiệu lực pháp luật lại phạm tội mới và bị đem ra xét xử Trường hơp này được quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS

Trang 26

Trong trường hợp này, Tòa án quyết định hình phạt đối với tội mới, sau

đó tổng hợp hình phạt của tội mới với phần hình phạt chưa chấp hành của bán

án trước rồi quyết định hình phạt chung

- Trường hợp người phải chấp hành nhiều bản án đã có hiệu lực pháp luật mà các hình phạt của bản án chưa được tổng hợp Trường hợp này được quy định tại khoản 3 Điều 51 BLHS Việc áp dụng khoản 3 Điều 51 BLHS

1999 về thực chất là việc áp dụng các nguyên tắc tổng hợp hình phạt theo quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều 51 BLHS 1999 Khi tổng hợp hình phạt mà các hình phạt của các bản án chưa được tổng hợp thì về nguyên tắc cần phải tổng hợp và thuộc thẩm quyền của Chánh án Tòa án

* Quyết định hình phạt tù có thời hạn trong trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt

Điều 17 BLHS 1999 quy định: “Chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn

công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm Người chuẩn bị phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc một tội đặc biệt nghiêm trọng, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội định thực hiện” [26]

Chuẩn bị phạm tội là một giai đoạn trong đó người phạm tội có hành vi tạo ra những điều kiện cần thiết (những điều kiện vật chất và tinh thần) cho việc thực hiện tội phạm nhưng chưa bắt đầu thực hiện tội phạm đó

Điều 18 BLHS 1999 quy định: “Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội

phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội Người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình

Trang 27

nhưng chưa thực hiện hết các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội phạm vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội

Chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt là hai trường hợp đặc biệt, khác với trường hợp phạm tội hoàn thành ở mặt khách quan là hậu quả của tội phạm chưa xảy ra nên việc quyết định hình phạt cho bị cáo phải nhẹ hơn Việc quyết định hình phạt tù có thời hạn đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt phải tuân theo nguyên tắc quy định tại Điều 52 BLHS 1999 đối với trường hợp hình phạt chính là tù có thời hạn Theo đó, đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội, mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 1/2 mức phạt tù mà điều luật quy định cho tội phạm hoàn thành Đối với trường hợp phạm tội chưa đạt, mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 3/4 mức phạt tù mà điều luật quy định cho phạm tội hoàn thành

*Quyết định hình phạt tù có thời hạn trong trường hợp đồng phạm

Theo quy định tại khoản 1 Điều 20 BLHS 1999, đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm Pháp luật hình sự chia những người đồng phạm thành: người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức Điều 53 BLHS 1999 quy định riêng về quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm Khi quyết định hình phạt đối với những người đồng phạm, Toà án phải xét đến tính chất của đồng phạm, tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng người đồng phạm Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự thuộc người đồng phạm nào thì chỉ

áp dụng đối với người đó

Khi quyết định hình phạt tù đối những người đồng phạm, Tòa án phải phân loại nhóm người đồng phạm là người tổ chức, xúi giục, giúp sức hay là người thực hành để xác định vai trò, mức độ tham gia tội phạm, xác định tính nguy hiểm của hành vi, mức độ tham gia của từng người từ đó cá thể hóa trách nhiệm hình sự đối với họ Người tổ chức, người chủ mưu, người thực hành tích

Trang 28

cực có vai trò nguy hiểm hơn nên phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn người giúp sức, người xúi giục

*Quyết định hình phạt tù có thời hạn đối với người chưa thành niên phạm tội

Dựa trên tinh thần Điều 69 BLHS 1999, việc xử lý người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội Do đó nếu có phải áp dụng hình phạt đối với họ cũng chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội

Khi áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội cần hạn chế áp dụng hình phạt tù Khi xử phạt tù có thời hạn, Toà án cho người chưa thành niên phạm tội được hưởng mức nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người

đã thành niên phạm tội tương ứng Khi áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người chưa thành niên phạm tội, Toà án cần phải cân nhắc kỹ xem có nên áp dụng hình phạt tù đối với họ hay không Chỉ áp dụng hình phạt tù đối với người chưa thành niên khi thấy không thể áp dụng được các loại hình phạt khác đối với họ Đây là một nguyên tắc quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội Khi buộc phải áp dụng hình phạt tù đối với người chưa thành niên phạm tội, Toà án phải tuân theo các quy định tại Điều 74 BLHS 1999 như sau:

- Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá mười tám năm tù; nếu là tù có thời hạn, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định

- Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá mười hai năm tù; nếu là tù có thời hạn

Trang 29

thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá một phần hai mức phạt tù

mà điều luật quy định

Quy định này thể hiện một cách rõ nhất nguyên tắc nhân đạo XHCN, nguyên tắc cá thể hóa hình phạt biểu hiện ở việc TNHS đối với người chưa thành niên luôn thấp hơn TNHS đối với người đã thành niên

Kết luận Chương 1

Trong chương này của luận văn, tác giả đã làm rõ một số vấn đề lý luận của quyết định hình phạt nói chung, hình phạt tù có thời hạn nói riêng, nêu lên khái niệm, đặc điểm quyết định hình phạt tù có thời hạn Quyết định hình phạt đúng, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội là cơ sơ pháp lý đầu tiên để đạt được các mục đích của hình phạt Quyết định hình phạt tù có thời hạn chỉ diễn ra sau khi Tòa án đã tiến hành hoạt động định tội danh, trong trường hợp người phạm tội bị khẳng định là có tội và thấy cần thiết phải cách ly người đó ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, Tòa án sẽ áp dụng hình phạt tù có thời hạn, giam giữ họ tại cơ

sở giam giữ để giáo dục, cải tạo Hoạt động xét xử của Tòa án thường được trải qua ba giai đoạn là: định tội danh, định khung hình phạt và quyết định hình phạt Khi quyết định hình phạt tù có thời hạn, cần phải tuân thủ đúng các nguyên tắc quyết định hình phạt đó là nguyên tắc pháp chế XHCN, nguyên tắc nhân đạo XHCN, nguyên tắc cá thể hóa hình phạt và nguyên tắc công bằng; đồng thời phải căn cứ vào các quy định của BLHS, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS để quyết định hình phạt Trong nhiều trường hợp khi quyết định hình phạt, Tòa án phải vận dụng các quy định mang tính đặc thù để quyết định hình phạt riêng đối với bị cáo Quyết định hình phạt trong trường hợp này được gọi là quyết định hình phạt trong trường hợp đặc biệt, bao gồm: Quyết định hình phạt tù có thời hạn nhẹ hơn quy định của BLHS; quyết

Trang 30

định hình phạt tù có thời hạn trong trường hợp phạm nhiều tội, tổng hợp hình phạt của nhiều bản án; quyết định hình phạt tù có thời hạn trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt; quyết định hình phạt tù có thời hạn trong trường hợp đồng phạm; quyết định hình phạt tù có thời hạn đối với người chưa thành niên phạm tội Việc quyết định hình phạt tù có thời hạn cũng phải tuân thủ quy định chung của Bộ luật Hình sự trong những trường hợp này

Trang 31

Chương 2 THỰC TIỄN QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TÙ CÓ THỜI HẠN

TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN Ý YÊN, TỈNH NAM ĐỊNH

2.1 Khái quát tình hình quyết định hình phạt tù có thời hạn trên địa bàn huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định

Huyện Ý Yên thuộc vùng đồng bằng chiêm trũng nằm ở phía Tây của tỉnh Nam Định, nằm ở trung tâm của tam giác nối tỉnh lỵ của ba tỉnh vùng nam đồng bằng sông Hồng là thành phố Nam Định (tỉnh Nam Định), thành phố Phủ Lý (tỉnh Hà Nam) và thành phố Ninh Bình (tỉnh Ninh Bình) Về địa giới hành chính, huyện Ý Yên phía bắc giáp với huyện Thanh Liêm (thuộc tỉnh Hà Nam), phía đông giáp với huyện Vụ Bản (tỉnh Nam Định), phía nam giáp với huyện Nghĩa Hưng (tỉnh Nam Định) và phía tây giáp với thành phố Ninh Bình (tỉnh Ninh Bình) Huyện Ý Yên có 32 đơn vị hành chính cấp xã; diện tích khoảng 240

km2, đứng thứ 2/10 huyện, thành phố của tỉnh Nam Định; dân số năm 2010 là 228.365 người, đứng thứ 3/10 huyện, thành phố của tỉnh Nam Định Trên địa bàn huyện có một số trục giao thông quan trọng đi qua gồm: đường sắt Bắc - Nam, đường cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình, quốc lộ 10 và quốc lộ 37B

