1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC: SỬ DỤNG TRUYỆN CƯỜI TRONG DẠY HỌC LUYỆN CÂU VÀ CHÍNH TẢ

26 421 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 66,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài 1.1. Môn Tiếng Việt có nhiều nội dung phong phú, trong đó truyện cười là một nét ưu việt của chương trình sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học. Trong văn học nói chung và văn học thiếu nhi nói riêng thì truyện cười có một vị trí quan trọng với những biểu hiện đặc trưng cơ bản như cốt truyện đơn giản, ít tình tiết nhưng lại rất chặt chẽ, rõ ràng, dễ hiểu và đặc biệt là luôn có yếu tố, tình tiết bất ngờ hay những tình tiết kết thúc đột ngột …chính vì thế đã tạo nên niềm say mê, hứng thú học tập cho các em học sinh Tiểu học. 1.2. Hiện nay, qua thực tiễn dạy học chúng tôi thấy trong chương trình sách giáo khoa có số lượng truyện cười được dùng làm ngữ liệu dạy môn Tiếng Việt còn rất ít, có phần hạn chế, chưa đủ đáp ứng nhu cầu cho các em trong việc học. Hơn nữa các ngữ liệu truyện cười được đưa vào chương trình sách giáo khoa cũng chưa khai thác hết tác dụng việc dạy học các phân môn của môn Tiếng Việt. Chính vì lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Sử dụng truyện cười trong dạy học “Luyện câu” và “Chính tả”ở Tiểu học” và tập trung vào việc đầu tiên là đi từ những căn cứ thực tế của việc dạy học để lựa chọn truyện cười, bước đầu xây dựng ngân hàng ngữ liệu truyện cười để chỉ ra những khả năng sử dụng chúng trong dạy học Tiếng Việt, nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học tiếng Việt ở Tiểu học. 2. Lịch sử nghiên cứu về truyện cười Có thể nói truyện cười ra đời từ rất sớm, khó có thể ấn định thời gian cụ thể, thời điểm cụ thể để đánh dấu sự ra đời của truyện cười. Nhưng có thể khẳng định một điều rằng, truyện cười Việt Nam ra đời và phát triển cùng với quá trình lao động sản xuất và đời sống nhân dân, khi tư duy con người tương đối phát triển, họ ý thức được tầm quan trọng của truyện cười, nó không chỉ đem lại tiếng cười mua vui cho thiên hạ để cho họ giải tỏa những mệt nhọc, vất vả sau một ngày lao động, sản xuất cực nhọc, mà truyện cười còn có tác dụng phê phán, châm biếm, mỉa mai các thói hư tật xấu của con người, những tính cách khác với đời sống hằng ngày trong đời sống của con người. Bên cạnh các thể loại khác như ca dao, tục ngữ, truyện cổ tích, câu đố, truyện ngụ ngôn, . . . được sử dụng trong dạy học Tiếng Việt Tiểu học, thì thể loại truyện cười, truyện gây cười, truyện vui được các nhà nghiên cứu ít chú ý hơn3. Mục đích nghiên cứu Mục đích nghiên cứu của luận văn là đề xuất, xây dựng ngân hàng truyện cười làm ngữ liệu cho dạy “Luyện câu” và “ Chính tả” . Nhằm nâng cao chất lượng trong môn Tiếng Việt nói chung và phần “Luyện câu” và “ Chính tả” ở Tiểu học nói riêng. 4. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là thực tế việc sử dụng truyện cười làm ngữ liệu trong dạy học môn Tiếng Việt ở Tiểu học nói chung và phần “Luyện câu” và “ Chính tả” ở Tiểu học nói riêng. 5. Giả thuyết khoa học Nếu nghiên cứu làm rõ được việc sử dụng truyện cười trong dạy học “Luyện câu” và “ Chính tả”, đồng thời đưa ra những giải pháp để bổ sung, xây dựng ngân hàng truyện cười làm ngữ liệu đảm bảo tính giáo dục, phù hợp với mục đích nghiên cứu sẽ nâng cao được hiệu quả dạy học phần “Luyện câu” và “ Chính tả” ở Tiểu học thời gian tới. 6. Nhiệm vụ nghiên cứu Thống kê và đánh giá về hệ thống truyện cười được sử dụng trong SGK TV ở Tiểu học. Nghiên cứu những lợi thế của truyện cười và đồng thời đề xuất những nguyên tắc để xây dựng và lựa chọn truyện cười làm ngữ liệu phục vụ cho dạy – học “Luyện câu” và “ Chính tả” ở Tiểu học. 7. Các phương pháp sử dụng Phương pháp đọc, tra cứu tài liệu: Tìm hiểu, nghiên cứu các tài liệu liên quan đến truyện cười trong dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học Phương pháp thống kê: Phương pháp khảo sát điều tra: Khảo sát thực trạng về khả năng sử dụng truyện cười trong dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học. Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Lê Phương Nga