Là vùng đất hình thành sớm trong vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, phần lớn các xã trong huyện Ý Yên là xã thuần nông, chỉ có một số xã, thị trấn

có nghề thủ công nghiệp và công nghiệp phát triển là thị trấn Lâm, xã Yên Xá (làng nghề đúc đồng Tống Xá), xã Yên Tiến (làng nghề sơn mài Cát Đằng), xã Yên Ninh (làng nghề đồ gỗ La Xuyên), xã Yên Trị (may Vĩnh Trị) Với điều kiện địa lý, dân cư và sự khác biệt về mặt kinh tế và xã hội như vậy đã tạo nên

sự phân hóa giàu nghèo rõ rệt trên địa bàn huyện: các xã phía bắc quốc lộ 10 kinh tế phát triển, nhiều làng nghề và giao thông đi lại thuận lợi, các xã phía nam quốc lộ 10 kinh tế chậm phát triển, dân cư chủ yếu sản xuất nông nghiệp,

cơ sở hạ tầng kém, bị sông Đào và sông Đáy vây bọc nên đi lại rất khó khăn

Trang 32

Điều này khiến cho tình hình an ninh trật tự trên địa bàn huyện diễn biến khá phức tạp; nhất là tình hình tội phạm diễn biến khó kiểm soát tác động tiêu cực đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

Bảng 2.1 Số lượng vụ án, bị cáo được xét xử sơ thẩm trên địa bàn huyện

Ý Yên và tỉnh Nam Định giai đoạn 2012-2016

Nguồn: Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định

Trên địa bàn huyện Ý Yên có hai điểm nóng về tội phạm Thứ nhất là khu vực cầu Non Nước, xã Yên Bằng Địa điểm này nằm ở cửa ngõ của thành phố

du lịch Ninh Bình, là điểm giao cắt của tuyến cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình với quốc lộ 10 Tỉnh Ninh Bình nhiều danh lam thắng cảnh, nhiều điểm tham quan Chính sự giáp ranh đã tạo môi trường lý tưởng cho các tụ điểm giải trí của xã Yên Bằng hình thành và phát triển Chỉ một đoạn đường khoảng 5km từ cầu Non Nước, Ninh Bình về đến ngã ba Cát Đằng – Yên Tiến đã có tới hơn 100 nhà nghỉ, quán cafe, karaoke, cắt tóc, gội đầu, massage, xông hơi,… Đây là điều kiện thuận lợi cho tội phạm ma túy và mại dâm phát triển Thứ hai là khu vực thị trấn Lâm –

xã Yên Ninh, nơi có nhiều cơ sở sản xuất đồ gỗ và đúc đồng thu hút nhiều lao động là thanh niên địa phương và lao động từ nơi khác đến, đặc thù của việc đúc đồng là thường sản xuất về đêm Chính điều này dẫn tới việc phát sinh tội phạm

về chiếm đoạt tài sản, đánh bạc và cố ý gây thương tích trên địa bàn

Trang 33

Thực tiễn áp dụng pháp luật trong thời gian qua cho thấy hình phạt tù giam được áp dụng nhiều, chiếm tỷ lệ trên 50% Hình phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ được áp dụng rất ít hoặc hầu như không được áp dụng Khi khung hình phạt quy định hai loại hình phạt để Tòa án lựa chọn như: Cải tạo không giam giữ hoặc tù có thời hạn; phạt tiền hoặc tù có thời hạn thì hình phạt tù có thời hạn vẫn ưu tiên áp dụng hơn hình phạt còn lại

Với đặc thù của tòa án nhân dân cấp huyện căn cứ theo quy định của BLTTHS chỉ có thẩm quyền xét những vụ án hình sự về những tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiên trọng với khung hình phạt đến

15 năm tù, do đó Tòa án nhân dân huyện Ý Yên không có vụ án nào xét xử bị cáo bị

áp dụng hình phạt tù trên 15 năm, hình phạt chung thân và tử hình

Bảng 2.2.Hình phạt chính áp dụng với các bị cáo giai đoạn 2012-2016

án treo)

Tỷ lệ

số án giam /Tổng

số

bị cáo

Cảnh cáo

Phạt tiền

Cải tạo không giam giữ

Án treo

Tù đến 3 năm

Tù trên 3 đến 7 năm

Tù trên 7 đến

15 năm

Trang 34

2.2 Những kết quả đạt được trong quyết định hình phạt tù có thời hạn trên địa bàn huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định

Thực tiễn cho thấy công tác xét xử các vụ án hình sự tại Tòa án nhân dân huyện Ý Yên trong các năm trở lại đây đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, các phán quyết của Tòa án căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa

và trên cơ sở xem xét một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ các chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra vụ án, được thẩm định tại phiên tòa nên việc xét xử đã đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, đạt được mục đích của hình phạt Chất lượng giải quyết, xét xử các vụ án hình sự nói chung tiếp tục được nâng lên Đạt được những kết quả đó xuất phát từ các yếu tố sau:

- Định tội danh đúng với tội phạm đã thực hiện

Như đã phân tích ở trên, quá trình áp dụng các quy phạm pháp luật hình

sự diễn ra phức tạp và đa dạng, được thể hiện ở 3 giai đoạn: Định tội danh, định khung hình phạt và quyết định hình phạt Trong đó, định tội danh là giai đoạn quan trọng nhất trong ba giai đoạn trên của toàn bộ quá trình áp dụng pháp luật hình sự, việc định tội danh đúng là tiền đề cho việc định khung hình phạt và quyết định hình phạt chính xác Thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân huyện Ý Yên hầu hết các bản án quyết định của Tòa án đều định tội danh chính xác dựa trên quy định của Bộ luật hình sự làm căn cứ để đưa ra phán quyết

Ví dụ: Vụ án cố ý gây thương tích xảy ra tại xã Yên Chính, huyện Ý Yên Nội dung vụ án: Nguyễn Ngọc Khôi có hành vi tự ý xây dựng tường bao trước cửa nhà, lấn chiếm hành lang an toàn giao thông đường 485 Chính quyền

xã đã lập biên bản vi phạm và yêu cầu tự tháo dỡ nhưng Khôi không chấp hành Ngày 16/11/2013 UBND xã Yên Chính đã quyết định thành lập tổ công tác để làm nhiệm vụ kiểm tra thực địa, lập biên bản vi phạm tổ chức giải tỏa các công trình vi phạm, lấn chiếm hành lang an toàn giao thông đường bộ Khoảng 8 giờ sáng ngày 17/11/2013, tổ công tác có mặt tại nhà Khôi, tiếp tục yêu cầu Khôi tự tháo dỡ tường bao lấn chiếm hành lang an toàn giao thông Khôi không chấp

Trang 35

hành mà còn có những lời lẽ thách đố Ông Nguyễn Đăng Quyền là bí thư chi bộ xóm giải thích thì Khôi nói: “Thằng nào phá nhà tao, tao đập chết” và nhặt 1/2 viên gạch đập vào vùng thái dương bên phải ông Quyền Giám định ông Nguyễn Đăng Quyền bị tổn hại sức khỏe do thương tích gây nên là 1% Tại bản án số 13/2014/HSST ngày 23/4/2014, Tòa án nhân dân huyện Ý Yên nhận định Khôi dùng 1/2 viên gạch là hung khí nguy hiểm và để cản trở người thi hành công vụ nên đã áp dụng khoản 1 Điều 104 BLHS, tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc Khôi phạm tội “Cố ý gây thương tích”, xử phạt bị cáo 06 tháng tù

Theo quy định tại Điều 104 BLHS, hành vi cố ý gây thương tích mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ