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Môn Tiếng Việt có nhiều nội dung phong phú, trong đó truyện cười làmột nét ưu việt của chương trình - sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học Trong vănhọc nói chung và văn học thiếu nhi nói riêng thì truyện cười có một vị trí quan trọngvới những biểu hiện đặc trưng cơ bản như cốt truyện đơn giản, ít tình tiết nhưng lạirất chặt chẽ, rõ ràng, dễ hiểu và đặc biệt là luôn có yếu tố, tình tiết bất ngờ hay nhữngtình tiết kết thúc đột ngột …chính vì thế đã tạo nên niềm say mê, hứng thú học tậpcho các em học sinh Tiểu học

1.2 Hiện nay, qua thực tiễn dạy học chúng tôi thấy trong chương trình sáchgiáo khoa có số lượng truyện cười được dùng làm ngữ liệu dạy môn Tiếng Việt cònrất ít, có phần hạn chế, chưa đủ đáp ứng nhu cầu cho các em trong việc học Hơn nữacác ngữ liệu truyện cười được đưa vào chương trình sách giáo khoa cũng chưa khaithác hết tác dụng việc dạy học các phân môn của môn Tiếng Việt

Chính vì lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Sử dụng truyện cười

trong dạy học “Luyện câu” và “Chính tả”ở Tiểu học” và tập trung vào việc đầu tiên là

đi từ những căn cứ thực tế của việc dạy - học để lựa chọn truyện cười, bước đầu xâydựng ngân hàng ngữ liệu truyện cười để chỉ ra những khả năng sử dụng chúng trong dạyhọc Tiếng Việt, nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học tiếng Việt ở Tiểu học

2 Lịch sử nghiên cứu về truyện cười

Có thể nói truyện cười ra đời từ rất sớm, khó có thể ấn định thời gian cụ thể, thờiđiểm cụ thể để đánh dấu sự ra đời của truyện cười Nhưng có thể khẳng định một điềurằng, truyện cười Việt Nam ra đời và phát triển cùng với quá trình lao động sản xuất vàđời sống nhân dân, khi tư duy con người tương đối phát triển, họ ý thức được tầm quantrọng của truyện cười, nó không chỉ đem lại tiếng cười mua vui cho thiên hạ để cho họgiải tỏa những mệt nhọc, vất vả sau một ngày lao động, sản xuất cực nhọc, mà truyệncười còn có tác dụng phê phán, châm biếm, mỉa mai các thói hư tật xấu của con người,những tính cách khác với đời sống hằng ngày trong đời sống của con người

Bên cạnh các thể loại khác như ca dao, tục ngữ, truyện cổ tích, câu đố, truyệnngụ ngôn, được sử dụng trong dạy học Tiếng Việt Tiểu học, thì thể loại truyện

Trang 3

cười, truyện gây cười, truyện vui được các nhà nghiên cứu ít chú ý hơn3 Mục đích

nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là đề xuất, xây dựng ngân hàng truyện cườilàm ngữ liệu cho dạy “Luyện câu” và “ Chính tả” Nhằm nâng cao chất lượng trongmôn Tiếng Việt nói chung và phần “Luyện câu” và “ Chính tả” ở Tiểu học nói riêng

4 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là thực tế việc sử dụng truyện cười làm ngữ liệu trongdạy học môn Tiếng Việt ở Tiểu học nói chung và phần “Luyện câu” và “ Chính tả” ởTiểu học nói riêng

5 Giả thuyết khoa học

Nếu nghiên cứu làm rõ được việc sử dụng truyện cười trong dạy - học “Luyệncâu” và “ Chính tả”, đồng thời đưa ra những giải pháp để bổ sung, xây dựng ngânhàng truyện cười làm ngữ liệu đảm bảo tính giáo dục, phù hợp với mục đích nghiêncứu sẽ nâng cao được hiệu quả dạy - học phần “Luyện câu” và “ Chính tả” ở Tiểu họcthời gian tới

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

Thống kê và đánh giá về hệ thống truyện cười được sử dụng trong SGK TV ở Tiểu học

Nghiên cứu những lợi thế của truyện cười và đồng thời đề xuất những nguyêntắc để xây dựng và lựa chọn truyện cười làm ngữ liệu phục vụ cho dạy – học “Luyệncâu” và “ Chính tả” ở Tiểu học

Phương pháp thực nghiệm sư phạm

8 Đóng góp của luận văn

Phân tích những lợi thế của truyện cười trong dạy hoc Tiếng Việt ở Tiểu học

Trang 4

Đưa ra hệ thống ngân hàng truyện cười làm ngữ liệu cho dạy “Luyện câu” và “Chính tả” ở Tiểu học.

Đưa ra một số khuyến nghị sử dụng truyện cười làm ngữ liệu trong dạy họcmôn Tiếng Việt

9 Phạm vi nghiên cứu

Phân tích, đánh giá truyện cười được sử dụng trong SGK TV ở TH

Sưu tầm truyện cười làm ngữ liệu cho dạy học “Luyện câu” và “ Chính tả” ở TH

10 Cấu trúc của luận văn

PHẦN MỞ ĐẦU

Nêu lí do chọn đề tài, lịch sử vấn đề, mục đích nghiên cứu, đối tượng nghiêncứu, giả thuyết khoa học, nhiệm vụ nghiên cứu, các phương pháp sử dụng, đóng gópcủa luận văn, phạm vi nghiên cứu của luận văn

1 Giới thuyết về truyện cười

1.1 Khái niệm truyện cười

Theo tác giả Đỗ Bình Trị thì“Truyện cười là truyện kể về hiện tượng buồn

cười, thể hiện ở hoạt động của người và vật (bao gồm cả hoạt động nói năng) nhằm gây cười”, Những đặc điểm thi pháp của các thể loại văn hóa dân gian, trang 6, Nxb

Khoa học - 1999

Trang 5

“Truyện cười nói một cách đơn giản là những truyện làm cho người ta cười,

có thể là cười mỉm, nhưng thường là cười giòn giã Có thể là cười một cách vui vẻ, nhẹ nhàng, nhưng thường cười mà phẫn nộ, khinh ghét”, Giáo trình Văn học dân

gian Việt Nam, trang 13, Đinh Gia Khánh chủ biên, Nxb Giáo dục – 2001

“Truyện cười là loại truyện kể về những hiện tượng đáng cười trong cuộc sống, nhằm tạo ra những tiếng cười vui hoặc phê phán những thói hư, tật xấu trong

xã hội” Sách giáo khoa Ngữ văn 6, trang 15, tập 1, Nguyễn Khắc Phi chủ biên, Nxb

Giáo dục - 2002

Tóm lại,theo tác giả có thể hiểu truyện cười là truyện kể về hiện tượng buồn

cười trong cuộc sống, nhằm tạo ra tiếng cười vui vẻ trong cuộc sống, cũng có thể là tiếng cười phê phán của con người.

1.2 Một số đặc trưng cơ bản của truyện cười

a Nghệ thuật dựng truyện cười

b Xây dựng nhân vật trong truyện cười

c Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ

1.3 Phân loại truyện cười

a Truyện cười kết chuỗi:

b Truyện cười không kết chuỗi:

2 Lợi thế truyện cười với tư cách là ngữ liệu dạy học “Luyện câu” và

“Chính tả” ở Tiểu học

2.1 Truyện cười có nội dung ngắn gọn, sâu sắc

So với các thể loại văn bản khác thì truyện cười có ưu thế khá lớn về mặt nộidung cũng như tạo hứng thú học tập cho học sinh Nội dung của truyện thường ngắngọn đồng thời tạo tiếng cười tức thì, sự thích thú với HS.Với tư cách là ngữ liệu dạyhọc ngoài việc phục vụ cho việc hình thành tri thức, rèn kĩ năng còn giúp các emứng phó linh hoạt, thông minh hơn trước các tình huống cuộc sống tương tự nhưtrong cốt truyện, giúp các em phản ứng nhanh, biết phân biệt được những mặt tốt,những mặt xấu của đời thường thể hiện trong cốt truyện

2.2.Truyện cười đảm bảo tính tiết kiệm của ngữ liệu

Truyện cười là những câu truyện ngắn ngọn được chọn làm ngữ liệu đưa vào trongchương trình giảng dạy Tiếng Việt ở Tiểu học không mang tính dàn trải, khó hiểu hay

Trang 6

tính hình thức mà ngược lại, những ngữ liệu truyện cười được nghiên cứu và biênsoạn đưa vào trong sách giáo khoa thường được tối giải, cô động, ngắn gọn nhưngchứa đựng đầy đủ kiến thức được đưa vào trong cốt truyện để các em học sinh tiếpnhận đầy đủ kiến thức đó

2.3 Truyện cười tạo hứng thú học tập cho học sinh Tiểu học

Bước vào độ tuổi học Tiểu học, kiến thức bài học từ các môn học không nhữnggiúp các em luyện tập các kỹ năng về học, viết, diễn đạt lại… mà còn giúp các emliên tưởng đến thực tế với đời sống thường ngày Các môn học khác thường làm chocác em khó hiểu, phải suy nghĩ nhiều để hiểu, biết và trả lời, do vậy có phần làm chocác em căng thẳng trong quá trình học

3 Việc sử dụng truyện cười trong SGK Tiếng Việt ở Tiểu học

3.1.Truyện cười được đưa vào cùng với những thể loại văn bản khác theo từngkhối lớp

Căn cứ vào trình độ nhận thức cũng như đặc điểm tâm sinh lý của học sinh Tiểu học

mà hệ thống truyện cười được sắp xếp ở các khối lớp theo hướng đổng tâm và được mởrộng theo các chủ điểm Trong toàn bộ chương trình, truyện có yếu tố gây cười khôngphân bố một cách riêng lẻ mà được dạy xen kẽ trong hệ thống các thể loại truyện dângian khác: truyện cổ tích, thần thoại, truyền thuyết và các tác phẩm văn học viết

Từ chính thực tế nhận thức của các em theo từng độ tuổi, nội dung các truyệncười được sắp xếp hợp lý và mang tính khoa học cao theo từng lớp học trong cấpTiểu học

3.2 Thống kê truyện cười được sử dụng trong chương trình môn Tiếng Việt ở Tiểu học

Truyện có yếu tố gây cười trong sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học nằm ởhầu hết các khối lớp Chúng được sử dụng làm ngữ liệu dạy học cho nhiều phân mônkhác nhau như: Tập đọc, Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn Tuỳ theo mụcđích, yêu cầu của từng khối lớp, từng phân môn mà người ta lựa chọn ngữ liệu truyệncười cho phù hợp, cụ thể:

Trang 7

3.3 Sự phân bố truyện cười trong các phân môn của môn Tiếng Việt.

Nhìn vào bảng thống kê số lượng thì truyện cười được đưa vào sử dụng hầu hết ởcác phân môn Đồng thời sự phân bố chưa đồng đều Chúng tôi thống kê được như sau:

- Trong phân môn tập đọc: Có 11 truyện cười được sử dụng nhưng đa số dùng

dạy tiết đọc thêm, có tranh minh hoạ

- Trong phân môn chính tả: Có 16 truyện cười được sử dụng làm ngữ liệu.