06 tháng đến 03 năm Trong vụ án này, người bị hại bị thương tật dưới 11% tuy

nhiên Tòa án căn cứ vào tình tiết “dùng hung khí nguy hiểm” và “cản trở người

thi hành công vụ” theo điểm a, điểm k khoản 1 Điều 104 BLHS để định tội đối

với bị cáo là đúng quy định của pháp luật

- Định khung hình phạt đúng với tội phạm đã thực hiện

Sau khi định tội danh thì Hội đồng xét xử cần xác định khung hình phạt

tương ứng với tính chất mức độ của tội phạm đã thực hiện Xác định khung hình

phạt đúng là tiền đề để đưa ra quyết định hình phạt tù chính xác Các bản án của Tòa án nhân dân huyện Ý Yên về cơ bản đã xác định đúng khung đối với tội phạm đã thực hiện

Ví dụ: Vụ án vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ xảy ra tại xã Yên Bình, huyện Ý Yên

Nội dung vụ án: Ngày 20/02/2015, Vũ Văn Thông không có giấy phép lái

xe cơ giới theo quy định, điều khiển xe mô tô đi trên đường liên xã (đường không ưu tiên) hướng ra quốc lộ 38B (đường ưu tiên) Khi đến khu vực ngã tư thuộc thôn Tâng xã Yên Bình, mặc dù trước đó đã có biển báo hiệu nguy hiểm giao nhau với đường ưu tiên nhưng Vũ Văn Thông không quan sát để giảm tốc

Trang 36

độ, nhường đường cho xe đang đi trên đường ưu tiên mà vẫn điều khiển xe rẽ trái đi ra quốc lộ 38B nên đã xô vào xe môtô do chị Trần Thị Thảo điều khiển đi trên quốc lộ 38B hướng Phố Cháy – Thành phố Nam Định, chở cháu Trần Thanh Kim Huệ; hậu quả khiến cháu Huệ tử vong Kết luận giám định pháp y xác định cháu Huệ chết do chấn thương sọ não Bản án số 45/2015/HSST ngày 24/7/2015 áp dụng điểm a khoản 2 Điều 202 BLHS xử phạt Vũ Văn Thông 36 tháng tù

Trong vụ án này xét về hành vi khách quan thì bị cáo chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự tại khoản 1 Điều 202 nhưng do bị cáo không có giấy phép lái xe

mà vẫn điều khiển phương tiện giao thông, do đó việc Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết định khung tại điểm a khoản 2 Điều 202 BLHS để quyết định hình phạt đối với bị cáo là chính xác

- Quyết định hình phạt tù có thời hạn về cơ bản đã tuân thủ đúng các nguyên tắc quyết định hình phạt, vận dụng đúng và đầy đủ các căn cứ

Trong thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân huyện Ý Yên, việc quyết định hình phạt tù có thời hạn về cơ bản đã tuân thủ đúng các nguyên tắc quyết định

phạt nghiêm khắc được áp dụng đối với đối tượng phạm tội rất nghiêm trọng,

đặc biệt nghiêm trọng, phạm tội có tổ chức, tái phạm nguy hiểm, gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng Hội đồng xét xử đã cân nhắc thận trọng khi áp dụng các tình tiết giảm nhẹ và các quy định của Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt Hình phạt mà Tòa án áp dụng đối với các bị cáo thể hiện được chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước là nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố, lưu manh côn đồ; khoan hồng đối với người tự thú, thành khẩn khai báo, lập công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại nên đã đề cao tính giáo dục và phòng ngừa chung đáp ứng được

yêu cầu phòng chống tội phạm tại địa phương

Trang 37

Ví dụ: Vụ án vận chuyển hàng cấm xảy ra tại xã Yên Nhân, huyện Ý Yên Nội dung vụ án: Ngày 02/01/2016 Lê Văn Sáng làm nghề phụ hồ xây dựng cùng con trai là cháu Lê Văn Ánh, sinh ngày 09/11/2003, dùng thuyền xi măng chở 02 bao tải pháo nổ (01 bao đựng 05 bánh và 01 bao đựng 03 bánh) từ ngã tư

xã Yên Thắng đến cầu Ba Cây xã Yên Nhân, huyện Ý Yên thì bị phát hiện bắt quả tang, thu giữ 24 kg pháo nổ, loại tràng dây Bản án Hình sự số 09/2016/HSST ngày 29/01/2016 của Tòa án nhân dân huyện Ý Yên nhận định hành vi của Sáng là nguy hiểm cho xã hội, nhận thức rõ hành vi vận chuyển pháo nổ là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm, xâm hại đến chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, kinh doanh pháo nổ Tuy nhiên, xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, hiểu biết pháp luật hạn chế nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Cháu Lê Văn Ánh tuy có hành vi vận chuyển hàng cấm cùng bị cáo Sáng nhưng tại thời điểm