Đồng thời đây cũng là phân môn có số lượng truyện cười nhiều nhất Đa số các dạngbài là điền các phụ âm đầu dễ lẫn như: tr/ch, s/x, l/n, r/d/gi,….hay các vần dễ lẫnnhư : uôt/uôc, in/inh,….; điền các dấu thanh như: thanh hỏi, thanh ngã, thanh huyền,

Trang 8

- Trong phân môn tập làm văn: Có 5 truyện cười được sử dụng làm ngữ liệu và

đa số tập chung ở lớp 3

Như vậy truyện cười được đưa vào hầu hết các phân môn nhưng nhiều hơn cả

là dùng vào việc dạy chính tả và luyện từ và câu cho học sinh ở hầu hết các khốilớp.Có thể nói đây cũng là một lợi thế lớn của truyện cười

4 Một vài hạn chế của việc sử dụng truyện cười trong SGK Tiếng Việt ở Tiểu học

Dựa vào phụ lục truyện cười và phân bố truyện cười cho học sinh Tiểu học tathấy, sự phân bổ chưa thực sự hợp lý và không đồng đều về số lượng ở các lớp nênchưa tạo được hứng thú cho học sinh Trong việc tiếp cận và dạy học sinh môn TiếngViệt ở Tiểu học, một số giáo viên cho thấy sự tiếp cận của các em với các bài học làtruyện cười chưa thực sự hứng thú

CHƯƠNG II XÂY DỰNG NGÂN HÀNG TRUYỆN CƯỜI ĐỂ DẠY HỌC “LUYỆN CÂU”

VÀ “CHÍNH TẢ”Ở TIỂU HỌC

Trong chương 1, chúng tôi đã nói đến lợi thế và thực trạng của việc sử dụng truyện cười làm ngữ liệu dạy học “Luyện câu” và “Chính tả” Đồng thời đó là những căn cứ khoa học để chúng tôi đi sâu tìm hiểu, bổ sung, xây dựng ngân hàng truyện cười làm ngữ liệu cho việc dạy phần “Luyện câu” và “Chính tả” ở Tiểu học

1 Nguyên tắc lựa chọn truyện cười trong dạy học “Luyện câu” và “Chính tả”ở Tiểu học

1.1 Lựa chọn truyện cười phù hợp với mục tiêu dạy học “Luyện câu” và

“Chính tả”ở Tiểu học

Việc lựa chọn truyện cười đưa vào chương trình giảng dạy thì điều đầu tiên ta cầnchú ý là nó phải có nội dung sát với mục tiêu bài học, nó phải làm bật ra được những trithức ta cần dạt trong bài học đó Từ thực tế giảng dạy cho thấy, việc sử dụng các ngữ liệunói chung và truyện gây cười nói riêng vào bài giảng sẽ góp phần sinh động hơn, khơi dậytính ham học và phục vụ tốt cho nội dung dạy và học, tạo những điều kiện thuận lợi hơntrong quá trình dạy và học Tiếng Việt so với các môn khác trong chương trình học

1.2 Lựa chọn truyện cười đảm bảo yêu cầu giáo dục toàn diện cho học sinh Tiểu học

Trang 9

Từ thực tiễn tham gia giảng dạy cho thấy, việc dạy học Tiếng Việt không chỉdừng lại ở việc cung cấp tri thức và rèn luyện kĩ năng thực hành Tiếng Viết, bên cạnh

đó còn bao hàm cả việc giáo dục các nội dung khác Điều này không chỉ xuất phát từyêu cầu của việc dạy học Tiếng Việt mà còn bắt nguồn từ tính chất, nội dung, khả năng

sử dụng của truyện cười trong quá trình dạy học Chính vì vậy, những bài học TiếngViệt có sử dụng truyện cười không chỉ đơn thuần cung cấp những tri thức và kĩ năngTiếng Việt mà còn có tác dụng giáo dục tư tưởng, tình cảm, thẩm mĩ và những lối sốngtốt đẹp cho các em Đó là tình yêu quê hương, đất nước, tinh thần đoàn kết, tương thântương ái, đời sống đơn thuần hằng ngày của con người Khi người giáo viên khaithác, sử dụng toàn diện những nội dung đó, chúng ta sẽ làm cho nội dung bài học trở nênphong phú hơn, bớt đi sự khô khan đồng thời lồng ghép được nội dung giáo dục khác,giúp các em hình dung ra những hoạt động trong cuộc sống hàng ngày