đó chưa đủ 14 tuổi, do đó căn cứ theo quy định của BLHS cháu Ánh không phải chịu trách nhiệm hình sự vì hành vi của mình Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 1 Điều 155 BLHS quyết định xử phạt bị cáo Lê Văn Sáng 06 tháng tù là mức thấp nhất đối với hình phạt tù của khung hình phạt là phù hợp với tính chất mức độ của hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo

Vụ án được xét xử công khai lưu động tại Ủy ban nhân dân xã Yên Nhân nơi

bị cáo cư trú và cũng là nơi thực hiện tội phạm vào thời điểm giáp Tết Nguyên đán Bính Thân 2016 được sự quan tâm chú ý của đông đảo người dân địa phương đã góp phần giáo dục phòng ngừa chung, nhất là khi tình trạng đốt pháo trái phép vẫn thường xuyên diễn ra vào Tết nguyên đán dù đã bị nghiêm cấm

Trang 38

2.3 Những bất cập, hạn chế, vướng mắc trong quyết định hình phạt tù

có thời hạn trên địa bàn huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định

Thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân huyện Ý Yên trong giai đoạn

2012-2016 phát sinh một số bất cập, hạn chế, vướng mắc dẫn tới quyết định hình phạt

tù có thời hạn không đúng, bản án bị Tòa án cấp trên hủy, sửa

Trong giai đoạn từ 2012 -2016, có tổng cộng 63 bản án hình sự sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm; không có bản án hình sự sơ thẩm nào bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm Trong số 63 bản án hình sự sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm có 05 bản án bị hủy, sửa do lỗi chủ quan của Thẩm phán

Bảng 2.3 Số lượng bản án HSST bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm của Tòa án nhân dân huyện Ý Yên giai đoạn 2012-2016

Nguồn: Tòa án nhân dân huyện Ý Yên

Qua nghiên cứu các bản án bị Tòa án cấp trên hủy, sửa; tác giả nhận thấy hầu hết đó là bản án quyết định hình phạt tù hoặc hình phạt tù nhưng cho hưởng

án treo, chiếm đa số so với các hình phạt khác như cảnh cáo, cải tạo không giam giữ, phạt tiền Ngoài ra, kết luận kiểm tra giám đốc hàng năm của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định cũng chỉ ra nhiều sai sót trong các bản án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân huyện Ý Yên Những sai sót này có nguyên nhân

từ những bất cập, hạn chế, vướng mắc; chia thành các nhóm sau đây:

+ Những bất cập, hạn chế, vướng mắc trong định tội danh;

Trang 39

+ Những bất cập, hạn chế, vướng mắc trong quyết định hình phạt;

+ Những bất cập, hạn chế, vướng mắc trong quyết định hình phạt trong

trường hợp đặc biệt;

+ Những bất cập, hạn chế, vướng mắc khác

2.3.1 Những bất cập, hạn chế, vướng mắc trong định tội danh

Như đã phân tích ở trên định tội danh là vấn đề rất quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự; là tiền đề cho việc quyết định hình phạt công minh, chính xác Định tội danh sai sẽ dẫn đến một loạt các hậu quả tiêu cực như: không đảm bảo được tính công minh, đúng pháp luật của bản án, truy cứu trách nhiệm sai người vô tội, bỏ lọt người phạm tội, xâm phạm danh dự nhân phẩm, sức khỏe, tính mạng, quyền tự do dân chủ của công dân Do đó để tìm ra những bất cập hạn chế trong quyết định hình phạt tù có thời hạn thì nghiên cứu về định tội danh là cần thiết Thực tiễn xét xử tại địa bàn huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định cho thấy một số bất cập, hạn chế, vướng mắc trong việc định tội danh như sau:

- Tình tiết định tội danh mang tính định tính

Trong quy định về các tội phạm cụ thể của BLHS 1999, mặt khách quan của tội phạm vẫn duy trì cách thức quy định mang tính định tính thông qua sử

dụng các thuật ngữ như: dùng thủ đoạn nguy hiểm, xảo quyệt, dùng hung khí

nguy hiểm (khi xác định hành vi phạm tội); số lượng lớn, thu lợi bất chính lớn, rất lớn, đặc biệt lớn; trường hợp nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng; gây hậu quả rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng (khi xác

định hậu quả) Đây là những thuật ngữ mang tính định tính khó xác định trên thực tế Trong khi đó văn bản hướng dẫn chưa đầy đủ, kịp thời do đó việc áp dụng còn gặp nhiều khó khăn vướng mắc và chưa đảm bảo tính thống nhất, gây

lúng túng cho Tòa án trong định tội danh cũng như quyết định hình phạt

Ví dụ: Vụ án Nguyễn Ngọc Khôi phạm tội cố ý gây thương tích đã lấy ví

dụ ở trên, bản án căn cứ vào tình tiết “dùng hung khí nguy hiểm” định tội danh đối với bị cáo nhưng thế nào là “hung khí nguy hiểm” thì Bộ luật hình sự không

Trang 40

quy định rõ Khi áp dụng tình tiết định tội này Hội đồng xét xử phải căn cứ tiểu mục 3.1 mục 3 Nghị quyết 01/2006/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Toà án

nhân dân tối cao hướng dẫn về tình tiết "dùng hung khí nguy hiểm" quy định tại

điểm a khoản 1 Điều 104 của BLHS, nhưng Nghị quyết cũng không nói rõ là những vật gì là hung khí nguy hiểm mà dẫn chiếu tới tiểu mục 2.1 và 2.2 mục 2 Phần I Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao Theo đó, tại điểm c tiểu mục 2.2 mục 2 hướng

dẫn: “Phương tiện nguy hiểm là … vật có sẵn trong tự nhiên Ví dụ: gạch, đá,

đoạn gậy cứng, chắc, thanh sắt ” Việc phải căn cứ vào nhiều văn bản hướng

dẫn gây khó khăn cho Hội đồng xét xử khi áp dụng pháp luật

- Tình tiết định tội không có cách hiểu thống nhất do chưa được hướng dẫn rõ ràng

Trên thực tế BLHS quy định một số tội phạm nhưng không quy định rõ mặt khách quan dẫn tới cách hiểu khác nhau về cùng một hành vi phạm tội

Ví dụ: Vụ án đánh bạc xảy ra ngày 27/02/2016 tại xã Yên Phúc, huyện Ý Yên Nội dung vụ án: Khoảng 20h30 ngày 27/02/2016, Vũ Đình Đới, Đoàn Văn

Bộ, Bùi Đình Chinh, Vũ Ngọc Điền, Ngô Văn Ban, Trần Văn Hòa đến nhà Mai Xuân Hải ở thôn Vĩnh Ninh xã Yên Phúc chơi Lúc này Mai Xuân Hải không có nhà Đới, Bộ, Chinh, Điền, Ban, Hòa rủ nhau đánh bạc dưới hình thức xóc đĩa được thua bằng tiền ở bếp nhà Mai Xuân Hải Sau đó có Vũ Đình Thường, Vũ Đình Dũng, Vũ Đình Giang đến nhà Hải và cũng tham gia đánh bạc Khoảng 21h30, Mai Xuân Hải về nhà thấy mọi người đánh bạc tại bếp nhà mình thì nói:

“Anh em nghỉ đi”, Vũ Đình Đới nói “Để anh em chơi một tý” Hải không nói gì lên nhà hút thuốc sau đó cùng vào tham gia đánh bạc Khi Đới, Bộ, Chinh, Điền, Ban, Hòa, Thường, Dũng, Giang, Hải đang tham gia đánh bạc thì bị lực lượng công an bắt quả tang, thu giữ số tiền trên chiếu bạc là 5.200.000 đồng Tại cơ quan điều tra các đối tượng đánh bạc đều khai nhận: Tối 27/02/2016 Mai Xuân Hải không thu bất cứ khoản tiền gì; tuy nhiên, một số đối tượng có khai những