1.3 Lựa chọn truyện cười phải phù hợp, tạo được hứng thú và đặc điểm tâm lí học sinh Tiểu học

Truyện cười chứa đựng những nội dung kiến thức trong dạy học Tiếng Việt,

có khả năng tạo hứng thú, khơi dậy niềm háo hức và tinh thần vui vẻ để các em tựhọc trong quá trình dạy học nhưng không phải ngữ liệu truyện cười nào cũng có khảnăng như nhau trong một tình huống, một bài học, một đối tượng học sinh cụ thể

Bên cạnh đó, việc lựa chọn và sử dụng ngữ liệu truyện cười phải gần gũi vớitâm hồn, cách nghĩ và sự hồn nhiên, ngây thơ của trẻ

Một vấn đề nữa đó là khả năng sử dụng truyện cười trong thực tế của giáo viên.Cùng một ngữ liệu, một bài học, nhưng cách sử dụng của mỗi người là khác nhau

2.Xây dựng ngân hàng truyện cười làm ngữ liệu cho dạy học “Luyện câu” và

“Chính tả” ở Tiểu học

2.1.Xây dựng ngân hàng truyện cười để dạy kiểu câu

a Câu phân loại theo mục đích nói.

Ở chương trình Tiếng Việt lớp 4, học sinh đã học về các kiểu câu phục vụ chomục đích nói chuyên biệt như “ Câu kể, câu hỏi, câu khiến, câu cảm”vì vậy trong quátrình dạy giáo viên lấy các ví dụ sát với mục tiêu bài học và gần gũi với các em thìcác em sẽ tiếp thu nội dung bài học một cách dễ dàng và có thể vận dụng vào quá

Trang 10

trình giao tiếp trong cuộc sống hàng ngày của các em Đồng thời nó giúp các em có

kĩ năng trong việc tạo lập ngôn bản giao tiếp trong các tình huống cụ thể Dưới đâytác giả xin đưa ra một số câu truyện cười phục vụ cho việc dạy các kiểu câu

* Câu hỏi.

Ví dụ:

Truyện: Mật

Cô giáo đang dạy các bộ phận trong cơ thể người, thấy Tí ngủ gật cô gọi

-Tí ! Em hãy cho cô biết mật nằm ở đâu?

- Thưa cô mật nằm trong tổ ong ạ !

(Theo báo nhi đồng chăm học số 24 + 25 / 2009)Qua câu chuyện trên ta thấy câu trả lời của bạn Tí đã hiểu sai ý câu hỏi của cô giáodẫn đến sự hài hước của câu chuyện Đồng thời với ngữ liệu này thì học sinh dễ dàngnhận diện được câu hỏi và hiểu rõ mục đích sử dụng của chúng

- Thì cậu cứ nói tớ nghe xem nào!

- Đây là một giống lai ghép ở trại chăn nuôi, hay một phòng thí nghiệm nào

đó

- !!! Ngất trên cành quất !

(Theo báo tiếng cười tuổi học trò số 29 + 30/ 2008)Với ngữ liệu trên ta có thể dùng để học sinh nhận diện câu khiến, hiểu mục đích sử dụng câu khiến dùng để làm gì? Dùng trong tình huống nào?

*Câu cảm.

Ví dụ :

Truyện: Khác xa nhau

- Nga ơi ! Cậu có biết: “Bán đảo” nghĩa là gì không?

- Ồ ! Linh hỏi đúng địa điểm rồi đấy ! Hôm trước mình còn giả thích cho

em mình nghe mà

- May quá ! Vậy cậu nói đi.

- Bán đảo nghĩa là hòn đảo bị bán !

(Theo báo nhi đồng chăm học số 21/ 2008)

Trang 11

Câu truyện trên không những tạo tiếng cười hóm hỉnh vì sự giải thích từ “bán đảo” của bạn Nga mà còn giúp học sinh nhận diện và biết được chức năng của câu cảm

*Câu kể

Đấu thắng

Một anh chàng khoe với bạn:

- Hôm qua tớ đấu cả hai cuộc và thắng cả hai đại kiện tướng cờ vua và bơi lội đấy!

- Giỏi thế kia à? Làm sao mà cậu thắng nổi?

- Có gì đâu! Tớ thách đấu cờ vua với kiện tướng bơi lội và thách đấu bơi lội với

kiện tướng cờ vua

(Nguồn internet)

b Câu phân loại theo cấu tạo

*Câu đơn

Mất rồi

Một người sắp đi chơi xa, dặn con:

Ở nhà có ai hỏi thì nói bố đi chơi vắng nhé!

Sợ con mải chơi quên mất, nên cẩn thận lấy bút viết vào giấy, rồi bảo:

- Có ai hỏi thì con đưa cái giấy này

- Con cầm giấy bỏ vào túi áo cả ngày chẳng thấy ai đến hỏi Tối đến, sẵn có ngọn đèn

nó lấy giấy ra coi, chẳng may vô ý giấy cháy mất

Hôm sau có người đến hỏi: “Thầy cháu có nhà không?” Nó ngẩn ngơ hồi lâu sờ vào túi không thấy liền nói:

- Mất rồi!

- Khách giật mình hỏi: “Mất bao giờ?”

- Tối hôm qua!

- Sao mà mất?

- Cháy cháy!

Với câu chuyện trên học sinh có thể xác định được câu đơn

*Câu ghép

Trang 13

Ví dụ :

Quê con không có cam

Cô giáo nêu bài tập: Con có 2 quả cam, mẹ lại cho em thêm một quả cam nữa Hỏi con có tất cả mấy quả cam?

Tèo hồn nhiên trả lời:

Quê con không có cam nên con không biết ạ!

( Theo Chuyện vui trường học, trang 11 Tác giả Lê Phương Nga)Câu chuyện trên ta có thể sử dụng để dạy câu ghép Qua đó học sinh có thểhiểu sơ giản về câu ghép, biết được chức năng của câu

2.2.Xây dựng ngân hàng truyện cười để phân tích thành phần cấu tạo trạng ngữ, chủ ngữ, vị ngữ trong câu.

Học sinh được học phân tích cấu tạo thành phần câu đơn, câu ghép ởchương trình lớp 4, lớp 5 Trước tiên là nhận dạng các kiều câu, mẫu câu sau

đó là phân tích cấu tạo thành phần trong câu Từ đó học sinh có thể tự đặt câutheo yêu cầu của giáo viên

* Hay dạng bài tìm trạng ngữ trong câu cũng rât phong phú và đa dạng qua đây các em nắm chắc hơn về thành phần cấu tạo câu: Trạng ngữ, chủ ngữ, vị ngữ

Sợ cô buồn

- Giờ học môn Đạo đức, đứng trên bục giảng, cô giáo nhận xét:

- Lớp ta vẫn còn bạn học kém, không chịu cố gắng

Ai nhận thấy mình như vậy tự giác đứng lên cô xem nào!

Cả lớp ngồi im không nhúc nhích Một lúc lâu sau, Tèo mới rụt rè đứng dậy Cô

giáo hài lòng bảo:

- Hành động của bạn Tèo rất đáng khen Bạn đã tự nhận thấy mình vẫn còn yếu kém

Tèo vội thanh minh:

- Thưa cô, không phải thế đâu ạ Con thấy chỉ có một mình cô đứng, sợ cô buồn nên con cũng đứng lên thôi ạ

( Theo Chuyện vui trường học, trang 11 Tác giả Lê Phương Nga)

Ngày đăng: 01/06/2017, 15:31

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng phân bổ số liệu trên đây cho thấy rất rõ sự biến thiên về mặt số lượng của truyện cười theo mỗi lớp, mỗi phân môn - TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC: SỬ DỤNG TRUYỆN CƯỜI TRONG DẠY HỌC LUYỆN CÂU VÀ CHÍNH TẢ
Bảng ph ân bổ số liệu trên đây cho thấy rất rõ sự biến thiên về mặt số lượng của truyện cười theo mỗi lớp, mỗi phân môn (Trang 7)
Bảng phụ viết sẵn bi văn cần chép: Hộp thức cơm trưa - TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC: SỬ DỤNG TRUYỆN CƯỜI TRONG DẠY HỌC LUYỆN CÂU VÀ CHÍNH TẢ
Bảng ph ụ viết sẵn bi văn cần chép: Hộp thức cơm trưa (Trang 22)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w