Ngày đăng: 01/06/2017, 15:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
35. Trần Văn Sơn (1997), "Nhân thân người phạm tội, một căn cứ để quyết định hình phạt", Tạp chí Luật học số 1/1997, tr 41-43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân thân người phạm tội, một căn cứ để quyết định hình phạt
Tác giả: Trần Văn Sơn
Năm: 1997
36. Bùi Quang Thạch (2002), "Bàn về một số tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được bổ sung ở khoản 1 Điều 48 BLHS năm 1999", Tạp chí kiểm sát, số 4/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về một số tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được bổ sung ở khoản 1 Điều 48 BLHS năm 1999
Tác giả: Bùi Quang Thạch
Năm: 2002
1. Ban soạn thảo Bộ luật Hình sự sửa đổi (2015), Bản thuyết minh chi tiết về dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi), Hà Nội Khác
2. Bộ chính trị: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm trong công tác tư pháp thời gian tới Khác
3. Bộ chính trị: Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 cải cách tư pháp đến năm 2020 Khác
4. Bộ chính trị: Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 Khác
5. Lê Cảm (chủ biên) (2001), Giáo trình: Luật hình sự Việt Nam (phần chung), Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội Khác
6. Lê Cảm (2005), Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (phần chung), Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội Khác
7. Nguyễn Minh Hải (2009), Về nguyên tắc quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và đối với người chưa thành niên phạm tội, Tạp chí Tòa án nhân dân số 16/ 2009 Khác
8. Đào Tú Hoa (2006), Hình phạt tù trong luật hình sự Việt Nam: Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sĩ luật học, Hà Nội Khác
9. Nguyễn Ngọc Hòa (2004), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội Khác
10. Nguyễn Ngọc Hòa, Lê Thị Sơn (2001), Trách nhiệm hình sự và hình phạt, Nxb Công An Nhân Dân Khác
11. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao: Nghị quyết số 01/2000/NQ- HĐTP ngày 04/8/2000 hướng dẫn áp dụng một số quy định trong Phần chung của BLHS 1999 Khác
12. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao: Nghị quyết 02/2003/NQ- HĐTP ngày 17/04/2003 hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS 1999 Khác
13. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao: Nghị quyết 01/2006/NQ- HĐTP ngày 12/5/2006 hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS Khác
14. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao: Nghị quyết số 01/2013/NQ- HĐTP ngày 06/11/2013 hướng dẫn áp dụng điều 60 của BLHS về áo treo Khác
15. Phạm Mạnh Hùng (2001), Vấn đề quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật, Tạp chí Tòa án nhân dân số 3/2001 Khác
16. Hoàng Chí Kiên (2004), Quyết định hình phạt trong những trường hợp đặc biệt, Luận văn thạc sĩ luật học, Hà Nội Khác
17. Dương Tuyết Miên (2007), Định tội danh, quyết định hình phạt, Nxb Lao động, Hà Nội Khác
18. Dương Tuyết Miên (2003), Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Bộ luật hình sự năm 1999, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 1/2003, tr. 18-20 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Số lượng vụ án, bị cáo được xét xử sơ thẩm trên địa bàn huyện - Quyết định hình phạt tù có thời hạn theo pháp luật hình sự việt nam từ thực tiễn huyện ý yên, tỉnh nam định
Bảng 2.1. Số lượng vụ án, bị cáo được xét xử sơ thẩm trên địa bàn huyện (Trang 32)
Bảng 2.2.Hình phạt chính áp dụng với các bị cáo giai đoạn 2012-2016 - Quyết định hình phạt tù có thời hạn theo pháp luật hình sự việt nam từ thực tiễn huyện ý yên, tỉnh nam định
Bảng 2.2. Hình phạt chính áp dụng với các bị cáo giai đoạn 2012-2016 (Trang 33)
Bảng 2.3. Số lượng bản án HSST bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục  phúc thẩm của Tòa án nhân dân huyện Ý Yên giai đoạn 2012-2016 - Quyết định hình phạt tù có thời hạn theo pháp luật hình sự việt nam từ thực tiễn huyện ý yên, tỉnh nam định
Bảng 2.3. Số lượng bản án HSST bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm của Tòa án nhân dân huyện Ý Yên giai đoạn 2012-2016 (Trang 38)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w